Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Nhà Cháy - Lấy Đồ Ra 2

2026-03-03 00:55:07
KINH NIKĀYA GIẢNG GIẢI

NHÀ CHÁY! LẤY ĐỒ RA! 2

–Thích Minh Thành–

Kính lễ ân đức Thế Tôn.

Kính lễ ân đức chánh pháp.

Kính lễ ân đức Thánh Tăng.

Kính lễ ân đức bậc đạo sư.

Kính lễ ân đức Thánh giới.

Kính bạch chư Tăng Ni và tất cả quý Phật tử. Hôm nay chúng ta nghe tiếp chư thiên trình pháp với Đức Thế Tôn.

"Lành thay sự bố thí,

Phát xuất từ lòng tin!

Lành thay sự bố thí,

Với tài sản hợp pháp!

Ai là người bố thí,

Với tàn sản hợp pháp,

Do nỗ lực tinh tấn,

Nhờ vậy thâu hoạch được;

Vị ấy vượt dòng suối,

Thần chết Dạ-ma giới,

Sau khi chết được sanh,

Chỗ trú xứ chư Thiên". (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương I. Tương Ưng Chư Thiên, IV. Phẩm Quần Tiên, III. Lành Thay)

Một chư thiên nói lên lời cảm hứng: Tốt đẹp thay là sự san sẻ, sớt chia, đem cho với bàn tay rộng mở, tâm không bị cấu nhiễm bởi keo kiệt, bùn xỉn, hà tiện, ngược lại lòng hân hoan, hoan hỉ, vui thích trong sự đem cho với tâm sẵn sàng chia sẻ với những sự mong đợi của những người khác, xuất phát từ lòng tin Phật, tin pháp, tin Tăng, tin giới, tin nhân quả, tin rằng đem niềm vui cho người mình sẽ có được niềm vui, tin rằng mình san sẻ cho người là san sẻ tình thương, tin rằng ban phát tình thương cho người là mình ban phát hạnh phúc. Hạnh phúc đến từ nơi người trao tặng, không phải ở nơi kẻ không biết cho, sự bố thí tốt lành là sự bố thí từ tài sản hợp pháp, do chính sự nỗ lực, siêng năng, tinh tấn mà họ có được tài sản đó thì đây cũng là cả một sự hành trì chánh hạnh và chánh nghiệp trong Bát Chánh Đạo, có năm nghề mà Đức Phật ngăn cấm cư sĩ làm.

 "- Có năm nghề buôn bán này, này các Tỳ-kheo, một nam cư sĩ không nên làm. Thế nào là năm?

Buôn bán đao kiếm,

Buôn bán người,

Buôn bán thịt,

Buôn bán rượu,

Buôn bán thuốc độc.

Có năm nghề buôn bán này, này các Tỳ-kheo, một nam cư sĩ không nên làm". (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, XVIII. Phẩm Nam Cư Sĩ, (VII) Người Buôn Bán)

Đó là năm nghề tà mạng, nuôi sống không chân chánh, làm năm nghề đó sẽ rơi vào đời sống bất chánh của người cư sĩ. Buôn bán vũ khí thì người mua vũ khí sẽ dùng nó làm hại người khác, đó là mình gián tiếp làm ác bất thiện pháp, báo chí vừa mới đưa tin đứa bé nghịch cây súng nạp đạn sẵn, vô tình làm chết mẹ nó tại chỗ vì thế bên Mỹ đang tranh cãi có nên cho bán vũ khí hay không, cất chứa vũ khí như thế nào, thành phần nào, trong tâm chúng sanh có sân hận thường xuyên và rất nhiều mà lại có sẵn phương tiện thực hiện tâm sân hận đồng nghĩa đang tiếp tay cho thảm hoạ, khổ đau. Cho nên Đức Phật vì tâm đại bi, thương mến hàng đệ tử, các vị cư sĩ nên ngài ngăn cấm bán vũ khí, từ dao mác, súng ống, đạn dược.. tất cả những thứ có thể làm chết người. Nhiều người nói rằng con dao không có lỗi, cây súng không có lỗi mà do người sử dụng, bác sĩ dùng dao cứu người còn ăn cướp dùng dao giết người nhưng đối với súng đạn thường đi theo chiều gây ra đau khổ, tội lỗi, sát sanh, giết hại, chính vì vậy nghề đầu tiên Đức Phật dạy là không được bán vũ khí. Buôn bán thuốc độc cũng như bán vũ khí, đó là hại người, giết người. Tiếp theo là bán người, điều này pháp luật cũng đã quy định là việc làm phạm pháp, nhất là những cô gái đôi mươi hay trẻ nhỏ bị lừa gạt bán ra nước ngoài rất nhiều. Người ta cắt, giết, mổ, thọc huyết, xẻ thịt rồi bán lại cho mình, mình đi bán lại cho người mua, mình giết hại chúng sanh để lấy đồng tiền sinh sống, sống trong sự đau khổ, sát hại trên những tiếng kêu gào thảm thiết, những nổi thống khổ của chúng sanh. Ngày xưa chỉ có rượu nhưng bây giờ có rất nhiều thứ gây nghiện ngập, từ thuốc lắc, bóng cười đến cỏ Mỹ… những thứ đó làm con người say sưa, điên đảo, mất hết sự nhận thức, sáng suốt, không biết đúng sai, phải quấy, mình bán những thứ đó làm cho người ta điên đảo, ngu mê, khổ đau vì thế đối với người cư sĩ phải từ bỏ năm nghề này, như vậy đồng tiền kiếm ra mới hợp pháp. Mình làm nghề chân chánh, không nuôi sống bằng nghề tội lỗi rồi đem đồng tiền chân chánh đó cúng dường thì chư thiên nói rằng như vậy là được thâu hoạch. Tại sao lại vậy? Vì tài sản hợp pháp là do sự nỗ lực, cố gắng, siêng năng mà họ thu hoạch được kết quả tốt trong việc làm, rồi họ đem công lao chân chánh đó đi bố thí như vậy thì "Vị ấy vượt dòng suối,Thần chết Dạ-ma giới", sau khi chết được sanh vào trú xứ của chưa thiên, họ vượt qua được dòng suối của những đường ác. Với một nghề nghiệp chân chánh, đời sống chân chánh không tà mạng, với lòng tin tam bảo, bố thí, cúng dường, san sẻ, sớt chia, làm điều lành việc thiện thì khi mạng chung họ sẽ vượt qua dòng suối của thần chết, vượt qua các đường khổ đau.

"Này các Tỳ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Cái gì nhiều hơn, chút đất này Ta lấy trên đầu móng tay, hay quả đất lớn này?

Cái này, bạch Thế Tôn, là nhiều hơn, tức là quả đất lớn này và ít hơn là chút đất mà Thế Tôn lấy trên đầu móng tay. Không thể đi đến ước tính, không thể đi đến so sánh, không thể đi đến một vi phần, khi so sánh quả đất lớn với chút đất mà Thế Tôn lấy trên đầu móng tay.

-- Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, rất ít là chúng sanh được tái sanh làm người! Còn rất nhiều là những chúng sanh phải tái sanh ra ngoài loài Người!

Do vậy, này các Tỳ-kheo, các Ông cần phải học tập như sau: "Chúng tôi sẽ sống không phóng dật". (Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương IX. Tương Ưng Thí Dụ, II. Đầu Ngón Tay)

Người sau khi chết được sanh lên làm người ít như đất trong móng tay, và ít cũng giống như mấy hạt sỏi, còn người chết phải đoạ địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh nhiều như núi Tu-di. Người sau khi chết phải đoạ ba đường ác nhiều như hồ nước rộng 750 cây số còn người sanh làm người hoặc sanh lên làm chư thiên ít như những giọt nước còn sót lại trên đầu ngọn cỏ. Đọa vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh rất dễ dàng, những việc làm ác xảy ra nhan nhản hằng ngày thì sau khi nhắm mắt là đại thảm hoạ vì thế Đức Phật tán thán, khuyến khích làm những thiện pháp là nhằm để con người tránh được ba đường ác, khi tránh được ba đường ác mới tạm an ổn, chỉ mới là tạm an ổn để tu học vì vào ba đường ác thì ai nói pháp cho nghe để tu hoặc làm thân chó, mèo thì làm sao hiểu được pháp, làm cô hồn, ngạ quỷ trong địa ngục chỉ có cảm thọ thống khổ thì làm sao có sự bình an để nghe pháp, cho nên thoát khỏi ba đường ác chỉ mới tạm an ổn để tu học tăng trưởng các thiện pháp vì thế Đức Thế Tôn luôn tán thán, tán dương, ca ngợi thiện pháp và chỉ trích ác pháp, bất thiện pháp. Phương pháp bố thí, chia sẻ này là một trong những thiện pháp chứ không phải bố thí là xong chuyện nhưng nó giúp chúng ta được đầy đủ về phương diện vật chất tài sản, về dung sắc, sức khoẻ, bố thí đèn là bố thí mắt, bố thí lương thực là bố thí sức lực, bố thí xe là bố thí niềm vui, bố thí quần áo là bố thí sắc đẹp, bố thí chỗ ở là bố thí tất cả nhưng bố thí pháp là bố thí sự bất tử, chúng ta phải nhớ những điều này để thực hành. Ví dụ con mắt chúng ta bị bệnh thì cần để ý cho đèn nhiều hơn, phải làm theo lời Đức Phật, còn thấy mình bệnh hoạn, yếu ốm thì phải bố thí thức ăn cho người hoặc vật, bố thí thuốc men, làm như vậy thì có thể thời gian sau nghiệp mình sẽ hết hoặc chậm nhất là qua đời sau. Những việc làm nhỏ như vậy là những con ốc vít, những sợi căm, những cái bánh xe , niềng xe để ráp thành chiếc xe cho nên bố thí chỉ là một pháp chứ không phải bố thí là tất cả, nó là một pháp để mình được đầy đủ vật chất, không phải cứ nghĩ rằng chỉ cần làm từ thiện là đủ, không muốn làm gì khác, sau này mình chỉ được quả về tài sản nhưng mình sẽ đau khổ, mình không có trí tuệ. Đức Phật dạy bố thí với tài sản hợp quả thì phước báo sẽ rất lớn nhưng nói vậy không có nghĩa những người có tài sản không hợp pháp là không bố thí mà họ phải cố gắng sửa chỉnh lại để họ không sống tà mạng nữa thì việc làm bố thí của họ mới có thu hoạch lớn, mới vượt qua dòng suối của khổ đau. Đừng đọc trong kinh rồi làm theo chữ nghĩa, đọc rồi nghĩ rằng Đức Phật chỉ nói những người nghèo bố thí được phước lớn, còn mình giàu khỏi cần bố thí là không đúng, Đức Phật nhấn mạnh vào tâm có lòng tin tam bảo, có lòng chân thành, chia sẻ, xót thương, còn mình đã giàu có đầy đủ lại thêm tấm lòng biết chia sẻ, xót thương, từ bi thì việc làm bố thí của mình càng rộng lớn, càng có sức ảnh hưởng, mình phải hiểu trong hoàn cảnh đó Đức Phật nói pháp đó cho đối tượng có căn cơ đó trong bài kinh đó, có những bài trở thành quy luật chung cho tất cả nhưng cũng có những bài Đức Phật chỉ nói cho đối tượng đó thôi, không được dựa vào đối tượng được nói trong bài kinh đó rồi viện cớ, đó là cái học chưa khéo, phải biết rằng căn cơ để Đức Phật nói bài kinh đó, nói cho đối tượng nào, mình nằm trong trường hợp nào để làm cho đúng.

Vị chư thiên nào đứng lên trình pháp với Đức Phật cũng tán thán việc bố thí, tán thán ý của vị chư thiên trước mình, sau đó mới nói lên ý kiến của mình, qua đây mình thấy được tâm của chư thiên là tâm tuỳ hỷ, điều này rất quan trọng vì nhiều khi mình thấy người ta nói hay là ganh tỵ nghĩ rằng mình nói hay hơn, mình còn thấy được nhiều điều hơn, đó là tâm tật đố, nhỏ hẹp, còn tâm chư thiên rất hiền thiện, hoà thuận cho nên vị sau đứng lên là tán thán ý kiến vị trước rồi mới nói lên ý kiến riêng .

"Lành thay sự bố thí,

Có suy tư sáng suốt!

Bố thí có suy tư,

Bậc Thiện Thệ tán thán.

Bố thí cho những vị,

Ðáng kính trọng ở đời,

Bố thí những vị ấy,

Ðược hưởng quả phước lớn,

Như hạt giống tốt đẹp,

Gieo vào ruộng tốt lành". (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương I. Tương Ưng Chư Thiên, IV. Phẩm Quần Tiên, III. Lành Thay)

Chúng ta đang càng ngày càng đi sâu hơn, lúc đầu nói về sự bố thí, sau đó tán thán sự nghèo khó thiếu thốn nhưng vẫn bố thí, của ít nhưng vẫn vui khi san sẻ, còn của nhiều lại khó đem cho, tiếp theo là tán thán việc bố thí có lòng tin tam bảo, bây giờ là bố thí có chánh mạng. Ở đây là một quần tiên, nghĩa là có rất nhiều chư thiên thuộc các tầng trời khác nhau, có phước báo khác nhau, thứ bậc khác nhau, trí tuệ khác nhau nên nói ra sẽ thấy có sự khác biệt, trí tuệ ngày càng được nâng cấp và bây giờ là bố thí có suy tư sáng suốt. Thế nào là bố thí có suy tư sáng suốt? Nhiều người đến chùa chỉ thích cúng tượng Phật, hoặc có người chỉ thích cúng đồ ăn thôi, có người thích cúng hương đăng hoa quả, có người thích cúng y phục, những cái đó cũng tốt chứ không phải không tốt nhưng đó là cái mình thích, mình muốn, tuy nhiên phải xem lại người ta cần cái gì, đây là chỗ khéo của mình, nhiều khi cái mình cúng người ta đã có còn cái người ta thiếu, người ta cần thì mình lại không biết nên không cúng. Trong nhiều buổi trai Tăng, các Phật tử cúng mỗi người một xấp vải, có nhiều vị đem vải về chất cao cả mét trong khi các thầy lại thiếu tiền đổ xăng đi học vì thế cúng cái mình muốn khác với cúng điều người ta cần. Bây giờ chùa có tượng Phật đầy đủ rồi nhưng các vị lại nói chỉ muốn cúng tượng Phật thôi, cái này cũng có phước chứ không phải không có phước nhưng cái phước đó không bằng cái người ta cần, đây là chỗ cần suy tư, suy xét. Mình đi từ thiện chỉ thích cho dầu, đường, bột ngọt, thùng mì, chỗ nào cũng giống y như vậy nhưng có những chỗ những thứ đó lại không cứu được người ta trong thời điểm đó, ví dụ người ta cần tiền mua thuốc uống vì đang bệnh hoặc người ta không có chỗ ở mà mình đem cho những thứ đó thì làm sao người ta dùng, vì thế cái người ta cần lại không có cho nên bố thí phải có suy tư là vậy, cần suy xét cho cái gì, cho trong hoàn cảnh nào, cho ai là thích hợp, cúng cái gì, cúng cho ai, cúng trong hoàn cảnh nào, trong hoàn cảnh nào. Ví dụ chỗ đó không ai ở mà mình lại cúng rồi xây lên, cuối cùng cũng bỏ không, người quét dọn cũng không có trong khi lại thiếu phòng học cho chư Tăng Ni, thiếu giảng đường, thiếu chỗ nhập thất nhưng mình cứ thích cái nào là cúng cái đó chứ không hề biết suy xét gì cả. Qua đây chúng ta thấy chánh tư duy rất hay, tức là sự suy xét một cách sâu sắc trong tất cả mọi vấn đề, bây giờ mọi người làm từ thiện bằng cách đem oxy đến tận nhà những bệnh nhân khó thở vì nhiễm bệnh, đó là bố thí có suy tư thích hợp trong thời điểm này vì có rất nhiều người bệnh cần oxy lúc này, nếu không có oxy là mất mạng cho nên bố thí oxy là bố thí sinh mạng, bố thí hơi thở. Các bác sĩ nghiên cứu làm sao một bình oxy có thể dùng cho 5 đến 6 bệnh nhân, đó là sự thông minh của tâm từ bi, tình thương, nếu không thì một bình chỉ dùng cho một bệnh nhân, những người còn lại không có oxy kịp thời là nguy cấp, bố thí có suy tư là như vậy đó, chính là sự san sẻ, cứu giúp có sự suy xét sáng suốt, điều này được Đức Thế Tôn khen ngợi. Không phải thích cái nào là cho cái đó, trừ trường hợp mình chỉ có duy nhất cái đó thôi thì mình cho cái đó, nhưng nếu mình có khả năng mua những cái khác thì hãy xem lại, thật ra làm từ thiện đã tốt nhưng nếu có sự suy tư sáng suốt thì càng tốt hơn nữa, tức là phải nâng cấp lên chứ không phải làm như cái máy, không phải sáng nào cũng ăn mì gói hoặc cháo trắng, phải biết đổi món thì cái cho của mình cũng phải khéo léo thay đổi tuỳ hoàn cảnh, có những chỗ chỉ cần cho tiền để người ta tự làm, có những chỗ lạnh giá cần chăn, cần áo ấm, có những nơi cần dầu, thậm chí đi đến nơi rồi tuỳ tình hình thực tế mà xử lý.

"Bố thí cho những vị,

Ðáng kính trọng ở đời,

Bố thí những vị ấy,

Ðược hưởng quả phước lớn"

Thế nào là những vị đáng kính trọng? Trong kinh chia ra đến mười bốn loại cúng dường.

"Này Ananda, có mười bốn loại cúng dường phân loại theo hạng người.

Bố thí các đức Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, là cúng dường thứ nhất, phân loại theo hạng người.

Bố thí các vị Ðộc Giác Phật, là cúng dường thứ hai, phân loại theo hạng người.

Bố thí các bậc A-la-hán, đệ tử Như Lai, là cúng dường thứ ba, phân loại theo hạng người.

Bố thí các vị trên con đường chứng quả A-la-hán là cúng dường thứ tư, phân loại theo hạng người.

Bố thí các vị chứng quả Bất lai, là cúng dường thứ năm, phân loại theo hạng người.

Bố thí các vị trên con đường chứng quả Bất lai là cúng dường thứ sáu, phân loại theo hạng người.

Bố thí các vị chứng quả Nhất lai là cúng dường thứ bảy, phân loại theo hạng người.

Bố thí các vị trên con đường chứng quả Nhất lai là cúng dường thứ tám, phân loại theo hạng người.

Bố thí các vị chứng quả Dự lưu là cúng dường thứ chín, phân loại theo hạng người.

Bố thí các vị trên con đường chứng quả Dự lưu là cúng dường thứ mười, phân loại theo hạng người.

Bố thí những vị ngoại học (bahiraka) đã ly tham trong các dục vọng là cúng dường thứ mười một, phân loại theo hạng người.

Bố thí những phàm phu gìn giữ giới luật là cúng dường thứ mười hai, phân loại theo hạng người.

Bố thí những phàm phu theo ác giới là cúng dường thứ mười ba, phân loại theo hạng người.

Bố thí các loại bàng sanh là cúng dường thứ mười bốn, phân loại theo hạng người". (Trung Bộ Kinh, 142. Kinh Phân biệt cúng dường)

Độc Giác Phật là những vị sanh ra trong đời không có Phật mà tự mình giác ngộ. Những vị trên con đường chứng ngộ A-la-hán, gọi là A-la-hán đạo, những vị đó đang hướng đến con đường chứng quả A-la-hán. Những vị chứng quả Bất lai là không trở lại thế giới này nữa, tham sân đã đoạn tận. Những vị chứng quả Nhất lai là trở lại thế giới này thêm một lần nữa thôi. Những vị trên con đường chứng quả Dự lưu tức là hướng Dự lưu quả. Ngoại học là những người không phải đạo Phật, ngoại học là ngoài bốn đôi tám chúng, là những người tu học bên ngoài giáo pháp này nhưng họ cũng đã ly tham trong các dục vọng. Bàng sanh là những loài thú vật.

"Tại đây, này Ananda, sau khi bố thí cho các loại bàng sanh, cúng dường này có hy vọng đem lại trăm phần công đức. Sau khi bố thí cho những phàm phu theo ác giới, cúng dường này có hy vọng đem lại ngàn phần công đức. Sau khi bố thí cho các phàm phu gìn giữ giới luật, cúng dường này có hy vọng đem lại trăm ngàn lần công đức. Sau khi bố thí cho các người ngoại học đã ly tham trong các dục vọng, cúng dường này có hy vọng đem lại trăm ngàn ức lần công đức. Sau khi bố thí cho các vị trên con đường chứng quả Dự lưu, cúng dường này có hy vọng đem lại vô số vô lượng công đức. Còn nói gì đến những vị đã chứng quả Dự lưu? Còn nói gì đến những vị trên con đường chứng quả Nhất lai? Còn nói gì đến những vị đã chứng quả Nhất lai? Còn nói gì đến những vị trên con đường chứng quả Bất lai? Còn nói gì đến những vị đã chứng quả Bất lai? Còn nói gì đến những vị trên con đường chứng quả A-la-hán? Còn nói gì đến những vị đã chứng quả A-la-hán, đệ tử Như Lai? Còn nói gì đến những vị Ðộc Giác Phật? Còn nói gì đến các Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác?" (Trung Bộ Kinh, 142. Kinh Phân biệt cúng dường)

Khi mình cho những con thú vật như chó mèo ăn một bữa nhưng mình sẽ được hưởng lại một trăm bữa ăn giống vậy. Bố thí cho những người theo ác giới, là những người không biết tu một phần thì mình có lại một ngàn phần, cho một thùng mình là sau này mình được một ngàn thùng mì đó, nhiều người nghĩ rằng bố thí tiền cho họ là họ lấy tiền đi nhậu nên không làm, chuyện họ đi nhậu là chuyện của họ, làm sao mình cản họ được, còn mình làm phước là vẫn làm. Bố thí cho những người có giữ giới sẽ có trăm ngàn lần công đức, cho một món đồ thì mình sẽ có lại được trăm ngàn lần món đồ đó, ở đây chỉ mới nói đến phàm phu biết giữ giới luật thôi chứ chưa nói đến người tu đúng chánh pháp mà phước báo bố thí cho họ đã nhiều đến vậy. Bố thí cho những người đã ly tham đối với các dục vọng sẽ được trăm ngàn ức lần công đức. Bố thí cho các vị trên con đường chứng quả Dự Lưu tức là hướng đến Nhập Lưu sẽ có vô số vô lượng công đức, tức là công đức đó không thể tính bằng con số được. Thường thì Minh Thành chú trọng vào bố thí pháp, từ tự thân mình cho đến những cái Phật tử gửi về Minh Thành đều đầu tư vào việc thắp sáng ngọn đèn chánh pháp, lưu bố pháp này cho rộng rãi để mọi người được nghe, được hiểu, ứng dụng được phần nào thì đỡ khổ phần đó. Vì hiện tại bây giờ có rất nhiều người đi làm từ thiện, không biết đạo cũng đi làm, xây chùa, cúng tượng Phật cũng có nhiều người làm được nhưng trong việc nhận thức giáo pháp nguyên chất của Đức Phật, phải làm sao để tâm vào việc truyền bá Thánh pháp nguyên chất thật sự, đây là điều trọng đại, là bố thí bất tử, bố thí có suy tư một cách sâu sắc, bố thí làm cho chánh pháp được trường cửu, kéo dài thời gian tồn tại của chánh pháp, chính tự thân chúng ta được nghe, được hiểu, được học, được tu để được bớt khổ, thấy được sự thật của thân tâm thì chúng ta phải có trách nhiệm bảo quản, giữ gìn, tu tập, duy trì, lưu bố, truyền bá rộng rãi. Mỗi lần Minh Thành mời mọi người chia sẻ là Minh Thành muốn mọi người thực tập bố thí bất tử, mỗi ngày chúng ta phải ngồi nghe pháp, quay phim, viết sách, ghi âm lại là nhằm lưu truyền chánh pháp, bố thí như vậy nhằm làm cho chánh pháp được cửu trụ, được tồn tại lâu dài ở thế gian, thời gian không còn nhiều và mình là chuyến đò cuối cùng mà mình không có trách nhiệm giữ gìn, lưu bố, truyền bá thì chánh pháp sẽ nhanh chóng chấm dứt, những lời chân chánh sâu sắc của Đức Phật sẽ không còn nữa cho nên bố thí pháp là bố thí bất tử. Các quý Phật tử gửi tịnh tài về Minh Thành đều đầu tư phần nhiều vào việc truyền bá chánh pháp này, chúng ta đã học, đã nghe, đã hiểu, đã thực tập nên đã thấy được lợi ích của pháp, đã thấy được giá trị, thấy được sự hy hữu hiếm có tối thượng của chánh pháp, những cái khác ai cũng làm được nhưng để lưu giữ, truyền bá, lan toả chánh pháp thì không phải ai cũng làm được, đây gọi là sự bố thí có suy tư sáng suốt, bố thí như vậy được bậc thiện thệ tán thán.

"Pháp thí, thắng mọi thí!

Pháp vị, thắng mọi vị!

Pháp hỷ, thắng mọi hỷ!

Ái diệt, dứt mọi khổ!"

(Kinh Pháp Cú 24 – Phẩm Tham Ái, kệ 354)

"Ai sống một trăm năm,

Không thấy pháp sinh diệt,

Tốt hơn sống một ngày,

Thấy được pháp sinh diệt"

(Kinh Pháp Cú 08 – Phẩm Ngàn, kệ 113)

Những câu này do bậc Chánh Đẳng Chánh Giác nói chứ không phải người bình thường nói cho nên giá trị của pháp là không đong đếm được. Tất cả đời sống tu hành, từ cư sĩ đến xuất gia bỏ cha bỏ mẹ, cạo đầu, trải qua biết bao khó khăn gian khổ là nhằm tìm được pháp, học pháp, hành pháp, chứng pháp và truyền bá pháp, vì thế trong tất cả sự bố thí thì đầu tư vào việc thọ trì và truyền bá chánh pháp là sự tối thượng trong tất cả sự tối thượng. Chúng ta không những quay phim, làm sách, ghi âm mà còn phải đọc những quyển sách đã làm ra đều nhằm làm cho chánh pháp cửu trụ, làm cho ánh sáng chánh pháp không bị dập tắt.

Tôi biết mình chỉ là đom đóm,

Xa thời đức Phật mấy ngàn năm,

Ngậm ngùi nhìn thế gian chìm đắm

Trong cảnh tối tăm của vô minh.

Tôi biết mình chỉ là đom đóm

Trong thời Chánh pháp sắp diệt vong

Không làm gì được khi Thánh đạo

Không được trao truyền bởi tâm mê.

Tôi biết mình chỉ là đom đóm

Quặn lòng nhìn bóng tối vô minh,

Ngày đêm bao phủ tâm nhân thế

Khống chế cuộc đời trong dục mê.

Tôi biết mình chỉ là đom đóm,

Quặn lòng nhìn bóng tối vô minh

Nước mắt bên trong thầm lặng chảy

Đắng cay bất lực, pháp mạt rồi.

Tôi biết mình chỉ là đom đóm

Không làm sao toả sáng trần gian,

Nên chỉ ngậm ngùi trong thương xót,

Thương đời quờ quạng giữa trời đêm.

Tôi biết mình chỉ là đom đóm,

Ngậm ngùi xa Phật mấy ngàn năm,

Lòng nhắc nhở lòng - không được khóc,

Thương đời nhưng "lực bất tòng tâm".

Tôi thấy lòng mình quá xót xa,

Khi nhìn Thánh trí bị phôi pha,

Con đường thoát khổ dần xa khuất,

Các nẻo luân hồi lộ rõ ra.

Tôi thấy lòng mình quá xót xa,

Thương đời trong biển cả mênh mông,

Tử sanh, sanh tử, không lối thoát.

Tôi thấy lòng mình quá xót xa.

Tôi biết mình chỉ là đom đóm

Đôi lời trao gửi lại trần gian

Tám Chánh - Pháp tu bậc Chánh Giác.

Bỏ Chánh theo Tà, khổ chẳng tha.

Bao nhiêu nỗi khổ ở trên đời,

Khổ vì ái, dục, vì sân si

Khổ vì danh, lợi, vì sanh tử

Tám Chánh - Con đường thoát khổ đau.

Thôi đến lúc rồi, tôi phải đi

Dặn người: 'Thánh đạo chớ khinh khi,

Đừng vì si ám mà từ bỏ,

Con đường thoát khỏi mọi khổ đau'".

(Đom đóm – Chơn Tín Toàn)

./.