Nhận Diện Thân Tâm 15 - Căn Bản Trí
Tinh Hoa Nikāya
Nhận Diện Thân Tâm 15
Căn Bản Trí
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Như Lý Tác Ý ngũ uẩn PAGEREF _Toc181285649 \h 1
II. Khuyến tấn – dặn dò tu tập PAGEREF _Toc181285650 \h 7
I. Như Lý Tác Ý ngũ uẩn
Năm thủ uẩn này là khổ, năm thủ uẩn này là bệnh hoạn, ung nhọt, là mũi tên, bất hạnh, là ốm đau, là người lạ, là hủy hoại, rỗng không, vô ngã. Khi chúng ta chưa nhận diện năm uẩn, chưa thấy biết năm uẩn thì khi nói vô thường chúng ta chỉ nghĩ sắc, cảnh bên ngoài. Khi nói vô thường là chúng ta nghĩ người đó bị bệnh, người nọ bị xe đụng, người này bị chết, nhiều khi không có liên hệ gì nhiều với mình hoặc nghĩ khá một chút là biết sắc này là vô thường. Khi chưa nhận diện ngũ uẩn thì mình không thấy được sự thật một cách toàn diện, đầy đủ, các phương diện, khía cạnh, góc độ của trí tuệ chỉ được nhìn trong một góc cạnh nào đó thôi chứ không thấy được toàn diện của thân tâm thế giới sắc; thọ; tưởng; hành; thức.
"-- Này Hiền giả Kotthika, Tỳ-kheo giữ giới cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.
Thế nào là năm? Tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Này Hiền giả Kotthika, vị Tỳ-kheo giữ giới cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (g), C. Năm Mươi Kinh Sau, II. Phẩm Thuyết Pháp, X. Vị Giữ Giới)
Mình phải nghiền ngẫm những câu này chứ không phải đọc phớt qua là xong, phải nhìn thấy thân xác này, đời sống này, phải nhìn thấy con mắt này, lỗ tai này là vô thường. Ba Minh Thành 78 tuổi, tự nhiên mắt yếu rồi mù luôn, không thấy gì nữa, nhãn thức không hoạt động nữa, những duyên hỗ trợ để phát khởi không đủ nên hư con mắt nhưng ông vẫn an lạc trong pháp vì ông có học Nikāya mỗi ngày.
Vì vậy câu "Tỳ-kheo giữ giới cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn là vô thường" không để đọc qua loa, sơ sài, không phải đọc cho hết chữ, hết trang, hết kinh mà phải đọc được những chữ đó là khẩu quyết, là định lý, là sự chứng ngộ của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, mình phải thiền quán, phải đem chữ vô thường đó ngược vào trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức của tự thân và của thân tâm những người xung quanh như ông bà, cha mẹ, cô bác, trong hoàn cảnh xã hội hiện nay.
Vừa rồi ở Trung Quốc bị rớt máy bay chết cả trăm người, mình nhìn như vậy mới toàn diện, đầu tiên là nhìn vào bản thân mình, kế đó là nhìn vào những người thân thương trong gia đình mình và sau đó là mở rộng ra nhìn những chúng sanh. Thân xác này là đột ngột, đột biến, đột quỵ, đột tử, hình hài này là dễ tan nát, dễ biến hoại, dễ biến hoại, dễ hoại diệt. Nhiều chuyện xảy ra làm cho người ta bàng hoàng, đột ngột, một anh chàng tài xế dừng xe lại ven đường ngủ, hừng sáng anh dậy đi vệ sinh rồi kiểm tra xe thì anh thấy có một anh thanh niên chạy xe máy tông vào xe tải của anh chết tại chỗ.
Anh tài xế bàng hoàng, bủn rủn tay chân vì xe đậu lại cũng bị người ta tông vào chết, có nhiều chuyện xảy ra mình phải quán chiếu là Nikāya sống của thế kỉ 21. Khi đọc vào cổ kinh 2600 trước và kết hợp với những thực tế hiện trạng trong đời sống hiện nay để soi chiếu sự thật đó bừng sáng, tỏa sáng trong sự thật mà Đức Phật chứng ngộ. Người mẹ chở con đi học, con vừa bước xe là mẹ quay đầu xe lại thì có xe tải trờ đến bất ngờ tông chết đứa con, người mẹ chứng kiến con bị vậy té bất tỉnh, đó là sắc uẩn vô thường, khi đọc được những sự kiện đó thì mình phải đưa nó vào bên trong tự thân mình chứ đừng nghĩ đó là chuyện người ta. Tất cả những chuyện đó là sự thật của sắc uẩn này, của tấm thân này, của hình hài này, của bao máu mủ này, của thân giòi này, của bao đầy phân và nước tiểu này, đây là cái toilet di động, đi đến đâu là rỉ chảy ra đến đó.
Phải nhìn thật sâu sắc, nhìn xuyên thủng, xuyên thấu hết tất cả, còn nhìn phất phơ là đau khổ mãi mãi, phải nhìn xuyên suốt vào sự thật đầy bất an, đầy đột biến, đột tử trong xác thân đang ngồi đây. Không có chút gì chắc chắn, không có chút gì kiên cố, không có một chút gì bền lâu, bất cứ lúc nào cũng có thể ngã xuống, đổ xuống, quỵ xuống.
Thân này là thứ đáng nhàm chán, không phải là thứ có thể tin cậy và nương dựa được, là thứ đầy bất an, lo lắng, bệnh tật, đầy phiền não, khổ đau và sợ hãi, cần phải nhìn sâu vào trong để thấy được sự thật phũ phàng như vậy. Trước khi đại dịch xảy ra ai có thể tưởng tượng được người gặp người mà phải lo lắng, sợ hãi như vậy, thân này là ổ vi trùng, là ổ chứa nhóm bệnh hoạn, đứng gần nhau mà nghe tiếng ho thôi là về ngủ không được, lo lắng, bất an, tưởng tượng ra đủ thứ chuyện cho nên phải như lý tác ý thân xác này là ổ bệnh hoạn, khổ đau.
Một tiếng ho thôi có thể gây chết người, một sự tiếp xúc thôi cũng có thể bị chôn trong nấm mồ tập thể, một cuộc nói chuyện thôi cũng có thể mất mạng, đó là sự thật của thân sắc uẩn này, của đống máu mủ, phân và nước tiểu này. Cái thứ vô thường, khổ đau, bệnh hoạn, hãy nhìn sâu vào nó để nhả ra tâm tham ái, tâm ưa thích, chấp thủ, hãy nhìn sâu vào những sự thật đó để quán chiếu, gặm nhấm.
"Ví như, này chư Hiền, một ung nhọt đã trải nhiều năm. Nó có chín miệng vết thương, có chín miệng nứt rạn. Từ đấy có cái gì chảy ra, chắc chắn bất tịnh rỉ chảy, chắc chắn hôi thúi rỉ chảy, chắc chắn nhàm chán rỉ chảy; có cái gì nứt chảy, chắc chắn bất tịnh nứt chảy, chắc chắn hôi thối nứt chảy, chắc chắn nhàm chán nứt chảy.
Ung nhọt, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với thân này do bốn đại tác thành, do cha mẹ sinh ra, do cơm cháo chất chứa nuôi dưỡng, vô thường, biến hoại, tan nát, hủy hoại, hoại diệt, có chín miệng vết thương, có chín miệng nứt rạn. Từ đấy có cái gì chảy ra, chắc chắn bất tịnh rỉ chảy, chắc chắn hôi thúi rỉ chảy, chắc chắn nhàm chán rỉ chảy; có cái gì nứt chảy, chắc chắn bất tịnh nứt chảy, chắc chắn hôi thúi nứt chảy, chắc chắn nhàm chán nứt chảy.
Do vậy, này các Tỳ-kheo, các Thầy hãy nhàm chán thân này" (Tăng Chi Bộ, Chương IX - Chín Pháp, II. Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử, (V). Một Ung Nhọt)
Mỗi ngày chúng ta đánh răng súc miệng phải nghe hơi thở trong miệng mình, chúng ta đi đại tiểu tiện phải nhìn kĩ, nhìn sâu vào đó để thấy bên trong này là những thứ gì, mồ hôi chảy ra, nước mắt, nước mũi chảy ra, máu mủ chảy ra đều phải nhìn sâu vào để cảm nhận sâu sắc, thấm thía, thấu đáo về bản chất hôi dơ, tanh tưởi.
Có như vậy mới bào mòn được những cái tâm tham ái, ngu si đối với thân xác này, mới có thể làm giảm bớt sự thúc giục, sự thèm khát thân xác của người khác, mới có thể nhiếp phục, chế ngự và đoạn tận những sự khao khát, khát ái đối với thân đầy ung nhọt, đầy bệnh tật, bất an, lo lắng và sợ hãi này. Đó là chúng ta tác ý thiền quán thân xác này là ung nhọt và hằng ngày chúng ta phải quán như vậy càng nhiều càng tốt vì chỉ có sự quán chiếu sâu sắc và nhiều như vậy thì tâm dục, tâm ái mới giảm thiểu, sự chấp thủ vào thân xác này mới được mở ra từ từ, mới đánh phá vào trong tự ngã, chấp thủ, nếu không thì tu vậy thôi, ai chạm vào là biết tay nhau, tham, sân, si, bản ngã còn y nguyên, chưa đào gốc, chưa bốc rễ, chưa đốn phá cái gốc tham ái đối với sắc uẩn vô thường, bất tịnh, ung nhọt này.
Không chỉ riêng thân bất tịnh mà tâm cũng bất tịnh. Tâm là những cảm giác thúc giục, ham muốn, những cảm giác sân hận, hơn thua, những cảm giác ta đây, vênh váo, đó là nội tâm đầy bất tịnh, rác bẩn và cấu uế. Cả thân tâm và cảnh đều bất tịnh, dơ bẩn, phải có một cái nhìn thấu triệt như vậy thì cái chấp thủ, vô minh, tham ái đối với sắc uẩn từ từ mới nhả ra, cho nên phải để nó ngấm vào từng lỗ chân lông, vào trong xương, trong tủy, trong não của chúng ta cái trí tuệ này, sự thật này.
Mỗi một ngày mình xông ướp, tưới tẩm, phát triển lớn mạnh trong cái thấy biết của mình thì mới giải phá được vô minh, tham ái đối với sắc uẩn này. Nếu không tu đến chết cũng quanh quẩn trong thân xác này, không đi ra được, cũng cho đây là mình, là tôi, là của tôi, cứ sống trong vô minh, tham ái, chấp thủ thôi, chỉ được hình thức bên ngoài, cái danh suông thôi.
Mũi tên là ngũ uẩn này đâm vào tim chúng ta, những cảm giác đó làm chúng ta đau khổ, món đồ của mình lỡ bị ai lấy là mình tức tối, bực bội lên. Món đồ là đó sắc, vườn rau mình trồng, vườn bonsai mình uốn mà bị hư hao, bể nát thì có phải là bị bắn vào tim không. Khi thường quán như vậy mà có tan nát thì tâm mình cũng nhẹ nhàng, những thứ biến hoại này bản chất nó là nát nên giờ nó có nát là đúng rồi nên tâm mình vẫn bình an.
Những suy nghĩ trong tâm cũng là mũi tên, những suy nghĩ sân hận, yêu thương là mũi tên, dân gian có hình vẽ trái tim rồi có mũi tên xuyên qua cho nên ái là mũi tên, bị trúng mũi tên độc ngay tim nên đau khổ suốt cuộc đời nhưng không phải chỉ trong kiếp này mà là vô lượng vô biên kiếp về sau. Thân xác này là mũi tên, đồ đạc chúng ta cất giữ là mũi tên, những cảm giác, suy nghĩ trong tâm là mũi tên nếu chúng ta không khéo tu tập, những nhận thức, rõ biết theo tham ái, vô minh, chấp thủ là mũi tên.
Nó đâm vào rỉ máu, ngồi một mình rồi suy nghĩ đủ thứ, tủi thân rồi khóc, những thọ; tưởng; hành, thanh tưởng, thanh tư, xúc tưởng, xúc tư hiện lên rồi nhức nhối, ray rứt, đau khổ vì dĩ vãng của thất tình lục dục, mừng, giận, thương, sợ, yêu, ghét, muốn. Minh Thành chỉ nói tổng quát, còn các thầy phải lên Bồ-đoàn triển khai thiền quán, quán chiếu cái ung nhọt, quán chiếu cái thân bệnh hoạn chứ không phải ngồi nhắm mắt để tâm rong chơi, phải triển khai thiền quán, vận dụng thọ; tưởng; hành vì đây là Thánh trí huệ của Đức Phật và tôn giả Xá-lợi-phất.
Thưa các thầy, mang cái thân này là một sự bất hạnh, không có hãnh diện gì ở đây cả. Một thân đầy bệnh tật, một thân chảy ra những thứ xấu hổ, nhục nhã, một cái thân suốt ngày đòi ăn, đòi uống, suốt ngày đòi dục, đòi ái, một cái thân suốt ngày chỉ muốn hơn người ta chứ không muốn thua. Mang cái thân này là một sự bất hạnh, vì dục, vì ái, vì vô minh nên mới có sắc thân này, mang cái thân này không có gì đáng để khoe, để nói, để ngã mạn, ta đây, thân này thật sự là bất hạnh, bị rơi vào trong những cạm bẫy của cảm giác thật sự là bất hạnh.
Những cảm giác dục ái, sân hận, bản ngã đó thật sự là bất hạnh, sống trong những cảm giác đó thật sự là bất hạnh. Những suy nghĩ bực bội, bức xúc, tranh giành, hơn thua thật sự là bất hạnh, nhìn nhau thôi mà cũng bị nói là nhìn đểu rồi lấy dao đâm người ta, đúng là thật bất hạnh. Cái thấy này là bất hạnh, cái ánh nhìn đó là bất hạnh, huynh đệ hòa kính tương ái an ổn vậy mà nói một câu rồi giận nhau, những cảm giác này là bất hạnh, lỗ tai này là bất hạnh.
Sắc; thọ; tưởng; hành; thức này là đồ bất hạnh, là pháp hạ liệt, phàm phu, là cái pháp mà các bậc Thánh nhàm chán, từ bỏ, cứ ngồi suy nghĩ hơn thua, tranh đấu với nhau, chỉ một suy nghĩ thôi là chiến tranh nổ ra, thế giới lầm than, bao nhiêu mạng người chết, tan nát nhà cửa. Ngũ thủ uẩn này thật sự là bất hạnh, hễ còn ở trong đây là còn khổ đau, còn tai nạn, còn bệnh hoạn, còn nguy nan, ách nạn, còn khổ nạn, hoạn nạn cho nên các bậc Thánh xả ly, viễn ly, xuất ly đối với ngũ uẩn này, chỉ có phàm phu vô minh, si ám mới đam mê, say mê, tham đắm trong đây rồi đau khổ ở trong đây.
"Ai ưa thích các sắc, này các Tỳ-kheo, người ấy ưa thích khổ. Ai ưa thích khổ, Ta nói người ấy không thoát khỏi khổ. Ai ưa thích các tiếng... các hương... các vị... các xúc... Ai ưa thích các pháp, người ấy ưa thích khổ. Ai ưa thích khổ, Ta nói người ấy không thoát khỏi khổ. Ai không ưa thích các sắc, này các Tỳ-kheo, người ấy không ưa thích khổ. Ai không ưa thích khổ, Ta nói người ấy thoát khỏi khổ. Ai không ưa thích các tiếng... các hương... các vị... các xúc... Ai không ưa thích các pháp, người ấy không ưa thích khổ. Ai không ưa thích khổ, Ta nói người ấy thoát khỏi khổ" (Tương Ưng Bộ, Chương IV. Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (a), Phần Một – Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, II. Phẩm Song Đôi, VIII. Ưa Thích (2))
Năm uẩn này là người lạ, không hề quen biết với mình. Mình đừng nghĩ cái thân này là quen, đời trước có khi là cô hồn, đời này nhắm mắt rồi không biết có bị rơi vào súc sanh hay không. Thân này là người lạ, thật sự là người lạ, chàng trai hơn hai mươi tuổi đẹp trai vậy mà bất thình lình bị cụt tay chân, cho nên thân này là người lạ, trong ngũ uẩn này đầy khốn đốn và hoạn nạn, đầy tai nạn, hiểm nạn, bất an vậy mà ham thích, có được chút thôi là ta đây, ngã mạn, không xem ai ra gì.
"Càng tài, càng sắc, càng dâm,
Càng thêm đọa lạc càng lầm mà thôi"
(Sám Văn Khuyến Tu)
Đó là phước mà cũng là họa, được một chút sắc thôi là rất khó tu, đừng lấy đó làm tự hào, đừng lấy đó làm vênh váo, được một chút tài năng rồi không xem ai ra gì, đó là tai họa, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh như tên bắn. Bất thình lình nghe "ầm" một cái là trở thành đống bầy nhầy, bất thình lình nghe tin qua đời vì Covid, không những một người mà chết cả gia đình. Thật sự là tai họa, thật sự là bất an, thật sự là như vậy nhưng mình không chấp nhận là do vô minh, nghe rồi biết được một chút rồi cũng trở về với tập khí, tập quán, tâm ngu mê.
Tâm này là một cái tâm ngu si, tâm tham ái, tâm chấp thủ, Đức Thế Tôn gọi là tứ đảo, trong bất an, vô thường mà cứ nghĩ là thường còn, trong cái đầy thống khổ mà nghĩ là vui, trong bất tịnh, hôi thối mà cứ nghĩ là sạch, là thơm tho, đâm đầu vào để đau khổ, trong cái trống rỗng, duyên sanh mà cứ cho là tôi, là của tôi, đó là bốn sự điên đảo cho nên tâm này là tâm mê, tâm ngu, tâm điên. Phải vạch mặt được những tâm này, soi chiếu vào nó thì mình mới phát triển được Thánh trí huệ, nếu không mình cứ bị tâm ngu, tâm mê, tâm điên này hại mình.
II. Khuyến tấn – dặn dò tu tập
Bài kinh này là bí quyết chánh pháp con cúng dường cho quý thầy trong ba tháng An Cư, không biết chừng nào gặp lại. Các thầy cần nắm thật kĩ và tụng thật nhiều lần, lần sau có khi gặp lại thì những vị ở đây có thể là Hướng Dự Lưu cho đến Nhập Lưu vào bốn đôi tám chúng hiền Thánh. Mình phải hướng tâm nhàm chàn đối với sắc; thọ; tưởng; hành; thức, phước duyên con gặp được bậc thầy vĩ đại, vị thầy đó cũng là đệ tử của Hòa Thượng chúng ta, mình may mắn nên phải cố gắng.
Nếu không gặp được những lời dạy sâu sắc của Đức Phật thì có tu suốt đời cũng không chạm được vào sự thật, chỉ tu quanh quẩn mà thôi, không thể chạm vào cái lõi của chánh pháp, đi vào trong này là phá vỡ tất cả năm thủ uẩn. Thành ra, đây là bài kinh con cúng dường làm kim chỉ nam, làm bản đồ, làm cốt lõi để tu tập trong ba tháng An Cư này, nơi này là chỗ tối thù thắng để hạ thủ hành trì, nếu không hành trì là vô cùng uổng, mình có một hoàn cảnh tuyệt vời, mình có hội chúng thanh tịnh và có một pháp hành tối thượng thì còn chờ đợi gì nữa mà không bắt tay vào làm trong ba tháng này.
Bốn đôi tám chúng quyết dự vào, thể nhập vào trí tuệ của Đức Phật, khi mình bắt đầu nhìn thấy được ngũ uẩn, khi mình bắt đầu nhàm chán ngũ uẩn, có tâm mạnh mẽ là bắt đầu hướng vào bốn đôi tám chúng Hướng Dự Lưu. Nếu chưa thấy được ngũ uẩn là còn ở ngoài cổng chùa, chưa thấy được thế nào là sắc; thọ; tưởng; hành; thức, chưa thấy được sự vận hành, hoạt động của nó, chưa thấy được sự ranh ma, quỷ quái của nó, chưa thấy nó gạt mình, nó bắn tên mình, làm cho tâm mình mê, tâm ngu, tâm điên là còn ở ngoài cổng chùa.
Tâm ngu là tâm si ám, tâm mê là vô minh, tâm điên là tứ đảo, vô thường mà cho là thường, khổ mà cho là vui, dơ mà cho là sạch, vô ngã mà cho là ngã, Đức Thế Tôn gọi là tứ đảo, bốn sự điên đảo của chúng sanh, cái này chỉ có bậc Chánh Đẳng Chánh Giác mới chứng ngộ rồi chỉ ra được cho chúng ta cho nên các chư thiên trên phạm thiên, những cảnh cao trên sắc giới có suy nghĩ thường hằng, nghĩ rằng mình tối thượng thì ngài Mục-kiền-liên biết được suy nghĩ này nên ngài co duỗi cánh tay biến mất ở Kỳ Viên Tinh Xá hiện lên phạm thiên, dùng ngón chân của ngài chạm nhẹ vào cung điện để rung lắc thì các chư thiên hoảng hốt không biết cái gì đang xảy ra, lúc đó thiên chủ đến bái kiến pháp hữu.
Nên các vị chư thiên nghĩ rằng đây là Thế Tôn nhưng chỉ là bạn đạo, sau đó ngài Mục-kiền-liên mới thuyết pháp cho mọi người nghe, các ngài chớ có suy nghĩ đó là thường hằng, đây là thứ vô thường, tan nát, hủy hoại, hoại diệt, chớ có nghĩ đó là thường hằng. Ngài Mục-kiền-liên thuyết pháp cho các chư thiên đó nghe để phá tà kiến đó, suy nghĩ đó. Chúng ta phải dành thật nhiều thời gian đọc kinh để thấy oai đức của Đức Thế Tôn và các bậc Thánh chúng ngày xưa, thật sự rất vi diệu và tối thượng, mình sẽ thấy được sự tu tập của các ngài, sự sinh hoạt của các ngài, đạo lộ của các ngài, con đường các ngài hành trì và kết quả được các ngài chứng đắc.
Cho nên thân này, sắc; thọ; tưởng; hành; thức này là người lạ, đừng nghĩ rằng là của mình. Thưa thật với các thầy là mỗi lần con bước lên xe hoặc lên máy bay là con không nghĩ rằng có thể trở về an toàn, trong suy nghĩ của con lúc nào cũng nhớ vô thường, con nói với tâm ngu mê, điên đảo "mày nhớ vô thường nha mày, mày phải nhớ nha, đừng có quên. Mày đừng nghĩ thân này là của mày, xe này của mày, chùa này của mày, dẹp bỏ thân ngu si đó đi. Mày phải nhìn thấy được sắc uẩn đột ngột, đột biến, đột quỵ, đột tử này. Phải mở to con mắt này ra để nhìn thấy sự thật này".
Phải nhắc nhở bản thân như vậy trong mọi lúc mọi nơi, mọi thời mọi chốn, phải như lý tác ý như vậy, nhắc nhở bản thân thường xuyên cho đến khi nào không quên nữa là nhập Thánh quả, đừng để ngu mê, điên đảo mà phải cho tỉnh táo, sáng suốt, trí tuệ. Chỉ cần quên là mê liền, chỉ cần phóng tâm là ngu liền, trở về bản ngã, trở về dục, tham, ái, trở về hơn thua, sân hận liền cho nên phải áp đặt nó vào trong Thánh trí huệ, phải học thuộc lòng những định lý đó.
Khi con ngồi xe trung chuyển để ra máy bay là con di chúc ghi âm điện thoại lại, cái thứ rỗng không, hủy hoại này, nhìn thấy đẹp mà rớt bể là đem vứt bỏ, không có gì cả. Mọi người thấy ngồi đây lạy xá, đọc tụng nhưng chẳng may bước ra "ầm" một cái là lên bàn thờ, không có gì cả và cuối cùng thì tất cả cũng trở thành khói mây. Cúng thất thứ nhất, thứ hai, thứ ba thì còn nhớ nhưng đến bốn mươi chín ngày là xong, giỏi lắm một năm đọc tiểu sử nhắc lại một lần thì cũng xong.
Chẳng còn gì cả nhưng ai nhìn một chút là hơn thua, khó chịu, sân hận, nói chuyện không đàng hoàng là tự ái, đó là ngu mê, si ám, bản ngã rồi khổ đau. Vì vậy những trí tuệ này cần được thể nhập, cần phải chứng nhập, chứng đắc, muốn được vậy phải như lý tác ý thường xuyên ở mọi lúc mọi nơi, nhất trong khi ngồi thiền, phải rà soát dục, tham, ái của mình như thế nào, sân hận, bản ngã như thế nào, trí tuệ về năm uẩn của mình như thế nào.
Phải làm bài tập hằng ngày và làm cho sanh khởi hỷ lạc, thích thú trong sự tu hành, phải thấy hân hoan, phấn khởi trong pháp hỷ, pháp lạc, nếu không mình sẽ đi tìm dục lạc, đi tìm việc này việc nọ để làm, hướng ngoại rong chơi chứ không thấy được thân tâm, không nhiếp phục, chế ngự và đoạn tận những cấu nhiễm ở bên trong, sống với tâm mê.
-Sự chấp thủ ngũ uẩn là phiền não và khổ đau.
-Ngũ uẩn sanh khởi là do vô minh và khát ái.
-Ngũ uẩn diệt tận là khi hết vô minh và hết khát ái.
-Bát Chánh Đạo là phương pháp đúng, đưa đến tẩy sạch vô minh và khát ái đối với ngũ uẩn. (Nghi Thức Tu Học Nikāya)
Đây là sự kết hợp Tứ Thánh Đế và Bốn Thánh Trí của ngũ uẩn, đây là định lý giải thoát rất quan trọng cần học thuộc lòng, đây là con mắt của 12 bộ kinh, trái tim của tạng kinh Nikāya. Sự chấp thủ tức là nắm giữ sắc; thọ; tưởng; hành; thức là phiền não, khổ đau, ví dụ hôm nào ngồi thiền mà tự nhiên thấy nhẹ nhàng, thanh tịnh, an lạc nên mình thích, một lúc sau hết hoặc buổi thiền sau cố ngồi để tìm lại trạng thái đó nhưng không được rồi buồn, tuy rằng cái đó là tốt nhưng mình không biết đó là thọ, mình tham ái với cảm thọ đó nhưng không được thì khổ.
Mình tu có tiến bộ thì tự động có trạng thái đó nhưng nó đến thì đến, nó đi thì thôi, còn mình tìm nó là tìm thọ, tìm cảm giác, nó chỉ là trạng thái của cảm giác thôi, điều quan trọng là cái trí để nhìn thấy những cảm thọ đó là vô thường, không dính mắc với tất cả cảm thọ. Trí tuệ thấy được cảm thọ là cảm thọ, thấy được ba loại cảm thọ, thấy tham, sân, si, trong cảm thọ, thấy được bản ngã trong cảm thọ và mình không bị những cái này xâm chiếm, áp đảo, đồng hóa mới quan trọng, còn trạng thái của cảm thọ không sao cả, đừng tham đắm, tìm cầu, chấp thủ trong cảm thọ vì Đức Phật đã nói tất cả thọ đều nằm trong đau khổ.
"-- Lành thay, lành thay, này Tỳ-kheo! Này Tỳ-kheo, Ta nói rằng có ba thọ này: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Ba thọ này được Ta nói đến. Nhưng này Tỳ-kheo, Ta lại nói: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'. Chính vì liên hệ đến tánh vô thường của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'. Chính vì liên hệ đến tánh đoạn tận, tánh tiêu vong, tánh ly tham, tánh đoạn diệt, tánh biến hoại của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'". (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Hai - Phẩm Sống Một Mình, I. Sống Một Mình)
Chính vì vậy mà chấp thủ vào ngũ uẩn là phiền não và khổ đau, trong sự tu hành chấp vào cũng khổ chứ đừng nói gì không tu. Mình làm từ sáng đến chiều cực khổ vậy mà sư huynh còn chê mình thì lúc đó mình ra sao? Do không nhận diện ngũ uẩn, không an trú trong trí ngũ uẩn nên có một cái tôi, "tôi đang làm từ sáng đến giờ", còn cái "tôi" kia không những không làm mà còn chê bai nữa, vậy là nhân ngã, khi không thấy được ngũ uẩn thì lúc đó có ngã. Tổ nói:
"Lễ bản chiết mạn tràng,
Đầu hề bất chí địa,
Hữu ngã tội tức sanh,
Vong công phúc vô tỉ"
Lễ là cốt chặt cờ ngã mạn, tại sao đầu không sát đất? Có ngã thì tội liền sanh, quên công thì phước vô tỉ. Vì vậy khi không thấy được ngũ uẩn thì lúc đó có một cái ngã, còn thấy ngũ uẩn thì tạm thời chấp ngã bị tan biến trong trí về ngũ uẩn. Một hình bóng trong tâm mà không thể bỏ được, nó cứ ám ảnh mãi, hoặc là yêu hoặc là hận, nhớ lại hoặc là thương hoặc là tức giận, khổ thật sự. Vì thế khi quay lại đối diện thân tâm là cả một vấn đề, trong đó là cả một thế giới nội tâm phức tạp chứ không hề đơn giản.
Đọc kinh, đọc sách là một việc nhưng khi quay lại đối diện chính mình lại là chuyện khác, phàm phu chỉ nhìn thấy trên sắc uẩn, sắc pháp, không thể nhìn ra nổi thọ; tưởng; hành; thức, trừ khi người đó được học với Như Lai hoặc đệ tử của Như Lai thì mới có chánh tri kiến về ngũ uẩn, nếu không chỉ nhìn được bên ngoài chứ không thấy thọ; tưởng; hành; thức một cách chính xác, rành rõ, tường tận.
Chúng ta đang học những lời về trí tuệ để nhìn các phương diện, góc độ, khía cạnh của sắc; thọ; tưởng; hành; thức để làm chìa khóa mở vào chánh tạng, nếu người nào chịu khó nhận diện ngũ uẩn thường xuyên, bám sát theo những lời chia sẻ, những bài kinh đã học thì mở tạng kinh Nikāya ra đọc rất dễ hiểu nhưng muốn thành tựu trí tuệ thì Đức Phật nói phải có tuần tự, không có chuyện đột ngột chứng đắc.
"Ví như, này Pahàràda, biển lớn tuần tự thuận xuôi, tuần tự thuận hướng, tuần tự sâu dần, không có thình lình như một vực thẳm. Cũng vậy, này Pahàràda, trong Pháp và Luật này, các học pháp là tuần tự, các quả dị thục là tuần tự, các con đường là tuần tự, không có sự thể nhập chánh trí thình lình. Này Pahàràda, vì rằng trong pháp và luật này, các học pháp là tuần tự, các quả dị thục là tuần tự, các con đường là tuần tự, không có sự thể nhập chánh trí thình lình, nên này Pahàràda, đây là vi diệu chưa từng có thứ nhất mà do thấy vậy, các Tỳ-kheo thích thú trong Pháp và Luật này" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII - Tám Pháp, II. Phẩm Lớn, (IX). A-Tu-La Pahàràda)
Vấn đề quan trọng nằm ở chỗ văn – tư – tu, phải nghe được, sau đó y theo lời nghe để suy tư, chiêm nghiệm và soi rọi trở lại sắc; thọ; tưởng; hành; thức của chính mình thì bắt đầu mình sẽ thành tựu tư huệ trí tuệ do quán chiếu, do dòm ngó, do nội quán, do nội soi, do nội tỉnh, còn người không biết tu là người tu hướng ngoại, dù cho hình thức là xuất gia nhưng chỉ hướng ra bên ngoài, làm những việc bên ngoài, không thấy được thân tâm của mình.
Việc này cũng có phước duyên, đó là những thiện pháp, nhân thiên phước báo nhưng không giải quyết được tham, sân, si, vô minh, bản ngã, sanh tử. Còn bậc Đa văn Thánh đệ tử chân chánh của Đức Phật phải thấu suốt ngũ uẩn, nhàm chán, xả ly, xuất ly và từ bỏ ngũ uẩn. Đức Phật đã nói chỉ trong pháp và luật nào của Bát Chánh Đạo mới có đệ nhất Sa-môn, đệ nhị Sa-môn, đệ tam Sa-môn và đệ tứ Sa-môn.
"Này Subhadda, trong pháp luật nào không có Bát Thánh đạo, thời ở đây không có đệ nhất Sa-môn, ở đây cũng không có đệ nhị Sa-môn, cũng không có đệ tam Sa-môn, cũng không có đệ tứ Sa-môn. Này Subhadda trong pháp luật nào có Bát Thánh đạo, thời ở đây có đệ nhất Sa-môn, cũng có đệ nhị Sa-môn, cũng có đệ tam Sa-môn, ở đấy cũng có đệ tứ Sa-môn. Này Subhadda, chính trong pháp luật này có Bát Thánh Ðạo, thời này Subhadda, ở đây có đệ nhất Sa-môn, ở đây cũng có đệ nhị Sa-môn, cũng có đệ tam Sa-môn, cũng có đệ tứ Sa-môn. Những hệ thống ngoại đạo khác đều không có những Sa-môn. Này Subhadda, nếu những vị Tỳ-kheo này sống chơn chánh, thời đời này không vắng những vị A-la-hán" (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)
Trong giáo pháp nào không có Bát Chánh Đạo sẽ không có bốn Thánh quả của Sa-môn, ở đây chúng ta chỉ mới học một Thánh đạo đầu tiên là chánh tri kiến, nếu không thấy được ngũ uẩn thì làm sao thấy được tham, sân, si, làm sao thấy được vô minh, bản ngã trong đó cho nên chánh kiến là nhìn thấy được ngũ uẩn và sự nhận diện ngũ uẩn phải được thực hiện thường xuyên và liên tục, cố gắng đừng quên.
"Pháp do Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu" (Tương Ưng Bộ, Tập V. Thiên Đại Phẩm, Tương Ưng Dự Lưu (a). I. Phẩm Veludvàra, I. Vua)
Đến để thấy ngũ uẩn, thấy thân tâm của mình, thấy tham, sân, si, thấy lậu hoặc, rác bẩn trong tâm, thấy được bản ngã, chấp thủ trong đó, sau khi thấy thì tẩy rửa, lau chùi, quét dọn. Khi thấy đầy đủ thì pháp nhãn đã sanh, mắt đạo đã mở, trí tuệ đã khai, minh sanh, quanh sanh, tuệ sanh, trí sanh, Đức Thế Tôn chỉ dạy đến đây thôi, còn phần thực hành mình phải làm, phải nỗ lực tu tập quét dọn, chùi rửa, vệ sinh. Ngài chỉ đưa cho mình chìa khóa và chìa khóa đó là nhận diện ngũ uẩn, sau đó đã nhìn được rác bẩn, cấu uế, dơ bẩn thì bắt đầu phải lau chùi, vệ sinh từ từ.
Do công phu lau chùi, vệ sinh, tẩy rửa đó mà có ra các thứ bậc hiền Thánh sai biệt nhưng bắt đầu vẫn là chìa khóa để mở cánh cửa nội tâm, tức là sự nhận diện ngũ uẩn. Lúc nào không thấy ngũ uẩn là lúc đó sống với bản ngã, cái ta, lúc nào thấy được thọ đang vậy, sắc đang vậy, tưởng; hành; thức đang như vậy thì không có cái ta, lúc đó có trí ngũ uẩn, còn khi không thấy sắc; thọ; tưởng; hành; thức thì thấy có cái tôi "tôi đang ăn", "tôi đang ngồi", lúc đó sống với bản ngã cho nên đây là chỗ sâu sắc cần để tâm thật nhiều.
Ngũ uẩn sanh khởi là do vô minh và tham ái, câu này không phải dễ mà hiểu được. Mình cứ nghĩ vô minh là từ vô thỉ kiếp nào nhưng thật ra không thấy ngũ uẩn là vô minh, ngay lúc ngồi đây mà không thấy thấy sắc; thọ; tưởng; hành; thức, chỉ thấy có cái tôi đang ngồi học thì lúc đó vô minh và chúng ta đã sống trong vô minh từ vô thỉ kiếp rồi.
"Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỳ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc" (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, I. Cỏ Và Củi)
Từ vô thỉ kiếp mình sống trong tự ngã rồi bây giờ kêu mình nhìn ngũ uẩn sẽ không quen, phải có sự thực tập rất nhiều lần, lúc nào cũng phải xem lại đang có cảm giác gì, đang có suy nghĩ gì, đang tưởng tượng cái gì, cứ nhắc như vậy rồi sẽ quen, đến khi thuần thục nhìn vào sẽ thấy năm nhóm chứ không có một cái tôi.
Ngày xưa sư ông giảng ngũ uẩn thường đưa ví dụ năm ngón tay và một nắm tay, năm ngón tay là sắc; thọ; tưởng; hành; thức, còn một nắm tay là một cái tôi. Ngũ uẩn này là tên trộm, nó trộm kho báu của mình, nó cướp trí huệ, công đức của mình cho nên phải để ý năm thứ này. Đức Phật nói trong Tương Ưng Uẩn sắc là kẻ giết người, thọ là kẻ giết người, hành là kẻ giết người, tưởng là kẻ giết người, thức là kẻ giết người.
"Sắc là kẻ giết người", vị ấy như thật biết rõ: "Sắc là kẻ giết người"... "Thọ là kẻ giết người"... "Tưởng là kẻ giết người"... "Các hành là kẻ giết người"... "Thức là kẻ giết người", vị ấy như thật biết rõ: "Thức là kẻ giết người" (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (e), IV. Phẩm Trưởng Lão, III. Yamaka)
Cho nên phải kiểm soát, quản lý, xử lý nó, nếu không mình sẽ mệt mỏi với nó. Tại sao có thân đang ngồi đây? Tại sao có cảm giác, suy nghĩ, nhận thức? Do tâm mê, vô minh là tâm mê, không sáng, không nhìn thấy ngũ uẩn nên nói có một cái tôi trong đó cho nên không thấy năm nhóm này. Tâm mê tưởng rằng có nguyên một khối tưởng, nhất hợp tướng, một cái tôi, một cái ta, một tự ngã nên không thấy ra năm nhóm.
Vì vô minh, mê muội nên yêu thích, khoan khoái những hình thể, những cảm giác, suy nghĩ, yêu thích nhận thức rồi dính vào đó, chấp thủ vào đó nên có ra tấm thân và tấm thân này là thân nào cũng được, thân chuột, thân mèo, thân chó miễn là có thân là được, thích cái sắc đó, thích những cảm giác, suy nghĩ, nhận thức trong đó, dục, tham, ái trong đó, chấp thủ, dính chặt trong đó. Từ vô minh và tham ái mà kết thành tấm thân mấy chục kí lô này, mê nên không biết sự thật rồi thích thú trong đó, có một chú lên núi muốn đi tu vì lúc đầu chưa cưới thì vợ dễ thương, đến khi cưới về ăn ở không đày đọa, hành hạ chú, bây giờ chú ly dị được nên khỏe quá muốn đi tu.
Lúc đầu mê muội không hiểu biết về người đó, nhận lầm về người đó, chỉ mê sắc đẹp chứ không tìm hiểu tánh tình, đức hạnh nên rước về rồi khổ. Đó là mình mê trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức, mình thích trong đó, đến khi vào rồi ra không được, cưới rồi bây giờ ly dị thì cô kia không chịu, sắc; thọ; tưởng; hành; thức này không chịu, nó tham ái, chấp thủ trong đó nên không chịu vì vậy ngũ uẩn chỉ diệt tận khi hết vô minh và tham ái.
Hết vô minh là tâm tỉnh ra nhìn thấy được bản chất của năm uẩn, khi tâm đã tỉnh và đã hết vô minh thì không còn yêu thích ngũ uẩn nữa nên không còn tham ái. Khi đã hết vô minh, hết tham ái thì ngũ uẩn diệt. Sắc này vô cùng nguy hiểm, nó là cái pháp hư hoại, pháp biến hoại nhưng vì tâm mê không chịu, nó thích cái lòe loẹt đầy màu sắc. Cái thân này được sanh ra từ dục, do dục mà sanh ra và cũng do dục mà tử cho nên có những người thất tình nên tự tử, toàn bộ thế giới quay quanh dục, do dục vận hành nên người ta mới sống, mới hơn thua với nhau.
Có chiến tranh cũng do ham muốn mở rộng bờ cõi, muốn xâm chiếm nước khác, trong kinh Đức Phật phơi bày ra hết hiện trạng bức tranh của toàn cầu này, Đức Phật nói vì dục mà cực khổ suốt ngày, suốt tháng, suốt năm, vì dục mà vua này đánh nhau với vua kia, vì dục mà cha mẹ, anh chị em giận hờn, sân si, vì dục mà cả thế giới này rối loạn, những gì bị che kín đều được ngài phơi này ra tất cả.
Vô minh là tâm mê, tham ái là khoan khoái, vì không hiểu nên mới rước nhau về, sau đó thì khổ đau. Cũng giống vậy, vì không hiểu nên mình chụp vào tấm thân này, thân mang lông đội sừng hay tấm thân gì cũng thích thú trong đó, con gà mái nhìn con gà trống thấy đẹp, con chó đực nhìn con chó cái thấy đẹp, con gián này nhìn con gián kia thấy đẹp, khả lạc, khả hỷ, khả ái liên hệ đến dục hấp dẫn, con người này nhìn con người kia thấy đẹp.
Nghiệp lực hút nhau, cái ái thu hút nhau vậy là ách giữa đàng mang vào cổ nên hối hận suốt đời, một cô từ nước ngoài gọi về nói đúng ra lúc nhỏ đi tu nhưng mẹ không cho nên giờ con ở tù hơn ba mươi năm, bây giờ gặp được pháp nên xúc động, hạnh phúc. Nhìn sâu sắc vào mới thấy vô minh, tham ái rất thực tế chứ không có gì xa xôi, vì vô minh và tham ái nên sanh ra thân ngũ uẩn, khi nào hết vô minh, hết tham ái thì lúc đó ngũ uẩn diệt. Tức là mình không còn thích sắc; thọ; tưởng; hành; thức nữa, không còn khoan khoái nó nữa, nhất định từ bỏ nó, ly dị sáu trần, ly tham ngũ uẩn.
Phương pháp tám đúng là phương pháp chân chánh đưa đến tẩy sạch vô minh, tẩy sạch tham ái đối với ngũ uẩn. Bát Chánh Đạo trong Nikāya vô cùng khủng khiếp chứ không giống như mình học ngày xưa, chỉ riêng phần chánh tri kiến của Bát Chánh Đạo đã Nhập Lưu Tu-đà-hoàn, những ai thực tập đến chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh tinh tấn là những vị đi đến Nhị quả, tu đến chánh niệm là tam quả, còn đi đến chánh định là tứ quả.
Đó là đạo lộ của tất cả các bậc Chánh Đẳng Giác thuở xưa đã đi qua, nó vô cùng thâm sâu, tối thượng, vô thượng Phật đạo là Bát Thánh Đạo. Chúng ta cầu mong cho học được hai chữ chánh kiến để Nhập Lưu thôi là đủ vốn, sau khi đã Nhập Lưu, đã thành tựu cái thấy biết viên mãn thì lúc đó ở chỗ nào mình cũng tu được, nếu được bậc thầy chỉ dẫn mình sẽ đi nhanh hơn nhưng nếu không có thì tự động chánh kiến đó sẽ đưa mình về phía trước, dòng chảy của pháp sẽ tự đưa người về phía trước cũng như khi đã vào dòng chảy thì dòng chảy đó sẽ tự đưa mình ra biển đông. Người đã Nhập Lưu tức là đi vào được dòng chảy của bậc Thánh, trí tuệ của bậc Thánh, dự vào dòng chảy trí tuệ của Đức Phật và các bậc Thánh thì tự động nó sẽ đưa mình vào đại dương của Niết-bàn.
Mong rằng các thầy hãy cố gắng thực tập những gì mình đã học được, cần học cho kĩ lời kinh của Đức Phật để thực tập nhận diện ngũ uẩn và những pháp quán, phải cố gắng hành trì. Kính chúc tất cả quý thầy tăng thượng giới đức, tăng thượng thiền định, tăng thượng Thánh trí tuệ để sớm thành tựu chánh tri kiến, sớm dự vào bốn đôi tám chúng hiền Thánh của Đức Phật.
./.
Nhận Diện Thân Tâm 15
Căn Bản Trí
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Như Lý Tác Ý ngũ uẩn PAGEREF _Toc181285649 \h 1
II. Khuyến tấn – dặn dò tu tập PAGEREF _Toc181285650 \h 7
I. Như Lý Tác Ý ngũ uẩn
Năm thủ uẩn này là khổ, năm thủ uẩn này là bệnh hoạn, ung nhọt, là mũi tên, bất hạnh, là ốm đau, là người lạ, là hủy hoại, rỗng không, vô ngã. Khi chúng ta chưa nhận diện năm uẩn, chưa thấy biết năm uẩn thì khi nói vô thường chúng ta chỉ nghĩ sắc, cảnh bên ngoài. Khi nói vô thường là chúng ta nghĩ người đó bị bệnh, người nọ bị xe đụng, người này bị chết, nhiều khi không có liên hệ gì nhiều với mình hoặc nghĩ khá một chút là biết sắc này là vô thường. Khi chưa nhận diện ngũ uẩn thì mình không thấy được sự thật một cách toàn diện, đầy đủ, các phương diện, khía cạnh, góc độ của trí tuệ chỉ được nhìn trong một góc cạnh nào đó thôi chứ không thấy được toàn diện của thân tâm thế giới sắc; thọ; tưởng; hành; thức.
"-- Này Hiền giả Kotthika, Tỳ-kheo giữ giới cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.
Thế nào là năm? Tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Này Hiền giả Kotthika, vị Tỳ-kheo giữ giới cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (g), C. Năm Mươi Kinh Sau, II. Phẩm Thuyết Pháp, X. Vị Giữ Giới)
Mình phải nghiền ngẫm những câu này chứ không phải đọc phớt qua là xong, phải nhìn thấy thân xác này, đời sống này, phải nhìn thấy con mắt này, lỗ tai này là vô thường. Ba Minh Thành 78 tuổi, tự nhiên mắt yếu rồi mù luôn, không thấy gì nữa, nhãn thức không hoạt động nữa, những duyên hỗ trợ để phát khởi không đủ nên hư con mắt nhưng ông vẫn an lạc trong pháp vì ông có học Nikāya mỗi ngày.
Vì vậy câu "Tỳ-kheo giữ giới cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn là vô thường" không để đọc qua loa, sơ sài, không phải đọc cho hết chữ, hết trang, hết kinh mà phải đọc được những chữ đó là khẩu quyết, là định lý, là sự chứng ngộ của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, mình phải thiền quán, phải đem chữ vô thường đó ngược vào trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức của tự thân và của thân tâm những người xung quanh như ông bà, cha mẹ, cô bác, trong hoàn cảnh xã hội hiện nay.
Vừa rồi ở Trung Quốc bị rớt máy bay chết cả trăm người, mình nhìn như vậy mới toàn diện, đầu tiên là nhìn vào bản thân mình, kế đó là nhìn vào những người thân thương trong gia đình mình và sau đó là mở rộng ra nhìn những chúng sanh. Thân xác này là đột ngột, đột biến, đột quỵ, đột tử, hình hài này là dễ tan nát, dễ biến hoại, dễ biến hoại, dễ hoại diệt. Nhiều chuyện xảy ra làm cho người ta bàng hoàng, đột ngột, một anh chàng tài xế dừng xe lại ven đường ngủ, hừng sáng anh dậy đi vệ sinh rồi kiểm tra xe thì anh thấy có một anh thanh niên chạy xe máy tông vào xe tải của anh chết tại chỗ.
Anh tài xế bàng hoàng, bủn rủn tay chân vì xe đậu lại cũng bị người ta tông vào chết, có nhiều chuyện xảy ra mình phải quán chiếu là Nikāya sống của thế kỉ 21. Khi đọc vào cổ kinh 2600 trước và kết hợp với những thực tế hiện trạng trong đời sống hiện nay để soi chiếu sự thật đó bừng sáng, tỏa sáng trong sự thật mà Đức Phật chứng ngộ. Người mẹ chở con đi học, con vừa bước xe là mẹ quay đầu xe lại thì có xe tải trờ đến bất ngờ tông chết đứa con, người mẹ chứng kiến con bị vậy té bất tỉnh, đó là sắc uẩn vô thường, khi đọc được những sự kiện đó thì mình phải đưa nó vào bên trong tự thân mình chứ đừng nghĩ đó là chuyện người ta. Tất cả những chuyện đó là sự thật của sắc uẩn này, của tấm thân này, của hình hài này, của bao máu mủ này, của thân giòi này, của bao đầy phân và nước tiểu này, đây là cái toilet di động, đi đến đâu là rỉ chảy ra đến đó.
Phải nhìn thật sâu sắc, nhìn xuyên thủng, xuyên thấu hết tất cả, còn nhìn phất phơ là đau khổ mãi mãi, phải nhìn xuyên suốt vào sự thật đầy bất an, đầy đột biến, đột tử trong xác thân đang ngồi đây. Không có chút gì chắc chắn, không có chút gì kiên cố, không có một chút gì bền lâu, bất cứ lúc nào cũng có thể ngã xuống, đổ xuống, quỵ xuống.
Thân này là thứ đáng nhàm chán, không phải là thứ có thể tin cậy và nương dựa được, là thứ đầy bất an, lo lắng, bệnh tật, đầy phiền não, khổ đau và sợ hãi, cần phải nhìn sâu vào trong để thấy được sự thật phũ phàng như vậy. Trước khi đại dịch xảy ra ai có thể tưởng tượng được người gặp người mà phải lo lắng, sợ hãi như vậy, thân này là ổ vi trùng, là ổ chứa nhóm bệnh hoạn, đứng gần nhau mà nghe tiếng ho thôi là về ngủ không được, lo lắng, bất an, tưởng tượng ra đủ thứ chuyện cho nên phải như lý tác ý thân xác này là ổ bệnh hoạn, khổ đau.
Một tiếng ho thôi có thể gây chết người, một sự tiếp xúc thôi cũng có thể bị chôn trong nấm mồ tập thể, một cuộc nói chuyện thôi cũng có thể mất mạng, đó là sự thật của thân sắc uẩn này, của đống máu mủ, phân và nước tiểu này. Cái thứ vô thường, khổ đau, bệnh hoạn, hãy nhìn sâu vào nó để nhả ra tâm tham ái, tâm ưa thích, chấp thủ, hãy nhìn sâu vào những sự thật đó để quán chiếu, gặm nhấm.
"Ví như, này chư Hiền, một ung nhọt đã trải nhiều năm. Nó có chín miệng vết thương, có chín miệng nứt rạn. Từ đấy có cái gì chảy ra, chắc chắn bất tịnh rỉ chảy, chắc chắn hôi thúi rỉ chảy, chắc chắn nhàm chán rỉ chảy; có cái gì nứt chảy, chắc chắn bất tịnh nứt chảy, chắc chắn hôi thối nứt chảy, chắc chắn nhàm chán nứt chảy.
Ung nhọt, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với thân này do bốn đại tác thành, do cha mẹ sinh ra, do cơm cháo chất chứa nuôi dưỡng, vô thường, biến hoại, tan nát, hủy hoại, hoại diệt, có chín miệng vết thương, có chín miệng nứt rạn. Từ đấy có cái gì chảy ra, chắc chắn bất tịnh rỉ chảy, chắc chắn hôi thúi rỉ chảy, chắc chắn nhàm chán rỉ chảy; có cái gì nứt chảy, chắc chắn bất tịnh nứt chảy, chắc chắn hôi thúi nứt chảy, chắc chắn nhàm chán nứt chảy.
Do vậy, này các Tỳ-kheo, các Thầy hãy nhàm chán thân này" (Tăng Chi Bộ, Chương IX - Chín Pháp, II. Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử, (V). Một Ung Nhọt)
Mỗi ngày chúng ta đánh răng súc miệng phải nghe hơi thở trong miệng mình, chúng ta đi đại tiểu tiện phải nhìn kĩ, nhìn sâu vào đó để thấy bên trong này là những thứ gì, mồ hôi chảy ra, nước mắt, nước mũi chảy ra, máu mủ chảy ra đều phải nhìn sâu vào để cảm nhận sâu sắc, thấm thía, thấu đáo về bản chất hôi dơ, tanh tưởi.
Có như vậy mới bào mòn được những cái tâm tham ái, ngu si đối với thân xác này, mới có thể làm giảm bớt sự thúc giục, sự thèm khát thân xác của người khác, mới có thể nhiếp phục, chế ngự và đoạn tận những sự khao khát, khát ái đối với thân đầy ung nhọt, đầy bệnh tật, bất an, lo lắng và sợ hãi này. Đó là chúng ta tác ý thiền quán thân xác này là ung nhọt và hằng ngày chúng ta phải quán như vậy càng nhiều càng tốt vì chỉ có sự quán chiếu sâu sắc và nhiều như vậy thì tâm dục, tâm ái mới giảm thiểu, sự chấp thủ vào thân xác này mới được mở ra từ từ, mới đánh phá vào trong tự ngã, chấp thủ, nếu không thì tu vậy thôi, ai chạm vào là biết tay nhau, tham, sân, si, bản ngã còn y nguyên, chưa đào gốc, chưa bốc rễ, chưa đốn phá cái gốc tham ái đối với sắc uẩn vô thường, bất tịnh, ung nhọt này.
Không chỉ riêng thân bất tịnh mà tâm cũng bất tịnh. Tâm là những cảm giác thúc giục, ham muốn, những cảm giác sân hận, hơn thua, những cảm giác ta đây, vênh váo, đó là nội tâm đầy bất tịnh, rác bẩn và cấu uế. Cả thân tâm và cảnh đều bất tịnh, dơ bẩn, phải có một cái nhìn thấu triệt như vậy thì cái chấp thủ, vô minh, tham ái đối với sắc uẩn từ từ mới nhả ra, cho nên phải để nó ngấm vào từng lỗ chân lông, vào trong xương, trong tủy, trong não của chúng ta cái trí tuệ này, sự thật này.
Mỗi một ngày mình xông ướp, tưới tẩm, phát triển lớn mạnh trong cái thấy biết của mình thì mới giải phá được vô minh, tham ái đối với sắc uẩn này. Nếu không tu đến chết cũng quanh quẩn trong thân xác này, không đi ra được, cũng cho đây là mình, là tôi, là của tôi, cứ sống trong vô minh, tham ái, chấp thủ thôi, chỉ được hình thức bên ngoài, cái danh suông thôi.
Mũi tên là ngũ uẩn này đâm vào tim chúng ta, những cảm giác đó làm chúng ta đau khổ, món đồ của mình lỡ bị ai lấy là mình tức tối, bực bội lên. Món đồ là đó sắc, vườn rau mình trồng, vườn bonsai mình uốn mà bị hư hao, bể nát thì có phải là bị bắn vào tim không. Khi thường quán như vậy mà có tan nát thì tâm mình cũng nhẹ nhàng, những thứ biến hoại này bản chất nó là nát nên giờ nó có nát là đúng rồi nên tâm mình vẫn bình an.
Những suy nghĩ trong tâm cũng là mũi tên, những suy nghĩ sân hận, yêu thương là mũi tên, dân gian có hình vẽ trái tim rồi có mũi tên xuyên qua cho nên ái là mũi tên, bị trúng mũi tên độc ngay tim nên đau khổ suốt cuộc đời nhưng không phải chỉ trong kiếp này mà là vô lượng vô biên kiếp về sau. Thân xác này là mũi tên, đồ đạc chúng ta cất giữ là mũi tên, những cảm giác, suy nghĩ trong tâm là mũi tên nếu chúng ta không khéo tu tập, những nhận thức, rõ biết theo tham ái, vô minh, chấp thủ là mũi tên.
Nó đâm vào rỉ máu, ngồi một mình rồi suy nghĩ đủ thứ, tủi thân rồi khóc, những thọ; tưởng; hành, thanh tưởng, thanh tư, xúc tưởng, xúc tư hiện lên rồi nhức nhối, ray rứt, đau khổ vì dĩ vãng của thất tình lục dục, mừng, giận, thương, sợ, yêu, ghét, muốn. Minh Thành chỉ nói tổng quát, còn các thầy phải lên Bồ-đoàn triển khai thiền quán, quán chiếu cái ung nhọt, quán chiếu cái thân bệnh hoạn chứ không phải ngồi nhắm mắt để tâm rong chơi, phải triển khai thiền quán, vận dụng thọ; tưởng; hành vì đây là Thánh trí huệ của Đức Phật và tôn giả Xá-lợi-phất.
Thưa các thầy, mang cái thân này là một sự bất hạnh, không có hãnh diện gì ở đây cả. Một thân đầy bệnh tật, một thân chảy ra những thứ xấu hổ, nhục nhã, một cái thân suốt ngày đòi ăn, đòi uống, suốt ngày đòi dục, đòi ái, một cái thân suốt ngày chỉ muốn hơn người ta chứ không muốn thua. Mang cái thân này là một sự bất hạnh, vì dục, vì ái, vì vô minh nên mới có sắc thân này, mang cái thân này không có gì đáng để khoe, để nói, để ngã mạn, ta đây, thân này thật sự là bất hạnh, bị rơi vào trong những cạm bẫy của cảm giác thật sự là bất hạnh.
Những cảm giác dục ái, sân hận, bản ngã đó thật sự là bất hạnh, sống trong những cảm giác đó thật sự là bất hạnh. Những suy nghĩ bực bội, bức xúc, tranh giành, hơn thua thật sự là bất hạnh, nhìn nhau thôi mà cũng bị nói là nhìn đểu rồi lấy dao đâm người ta, đúng là thật bất hạnh. Cái thấy này là bất hạnh, cái ánh nhìn đó là bất hạnh, huynh đệ hòa kính tương ái an ổn vậy mà nói một câu rồi giận nhau, những cảm giác này là bất hạnh, lỗ tai này là bất hạnh.
Sắc; thọ; tưởng; hành; thức này là đồ bất hạnh, là pháp hạ liệt, phàm phu, là cái pháp mà các bậc Thánh nhàm chán, từ bỏ, cứ ngồi suy nghĩ hơn thua, tranh đấu với nhau, chỉ một suy nghĩ thôi là chiến tranh nổ ra, thế giới lầm than, bao nhiêu mạng người chết, tan nát nhà cửa. Ngũ thủ uẩn này thật sự là bất hạnh, hễ còn ở trong đây là còn khổ đau, còn tai nạn, còn bệnh hoạn, còn nguy nan, ách nạn, còn khổ nạn, hoạn nạn cho nên các bậc Thánh xả ly, viễn ly, xuất ly đối với ngũ uẩn này, chỉ có phàm phu vô minh, si ám mới đam mê, say mê, tham đắm trong đây rồi đau khổ ở trong đây.
"Ai ưa thích các sắc, này các Tỳ-kheo, người ấy ưa thích khổ. Ai ưa thích khổ, Ta nói người ấy không thoát khỏi khổ. Ai ưa thích các tiếng... các hương... các vị... các xúc... Ai ưa thích các pháp, người ấy ưa thích khổ. Ai ưa thích khổ, Ta nói người ấy không thoát khỏi khổ. Ai không ưa thích các sắc, này các Tỳ-kheo, người ấy không ưa thích khổ. Ai không ưa thích khổ, Ta nói người ấy thoát khỏi khổ. Ai không ưa thích các tiếng... các hương... các vị... các xúc... Ai không ưa thích các pháp, người ấy không ưa thích khổ. Ai không ưa thích khổ, Ta nói người ấy thoát khỏi khổ" (Tương Ưng Bộ, Chương IV. Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (a), Phần Một – Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, II. Phẩm Song Đôi, VIII. Ưa Thích (2))
Năm uẩn này là người lạ, không hề quen biết với mình. Mình đừng nghĩ cái thân này là quen, đời trước có khi là cô hồn, đời này nhắm mắt rồi không biết có bị rơi vào súc sanh hay không. Thân này là người lạ, thật sự là người lạ, chàng trai hơn hai mươi tuổi đẹp trai vậy mà bất thình lình bị cụt tay chân, cho nên thân này là người lạ, trong ngũ uẩn này đầy khốn đốn và hoạn nạn, đầy tai nạn, hiểm nạn, bất an vậy mà ham thích, có được chút thôi là ta đây, ngã mạn, không xem ai ra gì.
"Càng tài, càng sắc, càng dâm,
Càng thêm đọa lạc càng lầm mà thôi"
(Sám Văn Khuyến Tu)
Đó là phước mà cũng là họa, được một chút sắc thôi là rất khó tu, đừng lấy đó làm tự hào, đừng lấy đó làm vênh váo, được một chút tài năng rồi không xem ai ra gì, đó là tai họa, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh như tên bắn. Bất thình lình nghe "ầm" một cái là trở thành đống bầy nhầy, bất thình lình nghe tin qua đời vì Covid, không những một người mà chết cả gia đình. Thật sự là tai họa, thật sự là bất an, thật sự là như vậy nhưng mình không chấp nhận là do vô minh, nghe rồi biết được một chút rồi cũng trở về với tập khí, tập quán, tâm ngu mê.
Tâm này là một cái tâm ngu si, tâm tham ái, tâm chấp thủ, Đức Thế Tôn gọi là tứ đảo, trong bất an, vô thường mà cứ nghĩ là thường còn, trong cái đầy thống khổ mà nghĩ là vui, trong bất tịnh, hôi thối mà cứ nghĩ là sạch, là thơm tho, đâm đầu vào để đau khổ, trong cái trống rỗng, duyên sanh mà cứ cho là tôi, là của tôi, đó là bốn sự điên đảo cho nên tâm này là tâm mê, tâm ngu, tâm điên. Phải vạch mặt được những tâm này, soi chiếu vào nó thì mình mới phát triển được Thánh trí huệ, nếu không mình cứ bị tâm ngu, tâm mê, tâm điên này hại mình.
II. Khuyến tấn – dặn dò tu tập
Bài kinh này là bí quyết chánh pháp con cúng dường cho quý thầy trong ba tháng An Cư, không biết chừng nào gặp lại. Các thầy cần nắm thật kĩ và tụng thật nhiều lần, lần sau có khi gặp lại thì những vị ở đây có thể là Hướng Dự Lưu cho đến Nhập Lưu vào bốn đôi tám chúng hiền Thánh. Mình phải hướng tâm nhàm chàn đối với sắc; thọ; tưởng; hành; thức, phước duyên con gặp được bậc thầy vĩ đại, vị thầy đó cũng là đệ tử của Hòa Thượng chúng ta, mình may mắn nên phải cố gắng.
Nếu không gặp được những lời dạy sâu sắc của Đức Phật thì có tu suốt đời cũng không chạm được vào sự thật, chỉ tu quanh quẩn mà thôi, không thể chạm vào cái lõi của chánh pháp, đi vào trong này là phá vỡ tất cả năm thủ uẩn. Thành ra, đây là bài kinh con cúng dường làm kim chỉ nam, làm bản đồ, làm cốt lõi để tu tập trong ba tháng An Cư này, nơi này là chỗ tối thù thắng để hạ thủ hành trì, nếu không hành trì là vô cùng uổng, mình có một hoàn cảnh tuyệt vời, mình có hội chúng thanh tịnh và có một pháp hành tối thượng thì còn chờ đợi gì nữa mà không bắt tay vào làm trong ba tháng này.
Bốn đôi tám chúng quyết dự vào, thể nhập vào trí tuệ của Đức Phật, khi mình bắt đầu nhìn thấy được ngũ uẩn, khi mình bắt đầu nhàm chán ngũ uẩn, có tâm mạnh mẽ là bắt đầu hướng vào bốn đôi tám chúng Hướng Dự Lưu. Nếu chưa thấy được ngũ uẩn là còn ở ngoài cổng chùa, chưa thấy được thế nào là sắc; thọ; tưởng; hành; thức, chưa thấy được sự vận hành, hoạt động của nó, chưa thấy được sự ranh ma, quỷ quái của nó, chưa thấy nó gạt mình, nó bắn tên mình, làm cho tâm mình mê, tâm ngu, tâm điên là còn ở ngoài cổng chùa.
Tâm ngu là tâm si ám, tâm mê là vô minh, tâm điên là tứ đảo, vô thường mà cho là thường, khổ mà cho là vui, dơ mà cho là sạch, vô ngã mà cho là ngã, Đức Thế Tôn gọi là tứ đảo, bốn sự điên đảo của chúng sanh, cái này chỉ có bậc Chánh Đẳng Chánh Giác mới chứng ngộ rồi chỉ ra được cho chúng ta cho nên các chư thiên trên phạm thiên, những cảnh cao trên sắc giới có suy nghĩ thường hằng, nghĩ rằng mình tối thượng thì ngài Mục-kiền-liên biết được suy nghĩ này nên ngài co duỗi cánh tay biến mất ở Kỳ Viên Tinh Xá hiện lên phạm thiên, dùng ngón chân của ngài chạm nhẹ vào cung điện để rung lắc thì các chư thiên hoảng hốt không biết cái gì đang xảy ra, lúc đó thiên chủ đến bái kiến pháp hữu.
Nên các vị chư thiên nghĩ rằng đây là Thế Tôn nhưng chỉ là bạn đạo, sau đó ngài Mục-kiền-liên mới thuyết pháp cho mọi người nghe, các ngài chớ có suy nghĩ đó là thường hằng, đây là thứ vô thường, tan nát, hủy hoại, hoại diệt, chớ có nghĩ đó là thường hằng. Ngài Mục-kiền-liên thuyết pháp cho các chư thiên đó nghe để phá tà kiến đó, suy nghĩ đó. Chúng ta phải dành thật nhiều thời gian đọc kinh để thấy oai đức của Đức Thế Tôn và các bậc Thánh chúng ngày xưa, thật sự rất vi diệu và tối thượng, mình sẽ thấy được sự tu tập của các ngài, sự sinh hoạt của các ngài, đạo lộ của các ngài, con đường các ngài hành trì và kết quả được các ngài chứng đắc.
Cho nên thân này, sắc; thọ; tưởng; hành; thức này là người lạ, đừng nghĩ rằng là của mình. Thưa thật với các thầy là mỗi lần con bước lên xe hoặc lên máy bay là con không nghĩ rằng có thể trở về an toàn, trong suy nghĩ của con lúc nào cũng nhớ vô thường, con nói với tâm ngu mê, điên đảo "mày nhớ vô thường nha mày, mày phải nhớ nha, đừng có quên. Mày đừng nghĩ thân này là của mày, xe này của mày, chùa này của mày, dẹp bỏ thân ngu si đó đi. Mày phải nhìn thấy được sắc uẩn đột ngột, đột biến, đột quỵ, đột tử này. Phải mở to con mắt này ra để nhìn thấy sự thật này".
Phải nhắc nhở bản thân như vậy trong mọi lúc mọi nơi, mọi thời mọi chốn, phải như lý tác ý như vậy, nhắc nhở bản thân thường xuyên cho đến khi nào không quên nữa là nhập Thánh quả, đừng để ngu mê, điên đảo mà phải cho tỉnh táo, sáng suốt, trí tuệ. Chỉ cần quên là mê liền, chỉ cần phóng tâm là ngu liền, trở về bản ngã, trở về dục, tham, ái, trở về hơn thua, sân hận liền cho nên phải áp đặt nó vào trong Thánh trí huệ, phải học thuộc lòng những định lý đó.
Khi con ngồi xe trung chuyển để ra máy bay là con di chúc ghi âm điện thoại lại, cái thứ rỗng không, hủy hoại này, nhìn thấy đẹp mà rớt bể là đem vứt bỏ, không có gì cả. Mọi người thấy ngồi đây lạy xá, đọc tụng nhưng chẳng may bước ra "ầm" một cái là lên bàn thờ, không có gì cả và cuối cùng thì tất cả cũng trở thành khói mây. Cúng thất thứ nhất, thứ hai, thứ ba thì còn nhớ nhưng đến bốn mươi chín ngày là xong, giỏi lắm một năm đọc tiểu sử nhắc lại một lần thì cũng xong.
Chẳng còn gì cả nhưng ai nhìn một chút là hơn thua, khó chịu, sân hận, nói chuyện không đàng hoàng là tự ái, đó là ngu mê, si ám, bản ngã rồi khổ đau. Vì vậy những trí tuệ này cần được thể nhập, cần phải chứng nhập, chứng đắc, muốn được vậy phải như lý tác ý thường xuyên ở mọi lúc mọi nơi, nhất trong khi ngồi thiền, phải rà soát dục, tham, ái của mình như thế nào, sân hận, bản ngã như thế nào, trí tuệ về năm uẩn của mình như thế nào.
Phải làm bài tập hằng ngày và làm cho sanh khởi hỷ lạc, thích thú trong sự tu hành, phải thấy hân hoan, phấn khởi trong pháp hỷ, pháp lạc, nếu không mình sẽ đi tìm dục lạc, đi tìm việc này việc nọ để làm, hướng ngoại rong chơi chứ không thấy được thân tâm, không nhiếp phục, chế ngự và đoạn tận những cấu nhiễm ở bên trong, sống với tâm mê.
-Sự chấp thủ ngũ uẩn là phiền não và khổ đau.
-Ngũ uẩn sanh khởi là do vô minh và khát ái.
-Ngũ uẩn diệt tận là khi hết vô minh và hết khát ái.
-Bát Chánh Đạo là phương pháp đúng, đưa đến tẩy sạch vô minh và khát ái đối với ngũ uẩn. (Nghi Thức Tu Học Nikāya)
Đây là sự kết hợp Tứ Thánh Đế và Bốn Thánh Trí của ngũ uẩn, đây là định lý giải thoát rất quan trọng cần học thuộc lòng, đây là con mắt của 12 bộ kinh, trái tim của tạng kinh Nikāya. Sự chấp thủ tức là nắm giữ sắc; thọ; tưởng; hành; thức là phiền não, khổ đau, ví dụ hôm nào ngồi thiền mà tự nhiên thấy nhẹ nhàng, thanh tịnh, an lạc nên mình thích, một lúc sau hết hoặc buổi thiền sau cố ngồi để tìm lại trạng thái đó nhưng không được rồi buồn, tuy rằng cái đó là tốt nhưng mình không biết đó là thọ, mình tham ái với cảm thọ đó nhưng không được thì khổ.
Mình tu có tiến bộ thì tự động có trạng thái đó nhưng nó đến thì đến, nó đi thì thôi, còn mình tìm nó là tìm thọ, tìm cảm giác, nó chỉ là trạng thái của cảm giác thôi, điều quan trọng là cái trí để nhìn thấy những cảm thọ đó là vô thường, không dính mắc với tất cả cảm thọ. Trí tuệ thấy được cảm thọ là cảm thọ, thấy được ba loại cảm thọ, thấy tham, sân, si, trong cảm thọ, thấy được bản ngã trong cảm thọ và mình không bị những cái này xâm chiếm, áp đảo, đồng hóa mới quan trọng, còn trạng thái của cảm thọ không sao cả, đừng tham đắm, tìm cầu, chấp thủ trong cảm thọ vì Đức Phật đã nói tất cả thọ đều nằm trong đau khổ.
"-- Lành thay, lành thay, này Tỳ-kheo! Này Tỳ-kheo, Ta nói rằng có ba thọ này: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Ba thọ này được Ta nói đến. Nhưng này Tỳ-kheo, Ta lại nói: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'. Chính vì liên hệ đến tánh vô thường của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'. Chính vì liên hệ đến tánh đoạn tận, tánh tiêu vong, tánh ly tham, tánh đoạn diệt, tánh biến hoại của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'". (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Hai - Phẩm Sống Một Mình, I. Sống Một Mình)
Chính vì vậy mà chấp thủ vào ngũ uẩn là phiền não và khổ đau, trong sự tu hành chấp vào cũng khổ chứ đừng nói gì không tu. Mình làm từ sáng đến chiều cực khổ vậy mà sư huynh còn chê mình thì lúc đó mình ra sao? Do không nhận diện ngũ uẩn, không an trú trong trí ngũ uẩn nên có một cái tôi, "tôi đang làm từ sáng đến giờ", còn cái "tôi" kia không những không làm mà còn chê bai nữa, vậy là nhân ngã, khi không thấy được ngũ uẩn thì lúc đó có ngã. Tổ nói:
"Lễ bản chiết mạn tràng,
Đầu hề bất chí địa,
Hữu ngã tội tức sanh,
Vong công phúc vô tỉ"
Lễ là cốt chặt cờ ngã mạn, tại sao đầu không sát đất? Có ngã thì tội liền sanh, quên công thì phước vô tỉ. Vì vậy khi không thấy được ngũ uẩn thì lúc đó có một cái ngã, còn thấy ngũ uẩn thì tạm thời chấp ngã bị tan biến trong trí về ngũ uẩn. Một hình bóng trong tâm mà không thể bỏ được, nó cứ ám ảnh mãi, hoặc là yêu hoặc là hận, nhớ lại hoặc là thương hoặc là tức giận, khổ thật sự. Vì thế khi quay lại đối diện thân tâm là cả một vấn đề, trong đó là cả một thế giới nội tâm phức tạp chứ không hề đơn giản.
Đọc kinh, đọc sách là một việc nhưng khi quay lại đối diện chính mình lại là chuyện khác, phàm phu chỉ nhìn thấy trên sắc uẩn, sắc pháp, không thể nhìn ra nổi thọ; tưởng; hành; thức, trừ khi người đó được học với Như Lai hoặc đệ tử của Như Lai thì mới có chánh tri kiến về ngũ uẩn, nếu không chỉ nhìn được bên ngoài chứ không thấy thọ; tưởng; hành; thức một cách chính xác, rành rõ, tường tận.
Chúng ta đang học những lời về trí tuệ để nhìn các phương diện, góc độ, khía cạnh của sắc; thọ; tưởng; hành; thức để làm chìa khóa mở vào chánh tạng, nếu người nào chịu khó nhận diện ngũ uẩn thường xuyên, bám sát theo những lời chia sẻ, những bài kinh đã học thì mở tạng kinh Nikāya ra đọc rất dễ hiểu nhưng muốn thành tựu trí tuệ thì Đức Phật nói phải có tuần tự, không có chuyện đột ngột chứng đắc.
"Ví như, này Pahàràda, biển lớn tuần tự thuận xuôi, tuần tự thuận hướng, tuần tự sâu dần, không có thình lình như một vực thẳm. Cũng vậy, này Pahàràda, trong Pháp và Luật này, các học pháp là tuần tự, các quả dị thục là tuần tự, các con đường là tuần tự, không có sự thể nhập chánh trí thình lình. Này Pahàràda, vì rằng trong pháp và luật này, các học pháp là tuần tự, các quả dị thục là tuần tự, các con đường là tuần tự, không có sự thể nhập chánh trí thình lình, nên này Pahàràda, đây là vi diệu chưa từng có thứ nhất mà do thấy vậy, các Tỳ-kheo thích thú trong Pháp và Luật này" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII - Tám Pháp, II. Phẩm Lớn, (IX). A-Tu-La Pahàràda)
Vấn đề quan trọng nằm ở chỗ văn – tư – tu, phải nghe được, sau đó y theo lời nghe để suy tư, chiêm nghiệm và soi rọi trở lại sắc; thọ; tưởng; hành; thức của chính mình thì bắt đầu mình sẽ thành tựu tư huệ trí tuệ do quán chiếu, do dòm ngó, do nội quán, do nội soi, do nội tỉnh, còn người không biết tu là người tu hướng ngoại, dù cho hình thức là xuất gia nhưng chỉ hướng ra bên ngoài, làm những việc bên ngoài, không thấy được thân tâm của mình.
Việc này cũng có phước duyên, đó là những thiện pháp, nhân thiên phước báo nhưng không giải quyết được tham, sân, si, vô minh, bản ngã, sanh tử. Còn bậc Đa văn Thánh đệ tử chân chánh của Đức Phật phải thấu suốt ngũ uẩn, nhàm chán, xả ly, xuất ly và từ bỏ ngũ uẩn. Đức Phật đã nói chỉ trong pháp và luật nào của Bát Chánh Đạo mới có đệ nhất Sa-môn, đệ nhị Sa-môn, đệ tam Sa-môn và đệ tứ Sa-môn.
"Này Subhadda, trong pháp luật nào không có Bát Thánh đạo, thời ở đây không có đệ nhất Sa-môn, ở đây cũng không có đệ nhị Sa-môn, cũng không có đệ tam Sa-môn, cũng không có đệ tứ Sa-môn. Này Subhadda trong pháp luật nào có Bát Thánh đạo, thời ở đây có đệ nhất Sa-môn, cũng có đệ nhị Sa-môn, cũng có đệ tam Sa-môn, ở đấy cũng có đệ tứ Sa-môn. Này Subhadda, chính trong pháp luật này có Bát Thánh Ðạo, thời này Subhadda, ở đây có đệ nhất Sa-môn, ở đây cũng có đệ nhị Sa-môn, cũng có đệ tam Sa-môn, cũng có đệ tứ Sa-môn. Những hệ thống ngoại đạo khác đều không có những Sa-môn. Này Subhadda, nếu những vị Tỳ-kheo này sống chơn chánh, thời đời này không vắng những vị A-la-hán" (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)
Trong giáo pháp nào không có Bát Chánh Đạo sẽ không có bốn Thánh quả của Sa-môn, ở đây chúng ta chỉ mới học một Thánh đạo đầu tiên là chánh tri kiến, nếu không thấy được ngũ uẩn thì làm sao thấy được tham, sân, si, làm sao thấy được vô minh, bản ngã trong đó cho nên chánh kiến là nhìn thấy được ngũ uẩn và sự nhận diện ngũ uẩn phải được thực hiện thường xuyên và liên tục, cố gắng đừng quên.
"Pháp do Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu" (Tương Ưng Bộ, Tập V. Thiên Đại Phẩm, Tương Ưng Dự Lưu (a). I. Phẩm Veludvàra, I. Vua)
Đến để thấy ngũ uẩn, thấy thân tâm của mình, thấy tham, sân, si, thấy lậu hoặc, rác bẩn trong tâm, thấy được bản ngã, chấp thủ trong đó, sau khi thấy thì tẩy rửa, lau chùi, quét dọn. Khi thấy đầy đủ thì pháp nhãn đã sanh, mắt đạo đã mở, trí tuệ đã khai, minh sanh, quanh sanh, tuệ sanh, trí sanh, Đức Thế Tôn chỉ dạy đến đây thôi, còn phần thực hành mình phải làm, phải nỗ lực tu tập quét dọn, chùi rửa, vệ sinh. Ngài chỉ đưa cho mình chìa khóa và chìa khóa đó là nhận diện ngũ uẩn, sau đó đã nhìn được rác bẩn, cấu uế, dơ bẩn thì bắt đầu phải lau chùi, vệ sinh từ từ.
Do công phu lau chùi, vệ sinh, tẩy rửa đó mà có ra các thứ bậc hiền Thánh sai biệt nhưng bắt đầu vẫn là chìa khóa để mở cánh cửa nội tâm, tức là sự nhận diện ngũ uẩn. Lúc nào không thấy ngũ uẩn là lúc đó sống với bản ngã, cái ta, lúc nào thấy được thọ đang vậy, sắc đang vậy, tưởng; hành; thức đang như vậy thì không có cái ta, lúc đó có trí ngũ uẩn, còn khi không thấy sắc; thọ; tưởng; hành; thức thì thấy có cái tôi "tôi đang ăn", "tôi đang ngồi", lúc đó sống với bản ngã cho nên đây là chỗ sâu sắc cần để tâm thật nhiều.
Ngũ uẩn sanh khởi là do vô minh và tham ái, câu này không phải dễ mà hiểu được. Mình cứ nghĩ vô minh là từ vô thỉ kiếp nào nhưng thật ra không thấy ngũ uẩn là vô minh, ngay lúc ngồi đây mà không thấy thấy sắc; thọ; tưởng; hành; thức, chỉ thấy có cái tôi đang ngồi học thì lúc đó vô minh và chúng ta đã sống trong vô minh từ vô thỉ kiếp rồi.
"Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỳ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc" (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, I. Cỏ Và Củi)
Từ vô thỉ kiếp mình sống trong tự ngã rồi bây giờ kêu mình nhìn ngũ uẩn sẽ không quen, phải có sự thực tập rất nhiều lần, lúc nào cũng phải xem lại đang có cảm giác gì, đang có suy nghĩ gì, đang tưởng tượng cái gì, cứ nhắc như vậy rồi sẽ quen, đến khi thuần thục nhìn vào sẽ thấy năm nhóm chứ không có một cái tôi.
Ngày xưa sư ông giảng ngũ uẩn thường đưa ví dụ năm ngón tay và một nắm tay, năm ngón tay là sắc; thọ; tưởng; hành; thức, còn một nắm tay là một cái tôi. Ngũ uẩn này là tên trộm, nó trộm kho báu của mình, nó cướp trí huệ, công đức của mình cho nên phải để ý năm thứ này. Đức Phật nói trong Tương Ưng Uẩn sắc là kẻ giết người, thọ là kẻ giết người, hành là kẻ giết người, tưởng là kẻ giết người, thức là kẻ giết người.
"Sắc là kẻ giết người", vị ấy như thật biết rõ: "Sắc là kẻ giết người"... "Thọ là kẻ giết người"... "Tưởng là kẻ giết người"... "Các hành là kẻ giết người"... "Thức là kẻ giết người", vị ấy như thật biết rõ: "Thức là kẻ giết người" (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (e), IV. Phẩm Trưởng Lão, III. Yamaka)
Cho nên phải kiểm soát, quản lý, xử lý nó, nếu không mình sẽ mệt mỏi với nó. Tại sao có thân đang ngồi đây? Tại sao có cảm giác, suy nghĩ, nhận thức? Do tâm mê, vô minh là tâm mê, không sáng, không nhìn thấy ngũ uẩn nên nói có một cái tôi trong đó cho nên không thấy năm nhóm này. Tâm mê tưởng rằng có nguyên một khối tưởng, nhất hợp tướng, một cái tôi, một cái ta, một tự ngã nên không thấy ra năm nhóm.
Vì vô minh, mê muội nên yêu thích, khoan khoái những hình thể, những cảm giác, suy nghĩ, yêu thích nhận thức rồi dính vào đó, chấp thủ vào đó nên có ra tấm thân và tấm thân này là thân nào cũng được, thân chuột, thân mèo, thân chó miễn là có thân là được, thích cái sắc đó, thích những cảm giác, suy nghĩ, nhận thức trong đó, dục, tham, ái trong đó, chấp thủ, dính chặt trong đó. Từ vô minh và tham ái mà kết thành tấm thân mấy chục kí lô này, mê nên không biết sự thật rồi thích thú trong đó, có một chú lên núi muốn đi tu vì lúc đầu chưa cưới thì vợ dễ thương, đến khi cưới về ăn ở không đày đọa, hành hạ chú, bây giờ chú ly dị được nên khỏe quá muốn đi tu.
Lúc đầu mê muội không hiểu biết về người đó, nhận lầm về người đó, chỉ mê sắc đẹp chứ không tìm hiểu tánh tình, đức hạnh nên rước về rồi khổ. Đó là mình mê trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức, mình thích trong đó, đến khi vào rồi ra không được, cưới rồi bây giờ ly dị thì cô kia không chịu, sắc; thọ; tưởng; hành; thức này không chịu, nó tham ái, chấp thủ trong đó nên không chịu vì vậy ngũ uẩn chỉ diệt tận khi hết vô minh và tham ái.
Hết vô minh là tâm tỉnh ra nhìn thấy được bản chất của năm uẩn, khi tâm đã tỉnh và đã hết vô minh thì không còn yêu thích ngũ uẩn nữa nên không còn tham ái. Khi đã hết vô minh, hết tham ái thì ngũ uẩn diệt. Sắc này vô cùng nguy hiểm, nó là cái pháp hư hoại, pháp biến hoại nhưng vì tâm mê không chịu, nó thích cái lòe loẹt đầy màu sắc. Cái thân này được sanh ra từ dục, do dục mà sanh ra và cũng do dục mà tử cho nên có những người thất tình nên tự tử, toàn bộ thế giới quay quanh dục, do dục vận hành nên người ta mới sống, mới hơn thua với nhau.
Có chiến tranh cũng do ham muốn mở rộng bờ cõi, muốn xâm chiếm nước khác, trong kinh Đức Phật phơi bày ra hết hiện trạng bức tranh của toàn cầu này, Đức Phật nói vì dục mà cực khổ suốt ngày, suốt tháng, suốt năm, vì dục mà vua này đánh nhau với vua kia, vì dục mà cha mẹ, anh chị em giận hờn, sân si, vì dục mà cả thế giới này rối loạn, những gì bị che kín đều được ngài phơi này ra tất cả.
Vô minh là tâm mê, tham ái là khoan khoái, vì không hiểu nên mới rước nhau về, sau đó thì khổ đau. Cũng giống vậy, vì không hiểu nên mình chụp vào tấm thân này, thân mang lông đội sừng hay tấm thân gì cũng thích thú trong đó, con gà mái nhìn con gà trống thấy đẹp, con chó đực nhìn con chó cái thấy đẹp, con gián này nhìn con gián kia thấy đẹp, khả lạc, khả hỷ, khả ái liên hệ đến dục hấp dẫn, con người này nhìn con người kia thấy đẹp.
Nghiệp lực hút nhau, cái ái thu hút nhau vậy là ách giữa đàng mang vào cổ nên hối hận suốt đời, một cô từ nước ngoài gọi về nói đúng ra lúc nhỏ đi tu nhưng mẹ không cho nên giờ con ở tù hơn ba mươi năm, bây giờ gặp được pháp nên xúc động, hạnh phúc. Nhìn sâu sắc vào mới thấy vô minh, tham ái rất thực tế chứ không có gì xa xôi, vì vô minh và tham ái nên sanh ra thân ngũ uẩn, khi nào hết vô minh, hết tham ái thì lúc đó ngũ uẩn diệt. Tức là mình không còn thích sắc; thọ; tưởng; hành; thức nữa, không còn khoan khoái nó nữa, nhất định từ bỏ nó, ly dị sáu trần, ly tham ngũ uẩn.
Phương pháp tám đúng là phương pháp chân chánh đưa đến tẩy sạch vô minh, tẩy sạch tham ái đối với ngũ uẩn. Bát Chánh Đạo trong Nikāya vô cùng khủng khiếp chứ không giống như mình học ngày xưa, chỉ riêng phần chánh tri kiến của Bát Chánh Đạo đã Nhập Lưu Tu-đà-hoàn, những ai thực tập đến chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh tinh tấn là những vị đi đến Nhị quả, tu đến chánh niệm là tam quả, còn đi đến chánh định là tứ quả.
Đó là đạo lộ của tất cả các bậc Chánh Đẳng Giác thuở xưa đã đi qua, nó vô cùng thâm sâu, tối thượng, vô thượng Phật đạo là Bát Thánh Đạo. Chúng ta cầu mong cho học được hai chữ chánh kiến để Nhập Lưu thôi là đủ vốn, sau khi đã Nhập Lưu, đã thành tựu cái thấy biết viên mãn thì lúc đó ở chỗ nào mình cũng tu được, nếu được bậc thầy chỉ dẫn mình sẽ đi nhanh hơn nhưng nếu không có thì tự động chánh kiến đó sẽ đưa mình về phía trước, dòng chảy của pháp sẽ tự đưa người về phía trước cũng như khi đã vào dòng chảy thì dòng chảy đó sẽ tự đưa mình ra biển đông. Người đã Nhập Lưu tức là đi vào được dòng chảy của bậc Thánh, trí tuệ của bậc Thánh, dự vào dòng chảy trí tuệ của Đức Phật và các bậc Thánh thì tự động nó sẽ đưa mình vào đại dương của Niết-bàn.
Mong rằng các thầy hãy cố gắng thực tập những gì mình đã học được, cần học cho kĩ lời kinh của Đức Phật để thực tập nhận diện ngũ uẩn và những pháp quán, phải cố gắng hành trì. Kính chúc tất cả quý thầy tăng thượng giới đức, tăng thượng thiền định, tăng thượng Thánh trí tuệ để sớm thành tựu chánh tri kiến, sớm dự vào bốn đôi tám chúng hiền Thánh của Đức Phật.
./.