Ngồi thiền như thế nào cho đúng
NGỒI THIỀN NHƯ THẾ NÀO CHO ĐÚNG
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Quán chiếu: PAGEREF _Toc73600150 \h 1
II. Khổ và nguồn gốc của khổ: PAGEREF _Toc73600151 \h 3
III. Chánh niệm trước mặt: PAGEREF _Toc73600152 \h 5
IV. Cảm giác hơi thở: PAGEREF _Toc73600153 \h 7
V. Cảm giác toàn thân: PAGEREF _Toc73600154 \h 9
VI. Nội tâm tỉnh giác: PAGEREF _Toc73600155 \h 15
I. Quán chiếu:
Lời đầu tiên, Minh Thành xin chân thành tri ân tấm lòng từ bi cao cả của thượng tọa chủ trì chùa Hoằng Pháp, cùng quý Chư tăng cũng như tất cả quý phật tử đã hộ trì cho khóa tu pháp hành Nikaya.
Kính thưa quý thầy, quý sư cô cô cùng toàn thể đại chúng. Kinh tạng Nikaya là lời dạy nguyên bản thuần chất của Đức Phật, bản thân Minh Thành may mắn tìm thấy, học hỏi và hành trì đã mang đến lợi ích thiết thực hiệu quả, đạt được sự bình an ngay trong hiện tại. Chính vì vậy mà hôm nay Minh Thành chia sẻ những lời dạy chân gốc này của Đức Phật đến toàn thể quý Phật tử, để cùng nhau tất cả chúng ta vững tin, vững bước và vững trí đi trên con đường đường bình an, tịnh lạc giữa thế giới đang chìm trong bi thảm và đau khổ này.
Quý Phật tử đang đọc những dòng này trong sự thanh tịnh, trang nghiêm, trong sự bình yên, an ổn. Tuy nhiên, ngoài kia nhiều nước trên thế giới đang quằn quại, bi thảm, thống khổ và người dân của những nước này phải đang gánh chịu những nỗi khổ hết sức to lớn. Tính đến ngày 28 tháng 07 năm 2020, trên cả thế giới tổng cộng có hơn 16 triệu ca nhiễm virus Covid - 19 với gần 660 nghìn người tử vong, những thân xác bị chứa trong bao đựng rác, bị quăng bỏ trong những hố chôn tập thể lớn bằng sân vận động. Rồi đến những thiên tai lũ lượt kéo đến như cháy rừng, băng tan, hạn hán, động đất, lũ lụt kinh hoàng 100 năm có một đang diễn ra tại Trung Quốc, suy thoái kinh tế... Bao nhiêu hoàn cảnh con mất cha mẹ, vợ mất chồng, anh mất em, bà mất cháu... bao nhiêu cảnh khổ tràn ngập khắp mọi nơi. Toàn thế giới đang sống trong giai đoạn khủng hoảng, lo lắng, sợ hãi, bất an và đau khổ nhất từ trước đến nay.
Cùng với đó là lòng tham dục của con người đang ngày càng trở nên mạnh mẽ mãnh liệt, lòng ham muốn, tham dục, tham vọng của con người đang trở nên khủng khiếp hơn bao giờ hết. Hàng ngày, trên thế giới diễn ra rất nhiều những vụ án hình sự từ cướp giật, trộm cắp, chém giết sát hại lẫn nhau, thậm chí giữa anh với em, con với cha mẹ đều sẵn sàng hạ thủ không nương tay. Sự sân hận ngập trời, chỉ vì vài tấc đất mà dẫn đến cảnh huynh đệ tương tàn, đầu rơi máu chảy, bỏ lại phía sau bốn, năm mạng người và cảnh tù tội chung chân.
Chưa dừng lại ở đó, bản ngã của con người cũng được tăng trưởng mỗi ngày, một cái tôi - cái ta cực kỳ to lớn; rồi vô tình hay cố ý mang lại sự đau đớn cho bạn bè, người thân. Con người vì tham, sân, si, vô minh và bản ngã mà dày xéo thân tâm, hành hạ lẫn nhau bằng những lời cộc cằn, gay gắt, ác độc, đay nghiến. Để rồi tất cả sống trong nước mắt, đau buồn, sống trong tức giận và thù hận ngập trời.
Và như thế lòng tham được phát triển; lòng sân hận được hừng cháy, thiêu đốt nơi nội tâm; cùng một cái tôi, cái ngã trương phình to lớn theo từng ngày. Con người hiện nay bị quấn chặt, vây kín, bị giam cầm bởi ngục tù tham – sân – si, vô minh và bản ngã. Họ không biết con đường thoát khỏi tù ngục này, không biết đạo lộ thật sự của sự xuất ly đau khổ và bao nhiêu năm họ loanh quanh, lẩn quẩn trong ham muốn, tức giận, kiêu căng. Chúng ngày đêm thiêu đốt, nung chảy tâm can con người, đến khi quay lại đối diện với chính mình thì hỡi ôi là một sự ê chề, ngao ngán, chán nản. Vì sợ hãi mà họ lại tiếp tục chạy ra bên ngoài, tìm xem người nào có thể hỗ trợ, cứu giúp mình thoát khỏi sự đau khổ đang dằn xéo này; họ cầu xin, váy lạy, mong mỏi đợi chờ.
II. Khổ và nguồn gốc của khổ:
Bao lâu nay chúng ta vẫn vái lạy, cầu sự bình an, xin được bớt khổ; nhưng cái khổ vẫn y nguyên ở đó không hề suy giảm. Lý do là bởi vì chưa đi đúng hướng, chưa nhắm thẳng vào hồng tâm thoát ly đau khổ theo lời dạy của Đức Phật, Ngài dạy rằng “Này các Tỳ-kheo, này các vị, xưa là nay, Như Lai chỉ nói sự khổ và phương pháp diệt tận khổ đau mà thôi.”. Theo lời dạy này của Đức Phật, sau khi diệt khổ thì an vui sẽ hiện hữu, vậy mà bấy lâu ta luôn truy cầu hạnh phúc trong sự u mê không biết nguồn gốc sự khởi phát của đau khổ. Ví như một người bị bệnh phải tìm đến bác sỹ để được xét nghiệm, tìm hiểu về nguyên nhân của căn bệnh, sau đó mới có thể điều trị một cách hợp lý, đúng thuốc đúng bệnh. Ấy thế mà ta vẫn mong cầu được khỏe trong khi không dốc tâm trị bệnh, không chấp nhận được xét nghiệm, kiểm tra và uống thuốc; cũng như thế, ta không hề biết được điều gì khiến bản thân đau khổ mà cứ muốn được an vui, vì si ám như vậy mà ta tìm đến liều thuốc giảm đau là những niềm vui thú tạm thời, nhưng ta đâu biết với những thú vui ngoài kia, càng vui là càng khổ.
Chính vì lẽ đó mà trọng tâm kinh tạng Nikaya là giúp cho ta quay trở lại, nhìn thấy được thân tâm, tự thân, thấy được chính mình; từ đó thấu hiểu chính mình, thấu rõ ngọn nguồn của căn bệnh đang khiến bản thân đau khổ, nhận rõ nguyên nhân của đau khổ; để điều trị và chế ngự chúng. Như vậy, điều đầu tiên cần thực hiện là nhận ra nguyên nhân, tiếp theo là nhiếp phục, chế ngự và cuối cùng là chấm dứt, thời đau khổ được đoạn tận, ta được an vui. Đây là ý nghĩa cốt lõi của kinh tạng Nikaya vậy.
Kính thưa quý Phật tử, nguyên nhân của khổ đau không nằm ở bên ngoài, nó nằm chính tại bên trong, tại thân tâm của mỗi người chúng ta. Vì lẽ đó, Minh Thành luôn nhắc nhớ chúng ta thực tập ba pháp, cảm nhận thân tâm; đây là việc cực kỳ quan trọng trên con đường diệt khổ. Đây là pháp hành đi thẳng vào sự thực tập, bởi ta đã nghe đọc pháp quá nhiều nhưng cực kỳ thiếu sự thực hành, thậm chí có vị Phật tử đã nghe pháp từ trước khi Minh Thành xuất gia, cả một bụng kinh sách; tuy nhiên hễ có người động chạm đến thì cách hành xử vẫn như người không tu.
Ở bài viết này, pháp hành đầu tiên Minh Thành hướng dẫn quý Phật tử chính là thực tập quay về nội tâm để cảm nhận chính mình, quý Phật tử cần phải nhận rõ một sự thật rằng: nếu không biết mình, không hiểu mình thì tất cả những hiểu biết bên ngoài đều là vô nghĩa. Thân thể này do những gì cấu thành còn chưa nhận rõ, tâm mình chứa những gì ở trong còn chưa biết; ngay cả chính bản thân còn chưa hiểu hết thì làm sao có thể hiểu sâu sắc những thứ bên ngoài. Nếu có ai hỏi rằng “tâm là gì?” thì lật sách, mở sổ, nhăn mặt nhíu mày, nhắm mắt, đăm chiêu suy nghĩ để tìm câu trả lời; chính tâm của mình còn chưa biết, nhưng những thị phi xung quanh, từ chuyện xóm trên đến ngõ dưới ta điều biết rõ cặn kẽ, đây là điều hết sức nguy hiểm.
Sự tu học y cứ theo kinh Nikaya là tìm hiểu tự thân chính mình; ở đây gồm ba pháp hành: thứ nhất là chánh niệm trước mặt, thứ hai cảm giác toàn thân, thứ ba nội tâm tỉnh giác; đây là sự tập quay về nội tâm, nhận diện bản thân chính mình.
III. Chánh niệm trước mặt:
Cần phải thực tập điều này là bởi từ xưa đến nay ta chỉ biết nhận diện những thứ bên ngoài, chưa hề hoặc rất hiếm khi nhìn lại bản thân. Ở phần này Minh Thành xin giải thích tại sao khi ngồi thiền ta không nên nhắm mắt. Một số Phật tử có thói quen nhắm mắt mỗi khi ngồi thiền, nay thực tập theo pháp này sẽ có nhiều thứ không giống như thói quen, ta cần phải chú tâm sửa đổi. Bởi vì suốt một ngày làm việc mệt mỏi, đến tối khi chúng ta ngồi thiền trước bàn Phật theo hơi thở vào ra, mắt nhắm, lúc này bài cơn buồn ngủ sẽ rất dễ ập đến. Đây là si ám, là hôn trầm, còn nếu tỉnh táo không ngật gù thì trong tâm là những hình bóng này kia kéo đến, dẫn dắt ta đi ra khỏi sự thiền định. Mỗi khi nhắm mắt là ta dễ đi vào trạng thái của tưởng, hình bóng, lời nói thì thầm lũ lượt xuất hiện, đi vào trạng thái của sự lơ mơ, đờ đẫn. Hôn là tối tăm, trầm là chìm vào, khi nhắm mắt lại, ta sẽ dễ bị chìm vào nơi tắm tối. Chính vì vậy, sự thực tập thiền định của ta tuyệt đối không nhắm mắt, khi nghe pháp cũng không được nhắm mắt; chỉ một vài phút nhắm mắt là ta sẽ đi vào chỗ mê muội.
Không có phương pháp tu hành nào khi ngồi thiền ép buộc ta phải nhắm mắt, chỉ một chốc thôi là si ám, hôm trầm, vô minh hoặc tưởng kéo đến. Ở trong những thứ này, chúng kéo ta đi từ chỗ này đến nơi khác. Mỗi khi buồn ngủ kéo đến thì ta phải dốc lòng mở to đôi mắt, mở lớn hết cỡ; cần phải nhớ và thực hành được điều này thì ta mới có thể tu học theo kinh tạng Nikaya, nếu không thực hành được pháp này, theo thói quen mà nhắm mắt thì ta mãi không đến được đích trí tuệ mà sẽ đến nơi của tối tăm và si ám.
Thêm một điểm lưu ý nữa là khi mở mắt ta không được trú tâm vào một điểm, một vật nào ở trước mặt; bởi nếu làm như vậy một lúc thời ở chỗ đó sẽ xuất hiện hình bóng chập chờn của sự tưởng tượng. Khi thực hành chánh niệm ở trước mặt, Đức Phật dạy ta rõ biết mở rộng tầm nhìn hết mức sang hai bên, tạo nên một ánh nhìn tổng thể. Quý Phật tử cần phải nhớ thật kỹ hai điểm này, một là không nhắm mắt, hai là không trú vào bất cứ một điểm hay vật nào trước mặt mà mở rộng tầm mắt sang hai bên, điều này Đức Phật dạy là đặt niệm trước mặt, chánh niệm trước mặt hay rõ biết trước mặt. Đây là hai yếu tố cực kỳ trọng yếu, vì khi thiền là lúc bản thân tỉnh táo, sáng suốt nhưng nếu ta không biết trước mặt có gì, đây là một sự tối tăm mịt mù vậy; và khi thực hành không đúng, lúc thiền ta sẽ còn tối tăm hơn lúc không thiền.
Bình thường khi ta không nhắm mắt, với mỗi vật thể như bông hoa, chai nước, hòn đá trước mặt ta điều thấy biết rõ, nay nhắm mắt thì còn thấy được điều gì. Cho nên khi mở mắt, Đức Phật dạy là chánh niệm, rõ biết trước mặt, đặt niệm trước mặt để cảm nhận thực tại; cảm nhận sự thật ngay trong giây phút hiện tại, trước mặt có gì phải thấy rõ; bởi ngồi thiền cần sự tỉnh táo, sáng suốt, trí tuệ hơn khi không thiền. Đây là yếu tố đầu tiên mà ta phải nắm kỹ khi thực hành thiền định. Quý Phật tử cần lưu ý kỹ sự thực tập này.
IV. Cảm giác hơi thở:
Pháp hành tiếp theo là quay trở về cảm nhận hơi thở, để từ đây cảm nhận được cảm giác của toàn thân. Tất cả pháp này, Đức Phật dạy với mục đích để ta quay trở về nhận diện bản thân, thực tập để khám phá tự thân của mình.
Quý Phật tử cần quán chiếu rằng, những bệnh nhân đang mang trong người căn bệnh Coivd 19 họ rất mong có thể được thở một cách bình thường. Bấy lâu nay ta sống nương nhờ nơi hơi thở mà không cảm thấy trân quý điều này, cứ lo tìm những thức ăn ngon, quần áo đẹp, nơi ở sang trọng, địa điểm vui chơi náo nhiệt. Ta không nhận ra rằng những thứ này muôn phần không quan trọng bằng không khí trong lành, bởi ta có thể nhịn ăn vài ngày, không mặc vài hôm, không đi chơi vài tuần nhưng không thể ngưng thở vài phút. Hơi thở quan trọng là vậy mà ta lại quên lãng, ngay cả khi thiền cũng không chịu quay về đặt tâm nơi hơi thở. Chính vì lẽ đó, nay nương theo lời dạy của Đức Phật ta quay trở về, trở về với thứ trân quý nhất của mình, cảm nhận và hiểu được sự quan trọng của hơi thở, cảm nhận sự hiện hữu của hơi thở mà bao lâu ta đã quên lãng.
Quý Phật tử cần phải hiểu rằng, còn thở là còn sự sống, còn được khỏe mạnh, thở mà không cần sự hỗ trợ của máy móc là một niềm hạnh phúc vô bờ. Vậy mà ta không nhớ, không biết rằng bản thân may mắn được hít thở, chỉ nhớ điều không tốt của người, nhớ sự bực tức, sân hận với người này người kia, lo lắng hôm nay không kiếm được nhiêu tiền bằng hôm qua... toàn lo toan những thứ ngoài thân, không thiết thực. Chính vì vậy, khi thiền, ta để tâm cảm nhận hơi thở, cảm nhận hơi thở đang vào ra khỏi thân, cảm nhận cảm giác toàn bộ châu thân, làm cho thân tâm lắng dịu, từ đó hiểu mình, hiểu cảm giác của thân. Đây là sự thực tập tiếp theo của Nikaya.
Sau khi quan sát hơi trở, cảm nhận những giây phút an tịnh, lắng dịu, làm cho thân tâm tĩnh lặng, bình an. Thực tập điều này mục đích là để trấn áp sự lăng xăng, rộn ràng, vội vàng, tất bật mà bấy lâu nay ta vẫn sống chung với chúng; trấn áp những điều là đối trọng của sự bình an. Quý Phật tử cần phải quán xét rằng, thiền định là giây phút thiêng liêng, thần thánh, vi diệu và quý báu nhất của một kiếp người; ta cần trâng trọng, nâng niu giây phút này, thiền bằng tất cả trái tím, tất cả tấm lòng. Xem đây là giây phút thần thánh, tối thượng, thù thắng nhất cuộc đời vì bao nhiêu những giây phút khác, chúng ta đã dành để theo đổi ngoại trần, tất bật với cơm áo gạo tiền, với danh lợi bên ngoài, bên trong thì vướng bận với tham – sân – si, bản ngã, hơn thua, ganh tỵ, đố kỵ… Hiện hữu một giây phút để an tịnh, lắng dịu thân tâm; ngọt ngào là những giây phút này, thiêng liêng, vi diệu, thần thánh là những giây phút này đây.
Quý Phật tử hãy thiền bằng tất cả trái tim, bằng tất cả tấm lòng của mình, thiền bằng sự tỉnh giác, chánh niệm, sáng suốt; trọn vẹn trong từng giây phút thiền, không để phí phạm bất cứ giây phút nào cho những ý nghĩ, hình bóng lăng xăng bên ngoài. Quán chiếu rằng giờ phút này là của chính chúng ta, trong lúc ngoài kia bao nhiêu hoàn cảnh thống khổ, chết chóc, bệnh hoạn; đây là giờ phút phúc lạc, phước lành, thù thắng của cuộc đời; trân quý từng giờ phút để sau này chúng ta sẽ không hối hận.
V. Cảm giác toàn thân:
Sau khi cảm nhận hơi thở, ta tiến tới thức tập cảm giác toàn thân. Như đã bàn ở trên, bấy lâu nay ta dành toàn bộ thời gian của mình để đi tìm những cảm giác bên ngoài, đôi mắt luôn chạy theo cái đẹp để tìm cảm giác, tai nghe tiếng hay, miệng tìm thức ăn ngon để cảm thấy thích thú, khoan khoái… tất cả những việc làm này đều với mục đích đi tìm cảm giác bên ngoài của những đối tượng, dục lạc ngoài thân. Khi thực tập cảm giác toàn thân, ta trở về cảm nhận cơ thể của chính mình; thực tập bằng cách cảm nhận cảm giác ở đỉnh đầu, mặt, cổ, vai, cảm nhận cảm giác ở thân, mông, chân, bàn chân, lòng bàn chân; cảm nhận từng bộ phận của cơ thể từ đỉnh đầu đến gót chân. Đây là khi tra trở về với chính mình, cảm nhận để hiểu, để biết những gì đang hiện hữu, diễn ra bên trong ta.
Bằng sự thực tập cảm giác toàn thân, ta được quay trở về với chính mình. Quý Phật tử hãy cảm nhận thật sâu sắc, tròn trịa, đầy đủ, trọn vẹn cảm giác của toàn bộ cơ thể này; cảm nhận thứ cảm giác mà bấy lâu nay ta quên lãng. Nếu không thực tập cảm giác toàn thân, thì tâm của ta không có chỗ an trú; lúc này tâm của ta là một cái tâm vô gia cư, lang thang từ đầu làng cuối ngõ, lang thang ở Hà Nội, Sài Gòn, Châu Âu, Châu Úc, từ Mỹ đến Tàu… lang thang khắp nơi, không nơi để trở về, không có chỗ để an trú. Cảm nhận cảm giác toàn thân tức là khi tâm của ta an trú trên thân hay còn gọi là định tâm trên thân, một cái tâm có nhà. Ngược lại, là tâm không được an trú, ngày đêm lang bạt, vất vưởng… giống như một cô hồn lang thang từ nơi này đến nơi khác; dù ta ngồi yên tĩnh tại đây, nhưng tâm không chịu yên, tâm hướng ngoại suốt cả cuộc đời, phiêu bạt khắp chốn. Vậy, khi ta mang tâm quay trở về trên thân, cảm nhận cảm giác toàn thân của mình, chính là lúc tâm được an trú (trên thân).
Đức Phật dạy rằng “Tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ.”, muốn biết tâm đang có gì ở trong, ta chỉ cần quan sát cảm giác sẽ nhận rõ tất cả, cảm giác chính là kho chứa của tâm. Vì vậy, một khi đã an trú tâm trên cảm giác toàn thân, quý Phật tử sẽ cảm nhận một điều kỳ diệu chưa tùng có. Bao lâu ta vẫn biết rằng tu học là diệt trừ tam độc tham – sân – si, nhưng tham – sân – si ở đâu thì ta không biết; hôm nay bằng sự thực tập cảm nhận cảm giác toàn thân ta biết được tham – sân – si cư ngụ nơi đâu.
Ở bài viết bàn về ngũ uẩn, Minh Thành đã hướng dẫn cho quý Phật tử rằng “tâm” này được cấu tạo từ bốn uẩn gồm: thọ, tưởng, hành, thức; trong đó, thọ (hay cảm thọ) là nơi cư ngụ của tham –sân –si. Bằng sự cảm nhận cảm giác toàn thân, ta sẽ nhận rõ sự sinh khởi của ba loại cảm giác này, từ đó diệt tận chúng, từ đây sự bình an, hạnh phúc được snah khởi. Thật vậy, chẳng hạn khi tức giận, ta sẽ nhận ra bắt đầu ngay tại lồng ngực của mình có một cơn nóng râm ran, tiếp đến chúng bốc lên khiến cho cả khuôn mặt đỏ hồng, mắt mờ, hai tai nóng ran, gương mặt chuyển từ vàng sang đỏ; ngay tại lúc đó ta biết rằng cảm giác toàn thân ta đang thay đổi, biến động; để từ đây nhiếp phục cơn giận đang sanh khởi, lúc này ta tách mình ra khỏi cơn giận, không để chúng điều khiển, nhấn chìm. Nếu không có sự thực tập cảm giác toàn thân, một khi cơn giận bốc lên, ta liền nhập cuộc với nó, cho rằng “tôi đang giận”; mà không hề hay biết rằng nếu đúng phải nói rằng “tôi đang có một cảm giác giận, nó đang muốn xâm chiếm lấy tôi, hiện tại nó đang ở tại lồng ngực của tôi, thiêu đốt lồng ngực tôi, nó đang hừng hực, chuẩn bị bốc lên gương mặt tôi, lên lỗ tai, đôi mắt và cái miệng của tôi bắt đầu giật.”.
Có sự tu tập và thực hành cảm giác toàn thân, mỗi khi vừa có sự thay đổi nhỏ nơi lồng ngực là ta nhận thấy ngay lập tức, nhận ra rằng “con ma sân này tới rồi”; từ đây chặn đứng nó, không để nó tiếp tục phát triển nữa. Khi cơn giận vừa phát khởi, ta nhận rõ thì sẽ có cách nhiếp phục, nếu không có sự thực tập cảm giác toàn thân, khi nó sanh khởi, ta đồng nhất rằng “tôi đang giận”, “cơn giận này là tôi”, thời bấy giờ nó sẽ dẫn ta đi đến chỗ tình thân bị chia rẽ xa hơn là tan nhà, nát cửa, tù ngục... hậu quả không thể tưởng tượng được. Đây chính là khổ, là nguyên nhân của khổ vậy. Chính những điều này, vì khả năng mang lại lợi ích và phòng tránh tác hại mà sự thực tập cảm giác toàn thân mang lại cho bản thân cũng như mọi người, Minh Thành chân thành kính mong quý Phật tử thường thường, luôn luôn đốc lòng thực tập.
Từ trước đến này, ta được học rằng sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, yêu mà không gặp là khổ, ghét mà gặp là khổ, cầu không được là khổ, chấp thủ vào năm uẩn là khổ; nhưng ta không biết cách làm bản thân hết khổ. Vậy mới thấy, bao lâu ta chỉ toàn đọc chữ, giờ này mới nhận ra cái khổ đang ở trong lồng ngực nóng bừng, cái miệng đang co giật đó mà thôi, không đâu xa xôi cả. Thấy được điều này là thấy nguyên nhân của khổ, đây là con đường của tạng kinh Nikaya; hết sức thực tế, rõ ràng và thiết thực ngay trong hiện tại. Chính vì lẽ đó mà kể từ hôm nay, quý Phật tử hãy dốc lòng thực hành cảm giác toàn thân, luôn luôn để tâm quán sát những gì đang diễn ra nơi thân tâm của mình, không chỉ riêng những lúc ngồi thiền mới thực tập, mà bất cứ nơi đâu, luôn luôn an trú cảm giác toàn thân.
Ở trên là Minh Thành bàn về tâm “sân”, còn về tâm “tham” thì sao? Nhận diện cảm giác “tham” như thế nào?
Kính thưa quý Phật tử, tâm “tham” cũng cư ngụ ngay tại lồng ngực, nó khiến ta bịn rịn, lưu luyến, làm cho ta không muốn rời xa thứ mà mình yêu thích. Hình ảnh về món đồ, món ăn, âm thanh, mùi vị mà ta thích thú cứ mãi được nhớ đến, hiện lên liên tục trong tâm ta với những suy tư lầm thầm. Chẳng hạn cảm giác lưu luyến, da diết, xao xuyến nhớ về người cháu nội không thôi là đủ để khiến tâm ta dao động, kéo ta từ nơi tu học ở chùa về nhà; hay hình bóng căn nhà, đồ vật, thú vui hiện ra khiến ta không thể tinh tấn tu hành. Thường ngày ta thích điều gì, tham cái gì, ái cái gì thì ngay tại cảm giác, nghĩ tưởng sẽ mãi hiện ra như thế ấy; làm ta chao đảo không yên. Bằng sự thực tập cảm giác toàn thân, nội soi chính mình mà ta nhận ra điều này, từ đó đánh đuổi nó, làm cho nó không còn hiện hữu nơi tâm, để lại một tâm bình lặng, an tịnh; đây chính là sự thực hành của tạng kinh Nikaya. Nếu không quyết định, quyết chí trở về bản thân, nhìn vào bên trong bản thân mà cứ mãi chạy theo những hình bóng bên ngoài thì ta sẽ đi vào vô minh, quên lãng, không biết tại sao bứt rứt, nôn nao, tại sao ta khổ; vô minh, đau đớn và cay đắng cho những ai không nhận thức được điều này.
Cuối cùng là tâm “si”, hay cảm giác “si”; để nhận biết tâm si đang có mặt, ta chỉ cần cảm giác đôi mắt. Thông thường, bất kỳ hình bóng nào được tưởng uẩn tạo nên, suy tư được hành uẩn tạo nên, sự rõ biết được thức uẩn nhận thấy đều đến rồi đi rất nhanh chóng, lướt qua tâm của mình; tuy nhiên cảm giác thì tồn tại dài lâu trên thân; đây là chỗ đặc biệt của cảm thọ vậy, chính vì vậy mà cảm giác là cầu nối giữa thân và tâm. Mỗi khi trông thấy một người lơ ngơ, si dại ta liền nhận rõ được trạng thái thân tâm của họ lúc này; chẳng hạn một cá nhân ngồi thiền mà cổ nghiêng một bên, đôi mắt sụp xuống, miệng trễ hai bên… ta liền nhận ra người này đang hôn trầm; đương nhiên người này không muốn bản thân rơi vào hôn trầm, nhưng họ vẫn bị rơi vào trong đó. Là bởi vì người này không thực hành an trú cảm giác toàn thân, người này không biết rằng “si” ám đang lấn chiếm, xâm nhập, khống chế thân tâm mình; thay vào đó họ cho rằng mình đang buồn ngủ, đang hôn trầm. Bằng sự thực tập này, mỗi khi đôi mắt sụp xuống, ta liền nhận ra và tác ý “không xong, con ma ngủ đã tới, cần phải xử lý nó ngay lập tức”, “ngươi hãy biến đi, đây là chỗ ta thiền định, hãy để yên cho ta tu học, đây là giờ tu hành, không phải là giờ ngủ.”, “mi đã ngủ 40, 50 năm rồi vẫn thấy chưa đủ sao? Muốn ngủ nữa để đời sau rơi vào đường ác đúng không? Tỉnh táo, sáng suốt, tinh tấn nào tâm ơi.”; vừa tác ý vừa mở to đôi mắt, đánh đuổi cảm giác đang ập đến. Tác ý mạnh mẽ như thế gọi là “như lý tác ý”, được vậy con ma ngủ sẽ chạy mất, nội tâm được sáng rõ, ta tu tập tinh tấn, dũng mãnh.
Đây là lợi ích, là công năng của thực tập nhận diện cảm giác toàn thân; không phải vô cớ mà Đức Phật dạy ta an trú tâm trên thân, cảm nhận sự thay đổi của thân tâm này. Kể ra vậy mới thấy, bao lâu ta đã lãng quên, không chăm sóc cho nội tâm của mình, để cho lòng thù hận xâm chiến, tàn phá, thiêu đốt bản thân và mọi người. Thậm chí có những cảnh đau khổ cùng cực với những người giận nhau suốt mấy mươi năm, con giận cha mẹ, anh giận em, vợ giận chồng… sân hận tàn phá suốt 20, 30 năm; mỗi lần đặt lưng xuống giường là đay nghiến, căm thù, không sao kể xuyết sự đau khổ của họ. Anh giận em trai chỉ ba ngày thôi là đủ để thấy đau khổ, ăn không ngon, ngủ không yên, sút cân… đằng này có người giận nhau suốt 30 năm liền, không thể tưởng tượng được sự đau khổ đến mức nào.
Bởi vì bản thân những người này không biết tu học, không đủ duyên để biết đến sự tập cảm giác toàn thân, để cho chúng tha hồ tàn phá, tàn hại, phá hoại chính mình, mang lại sự đau đớn cho mình và người. Bao lâu nay tâm ta là một mái là hoang, bất kể ai đến, ai đi đều được, cảm giác bực tức đến ta cũng chấp nhận; tham đến gõ cửa mình vẫn cho vào; rồi đến si ám cũng thế; bản ngã cũng vậy. Chính những thứ này làm chủ ta bao lâu, tàn phá thân tâm suốt 30, 70 năm liền. Cho đến ngày nhắm mắt xuôi tay, những gì ta tạo ra trong nghiệp thức của mình là một núi ác nhân, ác quả; đầy dẫy trong đó là tham dục, sân hận, si ám và bản ngã. Suốt một cuộc đời 60, 70 năm giành giật, ganh tỵ, đố kỵ, hơn thua, mưu tính… cuối cùng thành tích chung cuộc, thành quả cuối cùng của những hành động này là một nắm tro tàn, một bộ xương khô, một nấm mồ của đất. Đây mới chỉ bàn về sắc uẩn, còn nội tâm, thọ, tưởng, hành, thức thì sao, tâm thức ta sẽ đi về đâu sau khi thân hoại mạng chung với những ác nghiệp như vậy? Có lẽ là đị ngục, ngạ quỷ hay bàng sang vậy.
Đây chính là sự đau khổ mà bấy lâu ta gánh chịu; do không nhìn thấy thân tâm của mình, không biết yêu thương bản thân, thật sự không biết yêu thương. Ngay cả chính mình là ai ta còn không biết, làm sao ta có thể yêu thương bản thân một cách sâu sắc, chăm sóc bản thân một cách cẩn thận, chu đáo được. Nội tâm trải qua 30, 70 năm cuộc đời, là một nội tâm đầy rác bẩn, chất chứa đầy những ô uế trong đó; chẳng khác nào một ống cống; động đến là tuôn ra những lời sân giận, hiềm hận, hơn thua, tự làm mình và những người xung quanh đau khổ.
Thật đáng thương xót cho chúng ta, xót xa thay, đau khổ thay cho chúng ta. Với một nội tâm đầy rẫy những cấu uế, ô nhiễm, những tham muốn tà ác, những thúc giục, đòi hỏi, khao khát, tìm kiếm, mong muốn bên trong; bao nhiêu ngọn lửa thiêu đốt. Xót xa, cay đắng cho chúng ta; đau khổ cho chúng ta, vì không biết được sự thật thân tâm của mình mà gánh chịu bao nhiêu đau khổ, phiền muộn. Chính vì lẽ đó, mà chúng ta nên để tâm, dốc lòng thực tập nhận rõ cảm giác toàn thân để thấu rõ chính mình, phải thường trực thực tập cảm giác toàn thân, luôn luôn nhận rõ bên trong cơ thể của mình như thế nào.
Nếu nhận ra cảm giác bất thiện hiện hữu, ta phải mạnh mẽ đánh đuổi chúng, không chấp nhận chúng lai vãng đến ngôi nhà tâm hồn của mình. Từ nay tâm của ta là một căn nhà có chủ, ai muốn đến hay đi đều phải có sự đồng thuận của ta, cửa được khóa chặt luôn luôn, gài chốt kỹ lưỡng, đây là tâm có tu học vậy. Bằng sự tu học này, những rác bẩn, cấu uể nội tâm sẽ được gạn lọc, tẩy sạch dần dần; những điều khiến ta sầu bi, khổ, ưu não, đều được gột rửa, thanh lọc.
Bước đầu tiên trên con đường này, hành động gột rửa đầu tiên bắt đầu từ sự thực tập nhận diện cảm giác toàn thân; làm được điều này quý Phật tử sẽ cảm thấy cực kỳ tuyệt vời, vi diệu; mỗi khi có điều gì thay đổi, sắp sửa xuất hiện, biến động ta đều nhận ra ngay lập tức. Giống như có một người đang đi đứng cẩu thả, tự dưng phát hiện có 4, 5 người trừng mắt nhìn họ, lúc này họ sẽ không còn đi đứng tự nhiên như ban đầu nữa, chú tâm sửa lại dáng đi ngay lập tức. Cũng vậy, cảm giác của ta một khi bị phát giác, phát hiện, khi được nhìn nhận, kiểm tra thì nó không dám buông lung, phóng dật không dám tự do hoạt động trong tham – sân – si, vô minh và bản ngã nữa. Đây là lúc trí tuệ được sanh khởi, trí tuệ của kiểm soát, trí tuệ của quản thúc, của hạn chế, đây là sự tu tập trí tuệ tự thân.
Làm được điều này, quý Phật tử sẽ cảm thấy lợi ích cực kỳ thù thắng. Trước đây, mỗi lúc tức giận lên thì ta liền bị cuốn theo nó, nhưng kể từ hôm nay, ta bắt đầu cảm nhận nó ngay tại lồng ngực, kiểm soát, diệt tận nó, tác ý răng “Mi ham giận lắm đúng không? Để được gì hả cảm giác sân hận này, mi đã đốt ta vô số, vô lượng, vô biên, hằng hà sa số kiếp vừa qua, mi đã đốt cháy ta bao nhiêu lần, tới đây là vừa đủ để nhàm chán rồi. Ta đã nhàm chán cảm giác sân hận, thiêu đốt, hủy diệt này quá rồi. Hãy lắng xuống, dịu xuống đi, hãy hạ nhiệt, giải nhiệt đi, hãy tan biến thành mây khói, thành hư không ngay đi. Hãy tan biến hoàn toàn, đừng bao giờ sanh khởi trong tâm ta nữa.”.
Đây là “như lý tác ý” là cây chổi quét rác căn nhà nội tâm; đây là sự tác động tâm ý để đánh đuổi những tham – sân – si, bản ngã, đây chính là cây chổi thần mà Đức Phật đã trao lại cho chúng ta, Ngài dạy rằng: “Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi.”. Nếu không tác động ý đến những cảm giác này, không dùng những lời lẽ mạnh mẽ, kiên quyết để đánh đuổi thì chúng sẽ tồn tại mãi trong tâm. Cũng giống như việc phát hiện được tên ăn trộm lén vào nhà mình, ta phải la lên thì hắn mới hoảng hồn chạy trốn; không thể thấy hắn đến mà nhắm mắt ngủ tiếp. Trong căn nhà nội tâm của mình, mình nhận ra đây là ác, là bất thiện pháp, là tham – sân – si đang thiêu đốt thì phải đánh đuổi nó một cách quyết liệt, mạnh mẽ. Đây còn gọi là chánh tư duy, thánh tư duy, là tuệ lực cùng với “như lý tác ý” một nghĩa vậy. Nếu lúc thiền, cảm thấy đôi mắt sụp xuống mà ta để nó sụp luôn thì đây là hành động của người không biết tu học; ngược lại, ta đánh đuổi thì nó sẽ tan biến. Nếu trong tâm có tham mà ta để yên thì sẽ đưa đến quả thâm, đưa ta càng lún sâu vào đầm lầy của ái dục; lúc này ta phải tác ý, đánh đuổi bọn chúng. Rồi lúc bản ngã sanh khởi lên, chúng ưỡn, trương phình lồng ngực, hất đầu lên thì ta tác ý “Thôi nào hỡi cái bản ngã ác độc kia, mi hại ta bao lâu như vậy chưa đủ hay sao, ta khổ với mi quá rồi, làm ơn cúi mặt xuống giùm ta.”.
“Người tu tâm thật là hiền”, mỗi khi sân giận, bản ngã khởi lên ta liền đọc câu thần chú này, lúc đó thử nhìn xem vẻ mặt của mình trong gương, nhận thấy sự thay đổi của nó có hiền hơn hay không? Tác ý như vậy, ta mới đánh đuổi được những thứ xấu ác, đánh đuổi những thứ khiến thân tâm ta đau khổ; nếu cứ trơ trơ, để yên cho chúng hoành hành, thời chúng sẽ trộm hết những thứ quý giá của mình, lấy sạch cả, từ tiền bạc, của cải đến tình thân, mạng sống. Cần phải luôn luôn tác ý và đánh đuổi những tâm ý ác và bất thiện pháp này trong tâm.
Những điều Minh Thành trình bày ở chương này là công năng, lợi ích của sự thực tập nhận diện cảm giác toàn thân hay trú tâm trên thân.
VI. Nội tâm tỉnh giác:
Pháp thứ ba của sự thiền định của ta là nội tâm tỉnh giác, nghĩa là bất cứ lúc nào có những hình bóng gì hiện lên trong tâm, những lời nói thầm tầm trong đó thì ta đều phải tỉnh táo, sáng suốt nhận ra ngay lập tức. Hình bóng là tưởng uẩn, suy nghĩ lầm thầm là hành uẩn. Lúc đó ta biết rằng thọ, tưởng, thành vận hành như thế nào, nhận biết cảm giác toàn thân, nhận biết hình bóng, suy nghĩ lầm thầm trong tâm; cũng như khi xem tivi, hình ảnh hay đi kèm với âm thanh, người ta diễn bi kịch ta cảm thấy xúc động, cảm thấy vui khi xem hài kịch. Cũng vậy với tâm của ta, mỗi khi có cảm giác sanh khởi, thì sẽ có hình bóng của tưởng và lời nói lầm thầm đi theo của hành, chúng luôn đi với nhau theo một chùm. Nhận rõ ba uẩn này hiện hữu trong tâm chính là nội tâm tỉnh giác.
Phương pháp thực hành ba pháp này Đức Phật dạy ta rất đặc biệt, tuyệt vời; khi dốc lòng thực hành ta mới cảm nhận được sự thần diệu, thù thắng, thần thánh của lời dạy Đức Phật về cách ngồi thiền trong tạng kinh Nikaya. Như vậy, mỗi khi thiền, chẳng những ta phải rõ biết trước mặt, còn cần phải rõ biết những điều đang vận hành bên trong cơ thể, từng hơi thở cảm giác toàn bộ từ đỉnh đầu đến gót chân, rõ biết những gì vận hành bên trong tâm.
Đây chính là sự thực tập thiền thời Đức Phật, chứ không phải thiền là chỉ chú tâm đến một thứ mà thôi, như thế là không đủ. Sự thực tập này, chánh niệm biết rõ trước mặt, đây là cảnh; cảm nhận cảm giác toàn thân, đây là thân; trong nội tâm có hình bóng, suy nghĩ, mình thấy được hết, đây là tâm. Vậy, căn, trần và tâm thức ta đều được rõ biết, nhận rõ. Đây là sự tỉnh giác, chánh niệm và trí huệ của Đức Phật đã dạy trong sự thực hành ba pháp.
Kính thưa quý Phật tử, khi bắt đầu thực hành điều này chúng ta sẽ cảm thấy khó chịu, không quen; chính Minh Thành ngày xưa cũng vậy, nhưng dần dà sẽ thích nghi và thực hành trơn tru những pháp này. Lâu nay ta chỉ quen trú tâm vào môt hơi thở, hay sự phồng xẹp của bụng. Còn sự thực tập này của ta, căn cứ theo mười sáu hơi thở, Đức Phật dạy ta thấy rõ một cách đầy đủ về căn, trần, thức, trí huệ của ta lúc này cực kỳ rõ ràng, sáng tỏ, sáng suốt và bén nhạy. Ghi nhận được tất cả những gì đang diễn ra, đang hiện hữu, có mặt, vận hành trong thân tâm của mình. Đây là trí tuệ giác ngộ, đây mới chính xác là chánh niệm và tỉnh thức trong sự tu hành, thực tập của ta.
Cần phải biết tách bản thân ra khỏi những cảm giác tiêu cực như tê, mỏi, buồn ngủ… bởi chúng chỉ là đơn thuần là cảm giác của mình. Cảm giác này không phải là tôi, không phải của tôi, không phải là tự ngã của tôi. Cảm giác này chỉ là cảm giác, chỉ là cảm thọ trong năm uẩn mà thôi.
Ngưỡng mong quý Phật tử tinh tấn tu hành./.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Quán chiếu: PAGEREF _Toc73600150 \h 1
II. Khổ và nguồn gốc của khổ: PAGEREF _Toc73600151 \h 3
III. Chánh niệm trước mặt: PAGEREF _Toc73600152 \h 5
IV. Cảm giác hơi thở: PAGEREF _Toc73600153 \h 7
V. Cảm giác toàn thân: PAGEREF _Toc73600154 \h 9
VI. Nội tâm tỉnh giác: PAGEREF _Toc73600155 \h 15
I. Quán chiếu:
Lời đầu tiên, Minh Thành xin chân thành tri ân tấm lòng từ bi cao cả của thượng tọa chủ trì chùa Hoằng Pháp, cùng quý Chư tăng cũng như tất cả quý phật tử đã hộ trì cho khóa tu pháp hành Nikaya.
Kính thưa quý thầy, quý sư cô cô cùng toàn thể đại chúng. Kinh tạng Nikaya là lời dạy nguyên bản thuần chất của Đức Phật, bản thân Minh Thành may mắn tìm thấy, học hỏi và hành trì đã mang đến lợi ích thiết thực hiệu quả, đạt được sự bình an ngay trong hiện tại. Chính vì vậy mà hôm nay Minh Thành chia sẻ những lời dạy chân gốc này của Đức Phật đến toàn thể quý Phật tử, để cùng nhau tất cả chúng ta vững tin, vững bước và vững trí đi trên con đường đường bình an, tịnh lạc giữa thế giới đang chìm trong bi thảm và đau khổ này.
Quý Phật tử đang đọc những dòng này trong sự thanh tịnh, trang nghiêm, trong sự bình yên, an ổn. Tuy nhiên, ngoài kia nhiều nước trên thế giới đang quằn quại, bi thảm, thống khổ và người dân của những nước này phải đang gánh chịu những nỗi khổ hết sức to lớn. Tính đến ngày 28 tháng 07 năm 2020, trên cả thế giới tổng cộng có hơn 16 triệu ca nhiễm virus Covid - 19 với gần 660 nghìn người tử vong, những thân xác bị chứa trong bao đựng rác, bị quăng bỏ trong những hố chôn tập thể lớn bằng sân vận động. Rồi đến những thiên tai lũ lượt kéo đến như cháy rừng, băng tan, hạn hán, động đất, lũ lụt kinh hoàng 100 năm có một đang diễn ra tại Trung Quốc, suy thoái kinh tế... Bao nhiêu hoàn cảnh con mất cha mẹ, vợ mất chồng, anh mất em, bà mất cháu... bao nhiêu cảnh khổ tràn ngập khắp mọi nơi. Toàn thế giới đang sống trong giai đoạn khủng hoảng, lo lắng, sợ hãi, bất an và đau khổ nhất từ trước đến nay.
Cùng với đó là lòng tham dục của con người đang ngày càng trở nên mạnh mẽ mãnh liệt, lòng ham muốn, tham dục, tham vọng của con người đang trở nên khủng khiếp hơn bao giờ hết. Hàng ngày, trên thế giới diễn ra rất nhiều những vụ án hình sự từ cướp giật, trộm cắp, chém giết sát hại lẫn nhau, thậm chí giữa anh với em, con với cha mẹ đều sẵn sàng hạ thủ không nương tay. Sự sân hận ngập trời, chỉ vì vài tấc đất mà dẫn đến cảnh huynh đệ tương tàn, đầu rơi máu chảy, bỏ lại phía sau bốn, năm mạng người và cảnh tù tội chung chân.
Chưa dừng lại ở đó, bản ngã của con người cũng được tăng trưởng mỗi ngày, một cái tôi - cái ta cực kỳ to lớn; rồi vô tình hay cố ý mang lại sự đau đớn cho bạn bè, người thân. Con người vì tham, sân, si, vô minh và bản ngã mà dày xéo thân tâm, hành hạ lẫn nhau bằng những lời cộc cằn, gay gắt, ác độc, đay nghiến. Để rồi tất cả sống trong nước mắt, đau buồn, sống trong tức giận và thù hận ngập trời.
Và như thế lòng tham được phát triển; lòng sân hận được hừng cháy, thiêu đốt nơi nội tâm; cùng một cái tôi, cái ngã trương phình to lớn theo từng ngày. Con người hiện nay bị quấn chặt, vây kín, bị giam cầm bởi ngục tù tham – sân – si, vô minh và bản ngã. Họ không biết con đường thoát khỏi tù ngục này, không biết đạo lộ thật sự của sự xuất ly đau khổ và bao nhiêu năm họ loanh quanh, lẩn quẩn trong ham muốn, tức giận, kiêu căng. Chúng ngày đêm thiêu đốt, nung chảy tâm can con người, đến khi quay lại đối diện với chính mình thì hỡi ôi là một sự ê chề, ngao ngán, chán nản. Vì sợ hãi mà họ lại tiếp tục chạy ra bên ngoài, tìm xem người nào có thể hỗ trợ, cứu giúp mình thoát khỏi sự đau khổ đang dằn xéo này; họ cầu xin, váy lạy, mong mỏi đợi chờ.
II. Khổ và nguồn gốc của khổ:
Bao lâu nay chúng ta vẫn vái lạy, cầu sự bình an, xin được bớt khổ; nhưng cái khổ vẫn y nguyên ở đó không hề suy giảm. Lý do là bởi vì chưa đi đúng hướng, chưa nhắm thẳng vào hồng tâm thoát ly đau khổ theo lời dạy của Đức Phật, Ngài dạy rằng “Này các Tỳ-kheo, này các vị, xưa là nay, Như Lai chỉ nói sự khổ và phương pháp diệt tận khổ đau mà thôi.”. Theo lời dạy này của Đức Phật, sau khi diệt khổ thì an vui sẽ hiện hữu, vậy mà bấy lâu ta luôn truy cầu hạnh phúc trong sự u mê không biết nguồn gốc sự khởi phát của đau khổ. Ví như một người bị bệnh phải tìm đến bác sỹ để được xét nghiệm, tìm hiểu về nguyên nhân của căn bệnh, sau đó mới có thể điều trị một cách hợp lý, đúng thuốc đúng bệnh. Ấy thế mà ta vẫn mong cầu được khỏe trong khi không dốc tâm trị bệnh, không chấp nhận được xét nghiệm, kiểm tra và uống thuốc; cũng như thế, ta không hề biết được điều gì khiến bản thân đau khổ mà cứ muốn được an vui, vì si ám như vậy mà ta tìm đến liều thuốc giảm đau là những niềm vui thú tạm thời, nhưng ta đâu biết với những thú vui ngoài kia, càng vui là càng khổ.
Chính vì lẽ đó mà trọng tâm kinh tạng Nikaya là giúp cho ta quay trở lại, nhìn thấy được thân tâm, tự thân, thấy được chính mình; từ đó thấu hiểu chính mình, thấu rõ ngọn nguồn của căn bệnh đang khiến bản thân đau khổ, nhận rõ nguyên nhân của đau khổ; để điều trị và chế ngự chúng. Như vậy, điều đầu tiên cần thực hiện là nhận ra nguyên nhân, tiếp theo là nhiếp phục, chế ngự và cuối cùng là chấm dứt, thời đau khổ được đoạn tận, ta được an vui. Đây là ý nghĩa cốt lõi của kinh tạng Nikaya vậy.
Kính thưa quý Phật tử, nguyên nhân của khổ đau không nằm ở bên ngoài, nó nằm chính tại bên trong, tại thân tâm của mỗi người chúng ta. Vì lẽ đó, Minh Thành luôn nhắc nhớ chúng ta thực tập ba pháp, cảm nhận thân tâm; đây là việc cực kỳ quan trọng trên con đường diệt khổ. Đây là pháp hành đi thẳng vào sự thực tập, bởi ta đã nghe đọc pháp quá nhiều nhưng cực kỳ thiếu sự thực hành, thậm chí có vị Phật tử đã nghe pháp từ trước khi Minh Thành xuất gia, cả một bụng kinh sách; tuy nhiên hễ có người động chạm đến thì cách hành xử vẫn như người không tu.
Ở bài viết này, pháp hành đầu tiên Minh Thành hướng dẫn quý Phật tử chính là thực tập quay về nội tâm để cảm nhận chính mình, quý Phật tử cần phải nhận rõ một sự thật rằng: nếu không biết mình, không hiểu mình thì tất cả những hiểu biết bên ngoài đều là vô nghĩa. Thân thể này do những gì cấu thành còn chưa nhận rõ, tâm mình chứa những gì ở trong còn chưa biết; ngay cả chính bản thân còn chưa hiểu hết thì làm sao có thể hiểu sâu sắc những thứ bên ngoài. Nếu có ai hỏi rằng “tâm là gì?” thì lật sách, mở sổ, nhăn mặt nhíu mày, nhắm mắt, đăm chiêu suy nghĩ để tìm câu trả lời; chính tâm của mình còn chưa biết, nhưng những thị phi xung quanh, từ chuyện xóm trên đến ngõ dưới ta điều biết rõ cặn kẽ, đây là điều hết sức nguy hiểm.
Sự tu học y cứ theo kinh Nikaya là tìm hiểu tự thân chính mình; ở đây gồm ba pháp hành: thứ nhất là chánh niệm trước mặt, thứ hai cảm giác toàn thân, thứ ba nội tâm tỉnh giác; đây là sự tập quay về nội tâm, nhận diện bản thân chính mình.
III. Chánh niệm trước mặt:
Cần phải thực tập điều này là bởi từ xưa đến nay ta chỉ biết nhận diện những thứ bên ngoài, chưa hề hoặc rất hiếm khi nhìn lại bản thân. Ở phần này Minh Thành xin giải thích tại sao khi ngồi thiền ta không nên nhắm mắt. Một số Phật tử có thói quen nhắm mắt mỗi khi ngồi thiền, nay thực tập theo pháp này sẽ có nhiều thứ không giống như thói quen, ta cần phải chú tâm sửa đổi. Bởi vì suốt một ngày làm việc mệt mỏi, đến tối khi chúng ta ngồi thiền trước bàn Phật theo hơi thở vào ra, mắt nhắm, lúc này bài cơn buồn ngủ sẽ rất dễ ập đến. Đây là si ám, là hôn trầm, còn nếu tỉnh táo không ngật gù thì trong tâm là những hình bóng này kia kéo đến, dẫn dắt ta đi ra khỏi sự thiền định. Mỗi khi nhắm mắt là ta dễ đi vào trạng thái của tưởng, hình bóng, lời nói thì thầm lũ lượt xuất hiện, đi vào trạng thái của sự lơ mơ, đờ đẫn. Hôn là tối tăm, trầm là chìm vào, khi nhắm mắt lại, ta sẽ dễ bị chìm vào nơi tắm tối. Chính vì vậy, sự thực tập thiền định của ta tuyệt đối không nhắm mắt, khi nghe pháp cũng không được nhắm mắt; chỉ một vài phút nhắm mắt là ta sẽ đi vào chỗ mê muội.
Không có phương pháp tu hành nào khi ngồi thiền ép buộc ta phải nhắm mắt, chỉ một chốc thôi là si ám, hôm trầm, vô minh hoặc tưởng kéo đến. Ở trong những thứ này, chúng kéo ta đi từ chỗ này đến nơi khác. Mỗi khi buồn ngủ kéo đến thì ta phải dốc lòng mở to đôi mắt, mở lớn hết cỡ; cần phải nhớ và thực hành được điều này thì ta mới có thể tu học theo kinh tạng Nikaya, nếu không thực hành được pháp này, theo thói quen mà nhắm mắt thì ta mãi không đến được đích trí tuệ mà sẽ đến nơi của tối tăm và si ám.
Thêm một điểm lưu ý nữa là khi mở mắt ta không được trú tâm vào một điểm, một vật nào ở trước mặt; bởi nếu làm như vậy một lúc thời ở chỗ đó sẽ xuất hiện hình bóng chập chờn của sự tưởng tượng. Khi thực hành chánh niệm ở trước mặt, Đức Phật dạy ta rõ biết mở rộng tầm nhìn hết mức sang hai bên, tạo nên một ánh nhìn tổng thể. Quý Phật tử cần phải nhớ thật kỹ hai điểm này, một là không nhắm mắt, hai là không trú vào bất cứ một điểm hay vật nào trước mặt mà mở rộng tầm mắt sang hai bên, điều này Đức Phật dạy là đặt niệm trước mặt, chánh niệm trước mặt hay rõ biết trước mặt. Đây là hai yếu tố cực kỳ trọng yếu, vì khi thiền là lúc bản thân tỉnh táo, sáng suốt nhưng nếu ta không biết trước mặt có gì, đây là một sự tối tăm mịt mù vậy; và khi thực hành không đúng, lúc thiền ta sẽ còn tối tăm hơn lúc không thiền.
Bình thường khi ta không nhắm mắt, với mỗi vật thể như bông hoa, chai nước, hòn đá trước mặt ta điều thấy biết rõ, nay nhắm mắt thì còn thấy được điều gì. Cho nên khi mở mắt, Đức Phật dạy là chánh niệm, rõ biết trước mặt, đặt niệm trước mặt để cảm nhận thực tại; cảm nhận sự thật ngay trong giây phút hiện tại, trước mặt có gì phải thấy rõ; bởi ngồi thiền cần sự tỉnh táo, sáng suốt, trí tuệ hơn khi không thiền. Đây là yếu tố đầu tiên mà ta phải nắm kỹ khi thực hành thiền định. Quý Phật tử cần lưu ý kỹ sự thực tập này.
IV. Cảm giác hơi thở:
Pháp hành tiếp theo là quay trở về cảm nhận hơi thở, để từ đây cảm nhận được cảm giác của toàn thân. Tất cả pháp này, Đức Phật dạy với mục đích để ta quay trở về nhận diện bản thân, thực tập để khám phá tự thân của mình.
Quý Phật tử cần quán chiếu rằng, những bệnh nhân đang mang trong người căn bệnh Coivd 19 họ rất mong có thể được thở một cách bình thường. Bấy lâu nay ta sống nương nhờ nơi hơi thở mà không cảm thấy trân quý điều này, cứ lo tìm những thức ăn ngon, quần áo đẹp, nơi ở sang trọng, địa điểm vui chơi náo nhiệt. Ta không nhận ra rằng những thứ này muôn phần không quan trọng bằng không khí trong lành, bởi ta có thể nhịn ăn vài ngày, không mặc vài hôm, không đi chơi vài tuần nhưng không thể ngưng thở vài phút. Hơi thở quan trọng là vậy mà ta lại quên lãng, ngay cả khi thiền cũng không chịu quay về đặt tâm nơi hơi thở. Chính vì lẽ đó, nay nương theo lời dạy của Đức Phật ta quay trở về, trở về với thứ trân quý nhất của mình, cảm nhận và hiểu được sự quan trọng của hơi thở, cảm nhận sự hiện hữu của hơi thở mà bao lâu ta đã quên lãng.
Quý Phật tử cần phải hiểu rằng, còn thở là còn sự sống, còn được khỏe mạnh, thở mà không cần sự hỗ trợ của máy móc là một niềm hạnh phúc vô bờ. Vậy mà ta không nhớ, không biết rằng bản thân may mắn được hít thở, chỉ nhớ điều không tốt của người, nhớ sự bực tức, sân hận với người này người kia, lo lắng hôm nay không kiếm được nhiêu tiền bằng hôm qua... toàn lo toan những thứ ngoài thân, không thiết thực. Chính vì vậy, khi thiền, ta để tâm cảm nhận hơi thở, cảm nhận hơi thở đang vào ra khỏi thân, cảm nhận cảm giác toàn bộ châu thân, làm cho thân tâm lắng dịu, từ đó hiểu mình, hiểu cảm giác của thân. Đây là sự thực tập tiếp theo của Nikaya.
Sau khi quan sát hơi trở, cảm nhận những giây phút an tịnh, lắng dịu, làm cho thân tâm tĩnh lặng, bình an. Thực tập điều này mục đích là để trấn áp sự lăng xăng, rộn ràng, vội vàng, tất bật mà bấy lâu nay ta vẫn sống chung với chúng; trấn áp những điều là đối trọng của sự bình an. Quý Phật tử cần phải quán xét rằng, thiền định là giây phút thiêng liêng, thần thánh, vi diệu và quý báu nhất của một kiếp người; ta cần trâng trọng, nâng niu giây phút này, thiền bằng tất cả trái tím, tất cả tấm lòng. Xem đây là giây phút thần thánh, tối thượng, thù thắng nhất cuộc đời vì bao nhiêu những giây phút khác, chúng ta đã dành để theo đổi ngoại trần, tất bật với cơm áo gạo tiền, với danh lợi bên ngoài, bên trong thì vướng bận với tham – sân – si, bản ngã, hơn thua, ganh tỵ, đố kỵ… Hiện hữu một giây phút để an tịnh, lắng dịu thân tâm; ngọt ngào là những giây phút này, thiêng liêng, vi diệu, thần thánh là những giây phút này đây.
Quý Phật tử hãy thiền bằng tất cả trái tim, bằng tất cả tấm lòng của mình, thiền bằng sự tỉnh giác, chánh niệm, sáng suốt; trọn vẹn trong từng giây phút thiền, không để phí phạm bất cứ giây phút nào cho những ý nghĩ, hình bóng lăng xăng bên ngoài. Quán chiếu rằng giờ phút này là của chính chúng ta, trong lúc ngoài kia bao nhiêu hoàn cảnh thống khổ, chết chóc, bệnh hoạn; đây là giờ phút phúc lạc, phước lành, thù thắng của cuộc đời; trân quý từng giờ phút để sau này chúng ta sẽ không hối hận.
V. Cảm giác toàn thân:
Sau khi cảm nhận hơi thở, ta tiến tới thức tập cảm giác toàn thân. Như đã bàn ở trên, bấy lâu nay ta dành toàn bộ thời gian của mình để đi tìm những cảm giác bên ngoài, đôi mắt luôn chạy theo cái đẹp để tìm cảm giác, tai nghe tiếng hay, miệng tìm thức ăn ngon để cảm thấy thích thú, khoan khoái… tất cả những việc làm này đều với mục đích đi tìm cảm giác bên ngoài của những đối tượng, dục lạc ngoài thân. Khi thực tập cảm giác toàn thân, ta trở về cảm nhận cơ thể của chính mình; thực tập bằng cách cảm nhận cảm giác ở đỉnh đầu, mặt, cổ, vai, cảm nhận cảm giác ở thân, mông, chân, bàn chân, lòng bàn chân; cảm nhận từng bộ phận của cơ thể từ đỉnh đầu đến gót chân. Đây là khi tra trở về với chính mình, cảm nhận để hiểu, để biết những gì đang hiện hữu, diễn ra bên trong ta.
Bằng sự thực tập cảm giác toàn thân, ta được quay trở về với chính mình. Quý Phật tử hãy cảm nhận thật sâu sắc, tròn trịa, đầy đủ, trọn vẹn cảm giác của toàn bộ cơ thể này; cảm nhận thứ cảm giác mà bấy lâu nay ta quên lãng. Nếu không thực tập cảm giác toàn thân, thì tâm của ta không có chỗ an trú; lúc này tâm của ta là một cái tâm vô gia cư, lang thang từ đầu làng cuối ngõ, lang thang ở Hà Nội, Sài Gòn, Châu Âu, Châu Úc, từ Mỹ đến Tàu… lang thang khắp nơi, không nơi để trở về, không có chỗ để an trú. Cảm nhận cảm giác toàn thân tức là khi tâm của ta an trú trên thân hay còn gọi là định tâm trên thân, một cái tâm có nhà. Ngược lại, là tâm không được an trú, ngày đêm lang bạt, vất vưởng… giống như một cô hồn lang thang từ nơi này đến nơi khác; dù ta ngồi yên tĩnh tại đây, nhưng tâm không chịu yên, tâm hướng ngoại suốt cả cuộc đời, phiêu bạt khắp chốn. Vậy, khi ta mang tâm quay trở về trên thân, cảm nhận cảm giác toàn thân của mình, chính là lúc tâm được an trú (trên thân).
Đức Phật dạy rằng “Tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ.”, muốn biết tâm đang có gì ở trong, ta chỉ cần quan sát cảm giác sẽ nhận rõ tất cả, cảm giác chính là kho chứa của tâm. Vì vậy, một khi đã an trú tâm trên cảm giác toàn thân, quý Phật tử sẽ cảm nhận một điều kỳ diệu chưa tùng có. Bao lâu ta vẫn biết rằng tu học là diệt trừ tam độc tham – sân – si, nhưng tham – sân – si ở đâu thì ta không biết; hôm nay bằng sự thực tập cảm nhận cảm giác toàn thân ta biết được tham – sân – si cư ngụ nơi đâu.
Ở bài viết bàn về ngũ uẩn, Minh Thành đã hướng dẫn cho quý Phật tử rằng “tâm” này được cấu tạo từ bốn uẩn gồm: thọ, tưởng, hành, thức; trong đó, thọ (hay cảm thọ) là nơi cư ngụ của tham –sân –si. Bằng sự cảm nhận cảm giác toàn thân, ta sẽ nhận rõ sự sinh khởi của ba loại cảm giác này, từ đó diệt tận chúng, từ đây sự bình an, hạnh phúc được snah khởi. Thật vậy, chẳng hạn khi tức giận, ta sẽ nhận ra bắt đầu ngay tại lồng ngực của mình có một cơn nóng râm ran, tiếp đến chúng bốc lên khiến cho cả khuôn mặt đỏ hồng, mắt mờ, hai tai nóng ran, gương mặt chuyển từ vàng sang đỏ; ngay tại lúc đó ta biết rằng cảm giác toàn thân ta đang thay đổi, biến động; để từ đây nhiếp phục cơn giận đang sanh khởi, lúc này ta tách mình ra khỏi cơn giận, không để chúng điều khiển, nhấn chìm. Nếu không có sự thực tập cảm giác toàn thân, một khi cơn giận bốc lên, ta liền nhập cuộc với nó, cho rằng “tôi đang giận”; mà không hề hay biết rằng nếu đúng phải nói rằng “tôi đang có một cảm giác giận, nó đang muốn xâm chiếm lấy tôi, hiện tại nó đang ở tại lồng ngực của tôi, thiêu đốt lồng ngực tôi, nó đang hừng hực, chuẩn bị bốc lên gương mặt tôi, lên lỗ tai, đôi mắt và cái miệng của tôi bắt đầu giật.”.
Có sự tu tập và thực hành cảm giác toàn thân, mỗi khi vừa có sự thay đổi nhỏ nơi lồng ngực là ta nhận thấy ngay lập tức, nhận ra rằng “con ma sân này tới rồi”; từ đây chặn đứng nó, không để nó tiếp tục phát triển nữa. Khi cơn giận vừa phát khởi, ta nhận rõ thì sẽ có cách nhiếp phục, nếu không có sự thực tập cảm giác toàn thân, khi nó sanh khởi, ta đồng nhất rằng “tôi đang giận”, “cơn giận này là tôi”, thời bấy giờ nó sẽ dẫn ta đi đến chỗ tình thân bị chia rẽ xa hơn là tan nhà, nát cửa, tù ngục... hậu quả không thể tưởng tượng được. Đây chính là khổ, là nguyên nhân của khổ vậy. Chính những điều này, vì khả năng mang lại lợi ích và phòng tránh tác hại mà sự thực tập cảm giác toàn thân mang lại cho bản thân cũng như mọi người, Minh Thành chân thành kính mong quý Phật tử thường thường, luôn luôn đốc lòng thực tập.
Từ trước đến này, ta được học rằng sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, yêu mà không gặp là khổ, ghét mà gặp là khổ, cầu không được là khổ, chấp thủ vào năm uẩn là khổ; nhưng ta không biết cách làm bản thân hết khổ. Vậy mới thấy, bao lâu ta chỉ toàn đọc chữ, giờ này mới nhận ra cái khổ đang ở trong lồng ngực nóng bừng, cái miệng đang co giật đó mà thôi, không đâu xa xôi cả. Thấy được điều này là thấy nguyên nhân của khổ, đây là con đường của tạng kinh Nikaya; hết sức thực tế, rõ ràng và thiết thực ngay trong hiện tại. Chính vì lẽ đó mà kể từ hôm nay, quý Phật tử hãy dốc lòng thực hành cảm giác toàn thân, luôn luôn để tâm quán sát những gì đang diễn ra nơi thân tâm của mình, không chỉ riêng những lúc ngồi thiền mới thực tập, mà bất cứ nơi đâu, luôn luôn an trú cảm giác toàn thân.
Ở trên là Minh Thành bàn về tâm “sân”, còn về tâm “tham” thì sao? Nhận diện cảm giác “tham” như thế nào?
Kính thưa quý Phật tử, tâm “tham” cũng cư ngụ ngay tại lồng ngực, nó khiến ta bịn rịn, lưu luyến, làm cho ta không muốn rời xa thứ mà mình yêu thích. Hình ảnh về món đồ, món ăn, âm thanh, mùi vị mà ta thích thú cứ mãi được nhớ đến, hiện lên liên tục trong tâm ta với những suy tư lầm thầm. Chẳng hạn cảm giác lưu luyến, da diết, xao xuyến nhớ về người cháu nội không thôi là đủ để khiến tâm ta dao động, kéo ta từ nơi tu học ở chùa về nhà; hay hình bóng căn nhà, đồ vật, thú vui hiện ra khiến ta không thể tinh tấn tu hành. Thường ngày ta thích điều gì, tham cái gì, ái cái gì thì ngay tại cảm giác, nghĩ tưởng sẽ mãi hiện ra như thế ấy; làm ta chao đảo không yên. Bằng sự thực tập cảm giác toàn thân, nội soi chính mình mà ta nhận ra điều này, từ đó đánh đuổi nó, làm cho nó không còn hiện hữu nơi tâm, để lại một tâm bình lặng, an tịnh; đây chính là sự thực hành của tạng kinh Nikaya. Nếu không quyết định, quyết chí trở về bản thân, nhìn vào bên trong bản thân mà cứ mãi chạy theo những hình bóng bên ngoài thì ta sẽ đi vào vô minh, quên lãng, không biết tại sao bứt rứt, nôn nao, tại sao ta khổ; vô minh, đau đớn và cay đắng cho những ai không nhận thức được điều này.
Cuối cùng là tâm “si”, hay cảm giác “si”; để nhận biết tâm si đang có mặt, ta chỉ cần cảm giác đôi mắt. Thông thường, bất kỳ hình bóng nào được tưởng uẩn tạo nên, suy tư được hành uẩn tạo nên, sự rõ biết được thức uẩn nhận thấy đều đến rồi đi rất nhanh chóng, lướt qua tâm của mình; tuy nhiên cảm giác thì tồn tại dài lâu trên thân; đây là chỗ đặc biệt của cảm thọ vậy, chính vì vậy mà cảm giác là cầu nối giữa thân và tâm. Mỗi khi trông thấy một người lơ ngơ, si dại ta liền nhận rõ được trạng thái thân tâm của họ lúc này; chẳng hạn một cá nhân ngồi thiền mà cổ nghiêng một bên, đôi mắt sụp xuống, miệng trễ hai bên… ta liền nhận ra người này đang hôn trầm; đương nhiên người này không muốn bản thân rơi vào hôn trầm, nhưng họ vẫn bị rơi vào trong đó. Là bởi vì người này không thực hành an trú cảm giác toàn thân, người này không biết rằng “si” ám đang lấn chiếm, xâm nhập, khống chế thân tâm mình; thay vào đó họ cho rằng mình đang buồn ngủ, đang hôn trầm. Bằng sự thực tập này, mỗi khi đôi mắt sụp xuống, ta liền nhận ra và tác ý “không xong, con ma ngủ đã tới, cần phải xử lý nó ngay lập tức”, “ngươi hãy biến đi, đây là chỗ ta thiền định, hãy để yên cho ta tu học, đây là giờ tu hành, không phải là giờ ngủ.”, “mi đã ngủ 40, 50 năm rồi vẫn thấy chưa đủ sao? Muốn ngủ nữa để đời sau rơi vào đường ác đúng không? Tỉnh táo, sáng suốt, tinh tấn nào tâm ơi.”; vừa tác ý vừa mở to đôi mắt, đánh đuổi cảm giác đang ập đến. Tác ý mạnh mẽ như thế gọi là “như lý tác ý”, được vậy con ma ngủ sẽ chạy mất, nội tâm được sáng rõ, ta tu tập tinh tấn, dũng mãnh.
Đây là lợi ích, là công năng của thực tập nhận diện cảm giác toàn thân; không phải vô cớ mà Đức Phật dạy ta an trú tâm trên thân, cảm nhận sự thay đổi của thân tâm này. Kể ra vậy mới thấy, bao lâu ta đã lãng quên, không chăm sóc cho nội tâm của mình, để cho lòng thù hận xâm chiến, tàn phá, thiêu đốt bản thân và mọi người. Thậm chí có những cảnh đau khổ cùng cực với những người giận nhau suốt mấy mươi năm, con giận cha mẹ, anh giận em, vợ giận chồng… sân hận tàn phá suốt 20, 30 năm; mỗi lần đặt lưng xuống giường là đay nghiến, căm thù, không sao kể xuyết sự đau khổ của họ. Anh giận em trai chỉ ba ngày thôi là đủ để thấy đau khổ, ăn không ngon, ngủ không yên, sút cân… đằng này có người giận nhau suốt 30 năm liền, không thể tưởng tượng được sự đau khổ đến mức nào.
Bởi vì bản thân những người này không biết tu học, không đủ duyên để biết đến sự tập cảm giác toàn thân, để cho chúng tha hồ tàn phá, tàn hại, phá hoại chính mình, mang lại sự đau đớn cho mình và người. Bao lâu nay tâm ta là một mái là hoang, bất kể ai đến, ai đi đều được, cảm giác bực tức đến ta cũng chấp nhận; tham đến gõ cửa mình vẫn cho vào; rồi đến si ám cũng thế; bản ngã cũng vậy. Chính những thứ này làm chủ ta bao lâu, tàn phá thân tâm suốt 30, 70 năm liền. Cho đến ngày nhắm mắt xuôi tay, những gì ta tạo ra trong nghiệp thức của mình là một núi ác nhân, ác quả; đầy dẫy trong đó là tham dục, sân hận, si ám và bản ngã. Suốt một cuộc đời 60, 70 năm giành giật, ganh tỵ, đố kỵ, hơn thua, mưu tính… cuối cùng thành tích chung cuộc, thành quả cuối cùng của những hành động này là một nắm tro tàn, một bộ xương khô, một nấm mồ của đất. Đây mới chỉ bàn về sắc uẩn, còn nội tâm, thọ, tưởng, hành, thức thì sao, tâm thức ta sẽ đi về đâu sau khi thân hoại mạng chung với những ác nghiệp như vậy? Có lẽ là đị ngục, ngạ quỷ hay bàng sang vậy.
Đây chính là sự đau khổ mà bấy lâu ta gánh chịu; do không nhìn thấy thân tâm của mình, không biết yêu thương bản thân, thật sự không biết yêu thương. Ngay cả chính mình là ai ta còn không biết, làm sao ta có thể yêu thương bản thân một cách sâu sắc, chăm sóc bản thân một cách cẩn thận, chu đáo được. Nội tâm trải qua 30, 70 năm cuộc đời, là một nội tâm đầy rác bẩn, chất chứa đầy những ô uế trong đó; chẳng khác nào một ống cống; động đến là tuôn ra những lời sân giận, hiềm hận, hơn thua, tự làm mình và những người xung quanh đau khổ.
Thật đáng thương xót cho chúng ta, xót xa thay, đau khổ thay cho chúng ta. Với một nội tâm đầy rẫy những cấu uế, ô nhiễm, những tham muốn tà ác, những thúc giục, đòi hỏi, khao khát, tìm kiếm, mong muốn bên trong; bao nhiêu ngọn lửa thiêu đốt. Xót xa, cay đắng cho chúng ta; đau khổ cho chúng ta, vì không biết được sự thật thân tâm của mình mà gánh chịu bao nhiêu đau khổ, phiền muộn. Chính vì lẽ đó, mà chúng ta nên để tâm, dốc lòng thực tập nhận rõ cảm giác toàn thân để thấu rõ chính mình, phải thường trực thực tập cảm giác toàn thân, luôn luôn nhận rõ bên trong cơ thể của mình như thế nào.
Nếu nhận ra cảm giác bất thiện hiện hữu, ta phải mạnh mẽ đánh đuổi chúng, không chấp nhận chúng lai vãng đến ngôi nhà tâm hồn của mình. Từ nay tâm của ta là một căn nhà có chủ, ai muốn đến hay đi đều phải có sự đồng thuận của ta, cửa được khóa chặt luôn luôn, gài chốt kỹ lưỡng, đây là tâm có tu học vậy. Bằng sự tu học này, những rác bẩn, cấu uể nội tâm sẽ được gạn lọc, tẩy sạch dần dần; những điều khiến ta sầu bi, khổ, ưu não, đều được gột rửa, thanh lọc.
Bước đầu tiên trên con đường này, hành động gột rửa đầu tiên bắt đầu từ sự thực tập nhận diện cảm giác toàn thân; làm được điều này quý Phật tử sẽ cảm thấy cực kỳ tuyệt vời, vi diệu; mỗi khi có điều gì thay đổi, sắp sửa xuất hiện, biến động ta đều nhận ra ngay lập tức. Giống như có một người đang đi đứng cẩu thả, tự dưng phát hiện có 4, 5 người trừng mắt nhìn họ, lúc này họ sẽ không còn đi đứng tự nhiên như ban đầu nữa, chú tâm sửa lại dáng đi ngay lập tức. Cũng vậy, cảm giác của ta một khi bị phát giác, phát hiện, khi được nhìn nhận, kiểm tra thì nó không dám buông lung, phóng dật không dám tự do hoạt động trong tham – sân – si, vô minh và bản ngã nữa. Đây là lúc trí tuệ được sanh khởi, trí tuệ của kiểm soát, trí tuệ của quản thúc, của hạn chế, đây là sự tu tập trí tuệ tự thân.
Làm được điều này, quý Phật tử sẽ cảm thấy lợi ích cực kỳ thù thắng. Trước đây, mỗi lúc tức giận lên thì ta liền bị cuốn theo nó, nhưng kể từ hôm nay, ta bắt đầu cảm nhận nó ngay tại lồng ngực, kiểm soát, diệt tận nó, tác ý răng “Mi ham giận lắm đúng không? Để được gì hả cảm giác sân hận này, mi đã đốt ta vô số, vô lượng, vô biên, hằng hà sa số kiếp vừa qua, mi đã đốt cháy ta bao nhiêu lần, tới đây là vừa đủ để nhàm chán rồi. Ta đã nhàm chán cảm giác sân hận, thiêu đốt, hủy diệt này quá rồi. Hãy lắng xuống, dịu xuống đi, hãy hạ nhiệt, giải nhiệt đi, hãy tan biến thành mây khói, thành hư không ngay đi. Hãy tan biến hoàn toàn, đừng bao giờ sanh khởi trong tâm ta nữa.”.
Đây là “như lý tác ý” là cây chổi quét rác căn nhà nội tâm; đây là sự tác động tâm ý để đánh đuổi những tham – sân – si, bản ngã, đây chính là cây chổi thần mà Đức Phật đã trao lại cho chúng ta, Ngài dạy rằng: “Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi.”. Nếu không tác động ý đến những cảm giác này, không dùng những lời lẽ mạnh mẽ, kiên quyết để đánh đuổi thì chúng sẽ tồn tại mãi trong tâm. Cũng giống như việc phát hiện được tên ăn trộm lén vào nhà mình, ta phải la lên thì hắn mới hoảng hồn chạy trốn; không thể thấy hắn đến mà nhắm mắt ngủ tiếp. Trong căn nhà nội tâm của mình, mình nhận ra đây là ác, là bất thiện pháp, là tham – sân – si đang thiêu đốt thì phải đánh đuổi nó một cách quyết liệt, mạnh mẽ. Đây còn gọi là chánh tư duy, thánh tư duy, là tuệ lực cùng với “như lý tác ý” một nghĩa vậy. Nếu lúc thiền, cảm thấy đôi mắt sụp xuống mà ta để nó sụp luôn thì đây là hành động của người không biết tu học; ngược lại, ta đánh đuổi thì nó sẽ tan biến. Nếu trong tâm có tham mà ta để yên thì sẽ đưa đến quả thâm, đưa ta càng lún sâu vào đầm lầy của ái dục; lúc này ta phải tác ý, đánh đuổi bọn chúng. Rồi lúc bản ngã sanh khởi lên, chúng ưỡn, trương phình lồng ngực, hất đầu lên thì ta tác ý “Thôi nào hỡi cái bản ngã ác độc kia, mi hại ta bao lâu như vậy chưa đủ hay sao, ta khổ với mi quá rồi, làm ơn cúi mặt xuống giùm ta.”.
“Người tu tâm thật là hiền”, mỗi khi sân giận, bản ngã khởi lên ta liền đọc câu thần chú này, lúc đó thử nhìn xem vẻ mặt của mình trong gương, nhận thấy sự thay đổi của nó có hiền hơn hay không? Tác ý như vậy, ta mới đánh đuổi được những thứ xấu ác, đánh đuổi những thứ khiến thân tâm ta đau khổ; nếu cứ trơ trơ, để yên cho chúng hoành hành, thời chúng sẽ trộm hết những thứ quý giá của mình, lấy sạch cả, từ tiền bạc, của cải đến tình thân, mạng sống. Cần phải luôn luôn tác ý và đánh đuổi những tâm ý ác và bất thiện pháp này trong tâm.
Những điều Minh Thành trình bày ở chương này là công năng, lợi ích của sự thực tập nhận diện cảm giác toàn thân hay trú tâm trên thân.
VI. Nội tâm tỉnh giác:
Pháp thứ ba của sự thiền định của ta là nội tâm tỉnh giác, nghĩa là bất cứ lúc nào có những hình bóng gì hiện lên trong tâm, những lời nói thầm tầm trong đó thì ta đều phải tỉnh táo, sáng suốt nhận ra ngay lập tức. Hình bóng là tưởng uẩn, suy nghĩ lầm thầm là hành uẩn. Lúc đó ta biết rằng thọ, tưởng, thành vận hành như thế nào, nhận biết cảm giác toàn thân, nhận biết hình bóng, suy nghĩ lầm thầm trong tâm; cũng như khi xem tivi, hình ảnh hay đi kèm với âm thanh, người ta diễn bi kịch ta cảm thấy xúc động, cảm thấy vui khi xem hài kịch. Cũng vậy với tâm của ta, mỗi khi có cảm giác sanh khởi, thì sẽ có hình bóng của tưởng và lời nói lầm thầm đi theo của hành, chúng luôn đi với nhau theo một chùm. Nhận rõ ba uẩn này hiện hữu trong tâm chính là nội tâm tỉnh giác.
Phương pháp thực hành ba pháp này Đức Phật dạy ta rất đặc biệt, tuyệt vời; khi dốc lòng thực hành ta mới cảm nhận được sự thần diệu, thù thắng, thần thánh của lời dạy Đức Phật về cách ngồi thiền trong tạng kinh Nikaya. Như vậy, mỗi khi thiền, chẳng những ta phải rõ biết trước mặt, còn cần phải rõ biết những điều đang vận hành bên trong cơ thể, từng hơi thở cảm giác toàn bộ từ đỉnh đầu đến gót chân, rõ biết những gì vận hành bên trong tâm.
Đây chính là sự thực tập thiền thời Đức Phật, chứ không phải thiền là chỉ chú tâm đến một thứ mà thôi, như thế là không đủ. Sự thực tập này, chánh niệm biết rõ trước mặt, đây là cảnh; cảm nhận cảm giác toàn thân, đây là thân; trong nội tâm có hình bóng, suy nghĩ, mình thấy được hết, đây là tâm. Vậy, căn, trần và tâm thức ta đều được rõ biết, nhận rõ. Đây là sự tỉnh giác, chánh niệm và trí huệ của Đức Phật đã dạy trong sự thực hành ba pháp.
Kính thưa quý Phật tử, khi bắt đầu thực hành điều này chúng ta sẽ cảm thấy khó chịu, không quen; chính Minh Thành ngày xưa cũng vậy, nhưng dần dà sẽ thích nghi và thực hành trơn tru những pháp này. Lâu nay ta chỉ quen trú tâm vào môt hơi thở, hay sự phồng xẹp của bụng. Còn sự thực tập này của ta, căn cứ theo mười sáu hơi thở, Đức Phật dạy ta thấy rõ một cách đầy đủ về căn, trần, thức, trí huệ của ta lúc này cực kỳ rõ ràng, sáng tỏ, sáng suốt và bén nhạy. Ghi nhận được tất cả những gì đang diễn ra, đang hiện hữu, có mặt, vận hành trong thân tâm của mình. Đây là trí tuệ giác ngộ, đây mới chính xác là chánh niệm và tỉnh thức trong sự tu hành, thực tập của ta.
Cần phải biết tách bản thân ra khỏi những cảm giác tiêu cực như tê, mỏi, buồn ngủ… bởi chúng chỉ là đơn thuần là cảm giác của mình. Cảm giác này không phải là tôi, không phải của tôi, không phải là tự ngã của tôi. Cảm giác này chỉ là cảm giác, chỉ là cảm thọ trong năm uẩn mà thôi.
Ngưỡng mong quý Phật tử tinh tấn tu hành./.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.