Thiền Quán - Bi Vô Lượng Tâm 1
TINH HOA NIKĀYA
GIẢNG GIẢI BÀI THIỀN QUÁN
BI VÔ LƯỢNG TÂM 1
–Thích Minh Thành–
Ngay trong giờ phút này hàng ngàn người phải thở oxy qua máy trợ thở, ngay trong giờ phút này có rất nhiều người đang hôn mê trên gường bệnh nên thức ăn phải xay nhuyễn đổ vào ống đưa vào cơ thể. Vừa nãy con nói thầy Pháp An nếu khỏe thì đi nghe pháp còn mệt thì nghỉ, thầy nói muốn tính sổ sách công việc thì con nói để lúc khác cũng được, bây giờ còn đi nghe pháp được thì hãy cố gắng. Giờ này mình được nghe pháp, tu học là phước lành, là phước báo, là phước đức, là công đức, hãy tác ý và quán chiếu như vậy vì đó là sự thật đang diễn ra. Hiện tại toàn thành phố Sài Gòn không còn đủ gường bệnh nữa, chúng ta được ngồi như vậy tu học thì phải cảm thấy thật sự hạnh phúc và phước báo, nếu chúng ta không biết trân trọng giờ phút này, không biết nhìn thấy thực tại, những sự thật đang xảy ra trong hiện tại đến khi vô thường đến bất thình lình, bệnh khổ đến thì có hối hận cũng muộn màn cho nên hãy trân trọng, thật là trân trọng giây phút hiện tại này. Nhiều Phật tử rơi lệ xót xa khóc với Minh Thành trong sự lo lắng, bất an, sợ hãi vì đại thảm họa của trong nước lẫn ngoài nước, nhất là Sài Gòn thân thương của chúng ta, là đầu tàu của cả nước cho nên Minh Thành nguyện sẽ góp một chút sức mòn về mặt chia sẻ pháp thoại cho tất cả quý vị trong hoàn cảnh khó khổ này. Người xuất gia không đóng góp được bằng vật chất vì chúng ta không làm ra tiền nhưng người xuất gia đóng góp bằng sự bình an, làm ra từ tâm, làm ra trí tuệ để chia sẻ đến tất cả quý vị, mong rằng tất cả chúng ta hãy nắm bắt cơ hội dịch bệnh là thời gian vàng chuyên tâm học pháp, hành pháp, làm lợi ích cho bản thân và cho gia đình. Trong hoàn cảnh này có nhiều chuyện đau lòng xảy ra, liên tiếp ba ngày ở Sài Gòn đều có người tự tử, ở miền ngoài mẹ ôm con nhảy sông để kết thúc sinh mạng cho nên trước sự bất an, sự lo lắng, sợ hãi của mọi người, của Phật tử thì người xuất gia chúng ta phải có bổn phận, trách nhiệm đóng góp không phải bằng vật chất tiền của mà bằng tâm bình an, lòng từ, tình thương, bằng tâm thấu hiểu, bằng ánh lửa tuệ giác mà chúng ta đã được tiếp truyền từ Đức Thế Tôn thắp lên ngọn đuốc trí tuệ cho tự thân mình và cho những Phật tử hữu duyên muốn tu học, chính thời điểm này là thời điểm thiết thực để mọi người tự mình thắp lên ngọn đèn của chính mình, ngọn đèn của trí tuệ, ngọn đèn của chánh pháp, của sự thật, cùng nhau vượt qua cái khổ, lo lắng, sợ hãi này để có chân đứng trong pháp và luật, có tuệ giác trong giới – định – tuệ. Cho nên Minh Thành cũng muốn chia sẻ, giải thích rộng rãi về phương pháp thực tập bốn tâm vô lượng, sau đó sẽ học căn bản trí trong quyển "Nghi thức tu học kinh Nikāya". Hơn bao giờ hết trong lúc này con người sẽ bức xúc, bất an trong nhiều vấn đề, từ việc kinh doanh buôn bán không được, những sự đầu tư bị mất mát cho đến sự khó chịu, tù túng khi phải ở trong bốn bức tường, bên trong nội tâm là trong sự bức xúc, nhiệt não nên dễ xảy ra bất hòa, bất đồng, bất ổn, dễ xảy ra mâu thuẫn vì không có sự bao dung và lo lắng, sợ hãi là đương nhiên. Chính vì vậy chúng ta sẽ học hỏi một cách rộng rãi đầy đủ, kĩ lưỡng về phương pháp thực tập tình thương, nền tảng trong giai đoạn này là thực tập tâm hiền thiện, dễ chịu, thực tập tâm cảm thông, bao dung, tha thứ cho nhau thì chúng ta mới có bình an trong đại dịch, nếu không trong gia đình và tập thể rất dễ có bức xúc, xung đột trong giai đoạn này.
Chúng ta tiếp tục tìm hiểu phương pháp thực tập lòng trắc ẩn, thực tập tâm bi mẫn, lòng xót thương vì đây là thời điểm rất cần thiết để thực tập tâm này để có bình an trong tự thân, trong gia đình. Tác dụng của tâm bi là tâm xót thương, mong sự an lạc, bình an và hạnh phúc đến với mọi người, đến hữu tình chúng sanh. Tâm xót thương rộng lớn vô lượng này cần phải được thực tập, tu tập để khai mở các cảm thọ hiền hòa, hiền thiện, khai mở lòng bi mẫn, tâm hiền lành, diệt trừ tâm ác, tâm bất thiện, những tâm làm hại mình, hại người hoặc làm hại cả mình, cả người. Tại sao phải có chữ "vô lượng" trong bốn tâm từ, bi, hỷ, xả? Sự tu học về tu tâm là phải tập tâm rộng mở vì tâm phàm phu là một cái tâm nhỏ hẹp, nhỏ nhoi, nhỏ nhặt. Khi Minh Thành ở trong thất nhìn những con kiến thì chỉ riêng kiến thôi đã có rất nhiều loại, từ kiến vàng, kiến đen cho đến kiến lửa to, đến con muỗi, con sâu, lăng quăng hoặc là những con côn trùng cho đến giờ là virut, vi khuẩn, khi nhìn những con này có cảm giác lo sợ, những ngũ uẩn đó từ tâm nhỏ hẹp, nhỏ mọn nên biểu hiện ra thân tướng như vậy, phải biết sợ những cái tâm đó cho nên tứ vô lượng tâm dùng để đối trị tâm nhỏ hẹp. Khi thực hành ba pháp Minh Thành thường nói "tâm rộng mở, cảm nhận trước mặt, cảm nhận không gian nơi này, vùng trời đất này", chính lúc này mở tâm rộng lớn mới đi đến tâm vô lượng, vô biên, vô tận, cho nên tâm nhỏ hẹp, nhỏ mọn sẽ sanh ra trong những cái thân của ruồi, muỗi, kiến, gián… và những người có tâm như vậy rất dễ bực bội, dễ phiền não, sân si, cộc cằn, đố kỵ, ganh tỵ, dễ có tâm ác độc, hung dữ, vì vậy nếu không tu tập tâm hiền lành, xót thương, bi mẫn, bao dung, rộng mở thì tâm mình trở thành những cái tâm cay nghiệt, nhỏ nhặt, để ý từng chút để gây sự, kiếm chuyện, hơn thua. Chúng ta có thấy những cái này không? Có thấy những con người như vậy không? Có thấy những sự việc như vậy xảy ra không? Một hành động, cử chỉ, lời nói, ánh mắt cũng có thể xảy ra những chuyện không tưởng tượng được vì tâm nhỏ hẹp, tâm rừng rú, tâm sâu bọ, rắn rết cho nên muốn vô lượng thì trước tiên phải rộng lớn, muốn rộng lớn thì phải rộng mở, muốn rộng mở thì phải an tịnh, lắng dịu vì tâm không tu tập là một nội tâm rất dao động, xăng lăng, tâm như đống xà bần cho nên tâm tu tập là tâm an tịnh, lắng dịu và dễ chịu, vì thế không được quên ba pháp này, bất cứ khi đi đứng ngồi nằm đều phải rõ biết trước mặt, cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác, ngoài ra phải an trú cảm giác toàn thân để an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, điều này tuyệt đối quan trọng. Từ chỗ an tịnh, lắng dịu, dễ chịu mới bắt đầu tu tập các các tâm hiền, tâm từ, tâm bi, những tâm rộng mở. Khi thực tập sẽ thấy rất hay, nhiều lúc vì một câu nói hoặc một tin nhắn nào đó làm mình giận thì chỉ cần mình phóng tầm mắt ra xa, nhất là khi đang ở trên núi phóng tầm mắt vượt qua biết bao núi đồi thì chợt nhận ra mình quá ngu ngốc khi tự nhiên lại dính mắc vào một ý hành này để làm gì, chỉ với một cái tưởng nhỏ hẹp này mà dính mắc vào để bực bội, mở tâm rộng lớn cảm nhận khắp vùng trời đất này, cùng khắp hư không giới về phía trước.
Đây là phương trước mặt
Rộng lớn và bao la,
Hòa lẫn khắp phương này,
Là tâm hiền của ta.
Tâm hiền này rộng lớn
Vô lượng và vô biên.
Khi đọc bài này lên thì lập tức tâm nhỏ hẹp, đố kỵ, ganh tỵ, hơn thua… bị phá tan. Trong phim hoạt hình A-la-din và cây đèn thần, trong phim đó có ông thần đèn bị nhốt trong cái đèn bằng sành, người này chà vào cái đèn thì ông thần bung ra to lớn trong hư không, thân tứ đại ngũ uẩn này cũng giống cây đèn nhỏ đó nhưng bốn tâm vô lượng, tâm trí tuệ, tâm bất động giải thoát là to lớn vô lượng, một khi trở về tâm rộng lớn mình sẽ thoát ra khỏi cái đèn nhỏ đó, còn khi bị dính mắc vào suy nghĩ, hình ảnh, cảm giác nào đó là mình sẽ bị quay cuồng trong đó như kiến bò miệng chén hoặc như con lăng quăng ở trong vũng nước như dấu chân trâu, khi thoát ra thì tầm nhìn rộng mở về phía trước. Minh Thành thường nhắc mọi người phải mở rộng tầm nhìn về phía trước, còn mình cứ nhắm mắt lại là tâm chưa nhu nhuyến, chưa chấp nhận học pháp, phải mở mắt ra phóng tầm nhìn tận chân trời cùng khắp hư không giới thì đó là đang thực tập tâm rộng mở. Từ tâm rộng mở nhìn lại các thọ; tưởng; hành chả là gì cả, chỉ như nhà chòi của những đứa con nít, khóc la giành nhau nhưng chỉ là món đồ chơi bằng đất không có giá trị, đó là tâm nhỏ hẹp, còn tâm của bậc đại nhân là tâm vô lượng, biết món đồ chơi bằng đất sét không có giá trị. Chữ "vô lượng tâm" phải tu tập từ tâm rộng mở, rộng lớn, cảm nhận không gian nơi này, cảm nhận vùng trời đất này.
Trong sự thực tập thiền lúc đầu là cảm nhận hơi thở rồi đến cảm nhận cơ thể như vậy tâm sẽ được rộng lớn hơn việc thiền hơi thở. Có một chú Phật tử nói rằng chú đã quen với việc thiền hơi thở nên giờ qua thực tập cảm giác toàn thân bị chướng ngại, vì đã quen với hơi thở nên vào thiền chỉ thấy hơi thở, tập cảm giác toàn thân cũng trở về hơi thở, qua đây chúng ta thấy rằng khi tâm đã bám chấp vào cái gì thì qua cái khác nó không chịu được, nó bị chấp thủ vào cái cũ cho nên phải tu theo từng bước, đầu tiên là cảm nhận hơi thở, sau đó cảm nhận cơ thể, tiếp theo là cảm giác toàn thân và cuối cùng là cảm nhận không gian nơi này, cảm nhận vùng trời đất này là tâm bắt đầu rộng lớn nhưng vẫn chưa phải là tâm vô lượng, muốn được tâm vô lượng phải thực tập rất nhiều, hiện tại mình chỉ tập được tâm rộng mở, rộng lớn thôi chứ chưa được tâm vô lượng. Mình phải tập tâm rộng lớn của bậc đại nhân chứ đừng để những ý nghĩ nhỏ mọn, nhỏ hẹp, nhỏ bé xâm chiếm sẽ làm mình tu không được, người tu phải có tâm độ lượng, bao dung vô lượng, tâm vô lượng nhưng nhìn ra được những cái nhỏ nhiệm, vi tế, đây mới là chỗ độc đáo của người tu.
Bi là xót thương, thương xót, nếu giải thích tâm bi là tâm hiền thì chỉ đúng được một phần thôi, đó là lòng trắc ẩn, sự xót xa, sự cảm thông và xót thương cho tự thân mình và chúng sanh là tâm bi, mong cầu sự bình an, sự an vui, hạnh phúc đến với tất cả chúng sanh. Có nhiều người nói rằng tâm từ, tâm bi không cần tu, không sân thì tự động là từ, nói như vậy là trái ngược lời của Đức Phật, một phát ngôn của mình phải cực kì cẩn thận, nhất là đối với những vị dạy cho người khác tu học, nếu không căn cứ vào Thánh điển, Thánh ngôn lượng mà tự ý phát ngôn thì người tu sẽ không tu tập tâm từ, trong khi rõ ràng trong kinh Nikāya Đức Phật nói rằng phải tu tập tâm từ thành cỗ xe, kiên trú vững chắc, kiên định, tu tập thành căn cứ địa.
"Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo nào tu tập từ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, thời vị ấy rất khó bị phi nhân não hại.
Do vậy, này các Tỳ-kheo, các Ông cần phải học tập như sau: 'Chúng tôi sẽ tu tập từ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ địa, an trú, tích lũy và khéo thực hiện'". (Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương IX. Tương Ưng Thí Dụ, III. Gia Ðình)
Cho nên phải cực kì cẩn thận và cần tu tập tâm bi để khai mở những cảm thọ, cảm giác hiền hòa, đây là bản chất của tâm bi, còn nói xót thương là nói đến công dụng, tác dụng của tâm bi, còn bản chất của tâm bi là hiền hậu, hiền hòa, hiền lương, hiền đức để khai mở các cảm thọ đó. Hiền hòa, hiện thiện là những cảm thọ có sẵn nhưng vì tâm ác, tâm hại, tâm sân… những tâm cau có, cộc cằn, gắt gỏng che khuất mất nên những cảm thọ hiền thiện, hiền hòa không được khai mở, vì vậy tu tâm bi là khai thông những thứ đó ra để tâm bi trào dâng, lòng xót thương được khai mở để chan hòa, thấm đượm. Khai mở tâm hiền lành để diệt trừ tâm ác, tâm bất thiện làm hại mình, hại người, hại cả hai, có Phật tử trong đạo tràng nói rằng đọc bài tâm từ nghĩ rằng mình đã hiểu nhưng khi nghe quý thầy giảng giải ra mới biết cái hiểu của mình rất nhỏ bé, cạn cợt, khi nghe mới thấy có những khía cạnh khác mình chưa hiểu. Chỉ riêng việc khai mở những cảm giác hiền hòa, hiền thiện là cả một vấn đề, trong thời điểm dịch bệnh có những bức xúc, bực bội, khó chịu trong người rất nhiều và dễ sanh khởi cho nên tu để mở cảm giác hiền hòa, hiền thiện mới an ổn trong nội tâm và cho những người trong gia đình. Khi chồng bực bội, bức xúc nhưng mình vẫn an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào thì mình có làm được không? Nếu không thực tập tâm bi nhuần nhuyễn thì làm sao mình có cảm giác hiền hòa được, cảm thọ này không được tập thường xuyên thì làm sao có được nó, trong sách nói không phải tự nhiên có Thích-ca hay trời sanh Di-lặc, không phải tự nhiên thành Phật, không phải tự nhiên trên trời rơi xuống bậc Chánh Đẳng Chánh Giác mà phải tu tập mới có, cho nên tâm hiền, tâm bi này được thực tập, hành trì nhiều lần trải qua năm tháng mới viên mãn. Chúng ta được sanh ra bú sữa mẹ, ăn một bữa cơm là lớn lên nặng 70kg liền hay sao? Phải ăn cơm, uống sữa, uống nước trong nhiều năm, nhiều tháng, cái tu cũng giống như vậy cho nên những người không kiên trì sẽ tu tập không thành tựu vì họ muốn tu cho nhanh, cho lẹ, họ sẽ bỏ để đi tìm những cái khác, mình ăn cơm, tắm giặt cũng kiên trì nên sự tu cũng phải kiên trì giống như vậy. Phải khơi gợi những cảm giác hiền hòa, hiền hậu, hiền lượng, hiền lành liên tục, nhắc nhở, khuyên bảo liên tục làm sanh khởi cảm giác đó hoài thì từ từ những cảm giác đó sẽ hiện hữu trong thân tâm, cũng như khi nhỏ mình chưa biết chữ, từ từ mình biết chữ, biết ghép câu, ghép vần rồi biết viết và hiểu trong chữ đó nói cái gì, ví dụ như mình học bài kinh Pháp cú:
"Khả ái thay núi rừng,
Chỗ người phàm không ưa,
Vị ly tham ưa thích,
Vì không tìm dục lạc".
(Kinh Pháp Cú 07 – Phẩm A-la-hán, kệ 99)
"Tinh cần giữa phóng dật,
Tỉnh thức giữa quần mê.
Người trí như ngựa phi,
Bỏ sau con ngựa hèn".
(Kinh Pháp Cú 02 – Phẩm Không Phóng Dật, kệ 29)
Khi mình đã thuộc nhuần nhuyễn những bài này giống như của mình thì bất cứ lúc nào muốn là nói ra được, nhưng trước đó mình không học chữ, không học kinh, không có người dạy thì làm sao mình biết để nói? Nhưng khi thuộc lòng thì bất cứ lúc nào muốn đọc là đọc giống như bài đó của mình, tâm bi này cũng vậy, mình được Đức Thế Tôn truyền trao và thực tập liên tục nhuần nhuyễn thì cuối cùng tâm đó có trong người mình, nó hiện hữu trong thân tâm. Cảm giác hiền hòa, hiền thiện ở trong con người và trở thành mình, nó có sẵn nhưng bị ác tâm, sân tâm, hại tâm trùm phủ, bao kín nhưng giờ được chánh pháp vén ra, khơi ra thì nó được hiển lộ nhưng công phu phải do mình vén, khơi gợi và làm cho sáng tỏ, trong sạch, như vậy cảm giác hiền thiện này phải được thực tập liên tục. Trở lại vấn đề hiện tại buôn bán không được, bước ra cửa sợ bị lây bệnh, có khi bị phong tỏa, cách ly không ra được, bên trong là cảm giác thúc giục muốn đi ra ngoài nhưng đi không được sẽ bị khó chịu nên trong gia đình cự cãi, lúc đó có tu tâm hiền thì an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, mình dễ chịu sẽ làm cho đối phương lắng xuống, còn khó chịu gặp khó chịu sẽ bùng nổ, còn bực bội gặp hiền hiện, hung hăng gặp lắng dịu sẽ dịu xuống. Đó là công năng thiết thực, hiện tại của chánh pháp ngay trong thời điểm dịch bệnh này, đáng lẽ phải bực bội, la hét con cái thì tác ý ngay "hiền nha, cảm thông nha, tha thứ nha", có la rầy thì rầy trong tâm từ bi, còn lỡ rầy la trong tâm sận hận sẽ thấy xấu hổ, tàm quý, nhục nhã, đó là sự tuyệt diệu của tâm bi.
Đó là bước thứ nhất khai mở các cảm thọ hiền hòa, hiền thiện, tiếp theo là khai mở lòng bi mẫn, tâm hiền lành, diệt trừ những tâm ác, tâm bất thiện, hiền hòa là bước cơ bản của tâm bi, cao cấp hơn nữa là lòng xót thương. Ở đây không đi thẳng vào ngay tâm bi mà phải đi tâm hiền trước, đây là chỗ độc đáo, nếu chưa có tâm hiền mà đi thẳng vào tâm xót thương thì đi không nổi, muốn tu tâm từ phải tu tâm hiền trước và bây giờ muốn tu tâm bi cũng phải tu tâm hiền trước, đây là lý do tại sao trong đạo tràng Nikāya phải tu tập tâm hiền trước tiên vì đó là nền tảng, chính vì vậy trong kinh Nikāya thường bắt đầu bằng "Này, chư hiền…", tức là thưa các bậc hiền trí, chữ hiền trí đó cũng là các bậc hiền Thánh Tăng, vì thế tâm hiền là nền tảng căn bản của tất cả pháp hành trong Phật giáo, trong kinh tạng Nikāya. Còn người hung dữ, phẫn nộ, cộc cằn thì làm sao tu được? Vừa mới chạm vào đã phản ứng lập tức thì không thể nào tu học được, Minh Thành thường nhắc đại chúng, người nào phản ứng quá nhanh trong khi được chỉ dẫn sẽ khó tu, còn người quá chậm cũng không được vì si, nói chuyện mà nghe như người đó phải rặn từng chữ thì không được rồi, lúc thiền quán nói chậm nhưng khi nói chuyện phải khác. Vì thế chỗ khéo léo của cái hiền không phải là khờ khạo, không phải đơ đơ, không phải dạng gà mờ mà hiền này là hiền trí, phải biết chỗ nào cần nói nhanh, chỗ nào cần nói vừa, chỗ nào cần nói chậm và khi nào cần an trú trong cái bình thường, có những lúc cần gấp, có những lúc thong thả, thư thới, có những lúc cần vừa. Trong âm nhạc có lên xuống trầm bổng, khi sử dụng tâm trong mọi hoàn cảnh cần sự bén nhạy của mình nhưng người bén nhạy lại không chân thật, người chân thật có khi lại không bén nhạy, nếu dung hòa cả hai thì người này sẽ thành công, điều này phải để ý mới thấy chứ không để ý sẽ không thấy được, nhiều lúc được chỉ dạy mình cũng không biết, cứ nói "tôi không như vậy", đó là do không nhận diện ngũ uẩn nên không thấy được thôi. Cho nên khai mở lòng bi mẫn là khai mở những cảm xúc, cảm thọ xót thương, khi nãy là những cảm thọ, cảm xúc hiền thiện còn bây giờ là khai mở cảm thọ xót thương. Phải làm cho khai mở được những cảm thọ xót thương, thương chính mình, thương hữu tình chúng sanh vì tham, sân, si, vô minh, bản ngã, dục ái, khi mình thấy một người sân hận với mình trong khi mình đang tu tâm bi thì chẳng những mình không sân lại mà mình còn thấy xót thương, một người tu tập tâm bi là như vậy, tức là không sân hận lại, không ăn thua, so đo, tính toán mà lại trào dâng cảm xúc xót thương, nếu có thực tập sẽ thấy những điều này là hoàn toàn có thật, còn không thực tập sẽ không hiểu được. Đầu tiên mà khơi gợi, khai mở cảm thọ hiền thiện, tiếp theo là khai mở cảm thọ xót thương, ông chồng hành xử thô bạo, sân si, cộc cằn nhưng mình không giận mà lại khởi lên cảm thọ xót thương, có như vậy cảm thọ của mình mới bao phủ người chồng, Đức Phật ví dụ giống lấy một tấm vải đẹp bao phủ đối phương từ đầu đến gót chân.
"Chư Tỳ-kheo, có năm loại ngôn ngữ mà các Ngươi có thể dùng khi nói với các người khác: đúng thời hay phi thời, chơn thực hay không chơn thực, nhu nhuyến hay thô bạo, có lợi ích hay không lợi ích, với từ tâm hay với sân tâm.
Chư Tỳ-kheo, ở tại đây, các Ngươi cần phải học tập như sau: 'Chúng ta sẽ giữ tâm của chúng ta không biến nhiễm, chúng ta sẽ không thốt ra những lời ác ngữ, chúng ta sẽ sống với lòng lân mẫn, với tâm từ bi, với nội tâm không sân hận. Chúng ta sẽ sống bao phủ người này với tâm câu hữu với từ. Và với người này là đối tượng, ta sống biến mãn cùng khắp thế giới với tâm câu hữu với từ, quảng địa vô biên, không hận, không sân'. Chư Tỳ-kheo, như vậy các Ngươi cần phải học tập". (Trung Bộ Kinh, 21. Kinh Ví dụ cái cưa)
Tức là cảm thọ từ ái, hiền lành, hiền thiện của mình lan tỏa ra không gian trước mặt, bao trùm đối tượng đang sân hận, người tu tập tâm bi là như vậy đó, đối với con cái, cha mẹ, anh chị em cũng giống như vậy, những lúc sân hận, tức giận, cau có, tham, sân, si là những lúc tâm bi được khởi động, được lan tỏa, được bao phủ, được chan hòa, thấm đượm nhưng muốn được như vậy thì bình thường phải thực tập để tâm bi được hiện hữu tràn ngập sung mãn thì mới bao trùm người khác được. Đó là cảm giác thứ hai, khai mở được lòng bi mẫn, xót thương, tâm hiền lành diệt trừ những ác, bất thiện, những tâm làm hại mình, hại người, hoặc làm hại cả mình cả người. Lúc đầu Minh Thành đọc vào kinh Nikāya thấy lạ vì "tại sao lại hại mình?", hại người thì có thể hiểu chứ tại sao lại hại mình? Đó là diệt trừ những tâm ác, tâm bất thiện, tâm làm hại mình, ví dụ mình khởi lên sân si, phẫn nộ muốn đấu đá thì người ta có để yên cho mình không? Mình đánh người ta rồi người ta để yên cho mình hay sao? Cái đó chính là hại mình, đầu tiên là hại mình vì chỉ cần khởi tâm sân lên đã là hại mình rồi, khởi lên tham muốn, bất chánh là hại mình, khởi lên ta đây, vênh váo là hại mình, đối phương nghe thấy hoặc biết được dù nói hay không nói ra thì người ta cũng ghét bỏ mình, thậm chí hận thù, chờ cơ hội trả thù mình cho nên dục, ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã là liên khúc ngàn năm, khi nào không còn nghe nữa thì phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lui trạng thái này nữa, những thứ đó chính là kẻ địch, là đối thủ của mình. Tất cả sự tu hành của mình chỉ nhắm thẳng vào những thứ đó để diệt, nhiếp phục và diệt tận được nó là đại thành công, viên mãn phạm hạnh. Đó là những cái tâm hại mình và hại người, mình cứ nghĩ bản thân hiền lành, không hại ai bao giờ nhưng thật sự có phải như vậy không? Đó là chưa đụng chuyện, ngay cả với người tu khi gặp chuyện ác tâm vẫn sanh khởi, trừ những bậc đã thành tựu tứ vô lượng tâm thì ác không bao giờ sanh khởi vì đã diệt tận nó rồi, chặt nó như chặt cây Ta-la không còn sanh khởi trong tương lai, nếu không thì mầm mống của tâm ác hại vẫn còn nên có cơ hội là nó trỗi dậy, phát tác cho nên vợ giết chồng, chồng giết vợ, con giết cha, anh em giết nhau… nó ngủ ngầm trong đó nếu đúng nhân đúng duyên, đúng hoàn cảnh như quả dị thục chín muồi là nó sẽ biểu hiện ra, trong hoàn cảnh hiện tại tâm bi này cần phải được tu tập cấp bách vì dịch bệnh hoành hành, trộm cắp khắp nơi, cướp giật không từ bất cứ thứ gì vì thế sự tu tập tâm bi tuyệt đối quan trọng trong giây phút này, đó là lý do tại sao chúng ta bắt đầu vào học bốn tâm vô lượng trước. Chúng ta phải nhớ thực tập để trở nên hiền hòa, hiền hậu, hiền đức, hiền dịu, thậm chí bị vu khống, vu oan cũng an tịnh, lắng dịu. Một người đầy tớ nghe nói người chủ của mình hiền dịu có tiếng nên muốn thử, bình thường người đầy tớ này phải thức sớm nhưng hôm nay cố tình dậy trễ, người chủ vào la thì người đầy tớ nói "có gì đâu". Hôm sau cô lại dậy trễ hơn nữa, người chủ cũng vào la thì cô cũng nói "có gì đâu". Ngày thứ ba cô cũng dậy trễ nữa nên bị người chủ đánh đổ máu đầu, cô ôm đầu chạy ra đường la lên cho mọi người thấy người chủ hiền thục của mình, cô vừa ôm đầu vừa nói đó là tác phẩm của người chủ. Qua câu chuyện này cho ta thấy những lúc bình thường ai cũng hiền thục nhưng khi đụng chuyện mới lộ ra bản chất thật, Đức Phật nói các vị Tỳ-kheo khi bị vu khống, hãm hại, thậm chí bị đánh đập cho đến mất thân mạng nhưng tâm hiền, tâm từ bi vẫn không thay đổi thì đó mới là vị Đa văn Thánh đệ tử, tức là chứng nhập được bốn tâm vô lượng. Chứng nhập là dù cho gặp hoàn cảnh nào cũng không bao giờ bị mất đi thì mới gọi là chứng nhập, còn khi còn khi mất là chưa chứng nhập, trường hợp không có tâm nào luôn thì chả có gì hết, chỉ biết trên lý thuyết, trên ngôn từ chứ bên trong không có những cảm giác từ, bi, hỷ, xả, hiền thiện vì vậy trong sự tu này đòi hỏi chứng nhập tứ vô lượng tâm, tức là làm cho tâm từ bi, xót thương, hiền lương lúc nào cũng hiện hữu trong thân tâm dù cho có ở trong hoàn cảnh nào, chúng ta có được điều này sẽ được bình an, khả ái, dễ thương, còn bình thường chúng ta sẽ dễ thấy tâm bức xúc, cộc cằn, khó chịu. Những Phật tử về tu trong những khóa tu Nikāta tại Linh Quy sẽ thấy an lạc, trào dâng nước mắt, họ tha thiết, chân thành được trở về tu học vì các thầy, cô và đại chúng dễ thương, mà dễ thương là do tu tâm hiền, tâm từ, tâm bi, đó là chưa thành tựu mà còn vậy chứ thành tựu thì còn dễ thương hơn nữa. Những cảm xúc hiền thiện, trí tuệ, những cảm xúc xót xa, tàm quý, bi mẫn, thương cảm trào dâng, Linh Quy Pháp Ấn là non thiêng nên người nào hung dữ lên đây chỉ vài ngày là ra đi, họ tự động xuống núi vì ai cũng hiền hết trong khi mình dữ thì ở làm sao được vì thế cần phát huy tâm bi, tâm hiền thiện, xót thương này vì nó rất mát mẻ, ngọt ngào, an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, khả ái, giống như không khí của bầu trời Bảo Lộc, giống như phong cảnh đại ngàn của cao nguyên núi đồi, giống như màu xanh trải dài khắp nghìn non muôn núi đồi ở đại ngàn này, tâm từ bi, hiền thiện này cũng giống như vậy. Không khí Bảo Lộc đứng nhất cả nước, hiện tại dân Sài Gòn về đây rất nhiều vì không khí mát mẻ, cảnh đẹp đầy màu xanh của lá cây, tâm đại bi này cũng như vậy, tất cả chúng sanh quy ngưỡng khát khao, mong được nhìn, mong được thấy những bậc chân nhân tu tập tâm hiền, tâm bi này. Trong khóa tu 30/4 vừa qua các Phật tử khen các thầy, các cô, họ có những giọt nước mắt vì xúc động rất chân thật, họ dám bày tỏ những góc khuất trong tâm đã giấu kín bao lâu nay, cha mẹ không dám nói, vợ chồng không thể tâm sự nhưng lên đây họ lại trải lòng trước chư Tăng và đại chúng, đó là tác dụng của tâm bi vì họ thấy mọi người hiền nhân, hiền hậu, có lòng xót thương, độ lượng, tha thứ nên họ sẵn sàng phát lồ, bày bỏ và lạy sám hối chân thành, đó là từ sự không muốn hại mình, không muốn hại người bằng tâm hiền thiện, chân thành, tha thiết, nội tâm xót thương, bi mẫn cho chính mìng và cho hữu tình chúng sanh.
Thương thay tâm mờ tối
Tâm mờ tối đáng thương thay.
Thương thay tâm nóng giận
Tâm nóng giận đáng thương thay.
Thương thay tâm bản ngã, tâm vênh váo
Tâm bản ngã, tâm vênh váo đáng thương thay.
Đọc những câu này lên đồng thời trong từng nhịp đập trong tim rúng động, từng hơi thở chấn động, trong toàn thân trào lên cảm thọ thật xót xa, bi mẫn dào dạt, diệt trừ, tẩy rửa những tâm ác. Cứ khởi lên những cảm thọ, cảm xúc nhiều như vậy sẽ có công năng gội rửa những ác bất thiện pháp, những tâm hại mình, hại người, hại chúng sanh, hại cả hai. Đó là lời mở đầu tác dụng của tâm bi, qua đây chúng ta được thấy sự cấp thiết và quan trọng trong việc tu tập tâm bi, lúc nào Minh Thành cũng mở lên nghe bốn tâm từ, bi, hỷ, xả, nhất là khi thấy khó chịu là mở lên nghe lập tức, thực tập liên tục, nhờ tu tập tâm rộng lớn vô lượng này cho nên mình ở chỗ rộng rãi, tâm rộng thì cảnh rộng pháp lớn, tâm nhỏ hẹp không thể ở chỗ rộng lớn được, không thể bao dung được cho nên có câu "lượng lớn phước lớn, lượng đại phước đại", tâm lượng bao nhiêu thì cái phước sẽ tương xứng bấy nhiêu vì vậy tâm lượng của mình rộng lớn vô lượng thì cái phước sẽ vô lượng, chính vì vậy chư Thiên rất thích cúng dường cho tôn giả Maha Kassapa vì khi ăn cơm ngài sẽ trú trong vô lượng tâm định, trong khi dùng cơm lúc nào ngài cũng trú trong đại lượng tâm định thì phước của người cúng dường cũng được vô lượng, vô cùng, vô tận. Chư Thiên có tha tâm thông nên các ngài biết được tâm của người đó đang ở trong trạng thái nào cho nên tâm của mình nhỏ hẹp nên chư Thiên không đến làm gì, còn ngài Ca-diếp trú trong trạng thái hoàn toàn an định và rộng lớn vô cùng vô tận khi thọ thực, còn mình ăn cơm lại trú trong tâm ngon dở vì vậy mình cần thực tập rất nhiều.
Trước khi bước vào bài tập, hít vào và thở ra nhẹ nhàng 4 lần, đồng thời thầm đọc các câu sau đây nhằm để khơi gợi cho tâm và cảm thọ sanh khởi theo chiều hướng hiền thiện, hiền hòa.
Nhẹ nhàng ơi! (hít vào)
Nhẹ nhàng ơi! (thở ra)
Đầu tiên làm cho thân được yên, tâm nhẹ, thân tâm được khinh an. An là yên ổn, khinh là nhẹ nhàng, lúc đó thân ngồi yên không dao động thì tâm được nhẹ. Lúc đầu bước vào thực tập bốn tâm vô lượng lúc nào cũng ở trong trạng thái nhẹ nhàng, thân yên thì tâm nhẹ, đó gọi là khinh an. Khi thân ngồi yên tâm nhẹ rồi hít vào thở ra "an lạc ơi", từ cái yên ổn, nhẹ nhàng đó làm sanh khởi ra hỷ lạc, tất cả những việc này đều phải có tầm, tứ, tức là hướng tâm mình theo chiều hướng hiền thiện, khơi gợi cho tâm và cảm thọ sanh khởi theo chiều hướng hiền thiện, tức là mình là tài xế lái chiếc xe tâm linh, mình muốn theo chiều nào thì mình dẫn dắt tâm theo hướng đó, giờ thiền quán là giờ dẫn tâm theo hướng mình muốn, còn mình dẫn tâm mà một lát sau tâm đi đâu không biết cũng như lái xe chạy đến đâu cũng không biết là thất bại, vậy là ngủ gục, phóng tâm hoặc bỏ luôn đề mục cứ ngồi không như vậy, cho nên giờ thiền quán là giờ dẫn tâm, hướng tâm điều khiển, dẫn dắt tâm. Sau khi thân nhẹ, tâm yên thì:
An lạc ơi! (hít vào)
An lạc ơi! (thở ra)
Nếu muốn mình có thể làm 5-7 lần cái hít vào thở ra này, càng làm cho sanh khởi cảm thọ nhiều chừng nào thì sự thiền quán càng sâu sắc, càng có nội hàm, càng khơi phát được nguồn mạch của đại bi. Việc thực tập này là cả một công trình tâm linh chứ không phải nghe thầy đọc hoặc mở lên nghe cho có hoặc ngủ luôn, phải phối hợp nhịp nhàng tùy văn nhập quán, khai triển tất cả những hình ảnh, cảm xúc, ngôn ngữ trong lúc đó, như vậy cái ngồi đó mới khơi gợi tâm theo cảm thọ hiền thiện và lòng bi mẫn bắt đầu tuôn trào thì mới sanh được tâm từ bi, hiền thiện, xót thương.
Hiền tâm ơi! (hít vào)
Hiền tâm ơi! (thở ra)
Thiện tâm ơi! (hít vào)
Thiện tâm ơi! (thở ra)
Mỗi lần đọc câu này lên phải ngọt ngào, da diết, tha thiết như mẹ gọi con, dùng con mắt tâm nhìn vào lồng ngực, nhìn vào trung tâm các cảm thọ và nói "tâm hiền ơi… tâm hiền". Lúc đó mình sẽ thấy trong tâm trào lên cảm thọ da diết, tha thiết, cho nên một tuần phải ngồi thiền ít nhất bốn buổi để thực tập xen kẽ chỉ và quán. Vừa nói tâm hiền là cảm nhận được cảm giác hiền từ thấm đượm cả châu thân, trong từng tế bào sanh khởi lên cảm thọ của tâm hiền, phải như vậy mới được vì thiền quán rất sâu xa, vi tế, nhỏ nhiệm, tức là hô phải có ứng, gõ cửa gọi hoài mà không ai trả lời là thất bại, tức là gọi phải trả lời. Lúc Minh Thành đi qua Phật Quang Sơn có Đại Phật Pháp Ngữ, thay vì rút lá xăm sẽ là một bài pháp ngữ, Minh Thành rút trúng bài có câu "liễu biếc hoa tươi muôn ngàn hộ, đến đâu gõ cửa cũng có ơi", khi mình gõ cửa gọi "tâm hiền ơi" thì trong tâm phải trả lời lại "ơi, có đây, tâm hiền đây", như vậy mới được, còn đằng này gọi tâm hiền mà không thấy hiền, không thấy thiện gì cả, cứ ngồi trơ ra, vì vậy thiền quán là phải có hô ứng tức là gọi phải có ơi, khi ra lệnh thì tất cả cảm thọ trong thân tâm mình phải sanh khởi, vận hành, cái pháp đó phải hiện hữu.
Tâm hiền lành ơi! (hít vào)
Tâm hiền lành ơi! (thở ra)
Tâm thiện ơi! (hít vào)
Tâm thiện ơi! (thở ra)
Tâm lành ơi! (hít vào)
Tâm lành ơi! (thở ra)
Mình cứ kêu gọi cho đến khi nào sanh ra cảm thọ thì thôi, cho nên chúng ta cần nhớ không được đọc cho hết câu cú, chữ nghĩa mà vừa đọc phải vừa sanh cảm thọ vì tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ. Ta khơi dậy trong ta tình thương, sự xót thương và lòng bi mẫn, ta khơi dậy trong ta tình thương và tâm hiền lành, ta khơi dậy trong ta hiền tâm và tình thương, ta khơi mở để tình thương trong ta thức dậy, ta khơi dậy lòng trắc ẩn, lòng bi mẫn, lòng xót thương trong ta. Lúc đó trong từng tế bào, từ đảnh tóc cho đến gót chân tràn ngập tình thương giống như khi tắm vòi hoa sen, nước chảy ướt từ đỉnh đầu xuống gót chân, nước trong vòi hoa sen như thế nào thì cảm thọ tình thương thấm đượm y như vậy, tu thiền quán cảm thọ vi diệu như vậy mà vẫn có người không chịu tu, thời gian rảnh chỉ ngồi khởi lên buồn, giận, thương, ghét, sầu, bi, khổ, ưu, não mà không chịu khởi lên tâm đại bi, tâm tình thương. Đó là cái tâm nhỏ hẹp, không phải tâm vô lượng.
Tình thương sống trong ta,
Hiền tâm sống trong ta.
Tình thương có trong ta,
Hiền tâm có trong ta.
Đọc câu này lên là muốn rưng nước mắt. Tình thương sống trong ta và ta sống trong tình thương, tình thương sống trong tim ta, trong lồng ngực, trong cảm thọ ta, sống trong tâm ta. Tâm hiền sống trong ta, tâm hiền có trong ta. Mình thấy dào dạt một cảm xúc thấm đượm, tuôn trào từ trong lồng ngực, từ trong cảm thọ, từ trong nội tâm mình, không phải chỉ nói trên môi mà thật sự cái pháp này đang hiện hữu, có mặt trong thân tâm mình.
Ta mở rộng tình thương
Đến các loài hữu tình,
Ta mở rộng niềm vui
Đến các loài chúng sanh.
Vừa đọc câu này vừa quán tưởng cảm giác từ lồng ngực lan tỏa khắp không gian trước mặt, lan ra khắp vùng trời đất hư không, lan ra khắp hữu tình chúng sanh vạn loại, những hình ảnh của người chết vì dịch bệnh hiện ra, những người bệnh với máy trợ thở hiện ra, những em bé vài tháng tuổi phải đi cách ly, những bác sĩ ngã quỵ xuống hiện ra, tất cả những cảnh già, bệnh, chết, tan thương, sầu khổ trong nước ngoài nước hiện ra. Khi chúng ta trải tâm đó thì những hình ảnh bằng tưởng mình quán, mình đã thấy, đã nghe trong đời sống này hiện ra và tình thương của mình bao trùm đến những người đó. Khi đọc những câu này "Ta mở rộng tình thương đến các loài hữu tình, ta mở tâm hiền đến các loài chúng sanh", thì thọ; tưởng; hành phải hiện ra và cảm giác phải lan tỏa ra bao trùm mọi thứ cho nên đọc nhanh là thất bại vì không kịp khởi thọ; tưởng; hành để quán. Lúc đầu có thể lấy bài của Minh Thành đọc trước để quán chiếu học hỏi nhưng sau đó từ từ đọc quen thì mình tự đọc nhưng phải đọc nhiều lần để sanh cảm thọ chứ không phải chỉ đọc một lần là xong, đây là cách để mọi người thiền quán.
Bằng tình thương hữu tình,
Bằng hiền tâm chân thật,
Bằng tấm lòng thương tưởng
Đến tất cả hữu tình
Và thương cả chính mình
Hiện đang còn lặn hụp
Trong sanh tử khổ đau
Khi đọc như vậy thì chúng ta cần nhớ để cho cảm thọ trong người lan tỏa ra, đọc đến đoạn "còn đang lặn hụp trong sống chết khổ đau" thì phải quán bản thân đang lặn hụp trong biển, tất cả chúng sanh đang kêu gào thảm thiết, say mê điên đảo trong đó và mình thương cả chính mình vì cũng có mình trong đó chứ không phải chỉ có chúng sanh, mình không phải là người ban phát tình thương mà mình cũng có mặt trong cái biển khổ đau đó thì pháp quán đó mới viên mãn cho mình, cho người, còn không chỉ biết thương người ta, vậy mình là ai? Mình quên mất bản thân mình, giống như người ngồi trên lưng trâu đếm số con trâu mà đếm tới đếm lui vẫn bị mất một con vì quên mất không đếm con trâu mình đang ngồi lên, đó là tâm hướng ngoại, suốt ngày lo từ bi để độ chúng sanh mà chúng sanh độ mình lúc nào không hay, rất nhiều người bị như vậy cho nên tinh thần kinh Nikāya "tự lợi lợi tha" viên mãn là chỗ này, dù có làm gì đi nữa cũng không quên mình.
"Dầu lợi người bao nhiêu,
Chớ quên phần tư lợi,
Nhờ thắng trí tư lợi.
Hãy chuyên tâm lợi mình".
(Kinh Pháp Cú 13 – Phẩm Thế Gian, kệ 167)
Dù có lợi cho người bao nhiêu đi nữa cũng chớ quên đi tự lợi của mình, thắng tri tư lợi là cái biết thù thắng về sự tự lợi của chính mình, cái đó mới là tối thượng. Thật sự khi chúng ta ngồi đây nói rằng để giúp cho tất cả các Phật tử an tâm trong dịch bệnh nhưng mình cũng có lợi ích trong đó, cũng làm bản thân mình được an tâm, đó là tự lợi lợi tha. Nếu mình cứ nghĩ phát tâm giúp người ta chứ mình không có lợi ích gì trong đây rồi mình không tu tập, không an trú, không làm cho bản thân sanh khởi những pháp mình đang học hỏi, đang chia sẻ thì lúc đó mất phần người, giống như đi chăn bò cho người ta, đi đếm tiền trong ngân hàng mà cái túi mình trống không. Cho nên điều quan trọng trong kinh Nikāya là trong bất cứ pháp tu nào thì phần lợi ích chính mình phải có rồi sau đó mới chia sẻ cho người, vì mình có rồi mới chia cho người ta được, mình không có thì lấy gì chia cho người ta mà nói làm từ thiện? Cho nên cần nhớ lợi ích cho mình trước.
Và thương cả chính mình
Hiện đang còn lặn hụp
Trong sanh tử khổ đau
Trong những tâm ác ý
Muốn làm hại lẫn nhau.
Đến đây là dừng lại để mình lôi ra những tâm ác ý của mình từ xưa đến nay, những tội lỗi, ác nghiệp của mình để có những ý niệm sám hối, nhục nhã, tàm quý, xấu hổ, phải tẩy rửa, diệt tận ý niệm xấu xa ngay lúc đó, nếu để những ý niệm xấu ác trong thân tâm thì nó sẽ có cơ hội sanh khởi trở lại nữa. Thiền quán là quay trở lại nội tâm để đào bới, diệt tận những thứ xấu ác tận gốc rễ, dùng ngọn lửa của bậc Thánh đốt hết tất cả gốc rễ của vô minh, tham ái, chấp thủ, những tâm hung dữ, ác ý, hại mình hại người, như vậy mới gọi là diệt tận, thanh tịnh.
Vì sự đau khổ này
Của ta và hữu tình
Ta thành tâm, tha thiết
Tu tập trải Bi tâm.
Mình nhớ lại những nỗi khổ trước nay mình phải chịu do tham, sân, si, vô minh, bản ngã, do tâm ác hại gây ra nên mình "thành tâm tha thiết tu tập trải bi tâm". Khi đọc những câu này phải thành tâm tha thiết, cung kính như đội trên đầu, "con thành tâm tha thiết tu tập trải lòng xót thương, con thành tâm tha thiết tu tập tâm hiền thiện vì sự đau khổ này của con và chúng sanh". Đó là chúng ta làm sanh khởi tâm bi và chỉ mới bắt đầu đi vào tâm bi, nắm được cách thức để thực tập thiền quán tâm từ, tâm bi, tâm hiền và phải làm cho cảm thọ sanh khởi trong khi thiền quán.
./.
GIẢNG GIẢI BÀI THIỀN QUÁN
BI VÔ LƯỢNG TÂM 1
–Thích Minh Thành–
Ngay trong giờ phút này hàng ngàn người phải thở oxy qua máy trợ thở, ngay trong giờ phút này có rất nhiều người đang hôn mê trên gường bệnh nên thức ăn phải xay nhuyễn đổ vào ống đưa vào cơ thể. Vừa nãy con nói thầy Pháp An nếu khỏe thì đi nghe pháp còn mệt thì nghỉ, thầy nói muốn tính sổ sách công việc thì con nói để lúc khác cũng được, bây giờ còn đi nghe pháp được thì hãy cố gắng. Giờ này mình được nghe pháp, tu học là phước lành, là phước báo, là phước đức, là công đức, hãy tác ý và quán chiếu như vậy vì đó là sự thật đang diễn ra. Hiện tại toàn thành phố Sài Gòn không còn đủ gường bệnh nữa, chúng ta được ngồi như vậy tu học thì phải cảm thấy thật sự hạnh phúc và phước báo, nếu chúng ta không biết trân trọng giờ phút này, không biết nhìn thấy thực tại, những sự thật đang xảy ra trong hiện tại đến khi vô thường đến bất thình lình, bệnh khổ đến thì có hối hận cũng muộn màn cho nên hãy trân trọng, thật là trân trọng giây phút hiện tại này. Nhiều Phật tử rơi lệ xót xa khóc với Minh Thành trong sự lo lắng, bất an, sợ hãi vì đại thảm họa của trong nước lẫn ngoài nước, nhất là Sài Gòn thân thương của chúng ta, là đầu tàu của cả nước cho nên Minh Thành nguyện sẽ góp một chút sức mòn về mặt chia sẻ pháp thoại cho tất cả quý vị trong hoàn cảnh khó khổ này. Người xuất gia không đóng góp được bằng vật chất vì chúng ta không làm ra tiền nhưng người xuất gia đóng góp bằng sự bình an, làm ra từ tâm, làm ra trí tuệ để chia sẻ đến tất cả quý vị, mong rằng tất cả chúng ta hãy nắm bắt cơ hội dịch bệnh là thời gian vàng chuyên tâm học pháp, hành pháp, làm lợi ích cho bản thân và cho gia đình. Trong hoàn cảnh này có nhiều chuyện đau lòng xảy ra, liên tiếp ba ngày ở Sài Gòn đều có người tự tử, ở miền ngoài mẹ ôm con nhảy sông để kết thúc sinh mạng cho nên trước sự bất an, sự lo lắng, sợ hãi của mọi người, của Phật tử thì người xuất gia chúng ta phải có bổn phận, trách nhiệm đóng góp không phải bằng vật chất tiền của mà bằng tâm bình an, lòng từ, tình thương, bằng tâm thấu hiểu, bằng ánh lửa tuệ giác mà chúng ta đã được tiếp truyền từ Đức Thế Tôn thắp lên ngọn đuốc trí tuệ cho tự thân mình và cho những Phật tử hữu duyên muốn tu học, chính thời điểm này là thời điểm thiết thực để mọi người tự mình thắp lên ngọn đèn của chính mình, ngọn đèn của trí tuệ, ngọn đèn của chánh pháp, của sự thật, cùng nhau vượt qua cái khổ, lo lắng, sợ hãi này để có chân đứng trong pháp và luật, có tuệ giác trong giới – định – tuệ. Cho nên Minh Thành cũng muốn chia sẻ, giải thích rộng rãi về phương pháp thực tập bốn tâm vô lượng, sau đó sẽ học căn bản trí trong quyển "Nghi thức tu học kinh Nikāya". Hơn bao giờ hết trong lúc này con người sẽ bức xúc, bất an trong nhiều vấn đề, từ việc kinh doanh buôn bán không được, những sự đầu tư bị mất mát cho đến sự khó chịu, tù túng khi phải ở trong bốn bức tường, bên trong nội tâm là trong sự bức xúc, nhiệt não nên dễ xảy ra bất hòa, bất đồng, bất ổn, dễ xảy ra mâu thuẫn vì không có sự bao dung và lo lắng, sợ hãi là đương nhiên. Chính vì vậy chúng ta sẽ học hỏi một cách rộng rãi đầy đủ, kĩ lưỡng về phương pháp thực tập tình thương, nền tảng trong giai đoạn này là thực tập tâm hiền thiện, dễ chịu, thực tập tâm cảm thông, bao dung, tha thứ cho nhau thì chúng ta mới có bình an trong đại dịch, nếu không trong gia đình và tập thể rất dễ có bức xúc, xung đột trong giai đoạn này.
Chúng ta tiếp tục tìm hiểu phương pháp thực tập lòng trắc ẩn, thực tập tâm bi mẫn, lòng xót thương vì đây là thời điểm rất cần thiết để thực tập tâm này để có bình an trong tự thân, trong gia đình. Tác dụng của tâm bi là tâm xót thương, mong sự an lạc, bình an và hạnh phúc đến với mọi người, đến hữu tình chúng sanh. Tâm xót thương rộng lớn vô lượng này cần phải được thực tập, tu tập để khai mở các cảm thọ hiền hòa, hiền thiện, khai mở lòng bi mẫn, tâm hiền lành, diệt trừ tâm ác, tâm bất thiện, những tâm làm hại mình, hại người hoặc làm hại cả mình, cả người. Tại sao phải có chữ "vô lượng" trong bốn tâm từ, bi, hỷ, xả? Sự tu học về tu tâm là phải tập tâm rộng mở vì tâm phàm phu là một cái tâm nhỏ hẹp, nhỏ nhoi, nhỏ nhặt. Khi Minh Thành ở trong thất nhìn những con kiến thì chỉ riêng kiến thôi đã có rất nhiều loại, từ kiến vàng, kiến đen cho đến kiến lửa to, đến con muỗi, con sâu, lăng quăng hoặc là những con côn trùng cho đến giờ là virut, vi khuẩn, khi nhìn những con này có cảm giác lo sợ, những ngũ uẩn đó từ tâm nhỏ hẹp, nhỏ mọn nên biểu hiện ra thân tướng như vậy, phải biết sợ những cái tâm đó cho nên tứ vô lượng tâm dùng để đối trị tâm nhỏ hẹp. Khi thực hành ba pháp Minh Thành thường nói "tâm rộng mở, cảm nhận trước mặt, cảm nhận không gian nơi này, vùng trời đất này", chính lúc này mở tâm rộng lớn mới đi đến tâm vô lượng, vô biên, vô tận, cho nên tâm nhỏ hẹp, nhỏ mọn sẽ sanh ra trong những cái thân của ruồi, muỗi, kiến, gián… và những người có tâm như vậy rất dễ bực bội, dễ phiền não, sân si, cộc cằn, đố kỵ, ganh tỵ, dễ có tâm ác độc, hung dữ, vì vậy nếu không tu tập tâm hiền lành, xót thương, bi mẫn, bao dung, rộng mở thì tâm mình trở thành những cái tâm cay nghiệt, nhỏ nhặt, để ý từng chút để gây sự, kiếm chuyện, hơn thua. Chúng ta có thấy những cái này không? Có thấy những con người như vậy không? Có thấy những sự việc như vậy xảy ra không? Một hành động, cử chỉ, lời nói, ánh mắt cũng có thể xảy ra những chuyện không tưởng tượng được vì tâm nhỏ hẹp, tâm rừng rú, tâm sâu bọ, rắn rết cho nên muốn vô lượng thì trước tiên phải rộng lớn, muốn rộng lớn thì phải rộng mở, muốn rộng mở thì phải an tịnh, lắng dịu vì tâm không tu tập là một nội tâm rất dao động, xăng lăng, tâm như đống xà bần cho nên tâm tu tập là tâm an tịnh, lắng dịu và dễ chịu, vì thế không được quên ba pháp này, bất cứ khi đi đứng ngồi nằm đều phải rõ biết trước mặt, cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác, ngoài ra phải an trú cảm giác toàn thân để an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, điều này tuyệt đối quan trọng. Từ chỗ an tịnh, lắng dịu, dễ chịu mới bắt đầu tu tập các các tâm hiền, tâm từ, tâm bi, những tâm rộng mở. Khi thực tập sẽ thấy rất hay, nhiều lúc vì một câu nói hoặc một tin nhắn nào đó làm mình giận thì chỉ cần mình phóng tầm mắt ra xa, nhất là khi đang ở trên núi phóng tầm mắt vượt qua biết bao núi đồi thì chợt nhận ra mình quá ngu ngốc khi tự nhiên lại dính mắc vào một ý hành này để làm gì, chỉ với một cái tưởng nhỏ hẹp này mà dính mắc vào để bực bội, mở tâm rộng lớn cảm nhận khắp vùng trời đất này, cùng khắp hư không giới về phía trước.
Đây là phương trước mặt
Rộng lớn và bao la,
Hòa lẫn khắp phương này,
Là tâm hiền của ta.
Tâm hiền này rộng lớn
Vô lượng và vô biên.
Khi đọc bài này lên thì lập tức tâm nhỏ hẹp, đố kỵ, ganh tỵ, hơn thua… bị phá tan. Trong phim hoạt hình A-la-din và cây đèn thần, trong phim đó có ông thần đèn bị nhốt trong cái đèn bằng sành, người này chà vào cái đèn thì ông thần bung ra to lớn trong hư không, thân tứ đại ngũ uẩn này cũng giống cây đèn nhỏ đó nhưng bốn tâm vô lượng, tâm trí tuệ, tâm bất động giải thoát là to lớn vô lượng, một khi trở về tâm rộng lớn mình sẽ thoát ra khỏi cái đèn nhỏ đó, còn khi bị dính mắc vào suy nghĩ, hình ảnh, cảm giác nào đó là mình sẽ bị quay cuồng trong đó như kiến bò miệng chén hoặc như con lăng quăng ở trong vũng nước như dấu chân trâu, khi thoát ra thì tầm nhìn rộng mở về phía trước. Minh Thành thường nhắc mọi người phải mở rộng tầm nhìn về phía trước, còn mình cứ nhắm mắt lại là tâm chưa nhu nhuyến, chưa chấp nhận học pháp, phải mở mắt ra phóng tầm nhìn tận chân trời cùng khắp hư không giới thì đó là đang thực tập tâm rộng mở. Từ tâm rộng mở nhìn lại các thọ; tưởng; hành chả là gì cả, chỉ như nhà chòi của những đứa con nít, khóc la giành nhau nhưng chỉ là món đồ chơi bằng đất không có giá trị, đó là tâm nhỏ hẹp, còn tâm của bậc đại nhân là tâm vô lượng, biết món đồ chơi bằng đất sét không có giá trị. Chữ "vô lượng tâm" phải tu tập từ tâm rộng mở, rộng lớn, cảm nhận không gian nơi này, cảm nhận vùng trời đất này.
Trong sự thực tập thiền lúc đầu là cảm nhận hơi thở rồi đến cảm nhận cơ thể như vậy tâm sẽ được rộng lớn hơn việc thiền hơi thở. Có một chú Phật tử nói rằng chú đã quen với việc thiền hơi thở nên giờ qua thực tập cảm giác toàn thân bị chướng ngại, vì đã quen với hơi thở nên vào thiền chỉ thấy hơi thở, tập cảm giác toàn thân cũng trở về hơi thở, qua đây chúng ta thấy rằng khi tâm đã bám chấp vào cái gì thì qua cái khác nó không chịu được, nó bị chấp thủ vào cái cũ cho nên phải tu theo từng bước, đầu tiên là cảm nhận hơi thở, sau đó cảm nhận cơ thể, tiếp theo là cảm giác toàn thân và cuối cùng là cảm nhận không gian nơi này, cảm nhận vùng trời đất này là tâm bắt đầu rộng lớn nhưng vẫn chưa phải là tâm vô lượng, muốn được tâm vô lượng phải thực tập rất nhiều, hiện tại mình chỉ tập được tâm rộng mở, rộng lớn thôi chứ chưa được tâm vô lượng. Mình phải tập tâm rộng lớn của bậc đại nhân chứ đừng để những ý nghĩ nhỏ mọn, nhỏ hẹp, nhỏ bé xâm chiếm sẽ làm mình tu không được, người tu phải có tâm độ lượng, bao dung vô lượng, tâm vô lượng nhưng nhìn ra được những cái nhỏ nhiệm, vi tế, đây mới là chỗ độc đáo của người tu.
Bi là xót thương, thương xót, nếu giải thích tâm bi là tâm hiền thì chỉ đúng được một phần thôi, đó là lòng trắc ẩn, sự xót xa, sự cảm thông và xót thương cho tự thân mình và chúng sanh là tâm bi, mong cầu sự bình an, sự an vui, hạnh phúc đến với tất cả chúng sanh. Có nhiều người nói rằng tâm từ, tâm bi không cần tu, không sân thì tự động là từ, nói như vậy là trái ngược lời của Đức Phật, một phát ngôn của mình phải cực kì cẩn thận, nhất là đối với những vị dạy cho người khác tu học, nếu không căn cứ vào Thánh điển, Thánh ngôn lượng mà tự ý phát ngôn thì người tu sẽ không tu tập tâm từ, trong khi rõ ràng trong kinh Nikāya Đức Phật nói rằng phải tu tập tâm từ thành cỗ xe, kiên trú vững chắc, kiên định, tu tập thành căn cứ địa.
"Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo nào tu tập từ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, thời vị ấy rất khó bị phi nhân não hại.
Do vậy, này các Tỳ-kheo, các Ông cần phải học tập như sau: 'Chúng tôi sẽ tu tập từ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ địa, an trú, tích lũy và khéo thực hiện'". (Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương IX. Tương Ưng Thí Dụ, III. Gia Ðình)
Cho nên phải cực kì cẩn thận và cần tu tập tâm bi để khai mở những cảm thọ, cảm giác hiền hòa, đây là bản chất của tâm bi, còn nói xót thương là nói đến công dụng, tác dụng của tâm bi, còn bản chất của tâm bi là hiền hậu, hiền hòa, hiền lương, hiền đức để khai mở các cảm thọ đó. Hiền hòa, hiện thiện là những cảm thọ có sẵn nhưng vì tâm ác, tâm hại, tâm sân… những tâm cau có, cộc cằn, gắt gỏng che khuất mất nên những cảm thọ hiền thiện, hiền hòa không được khai mở, vì vậy tu tâm bi là khai thông những thứ đó ra để tâm bi trào dâng, lòng xót thương được khai mở để chan hòa, thấm đượm. Khai mở tâm hiền lành để diệt trừ tâm ác, tâm bất thiện làm hại mình, hại người, hại cả hai, có Phật tử trong đạo tràng nói rằng đọc bài tâm từ nghĩ rằng mình đã hiểu nhưng khi nghe quý thầy giảng giải ra mới biết cái hiểu của mình rất nhỏ bé, cạn cợt, khi nghe mới thấy có những khía cạnh khác mình chưa hiểu. Chỉ riêng việc khai mở những cảm giác hiền hòa, hiền thiện là cả một vấn đề, trong thời điểm dịch bệnh có những bức xúc, bực bội, khó chịu trong người rất nhiều và dễ sanh khởi cho nên tu để mở cảm giác hiền hòa, hiền thiện mới an ổn trong nội tâm và cho những người trong gia đình. Khi chồng bực bội, bức xúc nhưng mình vẫn an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào thì mình có làm được không? Nếu không thực tập tâm bi nhuần nhuyễn thì làm sao mình có cảm giác hiền hòa được, cảm thọ này không được tập thường xuyên thì làm sao có được nó, trong sách nói không phải tự nhiên có Thích-ca hay trời sanh Di-lặc, không phải tự nhiên thành Phật, không phải tự nhiên trên trời rơi xuống bậc Chánh Đẳng Chánh Giác mà phải tu tập mới có, cho nên tâm hiền, tâm bi này được thực tập, hành trì nhiều lần trải qua năm tháng mới viên mãn. Chúng ta được sanh ra bú sữa mẹ, ăn một bữa cơm là lớn lên nặng 70kg liền hay sao? Phải ăn cơm, uống sữa, uống nước trong nhiều năm, nhiều tháng, cái tu cũng giống như vậy cho nên những người không kiên trì sẽ tu tập không thành tựu vì họ muốn tu cho nhanh, cho lẹ, họ sẽ bỏ để đi tìm những cái khác, mình ăn cơm, tắm giặt cũng kiên trì nên sự tu cũng phải kiên trì giống như vậy. Phải khơi gợi những cảm giác hiền hòa, hiền hậu, hiền lượng, hiền lành liên tục, nhắc nhở, khuyên bảo liên tục làm sanh khởi cảm giác đó hoài thì từ từ những cảm giác đó sẽ hiện hữu trong thân tâm, cũng như khi nhỏ mình chưa biết chữ, từ từ mình biết chữ, biết ghép câu, ghép vần rồi biết viết và hiểu trong chữ đó nói cái gì, ví dụ như mình học bài kinh Pháp cú:
"Khả ái thay núi rừng,
Chỗ người phàm không ưa,
Vị ly tham ưa thích,
Vì không tìm dục lạc".
(Kinh Pháp Cú 07 – Phẩm A-la-hán, kệ 99)
"Tinh cần giữa phóng dật,
Tỉnh thức giữa quần mê.
Người trí như ngựa phi,
Bỏ sau con ngựa hèn".
(Kinh Pháp Cú 02 – Phẩm Không Phóng Dật, kệ 29)
Khi mình đã thuộc nhuần nhuyễn những bài này giống như của mình thì bất cứ lúc nào muốn là nói ra được, nhưng trước đó mình không học chữ, không học kinh, không có người dạy thì làm sao mình biết để nói? Nhưng khi thuộc lòng thì bất cứ lúc nào muốn đọc là đọc giống như bài đó của mình, tâm bi này cũng vậy, mình được Đức Thế Tôn truyền trao và thực tập liên tục nhuần nhuyễn thì cuối cùng tâm đó có trong người mình, nó hiện hữu trong thân tâm. Cảm giác hiền hòa, hiền thiện ở trong con người và trở thành mình, nó có sẵn nhưng bị ác tâm, sân tâm, hại tâm trùm phủ, bao kín nhưng giờ được chánh pháp vén ra, khơi ra thì nó được hiển lộ nhưng công phu phải do mình vén, khơi gợi và làm cho sáng tỏ, trong sạch, như vậy cảm giác hiền thiện này phải được thực tập liên tục. Trở lại vấn đề hiện tại buôn bán không được, bước ra cửa sợ bị lây bệnh, có khi bị phong tỏa, cách ly không ra được, bên trong là cảm giác thúc giục muốn đi ra ngoài nhưng đi không được sẽ bị khó chịu nên trong gia đình cự cãi, lúc đó có tu tâm hiền thì an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, mình dễ chịu sẽ làm cho đối phương lắng xuống, còn khó chịu gặp khó chịu sẽ bùng nổ, còn bực bội gặp hiền hiện, hung hăng gặp lắng dịu sẽ dịu xuống. Đó là công năng thiết thực, hiện tại của chánh pháp ngay trong thời điểm dịch bệnh này, đáng lẽ phải bực bội, la hét con cái thì tác ý ngay "hiền nha, cảm thông nha, tha thứ nha", có la rầy thì rầy trong tâm từ bi, còn lỡ rầy la trong tâm sận hận sẽ thấy xấu hổ, tàm quý, nhục nhã, đó là sự tuyệt diệu của tâm bi.
Đó là bước thứ nhất khai mở các cảm thọ hiền hòa, hiền thiện, tiếp theo là khai mở lòng bi mẫn, tâm hiền lành, diệt trừ những tâm ác, tâm bất thiện, hiền hòa là bước cơ bản của tâm bi, cao cấp hơn nữa là lòng xót thương. Ở đây không đi thẳng vào ngay tâm bi mà phải đi tâm hiền trước, đây là chỗ độc đáo, nếu chưa có tâm hiền mà đi thẳng vào tâm xót thương thì đi không nổi, muốn tu tâm từ phải tu tâm hiền trước và bây giờ muốn tu tâm bi cũng phải tu tâm hiền trước, đây là lý do tại sao trong đạo tràng Nikāya phải tu tập tâm hiền trước tiên vì đó là nền tảng, chính vì vậy trong kinh Nikāya thường bắt đầu bằng "Này, chư hiền…", tức là thưa các bậc hiền trí, chữ hiền trí đó cũng là các bậc hiền Thánh Tăng, vì thế tâm hiền là nền tảng căn bản của tất cả pháp hành trong Phật giáo, trong kinh tạng Nikāya. Còn người hung dữ, phẫn nộ, cộc cằn thì làm sao tu được? Vừa mới chạm vào đã phản ứng lập tức thì không thể nào tu học được, Minh Thành thường nhắc đại chúng, người nào phản ứng quá nhanh trong khi được chỉ dẫn sẽ khó tu, còn người quá chậm cũng không được vì si, nói chuyện mà nghe như người đó phải rặn từng chữ thì không được rồi, lúc thiền quán nói chậm nhưng khi nói chuyện phải khác. Vì thế chỗ khéo léo của cái hiền không phải là khờ khạo, không phải đơ đơ, không phải dạng gà mờ mà hiền này là hiền trí, phải biết chỗ nào cần nói nhanh, chỗ nào cần nói vừa, chỗ nào cần nói chậm và khi nào cần an trú trong cái bình thường, có những lúc cần gấp, có những lúc thong thả, thư thới, có những lúc cần vừa. Trong âm nhạc có lên xuống trầm bổng, khi sử dụng tâm trong mọi hoàn cảnh cần sự bén nhạy của mình nhưng người bén nhạy lại không chân thật, người chân thật có khi lại không bén nhạy, nếu dung hòa cả hai thì người này sẽ thành công, điều này phải để ý mới thấy chứ không để ý sẽ không thấy được, nhiều lúc được chỉ dạy mình cũng không biết, cứ nói "tôi không như vậy", đó là do không nhận diện ngũ uẩn nên không thấy được thôi. Cho nên khai mở lòng bi mẫn là khai mở những cảm xúc, cảm thọ xót thương, khi nãy là những cảm thọ, cảm xúc hiền thiện còn bây giờ là khai mở cảm thọ xót thương. Phải làm cho khai mở được những cảm thọ xót thương, thương chính mình, thương hữu tình chúng sanh vì tham, sân, si, vô minh, bản ngã, dục ái, khi mình thấy một người sân hận với mình trong khi mình đang tu tâm bi thì chẳng những mình không sân lại mà mình còn thấy xót thương, một người tu tập tâm bi là như vậy, tức là không sân hận lại, không ăn thua, so đo, tính toán mà lại trào dâng cảm xúc xót thương, nếu có thực tập sẽ thấy những điều này là hoàn toàn có thật, còn không thực tập sẽ không hiểu được. Đầu tiên mà khơi gợi, khai mở cảm thọ hiền thiện, tiếp theo là khai mở cảm thọ xót thương, ông chồng hành xử thô bạo, sân si, cộc cằn nhưng mình không giận mà lại khởi lên cảm thọ xót thương, có như vậy cảm thọ của mình mới bao phủ người chồng, Đức Phật ví dụ giống lấy một tấm vải đẹp bao phủ đối phương từ đầu đến gót chân.
"Chư Tỳ-kheo, có năm loại ngôn ngữ mà các Ngươi có thể dùng khi nói với các người khác: đúng thời hay phi thời, chơn thực hay không chơn thực, nhu nhuyến hay thô bạo, có lợi ích hay không lợi ích, với từ tâm hay với sân tâm.
Chư Tỳ-kheo, ở tại đây, các Ngươi cần phải học tập như sau: 'Chúng ta sẽ giữ tâm của chúng ta không biến nhiễm, chúng ta sẽ không thốt ra những lời ác ngữ, chúng ta sẽ sống với lòng lân mẫn, với tâm từ bi, với nội tâm không sân hận. Chúng ta sẽ sống bao phủ người này với tâm câu hữu với từ. Và với người này là đối tượng, ta sống biến mãn cùng khắp thế giới với tâm câu hữu với từ, quảng địa vô biên, không hận, không sân'. Chư Tỳ-kheo, như vậy các Ngươi cần phải học tập". (Trung Bộ Kinh, 21. Kinh Ví dụ cái cưa)
Tức là cảm thọ từ ái, hiền lành, hiền thiện của mình lan tỏa ra không gian trước mặt, bao trùm đối tượng đang sân hận, người tu tập tâm bi là như vậy đó, đối với con cái, cha mẹ, anh chị em cũng giống như vậy, những lúc sân hận, tức giận, cau có, tham, sân, si là những lúc tâm bi được khởi động, được lan tỏa, được bao phủ, được chan hòa, thấm đượm nhưng muốn được như vậy thì bình thường phải thực tập để tâm bi được hiện hữu tràn ngập sung mãn thì mới bao trùm người khác được. Đó là cảm giác thứ hai, khai mở được lòng bi mẫn, xót thương, tâm hiền lành diệt trừ những ác, bất thiện, những tâm làm hại mình, hại người, hoặc làm hại cả mình cả người. Lúc đầu Minh Thành đọc vào kinh Nikāya thấy lạ vì "tại sao lại hại mình?", hại người thì có thể hiểu chứ tại sao lại hại mình? Đó là diệt trừ những tâm ác, tâm bất thiện, tâm làm hại mình, ví dụ mình khởi lên sân si, phẫn nộ muốn đấu đá thì người ta có để yên cho mình không? Mình đánh người ta rồi người ta để yên cho mình hay sao? Cái đó chính là hại mình, đầu tiên là hại mình vì chỉ cần khởi tâm sân lên đã là hại mình rồi, khởi lên tham muốn, bất chánh là hại mình, khởi lên ta đây, vênh váo là hại mình, đối phương nghe thấy hoặc biết được dù nói hay không nói ra thì người ta cũng ghét bỏ mình, thậm chí hận thù, chờ cơ hội trả thù mình cho nên dục, ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã là liên khúc ngàn năm, khi nào không còn nghe nữa thì phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lui trạng thái này nữa, những thứ đó chính là kẻ địch, là đối thủ của mình. Tất cả sự tu hành của mình chỉ nhắm thẳng vào những thứ đó để diệt, nhiếp phục và diệt tận được nó là đại thành công, viên mãn phạm hạnh. Đó là những cái tâm hại mình và hại người, mình cứ nghĩ bản thân hiền lành, không hại ai bao giờ nhưng thật sự có phải như vậy không? Đó là chưa đụng chuyện, ngay cả với người tu khi gặp chuyện ác tâm vẫn sanh khởi, trừ những bậc đã thành tựu tứ vô lượng tâm thì ác không bao giờ sanh khởi vì đã diệt tận nó rồi, chặt nó như chặt cây Ta-la không còn sanh khởi trong tương lai, nếu không thì mầm mống của tâm ác hại vẫn còn nên có cơ hội là nó trỗi dậy, phát tác cho nên vợ giết chồng, chồng giết vợ, con giết cha, anh em giết nhau… nó ngủ ngầm trong đó nếu đúng nhân đúng duyên, đúng hoàn cảnh như quả dị thục chín muồi là nó sẽ biểu hiện ra, trong hoàn cảnh hiện tại tâm bi này cần phải được tu tập cấp bách vì dịch bệnh hoành hành, trộm cắp khắp nơi, cướp giật không từ bất cứ thứ gì vì thế sự tu tập tâm bi tuyệt đối quan trọng trong giây phút này, đó là lý do tại sao chúng ta bắt đầu vào học bốn tâm vô lượng trước. Chúng ta phải nhớ thực tập để trở nên hiền hòa, hiền hậu, hiền đức, hiền dịu, thậm chí bị vu khống, vu oan cũng an tịnh, lắng dịu. Một người đầy tớ nghe nói người chủ của mình hiền dịu có tiếng nên muốn thử, bình thường người đầy tớ này phải thức sớm nhưng hôm nay cố tình dậy trễ, người chủ vào la thì người đầy tớ nói "có gì đâu". Hôm sau cô lại dậy trễ hơn nữa, người chủ cũng vào la thì cô cũng nói "có gì đâu". Ngày thứ ba cô cũng dậy trễ nữa nên bị người chủ đánh đổ máu đầu, cô ôm đầu chạy ra đường la lên cho mọi người thấy người chủ hiền thục của mình, cô vừa ôm đầu vừa nói đó là tác phẩm của người chủ. Qua câu chuyện này cho ta thấy những lúc bình thường ai cũng hiền thục nhưng khi đụng chuyện mới lộ ra bản chất thật, Đức Phật nói các vị Tỳ-kheo khi bị vu khống, hãm hại, thậm chí bị đánh đập cho đến mất thân mạng nhưng tâm hiền, tâm từ bi vẫn không thay đổi thì đó mới là vị Đa văn Thánh đệ tử, tức là chứng nhập được bốn tâm vô lượng. Chứng nhập là dù cho gặp hoàn cảnh nào cũng không bao giờ bị mất đi thì mới gọi là chứng nhập, còn khi còn khi mất là chưa chứng nhập, trường hợp không có tâm nào luôn thì chả có gì hết, chỉ biết trên lý thuyết, trên ngôn từ chứ bên trong không có những cảm giác từ, bi, hỷ, xả, hiền thiện vì vậy trong sự tu này đòi hỏi chứng nhập tứ vô lượng tâm, tức là làm cho tâm từ bi, xót thương, hiền lương lúc nào cũng hiện hữu trong thân tâm dù cho có ở trong hoàn cảnh nào, chúng ta có được điều này sẽ được bình an, khả ái, dễ thương, còn bình thường chúng ta sẽ dễ thấy tâm bức xúc, cộc cằn, khó chịu. Những Phật tử về tu trong những khóa tu Nikāta tại Linh Quy sẽ thấy an lạc, trào dâng nước mắt, họ tha thiết, chân thành được trở về tu học vì các thầy, cô và đại chúng dễ thương, mà dễ thương là do tu tâm hiền, tâm từ, tâm bi, đó là chưa thành tựu mà còn vậy chứ thành tựu thì còn dễ thương hơn nữa. Những cảm xúc hiền thiện, trí tuệ, những cảm xúc xót xa, tàm quý, bi mẫn, thương cảm trào dâng, Linh Quy Pháp Ấn là non thiêng nên người nào hung dữ lên đây chỉ vài ngày là ra đi, họ tự động xuống núi vì ai cũng hiền hết trong khi mình dữ thì ở làm sao được vì thế cần phát huy tâm bi, tâm hiền thiện, xót thương này vì nó rất mát mẻ, ngọt ngào, an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, khả ái, giống như không khí của bầu trời Bảo Lộc, giống như phong cảnh đại ngàn của cao nguyên núi đồi, giống như màu xanh trải dài khắp nghìn non muôn núi đồi ở đại ngàn này, tâm từ bi, hiền thiện này cũng giống như vậy. Không khí Bảo Lộc đứng nhất cả nước, hiện tại dân Sài Gòn về đây rất nhiều vì không khí mát mẻ, cảnh đẹp đầy màu xanh của lá cây, tâm đại bi này cũng như vậy, tất cả chúng sanh quy ngưỡng khát khao, mong được nhìn, mong được thấy những bậc chân nhân tu tập tâm hiền, tâm bi này. Trong khóa tu 30/4 vừa qua các Phật tử khen các thầy, các cô, họ có những giọt nước mắt vì xúc động rất chân thật, họ dám bày tỏ những góc khuất trong tâm đã giấu kín bao lâu nay, cha mẹ không dám nói, vợ chồng không thể tâm sự nhưng lên đây họ lại trải lòng trước chư Tăng và đại chúng, đó là tác dụng của tâm bi vì họ thấy mọi người hiền nhân, hiền hậu, có lòng xót thương, độ lượng, tha thứ nên họ sẵn sàng phát lồ, bày bỏ và lạy sám hối chân thành, đó là từ sự không muốn hại mình, không muốn hại người bằng tâm hiền thiện, chân thành, tha thiết, nội tâm xót thương, bi mẫn cho chính mìng và cho hữu tình chúng sanh.
Thương thay tâm mờ tối
Tâm mờ tối đáng thương thay.
Thương thay tâm nóng giận
Tâm nóng giận đáng thương thay.
Thương thay tâm bản ngã, tâm vênh váo
Tâm bản ngã, tâm vênh váo đáng thương thay.
Đọc những câu này lên đồng thời trong từng nhịp đập trong tim rúng động, từng hơi thở chấn động, trong toàn thân trào lên cảm thọ thật xót xa, bi mẫn dào dạt, diệt trừ, tẩy rửa những tâm ác. Cứ khởi lên những cảm thọ, cảm xúc nhiều như vậy sẽ có công năng gội rửa những ác bất thiện pháp, những tâm hại mình, hại người, hại chúng sanh, hại cả hai. Đó là lời mở đầu tác dụng của tâm bi, qua đây chúng ta được thấy sự cấp thiết và quan trọng trong việc tu tập tâm bi, lúc nào Minh Thành cũng mở lên nghe bốn tâm từ, bi, hỷ, xả, nhất là khi thấy khó chịu là mở lên nghe lập tức, thực tập liên tục, nhờ tu tập tâm rộng lớn vô lượng này cho nên mình ở chỗ rộng rãi, tâm rộng thì cảnh rộng pháp lớn, tâm nhỏ hẹp không thể ở chỗ rộng lớn được, không thể bao dung được cho nên có câu "lượng lớn phước lớn, lượng đại phước đại", tâm lượng bao nhiêu thì cái phước sẽ tương xứng bấy nhiêu vì vậy tâm lượng của mình rộng lớn vô lượng thì cái phước sẽ vô lượng, chính vì vậy chư Thiên rất thích cúng dường cho tôn giả Maha Kassapa vì khi ăn cơm ngài sẽ trú trong vô lượng tâm định, trong khi dùng cơm lúc nào ngài cũng trú trong đại lượng tâm định thì phước của người cúng dường cũng được vô lượng, vô cùng, vô tận. Chư Thiên có tha tâm thông nên các ngài biết được tâm của người đó đang ở trong trạng thái nào cho nên tâm của mình nhỏ hẹp nên chư Thiên không đến làm gì, còn ngài Ca-diếp trú trong trạng thái hoàn toàn an định và rộng lớn vô cùng vô tận khi thọ thực, còn mình ăn cơm lại trú trong tâm ngon dở vì vậy mình cần thực tập rất nhiều.
Trước khi bước vào bài tập, hít vào và thở ra nhẹ nhàng 4 lần, đồng thời thầm đọc các câu sau đây nhằm để khơi gợi cho tâm và cảm thọ sanh khởi theo chiều hướng hiền thiện, hiền hòa.
Nhẹ nhàng ơi! (hít vào)
Nhẹ nhàng ơi! (thở ra)
Đầu tiên làm cho thân được yên, tâm nhẹ, thân tâm được khinh an. An là yên ổn, khinh là nhẹ nhàng, lúc đó thân ngồi yên không dao động thì tâm được nhẹ. Lúc đầu bước vào thực tập bốn tâm vô lượng lúc nào cũng ở trong trạng thái nhẹ nhàng, thân yên thì tâm nhẹ, đó gọi là khinh an. Khi thân ngồi yên tâm nhẹ rồi hít vào thở ra "an lạc ơi", từ cái yên ổn, nhẹ nhàng đó làm sanh khởi ra hỷ lạc, tất cả những việc này đều phải có tầm, tứ, tức là hướng tâm mình theo chiều hướng hiền thiện, khơi gợi cho tâm và cảm thọ sanh khởi theo chiều hướng hiền thiện, tức là mình là tài xế lái chiếc xe tâm linh, mình muốn theo chiều nào thì mình dẫn dắt tâm theo hướng đó, giờ thiền quán là giờ dẫn tâm theo hướng mình muốn, còn mình dẫn tâm mà một lát sau tâm đi đâu không biết cũng như lái xe chạy đến đâu cũng không biết là thất bại, vậy là ngủ gục, phóng tâm hoặc bỏ luôn đề mục cứ ngồi không như vậy, cho nên giờ thiền quán là giờ dẫn tâm, hướng tâm điều khiển, dẫn dắt tâm. Sau khi thân nhẹ, tâm yên thì:
An lạc ơi! (hít vào)
An lạc ơi! (thở ra)
Nếu muốn mình có thể làm 5-7 lần cái hít vào thở ra này, càng làm cho sanh khởi cảm thọ nhiều chừng nào thì sự thiền quán càng sâu sắc, càng có nội hàm, càng khơi phát được nguồn mạch của đại bi. Việc thực tập này là cả một công trình tâm linh chứ không phải nghe thầy đọc hoặc mở lên nghe cho có hoặc ngủ luôn, phải phối hợp nhịp nhàng tùy văn nhập quán, khai triển tất cả những hình ảnh, cảm xúc, ngôn ngữ trong lúc đó, như vậy cái ngồi đó mới khơi gợi tâm theo cảm thọ hiền thiện và lòng bi mẫn bắt đầu tuôn trào thì mới sanh được tâm từ bi, hiền thiện, xót thương.
Hiền tâm ơi! (hít vào)
Hiền tâm ơi! (thở ra)
Thiện tâm ơi! (hít vào)
Thiện tâm ơi! (thở ra)
Mỗi lần đọc câu này lên phải ngọt ngào, da diết, tha thiết như mẹ gọi con, dùng con mắt tâm nhìn vào lồng ngực, nhìn vào trung tâm các cảm thọ và nói "tâm hiền ơi… tâm hiền". Lúc đó mình sẽ thấy trong tâm trào lên cảm thọ da diết, tha thiết, cho nên một tuần phải ngồi thiền ít nhất bốn buổi để thực tập xen kẽ chỉ và quán. Vừa nói tâm hiền là cảm nhận được cảm giác hiền từ thấm đượm cả châu thân, trong từng tế bào sanh khởi lên cảm thọ của tâm hiền, phải như vậy mới được vì thiền quán rất sâu xa, vi tế, nhỏ nhiệm, tức là hô phải có ứng, gõ cửa gọi hoài mà không ai trả lời là thất bại, tức là gọi phải trả lời. Lúc Minh Thành đi qua Phật Quang Sơn có Đại Phật Pháp Ngữ, thay vì rút lá xăm sẽ là một bài pháp ngữ, Minh Thành rút trúng bài có câu "liễu biếc hoa tươi muôn ngàn hộ, đến đâu gõ cửa cũng có ơi", khi mình gõ cửa gọi "tâm hiền ơi" thì trong tâm phải trả lời lại "ơi, có đây, tâm hiền đây", như vậy mới được, còn đằng này gọi tâm hiền mà không thấy hiền, không thấy thiện gì cả, cứ ngồi trơ ra, vì vậy thiền quán là phải có hô ứng tức là gọi phải có ơi, khi ra lệnh thì tất cả cảm thọ trong thân tâm mình phải sanh khởi, vận hành, cái pháp đó phải hiện hữu.
Tâm hiền lành ơi! (hít vào)
Tâm hiền lành ơi! (thở ra)
Tâm thiện ơi! (hít vào)
Tâm thiện ơi! (thở ra)
Tâm lành ơi! (hít vào)
Tâm lành ơi! (thở ra)
Mình cứ kêu gọi cho đến khi nào sanh ra cảm thọ thì thôi, cho nên chúng ta cần nhớ không được đọc cho hết câu cú, chữ nghĩa mà vừa đọc phải vừa sanh cảm thọ vì tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ. Ta khơi dậy trong ta tình thương, sự xót thương và lòng bi mẫn, ta khơi dậy trong ta tình thương và tâm hiền lành, ta khơi dậy trong ta hiền tâm và tình thương, ta khơi mở để tình thương trong ta thức dậy, ta khơi dậy lòng trắc ẩn, lòng bi mẫn, lòng xót thương trong ta. Lúc đó trong từng tế bào, từ đảnh tóc cho đến gót chân tràn ngập tình thương giống như khi tắm vòi hoa sen, nước chảy ướt từ đỉnh đầu xuống gót chân, nước trong vòi hoa sen như thế nào thì cảm thọ tình thương thấm đượm y như vậy, tu thiền quán cảm thọ vi diệu như vậy mà vẫn có người không chịu tu, thời gian rảnh chỉ ngồi khởi lên buồn, giận, thương, ghét, sầu, bi, khổ, ưu, não mà không chịu khởi lên tâm đại bi, tâm tình thương. Đó là cái tâm nhỏ hẹp, không phải tâm vô lượng.
Tình thương sống trong ta,
Hiền tâm sống trong ta.
Tình thương có trong ta,
Hiền tâm có trong ta.
Đọc câu này lên là muốn rưng nước mắt. Tình thương sống trong ta và ta sống trong tình thương, tình thương sống trong tim ta, trong lồng ngực, trong cảm thọ ta, sống trong tâm ta. Tâm hiền sống trong ta, tâm hiền có trong ta. Mình thấy dào dạt một cảm xúc thấm đượm, tuôn trào từ trong lồng ngực, từ trong cảm thọ, từ trong nội tâm mình, không phải chỉ nói trên môi mà thật sự cái pháp này đang hiện hữu, có mặt trong thân tâm mình.
Ta mở rộng tình thương
Đến các loài hữu tình,
Ta mở rộng niềm vui
Đến các loài chúng sanh.
Vừa đọc câu này vừa quán tưởng cảm giác từ lồng ngực lan tỏa khắp không gian trước mặt, lan ra khắp vùng trời đất hư không, lan ra khắp hữu tình chúng sanh vạn loại, những hình ảnh của người chết vì dịch bệnh hiện ra, những người bệnh với máy trợ thở hiện ra, những em bé vài tháng tuổi phải đi cách ly, những bác sĩ ngã quỵ xuống hiện ra, tất cả những cảnh già, bệnh, chết, tan thương, sầu khổ trong nước ngoài nước hiện ra. Khi chúng ta trải tâm đó thì những hình ảnh bằng tưởng mình quán, mình đã thấy, đã nghe trong đời sống này hiện ra và tình thương của mình bao trùm đến những người đó. Khi đọc những câu này "Ta mở rộng tình thương đến các loài hữu tình, ta mở tâm hiền đến các loài chúng sanh", thì thọ; tưởng; hành phải hiện ra và cảm giác phải lan tỏa ra bao trùm mọi thứ cho nên đọc nhanh là thất bại vì không kịp khởi thọ; tưởng; hành để quán. Lúc đầu có thể lấy bài của Minh Thành đọc trước để quán chiếu học hỏi nhưng sau đó từ từ đọc quen thì mình tự đọc nhưng phải đọc nhiều lần để sanh cảm thọ chứ không phải chỉ đọc một lần là xong, đây là cách để mọi người thiền quán.
Bằng tình thương hữu tình,
Bằng hiền tâm chân thật,
Bằng tấm lòng thương tưởng
Đến tất cả hữu tình
Và thương cả chính mình
Hiện đang còn lặn hụp
Trong sanh tử khổ đau
Khi đọc như vậy thì chúng ta cần nhớ để cho cảm thọ trong người lan tỏa ra, đọc đến đoạn "còn đang lặn hụp trong sống chết khổ đau" thì phải quán bản thân đang lặn hụp trong biển, tất cả chúng sanh đang kêu gào thảm thiết, say mê điên đảo trong đó và mình thương cả chính mình vì cũng có mình trong đó chứ không phải chỉ có chúng sanh, mình không phải là người ban phát tình thương mà mình cũng có mặt trong cái biển khổ đau đó thì pháp quán đó mới viên mãn cho mình, cho người, còn không chỉ biết thương người ta, vậy mình là ai? Mình quên mất bản thân mình, giống như người ngồi trên lưng trâu đếm số con trâu mà đếm tới đếm lui vẫn bị mất một con vì quên mất không đếm con trâu mình đang ngồi lên, đó là tâm hướng ngoại, suốt ngày lo từ bi để độ chúng sanh mà chúng sanh độ mình lúc nào không hay, rất nhiều người bị như vậy cho nên tinh thần kinh Nikāya "tự lợi lợi tha" viên mãn là chỗ này, dù có làm gì đi nữa cũng không quên mình.
"Dầu lợi người bao nhiêu,
Chớ quên phần tư lợi,
Nhờ thắng trí tư lợi.
Hãy chuyên tâm lợi mình".
(Kinh Pháp Cú 13 – Phẩm Thế Gian, kệ 167)
Dù có lợi cho người bao nhiêu đi nữa cũng chớ quên đi tự lợi của mình, thắng tri tư lợi là cái biết thù thắng về sự tự lợi của chính mình, cái đó mới là tối thượng. Thật sự khi chúng ta ngồi đây nói rằng để giúp cho tất cả các Phật tử an tâm trong dịch bệnh nhưng mình cũng có lợi ích trong đó, cũng làm bản thân mình được an tâm, đó là tự lợi lợi tha. Nếu mình cứ nghĩ phát tâm giúp người ta chứ mình không có lợi ích gì trong đây rồi mình không tu tập, không an trú, không làm cho bản thân sanh khởi những pháp mình đang học hỏi, đang chia sẻ thì lúc đó mất phần người, giống như đi chăn bò cho người ta, đi đếm tiền trong ngân hàng mà cái túi mình trống không. Cho nên điều quan trọng trong kinh Nikāya là trong bất cứ pháp tu nào thì phần lợi ích chính mình phải có rồi sau đó mới chia sẻ cho người, vì mình có rồi mới chia cho người ta được, mình không có thì lấy gì chia cho người ta mà nói làm từ thiện? Cho nên cần nhớ lợi ích cho mình trước.
Và thương cả chính mình
Hiện đang còn lặn hụp
Trong sanh tử khổ đau
Trong những tâm ác ý
Muốn làm hại lẫn nhau.
Đến đây là dừng lại để mình lôi ra những tâm ác ý của mình từ xưa đến nay, những tội lỗi, ác nghiệp của mình để có những ý niệm sám hối, nhục nhã, tàm quý, xấu hổ, phải tẩy rửa, diệt tận ý niệm xấu xa ngay lúc đó, nếu để những ý niệm xấu ác trong thân tâm thì nó sẽ có cơ hội sanh khởi trở lại nữa. Thiền quán là quay trở lại nội tâm để đào bới, diệt tận những thứ xấu ác tận gốc rễ, dùng ngọn lửa của bậc Thánh đốt hết tất cả gốc rễ của vô minh, tham ái, chấp thủ, những tâm hung dữ, ác ý, hại mình hại người, như vậy mới gọi là diệt tận, thanh tịnh.
Vì sự đau khổ này
Của ta và hữu tình
Ta thành tâm, tha thiết
Tu tập trải Bi tâm.
Mình nhớ lại những nỗi khổ trước nay mình phải chịu do tham, sân, si, vô minh, bản ngã, do tâm ác hại gây ra nên mình "thành tâm tha thiết tu tập trải bi tâm". Khi đọc những câu này phải thành tâm tha thiết, cung kính như đội trên đầu, "con thành tâm tha thiết tu tập trải lòng xót thương, con thành tâm tha thiết tu tập tâm hiền thiện vì sự đau khổ này của con và chúng sanh". Đó là chúng ta làm sanh khởi tâm bi và chỉ mới bắt đầu đi vào tâm bi, nắm được cách thức để thực tập thiền quán tâm từ, tâm bi, tâm hiền và phải làm cho cảm thọ sanh khởi trong khi thiền quán.
./.