Nhận Diện Thân Tâm 1
Tinh Hoa Nikāya – Nhận Diện Thân Tâm 1
Thích Minh Thành
Ngày 16 tháng 02 năm 2022
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Tâm sự PAGEREF _Toc98865171 \h 1
II. Trình bày về ngũ uẩn PAGEREF _Toc98865172 \h 2
III. Nơi cư ngụ của tham – sân – si PAGEREF _Toc98865173 \h 6
IV. Ngũ uẩn vô thường PAGEREF _Toc98865174 \h 12
I. Tâm sự
Cuối đầu kính lễ Đức Thế Tôn, bậc Chánh Biến Tri, Vô Thượng Giác.
Kính lễ Hòa thượng Tôn sư - Viện trưởng Thiền viện Trúc Lâm, kính lễ Hòa thượng Viện chủ Thiền viện Thường Chiếu, kính tất cả Bạch Chư tăng hiện tiền ở tại bản trường của Thiền viện Thường Chiếu.
Pháp danh của con là Minh Thành, được sự chỉ dạy của Hòa thượng Viện chủ Thiền viện Thường Chiếu về đây để trao đổi, chia sẻ những lời dạy nguyên chất của Đức Thế Tôn từ trong Kinh tạng Nikāya. Đầu tiên, con cũng có vài lời chia sẻ cùng với quý thầy là từ năm 1994, con cũng ở tại Thiền viện Trúc Lâm Đà Lạt, ở chung với các thầy: Tuệ Giác, Tuệ Tĩnh, Tâm Hạnh, Kiến Nguyệt, Tâm Thuần. Các thầy đã mỗi người một nơi, có vị đã viên mãn kiếp người. Từ năm 1994, con được tu học với sự dạy dỗ trực tiếp của Hòa thượng Tôn sư Trúc Lâm, trong thời gian đó là con nghe Hòa thượng Tôn sư giảng, dù cho ở xa học không ở trong Thiền viện nhưng mỗi ngày bình quân nghe tám tiếng suốt 10 năm, nghe như vậy cho đến khoảng 15 năm. Và thấm nhuần ân đức mưa móc, giáo dưỡng của Hòa thượng Trúc Lâm của chúng ta rất là nhiều. Kế đó, bản thân con cũng được nương nhờ ân đức của Hòa thượng Viện chủ Thường Chiếu rất là nhiều từ đạo hạnh, đức hạnh, công đức của các Ngài. Ngày hôm nay, thừa lệnh của chư tôn đức, Minh Thành về đây báo cáo, trình bày, chia sẻ những gì tu học được trong 30 năm vừa qua.
Con được các thầy phân công là chia sẻ về môn Kinh Trung Bộ. Xin thưa với quý thầy là kinh tạng không phải dễ dàng mà mở ra đọc là hiểu và bản thân của Minh Thành nghe Kinh tạng Nikāya hơn 10 năm mà không có nắm được chìa khóa để đi vào, có hiểu thì hiểu trên ngôn ngữ, chữ nghĩa, kiến thức; cho đến khi gặp được những bậc Thiện Tri Thức đã có sự tu học thành tựu để chia sẻ, mình mới bắt đầu biết được cái “lõi cây”, trọng tâm, hồng tâm của tạng kinh là gì.
Chính vì vậy, môn Kinh Trung Bộ của chúng ta không đi vào học liền được mà phải có sự sửa soạn và chuẩn bị. Khi chúng ta muốn cất nhà thì cất liền phải không? Có chuẩn bị đất, cát, xi măng, đá, sắt, có đổ kiềng, đổ đà không hay là cất liền? Thành ra khâu chuẩn bị là hết sức quan trọng. Do đó, trong sách vở mình hay gọi là “tiền phương tiện”, tức là sửa soạn, chuẩn bị để đi vào được tạng kinh thì mình phải có đủ trang bị những cái thấy biết, trọng yếu của Pháp thì mới biết rằng trong kinh nói cái gì. Còn bằng không dù cho có đọc hết tạng kinh mình cũng không biết, nó mênh mông như rừng như biển. Khi mình vào khu rừng thì không biết lối nào ra, lạc trong rừng rậm của kinh sách, chữ nghĩa, những tri thức, kiến thức trong đó.
Chính vì vậy mà chúng ta sửa soạn đi vào Trung Bộ Kinh thì phải có sự chuẩn bị. Con xin hỏi quý thầy câu hỏi này xong rồi thì mới bắt đầu đi vào học kinh được. Chúng ta đã học được hơn 2 năm phải không, con hỏi quý thầy một câu rất đơn giản, trả lời đúng câu này là mình bắt đầu đi vào học kinh được: “Tâm là gì?”
Nếu không hiểu được chính xác cái này thì học tạng kinh Nikāya là sẽ không đi vào được. Cho tới ngày hôm nay, chúng ta ở trong chùa 5 năm, 7 năm, 10 năm rồi, ngồi thiền mấy cái bồ đoàn cũng xẹp hết rồi. Thì bây giờ “Tâm là gì?”. Cái này hết hết sức đơn giản mà là quan trọng nhất với chúng ta, và Thiền nữa, tâm là cái gì? Mình không biết tâm là gì, làm sao tu tâm, làm sao chế ngự, nhiếp phục, làm chủ được tâm.
II. Trình bày về ngũ uẩn
Bây giờ, chúng ta đi vào thực tế để nhận diện “tâm”, con mời quý thầy nhắm mắt lại, nhớ về người mẹ thân thương của mình. Chúng ta thấy trong tâm mình có hình bóng của mẹ hiện ra lờ mờ trong tâm không? Chúng ta có một cảm giác dễ chịu, thân thương không? Chúng ta có suy nghĩ không biết giờ này mẹ mình đang làm gì không? Có những suy nghĩ liên hệ về mẹ ngay lúc đó, có không? Rồi chúng ta có rõ biết rằng ngay lúc đó, mình có hình bóng của người mẹ trong tâm, có một cảm giác dễ chịu, có đang suy nghĩ về mẹ, lúc đó có biết trong tâm mình đang có hình bóng, cảm giác, suy nghĩ như vậy, có biết không? Đó là tâm. Đó là thọ - tưởng – hành - thức.
Có cái thân mấy chục kí đang ngồi đây là sắc, cái thân đang hiện hữu mấy chục kí lô thịt, những cái xung quanh đây là sắc. Bây giờ, chúng ta sẽ tiếp tục nhiều ví dụ nữa để nhận diện tâm. Chúng ta chịu khó nhắm mắt lại tiếp tục cho rõ hơn, mình nghĩ về Hòa thượng Tôn sư Trúc Lâm đáng kính của chúng ta. Chúng ta có thấy hình bóng của Hòa thượng, trong tâm mình có hình bóng của Ngài không? Có một cảm giác tôn kính, ấm áp không? Mình có suy nghĩ về Ngài, có suy nghĩ về những việc Ngài đã làm, những lời đã dạy, những công đức của Ngài, có không? Mình có rõ biết rằng đang có hình bóng của Ngài, đang có những cảm giác, suy nghĩ đó, có rõ biết không? Đó là tâm, là thọ - tưởng – hành – thức.
Bây giờ, mình sẽ nhận diện tham - sân -si trong tâm của mình. Từ nhỏ tới lớn thế nào cũng có giận ít nhất một người phải không? Xin mời tất cả quý thầy nhắm mắt lại, nhớ về người mình giận, người làm mình đau khổ, gây sự làm cho mình nhiều buồn đau, hay kiếm chuyện gây sự với mình, người mình thấy không có dễ thương, kiếm chuyện gây sự với mình hoài. Có thấy mặt hiện ra không?
Cho nên trong chữ Nho này hay lắm, chữ “Tướng” là hình tướng, hình dáng. Cái hình dáng trong “Tâm” là “Tưởng”. Vậy thì hình bóng người mà mình khó chịu, mình giận hiện ra, hình bóng đó là Tưởng uẩn. Bây giờ, nó sẽ có một cảm giác khó chịu, bực bội, đó là Thọ. Và mình sẽ suy nghĩ người này làm khổ, kiếm chuyện, gây sự hoài, lúc nãy mình có suy nghĩ không? Đó là Hành uẩn. Và lúc đó, mình có một sự rõ biết tất cả những cái đó đang diễn ra. Mình rõ biết rằng hình bóng đang có trong tâm, những cảm giác khó chịu đang xuất hiện và những suy nghĩ về người đó đang có mặt. Mình rõ biết được ba cái này, rõ biết được hình bóng, cảm giác khó chịu, những suy nghĩ về người đó; mình rõ biết, đó là Thức.
Chúng ta mở đến trang 100, “Định nghĩa Ngũ Uẩn” cùng nhau đọc qua định nghĩa:
Định nghĩa 1: “Thân người là sắc, cảm giác là thọ, hình bóng là tưởng, suy nghĩ là hành, rõ biết là thức”.
Định nghĩa 2: “Thân người, cảnh vật, đồ vật, Tứ đại là sắc. Cảm giác dễ chịu, cảm giác khó chịu, cảm giác không dễ chịu, không khó chịu là thọ. Bóng dáng thô tế trong tâm là tưởng. Suy nghĩ nói thầm trong tâm là hành, rõ biết trong ngoài, sáu trần là thức”.
Xin thưa với quý thầy, định nghĩa 1 trích từ trong Trung Bộ của 4 bộ “Kinh tạng Nikāya”.
Bây giờ, mình đi chầm chậm để nắm thật vững những Pháp căn bản và từ từ chúng ta mới đi sâu sắc được, cũng đừng có vội.
Tiếp tục nhận diện về tâm của mình, mình thích một món đồ nào đó hay là một con người nào đó trước kia khi chưa đi tu, bạn học hay là đứa cháu, đứa em. Bây giờ, mời quý thầy nhắm mắt lại nhớ về món đồ đó, đứa cháu, đứa em hay là người bạn đó, người hay đồ vật mà mình yêu thích nhất. Chúng ta bắt đầu nhìn thấy hình bóng người đó hiện ra chưa? Cái này gọi là “ý trung nhân” - người ở trong tâm.
Hình bóng của đứa em, đứa cháu hay là người bạn thân của mình hồi đó.
Hình bóng đó là gì? (Là Tưởng). Cảm giác gì có mặt, cảm giác dễ chịu không? (Là Thọ). Rồi mình có suy nghĩ về món đồ đó, đứa cháu, đứa em hay là người bạn đó không? Suy nghĩ là gì? (Là Hành). Lúc đó, mình có rõ biết rằng có hình bóng của người đó, có cái cảm giác dễ chịu đó, có những suy nghĩ về người đó, mình có rõ biết không? (Là Thức).
Bây giờ, chúng ta sẽ đọc ngược: Suy nghĩ là gì? (Hành); hình bóng là gì? (Tưởng); cảm giác (Thọ); rõ biết là gì? (Thức).
Đó là chúng ta đang thực tập nhận diện tâm. Cái này rất quan trọng. Thưa với quý thầy, con đi cầu đạo toàn thế giới 28 năm mới biết được tâm mình. Bây giờ, chúng ta sẽ bắt đầu tiếp tục.
Khi mình nhớ người mà mình thương, hình bóng người đó hiện ra thì có một cảm giác dễ chịu lắm. Chúng ta có thấy cảm giác đó không? Cái cảm giác dễ chịu. (Lạc Thọ)
Hồi nãy, mình nhớ người mà mình giận, hại và làm khổ mình. Lúc đó mình có cái cảm giác gì, chúng ta thấy rõ cảm giác đó không? Mình nhớ về người cứ kiếm chuyện, gây sự với mình, làm khó làm dễ mình, lúc đó mình thấy có cảm giác khó chịu không? (Khổ Thọ).
Rồi bây giờ mình nhớ tới người không có thương, cũng không có giận nữa, nhớ tới người thường thường vậy đó, lúc đó mình có cảm giác gì? Không dễ chịu, cũng không khó chịu. Bất khổ bất lạc thọ.
Bây giờ tới câu hỏi thứ hai, câu hỏi có ba chữ thôi. Có phải là tất cả chúng ta đi tu là để đoạn diệt tham - sân - si phải không? Tu tập giới - định - huệ, đoạn diệt tham – sân - si.
Bây giờ con xin hỏi quý thầy, tham – sân – si ở đâu? Ai trả lời được là có thưởng. Một bộ tạng Kinh Nikāya, rút gọn lại còn có bốn quyển thôi, ấn hành mới nhất. Xin thưa với các thầy, những giải đáp mà Minh Thành đọc ra không phải của Minh Thành mà ở trong Kinh tạng Nikāya, những câu trả lời này là ở trong kinh. Phải người nào học và nắm vững được trong kinh thì trả lời mới đúng, còn
trả lời của mình là suy diễn của phàm phu.
III. Nơi cư ngụ của tham – sân – si
Ở trong tạng Kinh Nikāya, Đức Phật có chỉ chỗ cư trú, hang ổ và sào huyệt của tham – sân - si. Chứ lâu nay mình nói tham – sân – si ở trong tâm, mà ở chỗ nào? Hồi nãy đến giờ, mình học nhận diện tâm rồi, bây giờ tâm nằm ở đâu.
Quý thầy cứ việc chiêm nghiệm và suy nghĩ ra mình có thời giờ thong thả. Tham – sân – si ở đâu? Mình đi đánh giặc mà không biết giặc ở chỗ nào thì mình đánh cái gì, làm sao mình đánh được tới sào huyệt. Hiện nay, chúng ta chỉ mới giới thiệu tổng quát và dần dần chúng ta sẽ đi sâu vào, cho nên Minh Thành chưa có dẫn kinh điển, từng câu chữ kinh nhưng mà sau này, chúng ta sẽ đi từng bài kinh, từng câu kinh.
Thật ra, con thưa với quý thầy rồi con mới hỏi mà tại mấy thầy không để ý. Tham – sân – si nằm ở trong Thọ.
Trong “Tương Ưng Bộ Kinh”, Đức Phật nói “Tham tùy miên nằm ở trong lạc thọ, Sân tùy miên nằm trong khổ thọ, và vô minh tùy miên, tức là Si nằm trong bất khổ, bất lạc thọ”.
Bây giờ, chúng ta sẽ chứng minh để thấy cụ thể trong đời sống thực tế.
Tự nhiên mình đang đi bình thường, đang vui vẻ, nhẹ nhàng lại gặp ông này chỉ vô mặt mình nói: “Ông mà tu cái gì, tu hú chứ tu gì! Giả trang, thiền tướng”. Lúc đó là chỗ nào ở trong con người động chuyển, trong lồng ngực mình là trung tâm của các cảm thọ, ở trong bốc lên, nóng lên, xông lên và gương mặt của mình đổi màu, hai lỗ tai lùng bùng, mắt lờ mờ, miệng giật giật. Tức là từ trong cảm thọ động chuyển trước tiên rồi sau đó từ ở dưới nung lên. Mình thấy khi để một nồi nước hay ấm nước để nấu vào lúc lửa lớn mà tới độ sôi rồi thì “ùng ục, ùng ục” sôi tràn ra,
thậm chí là cái nắp nồi rớt ra luôn, bọt tuôn trào ra thì lúc đó là những dòng cảm thọ của khó chịu, bức xúc, sân hận tuôn lên, phẫn nộ, phẫn uất, xông lên, bùng lên, cháy lên.
Lúc đó, mặt thì đổi màu, con mắt thì lờ đờ, nóng bức rực lửa, lỗ tai lùng bùng, miệng phát ra những lời nói, rồi hành động. Khi nãy có thầy nói “thân, khẩu, ý” là đúng nhưng mà ở phía sau; có thầy nói bản ngã ... nhưng đúng ở một góc độ. Cái hang ổn và sào huyệt của tham - sân - si là nằm trong cảm thọ.
Bây giờ, chúng ta lấy ví dụ thực tế, hồi nãy lên bàn ăn ngồi đó đói bụng rồi gặp trúng món mình thích. Mình gắp rồi để vô trong “cảm thọ”, lúc dễ chịu đó mình không có Chánh niệm tĩnh giác, không có nhận diện cảm thọ.
Cho nên lúc đó Tham có mặt trong khi mình ăn mà không biết. Đây là bắt đầu đi vào vấn đề, mình tưởng tham là lượm đồ, người ta không cho
mình lấy, ăn cắp. Đó là bình thường của phàm phu, còn bậc đa văn Thánh đệ tử là nhìn thấy căn nguyên, gốc rễ của các Pháp vận hành ở trong Ngũ Uẩn. Bên trong này là một cảm thọ, cảm giác, khoái khoái, thích thích, muốn muốn. Tụng gì lâu, đáp từ dài, đói bụng quá, đáp lẹ lẹ, nhanh nhanh! Mới vừa đáp xong gõ “beng” là thò tay gắp liền. Đó là sự vận hành của cảm thọ.
Chúng ta phải phân biệt được tham, dục, ái. Cho nên đi vào Kinh Nikāya, chúng ta thấy rõ ràng hết tất cả các Pháp trong tâm mình. Khi mà mình ngồi, đói bụng, đồ ăn ngon ở trước mặt bốc mùi hương lên làm đói bụng. Bữa nay khiêng đá, dời chậu mệt, đói bụng mà vô ngồi trước mặt bảy tám món, cả chục món mà mùi bốc lên như vậy. Lúc đó trong này có cảm giác thúc giục, cảm giác đó là “dục”, không phải dục nam nữ không đâu, dục nam nữ là phàm phu, bình thường, ai cũng biết, còn cái này là Chánh đẳng, Chánh giác, Giác ngộ, Đức Thế Tôn chứng ngộ chứ không phải cảm nhận bình thường, trong mình có một cảm giác thúc giục. Khi mình nhận diện cảm thọ thì mới thấy, còn nếu không, mình không biết cảm thọ là gì thì mình sẽ không biết, cho nên chúng ta sẽ tập nhận diện cảm giác toàn thân.
Trong này có cảm giác thúc dục muốn ăn mà khi gắp rồi đó thì có cảm giác đã đã, khoái khoái, thích thích là ăn, để cái món đó vô rồi, đã quá, khoái quá, thích quá, ngon quá. Đó là ái. Rồi muốn thêm, miệng nhai chưa xong, nhai chưa có hết đồ ăn nhưng mà gắp món thứ hai để sẵn, chờ sẵn. Cho nên, lúc trước có một vị đi tu Phật thất 7 ngày thì khi về Minh Thành có hỏi đi tu 7 ngày nhớ gì nhất? Ấn tượng gì mà nhớ nhiều nhất? Dĩa tàu hủ bốn miếng, ông kia lên làm hết hai miếng rồi. Tôi mất phần, mất miếng tàu hủ. Thành ra mình mới thấy được một cảm giác thúc giục ở trong cảm thọ. Đó là dục. Cảm giác sau khi gắp phải bỏ vô họng rồi khoái khoái, thích thích, đã đã là ái. Rồi mình muốn thêm nữa, tiếp tục tăng lên thêm, muốn thêm nữa đó là tham.
Chúng ta thấy dịch ra tiếng Việt dễ hiểu không? Nhiều khi để dục, tham, ái rồi mình hiểu lờ mờ, mường tượng. Minh Thành là dịch Kinh bằng chữ Hán.
Thành ra, tham là muốn thêm, muốn nữa. Chẳng hạn như bây giờ mình khát nước mà đưa cho một ly nước cam lạnh, mật ong hay nước đá chanh, đường, cà phê sữa. Đang khát nước mà đưa vô thì lúc đó sao, khi mình khát nước mà thấy một ly nước ngon, đúng gu của mình nữa. Lúc đó làm sao, có thúc giục muốn uống không? Có một cảm giác thúc giục, xong rồi nếm vô thích thích khoái khoái, rồi xong muốn thêm nữa thành ra uống tiếp tục, nhiều khi đưa “ực” một cái để xuống hết trơn ly cà phê sữa.
Tất cả những cái này là nằm trong lạc thọ. Ví dụ thực tế ngay hiện tại, mình đang ở đây thấy mát mẻ, dễ chịu, bước ra cửa cảm thọ chuyển đổi liền. Nhưng nếu mình không có Chánh niệm tỉnh giác nhận diện và quán chiếu các cảm thọ thì lúc đó mình không có biết. Tại vì nó rất là vi tế, thâm sâu thành ra mình không biết.
Bước ra là mình thấy hơi khó chịu, thời tiết nóng mà bước vô máy điều hòa mà thấy dễ chịu thì đó là khổ thọ, lạc thọ. Và tham, sân vi tế nhỏ nhiệm ở trong đó mà mình không thấy. Thành ra trong khi mình ăn cơm, tham - sân - si hoạt động, không phải đợi tới ra ngoài cãi lộn đâu. Trong khi mình nói chuyện, trong khi mình đi thúc giục, vội vã. Cái đi vội vàng là dục đang đi, đang có một sự thúc giục bên trong.
Chúng ta thấy Hòa thượng, các vị Tôn đức của mình, đi nhẹ nhàng, thanh thản, thảnh thơi, bình an. Tất cả những cái dục lắng dịu và an tịnh. Hồi xưa, Minh Thành nhớ một chú làm rất là lớn ở trong chính quyền, không có biết chùa chiền, không có biết Phật giáo. Chú này chỉ đi đến Thiền viện Trúc Lâm tham quan, vô tình lúc đó thì Hòa thượng Trúc Lâm từ trong thất đi ra, chú này tự động phát lên một niềm tôn kính, cung kính bằng cả tấm lòng của mình và sau đó là quy y làm đệ tử, chính chú đó chia sẻ lại cho Minh Thành nghe. Trong bước đi đó, phong thái ung dung, tự tại đó không có bị dục chi phối, không có bị sự thúc giục ở bên trong.
Minh Thành thấy Hòa thượng viện trưởng, Ngài nói chuyện từ tốn, nhẹ nhàng, chậm rãi, không có sự thúc giục ở bên trong, cảm thọ trong đó lắng dịu, yên tịnh; thì mới biểu hiện ra ngôn ngữ, hành vi. Thành ra tất cả những cái của mình trong Ngũ Uẩn, thọ là “ông tổ”, là gốc rễ của tất cả Ngũ Uẩn, tổng hành dinh, hang ổ và sào huyệt, của tất cả các Thánh pháp, và nhiễm ô pháp, phàm phu pháp nằm trong đây. Cho nên sự tụ tập của chúng ta là sự tu tập quán chiếu rất sâu sắc về cảm thọ. Từ từ chúng ta sẽ đi vào kinh thì sẽ thấy khủng khiếp, cảm thọ của mình ghê gớm lắm.
Rồi mình thấy cảm thọ mà khó chịu là có sân trong đó. Hồi nãy nói, đang đi mà có ông đi lại nói một câu nặng như vậy, trong này bực bội, sân hận, sôi lên. Nếu mà người biết tu thì còn kiềm lại rồi để trong bụng, nhiều khi nói nó nhẹ lại thôi, hoặc là im re không có nói nhưng mà đừng tưởng im là hiền, để đó từ từ tính sau. Cho nên ngoài đời mới nói câu là “quân tử trả thù mười năm chưa muộn”, cái đó ghê nằm trong cảm thọ, chất chứa trong đó.
Mình tưởng đâu rằng là địa vị mình lớn, có chức quyền, người ta thấp hèn, không dám nói lại nhưng đừng có tưởng không nói là người ta không có giận, có thù; chất chứa bên trong cảm thọ tới lúc nào đó, thì lúc đó ở trong bùng ra. Thành ra cảm thọ của mình ghê lắm.
Hồi đó giờ mình đã từng đi qua bao nhiêu cảnh sắc, từng gặp bao nhiêu con người, từng nghe bao nhiêu lời nói, câu chuyện, sự vật rồi cuối cùng mình cũng quên nhưng có những cảm giác suốt đời mình không có quên.
Nên tại sao mình đi tu mà nhớ má, nhớ mẹ. Nhớ cảm giác ấm áp, thân thiện, thương yêu đó đã đi sâu vào bên trong mình, hay là nhiều khi có vợ, có chồng rồi đi tu rất là khó. Những cảm giác đi sâu, chất chứa vào bên trong, thành ra ở trong cảm thọ. Có gia đình rồi đi tu khó là vậy, dính sâu trong những cảm giác, cảm xúc, cảm thọ đó, tham – sân - si chất chứa trong đó.
Rồi bây giờ cảm giác không dễ chịu cũng không khó chịu. Bây giờ hỏi, nghe thầy đó giảng sao? Bình thường à. Hay giờ được ăn món đó sao? Không ngon không dở, ăn được.
Không phải là tham, cũng không phải là sân mà thường thường đều đều vậy thôi, bình thường vậy thôi. Mình nghĩ bình thường vậy nè:
- Dạ, thưa thầy, con tu cũng ngon lắm nha. Ba tháng nay con không có buồn, giận ai hết.
Nhưng mà con Si mà không có biết.
Mình tưởng đâu là cứ đều đều, “boong boong” xách bồ đoàn, tọa cụ lên, “cốc cốc cốc” rồi ra ăn cơm, đâu có giận ai, thương ai. Tu như vậy ngon lành quá nhưng mà “bất khổ, bất lạc thọ”, vô minh tùy miên trong đó. Tại vì không thấy sắc - thọ - tưởng - hành - thức, không thấy Duyên sanh Pháp, không thấy được những Pháp vô thường, khổ vô ngã ở trong đó mà là sống với một cái “tự ngã”.
Thấy có cái tôi ngon lành, trọn vẹn. Có cái tôi nhìn tới nhìn lui, nhìn vào gương coi cũng xài tạm được, cũng coi như hài lòng với hình hài này lắm, là si mê, chấp ngã, vô minh, tham ái nằm trong đó.
Như vậy, đầu tiên là chúng ta nhận diện tâm, thọ - tưởng – hành – thức.
Bước thứ hai là chúng ta bắt đầu nhận diện 3 cảm thọ: Khổ thọ, lạc thọ, bất khổ bất lạc thọ. Dễ chịu, khó chịu, không dễ chịu không khó chịu. Và chúng ta nhận diện ra tham – sân - si nằm trong ba cảm thọ, cách nhiếp phục nó như thế nào thì từ từ chúng ta có hết.
Chúng ta mở ra định nghĩa thứ hai:
“Thân người, cảnh vật, đồ vật, Tứ đại là sắc. Cảm giác dễ chịu, cảm giác khó chịu, cảm giác không dễ chịu, không khó chịu là thọ. Bóng dáng thô tế trong tâm là tưởng. Suy nghĩ nói thầm trong tâm là hành, rõ biết trong ngoài, sáu trần là thức”.
Đọc định nghĩa về sắc: “Thân người, cảnh vật, đồ vật, Tứ đại là sắc...”.Đó là chúng ta nhận diện về sắc uẩn.
Chữ “uẩn” nghĩa là gì? Chữ “uẩn” là tổ hợp, sự nhóm hợp, tập hợp, kết hợp, tụ tập, kết hợp, tổ hợp. Vậy thì thân này, cảnh này, những đồ vật xung quanh chúng ta, tất cả chỉ là sắc pháp.
Bây giờ bắt đầu nhận diện sắc uẩn, hồi nãy giờ chúng ta nhận diện thọ - tưởng - hành - thức, đó chỉ là tổ hợp của Tứ đại, là những sự nhóm hợp, tập hợp, kết hợp, chỉ là sự lắp ráp. Cũng như cái ghế, bàn chúng ta ngồi là sự lắp ráp. Sút mấy cây đinh ra thì không còn cái bàn, cái ghế nữa.
IV. Ngũ uẩn vô thường
Tất cả mọi hình, sắc bao gồm cả thân mà chúng ta đang ngồi đây, hội trường này, cảnh vật xung quanh chúng ta nhìn thấy chỉ là Tứ đại, đều là đất - nước – gió - lửa thôi, đều chỉ là tổ hợp của sắc chất thôi. Chúng ta thường xuyên tác ý và nhìn nó xuyên qua cái “danh tướng”, nhìn bản chất của nó là Tứ đại thì chúng ta mới không bị sự lòe loẹt của thế giới này dối lừa. Chúng ta phải thực tập nhận diện, nó chỉ là tứ đại đất - nước - gió - lửa không hơn không kém, dù cho nó có đẹp đẽ thế nào đi nữa, có lâu đài, làm bằng vàng, bằng ngọc, cung điện đi nữa, nó cũng chỉ là sắc pháp. Còn nếu như mình chỉ nhìn những lâu đài là lâu đài, nhà tranh là nhà tranh thì cái nhìn đó là cái nhìn của phàm phu, không phải của bậc đa Văn thánh đệ tử.
Và cả cuộc đời của chúng sanh, hữu tình là đau khổ về sắc uẩn này, chạy tìm những sắc pháp mà không biết rằng bản chất của nó là lắp ráp, kết hợp, nương dựa, đổi thay, vô thường, tạm bợ, mong manh mà Minh Thành dùng bốn chữ “đột” để giải thích cho chữ vô thường, gọi là “Tứ Đột”: Đột ngột, đột biến, đột quỵ, đột tử.
Tất cả sự vật, hiện tượng trên thế giới này đều là những thứ đột ngột và biến đổi, gọi là đột biến. Đột ngột nó biến đổi, bây giờ người thân thương nhất trong đại dịch này mình thấy không. Bây giờ bất thình lình nghe điện thoại báo tin ở nhà bà mất rồi, mẹ mất rồi, thậm chí cha, anh em mất rồi, mà khi ra đi là hình hài của một con người đầy đủ những cảm giác, nhận thức, suy tư; nhưng khi trở về là một nắm tro tàn, một hũ cốt, đó có phải là đột ngột không. Mình nhìn nhận và phải thường xuyên nhắc nhở tâm, không phải chỉ học trên lớp mình mở kinh ra đọc, lúc đó mới thấy câu đó mà là lúc mình khép cuốn kinh lại ra khỏi lớp học. Hay là lúc mình ngồi Thiền đường mới nhớ mà phải thường nhắc nhở tâm mình, hãy nhìn cho kỹ đi tâm si mê này. Tất cả những thứ này là vô thường, bại hoại, tan rã, biến hoại, hoại diệt, tiêu phong, trống rỗng, trống không, trống trơn. Bản chất cuộc đời là trống rỗng, trống không, cảnh mộng, dễ dàng tan biến vào hư không.
Thường xuyên luôn tác ý, nhắc nhở tâm mình để đừng bị những màu sắc đó.
Vừa rồi mới mấy ngày Tết, ba ngày Xuân là bốn ngày “Xẹp”, chuẩn bị cả chục ngày, nửa tháng, một tháng, hoa hồng, hoa mai, hoa đào, hoa cúc, hoa vạn thọ, hoa hướng dương ... được bao lâu, rồi nó cũng rã rời, tàn tạ, tả tơi, cũng đem quăng vào thùng rác. Bản chất của sắc pháp là vậy, phải nhìn sâu và nhìn xuyên, nhìn thấu, nhìn thủng tất cả những hình tướng này và đem nó làm đề mục vào trong buổi ngồi Thiền, Thiền quán.
Nhắc nhở tâm mình cho nhớ, còn học nghe thì thấm một chút vậy đó, cảm thọ được chút vậy rồi cũng y nguyên như cũ, cũng trở lại với cái nhìn của phàm phu, nghiệp lực, thói quen, vô minh và tham ái, chấp thủ đối với những hình, sắc trên cuộc đời này. Chúng ta nhận diện sắc uẩn là nhận diện vậy đó.
Mình đã nói bên ngoài cảnh vật, đồ vật, bây giờ tới thân xác này, phải nhận diện thân xác này cho thật kỹ. Đức Thế Tôn nói rằng:
“Này các Tỷ kheo, ví như một ung nhọt đã trải qua nhiều năm. Nó có chín miệng vết thương, có chín miệng rạn nứt. Từ đấy có cái gì chảy ra? Chắc chắn bất tịnh rỉ chảy, chắc chắn hôi thúi rỉ chảy, chắc chắn nhàm chán rỉ chảy. Có cái gì nứt chảy? Chắc chắn bất tịnh nứt chảy, chắc chắn hôi thúi nứt chảy, chắc chắn nhàm chán nứt chảy.
Ung nhọt, này các Tỷ kheo, là đồng nghĩa với thân này do bốn đại tác thành, do cơm cháo chất chứa nuôi dưỡng, vô thường, biến hoại, tan nát, hủy hoại, có chín miệng vết thương, có chín miệng rạn nứt. Từ đấy có cái gì chảy ra? Chắc chắn bất tịnh rỉ chảy, chắc chắn hôi thúi rỉ chảy, chắc chắn nhàm chán rỉ chảy. Có cái gì nứt chảy? Chắc chắn bất tịnh nứt chảy, chắc chắn hôi thúi nứt chảy, chắc chắn nhàm chán nứt chảy.
Do vậy, này các Tỷ kheo, hãy nhàm chán thân này”
Kinh Tăng Chi Bộ Chương 9 - Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử - Phần Ung Nhọt
Nó chảy ra cái gì? Phân, nước tiểu, nước bọt, ghèn, máu, mồ hôi, cứt mũi, cứt ráy...những thứ chảy ra là nhơ nhớp, những thứ mà mình xấu hổ, phải đem vào chỗ kín để giấu giếm, xóa dấu vết đó ngay lập tức khi nó bài tiết ra. Bản chất của thân này là một ung nhọt chín lỗ, ngày đêm rạn nứt, rỉ chảy; rỉ chảy là những thứ bất tịnh, những thứ đáng nhàm đáng chán, đáng kinh đáng tởm, là những thứ nhàm chán, đáng xấu hổ phải giấu kín. Bây giờ ở đây, bất thình lình có một người nào mà chảy ra là không biết chui ở đâu để trốn, đó là sự xấu hổ, bất tịnh.
Nhưng mà vì vô minh, tham ái, chấp thủ vào cái đống sắc uẩn này mà chúng ta luôn luôn vỗ ngực xưng tên: Tôi, ta, tao, mi, mày. “Nhân ngã, bỉ thử” là
không nhìn thấy được cái bản chất của sắc uẩn. Đó là một chút Thiền quán để cho chúng ta chiêm nghiệm, nhận diện sắc uẩn. Hãy nhìn kỹ tấm thân bại hoại, mục nát này, bất cứ lúc nào cũng có thể sụp xuống, ngã xuống, đổ xuống, sụm xuống và nằm xuống và rồi trở thành một khúc cây vô dụng. Thân này không bao lâu sẽ vùi sâu đáy mồ như khúc cây vô thức, vô tri, vô dụng, bị vứt bỏ.
Đó là chúng ta nhận diện sơ lược về sắc uẩn.
Thích Minh Thành
Ngày 16 tháng 02 năm 2022
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Tâm sự PAGEREF _Toc98865171 \h 1
II. Trình bày về ngũ uẩn PAGEREF _Toc98865172 \h 2
III. Nơi cư ngụ của tham – sân – si PAGEREF _Toc98865173 \h 6
IV. Ngũ uẩn vô thường PAGEREF _Toc98865174 \h 12
I. Tâm sự
Cuối đầu kính lễ Đức Thế Tôn, bậc Chánh Biến Tri, Vô Thượng Giác.
Kính lễ Hòa thượng Tôn sư - Viện trưởng Thiền viện Trúc Lâm, kính lễ Hòa thượng Viện chủ Thiền viện Thường Chiếu, kính tất cả Bạch Chư tăng hiện tiền ở tại bản trường của Thiền viện Thường Chiếu.
Pháp danh của con là Minh Thành, được sự chỉ dạy của Hòa thượng Viện chủ Thiền viện Thường Chiếu về đây để trao đổi, chia sẻ những lời dạy nguyên chất của Đức Thế Tôn từ trong Kinh tạng Nikāya. Đầu tiên, con cũng có vài lời chia sẻ cùng với quý thầy là từ năm 1994, con cũng ở tại Thiền viện Trúc Lâm Đà Lạt, ở chung với các thầy: Tuệ Giác, Tuệ Tĩnh, Tâm Hạnh, Kiến Nguyệt, Tâm Thuần. Các thầy đã mỗi người một nơi, có vị đã viên mãn kiếp người. Từ năm 1994, con được tu học với sự dạy dỗ trực tiếp của Hòa thượng Tôn sư Trúc Lâm, trong thời gian đó là con nghe Hòa thượng Tôn sư giảng, dù cho ở xa học không ở trong Thiền viện nhưng mỗi ngày bình quân nghe tám tiếng suốt 10 năm, nghe như vậy cho đến khoảng 15 năm. Và thấm nhuần ân đức mưa móc, giáo dưỡng của Hòa thượng Trúc Lâm của chúng ta rất là nhiều. Kế đó, bản thân con cũng được nương nhờ ân đức của Hòa thượng Viện chủ Thường Chiếu rất là nhiều từ đạo hạnh, đức hạnh, công đức của các Ngài. Ngày hôm nay, thừa lệnh của chư tôn đức, Minh Thành về đây báo cáo, trình bày, chia sẻ những gì tu học được trong 30 năm vừa qua.
Con được các thầy phân công là chia sẻ về môn Kinh Trung Bộ. Xin thưa với quý thầy là kinh tạng không phải dễ dàng mà mở ra đọc là hiểu và bản thân của Minh Thành nghe Kinh tạng Nikāya hơn 10 năm mà không có nắm được chìa khóa để đi vào, có hiểu thì hiểu trên ngôn ngữ, chữ nghĩa, kiến thức; cho đến khi gặp được những bậc Thiện Tri Thức đã có sự tu học thành tựu để chia sẻ, mình mới bắt đầu biết được cái “lõi cây”, trọng tâm, hồng tâm của tạng kinh là gì.
Chính vì vậy, môn Kinh Trung Bộ của chúng ta không đi vào học liền được mà phải có sự sửa soạn và chuẩn bị. Khi chúng ta muốn cất nhà thì cất liền phải không? Có chuẩn bị đất, cát, xi măng, đá, sắt, có đổ kiềng, đổ đà không hay là cất liền? Thành ra khâu chuẩn bị là hết sức quan trọng. Do đó, trong sách vở mình hay gọi là “tiền phương tiện”, tức là sửa soạn, chuẩn bị để đi vào được tạng kinh thì mình phải có đủ trang bị những cái thấy biết, trọng yếu của Pháp thì mới biết rằng trong kinh nói cái gì. Còn bằng không dù cho có đọc hết tạng kinh mình cũng không biết, nó mênh mông như rừng như biển. Khi mình vào khu rừng thì không biết lối nào ra, lạc trong rừng rậm của kinh sách, chữ nghĩa, những tri thức, kiến thức trong đó.
Chính vì vậy mà chúng ta sửa soạn đi vào Trung Bộ Kinh thì phải có sự chuẩn bị. Con xin hỏi quý thầy câu hỏi này xong rồi thì mới bắt đầu đi vào học kinh được. Chúng ta đã học được hơn 2 năm phải không, con hỏi quý thầy một câu rất đơn giản, trả lời đúng câu này là mình bắt đầu đi vào học kinh được: “Tâm là gì?”
Nếu không hiểu được chính xác cái này thì học tạng kinh Nikāya là sẽ không đi vào được. Cho tới ngày hôm nay, chúng ta ở trong chùa 5 năm, 7 năm, 10 năm rồi, ngồi thiền mấy cái bồ đoàn cũng xẹp hết rồi. Thì bây giờ “Tâm là gì?”. Cái này hết hết sức đơn giản mà là quan trọng nhất với chúng ta, và Thiền nữa, tâm là cái gì? Mình không biết tâm là gì, làm sao tu tâm, làm sao chế ngự, nhiếp phục, làm chủ được tâm.
II. Trình bày về ngũ uẩn
Bây giờ, chúng ta đi vào thực tế để nhận diện “tâm”, con mời quý thầy nhắm mắt lại, nhớ về người mẹ thân thương của mình. Chúng ta thấy trong tâm mình có hình bóng của mẹ hiện ra lờ mờ trong tâm không? Chúng ta có một cảm giác dễ chịu, thân thương không? Chúng ta có suy nghĩ không biết giờ này mẹ mình đang làm gì không? Có những suy nghĩ liên hệ về mẹ ngay lúc đó, có không? Rồi chúng ta có rõ biết rằng ngay lúc đó, mình có hình bóng của người mẹ trong tâm, có một cảm giác dễ chịu, có đang suy nghĩ về mẹ, lúc đó có biết trong tâm mình đang có hình bóng, cảm giác, suy nghĩ như vậy, có biết không? Đó là tâm. Đó là thọ - tưởng – hành - thức.
Có cái thân mấy chục kí đang ngồi đây là sắc, cái thân đang hiện hữu mấy chục kí lô thịt, những cái xung quanh đây là sắc. Bây giờ, chúng ta sẽ tiếp tục nhiều ví dụ nữa để nhận diện tâm. Chúng ta chịu khó nhắm mắt lại tiếp tục cho rõ hơn, mình nghĩ về Hòa thượng Tôn sư Trúc Lâm đáng kính của chúng ta. Chúng ta có thấy hình bóng của Hòa thượng, trong tâm mình có hình bóng của Ngài không? Có một cảm giác tôn kính, ấm áp không? Mình có suy nghĩ về Ngài, có suy nghĩ về những việc Ngài đã làm, những lời đã dạy, những công đức của Ngài, có không? Mình có rõ biết rằng đang có hình bóng của Ngài, đang có những cảm giác, suy nghĩ đó, có rõ biết không? Đó là tâm, là thọ - tưởng – hành – thức.
Bây giờ, mình sẽ nhận diện tham - sân -si trong tâm của mình. Từ nhỏ tới lớn thế nào cũng có giận ít nhất một người phải không? Xin mời tất cả quý thầy nhắm mắt lại, nhớ về người mình giận, người làm mình đau khổ, gây sự làm cho mình nhiều buồn đau, hay kiếm chuyện gây sự với mình, người mình thấy không có dễ thương, kiếm chuyện gây sự với mình hoài. Có thấy mặt hiện ra không?
Cho nên trong chữ Nho này hay lắm, chữ “Tướng” là hình tướng, hình dáng. Cái hình dáng trong “Tâm” là “Tưởng”. Vậy thì hình bóng người mà mình khó chịu, mình giận hiện ra, hình bóng đó là Tưởng uẩn. Bây giờ, nó sẽ có một cảm giác khó chịu, bực bội, đó là Thọ. Và mình sẽ suy nghĩ người này làm khổ, kiếm chuyện, gây sự hoài, lúc nãy mình có suy nghĩ không? Đó là Hành uẩn. Và lúc đó, mình có một sự rõ biết tất cả những cái đó đang diễn ra. Mình rõ biết rằng hình bóng đang có trong tâm, những cảm giác khó chịu đang xuất hiện và những suy nghĩ về người đó đang có mặt. Mình rõ biết được ba cái này, rõ biết được hình bóng, cảm giác khó chịu, những suy nghĩ về người đó; mình rõ biết, đó là Thức.
Chúng ta mở đến trang 100, “Định nghĩa Ngũ Uẩn” cùng nhau đọc qua định nghĩa:
Định nghĩa 1: “Thân người là sắc, cảm giác là thọ, hình bóng là tưởng, suy nghĩ là hành, rõ biết là thức”.
Định nghĩa 2: “Thân người, cảnh vật, đồ vật, Tứ đại là sắc. Cảm giác dễ chịu, cảm giác khó chịu, cảm giác không dễ chịu, không khó chịu là thọ. Bóng dáng thô tế trong tâm là tưởng. Suy nghĩ nói thầm trong tâm là hành, rõ biết trong ngoài, sáu trần là thức”.
Xin thưa với quý thầy, định nghĩa 1 trích từ trong Trung Bộ của 4 bộ “Kinh tạng Nikāya”.
Bây giờ, mình đi chầm chậm để nắm thật vững những Pháp căn bản và từ từ chúng ta mới đi sâu sắc được, cũng đừng có vội.
Tiếp tục nhận diện về tâm của mình, mình thích một món đồ nào đó hay là một con người nào đó trước kia khi chưa đi tu, bạn học hay là đứa cháu, đứa em. Bây giờ, mời quý thầy nhắm mắt lại nhớ về món đồ đó, đứa cháu, đứa em hay là người bạn đó, người hay đồ vật mà mình yêu thích nhất. Chúng ta bắt đầu nhìn thấy hình bóng người đó hiện ra chưa? Cái này gọi là “ý trung nhân” - người ở trong tâm.
Hình bóng của đứa em, đứa cháu hay là người bạn thân của mình hồi đó.
Hình bóng đó là gì? (Là Tưởng). Cảm giác gì có mặt, cảm giác dễ chịu không? (Là Thọ). Rồi mình có suy nghĩ về món đồ đó, đứa cháu, đứa em hay là người bạn đó không? Suy nghĩ là gì? (Là Hành). Lúc đó, mình có rõ biết rằng có hình bóng của người đó, có cái cảm giác dễ chịu đó, có những suy nghĩ về người đó, mình có rõ biết không? (Là Thức).
Bây giờ, chúng ta sẽ đọc ngược: Suy nghĩ là gì? (Hành); hình bóng là gì? (Tưởng); cảm giác (Thọ); rõ biết là gì? (Thức).
Đó là chúng ta đang thực tập nhận diện tâm. Cái này rất quan trọng. Thưa với quý thầy, con đi cầu đạo toàn thế giới 28 năm mới biết được tâm mình. Bây giờ, chúng ta sẽ bắt đầu tiếp tục.
Khi mình nhớ người mà mình thương, hình bóng người đó hiện ra thì có một cảm giác dễ chịu lắm. Chúng ta có thấy cảm giác đó không? Cái cảm giác dễ chịu. (Lạc Thọ)
Hồi nãy, mình nhớ người mà mình giận, hại và làm khổ mình. Lúc đó mình có cái cảm giác gì, chúng ta thấy rõ cảm giác đó không? Mình nhớ về người cứ kiếm chuyện, gây sự với mình, làm khó làm dễ mình, lúc đó mình thấy có cảm giác khó chịu không? (Khổ Thọ).
Rồi bây giờ mình nhớ tới người không có thương, cũng không có giận nữa, nhớ tới người thường thường vậy đó, lúc đó mình có cảm giác gì? Không dễ chịu, cũng không khó chịu. Bất khổ bất lạc thọ.
Bây giờ tới câu hỏi thứ hai, câu hỏi có ba chữ thôi. Có phải là tất cả chúng ta đi tu là để đoạn diệt tham - sân - si phải không? Tu tập giới - định - huệ, đoạn diệt tham – sân - si.
Bây giờ con xin hỏi quý thầy, tham – sân – si ở đâu? Ai trả lời được là có thưởng. Một bộ tạng Kinh Nikāya, rút gọn lại còn có bốn quyển thôi, ấn hành mới nhất. Xin thưa với các thầy, những giải đáp mà Minh Thành đọc ra không phải của Minh Thành mà ở trong Kinh tạng Nikāya, những câu trả lời này là ở trong kinh. Phải người nào học và nắm vững được trong kinh thì trả lời mới đúng, còn
trả lời của mình là suy diễn của phàm phu.
III. Nơi cư ngụ của tham – sân – si
Ở trong tạng Kinh Nikāya, Đức Phật có chỉ chỗ cư trú, hang ổ và sào huyệt của tham – sân - si. Chứ lâu nay mình nói tham – sân – si ở trong tâm, mà ở chỗ nào? Hồi nãy đến giờ, mình học nhận diện tâm rồi, bây giờ tâm nằm ở đâu.
Quý thầy cứ việc chiêm nghiệm và suy nghĩ ra mình có thời giờ thong thả. Tham – sân – si ở đâu? Mình đi đánh giặc mà không biết giặc ở chỗ nào thì mình đánh cái gì, làm sao mình đánh được tới sào huyệt. Hiện nay, chúng ta chỉ mới giới thiệu tổng quát và dần dần chúng ta sẽ đi sâu vào, cho nên Minh Thành chưa có dẫn kinh điển, từng câu chữ kinh nhưng mà sau này, chúng ta sẽ đi từng bài kinh, từng câu kinh.
Thật ra, con thưa với quý thầy rồi con mới hỏi mà tại mấy thầy không để ý. Tham – sân – si nằm ở trong Thọ.
Trong “Tương Ưng Bộ Kinh”, Đức Phật nói “Tham tùy miên nằm ở trong lạc thọ, Sân tùy miên nằm trong khổ thọ, và vô minh tùy miên, tức là Si nằm trong bất khổ, bất lạc thọ”.
Bây giờ, chúng ta sẽ chứng minh để thấy cụ thể trong đời sống thực tế.
Tự nhiên mình đang đi bình thường, đang vui vẻ, nhẹ nhàng lại gặp ông này chỉ vô mặt mình nói: “Ông mà tu cái gì, tu hú chứ tu gì! Giả trang, thiền tướng”. Lúc đó là chỗ nào ở trong con người động chuyển, trong lồng ngực mình là trung tâm của các cảm thọ, ở trong bốc lên, nóng lên, xông lên và gương mặt của mình đổi màu, hai lỗ tai lùng bùng, mắt lờ mờ, miệng giật giật. Tức là từ trong cảm thọ động chuyển trước tiên rồi sau đó từ ở dưới nung lên. Mình thấy khi để một nồi nước hay ấm nước để nấu vào lúc lửa lớn mà tới độ sôi rồi thì “ùng ục, ùng ục” sôi tràn ra,
thậm chí là cái nắp nồi rớt ra luôn, bọt tuôn trào ra thì lúc đó là những dòng cảm thọ của khó chịu, bức xúc, sân hận tuôn lên, phẫn nộ, phẫn uất, xông lên, bùng lên, cháy lên.
Lúc đó, mặt thì đổi màu, con mắt thì lờ đờ, nóng bức rực lửa, lỗ tai lùng bùng, miệng phát ra những lời nói, rồi hành động. Khi nãy có thầy nói “thân, khẩu, ý” là đúng nhưng mà ở phía sau; có thầy nói bản ngã ... nhưng đúng ở một góc độ. Cái hang ổn và sào huyệt của tham - sân - si là nằm trong cảm thọ.
Bây giờ, chúng ta lấy ví dụ thực tế, hồi nãy lên bàn ăn ngồi đó đói bụng rồi gặp trúng món mình thích. Mình gắp rồi để vô trong “cảm thọ”, lúc dễ chịu đó mình không có Chánh niệm tĩnh giác, không có nhận diện cảm thọ.
Cho nên lúc đó Tham có mặt trong khi mình ăn mà không biết. Đây là bắt đầu đi vào vấn đề, mình tưởng tham là lượm đồ, người ta không cho
mình lấy, ăn cắp. Đó là bình thường của phàm phu, còn bậc đa văn Thánh đệ tử là nhìn thấy căn nguyên, gốc rễ của các Pháp vận hành ở trong Ngũ Uẩn. Bên trong này là một cảm thọ, cảm giác, khoái khoái, thích thích, muốn muốn. Tụng gì lâu, đáp từ dài, đói bụng quá, đáp lẹ lẹ, nhanh nhanh! Mới vừa đáp xong gõ “beng” là thò tay gắp liền. Đó là sự vận hành của cảm thọ.
Chúng ta phải phân biệt được tham, dục, ái. Cho nên đi vào Kinh Nikāya, chúng ta thấy rõ ràng hết tất cả các Pháp trong tâm mình. Khi mà mình ngồi, đói bụng, đồ ăn ngon ở trước mặt bốc mùi hương lên làm đói bụng. Bữa nay khiêng đá, dời chậu mệt, đói bụng mà vô ngồi trước mặt bảy tám món, cả chục món mà mùi bốc lên như vậy. Lúc đó trong này có cảm giác thúc giục, cảm giác đó là “dục”, không phải dục nam nữ không đâu, dục nam nữ là phàm phu, bình thường, ai cũng biết, còn cái này là Chánh đẳng, Chánh giác, Giác ngộ, Đức Thế Tôn chứng ngộ chứ không phải cảm nhận bình thường, trong mình có một cảm giác thúc giục. Khi mình nhận diện cảm thọ thì mới thấy, còn nếu không, mình không biết cảm thọ là gì thì mình sẽ không biết, cho nên chúng ta sẽ tập nhận diện cảm giác toàn thân.
Trong này có cảm giác thúc dục muốn ăn mà khi gắp rồi đó thì có cảm giác đã đã, khoái khoái, thích thích là ăn, để cái món đó vô rồi, đã quá, khoái quá, thích quá, ngon quá. Đó là ái. Rồi muốn thêm, miệng nhai chưa xong, nhai chưa có hết đồ ăn nhưng mà gắp món thứ hai để sẵn, chờ sẵn. Cho nên, lúc trước có một vị đi tu Phật thất 7 ngày thì khi về Minh Thành có hỏi đi tu 7 ngày nhớ gì nhất? Ấn tượng gì mà nhớ nhiều nhất? Dĩa tàu hủ bốn miếng, ông kia lên làm hết hai miếng rồi. Tôi mất phần, mất miếng tàu hủ. Thành ra mình mới thấy được một cảm giác thúc giục ở trong cảm thọ. Đó là dục. Cảm giác sau khi gắp phải bỏ vô họng rồi khoái khoái, thích thích, đã đã là ái. Rồi mình muốn thêm nữa, tiếp tục tăng lên thêm, muốn thêm nữa đó là tham.
Chúng ta thấy dịch ra tiếng Việt dễ hiểu không? Nhiều khi để dục, tham, ái rồi mình hiểu lờ mờ, mường tượng. Minh Thành là dịch Kinh bằng chữ Hán.
Thành ra, tham là muốn thêm, muốn nữa. Chẳng hạn như bây giờ mình khát nước mà đưa cho một ly nước cam lạnh, mật ong hay nước đá chanh, đường, cà phê sữa. Đang khát nước mà đưa vô thì lúc đó sao, khi mình khát nước mà thấy một ly nước ngon, đúng gu của mình nữa. Lúc đó làm sao, có thúc giục muốn uống không? Có một cảm giác thúc giục, xong rồi nếm vô thích thích khoái khoái, rồi xong muốn thêm nữa thành ra uống tiếp tục, nhiều khi đưa “ực” một cái để xuống hết trơn ly cà phê sữa.
Tất cả những cái này là nằm trong lạc thọ. Ví dụ thực tế ngay hiện tại, mình đang ở đây thấy mát mẻ, dễ chịu, bước ra cửa cảm thọ chuyển đổi liền. Nhưng nếu mình không có Chánh niệm tỉnh giác nhận diện và quán chiếu các cảm thọ thì lúc đó mình không có biết. Tại vì nó rất là vi tế, thâm sâu thành ra mình không biết.
Bước ra là mình thấy hơi khó chịu, thời tiết nóng mà bước vô máy điều hòa mà thấy dễ chịu thì đó là khổ thọ, lạc thọ. Và tham, sân vi tế nhỏ nhiệm ở trong đó mà mình không thấy. Thành ra trong khi mình ăn cơm, tham - sân - si hoạt động, không phải đợi tới ra ngoài cãi lộn đâu. Trong khi mình nói chuyện, trong khi mình đi thúc giục, vội vã. Cái đi vội vàng là dục đang đi, đang có một sự thúc giục bên trong.
Chúng ta thấy Hòa thượng, các vị Tôn đức của mình, đi nhẹ nhàng, thanh thản, thảnh thơi, bình an. Tất cả những cái dục lắng dịu và an tịnh. Hồi xưa, Minh Thành nhớ một chú làm rất là lớn ở trong chính quyền, không có biết chùa chiền, không có biết Phật giáo. Chú này chỉ đi đến Thiền viện Trúc Lâm tham quan, vô tình lúc đó thì Hòa thượng Trúc Lâm từ trong thất đi ra, chú này tự động phát lên một niềm tôn kính, cung kính bằng cả tấm lòng của mình và sau đó là quy y làm đệ tử, chính chú đó chia sẻ lại cho Minh Thành nghe. Trong bước đi đó, phong thái ung dung, tự tại đó không có bị dục chi phối, không có bị sự thúc giục ở bên trong.
Minh Thành thấy Hòa thượng viện trưởng, Ngài nói chuyện từ tốn, nhẹ nhàng, chậm rãi, không có sự thúc giục ở bên trong, cảm thọ trong đó lắng dịu, yên tịnh; thì mới biểu hiện ra ngôn ngữ, hành vi. Thành ra tất cả những cái của mình trong Ngũ Uẩn, thọ là “ông tổ”, là gốc rễ của tất cả Ngũ Uẩn, tổng hành dinh, hang ổ và sào huyệt, của tất cả các Thánh pháp, và nhiễm ô pháp, phàm phu pháp nằm trong đây. Cho nên sự tụ tập của chúng ta là sự tu tập quán chiếu rất sâu sắc về cảm thọ. Từ từ chúng ta sẽ đi vào kinh thì sẽ thấy khủng khiếp, cảm thọ của mình ghê gớm lắm.
Rồi mình thấy cảm thọ mà khó chịu là có sân trong đó. Hồi nãy nói, đang đi mà có ông đi lại nói một câu nặng như vậy, trong này bực bội, sân hận, sôi lên. Nếu mà người biết tu thì còn kiềm lại rồi để trong bụng, nhiều khi nói nó nhẹ lại thôi, hoặc là im re không có nói nhưng mà đừng tưởng im là hiền, để đó từ từ tính sau. Cho nên ngoài đời mới nói câu là “quân tử trả thù mười năm chưa muộn”, cái đó ghê nằm trong cảm thọ, chất chứa trong đó.
Mình tưởng đâu rằng là địa vị mình lớn, có chức quyền, người ta thấp hèn, không dám nói lại nhưng đừng có tưởng không nói là người ta không có giận, có thù; chất chứa bên trong cảm thọ tới lúc nào đó, thì lúc đó ở trong bùng ra. Thành ra cảm thọ của mình ghê lắm.
Hồi đó giờ mình đã từng đi qua bao nhiêu cảnh sắc, từng gặp bao nhiêu con người, từng nghe bao nhiêu lời nói, câu chuyện, sự vật rồi cuối cùng mình cũng quên nhưng có những cảm giác suốt đời mình không có quên.
Nên tại sao mình đi tu mà nhớ má, nhớ mẹ. Nhớ cảm giác ấm áp, thân thiện, thương yêu đó đã đi sâu vào bên trong mình, hay là nhiều khi có vợ, có chồng rồi đi tu rất là khó. Những cảm giác đi sâu, chất chứa vào bên trong, thành ra ở trong cảm thọ. Có gia đình rồi đi tu khó là vậy, dính sâu trong những cảm giác, cảm xúc, cảm thọ đó, tham – sân - si chất chứa trong đó.
Rồi bây giờ cảm giác không dễ chịu cũng không khó chịu. Bây giờ hỏi, nghe thầy đó giảng sao? Bình thường à. Hay giờ được ăn món đó sao? Không ngon không dở, ăn được.
Không phải là tham, cũng không phải là sân mà thường thường đều đều vậy thôi, bình thường vậy thôi. Mình nghĩ bình thường vậy nè:
- Dạ, thưa thầy, con tu cũng ngon lắm nha. Ba tháng nay con không có buồn, giận ai hết.
Nhưng mà con Si mà không có biết.
Mình tưởng đâu là cứ đều đều, “boong boong” xách bồ đoàn, tọa cụ lên, “cốc cốc cốc” rồi ra ăn cơm, đâu có giận ai, thương ai. Tu như vậy ngon lành quá nhưng mà “bất khổ, bất lạc thọ”, vô minh tùy miên trong đó. Tại vì không thấy sắc - thọ - tưởng - hành - thức, không thấy Duyên sanh Pháp, không thấy được những Pháp vô thường, khổ vô ngã ở trong đó mà là sống với một cái “tự ngã”.
Thấy có cái tôi ngon lành, trọn vẹn. Có cái tôi nhìn tới nhìn lui, nhìn vào gương coi cũng xài tạm được, cũng coi như hài lòng với hình hài này lắm, là si mê, chấp ngã, vô minh, tham ái nằm trong đó.
Như vậy, đầu tiên là chúng ta nhận diện tâm, thọ - tưởng – hành – thức.
Bước thứ hai là chúng ta bắt đầu nhận diện 3 cảm thọ: Khổ thọ, lạc thọ, bất khổ bất lạc thọ. Dễ chịu, khó chịu, không dễ chịu không khó chịu. Và chúng ta nhận diện ra tham – sân - si nằm trong ba cảm thọ, cách nhiếp phục nó như thế nào thì từ từ chúng ta có hết.
Chúng ta mở ra định nghĩa thứ hai:
“Thân người, cảnh vật, đồ vật, Tứ đại là sắc. Cảm giác dễ chịu, cảm giác khó chịu, cảm giác không dễ chịu, không khó chịu là thọ. Bóng dáng thô tế trong tâm là tưởng. Suy nghĩ nói thầm trong tâm là hành, rõ biết trong ngoài, sáu trần là thức”.
Đọc định nghĩa về sắc: “Thân người, cảnh vật, đồ vật, Tứ đại là sắc...”.Đó là chúng ta nhận diện về sắc uẩn.
Chữ “uẩn” nghĩa là gì? Chữ “uẩn” là tổ hợp, sự nhóm hợp, tập hợp, kết hợp, tụ tập, kết hợp, tổ hợp. Vậy thì thân này, cảnh này, những đồ vật xung quanh chúng ta, tất cả chỉ là sắc pháp.
Bây giờ bắt đầu nhận diện sắc uẩn, hồi nãy giờ chúng ta nhận diện thọ - tưởng - hành - thức, đó chỉ là tổ hợp của Tứ đại, là những sự nhóm hợp, tập hợp, kết hợp, chỉ là sự lắp ráp. Cũng như cái ghế, bàn chúng ta ngồi là sự lắp ráp. Sút mấy cây đinh ra thì không còn cái bàn, cái ghế nữa.
IV. Ngũ uẩn vô thường
Tất cả mọi hình, sắc bao gồm cả thân mà chúng ta đang ngồi đây, hội trường này, cảnh vật xung quanh chúng ta nhìn thấy chỉ là Tứ đại, đều là đất - nước – gió - lửa thôi, đều chỉ là tổ hợp của sắc chất thôi. Chúng ta thường xuyên tác ý và nhìn nó xuyên qua cái “danh tướng”, nhìn bản chất của nó là Tứ đại thì chúng ta mới không bị sự lòe loẹt của thế giới này dối lừa. Chúng ta phải thực tập nhận diện, nó chỉ là tứ đại đất - nước - gió - lửa không hơn không kém, dù cho nó có đẹp đẽ thế nào đi nữa, có lâu đài, làm bằng vàng, bằng ngọc, cung điện đi nữa, nó cũng chỉ là sắc pháp. Còn nếu như mình chỉ nhìn những lâu đài là lâu đài, nhà tranh là nhà tranh thì cái nhìn đó là cái nhìn của phàm phu, không phải của bậc đa Văn thánh đệ tử.
Và cả cuộc đời của chúng sanh, hữu tình là đau khổ về sắc uẩn này, chạy tìm những sắc pháp mà không biết rằng bản chất của nó là lắp ráp, kết hợp, nương dựa, đổi thay, vô thường, tạm bợ, mong manh mà Minh Thành dùng bốn chữ “đột” để giải thích cho chữ vô thường, gọi là “Tứ Đột”: Đột ngột, đột biến, đột quỵ, đột tử.
Tất cả sự vật, hiện tượng trên thế giới này đều là những thứ đột ngột và biến đổi, gọi là đột biến. Đột ngột nó biến đổi, bây giờ người thân thương nhất trong đại dịch này mình thấy không. Bây giờ bất thình lình nghe điện thoại báo tin ở nhà bà mất rồi, mẹ mất rồi, thậm chí cha, anh em mất rồi, mà khi ra đi là hình hài của một con người đầy đủ những cảm giác, nhận thức, suy tư; nhưng khi trở về là một nắm tro tàn, một hũ cốt, đó có phải là đột ngột không. Mình nhìn nhận và phải thường xuyên nhắc nhở tâm, không phải chỉ học trên lớp mình mở kinh ra đọc, lúc đó mới thấy câu đó mà là lúc mình khép cuốn kinh lại ra khỏi lớp học. Hay là lúc mình ngồi Thiền đường mới nhớ mà phải thường nhắc nhở tâm mình, hãy nhìn cho kỹ đi tâm si mê này. Tất cả những thứ này là vô thường, bại hoại, tan rã, biến hoại, hoại diệt, tiêu phong, trống rỗng, trống không, trống trơn. Bản chất cuộc đời là trống rỗng, trống không, cảnh mộng, dễ dàng tan biến vào hư không.
Thường xuyên luôn tác ý, nhắc nhở tâm mình để đừng bị những màu sắc đó.
Vừa rồi mới mấy ngày Tết, ba ngày Xuân là bốn ngày “Xẹp”, chuẩn bị cả chục ngày, nửa tháng, một tháng, hoa hồng, hoa mai, hoa đào, hoa cúc, hoa vạn thọ, hoa hướng dương ... được bao lâu, rồi nó cũng rã rời, tàn tạ, tả tơi, cũng đem quăng vào thùng rác. Bản chất của sắc pháp là vậy, phải nhìn sâu và nhìn xuyên, nhìn thấu, nhìn thủng tất cả những hình tướng này và đem nó làm đề mục vào trong buổi ngồi Thiền, Thiền quán.
Nhắc nhở tâm mình cho nhớ, còn học nghe thì thấm một chút vậy đó, cảm thọ được chút vậy rồi cũng y nguyên như cũ, cũng trở lại với cái nhìn của phàm phu, nghiệp lực, thói quen, vô minh và tham ái, chấp thủ đối với những hình, sắc trên cuộc đời này. Chúng ta nhận diện sắc uẩn là nhận diện vậy đó.
Mình đã nói bên ngoài cảnh vật, đồ vật, bây giờ tới thân xác này, phải nhận diện thân xác này cho thật kỹ. Đức Thế Tôn nói rằng:
“Này các Tỷ kheo, ví như một ung nhọt đã trải qua nhiều năm. Nó có chín miệng vết thương, có chín miệng rạn nứt. Từ đấy có cái gì chảy ra? Chắc chắn bất tịnh rỉ chảy, chắc chắn hôi thúi rỉ chảy, chắc chắn nhàm chán rỉ chảy. Có cái gì nứt chảy? Chắc chắn bất tịnh nứt chảy, chắc chắn hôi thúi nứt chảy, chắc chắn nhàm chán nứt chảy.
Ung nhọt, này các Tỷ kheo, là đồng nghĩa với thân này do bốn đại tác thành, do cơm cháo chất chứa nuôi dưỡng, vô thường, biến hoại, tan nát, hủy hoại, có chín miệng vết thương, có chín miệng rạn nứt. Từ đấy có cái gì chảy ra? Chắc chắn bất tịnh rỉ chảy, chắc chắn hôi thúi rỉ chảy, chắc chắn nhàm chán rỉ chảy. Có cái gì nứt chảy? Chắc chắn bất tịnh nứt chảy, chắc chắn hôi thúi nứt chảy, chắc chắn nhàm chán nứt chảy.
Do vậy, này các Tỷ kheo, hãy nhàm chán thân này”
Kinh Tăng Chi Bộ Chương 9 - Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử - Phần Ung Nhọt
Nó chảy ra cái gì? Phân, nước tiểu, nước bọt, ghèn, máu, mồ hôi, cứt mũi, cứt ráy...những thứ chảy ra là nhơ nhớp, những thứ mà mình xấu hổ, phải đem vào chỗ kín để giấu giếm, xóa dấu vết đó ngay lập tức khi nó bài tiết ra. Bản chất của thân này là một ung nhọt chín lỗ, ngày đêm rạn nứt, rỉ chảy; rỉ chảy là những thứ bất tịnh, những thứ đáng nhàm đáng chán, đáng kinh đáng tởm, là những thứ nhàm chán, đáng xấu hổ phải giấu kín. Bây giờ ở đây, bất thình lình có một người nào mà chảy ra là không biết chui ở đâu để trốn, đó là sự xấu hổ, bất tịnh.
Nhưng mà vì vô minh, tham ái, chấp thủ vào cái đống sắc uẩn này mà chúng ta luôn luôn vỗ ngực xưng tên: Tôi, ta, tao, mi, mày. “Nhân ngã, bỉ thử” là
không nhìn thấy được cái bản chất của sắc uẩn. Đó là một chút Thiền quán để cho chúng ta chiêm nghiệm, nhận diện sắc uẩn. Hãy nhìn kỹ tấm thân bại hoại, mục nát này, bất cứ lúc nào cũng có thể sụp xuống, ngã xuống, đổ xuống, sụm xuống và nằm xuống và rồi trở thành một khúc cây vô dụng. Thân này không bao lâu sẽ vùi sâu đáy mồ như khúc cây vô thức, vô tri, vô dụng, bị vứt bỏ.
Đó là chúng ta nhận diện sơ lược về sắc uẩn.