Tóm Tắt Ngũ Uẩn Giảng Giải 32 - Cốt Lõi Pháp Hành Nikāya 2
Tinh Hoa Nikāya
Tóm Tắt Ngũ Uẩn Giảng Giải 32
Cốt Lõi Pháp Hành Nikāya 2
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Tâm hiền PAGEREF _Toc204010215 \h 1
II. Bốn trí tế nhị PAGEREF _Toc204010216 \h 3
III. Trình pháp PAGEREF _Toc204010217 \h 6
IV. Tâm hiền 2 PAGEREF _Toc204010218 \h 7
I. Tâm hiền
Sư Phụ: Tinh hoa của Nikāya so với ở bên trường trung cấp con đã chia sẻ từ năm 2018 cho đến nay là bắt đầu con chuyên nhất vào Nikāya, nhất hướng cho đến nay là năm năm. Lớp chúng ta là cái lớp sau nhất, sau cùng được hứng trọn hết những tinh hoa, tinh túy, tinh anh, tinh tủy của pháp, nếu chúng ta không nắm được nữa là con chịu, lớp chúng ta thường được làm bài tập, thường được nhắc tới nhắc lui pháp hành, ôn đi ôn lại, nhắc tới nhắc lui, kiểm tra bài tập. Nếu không nắm được, không thực hành nữa thì cái đó là vô phước quá, ráng chịu, ngay cả bên trường trung cấp là con đã chào biệt rồi. Học cái pháp này phải là những người tha thiết trong sự cầu pháp mới học được, cái thứ hai nữa là những người phải có cái đức tính hiền thiện, rất quan trọng, không có đức tính này không có học được chánh pháp được. Người dễ sân hận, người có bản ngã lớn không học được pháp này cho nên trong kinh tạng các thầy gọi nhau là hiền giả, hiền trí, chư hiền.
Ở Linh Quy chúng con tận lực để sử dụng lại những cái từ ngữ, những cái gì có thể thực tập được ở trong Nikāya, chúng con gọi nhau là hiền giả, chư hiền hay là các bậc hiền trí. Tức là mình làm sao để mình có thể xích lại gần nhất với những gì của Đức Phật, coi như tận lực dù có rất nhiều trở ngại, khó khăn nhưng vẫn cố gắng để xích lại gần nhất có thể được trong bộ tạng kinh Nikāya này. Từ nãy giờ đó là chúng ta đánh phá các tiêu cực, cái vô minh, khác ái, những cái cấu uế, ô nhiễm và bây giờ chúng ta đã đi vào lộ trình tăng trưởng cái phương diện tích cực, những cái thiện pháp, những cái đức hạnh thánh hiền. Chúng ta thấy cái lội trình tu tuyệt diệu không? Không phải chỉ có một mặt, không phải tối ngày chỉ thấy cái dơ, thấy bẩn, thấy cấu, thấy uế, ớn quá tu không nổi, nhưng mà bây giờ bắt đầu nhìn qua cái mặt tích cực, cái mặt thiện pháp, mặt thánh pháp, thánh hạnh, đức hạnh của thánh hiện.
Đầu tiên chúng ta tu tập tâm hiền, cái này phải tập nhiều lắm, tập rất là nhiều, phải chịu khó tập rất nhiều. Cái tâm của mình dùng cái từ trong kinh là ương ngạnh, cứng đầu, khó dạy, khó bảo, đây là kinh Nikāya đó, cái tâm của chúng sanh không được tu tập là một cái tâm cứng cỏi, ương ngạnh, khó nghe, khó dạy, khó bảo, là một cái tâm chống đối. Nhiều người có tánh bị nói là cãi trước đi rồi tính sau, chúng ta lâu lâu có gặp không ạ? Có gặp nhiều không? Không biết nói cái gì nhưng cãi trước tính sau dù không biết đúng sai, hay dở gì cứ cãi trước tính sau thì cái hạng này khó tu học, tâm chống đối nhiều.
Nếu mà muốn học Nikāya, thực hành chánh pháp thì đầu tiên phải diệt cái tâm chống đối, không diệt cái tâm này là không tu học được. Chẳng hạn như kêu tu hiền "bộ con không hiền sao thầy kêu con tu tâm hiền?", đó là tâm chống đối, bấy nhiêu đó là coi như bật văng ra liền, giống như trái banh bật vào tường là dội ra liền. Đó là chính con ngày xưa, bậc đạo sư của con dạy tu tâm hiền thì ngoài miệng không nói nhưng trong bụng nói "bộ con không hiền sao kêu tu tâm hiền", cái này mình thấy dễ quá trời. Sau này mình mới thấy mình đúng là nhục nhã, xấu hổ, bẩn thiểu, ngu si, ngạo mạn, ngã mạn, kiêu mạn, giờ mình mới thấy mình, mới chửi cái tâm, đạo sư là sư phụ của mình dạy mình thì mình nghĩ "giờ này tu tới đây mấy chục năm còn kêu tu tâm hiền". Bây giờ mình mới thấy cái tâm đó là tâm ngạo mạn, ngã mạn, kiêu mạn.
Cái tâm mình phải nhận diện ngũ uẩn mới thấy, còn không nhận diện ngũ uẩn là không thấy, là mình mù lòa vĩnh kiếp, vô lượng, vô số, vô biên kiếp cho nên phải diệt cái tâm chống đối trước thì mới tu, muốn vào cái tâm hiền thì đầu tiên phải diệt tâm chống đối. Kêu về nhà học bài có học đâu, được mấy người học, mà tại sao không học? Vì không thấy được cái giá trị quý báu tối thượng của thánh trí, không thấy được công năng, tác dụng, giá trị, quý báu, vì chưa thấy được pháp bảo. Con hỏi thật bây giờ mình biết trong phòng ngay cái góc giường của mình có chôn ở dưới là thất bảo, ở dưới đó có hột xoàn, kim cương, mã não, lưu ly, hổ phách ở ngay dưới góc giường của mình thì mình có đào không? Nếu mình biết chắc đào liền ngay lập tức, nửa đêm nửa hôm gì cũng đào hết, đào quyết liệt, cũng vậy, khi mình thấy được cái giá trị, cái công năng, cái tác dụng, cái quý báu, cái lợi ích thì lúc đó mình mới quý pháp, mình mới kính pháp, mình mới tôn trọng pháp, mình mới đảnh lễ pháp, mình mới cúng dường pháp, mình mới tôn thờ pháp, mình mới khát ngưỡng pháp, mình mới cầu pháp bằng tất cả sinh mạng của mình.
Trở lại vấn đề ở đây cái đầu tiên phát triển về cái phương diện tích cực là tâm hiền thiện, tạm thời chia ra ba cấp độ là hiền thiện, hiền trí, hiền thánh. Với hiền thiện thì mình phải có niệm thân, từng cử chỉ, từng hành động của mình, từng bước đi, từng lời nói, từng ánh mắt, mỗi cái cử chỉ, hành vi của mình có sự nhẹ nhàng, có sự khiêm cung, có sự khiêm tốn. Thí dụ mình kéo cái cửa, hay mình kéo cái ghế, mình để đôi dép cũng có cái chất hiền trong đó chứ không phải mình đạp vô dép của người ta, hoặc một chiếc ở đây, một chiếc bên kia, để đôi dép cũng ngay ngắn, trong một cái sự nhẹ nhàng, ngay thẳng, mở cái cánh cửa cũng phải mở nhẹ nhàng, kéo cái ghế hay cái bàn, hay làm tất cả mọi cử chỉ, hành động đều có sự an tịnh, lắng diệu ở trong đó, có sự nhiếp tâm chánh niệm ở trong đó, tránh tiếng ồn, tiếng động tối đa.
Khi mà các thầy các cô có dịp con thỉnh lên khóa tu Nikāya rồi sẽ thấy hai trăm người ăn cơm không có tiếng động, đó là cư sĩ, trong đó cũng có các bậc xuất. Bây giờ thật sự là cái tâm của con dễ cảm xúc lắm, nếu mấy thầy, mấy cô làm một cái gì với một cái tâm không có hiền thiện là con nhìn con đau lòng lắm, chính vì vậy con sẽ không có chia sẻ pháp rộng rãi được nữa, chỉ có người tha thiết tu hành thì con mới chia sẻ được, những cái người nhiều bất thiện, nhiều chống đối, những người không có tâm hiền thiện thì không thể truyền pháp cho họ được. Tu cái nhạy lắm, con chỉ nhìn qua sơ qua thì ngũ uẩn hiện ra hết, nhìn cái ánh mắt, đọc được cái suy nghĩ của họ, cái cảm thọ của họ, tu cái này nhạy lắm, nó sắc bén lắm.
II. Bốn trí tế nhị
"Này các Tỳ-kheo, có bốn trí tế nhị này. Thế nào là bốn?
-Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo thành tựu trí tế nhị đối với sắc, không thấy một trí tế nhị đối với sắc tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy. Vị ấy không có phát nguyện đạt đến một trí tế nhị đối với sắc nào khác tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy.
-Vị ấy thành tựu trí tế nhị đối với thọ, không thấy một trí tế nhị đối với thọ nào khác tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy. Vị ấy không có phát nguyện đạt đến một trí tế nhị đối với thọ nào khác tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy.
-Vị ấy thành tựu trí tế nhị đối với tưởng …
-Vị ấy thành tựu trí tế nhị đối với các hành, không thấy một trí tế nhị đối với hành nào khác tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy. Vị ấy không có phát nguyện đạt đến một trí tế nhị đối với hành nào khác tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy. Này các Tỳ-kheo, đây là bốn trí tế nhị.
Biết trí tế nhị sắc
Biết hiện hữu các thọ
Từ đâu tưởng sanh khởi
Tại đâu tưởng chấm dứt
Biết các hành biến khác
Là không, không là ngã
Nếu Tỳ-kheo thấy chánh
Tịch tịnh, ưa tịch tịnh
Thọ trì thân tối hậu
Thắng Ma và Ma quân." (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, II. Phẩm Hành, (VI). Trí Tế Nhị)
Bốn trí tế nhị là bốn trí sâu kín, nó nhỏ nhiệm, nó tinh vi, nó sắc bén, nó vi diệu, ý nghĩa của bài kinh này là người tu về thánh trí ngũ uẩn sẽ có một cái trí tuệ sắc bén, nhỏ nhiệm, tinh vi, thù thắng, vi diệu mà không có bất cứ một cái loại trí tuệ nào trên đời này có thể so sánh được, có thể cao hơn được, một người tu trí ngũ uẩn này thì người này không còn mong muốn phải đi tìm một cái trí huệ nào khác nữa trên đời này hết, như vậy gọi là vô học thánh trí uẩn. Một người thành tựu chánh kiến ở trong kinh tạng Nikāya thì người đó không còn đi tìm bất cứ một cái tri kiến, kiến thức nào ở ngoài thánh trí Nikāya, người còn đi tìm tức là người chưa thấy, người thấy rồi là không còn đi tìm. Bây giờ con hỏi quý thầy, quý cô một người mù được sáng mắt lên thì người này có đi tìm mấy người mù dẫn đường cho mình đi nữa không? Trừ khi người này chưa có sáng, người này vẫn còn mù.
Cho nên một người thành tựu được thấy đúng ở trong Nikāya thì không thể đi tìm một cái pháp hành nào khác nữa. Con đi tìm pháp hành gần ba mươi năm, khi tìm được cái này rồi là không còn tìm gì nữa hết, giờ chỉ thực hành thôi. Bây giờ trở lại cái vấn đề là tu tâm hiền rất là quan trọng, cái tâm hiền ngoài hành động của thân, còn tới cái lời nói và trong một cái ý nghĩ nữa, hãy tu được cái ý nghĩ hiền. Người có suy tư theo cái chiều hướng hiền thiện thì cái gương mặt họ phúc hậu, lời nói họ nó rất là dễ nghe và cái hành động của họ nó rất là thân thiện, từ ái, cái người tu cái tâm hiền, thân, khẩu, ý đều hiền hòa hết tức là họ suy nghĩ thì thường họ sẽ suy nghĩ về cái chiều hiền thiện.
Thí dụ chiều nay mình đi học về trễ trời mưa, vô bếp hết đồ ăn, còn miếng cơm nguội với miếng rau luộc, mấy cái đồ ngon lành ăn hết thì mình suy nghĩ "tu tấn đạo nghiêm thân tam thường bất túc" người muốn tấn tu đạo nghiệp, trang nghiêm pháp thân, người muốn tiến đạo, muốn hành đạo, muốn tăng thượng, tăng trưởng trong đạo, muốn đắc đạo thì người đó không có đòi hỏi về cái ăn này, cái mặc này, cái ngủ này cho nên đây là cái bài tập, đây là cái cơ hội, đây là một cái duyên để cho mình thực tập được cái tâm kham nhẫn, cái lối sống đơn giản, ít muốn biết đủ. Như vậy đây là mình hoan hỉ trong cái sự không có đồ ăn, mình vui, hoan hỉ, mình ăn miếng cơm với rau luộc mà mình cười, mình thấy nhẹ nhàng, dễ chịu chứ mình không có bực bội, khó chịu "sao ăn hết trơn không chừa tôi" nhiều khi tôi có công, tôi quản chúng, tôi là tri sự, tôi là chúng trưởng, nhóm trưởng gì đó thì không có hiền.
Tu cái này cả đời coi được chưa? Bây giờ mình lại gặp huynh đệ, tỷ muội, mình dùng chữ tỷ muội là dùng bây giờ chứ trên con Linh Quy Pháp Ấn là không dùng chữ sư anh, sư chị, sư em, sư tỷ muội, trên con là dùng bậc đồng phạm hạnh, các bậc hiền trí, không dùng sư tỷ, sư muội, sư em, sư chị, sư anh, sư chú, sư bác, sư ông, sư bà, dùng như vậy là có ái trong đó. Tự nhiên ở nhà bỏ cha, bỏ mẹ, bỏ anh em rồi vô chùa nhận "sư em của tôi nè", cái này cẩn thận, trong Nikāya là các bậc đồng phạm hạnh, các bậc hiền giả, hiền trí, không có sư em, sư chị, sư anh, sư chú, sư bác, sư ông, sư bà cho nên không phải ai nói rồi mình cũng nghe hết, mình phải dùng cái trí tuệ của mình, nhất là mình bám sát cho lời của Đức Phật.
Tại sao Phật là bậc mẫu mực, nhân thiên sư phạm, thầy của trời người mà mình không học theo, đi học theo mấy cái nào hợp với cái ái của mình, thích, khoái với mình là chụp liền. Tại sao cái bậc nhân thiên sư phạm tối tôn, tối thượng, tối cao, duy nhất mà không chịu học theo? Cái tâm là vậy đó, tâm mê nó không thấy. Bây giờ trở lại vấn đề giữa huynh đệ, giữa các bậc đồng phạm hạnh, chư hiền với nhau mà tự nhiên người đó gây sự với mình, mình không có làm gì mà họ gây sự mình thì lúc này người tu tâm hiền sẽ nghĩ "cái này chắc chủ nợ, khoảng mười mấy ngàn chùa cả nước Việt Nam, khoảng chừng hàng trăm ngàn Tăng Ni mà tại sao mình không ở chung mà mình gặp cái cô này?". Cái chữ hiền trí rất là sâu sắc, nó nhắc mình và nhắc người đó luôn, thí dụ mình gọi là hiền giả Diệu Ngộ, hiền giả Ngọc Như, nghe chữ hiền là tự nhắc bản thân mình hiền, nếu mình dữ thì coi sao được. Đó là công năng, tác dụng của nó, nhắc nhở tâm mình hiền, hiền giả, hiền trí, hiền nhân
Mình thấy người ta kiếm chuyện với mình thì mình biết "đây là chủ nợ đời trước, oan gia trái chủ đời trước, bây giờ không trả trước cũng trả sau, không trả sớm cũng trả muộn, thôi trả cho rồi đi". Như vậy sự tu hiền này rất quan trọng rất quan trọng mà phải tập từng cái suy nghĩ, từng cái ánh mắt, từng cái cử chỉ, từng cái hành động, mỗi cái cảm thọ, tưởng, hành của mình, sắc; thọ; tưởng; hành; thức, thân, miệng, ý của mình, mắt mình phải hiền, lỗ tai mình nghe theo chiều hướng hiền. Mấy bài này con có hướng dẫn rất kỹ, chúng ta lên trang Linh Quy Pháp Ấn nghe tầm quan trọng của tâm hiền trí của tôn giả Xá-lợi-phất dạy, bất cứ bài nào có chữ hiền là nghe đi, đây là pháp quán, pháp tu, pháp hành là phải tu thực tập luôn như vậy là tám tháng, ba năm, bảy năm, mười năm chứ không phải nghe xong rồi thiền liền. Phải dạy từng cái suy nghĩ, dạy từng cái ánh mắt, dạy từng cái cử chỉ, dạy từng cái hành động, dạy từng cái cảm xúc, cảm thọ, từng cái tưởng, mình phải dạy cái tâm của mình đi theo chiều hướng hiền thiện mới được.
Mình nhìn bằng ánh nhìn thiện cảm, Đức Phật dạy trong kinh Trung Bộ hay lắm, nhìn bằng cái ánh nhìn thiện cảm, nói lời từ ái, nói đúng sự thật, nói đúng thời, nói với từ tâm. Mình muốn dạy người ta mà đang lúc mình bực bội là không được nói cái gì hết, lúc đó là không nói, mình muốn nói, muốn hướng dẫn, góp ý cho ai thì đợi lúc tâm từ thì mới nói, còn lúc sân nói ra là sai, nói ra là trật, dầu cho mình có nói đúng thì lời đúng cũng thành trật tại vì cái động cơ ở trong cảm thọ là sân thì làm sao người ta nghe, người ta tiếp nhận. Bây giờ mình nghĩ đi, có một người dạy mình đúng hết mà đang sân hận mình, nói cho mình thì mình dễ chịu không? Mình có chịu nghe không? Mình có tâm phục khẩu phục? Mình có ngọt ngào tiếp nhận không? Nếu không thì lúc sân mà mình nói làm gì?
Cho nên cái tâm hiền này mình tu từ trong cái cảm thọ, nhớ là tu trong cảm thọ chứ không phải chỉ gượng ép ở bên ngoài. Người ngoài đời, người trí thức dù cho có hiền đi nữa đó là cái hiền biểu lộ ở bề ngoài thôi, mình thấy mấy người im im tưởng đâu hiền nhưng coi chừng nhiều khi đó lù khù giác lu chạy, im im không nói tới chừng làm là long trời lở đất, động đất, sóng thần. Vì thế nhiều khi người ta hiền như vậy nhưng không phải là hiền trí của bậc thánh, của chánh pháp, cái hiền này nó đưa vô tới trong cái cảm thọ, nó được huấn luyện, được tu tập, được làm cho nhu nhuyến, mềm mại, dễ sử dụng, hiền từ trong ruột hiền ra, nó hiền từ trong tim, hiền trong tất cả sắc; thọ; tưởng; hành; thức.
III. Trình pháp
Mình lại gần một người như vậy thì không thấy có một cái sự lo lắng, sợ hãi, bất an hết. Cảm thọ người này tu tập cái tâm hết sức là ngọt ngào, dễ chịu, hiền hòa, từ ái, dễ thương, dễ gần, dễ mến, dễ nuôi, dễ bảo, dễ dạy, dễ sống, dễ tu, dễ hành, dễ thành, tất cả đều rất dễ. Bây giờ mình chịu dễ hay chịu khó?
Sư cô 1: Dạ con kính bạch thầy cùng đại chúng, con muốn thân cận với người dễ chịu nhưng mà dễ chịu đúng nếu như con đúng, còn nếu con sai thì vẫn khó chịu để dạy con vẫn được.
Sư Phụ: Chắc không?
Sư cô 1: Dạ con sẽ cố gắng.
Sư Phụ: Từ từ suy nghĩ rồi nói cho nó kỹ, nếu mà mình sai mà người đó họ khó chịu, họ sân hận dạy mình thì mình chịu không?
Sư cô 1: Dạ con sẽ cố gắng từ từ, có thể là thời gian đầu cái tâm của con còn bồng bột, còn ngang ngược, còn bướng bỉnh thì cái vị đó dạy con bằng thái độ khó chịu có thể con sẽ phản ứng lại, nhưng mà con cố gắng hành pháp.
Sư Phụ: Bây giờ quyết tâm hành không có phản ứng lại, quyết tâm là không phản ứng lại, quyết tâm tuyệt đối một trăm phần trăm là tu cái tâm hiền, phải ra cái tiêu chí vậy chứ không có nói có thể. Có thể để mở cái cửa cho mình sân sao? Nhất chí không?
Sư cô 1: Dạ mô Phật.
IV. Tâm hiền 2
Sư Phụ: Mình phải có một sự quả quyết, quyết định, như vậy mình mới có cái tiêu chí để mình phấn đấu, còn mình mở hàng hai để có đường lui, đường rẽ, mình ngồi cuối để có gì mình rút lui âm thầm hay sao? Thành ra mình tu tâm hiền này hay lắm, đao thương bất nhập, người tu tâm từ được mười một công đức, trong đó có cái công đức là lửa không cháy được, nước không nhận chìm được, độc không xâm nhập được, người ta có đầu độc mình cũng không chết, người mà chứng đạt tu tập được cái tâm từ, tâm hiền, tâm từ mà thành tựu là không có gì hại được hết. Cho nên các quý vị Tỳ-kheo hồi xưa ở trong rừng, trong núi, ở chỗ có phi nhân mà bây giờ mình nói là ma quỷ thì Đức Phật dạy các vị đó cứ trải tâm từ là yên ổn hết, độ cho mấy vị phi nhân đó luôn, chẳng những không sợ ma mà cái này còn độ ma luôn, tuyệt diệu không? Lúc đầu sợ ma, bây giờ độ ma luôn. Tại sao không tu cái cách này mình cứ sợ ma làm gì?
Thành ra mình tu cái cảm thọ hiền, tu thân, khẩu, ý hiền, tu mắt; tai; mũi; lưỡi hiền, cái ánh nhìn của mình cũng nhìn cho người ta dễ chịu, nhiều khi con ngồi ở trên mà học trò nhìn con làm con sợ, con thấy ánh mắt là con cúi xuống liền. Tại vì giờ nhạy lắm, nhìn cái ánh mắt là con biết người đó đang sân, đang khó chịu, đang chống đối với lời pháp, con nhìn là con cúi xuống "mô Phật". Cái chữ "con" này là đang thực tập cái tâm hiền diệt ngã chứ không phải là nói chuyện mà chỉ sáo ngữ không đâu. Mình phải tập xưng con cho nhiều lên, những người cư sĩ đáng bà nội, bà ngoại, đáng cha, đáng mẹ, đáng cô, đáng chú mình rất nhiều, mình xưng cái đó là tu tâm hiền, tu cái hạnh khiêm cung, mình tập đi, không có sao hết, nó tuyệt diệu lắm, cứ tập đi đừng có sợ ngại.
Ngài Xá-lợi-phất là bậc thay Phật lãnh đạo Tăng đoàn đó, ngài tu cái pháp gì quý thầy, quý cô biết không? Đó là an trú tâm như một kẻ ăn mày, cái nùi giẻ rách, đó là pháp hành của ngài, đó là bậc đại thánh, bậc tôn đức, bậc cha thầy của Tăng chúng, của thánh chúng. Thành ra cái tâm hiền này chúng ta tu ba năm cho đến bảy năm rồi sau đó nói chuyện tiếp, nhưng mà những người huân tu từ đời trước thì đời này tự động họ có, ví dụ trong đây có các vị con nhìn thấy con biết, người ta đã tu tập có cái chất đó sẵn ở đời trước cho nên bây giờ tu nhẹ lắm, dễ lắm, những người này có cái đức hiền thiện, cái tâm hiền, cái cảm thọ lắng dịu, hiền thiện này thì khi họ gặp thánh pháp giống như chim sổ lồng, như cá gặp nước đại dương vậy đó, mau mở cửa bước vào thôi. Còn người chưa có tâm hiền là tu mệt lắm, nó quậy dữ lắm, nó quậy với chính tự thân của người đó, thọ; tưởng; hành nó quậy mình, nó không cho mình tu, nó nói "ngu quá vậy, nhịn là ngu à, đừng nhịn", lâu lâu có nghe câu này không?
Cái tâm ác đó, cái đó là cái tâm dữ, tâm đó là cái tâm ác ma cho nên pháp tu của ngài Xá-lợi-phất là con bò đực bị cưa hai sừng, an trú cái tâm giống như bò đực bị cưa sừng, hiền lành, lắng dịu, chẳng hại ai, dễ chịu, dễ thương và dễ mến, dễ bảo, dễ nghe pháp thánh hiền. Thành ra mình thành tựu được cái tâm hiền này rồi hay lắm, tuyệt vời lắm, mình ở đâu cũng ngọt ngào, cũng dễ chịu, cũng an lành, mình gặp mấy cái người khó chịu mà mình vẫn dễ chịu, cái đó mới tuyệt diệu, gặp người khó chịu mà mình vẫn dễ chịu thì cái đó mới tuyệt diệu, còn mình gặp người khó chịu mình cũng khó chịu thì có cái gì đâu, phàm phu tục tử, có tu hành gì đâu cho nên mình tu cái tâm hiền hay lắm. Tâm hiền lành, hiền thiện, hiền lương, hiền hòa, hiền hậu, hiền nhân, hiền đức, hiền từ, hiền trí rồi mình mới bước lên tới bậc hiền thánh, hiền thánh là chí cực của hiền rồi, là tối hiền, là thượng hiền, là chí hiền, là tột cùng cái sự hiền đức là bậc thánh.
Cho nên các vị Tỳ-kheo hồi xưa tu dễ lắm, có lỗi gì Đức Phật gọi lên là dạ đúng con phạm lỗi như vậy, không có chối cải gì hết. Còn mình kêu lên "con đâu có đâu, tại cái ông khi chứ con không có, sao sư phụ rầy con vậy" hoặc là "con thưa sư phụ là cô kia chứ con có làm gì đâu mà nói con vậy", đó là cái tâm ngụy biện, quanh co, giấu lỗi lầm. Cái tâm rất là bao biện, ngụy biện, biện luận, quanh co che giấu cái lỗi lầm, cái tâm không có ngay thẳng, không có chánh trực, không có chân thành, không có chân thật trong sự tu học cho nên không có đạt được chánh pháp. Một con người không có chân thành sao mà học được chánh pháp? Cho nên ngày nay khó tu là vậy đó, cái tâm không có thành thật.
Khi mình nhận diện ngũ uẩn, khi mình nhận diện tham, sân, si, bản ngã của mình là mình phải thành thật, chân thật, chân thành, phải ngay thẳng, phải dám nhận lỗi của mình, phải dám trình bày ra. Như quý thầy nhận diện ngũ uẩn rất tốt, khai thiệt hết trơn, có cái gì mình khai thiệt hết, cái lỗi lầm, cái xấu mình như vậy đó, còn người không có thành thật mà hư ngụy, xảo trá nói cái tốt của mình không à, còn mấy cái xấu che hết, giấu hết thì khó tu lắm. tâm hiền này tu từng cái suy nghĩ, từng cái hình bóng trong tâm, từng cái cảm giác, phải tu từng cái ánh mắt, từng cái lời nói, từng cái cử chỉ, từng cái hành động, mỗi một cái thân hành là mình phải tu cái tâm hiền, tâm rất là dễ chịu, rất là mát dịu, rất là ngọt ngào.
Chất liệu của bậc hiền trí lúc nào cũng dễ chịu, người ta gây sự với mình nhưng mình cũng dễ chịu nữa, tuyệt vời vậy đó. Con nói thí dụ cho chúng ta thấy, kỳ đó con tĩnh tu ở trên rừng, con nhập thất, lúc đó mấy thầy, mấy chú mới đi lên vào ngày con ra thất. Thường thường con chia sẻ kinh nghiệm tu học thì lúc đó mấy thầy, mấy chú mới đem cơm, đồ ăn lên, thì lúc đó lên tới ngồi bày ra hết rồi mà mấy thầy nói là giờ phải đi xuống dưới lấy muỗng đũa, quên đem rồi. Từ đó mà đi xuống là hai cây số, con nói khỏi đũa chén, mấy thầy, mấy chú hỏi sư phụ giờ ăn bằng cái gì, con nói không sao, con kêu ra hái lá chuối vô là thế cái chén, cái tô, lấy tay bóc giống như thời Đức Phật. Hôm nay mình được thực tập trở về 2600 năm trước, ai cũng hoan hỉ hết, khi con đi qua trung tâm thiền quốc tế bên Thái Lan chỗ của ngài Ajahn Chah là ăn bốc, cho tới bây giờ vẫn ăn bốc.
Các thầy người tây, người Châu Âu, Người Châu Mỹ mà vẫn đầu trần chân đất, ăn bốc, vẫn giữ rất là kỹ những cái giới luật của Đức Phật. Khi qua đó mình mới thấy mình yếu kém lắm, gọi là mẹ hát rồi con vỗ tay khen hay, mình còn ếch ngồi đáy giếng lắm, mình chưa có thấy cái bầu trời rộng lớn, Phật pháp sâu vô lượng mình chưa có thấy, cứ được chút vậy là hài lòng tự mãn. Mình còn chưa mở được cái cánh cửa để vô căn nhà Phật pháp, thậm chí là mình tu suốt đời cũng chưa có chạm tới rất nhiều cái pháp để mình học, để mình tu, để mình thực hành. Trong Tương Ưng Kassapa, Đức Phật nói ngài Ca-diếp hãy giáo giới các Tỳ-kheo thì ngài Ca-diếp bạch Thế Tôn các Tỳ-kheo khó nói, các Tỳ-kheo khó dạy, ương ngạnh.
".. Tại Ràjagaha, Veluvana...
Tôn giả Kassapa đi đến Thế Tôn...
Thế Tôn nói với Tôn giả Mahà Kassapa đang ngồi một bên:
-- Này Kassapa, hãy giáo giới Tỳ-kheo! Này Kassapa, hãy nói pháp thoại cho các Tỳ-kheo! Này Kassapa, Ta hoặc Ông phải giáo giới các Tỳ-kheo! Ông hoặc Ta phải nói pháp thoại cho các Tỳ-kheo!
-- Bạch Thế Tôn, khó nói là chúng Tỳ-kheo hiện tại. Họ ở trong tình trạng khó nói với họ. Họ không kham nhẫn. Họ không kính trọng lời giáo giới. Bạch Thế Tôn, ở đây, con thấy Tỳ-kheo Bhanda, đệ tử của Ananda, và Tỳ-kheo Abhinjika, đệ tử của Anuruddha, hai vị ấy nói với nhau: 'Hãy đến, này Tỳ-kheo, ai sẽ nói nhiều hơn? Ai sẽ nói tốt đẹp hơn? Ai sẽ nói dài hơn?'." (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), VI. Giáo Giới)
Khi đọc chương Tương Ưng lợi đắc cung kính rùng mình hết trơn, nổi da gà hết trơn, đọc cái đó là nhức đầu, đau tim, thốn tim. Đức Phật dạy, quở trách nặng lắm, Đức Phật nói cái lợi đắc cung kính, cúng dường đó là cái đống phân, người được nhiều thì hãnh diện, tự mãn, ta đây là phước đức nhiều thì Đức Phật ví dụ con giòi ở trong cái đống phân bự, nó nói ta được cục phân lớn còn tụi bay không có phân.
".. Tại Sàvatthi.
-- Khổ lụy, này các Tỳ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng...
Ví như, này các Tỳ-kheo, một con trùng phẩn, ăn phân, đầy những phân, tràn ngập những phân, và trước mặt có một đống phân lớn.
Nó khinh miệt các con trùng phẩn khác và nói: 'Ta ăn phân, đầy những phân, tràn ngập những phân, và trước mặt ta, có đống phân lớn này'." (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương VI. Tương Ưng Lợi Ðắc Cung Kính, I. Phẩm Thứ Nhất, V. Trùng Phẩn)
Đức Phật nói nhức nhói lắm, đọc đi, tụng đi, nhức nhói lắm, nhiều khi tu tới chết cũng không đọc cái đó nữa vì có biết đâu mà đọc. Đó đọc đi rồi thấy thấm thía lắm, sâu sắc lắm, Đức Phật thuơng mình, các bậc thánh thương mình vô cùng tận, thương lắm, thương sao là thương, thương ơi là thương, thương vô cùng thương, thương không thể nói, thương không còn cái gì để mà diễn tả được hết mà bây giờ cũng vẫn như vậy. Chạm vô không được, đụng vô là có chuyện liền, bản ngã khủng khiếp lắm, dữ dằn lắm bởi vì cái tâm hiền thiện thì mới được Nhập Lưu. Bước đầu tiên căn bản là tâm hiền với diệt ngã thì mới đi vô dòng chánh pháp được cho nên Đức Phật nói có ba cái bậc hiếm có hy hữu khó gặp ở trên đời này, thứ nhất là Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác, thứ hai là bậc thuyết được chánh pháp của Đức Phật đúng chánh pháp, thứ ba là bậc biết ơn và nhớ ơn là khó kiếm, hy hữu, khó gặp xuất hiện được Ở trên đời này.
"Sự xuất hiện của Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác khó tìm được ở đời. Người thuyết được Pháp Luật do Như Lai tuyên bố khó tìm được ở đời. Người hiểu được Pháp Luật do Như Lai tuyên bố khó tìm được ở đời. Người thực hành pháp và tùy pháp, sau khi đã hiểu rõ lời thuyết giảng về Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết, khó tìm được ở đời. Người biết ơn, nhớ ơn khó tìm được ở đời.
Này các Licchavi, sự xuất hiện của năm loại châu báu này khó tìm được ở đời." (Tăng Chi Bộ, Chương V. Năm Pháp, XIX. Phẩm Rừng, (V). Bà La Môn Pingiyani)
Chúng ta thấy Đức Phật liệt người biết ơn, nhớ ơn là người khó kiếm, khó gặp, khó tìm, khó hiện hữu trên cuộc đời này, thành ra mình nghĩ "ủa thầy con sống có tình có nghĩa mà", chưa đâu, đụng chuyện rồi mới thấy. Tức là bây giờ bình thường thì mình thấy mình như tốt nhưng mà đụng chuyện là mình có thể quay lưng trở lại liền với những người ân nhân của mình, ngay cả cha mẹ mình có sân không, có giận thầy tổ không. Cái tâm phản trắc ghê gớm, khủng khiếp lắm, diệt tận hết mấy cái tâm đó thì mới thể nhập được tâm hiền, tức là tất cả cái mầm móng đều diệt tận hoàn toàn không còn trong suy nghĩ, cảm giác, tư tưởng nữa thì mới thể nhập được cái tâm hiền, còn cái tâm phản trắc đó, còn cái tâm vô ơn bạc nghĩa đó, còn một cái tâm tráo trở như vậy thì còn cái mầm móng địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh rất nhiều. Phải diệt tận cái tâm đó một cách hoàn toàn không còn mầm móng, không có thể tái sanh, sanh khởi trở lại trong tương lai thì người này mới có thể Nhập Lưu vào các cái quả, tối thiểu là Dự Lưu thánh quả, người này không còn đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, từ đó về sau chỉ có đi lên cho tới cứu cánh phạm hạnh chứ không có rơi xuống nữa, không có thối đọa.
Nãy giờ mình nói là hiền thiện, tạm chia cho dễ hiểu thôi, bậc hiền trí này tu tập tứ vô lượng tâm, từ, bi, hỷ, xả, vừa nhận diện ngũ uẩn, vừa nhiếp phục tham, sân, si, bản ngã vừa phát triển từ vô lượng tâm, bi vô lượng tâm, hỷ vô lượng tâm, xả vô lượng tâm thì người này là bậc hiền trí. Người này rất an tịnh, lắng dịu, rất hiền thiện, người này có tâm lượng rất là lớn, rộng lớn, vô lượng vô biên, không hận không sân. Còn các bậc hiền thánh là diệt tận hết tất cả tham, sân, si, dục ái, vô minh, bản ngã, chỉ cho bậc A-la-hán, bậc cứu cánh phạm hạnh tột cùng. Chúng ta chịu khó về nhà nghe nhiều bài, con đã để sẵn hết trên cái trang linhquyphapan.vn, chỉ cần vô bấm thôi là thiền quán có đầy đủ hết mà không chịu nghe, không chịu học, rất là uổng, đây là tinh túy, tinh hoa, tinh tủy, tinh anh, cốt tủy của thánh trí tuệ, không nghe, không học rất là uổng đó cho nên bậc hiền trí này phát triển tâm từ vô lượng, tâm bi vô lượng, tâm hỷ vô lượng, tâm xả vô lượng.
Cái này nói gì đơn giản nhưng quý vị về nghe đi, riêng cái bài tâm xã con giảng mười mấy buổi, để hiểu được cái tâm xả nó như thế nào là phải nghe giải thích mười mấy buổi, bài thực tập tâm xã đó là mình phải thực tập ít nhất từ ba năm cho đến tám năm để mình mới thành tựu được những cái pháp trong đó. Đầu tiên là xả bỏ tham sân, kế đến là xả bỏ chấp thân, xả bỏ kiêu mạn là xả bỏ chấp thân, có ba cái bài thực tập thiền quán tâm xả vô lượng 1, 2, 3, trước khi đi tâm xả phải đi tâm từ, tâm bi, tâm hỷ trước. Mỗi ngày phải thực tập từ vô lượng tâm, muốn đi vào cái tâm từ này phải có cái tâm hiền dẫn đạo, lót đường trước, nó làm phương tiện trước, còn tự động vô từ vô lượng tâm là vô không nổi đâu, tâm hiền dẫn trước rồi mới tới tâm từ được, phải có một cái tâm hiền thiện rồi mới đi vào tâm từ được. Mình vào tâm từ rồi tu tập tâm từ rộng lớn, từ từ mới tới vô lượng, phải đi từng bước như vậy chứ không phải nhảy vô là tu từ vô lượng tâm liền, tu không được đâu, cũng như mình mới vừa vô tập xiếc mà mình nhảy, mình đi ở trên cái sợi dây từ cái núi này qua núi kia rồi tán thân mất mạng.
Đầu tiên là phải nhận diện được ngũ uẩn, quán chiếu được cảm thọ, bây giờ chúng ta tổng kết lại cái bài hôm nay rất quan trọng, hai cái buổi này quan trọng là cốt tủy pháp hành của kinh tạng Nikāya. Đầu tiên mình phải nhận diện được ngũ uẩn, thực hành được cảm giác toàn thân, sau khi thực hành được cảm giác toàn thân rồi mình phát hiện ra tham, sân, si ở trong cảm giác thì mình mới tránh dục, mình mới diệt sân, trải tâm từ, mình mới phá si mê bằng cách quán nguy hại để diệt khát ái. Đây là cái phần đánh phá những cái cấu nhiễm, rồi qua phần phát triển những cái hiền thiện, đầu tiên là an trú tâm hiền thiện, thực tập rất là nhiều, kế đó mới phát triển lên tứ vô lượng tâm, cái tâm rộng lớn, quảng đại và sau đó là dùng cái thánh trí diệt tận tất cả các lậu hoặc vi tế, phá được vô minh, diệt khát ái và mình tẩy sạch hoàn toàn cái ngã kiến, cái thân kiến, cái bản ngã.
Đây là cốt tủy của pháp hành thánh trí ngũ uẩn kinh tạng Nikāya, hai buổi học ngày hôm nay chúng ta về nghe lại thật là nhiều lần, nắm thật vững, ghi chép ra tập. Chúng ta nhớ mãi mãi đừng có quên để thực hành.
Tâm thương này tỏa rộng tâm
Cùng khắp thế giới này
Tâm thương này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la.
./.
Tóm Tắt Ngũ Uẩn Giảng Giải 32
Cốt Lõi Pháp Hành Nikāya 2
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Tâm hiền PAGEREF _Toc204010215 \h 1
II. Bốn trí tế nhị PAGEREF _Toc204010216 \h 3
III. Trình pháp PAGEREF _Toc204010217 \h 6
IV. Tâm hiền 2 PAGEREF _Toc204010218 \h 7
I. Tâm hiền
Sư Phụ: Tinh hoa của Nikāya so với ở bên trường trung cấp con đã chia sẻ từ năm 2018 cho đến nay là bắt đầu con chuyên nhất vào Nikāya, nhất hướng cho đến nay là năm năm. Lớp chúng ta là cái lớp sau nhất, sau cùng được hứng trọn hết những tinh hoa, tinh túy, tinh anh, tinh tủy của pháp, nếu chúng ta không nắm được nữa là con chịu, lớp chúng ta thường được làm bài tập, thường được nhắc tới nhắc lui pháp hành, ôn đi ôn lại, nhắc tới nhắc lui, kiểm tra bài tập. Nếu không nắm được, không thực hành nữa thì cái đó là vô phước quá, ráng chịu, ngay cả bên trường trung cấp là con đã chào biệt rồi. Học cái pháp này phải là những người tha thiết trong sự cầu pháp mới học được, cái thứ hai nữa là những người phải có cái đức tính hiền thiện, rất quan trọng, không có đức tính này không có học được chánh pháp được. Người dễ sân hận, người có bản ngã lớn không học được pháp này cho nên trong kinh tạng các thầy gọi nhau là hiền giả, hiền trí, chư hiền.
Ở Linh Quy chúng con tận lực để sử dụng lại những cái từ ngữ, những cái gì có thể thực tập được ở trong Nikāya, chúng con gọi nhau là hiền giả, chư hiền hay là các bậc hiền trí. Tức là mình làm sao để mình có thể xích lại gần nhất với những gì của Đức Phật, coi như tận lực dù có rất nhiều trở ngại, khó khăn nhưng vẫn cố gắng để xích lại gần nhất có thể được trong bộ tạng kinh Nikāya này. Từ nãy giờ đó là chúng ta đánh phá các tiêu cực, cái vô minh, khác ái, những cái cấu uế, ô nhiễm và bây giờ chúng ta đã đi vào lộ trình tăng trưởng cái phương diện tích cực, những cái thiện pháp, những cái đức hạnh thánh hiền. Chúng ta thấy cái lội trình tu tuyệt diệu không? Không phải chỉ có một mặt, không phải tối ngày chỉ thấy cái dơ, thấy bẩn, thấy cấu, thấy uế, ớn quá tu không nổi, nhưng mà bây giờ bắt đầu nhìn qua cái mặt tích cực, cái mặt thiện pháp, mặt thánh pháp, thánh hạnh, đức hạnh của thánh hiện.
Đầu tiên chúng ta tu tập tâm hiền, cái này phải tập nhiều lắm, tập rất là nhiều, phải chịu khó tập rất nhiều. Cái tâm của mình dùng cái từ trong kinh là ương ngạnh, cứng đầu, khó dạy, khó bảo, đây là kinh Nikāya đó, cái tâm của chúng sanh không được tu tập là một cái tâm cứng cỏi, ương ngạnh, khó nghe, khó dạy, khó bảo, là một cái tâm chống đối. Nhiều người có tánh bị nói là cãi trước đi rồi tính sau, chúng ta lâu lâu có gặp không ạ? Có gặp nhiều không? Không biết nói cái gì nhưng cãi trước tính sau dù không biết đúng sai, hay dở gì cứ cãi trước tính sau thì cái hạng này khó tu học, tâm chống đối nhiều.
Nếu mà muốn học Nikāya, thực hành chánh pháp thì đầu tiên phải diệt cái tâm chống đối, không diệt cái tâm này là không tu học được. Chẳng hạn như kêu tu hiền "bộ con không hiền sao thầy kêu con tu tâm hiền?", đó là tâm chống đối, bấy nhiêu đó là coi như bật văng ra liền, giống như trái banh bật vào tường là dội ra liền. Đó là chính con ngày xưa, bậc đạo sư của con dạy tu tâm hiền thì ngoài miệng không nói nhưng trong bụng nói "bộ con không hiền sao kêu tu tâm hiền", cái này mình thấy dễ quá trời. Sau này mình mới thấy mình đúng là nhục nhã, xấu hổ, bẩn thiểu, ngu si, ngạo mạn, ngã mạn, kiêu mạn, giờ mình mới thấy mình, mới chửi cái tâm, đạo sư là sư phụ của mình dạy mình thì mình nghĩ "giờ này tu tới đây mấy chục năm còn kêu tu tâm hiền". Bây giờ mình mới thấy cái tâm đó là tâm ngạo mạn, ngã mạn, kiêu mạn.
Cái tâm mình phải nhận diện ngũ uẩn mới thấy, còn không nhận diện ngũ uẩn là không thấy, là mình mù lòa vĩnh kiếp, vô lượng, vô số, vô biên kiếp cho nên phải diệt cái tâm chống đối trước thì mới tu, muốn vào cái tâm hiền thì đầu tiên phải diệt tâm chống đối. Kêu về nhà học bài có học đâu, được mấy người học, mà tại sao không học? Vì không thấy được cái giá trị quý báu tối thượng của thánh trí, không thấy được công năng, tác dụng, giá trị, quý báu, vì chưa thấy được pháp bảo. Con hỏi thật bây giờ mình biết trong phòng ngay cái góc giường của mình có chôn ở dưới là thất bảo, ở dưới đó có hột xoàn, kim cương, mã não, lưu ly, hổ phách ở ngay dưới góc giường của mình thì mình có đào không? Nếu mình biết chắc đào liền ngay lập tức, nửa đêm nửa hôm gì cũng đào hết, đào quyết liệt, cũng vậy, khi mình thấy được cái giá trị, cái công năng, cái tác dụng, cái quý báu, cái lợi ích thì lúc đó mình mới quý pháp, mình mới kính pháp, mình mới tôn trọng pháp, mình mới đảnh lễ pháp, mình mới cúng dường pháp, mình mới tôn thờ pháp, mình mới khát ngưỡng pháp, mình mới cầu pháp bằng tất cả sinh mạng của mình.
Trở lại vấn đề ở đây cái đầu tiên phát triển về cái phương diện tích cực là tâm hiền thiện, tạm thời chia ra ba cấp độ là hiền thiện, hiền trí, hiền thánh. Với hiền thiện thì mình phải có niệm thân, từng cử chỉ, từng hành động của mình, từng bước đi, từng lời nói, từng ánh mắt, mỗi cái cử chỉ, hành vi của mình có sự nhẹ nhàng, có sự khiêm cung, có sự khiêm tốn. Thí dụ mình kéo cái cửa, hay mình kéo cái ghế, mình để đôi dép cũng có cái chất hiền trong đó chứ không phải mình đạp vô dép của người ta, hoặc một chiếc ở đây, một chiếc bên kia, để đôi dép cũng ngay ngắn, trong một cái sự nhẹ nhàng, ngay thẳng, mở cái cánh cửa cũng phải mở nhẹ nhàng, kéo cái ghế hay cái bàn, hay làm tất cả mọi cử chỉ, hành động đều có sự an tịnh, lắng diệu ở trong đó, có sự nhiếp tâm chánh niệm ở trong đó, tránh tiếng ồn, tiếng động tối đa.
Khi mà các thầy các cô có dịp con thỉnh lên khóa tu Nikāya rồi sẽ thấy hai trăm người ăn cơm không có tiếng động, đó là cư sĩ, trong đó cũng có các bậc xuất. Bây giờ thật sự là cái tâm của con dễ cảm xúc lắm, nếu mấy thầy, mấy cô làm một cái gì với một cái tâm không có hiền thiện là con nhìn con đau lòng lắm, chính vì vậy con sẽ không có chia sẻ pháp rộng rãi được nữa, chỉ có người tha thiết tu hành thì con mới chia sẻ được, những cái người nhiều bất thiện, nhiều chống đối, những người không có tâm hiền thiện thì không thể truyền pháp cho họ được. Tu cái nhạy lắm, con chỉ nhìn qua sơ qua thì ngũ uẩn hiện ra hết, nhìn cái ánh mắt, đọc được cái suy nghĩ của họ, cái cảm thọ của họ, tu cái này nhạy lắm, nó sắc bén lắm.
II. Bốn trí tế nhị
"Này các Tỳ-kheo, có bốn trí tế nhị này. Thế nào là bốn?
-Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo thành tựu trí tế nhị đối với sắc, không thấy một trí tế nhị đối với sắc tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy. Vị ấy không có phát nguyện đạt đến một trí tế nhị đối với sắc nào khác tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy.
-Vị ấy thành tựu trí tế nhị đối với thọ, không thấy một trí tế nhị đối với thọ nào khác tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy. Vị ấy không có phát nguyện đạt đến một trí tế nhị đối với thọ nào khác tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy.
-Vị ấy thành tựu trí tế nhị đối với tưởng …
-Vị ấy thành tựu trí tế nhị đối với các hành, không thấy một trí tế nhị đối với hành nào khác tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy. Vị ấy không có phát nguyện đạt đến một trí tế nhị đối với hành nào khác tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy. Này các Tỳ-kheo, đây là bốn trí tế nhị.
Biết trí tế nhị sắc
Biết hiện hữu các thọ
Từ đâu tưởng sanh khởi
Tại đâu tưởng chấm dứt
Biết các hành biến khác
Là không, không là ngã
Nếu Tỳ-kheo thấy chánh
Tịch tịnh, ưa tịch tịnh
Thọ trì thân tối hậu
Thắng Ma và Ma quân." (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, II. Phẩm Hành, (VI). Trí Tế Nhị)
Bốn trí tế nhị là bốn trí sâu kín, nó nhỏ nhiệm, nó tinh vi, nó sắc bén, nó vi diệu, ý nghĩa của bài kinh này là người tu về thánh trí ngũ uẩn sẽ có một cái trí tuệ sắc bén, nhỏ nhiệm, tinh vi, thù thắng, vi diệu mà không có bất cứ một cái loại trí tuệ nào trên đời này có thể so sánh được, có thể cao hơn được, một người tu trí ngũ uẩn này thì người này không còn mong muốn phải đi tìm một cái trí huệ nào khác nữa trên đời này hết, như vậy gọi là vô học thánh trí uẩn. Một người thành tựu chánh kiến ở trong kinh tạng Nikāya thì người đó không còn đi tìm bất cứ một cái tri kiến, kiến thức nào ở ngoài thánh trí Nikāya, người còn đi tìm tức là người chưa thấy, người thấy rồi là không còn đi tìm. Bây giờ con hỏi quý thầy, quý cô một người mù được sáng mắt lên thì người này có đi tìm mấy người mù dẫn đường cho mình đi nữa không? Trừ khi người này chưa có sáng, người này vẫn còn mù.
Cho nên một người thành tựu được thấy đúng ở trong Nikāya thì không thể đi tìm một cái pháp hành nào khác nữa. Con đi tìm pháp hành gần ba mươi năm, khi tìm được cái này rồi là không còn tìm gì nữa hết, giờ chỉ thực hành thôi. Bây giờ trở lại cái vấn đề là tu tâm hiền rất là quan trọng, cái tâm hiền ngoài hành động của thân, còn tới cái lời nói và trong một cái ý nghĩ nữa, hãy tu được cái ý nghĩ hiền. Người có suy tư theo cái chiều hướng hiền thiện thì cái gương mặt họ phúc hậu, lời nói họ nó rất là dễ nghe và cái hành động của họ nó rất là thân thiện, từ ái, cái người tu cái tâm hiền, thân, khẩu, ý đều hiền hòa hết tức là họ suy nghĩ thì thường họ sẽ suy nghĩ về cái chiều hiền thiện.
Thí dụ chiều nay mình đi học về trễ trời mưa, vô bếp hết đồ ăn, còn miếng cơm nguội với miếng rau luộc, mấy cái đồ ngon lành ăn hết thì mình suy nghĩ "tu tấn đạo nghiêm thân tam thường bất túc" người muốn tấn tu đạo nghiệp, trang nghiêm pháp thân, người muốn tiến đạo, muốn hành đạo, muốn tăng thượng, tăng trưởng trong đạo, muốn đắc đạo thì người đó không có đòi hỏi về cái ăn này, cái mặc này, cái ngủ này cho nên đây là cái bài tập, đây là cái cơ hội, đây là một cái duyên để cho mình thực tập được cái tâm kham nhẫn, cái lối sống đơn giản, ít muốn biết đủ. Như vậy đây là mình hoan hỉ trong cái sự không có đồ ăn, mình vui, hoan hỉ, mình ăn miếng cơm với rau luộc mà mình cười, mình thấy nhẹ nhàng, dễ chịu chứ mình không có bực bội, khó chịu "sao ăn hết trơn không chừa tôi" nhiều khi tôi có công, tôi quản chúng, tôi là tri sự, tôi là chúng trưởng, nhóm trưởng gì đó thì không có hiền.
Tu cái này cả đời coi được chưa? Bây giờ mình lại gặp huynh đệ, tỷ muội, mình dùng chữ tỷ muội là dùng bây giờ chứ trên con Linh Quy Pháp Ấn là không dùng chữ sư anh, sư chị, sư em, sư tỷ muội, trên con là dùng bậc đồng phạm hạnh, các bậc hiền trí, không dùng sư tỷ, sư muội, sư em, sư chị, sư anh, sư chú, sư bác, sư ông, sư bà, dùng như vậy là có ái trong đó. Tự nhiên ở nhà bỏ cha, bỏ mẹ, bỏ anh em rồi vô chùa nhận "sư em của tôi nè", cái này cẩn thận, trong Nikāya là các bậc đồng phạm hạnh, các bậc hiền giả, hiền trí, không có sư em, sư chị, sư anh, sư chú, sư bác, sư ông, sư bà cho nên không phải ai nói rồi mình cũng nghe hết, mình phải dùng cái trí tuệ của mình, nhất là mình bám sát cho lời của Đức Phật.
Tại sao Phật là bậc mẫu mực, nhân thiên sư phạm, thầy của trời người mà mình không học theo, đi học theo mấy cái nào hợp với cái ái của mình, thích, khoái với mình là chụp liền. Tại sao cái bậc nhân thiên sư phạm tối tôn, tối thượng, tối cao, duy nhất mà không chịu học theo? Cái tâm là vậy đó, tâm mê nó không thấy. Bây giờ trở lại vấn đề giữa huynh đệ, giữa các bậc đồng phạm hạnh, chư hiền với nhau mà tự nhiên người đó gây sự với mình, mình không có làm gì mà họ gây sự mình thì lúc này người tu tâm hiền sẽ nghĩ "cái này chắc chủ nợ, khoảng mười mấy ngàn chùa cả nước Việt Nam, khoảng chừng hàng trăm ngàn Tăng Ni mà tại sao mình không ở chung mà mình gặp cái cô này?". Cái chữ hiền trí rất là sâu sắc, nó nhắc mình và nhắc người đó luôn, thí dụ mình gọi là hiền giả Diệu Ngộ, hiền giả Ngọc Như, nghe chữ hiền là tự nhắc bản thân mình hiền, nếu mình dữ thì coi sao được. Đó là công năng, tác dụng của nó, nhắc nhở tâm mình hiền, hiền giả, hiền trí, hiền nhân
Mình thấy người ta kiếm chuyện với mình thì mình biết "đây là chủ nợ đời trước, oan gia trái chủ đời trước, bây giờ không trả trước cũng trả sau, không trả sớm cũng trả muộn, thôi trả cho rồi đi". Như vậy sự tu hiền này rất quan trọng rất quan trọng mà phải tập từng cái suy nghĩ, từng cái ánh mắt, từng cái cử chỉ, từng cái hành động, mỗi cái cảm thọ, tưởng, hành của mình, sắc; thọ; tưởng; hành; thức, thân, miệng, ý của mình, mắt mình phải hiền, lỗ tai mình nghe theo chiều hướng hiền. Mấy bài này con có hướng dẫn rất kỹ, chúng ta lên trang Linh Quy Pháp Ấn nghe tầm quan trọng của tâm hiền trí của tôn giả Xá-lợi-phất dạy, bất cứ bài nào có chữ hiền là nghe đi, đây là pháp quán, pháp tu, pháp hành là phải tu thực tập luôn như vậy là tám tháng, ba năm, bảy năm, mười năm chứ không phải nghe xong rồi thiền liền. Phải dạy từng cái suy nghĩ, dạy từng cái ánh mắt, dạy từng cái cử chỉ, dạy từng cái hành động, dạy từng cái cảm xúc, cảm thọ, từng cái tưởng, mình phải dạy cái tâm của mình đi theo chiều hướng hiền thiện mới được.
Mình nhìn bằng ánh nhìn thiện cảm, Đức Phật dạy trong kinh Trung Bộ hay lắm, nhìn bằng cái ánh nhìn thiện cảm, nói lời từ ái, nói đúng sự thật, nói đúng thời, nói với từ tâm. Mình muốn dạy người ta mà đang lúc mình bực bội là không được nói cái gì hết, lúc đó là không nói, mình muốn nói, muốn hướng dẫn, góp ý cho ai thì đợi lúc tâm từ thì mới nói, còn lúc sân nói ra là sai, nói ra là trật, dầu cho mình có nói đúng thì lời đúng cũng thành trật tại vì cái động cơ ở trong cảm thọ là sân thì làm sao người ta nghe, người ta tiếp nhận. Bây giờ mình nghĩ đi, có một người dạy mình đúng hết mà đang sân hận mình, nói cho mình thì mình dễ chịu không? Mình có chịu nghe không? Mình có tâm phục khẩu phục? Mình có ngọt ngào tiếp nhận không? Nếu không thì lúc sân mà mình nói làm gì?
Cho nên cái tâm hiền này mình tu từ trong cái cảm thọ, nhớ là tu trong cảm thọ chứ không phải chỉ gượng ép ở bên ngoài. Người ngoài đời, người trí thức dù cho có hiền đi nữa đó là cái hiền biểu lộ ở bề ngoài thôi, mình thấy mấy người im im tưởng đâu hiền nhưng coi chừng nhiều khi đó lù khù giác lu chạy, im im không nói tới chừng làm là long trời lở đất, động đất, sóng thần. Vì thế nhiều khi người ta hiền như vậy nhưng không phải là hiền trí của bậc thánh, của chánh pháp, cái hiền này nó đưa vô tới trong cái cảm thọ, nó được huấn luyện, được tu tập, được làm cho nhu nhuyến, mềm mại, dễ sử dụng, hiền từ trong ruột hiền ra, nó hiền từ trong tim, hiền trong tất cả sắc; thọ; tưởng; hành; thức.
III. Trình pháp
Mình lại gần một người như vậy thì không thấy có một cái sự lo lắng, sợ hãi, bất an hết. Cảm thọ người này tu tập cái tâm hết sức là ngọt ngào, dễ chịu, hiền hòa, từ ái, dễ thương, dễ gần, dễ mến, dễ nuôi, dễ bảo, dễ dạy, dễ sống, dễ tu, dễ hành, dễ thành, tất cả đều rất dễ. Bây giờ mình chịu dễ hay chịu khó?
Sư cô 1: Dạ con kính bạch thầy cùng đại chúng, con muốn thân cận với người dễ chịu nhưng mà dễ chịu đúng nếu như con đúng, còn nếu con sai thì vẫn khó chịu để dạy con vẫn được.
Sư Phụ: Chắc không?
Sư cô 1: Dạ con sẽ cố gắng.
Sư Phụ: Từ từ suy nghĩ rồi nói cho nó kỹ, nếu mà mình sai mà người đó họ khó chịu, họ sân hận dạy mình thì mình chịu không?
Sư cô 1: Dạ con sẽ cố gắng từ từ, có thể là thời gian đầu cái tâm của con còn bồng bột, còn ngang ngược, còn bướng bỉnh thì cái vị đó dạy con bằng thái độ khó chịu có thể con sẽ phản ứng lại, nhưng mà con cố gắng hành pháp.
Sư Phụ: Bây giờ quyết tâm hành không có phản ứng lại, quyết tâm là không phản ứng lại, quyết tâm tuyệt đối một trăm phần trăm là tu cái tâm hiền, phải ra cái tiêu chí vậy chứ không có nói có thể. Có thể để mở cái cửa cho mình sân sao? Nhất chí không?
Sư cô 1: Dạ mô Phật.
IV. Tâm hiền 2
Sư Phụ: Mình phải có một sự quả quyết, quyết định, như vậy mình mới có cái tiêu chí để mình phấn đấu, còn mình mở hàng hai để có đường lui, đường rẽ, mình ngồi cuối để có gì mình rút lui âm thầm hay sao? Thành ra mình tu tâm hiền này hay lắm, đao thương bất nhập, người tu tâm từ được mười một công đức, trong đó có cái công đức là lửa không cháy được, nước không nhận chìm được, độc không xâm nhập được, người ta có đầu độc mình cũng không chết, người mà chứng đạt tu tập được cái tâm từ, tâm hiền, tâm từ mà thành tựu là không có gì hại được hết. Cho nên các quý vị Tỳ-kheo hồi xưa ở trong rừng, trong núi, ở chỗ có phi nhân mà bây giờ mình nói là ma quỷ thì Đức Phật dạy các vị đó cứ trải tâm từ là yên ổn hết, độ cho mấy vị phi nhân đó luôn, chẳng những không sợ ma mà cái này còn độ ma luôn, tuyệt diệu không? Lúc đầu sợ ma, bây giờ độ ma luôn. Tại sao không tu cái cách này mình cứ sợ ma làm gì?
Thành ra mình tu cái cảm thọ hiền, tu thân, khẩu, ý hiền, tu mắt; tai; mũi; lưỡi hiền, cái ánh nhìn của mình cũng nhìn cho người ta dễ chịu, nhiều khi con ngồi ở trên mà học trò nhìn con làm con sợ, con thấy ánh mắt là con cúi xuống liền. Tại vì giờ nhạy lắm, nhìn cái ánh mắt là con biết người đó đang sân, đang khó chịu, đang chống đối với lời pháp, con nhìn là con cúi xuống "mô Phật". Cái chữ "con" này là đang thực tập cái tâm hiền diệt ngã chứ không phải là nói chuyện mà chỉ sáo ngữ không đâu. Mình phải tập xưng con cho nhiều lên, những người cư sĩ đáng bà nội, bà ngoại, đáng cha, đáng mẹ, đáng cô, đáng chú mình rất nhiều, mình xưng cái đó là tu tâm hiền, tu cái hạnh khiêm cung, mình tập đi, không có sao hết, nó tuyệt diệu lắm, cứ tập đi đừng có sợ ngại.
Ngài Xá-lợi-phất là bậc thay Phật lãnh đạo Tăng đoàn đó, ngài tu cái pháp gì quý thầy, quý cô biết không? Đó là an trú tâm như một kẻ ăn mày, cái nùi giẻ rách, đó là pháp hành của ngài, đó là bậc đại thánh, bậc tôn đức, bậc cha thầy của Tăng chúng, của thánh chúng. Thành ra cái tâm hiền này chúng ta tu ba năm cho đến bảy năm rồi sau đó nói chuyện tiếp, nhưng mà những người huân tu từ đời trước thì đời này tự động họ có, ví dụ trong đây có các vị con nhìn thấy con biết, người ta đã tu tập có cái chất đó sẵn ở đời trước cho nên bây giờ tu nhẹ lắm, dễ lắm, những người này có cái đức hiền thiện, cái tâm hiền, cái cảm thọ lắng dịu, hiền thiện này thì khi họ gặp thánh pháp giống như chim sổ lồng, như cá gặp nước đại dương vậy đó, mau mở cửa bước vào thôi. Còn người chưa có tâm hiền là tu mệt lắm, nó quậy dữ lắm, nó quậy với chính tự thân của người đó, thọ; tưởng; hành nó quậy mình, nó không cho mình tu, nó nói "ngu quá vậy, nhịn là ngu à, đừng nhịn", lâu lâu có nghe câu này không?
Cái tâm ác đó, cái đó là cái tâm dữ, tâm đó là cái tâm ác ma cho nên pháp tu của ngài Xá-lợi-phất là con bò đực bị cưa hai sừng, an trú cái tâm giống như bò đực bị cưa sừng, hiền lành, lắng dịu, chẳng hại ai, dễ chịu, dễ thương và dễ mến, dễ bảo, dễ nghe pháp thánh hiền. Thành ra mình thành tựu được cái tâm hiền này rồi hay lắm, tuyệt vời lắm, mình ở đâu cũng ngọt ngào, cũng dễ chịu, cũng an lành, mình gặp mấy cái người khó chịu mà mình vẫn dễ chịu, cái đó mới tuyệt diệu, gặp người khó chịu mà mình vẫn dễ chịu thì cái đó mới tuyệt diệu, còn mình gặp người khó chịu mình cũng khó chịu thì có cái gì đâu, phàm phu tục tử, có tu hành gì đâu cho nên mình tu cái tâm hiền hay lắm. Tâm hiền lành, hiền thiện, hiền lương, hiền hòa, hiền hậu, hiền nhân, hiền đức, hiền từ, hiền trí rồi mình mới bước lên tới bậc hiền thánh, hiền thánh là chí cực của hiền rồi, là tối hiền, là thượng hiền, là chí hiền, là tột cùng cái sự hiền đức là bậc thánh.
Cho nên các vị Tỳ-kheo hồi xưa tu dễ lắm, có lỗi gì Đức Phật gọi lên là dạ đúng con phạm lỗi như vậy, không có chối cải gì hết. Còn mình kêu lên "con đâu có đâu, tại cái ông khi chứ con không có, sao sư phụ rầy con vậy" hoặc là "con thưa sư phụ là cô kia chứ con có làm gì đâu mà nói con vậy", đó là cái tâm ngụy biện, quanh co, giấu lỗi lầm. Cái tâm rất là bao biện, ngụy biện, biện luận, quanh co che giấu cái lỗi lầm, cái tâm không có ngay thẳng, không có chánh trực, không có chân thành, không có chân thật trong sự tu học cho nên không có đạt được chánh pháp. Một con người không có chân thành sao mà học được chánh pháp? Cho nên ngày nay khó tu là vậy đó, cái tâm không có thành thật.
Khi mình nhận diện ngũ uẩn, khi mình nhận diện tham, sân, si, bản ngã của mình là mình phải thành thật, chân thật, chân thành, phải ngay thẳng, phải dám nhận lỗi của mình, phải dám trình bày ra. Như quý thầy nhận diện ngũ uẩn rất tốt, khai thiệt hết trơn, có cái gì mình khai thiệt hết, cái lỗi lầm, cái xấu mình như vậy đó, còn người không có thành thật mà hư ngụy, xảo trá nói cái tốt của mình không à, còn mấy cái xấu che hết, giấu hết thì khó tu lắm. tâm hiền này tu từng cái suy nghĩ, từng cái hình bóng trong tâm, từng cái cảm giác, phải tu từng cái ánh mắt, từng cái lời nói, từng cái cử chỉ, từng cái hành động, mỗi một cái thân hành là mình phải tu cái tâm hiền, tâm rất là dễ chịu, rất là mát dịu, rất là ngọt ngào.
Chất liệu của bậc hiền trí lúc nào cũng dễ chịu, người ta gây sự với mình nhưng mình cũng dễ chịu nữa, tuyệt vời vậy đó. Con nói thí dụ cho chúng ta thấy, kỳ đó con tĩnh tu ở trên rừng, con nhập thất, lúc đó mấy thầy, mấy chú mới đi lên vào ngày con ra thất. Thường thường con chia sẻ kinh nghiệm tu học thì lúc đó mấy thầy, mấy chú mới đem cơm, đồ ăn lên, thì lúc đó lên tới ngồi bày ra hết rồi mà mấy thầy nói là giờ phải đi xuống dưới lấy muỗng đũa, quên đem rồi. Từ đó mà đi xuống là hai cây số, con nói khỏi đũa chén, mấy thầy, mấy chú hỏi sư phụ giờ ăn bằng cái gì, con nói không sao, con kêu ra hái lá chuối vô là thế cái chén, cái tô, lấy tay bóc giống như thời Đức Phật. Hôm nay mình được thực tập trở về 2600 năm trước, ai cũng hoan hỉ hết, khi con đi qua trung tâm thiền quốc tế bên Thái Lan chỗ của ngài Ajahn Chah là ăn bốc, cho tới bây giờ vẫn ăn bốc.
Các thầy người tây, người Châu Âu, Người Châu Mỹ mà vẫn đầu trần chân đất, ăn bốc, vẫn giữ rất là kỹ những cái giới luật của Đức Phật. Khi qua đó mình mới thấy mình yếu kém lắm, gọi là mẹ hát rồi con vỗ tay khen hay, mình còn ếch ngồi đáy giếng lắm, mình chưa có thấy cái bầu trời rộng lớn, Phật pháp sâu vô lượng mình chưa có thấy, cứ được chút vậy là hài lòng tự mãn. Mình còn chưa mở được cái cánh cửa để vô căn nhà Phật pháp, thậm chí là mình tu suốt đời cũng chưa có chạm tới rất nhiều cái pháp để mình học, để mình tu, để mình thực hành. Trong Tương Ưng Kassapa, Đức Phật nói ngài Ca-diếp hãy giáo giới các Tỳ-kheo thì ngài Ca-diếp bạch Thế Tôn các Tỳ-kheo khó nói, các Tỳ-kheo khó dạy, ương ngạnh.
".. Tại Ràjagaha, Veluvana...
Tôn giả Kassapa đi đến Thế Tôn...
Thế Tôn nói với Tôn giả Mahà Kassapa đang ngồi một bên:
-- Này Kassapa, hãy giáo giới Tỳ-kheo! Này Kassapa, hãy nói pháp thoại cho các Tỳ-kheo! Này Kassapa, Ta hoặc Ông phải giáo giới các Tỳ-kheo! Ông hoặc Ta phải nói pháp thoại cho các Tỳ-kheo!
-- Bạch Thế Tôn, khó nói là chúng Tỳ-kheo hiện tại. Họ ở trong tình trạng khó nói với họ. Họ không kham nhẫn. Họ không kính trọng lời giáo giới. Bạch Thế Tôn, ở đây, con thấy Tỳ-kheo Bhanda, đệ tử của Ananda, và Tỳ-kheo Abhinjika, đệ tử của Anuruddha, hai vị ấy nói với nhau: 'Hãy đến, này Tỳ-kheo, ai sẽ nói nhiều hơn? Ai sẽ nói tốt đẹp hơn? Ai sẽ nói dài hơn?'." (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), VI. Giáo Giới)
Khi đọc chương Tương Ưng lợi đắc cung kính rùng mình hết trơn, nổi da gà hết trơn, đọc cái đó là nhức đầu, đau tim, thốn tim. Đức Phật dạy, quở trách nặng lắm, Đức Phật nói cái lợi đắc cung kính, cúng dường đó là cái đống phân, người được nhiều thì hãnh diện, tự mãn, ta đây là phước đức nhiều thì Đức Phật ví dụ con giòi ở trong cái đống phân bự, nó nói ta được cục phân lớn còn tụi bay không có phân.
".. Tại Sàvatthi.
-- Khổ lụy, này các Tỳ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng...
Ví như, này các Tỳ-kheo, một con trùng phẩn, ăn phân, đầy những phân, tràn ngập những phân, và trước mặt có một đống phân lớn.
Nó khinh miệt các con trùng phẩn khác và nói: 'Ta ăn phân, đầy những phân, tràn ngập những phân, và trước mặt ta, có đống phân lớn này'." (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương VI. Tương Ưng Lợi Ðắc Cung Kính, I. Phẩm Thứ Nhất, V. Trùng Phẩn)
Đức Phật nói nhức nhói lắm, đọc đi, tụng đi, nhức nhói lắm, nhiều khi tu tới chết cũng không đọc cái đó nữa vì có biết đâu mà đọc. Đó đọc đi rồi thấy thấm thía lắm, sâu sắc lắm, Đức Phật thuơng mình, các bậc thánh thương mình vô cùng tận, thương lắm, thương sao là thương, thương ơi là thương, thương vô cùng thương, thương không thể nói, thương không còn cái gì để mà diễn tả được hết mà bây giờ cũng vẫn như vậy. Chạm vô không được, đụng vô là có chuyện liền, bản ngã khủng khiếp lắm, dữ dằn lắm bởi vì cái tâm hiền thiện thì mới được Nhập Lưu. Bước đầu tiên căn bản là tâm hiền với diệt ngã thì mới đi vô dòng chánh pháp được cho nên Đức Phật nói có ba cái bậc hiếm có hy hữu khó gặp ở trên đời này, thứ nhất là Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác, thứ hai là bậc thuyết được chánh pháp của Đức Phật đúng chánh pháp, thứ ba là bậc biết ơn và nhớ ơn là khó kiếm, hy hữu, khó gặp xuất hiện được Ở trên đời này.
"Sự xuất hiện của Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác khó tìm được ở đời. Người thuyết được Pháp Luật do Như Lai tuyên bố khó tìm được ở đời. Người hiểu được Pháp Luật do Như Lai tuyên bố khó tìm được ở đời. Người thực hành pháp và tùy pháp, sau khi đã hiểu rõ lời thuyết giảng về Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết, khó tìm được ở đời. Người biết ơn, nhớ ơn khó tìm được ở đời.
Này các Licchavi, sự xuất hiện của năm loại châu báu này khó tìm được ở đời." (Tăng Chi Bộ, Chương V. Năm Pháp, XIX. Phẩm Rừng, (V). Bà La Môn Pingiyani)
Chúng ta thấy Đức Phật liệt người biết ơn, nhớ ơn là người khó kiếm, khó gặp, khó tìm, khó hiện hữu trên cuộc đời này, thành ra mình nghĩ "ủa thầy con sống có tình có nghĩa mà", chưa đâu, đụng chuyện rồi mới thấy. Tức là bây giờ bình thường thì mình thấy mình như tốt nhưng mà đụng chuyện là mình có thể quay lưng trở lại liền với những người ân nhân của mình, ngay cả cha mẹ mình có sân không, có giận thầy tổ không. Cái tâm phản trắc ghê gớm, khủng khiếp lắm, diệt tận hết mấy cái tâm đó thì mới thể nhập được tâm hiền, tức là tất cả cái mầm móng đều diệt tận hoàn toàn không còn trong suy nghĩ, cảm giác, tư tưởng nữa thì mới thể nhập được cái tâm hiền, còn cái tâm phản trắc đó, còn cái tâm vô ơn bạc nghĩa đó, còn một cái tâm tráo trở như vậy thì còn cái mầm móng địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh rất nhiều. Phải diệt tận cái tâm đó một cách hoàn toàn không còn mầm móng, không có thể tái sanh, sanh khởi trở lại trong tương lai thì người này mới có thể Nhập Lưu vào các cái quả, tối thiểu là Dự Lưu thánh quả, người này không còn đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, từ đó về sau chỉ có đi lên cho tới cứu cánh phạm hạnh chứ không có rơi xuống nữa, không có thối đọa.
Nãy giờ mình nói là hiền thiện, tạm chia cho dễ hiểu thôi, bậc hiền trí này tu tập tứ vô lượng tâm, từ, bi, hỷ, xả, vừa nhận diện ngũ uẩn, vừa nhiếp phục tham, sân, si, bản ngã vừa phát triển từ vô lượng tâm, bi vô lượng tâm, hỷ vô lượng tâm, xả vô lượng tâm thì người này là bậc hiền trí. Người này rất an tịnh, lắng dịu, rất hiền thiện, người này có tâm lượng rất là lớn, rộng lớn, vô lượng vô biên, không hận không sân. Còn các bậc hiền thánh là diệt tận hết tất cả tham, sân, si, dục ái, vô minh, bản ngã, chỉ cho bậc A-la-hán, bậc cứu cánh phạm hạnh tột cùng. Chúng ta chịu khó về nhà nghe nhiều bài, con đã để sẵn hết trên cái trang linhquyphapan.vn, chỉ cần vô bấm thôi là thiền quán có đầy đủ hết mà không chịu nghe, không chịu học, rất là uổng, đây là tinh túy, tinh hoa, tinh tủy, tinh anh, cốt tủy của thánh trí tuệ, không nghe, không học rất là uổng đó cho nên bậc hiền trí này phát triển tâm từ vô lượng, tâm bi vô lượng, tâm hỷ vô lượng, tâm xả vô lượng.
Cái này nói gì đơn giản nhưng quý vị về nghe đi, riêng cái bài tâm xã con giảng mười mấy buổi, để hiểu được cái tâm xả nó như thế nào là phải nghe giải thích mười mấy buổi, bài thực tập tâm xã đó là mình phải thực tập ít nhất từ ba năm cho đến tám năm để mình mới thành tựu được những cái pháp trong đó. Đầu tiên là xả bỏ tham sân, kế đến là xả bỏ chấp thân, xả bỏ kiêu mạn là xả bỏ chấp thân, có ba cái bài thực tập thiền quán tâm xả vô lượng 1, 2, 3, trước khi đi tâm xả phải đi tâm từ, tâm bi, tâm hỷ trước. Mỗi ngày phải thực tập từ vô lượng tâm, muốn đi vào cái tâm từ này phải có cái tâm hiền dẫn đạo, lót đường trước, nó làm phương tiện trước, còn tự động vô từ vô lượng tâm là vô không nổi đâu, tâm hiền dẫn trước rồi mới tới tâm từ được, phải có một cái tâm hiền thiện rồi mới đi vào tâm từ được. Mình vào tâm từ rồi tu tập tâm từ rộng lớn, từ từ mới tới vô lượng, phải đi từng bước như vậy chứ không phải nhảy vô là tu từ vô lượng tâm liền, tu không được đâu, cũng như mình mới vừa vô tập xiếc mà mình nhảy, mình đi ở trên cái sợi dây từ cái núi này qua núi kia rồi tán thân mất mạng.
Đầu tiên là phải nhận diện được ngũ uẩn, quán chiếu được cảm thọ, bây giờ chúng ta tổng kết lại cái bài hôm nay rất quan trọng, hai cái buổi này quan trọng là cốt tủy pháp hành của kinh tạng Nikāya. Đầu tiên mình phải nhận diện được ngũ uẩn, thực hành được cảm giác toàn thân, sau khi thực hành được cảm giác toàn thân rồi mình phát hiện ra tham, sân, si ở trong cảm giác thì mình mới tránh dục, mình mới diệt sân, trải tâm từ, mình mới phá si mê bằng cách quán nguy hại để diệt khát ái. Đây là cái phần đánh phá những cái cấu nhiễm, rồi qua phần phát triển những cái hiền thiện, đầu tiên là an trú tâm hiền thiện, thực tập rất là nhiều, kế đó mới phát triển lên tứ vô lượng tâm, cái tâm rộng lớn, quảng đại và sau đó là dùng cái thánh trí diệt tận tất cả các lậu hoặc vi tế, phá được vô minh, diệt khát ái và mình tẩy sạch hoàn toàn cái ngã kiến, cái thân kiến, cái bản ngã.
Đây là cốt tủy của pháp hành thánh trí ngũ uẩn kinh tạng Nikāya, hai buổi học ngày hôm nay chúng ta về nghe lại thật là nhiều lần, nắm thật vững, ghi chép ra tập. Chúng ta nhớ mãi mãi đừng có quên để thực hành.
Tâm thương này tỏa rộng tâm
Cùng khắp thế giới này
Tâm thương này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la.
./.