VÔ MINH 6 - KHÁC BIỆT GIỮA NGU VÀ TRÍ
Kinh Nikāya Giảng Giải
VÔ MINH 6 – KHÁC BIỆT GIỮA NGU VÀ TRÍ
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Bài kinh “Bậc hiền so sánh với kẻ ngu” PAGEREF _Toc101428924 \h 1
II.Sự khác biệt giữa người trí so với kẻ ngu PAGEREF _Toc101428925 \h 3
1.Đoạn tận vô minh, khát ái PAGEREF _Toc101428926 \h 3
2.Chân chánh đoạn trừ khổ đau PAGEREF _Toc101428927 \h 7
Bài kinh “Bậc hiền so sánh với kẻ ngu”
Trong sự tu học này, chúng ta phải nhận diện được những cảm thọ bức xúc, bực bội, nóng giận, thúc giục, ham thích, ta đây, bản ngã, hơn thua trong sinh hoạt thường nhật hàng ngày. Khi sanh khởi lên cảm giác nóng giận, lúc đó ngũ uẩn vận hành thế nào? Khi sanh khởi lên cảm giác tham muốn, thúc giục, lúc đó nội tâm ra sao? Khi nói năng, giao tiếp, thù tạc mà sanh khởi lên cái tôi, cái ta, lúc đó trong suy nghĩ, cảm giác diễn ra như thế nào, vận hành ra sao, trong tâm là hình bóng gì? Đó là điều hết sức quan trọng mà chúng ta cần để tâm trong khi tu học.
Câu pháp hành, cũng như bài tập và bài thi mà chúng ta luôn phải ôn nhắc, nhắc nhở mỗi ngày là: Tham, sân, si, bản ngã sanh khởi, an trú trong tâm, lúc đó ngũ uẩn như thế nào? Dục, ái, tham, sân hận, bản ngã khởi lên; lúc đó ngũ uẩn như thế nào? Luôn luôn phải tập theo dõi, quản lí, dòm ngó, dò xét, chiếu soi, quán xét, quán sát, tư sát những cảm giác, nghĩ, tưởng trong tâm.
Trong kinh Nikāya, pháp hành có từ sức mạnh của tư sát và sức mạnh của tu tập, “sát” là quán sát, “tư” là tư duy. Cho nên, người tu phải có sức mạnh của sự quán sát và tư duy, đó là Chánh Tư Duy/Thánh Tư Duy.
Trong Chánh Tư Duy gồm ba loại cơ bản:
Ly dục tư duy: suy nghĩ để rời sự ham muốn.
Ly sân tư duy: suy nghĩ để rời sự nóng giận.
Bất hại tư duy: suy nghĩ để rời sự muốn hại người khác.
Đây gọi là Chánh Tư Duy, còn gọi lại suy nghĩ đúng, suy nghĩ chân chánh.
Trong bài kinh “Bậc hiền so sánh với kẻ ngu”, kinh Tương Ưng Bộ – tập II, Đức Phật so sánh rõ bậc Hiền trí trong giáo pháp và kẻ ngu si, phàm phu ngoài đời để chúng ta biết được và so sánh xem mình đang ở vị trí nào:
Đức Thế Tôn trú tại Sàvatthi.
Đối với kẻ ngu, này các Tỷ-kheo, bị vô minh che đậy, bị tham ái hệ phược, thân này được khởi lên như sau: Chỉ có thân này và danh sắc ở ngoài. Như vậy là
bộ hai này. Duyên bộ hai này có xúc, có sáu xứ. Do cảm xúc bởi chúng, hoặc một trong hai, người ngu cảm thọ lạc khổ.
Đối với bậc Hiền, này các Tỷ-kheo, bị vô minh che đậy, bị tham ái hệ phược, thân này được khởi lên như sau: Chỉ có thân này và danh sắc ở ngoài. Như vậy là bộ hai này. Duyên bộ hai này có xúc, có sáu xứ. Do cảm xúc bởi chúng, hoặc một trong hai, người Hiền cảm thọ lạc khổ.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có gì phân biệt, có gì sai khác, có gì dị biệt giữa bậc Hiền và kẻ ngu?
Bạch Thế Tôn, đối với chúng con, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản, lấy Thế Tôn làm lãnh đạo, lấy Thế Tôn làm chỗ y chỉ. Bạch Thế Tôn, lành thay, nếu Thế Tôn nói lên cho chúng con ý nghĩa lời nói này. Sau khi nghe Thế Tôn giảng, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì.
Vậy này các Tỷ-kheo, hãy nghe và khéo suy nghiệm, Ta sẽ nói.
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
Thế Tôn nói như sau:
- Này các Tỷ-kheo, bị vô minh che đậy và bị tham ái hệ phược, thân này của người ngu được sanh khởi. Vô minh ấy, người ngu không đoạn tận. Tham ái ấy, người ngu không tận trừ. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, người ngu sống Phạm hạnh không phải vì chơn chánh đoạn trừ khổ đau. Do vậy người ngu, khi thân hoại mạng chung, đi đến một thân khác. Do đi đến một thân khác, người ấy không giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng: " Người ấy không thoát khỏi đau khổ ".
Và này các Tỷ-kheo, bị vô minh che đậy, bị tham ái hệ phược, thân người Hiền trí được sanh khởi. Vô minh ấy, người Hiền trí đoạn tận. Tham ái ấy, người Hiền trí tận trừ. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, người Hiền trí sống Phạm hạnh, vì chơn chánh đoạn trừ khổ đau. Do vậy, người Hiền trí, khi thân hoại mạng chung, không đi đến một thân khác. Do không đi đến một thân khác, vị ấy giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng: " Vị ấy thoát khỏi đau khổ ".
Này các Tỷ-kheo, đây là sự phân biệt, đây là sự sai khác, đây là sự dị biệt giữa bậc Hiền trí và người ngu.
(Kinh Tương Ưng Bộ - Tập II Thiên Nhân Duyên, chương I Tương Ưng Nhân Duyên, phẩm Đồ Ăn, kinh Bậc hiền so sánh với kẻ ngu).
Sự khác biệt giữa người trí so với kẻ ngu
Thông qua bài kinh trên, chúng ta cùng tìm hiểu và phân tích lời của Đức Thế Tôn đã so sánh kẻ phàm phu ngu si và bậc Hiền trí, Đa văn Thánh đệ tử. Hiểu theo cách đơn giản là Đức Phật so sánh giữa người biết tu và kẻ không biết tu khác nhau ở chỗ nào.
Đoạn tận vô minh, khát ái
“Đối với kẻ ngu, này các Tỷ-kheo, bị vô minh che đậy, bị tham ái hệ phược”. “Hệ phược” có nghĩa là trói cột. Vô minh và tham ái là nguyên nhân của sinh tử luân hồi, nguồn cội của tất cả khổ đau. Khi tất cả các pháp đều quy tụ về ngũ uẩn, thì vô minh là không sáng suốt, không thấy, không biết ngũ uẩn chỉ là ngũ uẩn, mà cho rằng đó là tôi, là tự ngã của tôi.
Mỗi ngày khi nhìn lại vào thân tâm, chúng ta thấy được ngũ uẩn bao nhiêu phút, bao nhiêu giờ. Hay chỉ nhìn thấy cái tôi, cái ta, cái tự ngã? Nếu không nhớ mỗi ngày thấy được ngũ uẩn bao nhiêu phút, bao nhiêu lần thì đó là “bị vô minh che đậy” suốt ngày đêm, suốt đời, suốt kiếp, suốt vô lượng vô biên kiếp. Trong suy nghĩ lúc nào cũng tôi, tôi hơn, tôi bằng, tôi thua, tôi đẹp, tôi vừa, tôi xấu,... suy nghĩ đó là suy nghĩ vô minh.
Ngược lại với suy nghĩ vô minh, là suy nghĩ “minh”. Người có suy nghĩ trí, “minh” sẽ biết được thân này chỉ là sắc uẩn, tứ đại tạo thành, bên trong là những cảm giác buồn vui, hình bóng của tưởng, suy nghĩ của hành, nhận biết của thức, chỉ là một tổ hợp tạo nên ngũ uẩn, chỉ là tứ đại, chỉ là duyên sanh, vô thường, khốn khổ, vô ngã, trống rỗng. Mỗi ngày nghĩ đến điều này bao nhiêu lần thì lúc đó chúng ta đã có được “minh” bấy nhiêu, thoát ra được vô minh.
Cho nên trong sự tu của chúng ta phải thực tập nhận diện ngũ uẩn, vì lúc nhận diện ngũ uẩn đồng nghĩa với việc đang phá bỏ sự vô minh. Khi ấy không còn thấy cái ngã, cái tôi nữa mà thay vào đó sẽ thấy tổ hợp của sắc chất, cảm giác, hình bóng trong tâm, suy tư nghĩ ngợi của hành uẩn và sự nhận biết. Đó là định nghĩa căn bản về vô minh.
Còn đối với tham ái, “ái” là yêu, “tham” là muốn thêm, tham ái là ham thích, ưa thích, ham muốn đối với ngũ uẩn. Yêu thích những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ trong tâm; yêu thích sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Khi đi sâu vào chúng ta sẽ thấy càng thâm sâu hơn, không chỉ đơn giản là tham chiếc xe, thích người kia, hay thích ngôi chùa,...Trí tuệ như vậy là không hề đủ mà phải bao trùm hết ngũ uẩn.
Vì thế, chỉ có Thánh trí ngũ uẩn mới có thể soi hết những ngóc ngách, khía cạnh, phương diện ở bên trong, bên ngoài các pháp, bao gồm cả thế giới, cả vũ trụ này. Đôi khi nghĩ rằng mình thích người kia, nhưng chưa chắc, bởi vì người đó mang lại cảm giác ấm áp, ngọt ngào cho mình nên nghĩ là mình thương người đó, nhưng thực chất mình đang tham thích uẩn “thọ”. Hoặc khi nghĩ rằng mình thương hay ghét người đó, nhưng chưa chắc, thích hình bóng trong tâm, đó là thích “tưởng”, khi người đó đã ra đi rồi mà vẫn khổ đau, nhớ thương, tiếc nuối; chẳng hạn đi tu là đã “cắt ái ly da”, từ giã, từ bỏ cha mẹ rồi nhưng trong tâm hình ảnh, hình bóng cha mẹ vẫn không thoát ra được. Đó là sự sâu sắc mà nếu không tu học nhận diện ngũ uẩn sẽ không thể nào nhận ra được.
Đối với yêu và hận cũng vậy, “tưởng” ám ảnh, chập chờn, ẩn ẩn hiện hiện, lờ lờ mờ mờ trong tâm, nhưng lại thích, muốn, thương hình bóng này; hoặc giận, sân, ghét hình bóng này, cứ nghĩ tới, càng nghĩ thì càng tức mà càng tức lại càng nghĩ đến, làm cho tâm càng bực bội, nực nội, nóng rực, thiêu đốt, đốt cháy mà vẫn tiếp tục nghĩ đến điên dại, ám ảnh không thoát ra được. Vì vậy, trong Tương Ưng Uẩn Đức Thế Tôn đã nói: “Chúng sanh bị sắc ám ảnh, bị thọ ám ảnh, bị tưởng ám ảnh, bị hành ám ảnh, bị thức ám ảnh”.
Đây không phải là những câu nói đơn giản mà phải thiền quán, thiền định mới thấy được sự thâm sâu khủng khiếp trong đó. Đức Thế Tôn có nói “bị sắc áp đảo”, tức là bị xô ngã, “thọ áp đảo, tưởng áp đảo, hành áp đảo, thức áp đảo”,bị những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ, nhận thức xô ngã. Vì yêu thích ngũ uẩn này.Ví dụ như mình rất yêu thích suy nghĩ trong tâm, nghĩ một tuần, nửa tháng với mong muốn khi trình bày ra sẽ được khen ngợi, nhưng sau đó bị chê không hay, trật lất thì giận, sân, tự ái bắt đầu khởi lên. Đối với yêu thích “sắc”, tức là thân thể tứ đại và cảnh vật, đồ vật thì dễ nhận biết; nhưng riêng đối với thọ, tưởng, hành, thức nếu không học kinh Nikāya sẽ không biết, rất khó nhận ra được sự vận hành của bốn uẩn này. Như vậy, yêu thích đối với cái thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm, nhận thức nơi sáu căn và trong tâm là do vô minh nên không biết ngũ uẩn đó là vô thường, khổ và duyên sanh. Cứ tưởng rằng sẽ mãi như vậy, không thay đổi.
Thấy người đó luôn mang lại cho mình cảm giác ấm áp, ngọt ngào mà nghĩ rằng lúc nào cũng sẽ như vậy, nhưng không ngờ sau đó lại đắng, làm cho mình khổ, rồi oán trách “lúc này tôi mới biết bản mặt thật của ông”, lúc ấy đã quá muộn. Chúng ta cứ mãi đắm chìm mà không biết đó là sự biến đổi vô thường, duyên sanh, phản phúc, phản trắc, đổi thay, lật lọng, phản bội. Nên sau đó từ cảm thọ ban đầu là yêu biến thành hận, từ thương biến thành ghét, từ thân trở mặt thành thù. Đó là giải thích tổng quát, sơ lược về hai chữ vô minh và tham ái. Không đơn giản chỉ đọc vào là hiểu, mà trong sự tu của chúng ta phải thực hành, quán sát mới có thể lĩnh ngộ hết sự sâu sắc này.
“Này các Tỷ-kheo, bị vô minh che đậy”, tức là không thấy được năm uẩn. Vì không thấy, không biết năm uẩn là vô thường, khổ đau, trống rỗng, vô ngã nên kẻ ngu ham thích, yêu thích, ưa thích, đam mê, say đắm, ham muốn, thèm khát, tưởng mơ, ước ao, hi vọng, đợi chờ, thèm thuồng, khát khao đối với năm thủ uẩn này. Bị cảm giác thiếu thốn trói cột nên lúc nào cũng cảm thấy chưa đủ, luôn muốn thêm và không bao giờ cảm thấy đủ. Nên chữ “khổ” trong tiếng Pali là bất toại nguyện, không vừa lòng, không hài lòng, không thỏa lòng, chưa bằng lòng mà cứ muốn thêm. Tham như vậy tức là “bị vô minh che đậy, bị tham ái hệ phược, thân này được khởi lên”, hiểu đơn giản là căn với trần tạo nên sự tiếp xúc, gọi là sáu xứ, khi mắt nhìn thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị ngon, thân tiếp xúc đụng chạm, ý thức biết được thọ, tưởng, hành khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần thì cảm thọ khổ hoặc vui sẽ xuất hiện.
Người ngu hay bậc Hiền trí cũng đều giống như nhau, cũng là căn và trần tiếp xúc mà sanh ra cảm thọ khổ hay vui, nhưng khác nhau ở chỗ, khi chúng ta thấy cảnh đẹp, món đồ đẹp, con người đẹp thì vui; thấy hôi thúi, bẩn thỉu thì khó chịu, được cho đồ ăn, cho thuốc nhưng đã hết hạn sử dụng thì buồn. Như vậy căn, trần tiếp xúc, thấy, nghe, ngửi, nếm, đụng chạm hoặc ý nhận thức các pháp, những hình bóng, suy nghĩ, cảm giác ở trong tâm thì sẽ sanh ra vui hoặc buồn. Khi nhớ đến người quan tâm, giúp đỡ, làm mình vui sướng thì lúc đó mình sẽ vui; ngược lại nếu nhớ lại người hại mình, chửi mắng, hành hạ, lợi dụng, bóc lột làm mình đau khổ thì lúc đó sẽ buồn. Đó gọi là xúc, sáu xúc xứ.
Đặc biệt trong mùa dịch bệnh này chúng ta sẽ thấy “ý xúc” là nhiều nhất trong sáu xúc. Như đã biết, sáu xúc xứ bao gồm nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc và ý xúc. Sáu thọ thân là thọ do nhãn xúc sanh, thọ do nhĩ xúc sanh, thọ do tỷ xúc sanh, thọ do thiệt xúc sanh, thọ do thân xúc sanh, thọ do ý xúc sanh. Sáu thọ đó là do sáu căn tiếp xúc với sáu trần sanh ra, khổ hay vui là sáu cảm giác đó. Cho nên, người Hiền trí hay kẻ ngu mê cũng đều có sáu căn tiếp xúc sáu trần rồi sanh khởi ra cảm thọ giống y như nhau.
“Này các Tỷ-kheo, bị vô minh che đậy và bị tham ái hệ phược, thân này của người ngu được sanh khởi. Vô minh ấy, người ngu không đoạn tận. Tham ái ấy, người ngu không tận trừ”. Không đoạn tận tức là không dứt hết, sự không hiểu biết, sự tăm tối đó người ngu không dứt hết, mà khi muốn dứt cũng không biết cách để dứt ra, nếu không gặp bậc chân nhân Chánh kiến, không gặp Chánh Pháp thì không thể nào dứt được vô minh, không biết ngũ uẩn, không nhìn thấy tham, sân, si, bản ngã, dục ái, lậu hoặc ở trong ngũ uẩn thì không thể nào tẩy sạch, đoạn trừ, diệt tận được hết. Cho nên, “Vô minh ấy, người ngu không đoạn tận. Tham ái ấy, người ngu không tận trừ”.
Sự khác biệt ở đây là người tu, người trí huệ là người đoạn tận vô minh, tận trừ khát ái; người ngu là người không đoạn vô minh, không trừ khát ái, chúng ta hãy xem lại mình đã xứng danh bậc Hiền trí chưa? Mình có tu để đoạn vô minh, trừ khát ái không? Mỗi giờ, mỗi ngày, mỗi tháng, mỗi quý, mỗi năm vô minh này có bị phá chưa? Có bị phá nhiều hay không? Tham ái có giảm nhiều chưa hay là ở một chỗ hoặc còn tăng trưởng lên thêm? Nếu không biết vô minh là gì làm sao phá được vô minh; nếu không biết tham ái ở đâu, hoạt động như thế nào, tham ái đối với cái gì thì làm sao chế ngự, nhiếp phục, đoạn tận, diệt trừ, tẩy sạch được.
Chân chánh đoạn trừ khổ đau
“Vì sao? Này các Tỷ-kheo, người ngu sống Phạm hạnh không phải vì chơn chánh đoạn trừ khổ đau”. Mình có muốn hết khổ không? Có muốn thân đời sau để tiếp tục hưởng thụ, có muốn đi tu để đời sau có phước hơn bây giờ không? Nếu mang suy nghĩ như vậy, thì đó chính là người ngu trong kinh của Đức Phật. ”Do vậy người ngu, khi thân hoại mạng chung, đi đến một thân khác”. Nếu đi tu chỉ muốn đời sau sanh chỗ sung sướng để hưởng thụ thì đó chính là kẻ ngu. Đối với ngũ uẩn, Đức Phật gọi là khổ pháp; sắc, thọ, tưởng, hành, thức còn được gọi là đại khổ uẩn, tức là đống khổ lớn. Mà người ngu họ không muốn chấm dứt, họ yêu thích sắc thân, hài lòng , quý trọng, đam mê, say đắm với thân thể của họ.
“ Ai còn say đắm nhìn thân xác,
Ngạ quỷ, súc sanh sẽ còn hoài.
Ai còn yêu thích nhìn thân xác,
Tự sát hại mình trong tử sanh.”
Khi còn yêu thích cái sắc đồng nghĩa còn yêu thích cái khổ, vì sắc này bản chất của nó là vô thường, biến hoại, bất an, bệnh tật, khổ đau, lo lắng, sợ hãi nên yêu thích sắc này thì là kẻ ngu. Thọ cũng là vô thường, luôn luôn biến động mà lại khoan khoái, thích thú, chấp giữ, cho rằng đó là mình. Những cái tưởng này luôn sanh rồi diệt, bao nhiêu những cái hành này đổi thay như vậy nhưng kẻ ngu tu hành để đem hết tất cả công sức, dốc sức, hết lòng để tu nhưng họ không diệt tận cái khổ, họ yêu thích ngũ uẩn nên đời sau tiếp tục sanh ra thân khác, bất cứ là thân gì đều ở trong luân hồi, trong sáu nẻo lục đạo, đều ở trong khổ pháp. Vì vậy người ngu tu mà không chân chánh diệt tận được khổ đau là do còn tiếp tục ngũ uẩn, vì còn ngũ uẩn là còn đau khổ.
Chúng ta thấy rằng điều này vô cùng thâm sâu, không dễ để hiểu hết được nếu không tinh cần, nỗ lực tu học. Bất cứ người nào còn yêu thích sắc, thọ, tưởng, hành, thức thì người đó còn ở trong địa vị của người ngu. “Và này các Tỷ-kheo, bị vô minh che đậy, bị tham ái hệ phược, thân người Hiền trí được sanh khởi. Vô minh ấy, người Hiền trí đoạn tận. Tham ái ấy, người Hiền trí tận trừ”. Qua đó, ta thấy được người Hiền trí này dồn hết tâm lực, trí lực, sức lực tu hành để phá vô minh và tham ái đối với ngũ uẩn, để thấy được tính chất vô thường, đau khổ, bất an, lo lắng, sợ hãi, tan hoại, trống rỗng, vô ngã của ngũ uẩn. “Người Hiền trí sống Phạm hạnh, vì chơn chánh đoạn trừ khổ đau”, người này thật sự muốn đoạn trừ khổ đau cũng có nghĩa là chấm dứt sự không thấy, không biết về ngũ uẩn, ta hiểu, người này muốn chấm dứt ngũ uẩn. “Do vậy, người Hiền trí, khi thân hoại mạng chung, không đi đến một thân khác”, không tiếp tục tái sanh, không tiếp tục thọ sanh, không tiếp tục đi vào bào thai, không tiếp tục ở trong luân hồi nữa, đó là người trí.
“Do không đi đến một thân khác, vị ấy giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não”. Vì không đi đến thân khác nên không đối mặt với sanh, già, bệnh, chết, không còn lo lắng, bất an, sợ hãi nữa. Cho nên “Ta nói rằng: " Vị ấy thoát khỏi đau khổ ".
Qua bài kinh “Bậc hiền so sánh với kẻ ngu” chúng ta đã có được cái nhìn thâm sâu hơn, nghe được những điều chưa từng nghe, hiểu được những điều chưa từng hiểu, đó là Thánh trí tuệ của Đức Phật, giáo pháp nguyên chất của Đức Thế Tôn. Chúng ta hiểu được tu chỉ để đời sau sanh ra hưởng sung sướng hơn đời này, đó là cái tu của người ngu. Ngược lại, tu để thấy được tính chất đau khổ, vô thường, vô ngã, bất an, tan hoại của ngũ uẩn này để nhàm chán xuất ly, thoát ra khỏi nó thì sự tu đó là của bậc đại trí, bậc Hiền trí, bậc Thượng Nhân. Đây là những trí tuệ thâm sâu cần phải được huân tập, chiêm nghiệm và quán chiếu thường xuyên.
Ví như bỗng nhiên có người tặng mình một chiếc xe đời mới rất mắc tiền, hoặc một viên kim cương rất lớn, ngoài cảm giác sung sướng ra song song đó là sự lo sợ, bất an sẽ bị mất, bị cướp giật. Khi nắm giữ cái gì thì sẽ khổ cái đó, mọi hiện hữu đều nằm trong đau khổ, bất an. Đây là giáo pháp vô cùng thâm sâu và vi diệu của Đức Thế Tôn, cho đến khi nào mà thấy được sự nguy hiểm ở trong ngũ uẩn và mình muốn từ bỏ, nhàm chán, muốn thoát ra một cách hoàn toàn thì lúc đó mình là bậc Hiền trí được nhắc đến trong Phật Giáo.
VÔ MINH 6 – KHÁC BIỆT GIỮA NGU VÀ TRÍ
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Bài kinh “Bậc hiền so sánh với kẻ ngu” PAGEREF _Toc101428924 \h 1
II.Sự khác biệt giữa người trí so với kẻ ngu PAGEREF _Toc101428925 \h 3
1.Đoạn tận vô minh, khát ái PAGEREF _Toc101428926 \h 3
2.Chân chánh đoạn trừ khổ đau PAGEREF _Toc101428927 \h 7
Bài kinh “Bậc hiền so sánh với kẻ ngu”
Trong sự tu học này, chúng ta phải nhận diện được những cảm thọ bức xúc, bực bội, nóng giận, thúc giục, ham thích, ta đây, bản ngã, hơn thua trong sinh hoạt thường nhật hàng ngày. Khi sanh khởi lên cảm giác nóng giận, lúc đó ngũ uẩn vận hành thế nào? Khi sanh khởi lên cảm giác tham muốn, thúc giục, lúc đó nội tâm ra sao? Khi nói năng, giao tiếp, thù tạc mà sanh khởi lên cái tôi, cái ta, lúc đó trong suy nghĩ, cảm giác diễn ra như thế nào, vận hành ra sao, trong tâm là hình bóng gì? Đó là điều hết sức quan trọng mà chúng ta cần để tâm trong khi tu học.
Câu pháp hành, cũng như bài tập và bài thi mà chúng ta luôn phải ôn nhắc, nhắc nhở mỗi ngày là: Tham, sân, si, bản ngã sanh khởi, an trú trong tâm, lúc đó ngũ uẩn như thế nào? Dục, ái, tham, sân hận, bản ngã khởi lên; lúc đó ngũ uẩn như thế nào? Luôn luôn phải tập theo dõi, quản lí, dòm ngó, dò xét, chiếu soi, quán xét, quán sát, tư sát những cảm giác, nghĩ, tưởng trong tâm.
Trong kinh Nikāya, pháp hành có từ sức mạnh của tư sát và sức mạnh của tu tập, “sát” là quán sát, “tư” là tư duy. Cho nên, người tu phải có sức mạnh của sự quán sát và tư duy, đó là Chánh Tư Duy/Thánh Tư Duy.
Trong Chánh Tư Duy gồm ba loại cơ bản:
Ly dục tư duy: suy nghĩ để rời sự ham muốn.
Ly sân tư duy: suy nghĩ để rời sự nóng giận.
Bất hại tư duy: suy nghĩ để rời sự muốn hại người khác.
Đây gọi là Chánh Tư Duy, còn gọi lại suy nghĩ đúng, suy nghĩ chân chánh.
Trong bài kinh “Bậc hiền so sánh với kẻ ngu”, kinh Tương Ưng Bộ – tập II, Đức Phật so sánh rõ bậc Hiền trí trong giáo pháp và kẻ ngu si, phàm phu ngoài đời để chúng ta biết được và so sánh xem mình đang ở vị trí nào:
Đức Thế Tôn trú tại Sàvatthi.
Đối với kẻ ngu, này các Tỷ-kheo, bị vô minh che đậy, bị tham ái hệ phược, thân này được khởi lên như sau: Chỉ có thân này và danh sắc ở ngoài. Như vậy là
bộ hai này. Duyên bộ hai này có xúc, có sáu xứ. Do cảm xúc bởi chúng, hoặc một trong hai, người ngu cảm thọ lạc khổ.
Đối với bậc Hiền, này các Tỷ-kheo, bị vô minh che đậy, bị tham ái hệ phược, thân này được khởi lên như sau: Chỉ có thân này và danh sắc ở ngoài. Như vậy là bộ hai này. Duyên bộ hai này có xúc, có sáu xứ. Do cảm xúc bởi chúng, hoặc một trong hai, người Hiền cảm thọ lạc khổ.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có gì phân biệt, có gì sai khác, có gì dị biệt giữa bậc Hiền và kẻ ngu?
Bạch Thế Tôn, đối với chúng con, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản, lấy Thế Tôn làm lãnh đạo, lấy Thế Tôn làm chỗ y chỉ. Bạch Thế Tôn, lành thay, nếu Thế Tôn nói lên cho chúng con ý nghĩa lời nói này. Sau khi nghe Thế Tôn giảng, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì.
Vậy này các Tỷ-kheo, hãy nghe và khéo suy nghiệm, Ta sẽ nói.
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
Thế Tôn nói như sau:
- Này các Tỷ-kheo, bị vô minh che đậy và bị tham ái hệ phược, thân này của người ngu được sanh khởi. Vô minh ấy, người ngu không đoạn tận. Tham ái ấy, người ngu không tận trừ. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, người ngu sống Phạm hạnh không phải vì chơn chánh đoạn trừ khổ đau. Do vậy người ngu, khi thân hoại mạng chung, đi đến một thân khác. Do đi đến một thân khác, người ấy không giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng: " Người ấy không thoát khỏi đau khổ ".
Và này các Tỷ-kheo, bị vô minh che đậy, bị tham ái hệ phược, thân người Hiền trí được sanh khởi. Vô minh ấy, người Hiền trí đoạn tận. Tham ái ấy, người Hiền trí tận trừ. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, người Hiền trí sống Phạm hạnh, vì chơn chánh đoạn trừ khổ đau. Do vậy, người Hiền trí, khi thân hoại mạng chung, không đi đến một thân khác. Do không đi đến một thân khác, vị ấy giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng: " Vị ấy thoát khỏi đau khổ ".
Này các Tỷ-kheo, đây là sự phân biệt, đây là sự sai khác, đây là sự dị biệt giữa bậc Hiền trí và người ngu.
(Kinh Tương Ưng Bộ - Tập II Thiên Nhân Duyên, chương I Tương Ưng Nhân Duyên, phẩm Đồ Ăn, kinh Bậc hiền so sánh với kẻ ngu).
Sự khác biệt giữa người trí so với kẻ ngu
Thông qua bài kinh trên, chúng ta cùng tìm hiểu và phân tích lời của Đức Thế Tôn đã so sánh kẻ phàm phu ngu si và bậc Hiền trí, Đa văn Thánh đệ tử. Hiểu theo cách đơn giản là Đức Phật so sánh giữa người biết tu và kẻ không biết tu khác nhau ở chỗ nào.
Đoạn tận vô minh, khát ái
“Đối với kẻ ngu, này các Tỷ-kheo, bị vô minh che đậy, bị tham ái hệ phược”. “Hệ phược” có nghĩa là trói cột. Vô minh và tham ái là nguyên nhân của sinh tử luân hồi, nguồn cội của tất cả khổ đau. Khi tất cả các pháp đều quy tụ về ngũ uẩn, thì vô minh là không sáng suốt, không thấy, không biết ngũ uẩn chỉ là ngũ uẩn, mà cho rằng đó là tôi, là tự ngã của tôi.
Mỗi ngày khi nhìn lại vào thân tâm, chúng ta thấy được ngũ uẩn bao nhiêu phút, bao nhiêu giờ. Hay chỉ nhìn thấy cái tôi, cái ta, cái tự ngã? Nếu không nhớ mỗi ngày thấy được ngũ uẩn bao nhiêu phút, bao nhiêu lần thì đó là “bị vô minh che đậy” suốt ngày đêm, suốt đời, suốt kiếp, suốt vô lượng vô biên kiếp. Trong suy nghĩ lúc nào cũng tôi, tôi hơn, tôi bằng, tôi thua, tôi đẹp, tôi vừa, tôi xấu,... suy nghĩ đó là suy nghĩ vô minh.
Ngược lại với suy nghĩ vô minh, là suy nghĩ “minh”. Người có suy nghĩ trí, “minh” sẽ biết được thân này chỉ là sắc uẩn, tứ đại tạo thành, bên trong là những cảm giác buồn vui, hình bóng của tưởng, suy nghĩ của hành, nhận biết của thức, chỉ là một tổ hợp tạo nên ngũ uẩn, chỉ là tứ đại, chỉ là duyên sanh, vô thường, khốn khổ, vô ngã, trống rỗng. Mỗi ngày nghĩ đến điều này bao nhiêu lần thì lúc đó chúng ta đã có được “minh” bấy nhiêu, thoát ra được vô minh.
Cho nên trong sự tu của chúng ta phải thực tập nhận diện ngũ uẩn, vì lúc nhận diện ngũ uẩn đồng nghĩa với việc đang phá bỏ sự vô minh. Khi ấy không còn thấy cái ngã, cái tôi nữa mà thay vào đó sẽ thấy tổ hợp của sắc chất, cảm giác, hình bóng trong tâm, suy tư nghĩ ngợi của hành uẩn và sự nhận biết. Đó là định nghĩa căn bản về vô minh.
Còn đối với tham ái, “ái” là yêu, “tham” là muốn thêm, tham ái là ham thích, ưa thích, ham muốn đối với ngũ uẩn. Yêu thích những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ trong tâm; yêu thích sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Khi đi sâu vào chúng ta sẽ thấy càng thâm sâu hơn, không chỉ đơn giản là tham chiếc xe, thích người kia, hay thích ngôi chùa,...Trí tuệ như vậy là không hề đủ mà phải bao trùm hết ngũ uẩn.
Vì thế, chỉ có Thánh trí ngũ uẩn mới có thể soi hết những ngóc ngách, khía cạnh, phương diện ở bên trong, bên ngoài các pháp, bao gồm cả thế giới, cả vũ trụ này. Đôi khi nghĩ rằng mình thích người kia, nhưng chưa chắc, bởi vì người đó mang lại cảm giác ấm áp, ngọt ngào cho mình nên nghĩ là mình thương người đó, nhưng thực chất mình đang tham thích uẩn “thọ”. Hoặc khi nghĩ rằng mình thương hay ghét người đó, nhưng chưa chắc, thích hình bóng trong tâm, đó là thích “tưởng”, khi người đó đã ra đi rồi mà vẫn khổ đau, nhớ thương, tiếc nuối; chẳng hạn đi tu là đã “cắt ái ly da”, từ giã, từ bỏ cha mẹ rồi nhưng trong tâm hình ảnh, hình bóng cha mẹ vẫn không thoát ra được. Đó là sự sâu sắc mà nếu không tu học nhận diện ngũ uẩn sẽ không thể nào nhận ra được.
Đối với yêu và hận cũng vậy, “tưởng” ám ảnh, chập chờn, ẩn ẩn hiện hiện, lờ lờ mờ mờ trong tâm, nhưng lại thích, muốn, thương hình bóng này; hoặc giận, sân, ghét hình bóng này, cứ nghĩ tới, càng nghĩ thì càng tức mà càng tức lại càng nghĩ đến, làm cho tâm càng bực bội, nực nội, nóng rực, thiêu đốt, đốt cháy mà vẫn tiếp tục nghĩ đến điên dại, ám ảnh không thoát ra được. Vì vậy, trong Tương Ưng Uẩn Đức Thế Tôn đã nói: “Chúng sanh bị sắc ám ảnh, bị thọ ám ảnh, bị tưởng ám ảnh, bị hành ám ảnh, bị thức ám ảnh”.
Đây không phải là những câu nói đơn giản mà phải thiền quán, thiền định mới thấy được sự thâm sâu khủng khiếp trong đó. Đức Thế Tôn có nói “bị sắc áp đảo”, tức là bị xô ngã, “thọ áp đảo, tưởng áp đảo, hành áp đảo, thức áp đảo”,bị những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ, nhận thức xô ngã. Vì yêu thích ngũ uẩn này.Ví dụ như mình rất yêu thích suy nghĩ trong tâm, nghĩ một tuần, nửa tháng với mong muốn khi trình bày ra sẽ được khen ngợi, nhưng sau đó bị chê không hay, trật lất thì giận, sân, tự ái bắt đầu khởi lên. Đối với yêu thích “sắc”, tức là thân thể tứ đại và cảnh vật, đồ vật thì dễ nhận biết; nhưng riêng đối với thọ, tưởng, hành, thức nếu không học kinh Nikāya sẽ không biết, rất khó nhận ra được sự vận hành của bốn uẩn này. Như vậy, yêu thích đối với cái thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm, nhận thức nơi sáu căn và trong tâm là do vô minh nên không biết ngũ uẩn đó là vô thường, khổ và duyên sanh. Cứ tưởng rằng sẽ mãi như vậy, không thay đổi.
Thấy người đó luôn mang lại cho mình cảm giác ấm áp, ngọt ngào mà nghĩ rằng lúc nào cũng sẽ như vậy, nhưng không ngờ sau đó lại đắng, làm cho mình khổ, rồi oán trách “lúc này tôi mới biết bản mặt thật của ông”, lúc ấy đã quá muộn. Chúng ta cứ mãi đắm chìm mà không biết đó là sự biến đổi vô thường, duyên sanh, phản phúc, phản trắc, đổi thay, lật lọng, phản bội. Nên sau đó từ cảm thọ ban đầu là yêu biến thành hận, từ thương biến thành ghét, từ thân trở mặt thành thù. Đó là giải thích tổng quát, sơ lược về hai chữ vô minh và tham ái. Không đơn giản chỉ đọc vào là hiểu, mà trong sự tu của chúng ta phải thực hành, quán sát mới có thể lĩnh ngộ hết sự sâu sắc này.
“Này các Tỷ-kheo, bị vô minh che đậy”, tức là không thấy được năm uẩn. Vì không thấy, không biết năm uẩn là vô thường, khổ đau, trống rỗng, vô ngã nên kẻ ngu ham thích, yêu thích, ưa thích, đam mê, say đắm, ham muốn, thèm khát, tưởng mơ, ước ao, hi vọng, đợi chờ, thèm thuồng, khát khao đối với năm thủ uẩn này. Bị cảm giác thiếu thốn trói cột nên lúc nào cũng cảm thấy chưa đủ, luôn muốn thêm và không bao giờ cảm thấy đủ. Nên chữ “khổ” trong tiếng Pali là bất toại nguyện, không vừa lòng, không hài lòng, không thỏa lòng, chưa bằng lòng mà cứ muốn thêm. Tham như vậy tức là “bị vô minh che đậy, bị tham ái hệ phược, thân này được khởi lên”, hiểu đơn giản là căn với trần tạo nên sự tiếp xúc, gọi là sáu xứ, khi mắt nhìn thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị ngon, thân tiếp xúc đụng chạm, ý thức biết được thọ, tưởng, hành khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần thì cảm thọ khổ hoặc vui sẽ xuất hiện.
Người ngu hay bậc Hiền trí cũng đều giống như nhau, cũng là căn và trần tiếp xúc mà sanh ra cảm thọ khổ hay vui, nhưng khác nhau ở chỗ, khi chúng ta thấy cảnh đẹp, món đồ đẹp, con người đẹp thì vui; thấy hôi thúi, bẩn thỉu thì khó chịu, được cho đồ ăn, cho thuốc nhưng đã hết hạn sử dụng thì buồn. Như vậy căn, trần tiếp xúc, thấy, nghe, ngửi, nếm, đụng chạm hoặc ý nhận thức các pháp, những hình bóng, suy nghĩ, cảm giác ở trong tâm thì sẽ sanh ra vui hoặc buồn. Khi nhớ đến người quan tâm, giúp đỡ, làm mình vui sướng thì lúc đó mình sẽ vui; ngược lại nếu nhớ lại người hại mình, chửi mắng, hành hạ, lợi dụng, bóc lột làm mình đau khổ thì lúc đó sẽ buồn. Đó gọi là xúc, sáu xúc xứ.
Đặc biệt trong mùa dịch bệnh này chúng ta sẽ thấy “ý xúc” là nhiều nhất trong sáu xúc. Như đã biết, sáu xúc xứ bao gồm nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc và ý xúc. Sáu thọ thân là thọ do nhãn xúc sanh, thọ do nhĩ xúc sanh, thọ do tỷ xúc sanh, thọ do thiệt xúc sanh, thọ do thân xúc sanh, thọ do ý xúc sanh. Sáu thọ đó là do sáu căn tiếp xúc với sáu trần sanh ra, khổ hay vui là sáu cảm giác đó. Cho nên, người Hiền trí hay kẻ ngu mê cũng đều có sáu căn tiếp xúc sáu trần rồi sanh khởi ra cảm thọ giống y như nhau.
“Này các Tỷ-kheo, bị vô minh che đậy và bị tham ái hệ phược, thân này của người ngu được sanh khởi. Vô minh ấy, người ngu không đoạn tận. Tham ái ấy, người ngu không tận trừ”. Không đoạn tận tức là không dứt hết, sự không hiểu biết, sự tăm tối đó người ngu không dứt hết, mà khi muốn dứt cũng không biết cách để dứt ra, nếu không gặp bậc chân nhân Chánh kiến, không gặp Chánh Pháp thì không thể nào dứt được vô minh, không biết ngũ uẩn, không nhìn thấy tham, sân, si, bản ngã, dục ái, lậu hoặc ở trong ngũ uẩn thì không thể nào tẩy sạch, đoạn trừ, diệt tận được hết. Cho nên, “Vô minh ấy, người ngu không đoạn tận. Tham ái ấy, người ngu không tận trừ”.
Sự khác biệt ở đây là người tu, người trí huệ là người đoạn tận vô minh, tận trừ khát ái; người ngu là người không đoạn vô minh, không trừ khát ái, chúng ta hãy xem lại mình đã xứng danh bậc Hiền trí chưa? Mình có tu để đoạn vô minh, trừ khát ái không? Mỗi giờ, mỗi ngày, mỗi tháng, mỗi quý, mỗi năm vô minh này có bị phá chưa? Có bị phá nhiều hay không? Tham ái có giảm nhiều chưa hay là ở một chỗ hoặc còn tăng trưởng lên thêm? Nếu không biết vô minh là gì làm sao phá được vô minh; nếu không biết tham ái ở đâu, hoạt động như thế nào, tham ái đối với cái gì thì làm sao chế ngự, nhiếp phục, đoạn tận, diệt trừ, tẩy sạch được.
Chân chánh đoạn trừ khổ đau
“Vì sao? Này các Tỷ-kheo, người ngu sống Phạm hạnh không phải vì chơn chánh đoạn trừ khổ đau”. Mình có muốn hết khổ không? Có muốn thân đời sau để tiếp tục hưởng thụ, có muốn đi tu để đời sau có phước hơn bây giờ không? Nếu mang suy nghĩ như vậy, thì đó chính là người ngu trong kinh của Đức Phật. ”Do vậy người ngu, khi thân hoại mạng chung, đi đến một thân khác”. Nếu đi tu chỉ muốn đời sau sanh chỗ sung sướng để hưởng thụ thì đó chính là kẻ ngu. Đối với ngũ uẩn, Đức Phật gọi là khổ pháp; sắc, thọ, tưởng, hành, thức còn được gọi là đại khổ uẩn, tức là đống khổ lớn. Mà người ngu họ không muốn chấm dứt, họ yêu thích sắc thân, hài lòng , quý trọng, đam mê, say đắm với thân thể của họ.
“ Ai còn say đắm nhìn thân xác,
Ngạ quỷ, súc sanh sẽ còn hoài.
Ai còn yêu thích nhìn thân xác,
Tự sát hại mình trong tử sanh.”
Khi còn yêu thích cái sắc đồng nghĩa còn yêu thích cái khổ, vì sắc này bản chất của nó là vô thường, biến hoại, bất an, bệnh tật, khổ đau, lo lắng, sợ hãi nên yêu thích sắc này thì là kẻ ngu. Thọ cũng là vô thường, luôn luôn biến động mà lại khoan khoái, thích thú, chấp giữ, cho rằng đó là mình. Những cái tưởng này luôn sanh rồi diệt, bao nhiêu những cái hành này đổi thay như vậy nhưng kẻ ngu tu hành để đem hết tất cả công sức, dốc sức, hết lòng để tu nhưng họ không diệt tận cái khổ, họ yêu thích ngũ uẩn nên đời sau tiếp tục sanh ra thân khác, bất cứ là thân gì đều ở trong luân hồi, trong sáu nẻo lục đạo, đều ở trong khổ pháp. Vì vậy người ngu tu mà không chân chánh diệt tận được khổ đau là do còn tiếp tục ngũ uẩn, vì còn ngũ uẩn là còn đau khổ.
Chúng ta thấy rằng điều này vô cùng thâm sâu, không dễ để hiểu hết được nếu không tinh cần, nỗ lực tu học. Bất cứ người nào còn yêu thích sắc, thọ, tưởng, hành, thức thì người đó còn ở trong địa vị của người ngu. “Và này các Tỷ-kheo, bị vô minh che đậy, bị tham ái hệ phược, thân người Hiền trí được sanh khởi. Vô minh ấy, người Hiền trí đoạn tận. Tham ái ấy, người Hiền trí tận trừ”. Qua đó, ta thấy được người Hiền trí này dồn hết tâm lực, trí lực, sức lực tu hành để phá vô minh và tham ái đối với ngũ uẩn, để thấy được tính chất vô thường, đau khổ, bất an, lo lắng, sợ hãi, tan hoại, trống rỗng, vô ngã của ngũ uẩn. “Người Hiền trí sống Phạm hạnh, vì chơn chánh đoạn trừ khổ đau”, người này thật sự muốn đoạn trừ khổ đau cũng có nghĩa là chấm dứt sự không thấy, không biết về ngũ uẩn, ta hiểu, người này muốn chấm dứt ngũ uẩn. “Do vậy, người Hiền trí, khi thân hoại mạng chung, không đi đến một thân khác”, không tiếp tục tái sanh, không tiếp tục thọ sanh, không tiếp tục đi vào bào thai, không tiếp tục ở trong luân hồi nữa, đó là người trí.
“Do không đi đến một thân khác, vị ấy giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não”. Vì không đi đến thân khác nên không đối mặt với sanh, già, bệnh, chết, không còn lo lắng, bất an, sợ hãi nữa. Cho nên “Ta nói rằng: " Vị ấy thoát khỏi đau khổ ".
Qua bài kinh “Bậc hiền so sánh với kẻ ngu” chúng ta đã có được cái nhìn thâm sâu hơn, nghe được những điều chưa từng nghe, hiểu được những điều chưa từng hiểu, đó là Thánh trí tuệ của Đức Phật, giáo pháp nguyên chất của Đức Thế Tôn. Chúng ta hiểu được tu chỉ để đời sau sanh ra hưởng sung sướng hơn đời này, đó là cái tu của người ngu. Ngược lại, tu để thấy được tính chất đau khổ, vô thường, vô ngã, bất an, tan hoại của ngũ uẩn này để nhàm chán xuất ly, thoát ra khỏi nó thì sự tu đó là của bậc đại trí, bậc Hiền trí, bậc Thượng Nhân. Đây là những trí tuệ thâm sâu cần phải được huân tập, chiêm nghiệm và quán chiếu thường xuyên.
Ví như bỗng nhiên có người tặng mình một chiếc xe đời mới rất mắc tiền, hoặc một viên kim cương rất lớn, ngoài cảm giác sung sướng ra song song đó là sự lo sợ, bất an sẽ bị mất, bị cướp giật. Khi nắm giữ cái gì thì sẽ khổ cái đó, mọi hiện hữu đều nằm trong đau khổ, bất an. Đây là giáo pháp vô cùng thâm sâu và vi diệu của Đức Thế Tôn, cho đến khi nào mà thấy được sự nguy hiểm ở trong ngũ uẩn và mình muốn từ bỏ, nhàm chán, muốn thoát ra một cách hoàn toàn thì lúc đó mình là bậc Hiền trí được nhắc đến trong Phật Giáo.