ĐẠO LỘ TU TẬP 2
ĐẠO LỘ TU TẬP 2
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Nhiếp phục thân tâm PAGEREF _Toc111147401 \h 1
II.Trình pháp nhận diện ngũ uẩn PAGEREF _Toc111147402 \h 4
III.Nhận diện thân tâm PAGEREF _Toc111147403 \h 7
Nhiếp phục thân tâm
Chúng ta đã học ba pháp, mong rằng mọi người luôn nhớ thực tập chánh niệm trước mặt, cảm nhận hơi thở và cảm nhận cảm giác của toàn bộ cơ thể. Không phải chờ lúc ngồi thiền chúng mới cảm nhận, mà phải thực tập ba pháp ở tất cả mọi lúc mọi nơi, đó chính là pháp hành. Nội tâm tỉnh giác là phải biết rõ được suy nghĩ, những cảm thọ hình bóng trong tâm. Ba pháp này phải nắm vững chắc và phải thực tập thường xuyên.
Như vậy, đầu tiên là bất cứ lúc nào nhìn về phía trước ta cũng phải chánh niệm, không nhìn lung tung và ánh nhìn phải chân chánh, ngay thẳng, sáng rõ. Lúc nhìn không được chú ý vào một điểm, mà nhìn hết không gian phía trước mặt, trừ khi cần nhìn một thứ gì đó thì mới chú ý, còn bình thường thì cái nhìn luôn tổng quát, phổ quát trước mặt.
Tiếp theo, luôn luôn lúc nào cũng nhận được cảm giác toàn bộ cơ thể từ đỉnh đầu cho đến gót chân, phải cảm nhận được cảm giác toàn bộ cơ thể đang như thế nào. Một người không an trú cảm giác toàn thân là người vô gia cư không có căn nhà tâm linh. Trong bài kinh Thân Hành Niệm, Đức Phật nói người không an trú pháp hành giống như chai không có nước, không có nắp, mà bất cứ ai đổ nước vào cũng được. Người có pháp hành là chai có nước, có nắp đậy lại, không thể đổ thứ gì khác vào. Cho nên pháp hành là sự an trú trên cảm giác toàn thân, tịnh tâm trên thân, tịnh tâm trên cảm giác toàn bộ cơ thể, bất cứ ở nơi nào cũng đều an trú trên cảm giác toàn thân, có một sự định tĩnh, vững trãi, sự an trú vững vàng.
Khi đó, ở trong tâm có những suy nghĩ, hình bóng gì sanh khởi phải biết, nếu không biết đồng nghĩa là mình đang trong trạng thái vô minh. Cần biết đang có hình bóng gì trong tâm, đó là thiện hay bất thiện pháp, trong hình bóng đó có dục tham ái không, có tự ngã không, có cho hình bóng đó là tôi, là của tôi hay không. Phải xem những suy nghĩ đang hiện khởi có phải là ly dục tư duy, ly sân tư duy, bất hại tư duy không. Định nghĩa tư duy trong Bát Chánh Đạo gồm ly dục tư duy, ly sân tư duy, bất hại tư duy, đó chính là Chánh tư duy. Những suy nghĩ nào đưa đến trạng thái xa lìa ham muốn thì suy nghĩ đó là Chánh tư duy, nên phát triển suy nghĩ đó; còn suy nghĩ đi theo dục, tham, ái, ác bất thiện pháp thì suy nghĩ đó là tà tư duy.
Ví dụ, mình có chiếc xe đi học, nhưng thấy sư tỷ có chiếc xe tốt hơn, mình cũng mong muốn có chiếc xe đó để chạy, suy nghĩ đó là tà tư duy, dục tư duy, tham tư duy, ái tư duy. Mình phải nhìn thấy suy nghĩ này là ác bất thiện pháp, cần dẹp những suy nghĩ như vậy. Đó chính là dùng Chánh tư duy để phá tà tư duy; dùng ly dục tư duy để đánh đuổi sự tham muốn, tham đắm, ham thích hướng ngoại. Suy nghĩ nào giúp mình rời khỏi sự bực tức, bực bội, bực dọc, phiền muộn thì đó là suy nghĩ chơn chánh, Chánh tư duy. Còn suy nghĩ bực bội, gắt gao, khó chịu, sân hận là suy nghĩ tà tư duy, ác tư duy, bất thiện tư duy. Chúng ta phải đánh đuổi những suy nghĩ bất thiện đó, không để tồn tại trong thân tâm, phải ly sân tư duy, rời bỏ những suy nghĩ sân giận. Suy nghĩ nào để rời khỏi tâm bực bội nóng giận thì suy nghĩ đó là suy nghĩ chơn chánh còn gọi là Thánh tư duy, là suy nghĩ của bậc Thánh, suy nghĩ chơn chánh. Nếu để suy nghĩ sân, bực, tức giận an trú trong tâm, xâm chiếm tâm, áp đảo tâm không chế thân thì đó là người không biết tu, là người hạ liệt, hèn hạ, thấp kém ở trong pháp và luật. Vì vậy, chúng ta không thể chấp nhận những suy nghĩ làm cho mình bực bội, tức giận.
Thiền không có nghĩa là không cần suy nghĩ, thiền có hai loại: thiền chỉ và thiền quán. Thiền chỉ là làm cho tâm lắng dịu, an tịnh; thiền quán là suy nghĩ, tác động tâm ý theo chiều chơn chánh. Vì vậy khi trong tâm có suy nghĩ giận ai mà cứ để cơn giận cư trú, tồn tại trong tâm, mà không giải quyết, không đánh đuổi, không tẩy sạch, không trừ diệt, không đoạn tận, không nhổ gốc rễ, giống như chặt cây sala, như cây dừa, cây cau thì người đó là hạ liệt thấp hèn trong giáo pháp, người đó không biết tu. Khi sanh khởi tư duy sân giận thì ngay lập tức phải đánh đuổi, đánh cho tan hết tất cả cảm giác, cho đến khi hình bóng, suy nghĩ sân giận trong tâm không còn nữa, tâm trở lại trạng thái bình thường thì mới dừng lại. Điều đó đòi hỏi công phu làm cho tâm an tịnh, lắng dịu, cho đến khi gặp người gây tức giận mà mình cảm thấy bình thường, không có chút sân hận gợn trong tâm thì mới được.
Ngoài ra, còn có một phương pháp diệt trừ sân hận nữa là lạy diệt ngã tức là quỳ trước người đó lạy, sám hối “Sư muội sai, sư muội có tâm sân với sư tỷ, tâm này là tâm ác, tâm bất thiện, muội cảm thấy xấu hổ và nhục nhã, muội xin quỳ xuống lạy sư tỷ”, đây là phương pháp sám hối diệt ngã. Đối với sư phụ hay sư muội cũng quỳ xuống lạy, đây là hạnh diệt ngã thâm sâu, hạnh của Thánh hiền. Pháp tu của chùa Linh Quy Pháp Ấn mỗi ngày phải lạy diệt ngã, bắt bản ngã mình phải lạy, chứ không phải tu rồi thì cái tôi lớn, nghĩ rằng mình là sư tỷ không thể lạy sư muội, suy nghĩ đó là bản ngã. Thay vào đó, phải quỳ xuống sám hối: “Tỷ sai, tỷ cảm thấy trong tâm có cảm thọ sân hận đó là ác bất thiện pháp xin sư muội chứng minh và tỷ hứa sẽ đánh đuổi tâm sân hận, diệt tận suy nghĩ ác” và quỳ xuống lạy, đó là đại sám hối. Đó là sám hối của Thánh pháp của thời Đức Phật, chứ không phải sám hối là lên đọc và lạy xong 108 lạy rồi thôi, đó chỉ là hình thức. Sám hối chân thật là nhìn nhận ác bất thiện pháp cấu nhiễm trong tâm, sau đó bày tỏ, phơi bày, vạch trần, lôi kéo, nhổ ra, khạc, ói ra những thứ ác, cấu uế, hôi thối trong tâm, chúng ta không được chất chứa chúng thêm phút giây nào nữa, đây là phương pháp tu hằng ngày của chùa Linh Quy Pháp Ấn.
Nếu trong khóa tu có cư sĩ chỉ lỗi cho Minh Thành thì Minh Thành sẵn sàng quỳ lạy sám hối giữa 100 Phật tử. Điều này hơi khó nhưng từ từ Minh Thành giới thiệu để mọi người thấy và thực tập, phương pháp này rất quan trọng. Nếu chúng ta không diệt bản ngã, không hạ thấp cái tôi thì không thể tu hành, dù tu suốt đời nhưng sự tu của mình cũng chỉ ở ngoài cửa, không thể nhập môn. Muốn vào được dòng pháp thật sự của Đức Phật, đầu tiên là phá thân kiến (kiến chấp về thân), nếu không phá được thân kiến thì không thể nào đi vào dòng pháp của Đức Phật, dù cho tu hình thức nào đi nữa. Vì vậy, có lỗi phải dám nhận lỗi, dù người chỉ lỗi thấp kém hơn mình.
Sự tu tập cốt lõi là phá tham, sân, si, vô minh và bản ngã, nếu không phá được thì không thể tu được. Trái tim của toàn bộ giáo pháp là đánh phá dục, tham, ái, vô minh, bản ngã, chúng ta cứ thực hành nhiều lần cho đến khi có kết quả thành công Thánh quả. Còn nếu những dục, tham, ái còn ở đó, không có sự thay đổi thì đó là “A la hán quả” ngoài Chợ Lớn. Sự tu tập của Đức Phật trong kinh Nikāya dạy là thường trực quay trở về thân tâm, kiểm tra thân thể về những cảm giác, suy nghĩ, hình bóng trong tâm có dục tham, ái, sân, si, bản ngã, ta đây, có khen mình chê người, cống cao ngã mạn dương dương tự đắc, nếu có thì đập liền, khử liền đó là Thánh đệ tử của Đức Phật, là đệ tử của bậc Thánh.
Những thiện pháp bên ngoài chúng ta làm được thì không kể, ai để tâm đều có thể làm, nếu mình làm được thì chỉ là thứ yếu, không phải là trọng yếu. Trọng yếu của người xuất gia là sát tặc, giết được giặc tham, sân, si, vô minh, bản ngã, khi diệt được hết thì trở thành bậc Thánh. Một khi những tên giặc đó còn hoành hành, còn hung hãn, hung hăng, hung tợn, hung bạo, hung dữ, hung tàn thì chưa phải là tu. Chỉ cần đụng chạm là mình bực bội, sừng sộ, giận không nhìn mặt, buồn không ăn cơm. Sư phụ hay tri sự, quản chúng mới nhắc nhở, mới dạy là mình bệnh, ăn cháo. Tâm yếu đuối, nhu nhược thì làm sao lớn mạnh trong pháp và luật. Phải lấy thước đo của sự tu hành là nhìn thấy tham, sân, si, bản ngã, phải nhiếp phục và chế ngự nó. Muốn nhìn thấy được tham, sân, si, bản ngã, dục, ái thì phải nhận diện ngũ uẩn, phải an trú cảm giác toàn thân, phải nhìn lại nội tâm, kiểm tra những suy nghĩ, tưởng và phải thấy, phải biết rõ nội tâm chính mình. Chứ không phải nhìn lại người khác đúng hay sai, xem người khác có làm không hay làm biếng, như vậy là không đúng, đó là kiến giải của phàm phu.
Luôn luôn an trú cảm giác toàn thân, nhìn nội tâm rác bẩn của mình, nội tâm này là hố rác mà không nhìn thấy. Cần phải thường trực, an trú cảm giác toàn thân mới nhìn thấy được hố rác của nội tâm, bằng không, sẽ không nhìn thấy rác của mình mà chỉ nhìn thấy hố rác của người khác. Thông thường, chúng ta lại thấy rác của người khác nhiều hơn, cho nên mình đều là phàm phu. Còn nếu nhìn thấy rác của chính mình nhiều thì tối thiểu cũng vào bốn đôi tám chúng, vì tám bậc Hiền Thánh của Đức Phật mới thấy được rác bẩn của mình.
Trình pháp nhận diện ngũ uẩn
Đại chúng có nhận diện ngũ uẩn được chưa? Nếu không nhận diện ngũ uẩn được là không thấy rác, như vậy chẳng khác gì là mù, phải nhận diện được ngũ uẩn mới là mở mắt. Hãy tập nhận diện ngũ uẩn, xem cảm giác của mình ra sao? Trong tâm có hình bóng gì? Có cảm giác, nghĩ, tưởng gì trong lúc này? Nếu không nhận diện ngũ uẩn được thì sẽ không biết tu, tu không thành công.
Sư cô 1:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính bạch thầy! Con xin trình bày sự nhận diện ngũ uẩn. Bạch Thầy, ngũ uẩn trong con là hợp thể gồm năm yếu tố, xác thân con ở đây, khi con ngồi hình bóng trong tâm con hiện lên quá khứ. Bởi vì con ngồi đây có rất nhiều con ruồi xung quanh, con nghĩ rằng do hồi bé hoặc những năm trước con đã đập nó, hình bóng đó nó hiện lên trong con, và con nghĩ con đập nó không có lợi ích nào. Nên khi Thầy giảng về ly tham, ái làm cho con sực tỉnh và con quay lại nghe Thầy giảng. Thức uẩn trong con là con biết là con đang suy nghĩ và có những diễn biến về suy nghĩ như vậy; hành uẩn trong con là suy nghĩ về một điều không tốt lắm; cái thọ đó là cảm giác khó chịu bị những con đó quấy rầy lúc này, nhưng con cảm thấy sự khó chịu đó chỉ tồn tại trong 15 giây, khi qua đi thì con nghe những lời thầy dạy có ích hơn nhiều. Mô Phật!
Sư phụ: Minh Thành trả lời đơn giản theo thứ tự sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Sắc là thân tứ đại đang ngồi đây là sắc uẩn, những cảm giác khó chịu bị mấy con ruồi bu đó là thọ uẩn, tưởng là trong tâm có hình bóng những con ruồi bu, hình bóng lúc quá khứ nếu bu là đập những con ruồi này, hành uẩn là suy nghĩ mình tu không hành xử như lúc chưa biết tu, nên không xác hại nó, còn thức là mình rõ biết được những cảm giác nghĩ tưởng đó. Chúng ta theo thứ tự suy nghĩ theo sắc, thọ, tưởng, hành, thức.
Mời người tiếp theo, mời Sư cô khất sĩ.
Sư cô 2:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính bạch Thầy và đại chúng. Qua phần ngũ uẩn con xét thấy bản thân hiện tại của con là sắc uẩn là hình tướng con đang ngồi trang nghiêm khi nghe Thầy giảng. Còn thọ uẩn là cảm giác dễ chịu, do đầu tiết có thực hành thiền để tâm mình uy nghi, cảm thấy dễ chịu trong tiết học. Tưởng là những hình bóng khi mà Thầy dạy, con nhìn lại con nghe chỉ nghe được Thầy giảng chứ không có hình bóng trong tâm. Những suy nghĩ thì khi Thầy hỏi tiết học bài cả lớp con có suy nghĩ xâu chuỗi những ngũ uẩn một cách hợp lý, và thức là con nhận biết tiết học rất quan trọng đối với hành giả tu tập. Mô Phật!
Sư phụ: Thức là biết được những cảm giác, suy nghĩ hình bóng trong tâm, thức là biết được thọ, tưởng, hành.
Sư cô 3:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính bạch chư Thầy, chư huynh đệ! Con xin chia sẽ cảm nhận ngũ uẩn của con. Thứ nhất là về sắc uẩn là sắc thân hiện tại của con, về thọ uẩn là tiết học thứ hai vừa rồi đến hôm nay, khi con học được ba pháp mà Thầy dạy thì cảm thọ của con là cảm giác rất thanh tâm an lạc, lúc nào trong tâm con cũng thấy có một niềm vui hiện tại, vì Thầy nói giữ ngôi nhà của mình đừng bỏ mất ngôi nhà, hãy an trú Chánh niệm tỉnh giác, con nghe theo Thầy dạy con cố gắng rõ biết trước mặt của mình. Hành tức là suy nghĩ của con là phải luôn luôn rõ biết, tỉnh thức trước mặt đặc biệt trước mặt.
Sư phụ: Có tưởng gì không?
Sư cô 3: Tưởng của con những hình bóng trong tâm là cả một tuần con chỉ học, không có tham gia việc khác.
Sư phụ: Tưởng trong tâm có hình bóng gì khi ngồi đây?
Sư cô 3: Hình bóng trong tâm hiện tại của con là con chỉ luôn luôn đặt rõ biết trước mặt, con chỉ có suy nghĩ thực hành rõ biết trước mặt và con thấy mình đang thực hành điều đó. Về thức, thứ nhất là con nhận biết được toàn bộ là con đang hiện diện trong lớp này, thứ hai là thức nhận biết cảm thọ của mình đó là sự an lạc, con thấy được những suy nghĩ trong tâm của mình và con biết được phải thực hành, vận hành nhắc nhở con phải luôn luôn rõ biết trước mặt.
Sư phụ: Còn lộn xộn chưa rõ lắm, chỉ cần trình bày sắc như thế nào, thọ, tưởng, hành, thức như thế nào, chứ không nói qua thời gian lúc trước, chỉ suy nghĩ ngay giây phút trong lớp.
Các huynh đệ lên trang linhquyphapan.vn nghe lại bài Ngũ uẩn là gì và bài Nhập thất chia sẻ, trong đó có cả một bộ hướng dẫn ngồi thiền, nhận diện năm uẩn. Điều này tuyệt đối quan trọng, nếu nhận diện năm uẩn không chính xác thì tu không thành công, do năm uẩn là thân tâm của mình mà mình không nhận diện được, nhìn lẫn lộn thì tu không kết quả đúng. Giống như hồng tâm là vòng tròn đỏ, mình bắn trúng vào vòng tròn đỏ thì mới đúng, nếu bắn ra ngoài trật, Đức Phật gọi là đặt tâm sai hướng.
Sư Cô 4:
Mô Phật! Bạch thưa Thầy con muốn hỏi, khi con quay lại quan sát tâm con, thì con không thấy những hình ảnh mà chỉ thấy âm thanh vọng lên đó có phải là tưởng không Thầy?
Sư phụ: Đó là thanh tưởng, đây là phần sâu sắc, ở đây Minh Thành chưa nói những thứ sâu sắc, mà chỉ nói về căn bản
Sư cô 4: Con chỉ hỏi con hay nhìn vào tâm mình, bình thường con chỉ nghe thấy âm thanh trong đầu mình vọng lên nhiều nhất chứ không thấy hình ảnh, con muốn hỏi thầy làm thế nào để điều phục cho âm thanh không còn vọng lên.
Sư phụ: Mình phải thực tập cảm giác toàn thân, tâm mình phải có chổ trú và những âm thanh khởi lên trong tâm, mình phải tác ý đó là uyển hóa, trống rỗng, rỗng không, không có thật, quay trở về với cảm giác toàn thân, âm thanh đó tác ý xả bỏ, không chú ý tới, không dính mắc vào, phải tập cảm giác an tịnh lắng dịu.
Đúng ra chúng ta phải có khóa tu phân nhóm, mỗi nhóm khoảng 10 người, để cho từng người một nhận diện năm uẩn. Vì không nhận diện năm uẩn được thì sự tu không kết quả. Suy nghĩ của mình mà mình không đọc được; cảm giác của mình không rành rõ; trong tâm của mình đang có tưởng gì mà mình không biết, thì làm sao tu? Trong tâm mình là đống xà bần, đống chỉ rối nùi. Khi Đức Phật chứng ngộ là Đức Phật đã nhìn thấy năm khía cạnh của tâm, của thân tâm, bao trùm cả nhân sanh và vũ trụ, khi nhận diện pháp, phải nhận diện rõ cái nào là thọ, tưởng, hành, thức phải rõ ràng, minh bạch không lộn xộn.
Nhận diện thân tâm
Học Phật là học về thân tâm chính mình chứ không phải bên ngoài. Thân tâm chính là ngũ uẩn, thế nên, thân tâm chính mình mà không thấy, không biết thì không học được. Có những huynh đệ nói trong tâm không có hình bóng gì là không phải, đó là do mình không biết, do vô minh che nên mình không thấy chứ không phải không có hình bóng. Tất cả chúng sanh đều bị ngũ uẩn chi phối, nếu có cảm giác thì có hình bóng, suy nghĩ thô hoặc tế đi theo, hiện rõ hay lờ mờ. Lúc đó nếu tâm hướng ngoại chỉ nhìn bên ngoài thì sẽ không thấy rõ được bên trong tâm.
Tại sao chúng ta tu không tiến? Tại sao chúng ta tu lâu mà không có kết quả? Chúng ta cũng không biết kết quả nằm ở đâu. Kết quả tu của chúng ta không phải cạo được mái tóc, không phải vào giới đàn được thọ giới, đó chỉ là nghi thức, hình thức. Minh Thành sẽ nói với đại chúng những ngôn từ bình dị nhất, để mình nắm được bước tu của mình. Bước thứ nhất là nhìn thấy thân tâm, bước này tuyệt đối quan trọng, nếu không qua bước này thì không lên các bước khác.
Ví dụ, một người từ khi sanh ra đã mù, ở một mình suốt 40 năm trong căn nhà hôi dơ, đầy dẫy rác bẩn, tăm tối. Nhưng người này rất yêu thích, tự hào, hãnh diện với căn nhà này, người này tưởng rằng căn nhà này sạch sẽ tốt lành. Một hôm người này gặp thần y ban cho diệu dược trị mắt sáng, điều đầu tiên người này thấy được là rác đầy nhà. Do đó, khi con mắt sáng chỉ thấy được rác hôi thối trong căn nhà, không có nghĩa là căn nhà được dọn sạch. Cũng vậy, mù chỉ sự vô minh, tức là không thấy được năm uẩn.
Trong Tương Ưng Bộ Kinh, Đức Phật tuyên bố:
Này các Tỷ-kheo, cho đến khi nào Ta chưa hoàn toàn chứng ngộ tất cả mọi góc độ khía cạnh, tất cả mọi trí huệ về năm uẩn thân tâm này, thì khi đó Ta không tuyên bố Ta là bậc Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác giữa chư Thiên, loài Người, Ma phạm, Sa-môn, Bà-la-môn và quần chúng. Cho đến khi nào ta chứng ngộ hoàn toàn mọi phương tiện tất cả góc cạnh trí huệ về năm uẩn, lúc đó Ta mới tuyên bố là bậc Vô thượng Chánh Đẳnh Chánh giác. (trích Tương Ưng Uẩn, Tương Ưng Bộ Kinh tập III)
Sự chứng ngộ của Đức Phật là chứng ngộ về ngũ uẩn, mà ngũ uẩn là thân tâm, ngoài ngũ uẩn thì không còn gì hết. Cho nên mỗi tối tụng kinh Bát Nhã, nhưng mình không biết ý nghĩa thật sự của từ “ngũ uẩn”, nếu biết là chỉ biết trên mặt chữ, còn nghĩa thì hiểu lộn xộn. Hiện tại Minh Thành đang hướng dẫn cách để nhìn thấy ngũ uẩn, chứ không phải đọc chữ, tri thức, mà phải nhìn thấy trực tiếp, trực diện, trực chỉ thân tâm. Khi thấy được ngũ uẩn một cách rõ ràng là đồng nghĩa là mình sáng được mắt là bước thứ nhất. Chúng ta cần phải nghe nhiều về ngũ uẩn, thực tập nhiều về ngũ uẩn, khi vào khóa tu thì xung phong nhận diện ngũ uẩn, để thầy xem có phải đúng hay chưa, đây là cơ hội hiếm có trong suốt cuộc đời tu, nếu bỏ qua là không ai chỉ dẫn cho mình.
Như vậy, mắt mù là ví dụ cho vô minh. Ưa thích căn nhà, ham mê căn nhà, tham đắm căn nhà là thí dụ cho tham. Mù ở trong bóng đêm tức là không thấy ngũ uẩn, mà chỉ thấy tôi, thấy của tôi và tự ngã của tôi. Chính vì vậy mà vô minh, tham ái, chấp ngã, chấp thủ, cho sắc là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi; cho cảm giác là tôi, là của tôi là tự ngã của tôi; cho những hình bóng trong tâm tưởng, tưởng là gì, tưởng là tôi, của tôi, tự ngã của tôi; tự ngã sanh khởi lên là tôi, của tôi, tự ngã của tôi; nhận thức, rõ biết là tôi, của tôi, tự ngã của tôi… đây là chấp thủ, chấp ngã, gọi là ngũ thủ uẩn. Nếu ai đụng vào một trong năm uẩn thì sầu, bi, khổ, u não, tham, sân, si. Chỉ cần bị người khác liếc một cái là cũng không ngủ được, cảm thấy bực mình khó chịu rồi, mới có ánh nhìn là xảy ra án mạng, do đó ngũ thủ uẩn rất là khủng khiếp, đây là nguồn cội của tất cả khổ đau.
Câu nói trong kinh tạng Nikāya làm nên lịch sử của Thánh điển Phật giáo là “Sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, oán ghét mà gặp nhau là khổ mà xa lìa là khổ, mong cầu không được là khổ, tóm lại năm thủ uẩn là khổ”. Câu đó làm nên lịch sử của cả kinh tạng Nikāya. Tại vì sanh ra là khổ, bệnh là khổ, già là khổ, chết là khổ, mong cầu là khổ đó chỉ là sắc uẩn, yêu thương ghét không gặp là sắc uẩn, nhưng những điều này không đại biểu được cho tất cả các pháp. Câu “Tóm lại năm thủ uẩn là khổ”, chính câu này mới thoát lên cả giá trị vĩ đại Thánh trí của Đức Phật, hiện tại không biết ngũ uẩn là gì là mình mù. Tu mà không biết ngũ uẩn là tu mù, tu không có kết quả, không thấy ngũ uẩn thì chỉ là tu ở ngoài.
Tiếp tục ví dụ, người này sau 40 năm sống trong bóng tối, được thần y cho thần dược bừng sáng mắt thì điều đầu tiên họ thấy là đầy rẫy rác, cả đống rác, cả nhà rác. Nếu nhìn thấy rác mà chỉ nói rác này hôi, dơ rồi ngồi yên suốt 20-30-40 năm, ngồi đến chết thì đống rác không sạch được. Nếu tu không khéo thì sự tu tập thiền của mình cũng giống như vậy, ngồi im thì không thể sạch rác, ngồi im không sanh khởi, không xả nếu tu vậy thì không thế nào thành tựu. Tu mà ngũ uẩn không thấy, rác bẩn không thấy, không dọn dẹp, cứ ngồi đó, nghĩ ngồi càng nhiều càng hay, ngồi lâu thành thiền sư là không được.
Cho nên, đầu tiên cần có Thánh tư duy, Thánh tri kiến là thấy được ngũ uẩn, đó là thấy của bậc Thánh, nếu mình không thấy được năm uẩn là mình trong tà kiến, vĩnh viễn tu không có kết quả. Do thân tâm mà mình không thấy, không thấy đúng về thân tâm, tại vì nếu không thấy ngũ uẩn thì mình chỉ thấy được một đại uẩn, uẩn bản ngã. Thí dụ, sáng ngủ thức dậy vào soi gương, mình nghĩ sao sao cho cái mặt vung lên, tươi lên đó là sắc ngũ uẩn là chết liền; hoặc ngủ thức dậy thấy nổi mụn bọc thì nghĩ mình bị xấu không dám ra đường, kiếm kem sứt vào mụn, mà nổi nhiều quá thì không dám ra đường, đó là phàm phu tri kiến, vô văn phàm phu. Tại vì mình cho là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Cho nên sắc thay đổi là người này bị sầu, bi, khổ, ưu, não; sắc biến hoại là người này ăn không được, ngủ không được ngon. Người này không quán pháp để phá sắc uẩn, không quán tứ đại, không quán Ba Mươi Hai Thể Trược, không quán Chín Giai Đoạn Tử Thi, không nhận diện được đất, nước, gió, lửa, không biết được nhân duyên sanh diệt, tác thành của sắc uẩn là từ đâu mới có. Nó là pháp duyên sanh vô thường, vô ngã, trống rỗng mà người này không tu tập, không quán chiếu, không nhận diện được sắc uẩn một cách sâu sắc, người này chắc chắn bám chặt vào sắc thủ uẩn.
Đối với người tu xuất gia, mình xem được mấy người mà thấy được cái này là không phải tôi, không phải của tôi, khi nói chuyện thì cũng hiếm đừng nói là xảy ra chuyện. Do không thể nhập Thánh trí năm uẩn, không đi vào cửa Thánh tri kiến, Chánh tri kiến là cửa để nhìn thấy được năm uẩn, mà thấy điều này là mình, là của mình, là tự ngã của mình, cái này là của tôi, là tự ngã của tôi. Ví dụ, sáng ngủ thức dậy mà mất tượng Phật nơi chánh điện là khổ, như vậy nếu tu 30 năm mà mất tượng Phật là khổ, là không được, do mình nghĩ cái này là của mình, những thứ xung quanh là của mình, do đó biết tới chứng nào hết khổ đó là vô minh.
Cho nên tại sao phải nhận diện năm uẩn, khi nhận diện năm uẩn thì thân thể được phân làm năm mảnh, không còn là một, cả khối tưởng sẽ bị phá vỡ ra, ta mới nhìn thấy được năm nhóm. Nhóm thứ nhất là sắc. Nhóm thứ hai là cảm giác, trong cảm giác chia ra lạc thọ, khổ thọ, bất khổ, bất lạc thọ. Trong đó, lạc thọ là những cảm giác dễ chịu là tham, cảm giác khó chịu là sân, cảm giác không dễ chịu, không khó chịu là si, vô minh. Nhóm thứ ba là tưởng, gồm sự sanh diệt liên tục của những hình bóng. Nhóm thứ tư là hành, gồm những suy nghĩ nói thầm trong tâm. Cuối cùng là thức, tức là sự rõ biết. Nhận thức của chúng ta thường đều theo chiều dục, ái, tham. Chỉ khi nào thấy tất cả mọi thứ không có thứ nào của mình thì lúc đó mới phá được thân kiến, mới bắt đầu đi vào đắc pháp nhãn tịnh, khi đó mắt pháp trong sáng, mắt pháp mở ra và hết mù. Cho nên phải thực tập nhận diện ngũ uẩn, nếu không thấy ngũ uẩn thì sự tu tập không có kết quả.
Bước thứ nhất là thấy thân tâm, phải thấy chính xác không được lẫn lộn, khi đứng lên nói nhận diện ngũ uẩn mà lộn xộn là chưa được. Phải nhận diện sắc ra sắc, thọ ra thọ, tưởng ra tưởng, hành ra hành, thức ra thức.
Bước thứ hai là thấy được rác bẩn, thấy được tâm cấu nhiễm, thấy được tâm lậu hoặc ở bên trong năm uẩn. Thấy trong những cảm giác, những suy nghĩ, những hình bóng đều là tham, sân, si. Như vậy, bước thứ hai là thấy được lậu hoặc, cấu nhiễm, rác bẩn. Người nào thấy càng nhiều thì trí huệ càng minh kiến, càng tỏa rạng. Người tu thâm sâu trong vòng pháp này là nhìn thấy được rất nhiều cấu uế của tâm. Người đã sáng mắt thì phải nhìn thấy hết tất cả ngóc ngách, những nơi chất chứa của rác.
Nhìn lại tự thân mình, khi có ai nói mình bản ngã lớn thì giận, sân ngay lập tức, như vậy là phàm phu, nói tới là sừng sộ. Còn người tu chơn chánh thì khi có người nói bản ngã họ lớn, là họ nói: “Dạ đúng, em cũng tự thấy bản ngã của em lớn, em đang tu để nhiếp phục bản ngã”. Người tu đến bước thứ hai là khi nghe người khác nói: “Sao chị sân quá, một chút là giận, giận”, mình nói: “Dạ đúng rồi, em đang đang khổ với sân, em sẽ cố gắng nhiếp phục, có điều gì sư tỷ góp ý giùm thêm, em cũng đang nhiếp phục”, thì đó là người tu chơn chánh. Còn nếu nghe người khác nói mình sân, mà mình không nhận, không chịu thì không được.Có câu chuyện kể về anh chàng nọ, anh ta điều gì cũng tốt nhưng chỉ có tính là hay nổi nóng. Hôm đó có hai người nói chuyện về anh ta “Anh chàng đó, cái gì cũng tốt hết, mà cái tật hay nổi nóng”, anh chàng nghe và lại nắm cổ hai người “Tôi nổi nóng hồi nào?”.
Sự tu hành này rất hay, đây là Phật pháp nguyên chất của Đức Phật, đi thẳng vào cảm giác, nghĩ, tưởng để nhìn thấy được những cấu nhiễm trong tâm, từ đó chúng ta phải làm một cuộc thanh lọc vĩ đại, tẩy sạch tâm. Nhiều người rõ ràng là mình tham, gặp gì cũng tham, gặp gì cũng muốn xin nhưng có ai nói: “Sao cô tu mà cô tham quá vậy” là bừng bừng giận, không gặp nữa; nếu lúc đó mình xin lỗi “Con cũng tự thấy tâm con, sự tham ái, tham dục còn nhiều, con cũng đang cố gắng tu, cố gắng khắc phục, xin lỗi cô đã chỉ lỗi cho con”, mặc dù người đó lớn tuổi mà là cư sĩ cũng vậy, phải biết xin lỗi và khắc phục, đó mới là chân tu. Ngược lại, nhiều người nghe người khác chỉ bảo, nhắc nhở những lời chân thật nhưng lại không chịu nhận.
Trong Tăng Chi Bộ Kinh, Đức Phật nói tâm chúng sanh như một vết thương, vừa chạm tới là sừng sộ, đau đớn, khó chịu giống như vết thương, đụng vào là giật mạnh, sừng sộ, sân hận, bực dọc, khó chịu đó là hoàn toàn là địa vị của phàm phu, không phải là Đa văn Thánh đệ tử. Còn tâm của vị Đa văn Thánh đệ tử là tâm lắng dịu, trầm tĩnh, biết nghe, biết chấp nhận, khiêm cung, nhu hòa, khiêm hạ, khiêm tốn, khiêm nhã, khiêm nhường. Sự tu chỉ có vậy, không có gì cao thượng, cao siêu, mà chỉ cần nhìn thấy được tham, sân, si và nhiếp phục được tham, sân, si là thành tựu.
Nhiều người, trước khi đi tu, khi có người khác gọi:“Con lại cô nói cái này nghe” thì vui vẻ nói “Cô nói con nghe” và họ sẽ làm theo. Nhưng khi tu rồi, nếu người ta kêu “Con lại nói cái này”, thì lại nói “Tôi như vậy mà kêu con hả”, đó là tu càng lâu bản ngã càng cao. Khi còn là học trò, tập tu ở chùa mà có người gọi bằng con thì cũng chấp nhận. Nhưng học càng lâu, lên đến quản chúng hay trụ trì dù mới 49-50 tuổi, khi có một bác lớn 85 tuổi vào chùa nói với mình là: “Con con lại đây bà nói nghe” thì không biết được như thế nào? Đây là thước đo sự tu, đo tham, sân, si, bản ngã của mình trong quá trình tu học.
Như vậy, bước thứ hai thấy được tâm cấu nhiễm, thấy rác bẩn, tham, sân, si, nếu thấy rác thì phải dọn rác một cách tích cực, siêng năng.
./.
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Nhiếp phục thân tâm PAGEREF _Toc111147401 \h 1
II.Trình pháp nhận diện ngũ uẩn PAGEREF _Toc111147402 \h 4
III.Nhận diện thân tâm PAGEREF _Toc111147403 \h 7
Nhiếp phục thân tâm
Chúng ta đã học ba pháp, mong rằng mọi người luôn nhớ thực tập chánh niệm trước mặt, cảm nhận hơi thở và cảm nhận cảm giác của toàn bộ cơ thể. Không phải chờ lúc ngồi thiền chúng mới cảm nhận, mà phải thực tập ba pháp ở tất cả mọi lúc mọi nơi, đó chính là pháp hành. Nội tâm tỉnh giác là phải biết rõ được suy nghĩ, những cảm thọ hình bóng trong tâm. Ba pháp này phải nắm vững chắc và phải thực tập thường xuyên.
Như vậy, đầu tiên là bất cứ lúc nào nhìn về phía trước ta cũng phải chánh niệm, không nhìn lung tung và ánh nhìn phải chân chánh, ngay thẳng, sáng rõ. Lúc nhìn không được chú ý vào một điểm, mà nhìn hết không gian phía trước mặt, trừ khi cần nhìn một thứ gì đó thì mới chú ý, còn bình thường thì cái nhìn luôn tổng quát, phổ quát trước mặt.
Tiếp theo, luôn luôn lúc nào cũng nhận được cảm giác toàn bộ cơ thể từ đỉnh đầu cho đến gót chân, phải cảm nhận được cảm giác toàn bộ cơ thể đang như thế nào. Một người không an trú cảm giác toàn thân là người vô gia cư không có căn nhà tâm linh. Trong bài kinh Thân Hành Niệm, Đức Phật nói người không an trú pháp hành giống như chai không có nước, không có nắp, mà bất cứ ai đổ nước vào cũng được. Người có pháp hành là chai có nước, có nắp đậy lại, không thể đổ thứ gì khác vào. Cho nên pháp hành là sự an trú trên cảm giác toàn thân, tịnh tâm trên thân, tịnh tâm trên cảm giác toàn bộ cơ thể, bất cứ ở nơi nào cũng đều an trú trên cảm giác toàn thân, có một sự định tĩnh, vững trãi, sự an trú vững vàng.
Khi đó, ở trong tâm có những suy nghĩ, hình bóng gì sanh khởi phải biết, nếu không biết đồng nghĩa là mình đang trong trạng thái vô minh. Cần biết đang có hình bóng gì trong tâm, đó là thiện hay bất thiện pháp, trong hình bóng đó có dục tham ái không, có tự ngã không, có cho hình bóng đó là tôi, là của tôi hay không. Phải xem những suy nghĩ đang hiện khởi có phải là ly dục tư duy, ly sân tư duy, bất hại tư duy không. Định nghĩa tư duy trong Bát Chánh Đạo gồm ly dục tư duy, ly sân tư duy, bất hại tư duy, đó chính là Chánh tư duy. Những suy nghĩ nào đưa đến trạng thái xa lìa ham muốn thì suy nghĩ đó là Chánh tư duy, nên phát triển suy nghĩ đó; còn suy nghĩ đi theo dục, tham, ái, ác bất thiện pháp thì suy nghĩ đó là tà tư duy.
Ví dụ, mình có chiếc xe đi học, nhưng thấy sư tỷ có chiếc xe tốt hơn, mình cũng mong muốn có chiếc xe đó để chạy, suy nghĩ đó là tà tư duy, dục tư duy, tham tư duy, ái tư duy. Mình phải nhìn thấy suy nghĩ này là ác bất thiện pháp, cần dẹp những suy nghĩ như vậy. Đó chính là dùng Chánh tư duy để phá tà tư duy; dùng ly dục tư duy để đánh đuổi sự tham muốn, tham đắm, ham thích hướng ngoại. Suy nghĩ nào giúp mình rời khỏi sự bực tức, bực bội, bực dọc, phiền muộn thì đó là suy nghĩ chơn chánh, Chánh tư duy. Còn suy nghĩ bực bội, gắt gao, khó chịu, sân hận là suy nghĩ tà tư duy, ác tư duy, bất thiện tư duy. Chúng ta phải đánh đuổi những suy nghĩ bất thiện đó, không để tồn tại trong thân tâm, phải ly sân tư duy, rời bỏ những suy nghĩ sân giận. Suy nghĩ nào để rời khỏi tâm bực bội nóng giận thì suy nghĩ đó là suy nghĩ chơn chánh còn gọi là Thánh tư duy, là suy nghĩ của bậc Thánh, suy nghĩ chơn chánh. Nếu để suy nghĩ sân, bực, tức giận an trú trong tâm, xâm chiếm tâm, áp đảo tâm không chế thân thì đó là người không biết tu, là người hạ liệt, hèn hạ, thấp kém ở trong pháp và luật. Vì vậy, chúng ta không thể chấp nhận những suy nghĩ làm cho mình bực bội, tức giận.
Thiền không có nghĩa là không cần suy nghĩ, thiền có hai loại: thiền chỉ và thiền quán. Thiền chỉ là làm cho tâm lắng dịu, an tịnh; thiền quán là suy nghĩ, tác động tâm ý theo chiều chơn chánh. Vì vậy khi trong tâm có suy nghĩ giận ai mà cứ để cơn giận cư trú, tồn tại trong tâm, mà không giải quyết, không đánh đuổi, không tẩy sạch, không trừ diệt, không đoạn tận, không nhổ gốc rễ, giống như chặt cây sala, như cây dừa, cây cau thì người đó là hạ liệt thấp hèn trong giáo pháp, người đó không biết tu. Khi sanh khởi tư duy sân giận thì ngay lập tức phải đánh đuổi, đánh cho tan hết tất cả cảm giác, cho đến khi hình bóng, suy nghĩ sân giận trong tâm không còn nữa, tâm trở lại trạng thái bình thường thì mới dừng lại. Điều đó đòi hỏi công phu làm cho tâm an tịnh, lắng dịu, cho đến khi gặp người gây tức giận mà mình cảm thấy bình thường, không có chút sân hận gợn trong tâm thì mới được.
Ngoài ra, còn có một phương pháp diệt trừ sân hận nữa là lạy diệt ngã tức là quỳ trước người đó lạy, sám hối “Sư muội sai, sư muội có tâm sân với sư tỷ, tâm này là tâm ác, tâm bất thiện, muội cảm thấy xấu hổ và nhục nhã, muội xin quỳ xuống lạy sư tỷ”, đây là phương pháp sám hối diệt ngã. Đối với sư phụ hay sư muội cũng quỳ xuống lạy, đây là hạnh diệt ngã thâm sâu, hạnh của Thánh hiền. Pháp tu của chùa Linh Quy Pháp Ấn mỗi ngày phải lạy diệt ngã, bắt bản ngã mình phải lạy, chứ không phải tu rồi thì cái tôi lớn, nghĩ rằng mình là sư tỷ không thể lạy sư muội, suy nghĩ đó là bản ngã. Thay vào đó, phải quỳ xuống sám hối: “Tỷ sai, tỷ cảm thấy trong tâm có cảm thọ sân hận đó là ác bất thiện pháp xin sư muội chứng minh và tỷ hứa sẽ đánh đuổi tâm sân hận, diệt tận suy nghĩ ác” và quỳ xuống lạy, đó là đại sám hối. Đó là sám hối của Thánh pháp của thời Đức Phật, chứ không phải sám hối là lên đọc và lạy xong 108 lạy rồi thôi, đó chỉ là hình thức. Sám hối chân thật là nhìn nhận ác bất thiện pháp cấu nhiễm trong tâm, sau đó bày tỏ, phơi bày, vạch trần, lôi kéo, nhổ ra, khạc, ói ra những thứ ác, cấu uế, hôi thối trong tâm, chúng ta không được chất chứa chúng thêm phút giây nào nữa, đây là phương pháp tu hằng ngày của chùa Linh Quy Pháp Ấn.
Nếu trong khóa tu có cư sĩ chỉ lỗi cho Minh Thành thì Minh Thành sẵn sàng quỳ lạy sám hối giữa 100 Phật tử. Điều này hơi khó nhưng từ từ Minh Thành giới thiệu để mọi người thấy và thực tập, phương pháp này rất quan trọng. Nếu chúng ta không diệt bản ngã, không hạ thấp cái tôi thì không thể tu hành, dù tu suốt đời nhưng sự tu của mình cũng chỉ ở ngoài cửa, không thể nhập môn. Muốn vào được dòng pháp thật sự của Đức Phật, đầu tiên là phá thân kiến (kiến chấp về thân), nếu không phá được thân kiến thì không thể nào đi vào dòng pháp của Đức Phật, dù cho tu hình thức nào đi nữa. Vì vậy, có lỗi phải dám nhận lỗi, dù người chỉ lỗi thấp kém hơn mình.
Sự tu tập cốt lõi là phá tham, sân, si, vô minh và bản ngã, nếu không phá được thì không thể tu được. Trái tim của toàn bộ giáo pháp là đánh phá dục, tham, ái, vô minh, bản ngã, chúng ta cứ thực hành nhiều lần cho đến khi có kết quả thành công Thánh quả. Còn nếu những dục, tham, ái còn ở đó, không có sự thay đổi thì đó là “A la hán quả” ngoài Chợ Lớn. Sự tu tập của Đức Phật trong kinh Nikāya dạy là thường trực quay trở về thân tâm, kiểm tra thân thể về những cảm giác, suy nghĩ, hình bóng trong tâm có dục tham, ái, sân, si, bản ngã, ta đây, có khen mình chê người, cống cao ngã mạn dương dương tự đắc, nếu có thì đập liền, khử liền đó là Thánh đệ tử của Đức Phật, là đệ tử của bậc Thánh.
Những thiện pháp bên ngoài chúng ta làm được thì không kể, ai để tâm đều có thể làm, nếu mình làm được thì chỉ là thứ yếu, không phải là trọng yếu. Trọng yếu của người xuất gia là sát tặc, giết được giặc tham, sân, si, vô minh, bản ngã, khi diệt được hết thì trở thành bậc Thánh. Một khi những tên giặc đó còn hoành hành, còn hung hãn, hung hăng, hung tợn, hung bạo, hung dữ, hung tàn thì chưa phải là tu. Chỉ cần đụng chạm là mình bực bội, sừng sộ, giận không nhìn mặt, buồn không ăn cơm. Sư phụ hay tri sự, quản chúng mới nhắc nhở, mới dạy là mình bệnh, ăn cháo. Tâm yếu đuối, nhu nhược thì làm sao lớn mạnh trong pháp và luật. Phải lấy thước đo của sự tu hành là nhìn thấy tham, sân, si, bản ngã, phải nhiếp phục và chế ngự nó. Muốn nhìn thấy được tham, sân, si, bản ngã, dục, ái thì phải nhận diện ngũ uẩn, phải an trú cảm giác toàn thân, phải nhìn lại nội tâm, kiểm tra những suy nghĩ, tưởng và phải thấy, phải biết rõ nội tâm chính mình. Chứ không phải nhìn lại người khác đúng hay sai, xem người khác có làm không hay làm biếng, như vậy là không đúng, đó là kiến giải của phàm phu.
Luôn luôn an trú cảm giác toàn thân, nhìn nội tâm rác bẩn của mình, nội tâm này là hố rác mà không nhìn thấy. Cần phải thường trực, an trú cảm giác toàn thân mới nhìn thấy được hố rác của nội tâm, bằng không, sẽ không nhìn thấy rác của mình mà chỉ nhìn thấy hố rác của người khác. Thông thường, chúng ta lại thấy rác của người khác nhiều hơn, cho nên mình đều là phàm phu. Còn nếu nhìn thấy rác của chính mình nhiều thì tối thiểu cũng vào bốn đôi tám chúng, vì tám bậc Hiền Thánh của Đức Phật mới thấy được rác bẩn của mình.
Trình pháp nhận diện ngũ uẩn
Đại chúng có nhận diện ngũ uẩn được chưa? Nếu không nhận diện ngũ uẩn được là không thấy rác, như vậy chẳng khác gì là mù, phải nhận diện được ngũ uẩn mới là mở mắt. Hãy tập nhận diện ngũ uẩn, xem cảm giác của mình ra sao? Trong tâm có hình bóng gì? Có cảm giác, nghĩ, tưởng gì trong lúc này? Nếu không nhận diện ngũ uẩn được thì sẽ không biết tu, tu không thành công.
Sư cô 1:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính bạch thầy! Con xin trình bày sự nhận diện ngũ uẩn. Bạch Thầy, ngũ uẩn trong con là hợp thể gồm năm yếu tố, xác thân con ở đây, khi con ngồi hình bóng trong tâm con hiện lên quá khứ. Bởi vì con ngồi đây có rất nhiều con ruồi xung quanh, con nghĩ rằng do hồi bé hoặc những năm trước con đã đập nó, hình bóng đó nó hiện lên trong con, và con nghĩ con đập nó không có lợi ích nào. Nên khi Thầy giảng về ly tham, ái làm cho con sực tỉnh và con quay lại nghe Thầy giảng. Thức uẩn trong con là con biết là con đang suy nghĩ và có những diễn biến về suy nghĩ như vậy; hành uẩn trong con là suy nghĩ về một điều không tốt lắm; cái thọ đó là cảm giác khó chịu bị những con đó quấy rầy lúc này, nhưng con cảm thấy sự khó chịu đó chỉ tồn tại trong 15 giây, khi qua đi thì con nghe những lời thầy dạy có ích hơn nhiều. Mô Phật!
Sư phụ: Minh Thành trả lời đơn giản theo thứ tự sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Sắc là thân tứ đại đang ngồi đây là sắc uẩn, những cảm giác khó chịu bị mấy con ruồi bu đó là thọ uẩn, tưởng là trong tâm có hình bóng những con ruồi bu, hình bóng lúc quá khứ nếu bu là đập những con ruồi này, hành uẩn là suy nghĩ mình tu không hành xử như lúc chưa biết tu, nên không xác hại nó, còn thức là mình rõ biết được những cảm giác nghĩ tưởng đó. Chúng ta theo thứ tự suy nghĩ theo sắc, thọ, tưởng, hành, thức.
Mời người tiếp theo, mời Sư cô khất sĩ.
Sư cô 2:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính bạch Thầy và đại chúng. Qua phần ngũ uẩn con xét thấy bản thân hiện tại của con là sắc uẩn là hình tướng con đang ngồi trang nghiêm khi nghe Thầy giảng. Còn thọ uẩn là cảm giác dễ chịu, do đầu tiết có thực hành thiền để tâm mình uy nghi, cảm thấy dễ chịu trong tiết học. Tưởng là những hình bóng khi mà Thầy dạy, con nhìn lại con nghe chỉ nghe được Thầy giảng chứ không có hình bóng trong tâm. Những suy nghĩ thì khi Thầy hỏi tiết học bài cả lớp con có suy nghĩ xâu chuỗi những ngũ uẩn một cách hợp lý, và thức là con nhận biết tiết học rất quan trọng đối với hành giả tu tập. Mô Phật!
Sư phụ: Thức là biết được những cảm giác, suy nghĩ hình bóng trong tâm, thức là biết được thọ, tưởng, hành.
Sư cô 3:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính bạch chư Thầy, chư huynh đệ! Con xin chia sẽ cảm nhận ngũ uẩn của con. Thứ nhất là về sắc uẩn là sắc thân hiện tại của con, về thọ uẩn là tiết học thứ hai vừa rồi đến hôm nay, khi con học được ba pháp mà Thầy dạy thì cảm thọ của con là cảm giác rất thanh tâm an lạc, lúc nào trong tâm con cũng thấy có một niềm vui hiện tại, vì Thầy nói giữ ngôi nhà của mình đừng bỏ mất ngôi nhà, hãy an trú Chánh niệm tỉnh giác, con nghe theo Thầy dạy con cố gắng rõ biết trước mặt của mình. Hành tức là suy nghĩ của con là phải luôn luôn rõ biết, tỉnh thức trước mặt đặc biệt trước mặt.
Sư phụ: Có tưởng gì không?
Sư cô 3: Tưởng của con những hình bóng trong tâm là cả một tuần con chỉ học, không có tham gia việc khác.
Sư phụ: Tưởng trong tâm có hình bóng gì khi ngồi đây?
Sư cô 3: Hình bóng trong tâm hiện tại của con là con chỉ luôn luôn đặt rõ biết trước mặt, con chỉ có suy nghĩ thực hành rõ biết trước mặt và con thấy mình đang thực hành điều đó. Về thức, thứ nhất là con nhận biết được toàn bộ là con đang hiện diện trong lớp này, thứ hai là thức nhận biết cảm thọ của mình đó là sự an lạc, con thấy được những suy nghĩ trong tâm của mình và con biết được phải thực hành, vận hành nhắc nhở con phải luôn luôn rõ biết trước mặt.
Sư phụ: Còn lộn xộn chưa rõ lắm, chỉ cần trình bày sắc như thế nào, thọ, tưởng, hành, thức như thế nào, chứ không nói qua thời gian lúc trước, chỉ suy nghĩ ngay giây phút trong lớp.
Các huynh đệ lên trang linhquyphapan.vn nghe lại bài Ngũ uẩn là gì và bài Nhập thất chia sẻ, trong đó có cả một bộ hướng dẫn ngồi thiền, nhận diện năm uẩn. Điều này tuyệt đối quan trọng, nếu nhận diện năm uẩn không chính xác thì tu không thành công, do năm uẩn là thân tâm của mình mà mình không nhận diện được, nhìn lẫn lộn thì tu không kết quả đúng. Giống như hồng tâm là vòng tròn đỏ, mình bắn trúng vào vòng tròn đỏ thì mới đúng, nếu bắn ra ngoài trật, Đức Phật gọi là đặt tâm sai hướng.
Sư Cô 4:
Mô Phật! Bạch thưa Thầy con muốn hỏi, khi con quay lại quan sát tâm con, thì con không thấy những hình ảnh mà chỉ thấy âm thanh vọng lên đó có phải là tưởng không Thầy?
Sư phụ: Đó là thanh tưởng, đây là phần sâu sắc, ở đây Minh Thành chưa nói những thứ sâu sắc, mà chỉ nói về căn bản
Sư cô 4: Con chỉ hỏi con hay nhìn vào tâm mình, bình thường con chỉ nghe thấy âm thanh trong đầu mình vọng lên nhiều nhất chứ không thấy hình ảnh, con muốn hỏi thầy làm thế nào để điều phục cho âm thanh không còn vọng lên.
Sư phụ: Mình phải thực tập cảm giác toàn thân, tâm mình phải có chổ trú và những âm thanh khởi lên trong tâm, mình phải tác ý đó là uyển hóa, trống rỗng, rỗng không, không có thật, quay trở về với cảm giác toàn thân, âm thanh đó tác ý xả bỏ, không chú ý tới, không dính mắc vào, phải tập cảm giác an tịnh lắng dịu.
Đúng ra chúng ta phải có khóa tu phân nhóm, mỗi nhóm khoảng 10 người, để cho từng người một nhận diện năm uẩn. Vì không nhận diện năm uẩn được thì sự tu không kết quả. Suy nghĩ của mình mà mình không đọc được; cảm giác của mình không rành rõ; trong tâm của mình đang có tưởng gì mà mình không biết, thì làm sao tu? Trong tâm mình là đống xà bần, đống chỉ rối nùi. Khi Đức Phật chứng ngộ là Đức Phật đã nhìn thấy năm khía cạnh của tâm, của thân tâm, bao trùm cả nhân sanh và vũ trụ, khi nhận diện pháp, phải nhận diện rõ cái nào là thọ, tưởng, hành, thức phải rõ ràng, minh bạch không lộn xộn.
Nhận diện thân tâm
Học Phật là học về thân tâm chính mình chứ không phải bên ngoài. Thân tâm chính là ngũ uẩn, thế nên, thân tâm chính mình mà không thấy, không biết thì không học được. Có những huynh đệ nói trong tâm không có hình bóng gì là không phải, đó là do mình không biết, do vô minh che nên mình không thấy chứ không phải không có hình bóng. Tất cả chúng sanh đều bị ngũ uẩn chi phối, nếu có cảm giác thì có hình bóng, suy nghĩ thô hoặc tế đi theo, hiện rõ hay lờ mờ. Lúc đó nếu tâm hướng ngoại chỉ nhìn bên ngoài thì sẽ không thấy rõ được bên trong tâm.
Tại sao chúng ta tu không tiến? Tại sao chúng ta tu lâu mà không có kết quả? Chúng ta cũng không biết kết quả nằm ở đâu. Kết quả tu của chúng ta không phải cạo được mái tóc, không phải vào giới đàn được thọ giới, đó chỉ là nghi thức, hình thức. Minh Thành sẽ nói với đại chúng những ngôn từ bình dị nhất, để mình nắm được bước tu của mình. Bước thứ nhất là nhìn thấy thân tâm, bước này tuyệt đối quan trọng, nếu không qua bước này thì không lên các bước khác.
Ví dụ, một người từ khi sanh ra đã mù, ở một mình suốt 40 năm trong căn nhà hôi dơ, đầy dẫy rác bẩn, tăm tối. Nhưng người này rất yêu thích, tự hào, hãnh diện với căn nhà này, người này tưởng rằng căn nhà này sạch sẽ tốt lành. Một hôm người này gặp thần y ban cho diệu dược trị mắt sáng, điều đầu tiên người này thấy được là rác đầy nhà. Do đó, khi con mắt sáng chỉ thấy được rác hôi thối trong căn nhà, không có nghĩa là căn nhà được dọn sạch. Cũng vậy, mù chỉ sự vô minh, tức là không thấy được năm uẩn.
Trong Tương Ưng Bộ Kinh, Đức Phật tuyên bố:
Này các Tỷ-kheo, cho đến khi nào Ta chưa hoàn toàn chứng ngộ tất cả mọi góc độ khía cạnh, tất cả mọi trí huệ về năm uẩn thân tâm này, thì khi đó Ta không tuyên bố Ta là bậc Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác giữa chư Thiên, loài Người, Ma phạm, Sa-môn, Bà-la-môn và quần chúng. Cho đến khi nào ta chứng ngộ hoàn toàn mọi phương tiện tất cả góc cạnh trí huệ về năm uẩn, lúc đó Ta mới tuyên bố là bậc Vô thượng Chánh Đẳnh Chánh giác. (trích Tương Ưng Uẩn, Tương Ưng Bộ Kinh tập III)
Sự chứng ngộ của Đức Phật là chứng ngộ về ngũ uẩn, mà ngũ uẩn là thân tâm, ngoài ngũ uẩn thì không còn gì hết. Cho nên mỗi tối tụng kinh Bát Nhã, nhưng mình không biết ý nghĩa thật sự của từ “ngũ uẩn”, nếu biết là chỉ biết trên mặt chữ, còn nghĩa thì hiểu lộn xộn. Hiện tại Minh Thành đang hướng dẫn cách để nhìn thấy ngũ uẩn, chứ không phải đọc chữ, tri thức, mà phải nhìn thấy trực tiếp, trực diện, trực chỉ thân tâm. Khi thấy được ngũ uẩn một cách rõ ràng là đồng nghĩa là mình sáng được mắt là bước thứ nhất. Chúng ta cần phải nghe nhiều về ngũ uẩn, thực tập nhiều về ngũ uẩn, khi vào khóa tu thì xung phong nhận diện ngũ uẩn, để thầy xem có phải đúng hay chưa, đây là cơ hội hiếm có trong suốt cuộc đời tu, nếu bỏ qua là không ai chỉ dẫn cho mình.
Như vậy, mắt mù là ví dụ cho vô minh. Ưa thích căn nhà, ham mê căn nhà, tham đắm căn nhà là thí dụ cho tham. Mù ở trong bóng đêm tức là không thấy ngũ uẩn, mà chỉ thấy tôi, thấy của tôi và tự ngã của tôi. Chính vì vậy mà vô minh, tham ái, chấp ngã, chấp thủ, cho sắc là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi; cho cảm giác là tôi, là của tôi là tự ngã của tôi; cho những hình bóng trong tâm tưởng, tưởng là gì, tưởng là tôi, của tôi, tự ngã của tôi; tự ngã sanh khởi lên là tôi, của tôi, tự ngã của tôi; nhận thức, rõ biết là tôi, của tôi, tự ngã của tôi… đây là chấp thủ, chấp ngã, gọi là ngũ thủ uẩn. Nếu ai đụng vào một trong năm uẩn thì sầu, bi, khổ, u não, tham, sân, si. Chỉ cần bị người khác liếc một cái là cũng không ngủ được, cảm thấy bực mình khó chịu rồi, mới có ánh nhìn là xảy ra án mạng, do đó ngũ thủ uẩn rất là khủng khiếp, đây là nguồn cội của tất cả khổ đau.
Câu nói trong kinh tạng Nikāya làm nên lịch sử của Thánh điển Phật giáo là “Sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, oán ghét mà gặp nhau là khổ mà xa lìa là khổ, mong cầu không được là khổ, tóm lại năm thủ uẩn là khổ”. Câu đó làm nên lịch sử của cả kinh tạng Nikāya. Tại vì sanh ra là khổ, bệnh là khổ, già là khổ, chết là khổ, mong cầu là khổ đó chỉ là sắc uẩn, yêu thương ghét không gặp là sắc uẩn, nhưng những điều này không đại biểu được cho tất cả các pháp. Câu “Tóm lại năm thủ uẩn là khổ”, chính câu này mới thoát lên cả giá trị vĩ đại Thánh trí của Đức Phật, hiện tại không biết ngũ uẩn là gì là mình mù. Tu mà không biết ngũ uẩn là tu mù, tu không có kết quả, không thấy ngũ uẩn thì chỉ là tu ở ngoài.
Tiếp tục ví dụ, người này sau 40 năm sống trong bóng tối, được thần y cho thần dược bừng sáng mắt thì điều đầu tiên họ thấy là đầy rẫy rác, cả đống rác, cả nhà rác. Nếu nhìn thấy rác mà chỉ nói rác này hôi, dơ rồi ngồi yên suốt 20-30-40 năm, ngồi đến chết thì đống rác không sạch được. Nếu tu không khéo thì sự tu tập thiền của mình cũng giống như vậy, ngồi im thì không thể sạch rác, ngồi im không sanh khởi, không xả nếu tu vậy thì không thế nào thành tựu. Tu mà ngũ uẩn không thấy, rác bẩn không thấy, không dọn dẹp, cứ ngồi đó, nghĩ ngồi càng nhiều càng hay, ngồi lâu thành thiền sư là không được.
Cho nên, đầu tiên cần có Thánh tư duy, Thánh tri kiến là thấy được ngũ uẩn, đó là thấy của bậc Thánh, nếu mình không thấy được năm uẩn là mình trong tà kiến, vĩnh viễn tu không có kết quả. Do thân tâm mà mình không thấy, không thấy đúng về thân tâm, tại vì nếu không thấy ngũ uẩn thì mình chỉ thấy được một đại uẩn, uẩn bản ngã. Thí dụ, sáng ngủ thức dậy vào soi gương, mình nghĩ sao sao cho cái mặt vung lên, tươi lên đó là sắc ngũ uẩn là chết liền; hoặc ngủ thức dậy thấy nổi mụn bọc thì nghĩ mình bị xấu không dám ra đường, kiếm kem sứt vào mụn, mà nổi nhiều quá thì không dám ra đường, đó là phàm phu tri kiến, vô văn phàm phu. Tại vì mình cho là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Cho nên sắc thay đổi là người này bị sầu, bi, khổ, ưu, não; sắc biến hoại là người này ăn không được, ngủ không được ngon. Người này không quán pháp để phá sắc uẩn, không quán tứ đại, không quán Ba Mươi Hai Thể Trược, không quán Chín Giai Đoạn Tử Thi, không nhận diện được đất, nước, gió, lửa, không biết được nhân duyên sanh diệt, tác thành của sắc uẩn là từ đâu mới có. Nó là pháp duyên sanh vô thường, vô ngã, trống rỗng mà người này không tu tập, không quán chiếu, không nhận diện được sắc uẩn một cách sâu sắc, người này chắc chắn bám chặt vào sắc thủ uẩn.
Đối với người tu xuất gia, mình xem được mấy người mà thấy được cái này là không phải tôi, không phải của tôi, khi nói chuyện thì cũng hiếm đừng nói là xảy ra chuyện. Do không thể nhập Thánh trí năm uẩn, không đi vào cửa Thánh tri kiến, Chánh tri kiến là cửa để nhìn thấy được năm uẩn, mà thấy điều này là mình, là của mình, là tự ngã của mình, cái này là của tôi, là tự ngã của tôi. Ví dụ, sáng ngủ thức dậy mà mất tượng Phật nơi chánh điện là khổ, như vậy nếu tu 30 năm mà mất tượng Phật là khổ, là không được, do mình nghĩ cái này là của mình, những thứ xung quanh là của mình, do đó biết tới chứng nào hết khổ đó là vô minh.
Cho nên tại sao phải nhận diện năm uẩn, khi nhận diện năm uẩn thì thân thể được phân làm năm mảnh, không còn là một, cả khối tưởng sẽ bị phá vỡ ra, ta mới nhìn thấy được năm nhóm. Nhóm thứ nhất là sắc. Nhóm thứ hai là cảm giác, trong cảm giác chia ra lạc thọ, khổ thọ, bất khổ, bất lạc thọ. Trong đó, lạc thọ là những cảm giác dễ chịu là tham, cảm giác khó chịu là sân, cảm giác không dễ chịu, không khó chịu là si, vô minh. Nhóm thứ ba là tưởng, gồm sự sanh diệt liên tục của những hình bóng. Nhóm thứ tư là hành, gồm những suy nghĩ nói thầm trong tâm. Cuối cùng là thức, tức là sự rõ biết. Nhận thức của chúng ta thường đều theo chiều dục, ái, tham. Chỉ khi nào thấy tất cả mọi thứ không có thứ nào của mình thì lúc đó mới phá được thân kiến, mới bắt đầu đi vào đắc pháp nhãn tịnh, khi đó mắt pháp trong sáng, mắt pháp mở ra và hết mù. Cho nên phải thực tập nhận diện ngũ uẩn, nếu không thấy ngũ uẩn thì sự tu tập không có kết quả.
Bước thứ nhất là thấy thân tâm, phải thấy chính xác không được lẫn lộn, khi đứng lên nói nhận diện ngũ uẩn mà lộn xộn là chưa được. Phải nhận diện sắc ra sắc, thọ ra thọ, tưởng ra tưởng, hành ra hành, thức ra thức.
Bước thứ hai là thấy được rác bẩn, thấy được tâm cấu nhiễm, thấy được tâm lậu hoặc ở bên trong năm uẩn. Thấy trong những cảm giác, những suy nghĩ, những hình bóng đều là tham, sân, si. Như vậy, bước thứ hai là thấy được lậu hoặc, cấu nhiễm, rác bẩn. Người nào thấy càng nhiều thì trí huệ càng minh kiến, càng tỏa rạng. Người tu thâm sâu trong vòng pháp này là nhìn thấy được rất nhiều cấu uế của tâm. Người đã sáng mắt thì phải nhìn thấy hết tất cả ngóc ngách, những nơi chất chứa của rác.
Nhìn lại tự thân mình, khi có ai nói mình bản ngã lớn thì giận, sân ngay lập tức, như vậy là phàm phu, nói tới là sừng sộ. Còn người tu chơn chánh thì khi có người nói bản ngã họ lớn, là họ nói: “Dạ đúng, em cũng tự thấy bản ngã của em lớn, em đang tu để nhiếp phục bản ngã”. Người tu đến bước thứ hai là khi nghe người khác nói: “Sao chị sân quá, một chút là giận, giận”, mình nói: “Dạ đúng rồi, em đang đang khổ với sân, em sẽ cố gắng nhiếp phục, có điều gì sư tỷ góp ý giùm thêm, em cũng đang nhiếp phục”, thì đó là người tu chơn chánh. Còn nếu nghe người khác nói mình sân, mà mình không nhận, không chịu thì không được.Có câu chuyện kể về anh chàng nọ, anh ta điều gì cũng tốt nhưng chỉ có tính là hay nổi nóng. Hôm đó có hai người nói chuyện về anh ta “Anh chàng đó, cái gì cũng tốt hết, mà cái tật hay nổi nóng”, anh chàng nghe và lại nắm cổ hai người “Tôi nổi nóng hồi nào?”.
Sự tu hành này rất hay, đây là Phật pháp nguyên chất của Đức Phật, đi thẳng vào cảm giác, nghĩ, tưởng để nhìn thấy được những cấu nhiễm trong tâm, từ đó chúng ta phải làm một cuộc thanh lọc vĩ đại, tẩy sạch tâm. Nhiều người rõ ràng là mình tham, gặp gì cũng tham, gặp gì cũng muốn xin nhưng có ai nói: “Sao cô tu mà cô tham quá vậy” là bừng bừng giận, không gặp nữa; nếu lúc đó mình xin lỗi “Con cũng tự thấy tâm con, sự tham ái, tham dục còn nhiều, con cũng đang cố gắng tu, cố gắng khắc phục, xin lỗi cô đã chỉ lỗi cho con”, mặc dù người đó lớn tuổi mà là cư sĩ cũng vậy, phải biết xin lỗi và khắc phục, đó mới là chân tu. Ngược lại, nhiều người nghe người khác chỉ bảo, nhắc nhở những lời chân thật nhưng lại không chịu nhận.
Trong Tăng Chi Bộ Kinh, Đức Phật nói tâm chúng sanh như một vết thương, vừa chạm tới là sừng sộ, đau đớn, khó chịu giống như vết thương, đụng vào là giật mạnh, sừng sộ, sân hận, bực dọc, khó chịu đó là hoàn toàn là địa vị của phàm phu, không phải là Đa văn Thánh đệ tử. Còn tâm của vị Đa văn Thánh đệ tử là tâm lắng dịu, trầm tĩnh, biết nghe, biết chấp nhận, khiêm cung, nhu hòa, khiêm hạ, khiêm tốn, khiêm nhã, khiêm nhường. Sự tu chỉ có vậy, không có gì cao thượng, cao siêu, mà chỉ cần nhìn thấy được tham, sân, si và nhiếp phục được tham, sân, si là thành tựu.
Nhiều người, trước khi đi tu, khi có người khác gọi:“Con lại cô nói cái này nghe” thì vui vẻ nói “Cô nói con nghe” và họ sẽ làm theo. Nhưng khi tu rồi, nếu người ta kêu “Con lại nói cái này”, thì lại nói “Tôi như vậy mà kêu con hả”, đó là tu càng lâu bản ngã càng cao. Khi còn là học trò, tập tu ở chùa mà có người gọi bằng con thì cũng chấp nhận. Nhưng học càng lâu, lên đến quản chúng hay trụ trì dù mới 49-50 tuổi, khi có một bác lớn 85 tuổi vào chùa nói với mình là: “Con con lại đây bà nói nghe” thì không biết được như thế nào? Đây là thước đo sự tu, đo tham, sân, si, bản ngã của mình trong quá trình tu học.
Như vậy, bước thứ hai thấy được tâm cấu nhiễm, thấy rác bẩn, tham, sân, si, nếu thấy rác thì phải dọn rác một cách tích cực, siêng năng.
./.