Nhìn rõ thân tâm
NHÌN RÕ THÂN TÂM – NHẬN DIỆN NĂM UẨN
-Thích Minh Thành-
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Chia sẻ - nhận diện ngũ uẩn: PAGEREF _Toc75504355 \h 1
II. Thọ uẩn: PAGEREF _Toc75504356 \h 4
1. Tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ: PAGEREF _Toc75504357 \h 4
2. Những dòng cảm thọ thiêng liêng: PAGEREF _Toc75504358 \h 5
3. Nhận diện cảm thọ: PAGEREF _Toc75504359 \h 6
4. Đường lối tu hành đúng đắn: PAGEREF _Toc75504360 \h 8
III. Chia sẻ - khuyến tu: PAGEREF _Toc75504361 \h 9
IV. Thực hành ba pháp: PAGEREF _Toc75504362 \h 11
V. Sự chứng ngộ của Đức Phật – Năm uẩn: PAGEREF _Toc75504363 \h 14
VI. Sân: PAGEREF _Toc75504364 \h 16
1. Phật tử chia sẻ - vượt qua căn bệnh hiểm nghèo: PAGEREF _Toc75504365 \h 16
2. Sư phụ dạy về sân tâm – an trú cảm giác toàn thân: PAGEREF _Toc75504366 \h 18
3. Lạc thọ - tham: PAGEREF _Toc75504367 \h 22
4. Tác ý đánh đuổi các dòng cảm thọ: PAGEREF _Toc75504368 \h 23
I. Chia sẻ - nhận diện ngũ uẩn:
Đây là thời khóa thông thường của khóa tu Nikāya 7 ngày trên núi Linh Quy Pháp Ấn. Chúng ta thấy thời khóa tu tập rồi ha, rồi chúng ta lật trang 21 là Thanh Quy đạo tràng. Nhóm của chúng ta tới đây đủ chưa các cô hay là còn nữa? Còn một số người nữa phải không? Dạ vâng, trong thời gian chờ đợi mình xem trước Thanh Quy đạo tràng để khỏi uổng thời gian. Phước duyên của đạo tràng chúng ta là quý thầy đem thùng kinh vừa cho đạo tràng mình thôi còn các đạo tràng khác không có. Vì mình di chuyển tới 3, 4 chỗ mà quyển này mới vừa tái bản, có thêm phần mục đích của tập sách. Tức nói cho mình biết ý nghĩa, giá trị của sự tuần pháp tu học trong đây, còn quyển trước không có phần này. Bây giờ chúng ta đọc phần Thanh quy đi, mọi người cứ đọc chậm chậm.
Xin thưa với quý sư cô, quý Phật tử, đúng ra khóa tu của chúng ta phải vài ngày chứ một ngày thì chưa đủ. Chính vì vậy mà mình tận dụng thời gian của một ngày thôi, coi như giờ này là giờ chúng ta tìm hiểu, giao lưu chứ xong khóa tu Minh Thành sẽ đi về Hải Dương liền với đạo tràng Nikāya ngoài đó. Thành ra trong thời gian chờ đợi, cô Linh tới thì mình tìm hiểu và chia sẻ. Các Phật tử đã được học gì rồi? Biết thực hành 3 pháp chưa? Biết thế nào là rõ biết ở trước mặt, cảm giác toàn thân và nội tâm tỉnh giác, biết chưa? Chưa biết ha, để quý thầy biết mà hướng dẫn trong khóa tu này.
Bây giờ 2 vấn đề quan trọng và căn bản nhất mà mình phải nắm thật vững là thực hành 3 pháp và nhận diện 5 uẩn. Như vậy mình phải nắm được 2 phần. Con thưa sư cô, sư cô nắm được thực hành 3 pháp chưa? Hay là mới luôn? Hai pháp tuyệt đối quan trọng nếu không nắm được 2 pháp này thì sự tu học của mình sẽ không đi đến đâu hết, chỉ ở trên suy tưởng. Đó là thứ nhất phải thực hành được 3 pháp, tức biết cách ngồi thiền, vì mình tu thiền mà không biết cách ngồi thiền làm sao mà tu? Thứ 2 là phải nhận diện được 5 uẩn, mấy cô nhận diện được chưa? Chắc không? Thôi giờ mời cô chia sẻ thử, không sao, bây giờ mời cô chia sẻ thử nhận diện 5 uẩn ngay lúc này coi sao, trong thời gian chờ đợi mình tu mót đi. Đừng giở tập, giờ cô nhận diện 5 uẩn thử, để Minh Thành biết được sự tu học của mình tới đâu để khóa tu này có kết quả, cô cứ chia sẻ.
Phật tử: dạ con kính bạch thầy, con kính bạch sư cô cùng toàn thể đại chúng, 5 uẩn là sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Sắc là do Tứ Đại tạo thành, thọ là cảm giác, cảm xúc còn tưởng là hình bóng, thức là sự rõ biết.
Sư phụ: Bây giờ nói lại, thọ là gì? Có mấy loại cảm thọ?
Phật tử: Thọ là cảm giác, cảm xúc, có 3 loại cảm thọ: cảm thọ lạc, khổ và bất lạc bất khổ.
Sư phụ: Tưởng là gì?
Phật tử: Tưởng là hình bóng trong đầu, hành là lời nói lầm thầm trong tâm, thức là sự rõ biết.
Sư phụ: Ngay bây giờ cô nhận diện 5 uẩn được không?
Phật tử: Dạ, con thưa thầy hiện tại cảm thọ của con có hơi run, cái này thuộc về thọ khổ, trong thọ khổ đấy có cả thọ lạc nữa, có nghĩa là sự hoan hỉ, sự thành kính. Hôm nay con cảm thấy rất hân hạnh, thật là quý báu khi dự sự tu học do thầy giảng dạy cùng toàn thể đại chúng đây ạ. Còn tưởng là có hình bóng của thầy cùng toàn thể đại chúng và tất cả xung quanh đây.
Sư phụ: Tưởng là hình bóng trong tâm, cô thấy trong tâm cô có hình bóng gì không ngay giờ phút này? Nhắm mắt lại.
Phật tử: Dạ thưa, trong tâm con có hình bóng của thầy, còn hành là …
Sư phụ: Hành là sao? Bây giờ con có suy nghĩ gì? Cứ bình tĩnh, từ từ khép mắt lại xem kỹ bên trong có ý hành gì?
Phật tử: Dạ thưa thầy, trong tâm con những lời nói của thầy thật là quý báu và ý nghĩa, đấy là hành của con, hành là rõ biết sự vận hành của những uẩn trên.
Sư phụ: Biết được thọ, tưởng, hành, biết được cảm giác, hình bóng và suy nghĩ. Vậy là tốt rồi, cho một tràng pháo tay.
Phật tử: Con xin tri ân thầy, con xin tri ân quý sư cô và toàn thể đại chúng đây ạ.
Sư phụ: Con mời các chú, các huynh.
Phật tử: Con thưa thầy cùng toàn thể đại chúng. Trong quá trình tu học một thời gian ngắn thì bây giờ mới được gặp thầy con cũng có những hiểu biết sơ lược về năm uẩn, con xin trình bày ạ. Thứ nhất, tại thời điểm hiện tại, con nhìn thấy áo thầy màu vàng, các đại chúng ở đây mặc nhiều màu áo khác nhau. Khán phòng bố trí nhiều thứ và con đang ngồi trên sàn rất vững chắc. Con cảm giác được không khí rất trầm mặc và cảm giác mình cảm thấy yên bình, đấy là cảm thọ của con, thọ đấy là thọ lạc kèm theo một chút run run, con thấy đấy là cảm thọ của khổ. Con chưa thấy cảm thọ của sự không lạc không khổ, tức cảm giác chung chung là không thấy. Sắc thì con nhìn thấy khung cảnh như thế, còn thọ như vậy, tưởng thì trong đầu duy nhất là hình bóng của thầy, một chút hình bóng của mẹ, bây giờ mẹ được ngồi đây thì hay biết mấy. Những suy nghĩ, hành là ví dụ cả nhà mình ngồi đây, được nghe thấy thì hay biết mấy, duy nhất chỉ suy nghĩ đó thôi. Còn quá trình thì con nhận biết thức từ đầu đến cuối thì con nghĩ đấy là thức. Dạ, con cảm ơn thầy cùng toàn thể đại chúng ạ.
Sư phụ: Tốt lắm, rất tốt, coi như nãy giờ mình ôn bài, bài thu hoạch của mình trong thời gian học tập thì qua. Có huynh nào chia sẻ nữa không? Có ai muốn nhận diện ngũ uẩn nữa không ạ? Dạ vâng, mời cô.
Phật tử: Con thưa thầy, ngũ uẩn của con hiện tại là con đang thấy thân con ngồi nghiêm chỉnh, chân khoanh vào, đấy là sắc uẩn của con. Còn thọ của con là con thấy trong tâm đang có một sự hân hoan, hoan hỉ rất lớn, con thấy hình bóng của cảm thọ này đó chính là có sự lâng lâng ở phần bụng con ạ, thì con thấy đây là hình bóng của cảm thọ đấy. Đây là cảm thọ lạc và đồng thời con có cảm thọ ngoài thân là run, đấy là cảm thọ của thân. Còn về tưởng của con hiện tại do mắt của con đang nhìn trực tiếp hình ảnh của thầy và sắc trần nên tưởng của con đang là tưởng rỗng không ạ. Và hành của con hiện tại cũng không khởi niệm nào hiện lên ở trong đầu, sự rõ biết cảm thọ ngoài thân và trong tâm. Sự rõ biết của tưởng và sự rõ biết của cái hành này đấy là thức của con. Con xin hết ạ.
Sư phụ: Tốt. Con thưa sư cô, học phần định nghĩa ngũ uẩn chưa? Cô có học phần định nghĩa I: ngũ uẩn chưa? Dạ cô nhớ không, con mời cô.
Sư cô: Kính bạch thầy, ngũ uẩn con bạch thầy, trong kinh nói gồm có 5 phần ngũ uẩn, con cũng mới học sơ sơ, con bạch thầy là con cũng chưa thuộc lắm.
Sư phụ: Cô cứ nhớ và nói, không sao, mình sinh hoạt mà.
Sư cô: Dạ vâng, con rất run nên hôm nay con đến đây con được gặp thầy, con thấy tâm mình được mở rộng ra một chút để con nhìn nhận lời Phật dạy rõ hơn. Về ngũ uẩn thì con cũng không nhớ lắm, con bạch thầy là như vậy ạ.
Sư phụ: Dạ vâng, cám ơn sư cô. Giờ quý Phật tử có biết tham, sân, si ở đâu không? Trong uẩn nào không? Truyền micro cho cô.
Phật tử: Dạ con kính bạch thầy, kính bạch sư cô cùng toàn thể đại chúng. Tham, sân, si là ở uẩn thọ ạ, do sự tiếp xúc tạo nên.
II. Thọ uẩn:
1. Tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ:
Mình nói phần thọ đó là tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ, chỗ đó là chỗ quy tụ mình thấy rõ nhất nhưng nó vẫn có trên sắc, khi mình giận mặt mình có đổi màu không? Trong tâm tưởng mình có hình bóng của cơn giận đó không – người mà mình giận? Rồi những suy nghĩ đó có giận không? Thức lúc đó biết đang giận không? Thành ra nó trong ngũ uẩn hết, nhưng vì cảm thọ là chỗ hội tụ, gắn liền giữa thân và tâm mình thấy rõ nhất nên mình gọi nó ở nơi cảm thọ, mình phải hiểu ý đó. Vì hình bóng trong tâm mình phớt qua rồi mất, suy nghĩ chút xíu rồi mình quên, nhưng cảm thọ có khi suốt đời mình không quên một cảm giác nào đó. Mình tiếp xúc người đó rồi quên, cảnh vật rồi cũng đi theo năm tháng, những lời nói rồi cũng gió thoảng mây bay nhưng những cảm xúc, cảm giác có thể suốt đời mình không quên.
Thành ra thọ uẩn là chỗ quy tụ, hội tụ, là kho chứa của tất cả các pháp trong ngũ uẩn nên mình muốn biết trong thân tâm mình còn gì trong đó, chỉ cần nhìn vô thọ nó sẽ hiện lên rõ hết. Ví dụ mình thấy cảm thọ này phơi phới, dễ chịu nhưng mình coi cảm thọ dễ chịu, cảm thọ lạc này, cảm giác vui này là pháp hay không phải pháp, nó liên hệ đến dục lạc hay Chánh pháp? Hai cảm thọ này cũng là lạc thọ nhưng 1 cái của thế gian, 1 cái của đạo Pháp. Cái của đạo pháp mình phát huy, cái của dục lạc mình nhiếp phục, hạn chế, giảm bớt từ từ.
Trong sự tu học về ngũ uẩn chúng ta tuyệt diệu và vi diệu lắm. Vì đây là những lời dạy gốc của Đức Phật, mà ngũ uẩn là thân tâm mình. Sự tu học là sự tìm hiểu lại thân tâm mình, trước nay không hiểu mình toàn đi tìm ở ngoài, giờ hiểu đúng theo lời Đức Phật dạy mình sẽ nhìn thấy được sự thật đang diễn ra bên trong và bên ngoài mình. Nên bước quan trọng nhất của chúng ta là phải nhận diện được ngũ uẩn. Nếu không nhận diện được ngũ uẩn thì sự tu, sự học của mình chỉ là tri thức hoặc là trên suy tưởng.
Chúng ta thấy phần nhiều mình tu trên cái hành và tưởng nhiều hơn. Mình tu là thường thường mình nghĩ tưởng chứ chưa đi vào tới cảm thọ sâu sắc để mình cảm xúc được với cái khổ của đời sống. Mình cảm xúc được, chạm được với sự vô thường của ngũ uẩn, mình chưa chạm tới được một cảm giác trống rỗng của thân tâm này nên sự tu mình là xoáy sâu vô cảm thọ. Vào trong cảm thọ đó mình mới có thể thẩm thấu, thể nhập, xuyên thấu, thâm nhập, chứng nhập trí tuệ trong đó. Nên tất cả những pháp quán của chúng ta là khai mở cảm thọ, đi sâu vào cảm thọ khai thác tầng sâu sắc, sâu thẳm, đi sâu của các dòng cảm thọ, cảm xúc của mình bên trong.
2. Những dòng cảm thọ thiêng liêng:
Chính vì vậy nếu Phật tử có xem đạo tràng Nikāya mà tu thì quý vị thấy khóc nhiều lắm. Quý vị có xem không? Quý vị thấy rằng đạo tràng gì mà khóc không vậy? Nhưng mà không phải, khóc đó là những giọt nước mắt của hạnh phúc, những giọt nước mắt của sự tiếp xúc với sự thật, khóc đó là những giọt nước mắt vỡ òa ra trước một sự thật mà mình đã bị che giấu nhiều đời nhiều kiếp. Bây giờ mình mở được con mắt trí tuệ ra để nhìn thấy, lúc đó sẽ có những sự cảm xúc hết sức sâu sắc. Như vậy, những dòng nước mắt tuôn ra là trí tuệ, chạm tới chân lý, là tình thương, sự cảm thông, nhìn thấy được chính mình.
Cho nên tu học trong dòng pháp này quý vị đừng sợ chảy nước mắt. Khi mình thiền quán về bất tịnh, thiền quán về vô thường, đau khổ, trải tâm từ mà quý vị được tuôn nước mắt thì cái đó tốt lắm. Tức các dòng cảm thọ của quý vị nó sẽ được mở ra dần dần. Có một Phật tử vừa rồi tu ở chùa Hoằng Pháp, vị này mới tu gần đây chứ không phải tu lâu, vị này khóc nức nở, nói rằng trước kia tâm con chỉ thương gia đình mình thôi, chồng con, anh em, bà con, cha mẹ con thôi, nhưng sau khi thực tập theo Đức Phật dạy trong kinh tạng Nikāya và trải tâm từ rộng lớn, bây giờ con thấy tình thương của con lan tỏa, rộng lớn ra. Một sự bi mẫn lan tỏa, mà khi quán về nỗi khổ của miền Trung, cô xúc động rất bi thương, đau xót giống như người thân trong gia đình mình, tức lòng từ đã được tưới tẩm, nuôi dưỡng, tăng trưởng, phát triển, quảng đại.
Cho nên mình tu, Đức Phật dạy mình trong kinh tạng Nikāya tu tập tâm từ, lập tới lập lui nhiều lần cho đến khi nào tâm từ mình vững chắc, kiên trú, thành cổ xe, thành căn cứ địa. Lúc đó lòng sân hận của mình sẽ giảm, và gần như tê liệt, và ở đâu mình cũng nhìn thấy một tình thương lan tỏa rộng khắp. Vì tất cả toàn là ngũ uẩn, toàn là tham lam, sân hận, si mê, vô minh, chấp ngã nên tâm từ của mình sẽ được rộng mở. Mà cái rộng mở quan trọng nhất là thương mình trước, rồi sẽ thương được người. Thương mình là thương cái vô minh của chính mình, thương sự tham dục, sân hận, bản ngã của mình. Chính cái đó làm cho mình khổ mà hồi đó giờ mình không thấy, tưởng rằng người ta làm cho mình khổ.
3. Nhận diện cảm thọ:
Tới khi mình thấy được những dòng suy nghĩ, những dòng cảm giác, những hình bóng thúc giục, đốt cháy bên trong, những hình bóng xâm chiếm, ám ảnh bên trong làm mình đau khổ. Mình thấy được rồi mới hết sức thương mình, thật sự mình thương mình rồi lúc đó mới bắt đầu khởi động được tâm từ bên trong mình. Trước kia nghĩ rằng mình từ bi, nhưng cái đó nó chưa phải là từ bi thực sự. Còn bây giờ mình thấy được ngũ uẩn, thấy được nỗi khổ niềm đau của mình và của hữu tình, thấy được tai hại nguy hiểm, ác độc của tham, sân, si và bản ngã. Thấy được rồi mới nhận ra mình là kẻ đáng thương nhất, và tất cả chúng sanh trong đó gồm có anh chị em, ông bà, cha mẹ, cô bác, chú dì của mình là những người đáng thương hết.
Chúng ta bị tai nạn, bị làm hại, không phải do ai khác mà chính những tâm đó hại mình, tâm thúc giục bên trong, tâm nóng giận đốt cháy này hại, tâm mê mờ, không thấy rõ pháp, không thấy rõ ngũ uẩn, sự sanh khởi các cảm thọ, các tưởng, của các ý hành, suy nghĩ, không thấy rõ. Và như vậy nó dẫn dắt, xâm chiếm, áp đảo, ám ảnh mình khổ đau. Nên chúng ta bị 5 uẩn ám ảnh, có những hình bóng mình nghĩ về là mình đau khổ, nghĩ về những người khiến mình đau khổ. Đó là bị sắc ám ảnh, hình bóng đó cứ chập chờn ám ảnh mình hoài. Có người giận 5 năm, 10 năm, mà mỗi lần nhớ tới người giận là lúc đó đau khổ, đó là bị sắc ám ảnh, bị cảm giác sân và thọ ám ảnh, hình bóng của người đó là tưởng ám ảnh, bị suy nghĩ đó là hành ám ảnh, rồi bị nhận thức trong đó đi ra không được là thức ám ảnh.
Trong phần Tương Ưng Uẩn, Đức Phật nói sắc ám ảnh, thọ ám ảnh, hành ám ảnh, thức ám ảnh, tất cả chúng sanh bị ám ảnh và đau khổ. Chúng ta tu cái này để nhìn thấy ra được hết tất cả những sự ám ảnh, những cảm giác, dòng suy nghĩ đó để mình có thể thấy rõ chúng, thấy rõ sự nguy hiểm và tác hại của chúng để nhiếp phục và từ từ rời xa, không chấp nhận cho nó ở trong căn nhà nội tâm mình nữa. Mình đuổi nó, quét nó, quăng nó ra ngoài thì mình sẽ có một căn nhà nội tâm trong sạch. “Nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm”. Và nội tâm của chúng ta là một nội tâm thanh tịnh, an lạc, hạnh phúc chứ không phải ai cho mình được hết mà chính mình dẹp những nguyên nhân làm cho đau khổ hết, lúc đó mình được bình an, hạnh phúc. Chúng ta thấy hết sức nhân quả, hết sức khoa học, rõ ràng và thực tế.
Bây giờ một cảm giác đang đốt cháy trong lòng ngực mình, mình có thấy hạnh phúc không, có không quý vị? Bực bội, nóng bức, sân hận trong này. Đức Phật nói rất rõ, có một Bà-la-môn tới hỏi, giáo pháp của ngài là thiết thực hiện tại, thực tế, ngay lập tức có hiệu quả liền, vậy thế nào là thực tế, thế nào là ngay lập tức có hiệu quả liền? Đức Phật nói ông sanh khởi lên sân là hạnh phúc hay bất hạnh? Ông nói dạ đó là bất hạnh. Bây giờ ông dập tắt cảm thọ sân hận, tâm ông hạnh phúc, mát mẻ, đó là hạnh phúc hay bất hạnh. Ông trả lời đó là hạnh phúc. Đức Phật nói đó là thiết thực hiện tại, giáo pháp của Ta phi thời gian, ngay lập tức nhiếp phục được cảm thọ, hóa giải được cảm giác đó thì ngay lập tức mình có được sự an tịnh, hạnh phúc, mát mẻ.
Giờ quý vị giận ai, lúc đó có vui không? Bây giờ mình xóa tan cảm giác giận đó, được mát mẻ, lúc đó mình được an vui không? Thiết thực không? Có hiệu quả tức thời không? Không phải trải qua thời gian. Đức Phật là bậc trí tự mình giác hiểu, bậc trí tức là bậc nhìn thấy được ngũ uẩn. Còn không thấy ngũ trong mình, đi dòm người ta thôi thì như vậy không phải là bậc trí nên đầu tiên phải thấy được ngũ uẩn trong mình.
4. Đường lối tu hành đúng đắn:
Muốn thấy được ngũ uẩn trong mình phải có người hướng dẫn đúng phương pháp, mình thực tập một cách chuyên cần, kiên trì, bền trí, vững tin; thực tập một cách nghiêm túc, chuyên cần, để tâm, cố gắng theo Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ý Túc của Đức Phật thì từ từ sẽ nhìn thấy rõ được thân tâm mình, kiểm soát và chế phục được thân tâm mình. Và sự hạnh phúc hay đau khổ mình sẽ thấy rằng chính mình là người quyết định. Phật chỉ có phương pháp, làm hay không là ở nơi mình. Mà quan trọng phương pháp mình học đúng mới có kết quả. Nó có vang ra loa không? Đó là tu đúng, đúng chỗ mới được nên Chánh Kiến quyết định hết tất cả.
Bấm tất cả không chỗ nào vang, phải bấm đúng chỗ này, ngược lại mình bấm chỗ này nó tắt không? Bấm trên hư không có tắt không? Bấm chỗ này, bấm huyệt trên người mình nó tắt không? Bấm chỗ này. Đó là diệt Thánh đế, ra tay đúng chỗ mới diệt được tham, sân, si. Nếu mình hạ thủ công phu sai chỗ, mình tu một tỷ năm tham, sân, si vẫn còn nguyên, có khi tăng trưởng nữa. Chúng ta thấy tự thân mình và những người chung quanh không? Nếu mình hạ thủ không đúng, mình hướng ra bên ngoài, hướng ngoại, cầu xin, tưởng đâu có ai giúp đỡ mình thì mình không thấy tham, sân, si, không nhiếp phục được nó. Nên bấm tất cả chỗ trong nguyên phòng này không được nhưng bấm chỗ này nó tắt, bấm ngay cảm thọ.
“Lành thay, này Thiên chủ, là lòng tin bất động đối với Pháp: Pháp do Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu”.
(Bài kinh Vua – Phẩm Veludvara - Chương XI Tương Ưng Dự Lưu – Tập IV Thiên Sáu Xứ - Kinh Tương Ưng Bộ)
Quý vị thấy sự tu học này hết sức là, Đức Phật gọi pháp của Như Lai là thiết thực hiện tại, không có thời gian, có hiệu quả tức thời, đến đó mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu là vậy đó. Bậc trí tuệ tức là bậc nhìn thấy năm uẩn. Minh Thành muốn quý vị trở thành người trí tuệ hết nên cho quý vị nhận diện 5 uẩn, chịu không? Khóa tu này từ đây tới chiều từng người từng người phải nhận diện được 5 uẩn. Mình không nhìn thấy được 5 uẩn là mình đọc kiến thức thôi, đọc trên suy tưởng, còn thấy 5 uẩn là thấy sự thật, hiện pháp, pháp hiện thực đang diễn ra trong thân tâm của mình mọi lúc mọi nơi.
Quý vị thử chỉ sự vật trong thế giới này, có cái nào đi ra ngoài 5 uẩn không? Mình tu học 5 uẩn là tu trí vũ trụ, trí trùm trời đất. Quý vị vui không, hạnh phúc không, hân hoan không? Thấy mình may mắn, phước lành, công đức không, hi hữu, thù thắng, quý hiếm, khó được, vi diệu, màu nhiệm không? Đó là phước báu của Chánh Pháp. “Pháp vị thắng mọi vị, pháp hỷ thắng mọi hỷ, pháp lạc thắng tất cả lạc, Niết-bàn vui tối thượng”. Nên phước báu cho chúng ta, phước lành, hy hữu, hiếm có, thù thắng cho chúng ta, sau Đức Phật gần 3.000 năm mà chúng ta nhìn thấy được ngũ uẩn của Đức Phật chỉ dạy khi ngài còn tại thế. Cố gắng lên, đem hết tấm lòng chân thành, cung kính tu học, đừng xem thường, đừng nghĩ rằng nó dễ được, đây là pháp tối thượng. Con mời cô chia sẻ cảm xúc hiện tại.
III. Chia sẻ - khuyến tu:
Phật tử: Kính thưa thầy, kính thưa sư phụ và toàn thể đại chúng, bây giờ trong con rất xúc động bởi vì sự may mắn của con. Thưa thầy, năm nay con gần 60 tuổi nhưng con cũng mới biết đến Phật pháp, rất may mắn con được gặp Diệu Minh, biết được Phật pháp, biết được kinh Nikāya, con rất hạnh phúc và con sẽ quyết tâm dù khó khăn đến đâu cũng cố gắng thực hành theo sự dạy bảo của thầy. Con xin đa tạ thầy rất nhiều.
Phật tử Diệu Linh: Con xin kính bạch trên sư phụ, con kính bạch quý đại đức tăng ni cùng quý đạo hữu đồng tu đang có mặt hôm nay. Con xin sám hối sư phụ với đại đức tăng ni Phật tử đang có mặt ở đây vì con đã không trọn vẹn được giờ bắt đầu cho mọi người. Xin sư phụ và mọi người hoan hỉ bỏ qua cho con.
Trên con đường tu học của con, con biết đến sư phụ là bậc đầu tiên cũng như con cảm nhận được dòng pháp sư phụ đang truyền trao cho mọi người là một dòng pháp đặc biệt và nó có giá trị ngay lập tức. Nó như một dòng điện vậy, nhanh, và làm cho người học nhận ngay lập tức. Con cũng trải qua 1 thời gian cũng không được dài, những gì sư phụ dạy con nghiêm túc học tập và con được biết sư phụ ra ngoài bắc để hoằng pháp. Có duyên con thỉnh được sư phụ và mọi người biết đến điều này nên tất cả hoan hỉ. Ở đây có những người bạn đã sinh hoạt với con, cũng có những người bạn không sinh hoạt với con, thậm chí con còn không biết mọi người. Nhưng mọi người rất hoan hỉ, con thấy nó giá trị nên đến giờ con không biết nói gì ngoài tri ân sư phụ. Con còn dại trên chặng đường tu học, cũng như cách trình pháp, nói pháp, con không biết một cái gì hết, có gì sư phụ và đại chúng hoan hỉ bỏ qua và dạy dỗ con thêm.
Sư phụ: Dạ, con xin thưa quý thầy, quý sư cô và tất cả Phật tử. Phật tử Diệu Linh đi vào trong Linh Quy Pháp Ấn, gặp con lần đầu tiên thì trào dâng nức nở những dòng nước mắt hạnh phúc, cảm nhận về Chánh Pháp trong suốt 1 tiếng đồng hồ, tuôn trào những cảm xúc của thiện pháp, của trí tuệ, của sự tiếp nhận được chân lý và xin quy y Tam Bảo. Cũng ngay tại chỗ đó, con trao truyền tam quy ngũ giới, sau đó về thì với sự tinh tấn, siêng năng tu tập, cũng có những kết quả ban đầu tốt và có nhân duyên chia sẻ với bạn đồng đạo. Hôm nay có duyên, cô Diệu Linh mời Minh Thành thăm viếng, chia sẻ với quý Phật tử.
Minh Thành cũng không ngờ rằng quý vị rất để tâm, học thuộc bài và có sự thực tập khá tốt, Minh Thành rất hoan hỉ, rất trân trọng, nhất là tấm lòng chân thành cung kính Tam Bảo của cô Diệu Linh đã làm cho chư tăng trong Linh Quy mới có chuyến ra đây để thăm viếng, chia sẻ với quý Phật tử. Mong rằng tất cả chúng ta hãy xem nhau là huynh đệ, cùng là những đứa con trung kiên của Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni Như Lai để chúng ta đem tất cả tấm lòng mình thực tập hành trì để thực sự có được những giá trị, nhiếp phục được tham, sân, si, vô minh và bản ngã để mình đỡ khổ, bớt khổ và đi đến chỗ diệt khổ.
Đó là sự cúng dường tối thượng đối với Tam Bảo, không có sự cúng dường nào bằng sự cúng dường thực hành pháp, thực chứng pháp, chứng nghiệm pháp. Đó cũng là một sự đền ơn, trả ơn trọn vẹn nhất mà Đức Thế Tôn, các bậc Thánh tăng, các vị Tôn Đức đã truyền trì Chánh Pháp này suốt gần 3.000 năm để ngày hôm nay chúng ta cầm trên tay một tạng kinh Nikāya của đại lão hòa thượng Thượng Minh Hạ Châu, cũng như công đức của các vị hi sinh cả cuộc đời để dấn thân, thực hành tìm thấy được Thánh Trí ngũ uẩn này để chúng ta có sự tu tập rất tuyệt vời, trực tiếp, thẳng tắp trong đạo tràng Nikāya của chúng ta. Cầu chúc quý vị tinh tấn, thanh tịnh, trang nghiêm mà hoan hỉ trong sự tu học trọn vẹn 1 ngày nay cũng như những ngày về sau. Chúng ta sẽ có nhân duyên cùng tu tập ở tại rừng thiền Linh Quy Pháp Ấn ở Lâm Đồng.
IV. Thực hành ba pháp:
Kính thưa đại chúng, trong phần thực hành 3 pháp, mà khi nãy quý vị được hướng dẫn thì có chỗ nào chưa hiểu không? Chỗ nào chưa hiểu quý vị có thể hỏi, quý vị có thực hành được cảm giác của toàn bộ cơ thể không? Cảm nhận, ghi nhận được cảm giác đó? Có ai không thực hành cảm giác toàn thân được không? Cô có tiếp xúc với pháp này được lâu chưa hay mới đến đây lần đầu tiên?
Cô đứng lên đi, Minh Thành chỉ cho cô cảm giác toàn thân. Cô đứng lên, gập người về phía trước giống như tập thể dục vậy, đưa 2 tay lên rồi gập người xuống càng sâu càng tốt rồi cô giữ lại thật lâu nhất có thể. Rồi cô đứng lên, cô thấy cảm giác cơ thể không? Tức mình cảm nhận được những cảm giác trong cơ thể mình đó gọi là cảm giác toàn thân. Khi mình ngồi quý thầy hướng dẫn mình cảm giác phần đỉnh đầu, gương mặt, cảm nhận 2 vai, cánh tay, lòng bàn tay, cảm nhận lưng, bụng, mông, chân, móng chân, lòng bàn chân rồi cảm nhận chung hết toàn bộ cơ thể của mình cảm giác đang như thế nào, mình cảm nhận được. Cô thấy rõ được vấn đề này chưa? Tập từ từ.
Tại sao chúng ta phải tập 3 pháp? Cái này Minh Thành đã chia sẻ rất nhiều lần rồi, quý vị chịu khó về nghe thêm bài thực hành 3 pháp, công năng và lợi ích của thực hành 3 pháp. Ở đây chúng ta nói sơ lược một vài nguyên nhân, lợi ích, mục đích của việc thực hành 3 pháp này. Từ trước giờ chúng ta quen khi ngồi thiền nhắm mắt phải không quý vị? Mấy chú ngồi thiền nhắm mắt hay mở mắt, mấy chú thanh niên bên đây nè, lúc trước giờ đó, nhắm phải không? Mình ngồi thiền nhắm mắt như vậy có thấy tỉnh táo, minh mẫn không?
Có 1 cô nói u mê, lúc đầu là tỉnh táo nhưng dần dần rơi vào, 1 là trạng thái tưởng, tức nhắm mắt 1 hồi lúc đầu là bóng đen, bóng này bóng kia, cảnh này cảnh kia, 1 là vọng tưởng; 2 là trạng thái si, lúc đó nó lờ mờ hoặc hôn trầm. Tức dần dần đưa mình vô trạng thái, hôn là ở trong sự mờ tối, trầm là chìm – chìm trong sự mờ tối, rồi đưa đến tình trạng ngủ gục. Người thực tập thiền rơi vào trạng thái này rất nhiều. Như vậy đó là lý do tại sao chúng ta phải ngồi thiền mở mắt? Mình ngồi thiền để mình tỉnh hay mê thưa quý vị? Mà giờ ngồi thiền của mình còn mê hơn giờ bình thường không thiền, phải không? Nếu mình ngồi nhắm lại thì không biết trước mặt mình là gì, chung quanh mình có gì cũng không biết, trên thân thể mình có gì cũng không biết.
Như vậy trong sự thực tập ngồi thiền, pháp thứ nhất là rõ biết trước mặt. Đức Phật gọi là đặc niệm, Chánh Niệm trước mặt, đây là phương pháp dạy thiền của Đức Phật trong kinh Nikāya, 16 hơi thở mình gom gọn lại trong 3 pháp, chứ nói 16 thì không ai nhớ, thành ra mình gom phần trọng yếu lại để quý vị dễ nắm bắt và thực hành. Thành ra tuyệt đối ngồi thiền không nhắm mắt, vì khi mình nhắm lại chúng ta thấy rằng 1 rơi vô tưởng, 2 rơi vô si, 3 rơi vô hôn trầm, 4 rơi vô ngủ gục. Mình muốn cho tỉnh nhưng thực sự lúc đó mê hơn ngồi thiền nữa. Như vậy thành ra ngồi hoài, ngồi lâu, ngồi nhiều nằm nhưng trí huệ không sanh, minh không sanh, trí không sanh, tuệ không sanh. Vì mình ngồi trong cái mê làm sao sanh được cái tỉnh, ngồi trong cái tối làm sao phát ra ánh sáng được?
Cho nên trước Minh Thành cũng vậy, cứ ngồi vô là nhắm mắt, thở vô, thở ra một hồi thì… Nhất là cư sĩ, Phật tử đi làm từ sáng tới chiều, tối ăn một bụng rồi leo lên ngồi nhắm mắt thở vô, thở ra thì đi tới đâu? Chính chỗ đó mà mình ngồi không phát sanh, tuệ không sanh, trí không sanh, quang không sanh, tri kiến như thật trong thân tâm mình không sanh khởi, vì mình ngồi nhắm mắt. Nên tượng Phật chúng ta làm đúng không phải là tượng Phật nhắm mắt mà Đức Phật mở vừa chừng. Mình nhớ nhé, cái này thầy nói trong mỹ thuật và kiến trúc Phật giáo nữa về cách tạc tượng của Đức Phật.
Pháp thứ nhất mình hết sức để tâm là vấn đề mở mắt trong khi ngồi thiền, nếu như nó lơ đơ lơ đơ, chuẩn bị vô một trạng thái si mê thì phải mở hết mắt lên, mở lớn lên. Mình có nhìn thấy mấy hình của ông tổ Bồ Đề Đạt Ma không? Có thấy không? Sao mắt trợn lên dữ vậy? Khi ngồi thiền buồn ngủ mình phải nhớ tới ánh mắt đó của tổ Bồ Đề Đạt Ma. Như vậy, khi ngồi thiền mình phải rõ biết, tỉnh táo ở phía trước mặt. Nếu hôn trầm mình phải cảm giác thật mạnh đôi mắt, phải nhìn thật rõ những gì phía trước mặt, tâm rộng mở, không chú tâm vô nhìn 1 điểm. Nhìn 1 điểm ở trước mắt thì một hồi ra con này, con kia, phải không quý vị? Mấy vân gỗ hay mấy tấm thảm này, nhìn một hồi ra cái này cái kia đủ thứ, rồi tưởng.
Còn nếu như mình nhắm mắt lại hoặc nhìn một chỗ cũng không được. Giờ cái nhìn của mình là một cái nhìn rộng mở, mở rộng tầm nhìn hết sức ra 2 bên. Tức 1 cái nhìn phổ quát, rộng lớn, sáng rỡ, sáng tỏ cả ở phía trước mặt của mình. Cái nhìn như vậy, quý vị thấy là làm cho mình tỉnh táo, rõ biết, sáng tỏ ngay trong chỗ mình đang ngồi. Phần này chúng ta thấy rõ rồi ha, rõ biết, đặt niệm, Chánh Niệm ở trước mặt.
Trong kinh Tứ Niệm Xứ Đức Phật nói, phần thứ 2 là phần cảm giác toàn thân mà chúng ta mới nói, phần này rất quan trọng. Cảm giác toàn thân này không chỉ là trong giờ ngồi thiền chúng ta tập mà tập trong tất cả mọi lúc mọi nơi. Tại sao chúng ta phải thực tập cảm giác toàn thân? Như lúc đầu chúng ta chia sẻ, Đức Phật nói tất cả pháp hội tụ ở nơi cảm thọ, cảm giác. Trong bài kinh “Cội rễ của sự vật” – Tăng Chi Bộ Kinh, Đức Phật nói: “Này, các Tỳ-kheo, tất cả pháp hội tụ ở nơi cảm thọ, quy tụ nơi cảm thọ, cảm giác”.
Thành ra nếu như mình không biết cảm giác coi như không biết thân tâm của mình. Ví dụ rất rõ, nếu mình không học và thực tập kinh Nikāya này, ai hỏi mình tham, sân, si ở đâu, mình có biết không? Mình tu 10 năm, 20 năm, 30 năm, có khi suốt đời, hỏi tham, sân, si ở đâu, mình nói trong tâm. Hỏi tâm là cái gì? Tâm là tâm, tâm là biết mới có thức uẩn. Có những nhà bác học nói tôi suy nghĩ cái đó là tâm của tôi, thì đó là uẩn gì? Hành uẩn thôi hả, như vậy nhiều người nói rằng tôi cảm giác, cái đó là có tôi, đó mới là thọ uẩn thôi.
Như vậy, tất cả sự nhìn nhận của người thế gian chưa đến chỗ viên mãn giác, chỉ có Đức Phật mới thành tựu được sự giác ngộ viên mãn cùng cực, đầy đủ, đồng đều, tròn vẹn tất cả mọi phương diện, khía cạnh, góc độ của thân tâm và thế giới. Nên Đức Phật tuyên bố rằng “Ta không tuyên bố ta chứng ngộ vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác khi ta chưa hoàn toàn tuệ tri, liễu tri, thắng tri về năm thủ uẩn, cho đến khi nào ta đã hoàn toàn thấu suốt, rõ biết tường tận tất cả mọi góc cạnh, khía cạnh, phương diện, đầy đủ hết tất cả về 5 uẩn này, lúc đó ta mới tuyên bố ta thành tựu giác ngộ cứu cánh cùng cực giữa chư thiên, loài người, ma phạm, Sa-môn và Bà-la-môn”.
Như vậy sự giác ngộ của Đức Phật là sự giác ngộ về năm uẩn, mà năm uẩn chính là thân tâm và thế giới. Bây giờ mình tu mà không biết cảm giác là gì làm sao biết được chính mình, không biết thọ, sắc, hành, thức. Mình chỉ thấy một cái tôi, một cái của tôi, như vậy vẫn là vô văn phàm phu, dù cho mình có tu bao nhiêu năm đi nữa mà không thấy ngũ uẩn, chỉ thấy một cái tôi. Vậy sự tu học của chúng ta là gì? Là sự quay lại, thành tựu trí tuệ về tự thân, mà tự thân mình gồm có 5 phần, nhưng ở đây Minh Thành muốn nói kỹ về phần thọ thôi, vì thời gian không có nhiều và chúng ta cũng là những người mới nên phần cảm thọ này tuyệt đối quan trọng và chúng ta sẽ thấy rất rõ.
Ngay cả như bản thân Minh Thành tu mấy chục năm mà nhiều khi hỏi tham, sân, si ở đâu, mình cứ nói chung chung trong tâm mình trước khi mình đi học về dòng pháp Nikāya này. Sau khi chúng ta học và tu rồi, thấy rằng nó biểu hiện rất rõ. Bây giờ mình giận ai, người ta nhìn có biết không? Giận ở trong tâm mà sao nhìn mặt mình biết đang giận? Tại vì có thọ uẩn, là một sự gắn kết, nối liền giữa thân và tâm. Cái đặc biệt của thọ uẩn, còn phần sắc uẩn chỉ là vô tri, là đất nước gió lửa, vô tri. Còn tưởng thì trong tâm mình tưởng, mình suy nghĩ gì người ta cũng đâu biết, phải không? Còn thức đương nhiên vô hình rồi, nhưng phần cảm giác nó biểu hiện trên thân, nó ở trong tâm nhưng lại biểu hiện trên thân.
Chính vì vậy khi mình thích, khoái, người ta nhìn biết không? Biết mình có tham, có thích, có khoái. Khi mình giận, mình bực, sân người ta nhìn biết không? Từ đâu mà họ nhìn họ biết? Từ chỗ nào? Từ phần cảm thọ biểu hiện trên thân. Lúc ngồi thiền mà có si người ta nhìn biết không? Ở trong thiền viện là ăn một cái chat thiền bảng. Trong thiền viện có một thầy đi giám thiền với cây thiền trượng, thiền bảng đi, thấy ai ngồi quẹo quẹo gật gật xuống, thầy nhịp nhịp đánh cái chát rồi xuống xá như xá xuống xin lỗi và cảm ơn, đánh mà còn phải cảm ơn nữa, vì người ta phá cái si mê cho mình.
Như vậy, tham, sân, si tuy ở trong cảm thọ nhưng biểu hiện qua thân. Mình nhìn mặt có biết người này đang ở trong trạng thái đơ đơ không? Nó biểu hiện ở trên mắt, trên gương mặt, rồi nhìn thấy người này đang vui, biết; người này đang buồn đang giận, biết thì cảm thọ biểu hiện qua thân. Bây giờ mình thấy khi mình nổi nóng lên thì ở đâu khó chịu quý vị? Ở giữa lồng ngực nó sao, có ai diễn tả cảm thọ sân giùm con không. Mời vị nào diễn tả giùm, nào giờ mình giận hoài mấy chục lần, mấy trăm lần, ngàn lần rồi, bây giờ diễn tả không được hay sao? Bây giờ nhận diện cảm thọ sân nó sanh khởi như thế nào?
VI. Sân:
1. Phật tử chia sẻ - vượt qua căn bệnh hiểm nghèo:
Phật tử: Dạ, con kính bạch thầy và tất cả các bạn là Phật tử trong khóa tu ngày hôm nay. Con là Mai, ở Ba Vì, Hà Nội, con biết đến khóa tu này nhờ cô Diệu Linh, để con biết được cô Diệu Linh là nhờ một bạn Oanh, con cũng rất hạnh phúc khi được đến với kinh Nikāya. Có một điều trước khi trả lời câu hỏi của thầy, bạch thầy cho con tâm tư được đôi điều, là con đến với khóa tu với một sự rất hào hứng mặc dù con mới đến nhóm của cô Diệu Linh được 4 tuần – 4 buổi sinh hoạt thôi ạ. Cho đến giờ phút này, vì là mới mẻ nên có những cái con biết nhưng con chưa hiểu được và chính vì biết mà chưa hiểu nên con lại càng hứng thú và có 1 cái gì trong cơ thể, trong tâm con muốn đến để tu tập.
Hôm nay con trực tiếp được kính bạch thầy và gặp gỡ tất cả các bạn đồng tu như thế này là con cảm giác từ những hôm trước, con đến được với khóa tu này con thấy hạnh phúc vô cùng. Để trả lời câu hỏi của thầy thì trong cuộc sống của mình, có nhiều lúc con sân hận. Sân hận vì chính bản thân con, về những người thân của con, về những người trong xã hội mà con cùng công tác, giao lưu, giao tiếp hằng ngày. Thế thì mỗi khi sân hận, con thấy trong tâm con, nơi vùng ngực con, tim đập rất nhanh, sân hận mà con muốn khóc nhưng không khóc được thì con cảm thấy có một sức ép nào đó ép vào cả thân con, con cảm thấy khó chịu vô cùng. Mỗi lúc con sân hận lên, nếu con buột được ra bằng lời nói của mình hoặc bằng một cử chỉ hành động của mình thì con cảm thấy nó nhẹ. Nhưng sau lúc đó con cảm thấy nước mắt muốn trào ra nhưng có những lúc trào ra được, còn có những lúc không.
Đấy là những cái đã qua, thế nhưng hiện tại bây giờ, con thấy rằng được mấy buổi sinh hoạt cùng với nhóm của cô Diệu Linh, con cảm thấy rằng đạo tràng Nikāya là một đạo tràng đang dẫn con đến một cái đích mà con chưa biết đích của nó là cái gì. Thế nhưng con cảm nhận rằng con đang đi trên một con đường mà con đường đấy nó làm cho con không sân hận nữa và làm cho con thoải mái hơn bất cứ một điều gì trong cuộc sống hằng ngày mà con tiếp xúc với người thân, những người xung quanh và con cảm thấy rằng cuộc đời của con đau khổ cũng có rồi, những cái tự hào của mình mà con hãnh diện cũng có rồi. Thế nhưng cái khổ của con trong cuộc sống hằng ngày vẫn còn, nhưng để nén lại được đau khổ và sân hận thì một phần nào đó con đã làm được.
Chính vì thế con rất thoải mái, con rút được kinh nghiệm những lúc mình sân hận như thế không đem lại cho mình 1 điều gì cả, mà chỉ đem lại cho mình những khổ đau thôi nên con sẽ không sân hận nữa. Mặc dù con chưa biết cái sân cái hận trong kinh Nikāya dạy điều gì, và kết quả đạt được như thế nào khi mình thành tựu được. Nhưng con thấy rằng không sân hận nữa thì mình hạnh phúc hơn, và cảm thấy lúc nào mình cũng khỏe hơn. Con cũng mạnh dạn chia sẻ với thầy và với các bạn trong khóa tu ngày hôm nay, khi con bị mắc bệnh hiểm nghèo, cách đây 4 tháng con phát hiện ra thôi, nhưng cho đến bây giờ con cảm thấy rằng mình vô tư bao nhiêu thì mình sống một cuộc sống hạnh phúc bấy nhiêu. Mình không sân hận nữa thì cuộc sống của mình hạnh phúc hơn.
Chính vì vậy, từ khi con mắc bệnh đến bây giờ, ngày hôm qua con khám bệnh viện thì bác sĩ đã chúc mừng con là trong cơ thể con không còn tế bào ác nữa. Bởi vì trong 4 tháng con mắc bệnh, con phẫu thuật, con từ chối điều trị hóa chất và con tự chữa bệnh. Thứ nhất con tin rằng con sẽ khỏe, sẽ khỏi và bắt đầu con ăn chay.
Chính vì thế, con nghĩ rằng hiệu quả mà thứ nhất không sân hận, thứ 2 nữa là coi người thân của mình là chính mình và tất cả những người xung quanh của mình cũng là chính mình, và con nghĩ rằng, cộng với sự ăn chay trường, con quyết định nguyện như thế thì trong tâm con cảm thấy rất thoải mái, thanh thản. Và có lẽ do thế, bệnh của con được bác sĩ chúc mừng con ngày hôm qua con cảm thấy rất hạnh phúc. Cộng với sự hứng khởi niềm tin của con đến với khóa tu này và được trực tiếp gặp thầy và các bạn đồng tu, chắc có lẽ mọi người cũng sẽ có những nỗi khổ, những nỗi vui buồn trong cuộc sống, nhưng mà con tin tưởng rằng, được tu và tu với niềm tin của mình thì sẽ hạnh phúc hơn. Con xin cảm ơn thầy và mọi người đã lắng nghe ạ.
2. Sư phụ dạy về sân tâm – an trú cảm giác toàn thân:
Chúng ta nhận diện các cảm thọ, các cảm giác từ sự an trú cảm giác toàn thân mà chúng ta vừa rồi thực tập hết sức quan trọng. Khi mình nổi giận lên, lồng ngực của mình nóng, có khi mình thấy giống như nó bốc cháy, hừng hực và chúng ta thấy nó hực lên tới trên mặt, tai, mắt. Mắt có khi mình giận quá nó lờ mờ luôn, lỗ tai có khi lùng bùng, gương mặt của mình là gương mặt đổi màu. Nếu chúng ta không thực tập nhận diện 5 uẩn, không thực tập quán chiếu cảm giác, an trú trong sự quán thọ trên thọ, thì lúc đó chúng ta sẽ bị cảm giác đó nó dẫn dắt mình, lôi kéo, lôi cuốn, xâm chiếm, áp đảo mình và hoàn toàn làm chủ mình. Và chúng ta thấy hằng ngày trên tin tức báo chí, đó chính là sự nguy hiểm và tác hại của cảm giá. Mỗi một ngày chúng ta đều nhìn thấy.
Tại sao khi một cảm thọ nóng giận sanh khởi lên là một cảm thọ thiêu đốt, bực bội, bứt rứt, cảm giác muốn phá hoại, hủy diệt những đối tượng nào nó cho là chướng ngại. Từ đó, chính cảm giác này giết người ta chứ không phải là đối tượng bên ngoài mà hại mình. Chúng ta thấy ngày nay, bao nhiêu những sự việc hết sức đau lòng, từ ở trong nhà ngoài phố đến xã hội hay thế giới. Chúng ta coi kỹ lại, tất cả có vụ án nào, có sự kiện nào đi ra ngoài cảm giác này không? Bây giờ cái tham lam đi cướp của giết người có phải từ cảm giác muốn hưởng thụ không? Rồi thù hận muốn trả thù cho hả dạ có phải cảm giác không? Rồi sự buông thả, thả trôi, trụy lạc, sa đọa của giới trẻ hiện này mình cũng thấy là từ cảm giác.
Chính vì vậy sự thực tập pháp thứ 2 là an trú cảm giác toàn thân, để nhìn ra sự sanh khởi, sự vận hành, sự dẫn dắt, đưa mình tới đau khổ. Và mình nhìn ra được tập Thánh đế, tức nguyên nhân của khổ. Trước giờ mình nói nguyên nhân của khổ là tham, sân, si mà tham, sân, si nó ở đâu mình không biết. Mình thấy là thấy cái đuôi của nó thôi, tức có khi giận lên rồi mới hay, mà khi hay rồi là chặn không kịp. Nhưng bây giờ mình an trú trong cảm giác toàn thân này thì sao? Một sự rục rịch, cục kịch, mấy động của nó mình có nắm bắt được không? Bây giờ nó sanh khởi lên một suy nghĩ bực bội, một cảm giác khó chịu, một hình bóng sân hận lên, mình nhận diện ngũ uẩn mình thấy rõ không quý vị?
Cho nên mình đã có một sự nhìn nhận lại thân tâm mình thường trực, liên tục, tập tành, từ từ nó trở thành một sự quen, khéo léo, thiện xảo rồi chỉ cần nó có một mầm mống, có một sự rục rịch, cục kịch, nhúc nhích ở bên trong sanh khởi lên là mình phát giác, phát hiện ngay lập tức. Còn ngay chỗ đó mình nhiếp phục, mình hóa giải, giải phá hình bóng đó thì như vậy mình diệt nó từ trong trứng nước. Nếu như chưa được, nó cũng giảm bớt được rất nhiều. Còn lúc trước mình hoàn toàn không biết, không biết đây là cảm giác, dẫn mình tới chỗ sân hận, thiêu đốt, đốt cháy, phân ly, chia ly, hủy diệt.
Mình không thấy được sự nguy hại và xuất ly của nó, thoát ra như thế nào, nguy hiểm, tác hại của cảm giác sận hận, bực bội, nóng bức, ray rứt này thiêu đốt, tại hại đến mức độ nào, mình không thấy nguy hiểm ra làm sao. Và mình cứ nhập cuộc với nó, một là mình bị đồng hóa, nhập cuộc là bị trong cảm giác, và bị cảm giác đó dẫn dắt, lôi kéo, xâm chiếm, áp đảo, và đưa mình tới khổ đau. Khổ đau cho mình và khổ đau cho những người thân thương nhất trong gia đình mình. Bình thường 1 tháng gây lộn mấy lần? Khai thiệt giùm coi, sao im re hết trơn vậy, mấy chú bên kia ngồi im re hết trơn vậy, không cự hả, một tháng cự mấy lần, có không, giận mấy lần.
Bây giờ sự tu học của mình, mình an trú trong các cảm thọ này, mình quán chiếu nó được thì mình sẽ có khả năng nhiếp phục nó được. Một người không biết tên tuổi, mặt mũi, tánh tình, không biết chiều hướng suy tư của họ ra sao làm sao mình có thể quản lý. Cũng vậy, mình không biết cảm thọ là gì, có mấy loại cảm thọ, trong các loại cảm thọ có cái gì tham, sân, si, hôn trầm trong đó mình không biết. Rồi mình không biết phương pháp để hóa giải, nhiếp phục, chuyển hóa, giải trừ, giải phá. Như vậy, Đức Phật gọi là vô minh, không sáng suốt, không nhìn thấy được chính mình.
Một thí dụ đơn giản, mình thấy chuyện đó không hài lòng, đúng ra mình la, nhưng giờ mình thấy trong này có một cảm giác không hài lòng. Mình mới nói nhẹ thôi, bây giờ mình học những bài hết sức cản bản, mình nói: “An tịnh đi”. Quý vị làm theo, đưa tay lên, đặt tay lên ngực, nói theo, mạnh mẽ lên một chút: “An tịnh đi, lắng dịu đi, dễ chịu, dễ thương”. Tập đơn giản vậy thôi, đó là những bài học hết sức căn bản khi bực mình, khi quạu quọ, khi muốn sân giận mình niệm câu đó lên. Mỗi câu vậy 3 lần. Mà nhớ, niệm tới đâu phải thấm thía vô cảm thọ mình, chứ không phải niệm ngoài miệng không, mà niệm ngoài miệng là mới khẩu hành thôi, rồi ở trong tâm mình mới có ý hành.
Giờ mình niệm làm sao nó qua tới dòng cảm thọ, đi vào trong tưởng uẩn là rõ ràng mình thấy có một cảm giác, thực sự lắng xuống, dịu xuống, trong tâm mình có một hình bóng, cảm giác lắng xuống, dịu xuống, an tịnh xuống rõ ràng, yên yên, lắng xuống. Mình cảm nhận được một cảm giác, mình nhớ mình tu cái này là mình khai thác cảm thọ, nhớ cái này quan trọng. Trong sự tu của chúng ta, thọ uẩn tuyệt đối quan trọng. Nếu mình chỉ nói trên miệng không thì nó không thấm thía gì vô tâm mình hết. Nên tại sao có người nói vô thường nhưng họ về họ sân si, tham lam, vì mới nói cái miệng thôi, chưa thấm vô các cảm thọ, chưa đi vào cảm xúc, chưa vào cảm giác, chưa thể nhập, thâm nhập, thấm nhập, chứng nhập. Nên đòi hỏi sự cảm thọ của mình hết sức quan trọng, muốn vậy, thứ nhất mình phải nhìn thấy cảm thọ.
Đầu tiên mình biết về nó, kế đó là nhìn thấy nó, sau đó huấn luyện nó, huấn luyện làm thay đổi cảm thọ, cảm giác. Vì trong này mình bỏ quên cảm thọ, cảm giác rất lâu rồi, mình cứ làm cho mình khổ, sân hận, bực bội, sầu đau mà mình nói là mình thương mình, thật sự là không có thương, mình đang hành hạ mình bằng những cảm thọ, cảm xúc. Mình thương mình là mình phải biết làm cho cảm giác của mình được nhẹ nhàng, an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào. Đó mới là thương mình.
Giờ quý vị thử nghĩ một người mà lúc nào cảm giác cũng dễ chịu, nhẹ nhàng, an tịnh, lắng dịu, quý vị nghĩ người đó hạnh phúc cỡ nào? Một người lúc nào cảm thọ cũng bừng bừng, phực phực cháy, một người lúc nào cảm thọ cũng gay gắt, hơn thua, thì quý vị thấy người đó khổ hay vui? Là khổ. Chính vì vậy sự tu tập là huấn luyện, sự nuôi dưỡng, tưới tẩm các cảm xúc, cảm giác của mình. Lúc nào cũng nhẹ nhàng, đi cũng nhẹ nhàng, nói cũng nhẹ nhàng, thậm chí lúc giận cũng nhẹ nhàng. Tại vì sao? Vì mình đã huấn luyện cảm thọ này rồi, dù khó chịu nhưng ở ngoài mình vẫn nói nhẹ nhàng. Còn cái kia mình không thực tập, nhiếp phục, không có sự điêu luyện, nhuần nhuyễn, thuần thục, hễ trong này nó ra sao thì ở ngoài nó bung ra như vậy. Còn cái này mình có sự chuyển hóa, giáo hóa, sự huấn luyện.
Quý vị thấy nội mình kềm được cảm giác sân này thôi, mình thấy bớt khổ nhiều không quý vị? Bớt rất nhiều. Cho nên sự an trú cảm giác toàn thân này là chúng ta phải dòm ngó, để ý, thường xuyên, luôn luôn. Đi mình cũng có cảm giác, có vội vàng không, có thúc giục không, có muốn mau mau lẹ lẹ, nhanh nhanh không? Rồi đi cầu thang mà cứ nghe điện thoại, rồi không để ý cảm giác đôi chân và toàn thân, cứ nói điện thoại, rồi có chuyện gì la lối trên điện thoại này kia, quên mình đang bước cầu thang, lúc đó chuyện gì xảy ra. Quý vi thấy không, nên biết tu của mình hay lắm, hay rất nhiều phương diện.
Khoan nói tới Niết-bàn giải thoát thâm sâu, nó giúp mình có một sự phòng hộ, bảo vệ, có một sự an toàn, tránh được những điều đáng tiếc xảy ra trong sinh hoạt hằng ngày, đi đứng ngồi nằm. Rồi khi mình nói chuyện cũng vậy nữa, nói chuyện có cảm giác không vậy thưa quý vị? Cứ nói cho đã đi, rồi một hồi có chuyện, khổ không? Cũng là cảm giác đó thôi, nhưng nếu mình nói Chánh Niệm, biết nói tới mức độ nào thôi, nhiêu đó đủ rồi đừng nói nữa, thì quý vị thấy mình kiểm soát trong lời nói, trong bước chân, trong hành động. Rồi trong suy nghĩ có cảm giác không? Ngồi một mình vậy đó rồi tự nhiên cảm giác, hình bóng gì đó hiện ra trong tâm. Có khi giận, có khi thương, có khi buồn, có khi ghét, thì trong đó nó cũng có cảm thọ ở trong, đó là pháp trần, là những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ bên trong. Mình có cảm giác, sự an trú trong tâm nên phát hiện ra cái này không được, cái này bất thiện pháp, ác bất thiện pháp. Làm cho nó lắng dịu, đừng đi theo cảm thọ này nữa, xả cảm thọ này ra, buông nó xuống, tác ý cho cảm thọ này tan biến. Rồi mình trở lại cho nó an tịnh, lắng dịu, dễ chịu. Nhớ câu hồi nãy rất quan trọng trong sự thực tập.
Mình an trú cảm giác toàn thân như vậy thì mình chăm sóc cho cảm giác của mình, một ngày quý vị ăn cơm mấy lần, ăn mấy buổi, ngày ăn 3 buổi, ngày chăm sóc cảm giác mấy lần? Phải không? Cho nên cái ăn là nuôi thể xác, còn sự thực tập, thiền tập là cái nuôi tinh thần, tâm linh. Mình chỉ nuôi thể xác không mà tâm mình không lo, tâm mình tiều tụy, ốm yếu, bị bệnh, gọi là tâm bệnh. Cho nên bây giờ sự tu của mình là trở về chăm sóc cảm thọ cũng là tâm – một phần của tâm, cảm giác. Mình tập an trú trong một cảm thọ nhẹ nhàng, an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, dễ thương, ngọt ngào.
3. Lạc thọ - tham:
Vừa rồi trong khóa tu Nikāya ở Sài Gòn, có cô Phật tử không biết cổ nói cảm thọ vui, cảm thọ khổ, cảm thọ không vui không khổ thì cổ biết, mà cảm thọ ngọt ngào là sao vậy thầy, con không biết, con không thấy nó ngọt ra sao. Minh Thành có giải thích rất đầy đủ, quý vị đoán coi cảm thọ ngọt ngào là gì? Quý vị sẽ thấy được là cảm thọ của mình, mình phải làm cho nó ngọt ngào, cảm giác của mình phải làm cho nó bình an, để không thôi trong này nó cứ thúc giục hoài, 3 đồng, 5 đồng, 7 đồng cũng thấy chưa đủ, 100 đồng cũng không đủ, 1.000 đồng cũng không đủ. Trong này nó thúc giục, làm cho mình chạy hoài, cuối cùng làm cho nó sụp xuống 1 cái hố, quý vị biết cái hố đó không? Biết không? Bề dài 2 thước, bề ngang 1 thước.
Chứ giờ nó thúc giục trong này, cứ chạy hoài như vậy, chạy tới chừng sụp hố rồi lúc đó mới nằm chứ còn không dừng lại được, cũng là một cảm giác của dục tham. Đức Phật gọi thân này là thiếu thốn, khát khao, nô lệ cho tham ái. Bản chất của thân này là thiếu , khát khao, nô lệ cho tham ái. Quý vị hỏi người giàu nhất trên hành tinh này, người đó đủ chưa? Chưa, vẫn thiếu thốn. Bản chất của ngũ uẩn này là thiếu thốn, là khát khao.
Mình ăn đã 40 năm nay rồi, 50 năm rồi mà giờ vẫn còn thèm ăn không? Đó là khát khao. Đức Phật nói không sai được, là nô lệ cho tham ái. Mình là nô lệ, là đầy tớ. Không phải ai, mà chính là tâm tham muốn, ưa thích của mình làm nô lệ cho nó, nó sai đâu mình nghe đó, nó điều khiển suốt cuộc đời mình. Khi mình tu tập cảm giác mình mới thấy, nếu không tu tập nói cái này ra mình khó biết. Khi thực tập quán chiếu cảm giác rồi mình sẽ thấy từng sự thúc giục của nó, chút xíu chúng ta thực hành chánh quán thọ thực để mình thấy cái dục, cái ái, cái tham trong khi ăn.
Một sự thúc giục bên trong, gắp lẹ, gắp nhanh, nhai mau, nuốt lẹ, trong này nhai chưa hết là múc muỗng thứ 2 chờ sẵn, mà có khi nhai đến nỗi sặc. Không thôi, uống sặc, làm cái ọt rồi sặc, một hơi một hết nguyên ly. Tức là trong này một sự thúc giục, sự tham muốn, sự khao khát, muốn thêm. Cho nên nhiều chuyện lạ lắm, ăn nhiều thì lên cân, giờ ăn cái gì cho làm sao ăn nhiều mà để đừng lên cân? Thuốc giảm cân bây giờ đắt lắm. Quý vị thấy như thế nào? Đức Phật sẽ chỉ cho mình thấy hết những cái gì hoạt động, những sự vận hành, dẫn dắt của các dòng cảm thọ, cảm xúc, cảm giác bên trong. Và chính nó hành hạ mình, đày đọa, sai khiến mình, mình làm nô lệ cho nó suốt đời suốt kiếp.
Thân này là thiếu thốn, khát khao, là nô lệ cho tham ái, mỗi khi lòng tham nổi lên mà không đúng pháp, đọc câu này lên, đọc lên 10 lần, 20 lần “Thân này là thiếu thốn, là khát khao, là nô lệ cho tham ái mà mày cứ đòi hỏi hoài, khát khao, tham muốn hoài mà không biết chán? Mệt mỏi chưa? Mệt mỏi hay sao? Chạy đuổi hoài, tìm kiếm hoài, tìm kiếm mấy chục năm rồi, thỏa mãn chưa? Không thỏa mãn”. Cho nên chúng ta sẽ nhìn ra được cảm giác tham dục, cảm giác sân hận, rồi cảm giác bản ngã, cái tôi, mình sẽ nhìn ra được, hay lắm, tuyệt vời lắm. Mình sẽ nói: “Ô”! Mình ồ một cái, nước mắt mình sẽ trào tuôn ra, thì ra từ xưa đến nay mình hiểu lầm ai làm mình khổ, không có ai làm cho mình khổ hết, chính cảm giác thúc giục, ham muốn này, cảm giác truy tầm, đuổi rượt, khao khát này, chính cảm giác này làm cho mình mệt mỏi, tiều tụy, khổ đau.
4. Tác ý đánh đuổi các dòng cảm thọ:
Rồi mình sẽ ngồi lại, sống trong một cảm giác an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, mình sẽ hưởng được thiên lạc, niềm vui của cõi trời, niềm vui một sự bình an, lắng dịu, an tịnh, tuyệt vời khi mình nhiếp phục được các cảm thọ. Mình sẽ không làm con rối để cho các cảm thọ, các dục này nó giật dây nữa, mình sẽ không làm một người máy để cho cái dục tham trong này điều khiển, điều hành mình nữa, phải giành lại quyền làm chủ thân tâm, kiểm soát các cảm thọ, cảm xúc. Mình sẽ ngồi bình yên trên giường, trước sân nhà mình, không cần phải tìm kiếm một cái gì nữa, mà mình thấy một sự đại bình an và hạnh phúc của thân tâm.
Cảm giác ơi, cảm giác ơi, ta đã khổ đau với ngươi rất nhiều rồi. Hỡi này những cảm giác thúc giục, hỡi này những cảm giác tham muốn, thèm thuồng, khao khát kia, ta đã chảy bao nhiêu dòng nước mắt, bao nhiêu giọt máu, bao nhiêu mồ hôi, bao nhiêu sự thống khổ, khổ lụy, sự đày đọa, hành hạ trong vô lượng vô biên kiếp vừa qua. Nay ta đã thấy mi rồi, ta không làm nô lệ cho mi nữa. Ngươi hãy tan biến trong thân tâm ta, hãy tan biến hoàn toàn thành mây, thành khói, thành hư không, hãy chấm dứt hoàn toàn những cảm giác thúc giục, khao khát thèm muốn này. Hãy chấm dứt diệt tận một cách hoàn toàn, chấm dứt tan biến và diệt tận một cách hoàn toàn thành hư không đi, thành mây khói đi, để cho ta được bình an.
Ta sẽ không làm nô lệ, không làm con rối cho ngươi nữa, ta sẽ không làm đầy tớ cho dục, tham, ái này nữa. Ta phải làm chủ thân tâm của ta, ta sẽ chăm sóc, tưới tẩm, nuôi dưỡng các dòng cảm thọ an tịnh, lắng dịu, hiền từ, từ ái, bi mẫn này. Ta sẽ phát huy một tình thương rộng lớn, tràn ngập, bao la, ta sẽ không nghe lời của những cảm giác sân hận, si mê, bản ngã này nữa. Ngồi một cách bình an trước sân nhà, không cần phải chạy đi tìm một cái gì nữa. Mà hạnh phúc, sự an lạc, an lạc, tịnh lạc, màu nhiệm, ngay tại chỗ ngồi này.
Chúng ta thực hành cảm giác toàn thân lợi ích như vậy, công năng, tác dụng như vậy. Phương pháp thứ 3 là thực hành nội tâm tỉnh giác, tức nãy giờ chúng ta cũng đã có nói qua. Tức trong tâm của mình, mình rõ biết các cảm thọ sanh khởi, các hình bóng, suy nghĩ gì sanh khởi. Nếu như những cảm thọ của thiện pháp, của trí tuệ, của từ bi thì mình phát huy, tăng trưởng, phát triển, tu tập, làm cho nó quảng đại, sung túc, viên mãn. Còn nếu như những suy nghĩ, những cảm giác, những hình bóng ác bất thiện pháp liên hệ đến tham, sân si, bản ngã thì lúc đó mình hãy tác ý như nãy giờ chúng ta tác ý, mình đánh đuổi nó ra, không chấp nhận nó nữa. Giống như trong nhà mình dơ, có rác thì mình phải hốt đổ ra, trong nhà có con rắn hổ mang mình phải đuổi nó ra, không lẽ mình nằm đó ngủ sao, phải đuổi nó ra.
Cũng vậy, không phải chỉ tham biết tham, chỉ sân biết sân, chỉ si biết si, không phải. Biết bằng trí tuệ để đánh đuổi nó ra, chứ không phải biết rồi để đó, không phải. Chúng ta ví dụ, mình đang ngủ, có cái bóng gì lờ mờ lờ mờ thò vô gần giường mình, mình dòm kỹ, rọi đèn vô thì là rắn hổ mang, mình nằm đó nói thôi kệ, rắn biết rắn, rồi nằm ngủ tiếp hay sao? Hay phải đuổi ra, đuổi ra rồi mình mới nằm ngủ yên phải không? Cũng vậy, giờ mình biết sân, thôi kệ, biết sân, không phải. Chữ biết đó là tuệ tri, biết bằng trí tuệ, Minh Thành đã có giảng giải trong bài kinh Tứ Niệm Xứ mới trong khóa tu vừa rồi, quý vị lên coi kỹ, bài kinh Tứ Niệm Xứ này rất quan trọng, mới 7 ngày chia sẻ quán thân, quán thọ, quán tâm, còn pháp là chưa.
Chúng ta sẽ thấy chữ tuệ tri – biết bằng trí tuệ này, nó là cả một khẩu quyết, 2 chữ tuệ tri đó thôi là cả một lộ trình tu tập. Trong đó gồm Chánh Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh Tinh tấn, nó gồm Bát Chánh Đạo trong đó. Sau khi mình biết sự tác hại, nguy hiểm của con rắn độc mình phải đuổi nó chứ, phải dùng mọi phương tiện, la lên. Mình dùng mọi phương tiện, la lên, nghĩ cách đuổi, đó gọi là Chánh Tư duy. Khi mình dùng mọi phương tiện, nỗ lực, làm cho nó đi nhanh, đó là Chánh tín. Khi nó ra khỏi, tâm mình bình an là Chánh Định. Thành ra Bát Chánh Đạo xuyên suốt tất cả mọi lúc mọi nơi trong cuộc sống mình chứ không phải lúc nào mình tu lúc đó mới sử dụng Bát Chánh Đạo.
Như vậy, nội tâm tỉnh giác là vậy, là nhìn thấy được tham, sân, si, những cái nguy hiểm, tác hại, mình phải ngay lập tức đánh đuổi nó ra. Bây giờ người ta bưng ly cà phê sữa cho mình, mình rất thích uống, nhưng có người lại, nói nhỏ: trong này có hóa chất, có chất độc, dám uống không quý vị? Tại sao mình không dám uống, mình biết nó độc hại, nguy hiểm, biết uống nó có thể tử vong vì nó có thuốc độc trong đó. Như vậy trong tâm mình mình nói là tam độc mà sao vẫn chất chứa nó? Vì mình chưa thấy nó độc. Khi nào mình thấy cái tham, sân, thấy bản ngã, si mê, mà mình thấy sợ nó, không chấp nhận, không để nó trong tâm, thấy nó phải quét liền, thấy nó đuổi liền giống như rắn độc vậy. Lúc đó mình mới thành tựu Chánh Tri Kiến viên mãn. Tại sao có người giận mấy tháng rồi chưa hết giận? Vì người đó đâu thấy tác hại, nguy hiểm như thế nào.
Cho nên chúng ta tu tập Chánh Kiến là vậy, thấy đúng trong thân tâm mình, nhờ công năng của sự thực hành cảm giác toàn thân, Như Lý Tác Ý tác động tâm ý để mình tu. Như vậy, sáng hôm nay chúng ta đã trải qua 1 buổi pháp thoại, kế đó là thực tập thiền, rồi chúng ta tụng một thời Căn Bản Trí, rồi chúng ta nói nguyên nhân, lợi ích, mục đích của thực hành 3 pháp, vừa lý thuyết vừa thực hành. Tới giờ này chúng ta đau cẳng, cảm thọ khổ thọ rồi cho nên cần thiết thay đổi oai nghi. Trong vài phút chúng ta sẽ thư giãn rồi Chánh quán thọ thực, quý thầy sẽ hướng dẫn quý vị. Tới giờ cơm là giờ tu, để cho quý vị thấy như cảm giác mà nãy giờ chúng ta nói.
-Thích Minh Thành-
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Chia sẻ - nhận diện ngũ uẩn: PAGEREF _Toc75504355 \h 1
II. Thọ uẩn: PAGEREF _Toc75504356 \h 4
1. Tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ: PAGEREF _Toc75504357 \h 4
2. Những dòng cảm thọ thiêng liêng: PAGEREF _Toc75504358 \h 5
3. Nhận diện cảm thọ: PAGEREF _Toc75504359 \h 6
4. Đường lối tu hành đúng đắn: PAGEREF _Toc75504360 \h 8
III. Chia sẻ - khuyến tu: PAGEREF _Toc75504361 \h 9
IV. Thực hành ba pháp: PAGEREF _Toc75504362 \h 11
V. Sự chứng ngộ của Đức Phật – Năm uẩn: PAGEREF _Toc75504363 \h 14
VI. Sân: PAGEREF _Toc75504364 \h 16
1. Phật tử chia sẻ - vượt qua căn bệnh hiểm nghèo: PAGEREF _Toc75504365 \h 16
2. Sư phụ dạy về sân tâm – an trú cảm giác toàn thân: PAGEREF _Toc75504366 \h 18
3. Lạc thọ - tham: PAGEREF _Toc75504367 \h 22
4. Tác ý đánh đuổi các dòng cảm thọ: PAGEREF _Toc75504368 \h 23
I. Chia sẻ - nhận diện ngũ uẩn:
Đây là thời khóa thông thường của khóa tu Nikāya 7 ngày trên núi Linh Quy Pháp Ấn. Chúng ta thấy thời khóa tu tập rồi ha, rồi chúng ta lật trang 21 là Thanh Quy đạo tràng. Nhóm của chúng ta tới đây đủ chưa các cô hay là còn nữa? Còn một số người nữa phải không? Dạ vâng, trong thời gian chờ đợi mình xem trước Thanh Quy đạo tràng để khỏi uổng thời gian. Phước duyên của đạo tràng chúng ta là quý thầy đem thùng kinh vừa cho đạo tràng mình thôi còn các đạo tràng khác không có. Vì mình di chuyển tới 3, 4 chỗ mà quyển này mới vừa tái bản, có thêm phần mục đích của tập sách. Tức nói cho mình biết ý nghĩa, giá trị của sự tuần pháp tu học trong đây, còn quyển trước không có phần này. Bây giờ chúng ta đọc phần Thanh quy đi, mọi người cứ đọc chậm chậm.
Xin thưa với quý sư cô, quý Phật tử, đúng ra khóa tu của chúng ta phải vài ngày chứ một ngày thì chưa đủ. Chính vì vậy mà mình tận dụng thời gian của một ngày thôi, coi như giờ này là giờ chúng ta tìm hiểu, giao lưu chứ xong khóa tu Minh Thành sẽ đi về Hải Dương liền với đạo tràng Nikāya ngoài đó. Thành ra trong thời gian chờ đợi, cô Linh tới thì mình tìm hiểu và chia sẻ. Các Phật tử đã được học gì rồi? Biết thực hành 3 pháp chưa? Biết thế nào là rõ biết ở trước mặt, cảm giác toàn thân và nội tâm tỉnh giác, biết chưa? Chưa biết ha, để quý thầy biết mà hướng dẫn trong khóa tu này.
Bây giờ 2 vấn đề quan trọng và căn bản nhất mà mình phải nắm thật vững là thực hành 3 pháp và nhận diện 5 uẩn. Như vậy mình phải nắm được 2 phần. Con thưa sư cô, sư cô nắm được thực hành 3 pháp chưa? Hay là mới luôn? Hai pháp tuyệt đối quan trọng nếu không nắm được 2 pháp này thì sự tu học của mình sẽ không đi đến đâu hết, chỉ ở trên suy tưởng. Đó là thứ nhất phải thực hành được 3 pháp, tức biết cách ngồi thiền, vì mình tu thiền mà không biết cách ngồi thiền làm sao mà tu? Thứ 2 là phải nhận diện được 5 uẩn, mấy cô nhận diện được chưa? Chắc không? Thôi giờ mời cô chia sẻ thử, không sao, bây giờ mời cô chia sẻ thử nhận diện 5 uẩn ngay lúc này coi sao, trong thời gian chờ đợi mình tu mót đi. Đừng giở tập, giờ cô nhận diện 5 uẩn thử, để Minh Thành biết được sự tu học của mình tới đâu để khóa tu này có kết quả, cô cứ chia sẻ.
Phật tử: dạ con kính bạch thầy, con kính bạch sư cô cùng toàn thể đại chúng, 5 uẩn là sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Sắc là do Tứ Đại tạo thành, thọ là cảm giác, cảm xúc còn tưởng là hình bóng, thức là sự rõ biết.
Sư phụ: Bây giờ nói lại, thọ là gì? Có mấy loại cảm thọ?
Phật tử: Thọ là cảm giác, cảm xúc, có 3 loại cảm thọ: cảm thọ lạc, khổ và bất lạc bất khổ.
Sư phụ: Tưởng là gì?
Phật tử: Tưởng là hình bóng trong đầu, hành là lời nói lầm thầm trong tâm, thức là sự rõ biết.
Sư phụ: Ngay bây giờ cô nhận diện 5 uẩn được không?
Phật tử: Dạ, con thưa thầy hiện tại cảm thọ của con có hơi run, cái này thuộc về thọ khổ, trong thọ khổ đấy có cả thọ lạc nữa, có nghĩa là sự hoan hỉ, sự thành kính. Hôm nay con cảm thấy rất hân hạnh, thật là quý báu khi dự sự tu học do thầy giảng dạy cùng toàn thể đại chúng đây ạ. Còn tưởng là có hình bóng của thầy cùng toàn thể đại chúng và tất cả xung quanh đây.
Sư phụ: Tưởng là hình bóng trong tâm, cô thấy trong tâm cô có hình bóng gì không ngay giờ phút này? Nhắm mắt lại.
Phật tử: Dạ thưa, trong tâm con có hình bóng của thầy, còn hành là …
Sư phụ: Hành là sao? Bây giờ con có suy nghĩ gì? Cứ bình tĩnh, từ từ khép mắt lại xem kỹ bên trong có ý hành gì?
Phật tử: Dạ thưa thầy, trong tâm con những lời nói của thầy thật là quý báu và ý nghĩa, đấy là hành của con, hành là rõ biết sự vận hành của những uẩn trên.
Sư phụ: Biết được thọ, tưởng, hành, biết được cảm giác, hình bóng và suy nghĩ. Vậy là tốt rồi, cho một tràng pháo tay.
Phật tử: Con xin tri ân thầy, con xin tri ân quý sư cô và toàn thể đại chúng đây ạ.
Sư phụ: Con mời các chú, các huynh.
Phật tử: Con thưa thầy cùng toàn thể đại chúng. Trong quá trình tu học một thời gian ngắn thì bây giờ mới được gặp thầy con cũng có những hiểu biết sơ lược về năm uẩn, con xin trình bày ạ. Thứ nhất, tại thời điểm hiện tại, con nhìn thấy áo thầy màu vàng, các đại chúng ở đây mặc nhiều màu áo khác nhau. Khán phòng bố trí nhiều thứ và con đang ngồi trên sàn rất vững chắc. Con cảm giác được không khí rất trầm mặc và cảm giác mình cảm thấy yên bình, đấy là cảm thọ của con, thọ đấy là thọ lạc kèm theo một chút run run, con thấy đấy là cảm thọ của khổ. Con chưa thấy cảm thọ của sự không lạc không khổ, tức cảm giác chung chung là không thấy. Sắc thì con nhìn thấy khung cảnh như thế, còn thọ như vậy, tưởng thì trong đầu duy nhất là hình bóng của thầy, một chút hình bóng của mẹ, bây giờ mẹ được ngồi đây thì hay biết mấy. Những suy nghĩ, hành là ví dụ cả nhà mình ngồi đây, được nghe thấy thì hay biết mấy, duy nhất chỉ suy nghĩ đó thôi. Còn quá trình thì con nhận biết thức từ đầu đến cuối thì con nghĩ đấy là thức. Dạ, con cảm ơn thầy cùng toàn thể đại chúng ạ.
Sư phụ: Tốt lắm, rất tốt, coi như nãy giờ mình ôn bài, bài thu hoạch của mình trong thời gian học tập thì qua. Có huynh nào chia sẻ nữa không? Có ai muốn nhận diện ngũ uẩn nữa không ạ? Dạ vâng, mời cô.
Phật tử: Con thưa thầy, ngũ uẩn của con hiện tại là con đang thấy thân con ngồi nghiêm chỉnh, chân khoanh vào, đấy là sắc uẩn của con. Còn thọ của con là con thấy trong tâm đang có một sự hân hoan, hoan hỉ rất lớn, con thấy hình bóng của cảm thọ này đó chính là có sự lâng lâng ở phần bụng con ạ, thì con thấy đây là hình bóng của cảm thọ đấy. Đây là cảm thọ lạc và đồng thời con có cảm thọ ngoài thân là run, đấy là cảm thọ của thân. Còn về tưởng của con hiện tại do mắt của con đang nhìn trực tiếp hình ảnh của thầy và sắc trần nên tưởng của con đang là tưởng rỗng không ạ. Và hành của con hiện tại cũng không khởi niệm nào hiện lên ở trong đầu, sự rõ biết cảm thọ ngoài thân và trong tâm. Sự rõ biết của tưởng và sự rõ biết của cái hành này đấy là thức của con. Con xin hết ạ.
Sư phụ: Tốt. Con thưa sư cô, học phần định nghĩa ngũ uẩn chưa? Cô có học phần định nghĩa I: ngũ uẩn chưa? Dạ cô nhớ không, con mời cô.
Sư cô: Kính bạch thầy, ngũ uẩn con bạch thầy, trong kinh nói gồm có 5 phần ngũ uẩn, con cũng mới học sơ sơ, con bạch thầy là con cũng chưa thuộc lắm.
Sư phụ: Cô cứ nhớ và nói, không sao, mình sinh hoạt mà.
Sư cô: Dạ vâng, con rất run nên hôm nay con đến đây con được gặp thầy, con thấy tâm mình được mở rộng ra một chút để con nhìn nhận lời Phật dạy rõ hơn. Về ngũ uẩn thì con cũng không nhớ lắm, con bạch thầy là như vậy ạ.
Sư phụ: Dạ vâng, cám ơn sư cô. Giờ quý Phật tử có biết tham, sân, si ở đâu không? Trong uẩn nào không? Truyền micro cho cô.
Phật tử: Dạ con kính bạch thầy, kính bạch sư cô cùng toàn thể đại chúng. Tham, sân, si là ở uẩn thọ ạ, do sự tiếp xúc tạo nên.
II. Thọ uẩn:
1. Tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ:
Mình nói phần thọ đó là tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ, chỗ đó là chỗ quy tụ mình thấy rõ nhất nhưng nó vẫn có trên sắc, khi mình giận mặt mình có đổi màu không? Trong tâm tưởng mình có hình bóng của cơn giận đó không – người mà mình giận? Rồi những suy nghĩ đó có giận không? Thức lúc đó biết đang giận không? Thành ra nó trong ngũ uẩn hết, nhưng vì cảm thọ là chỗ hội tụ, gắn liền giữa thân và tâm mình thấy rõ nhất nên mình gọi nó ở nơi cảm thọ, mình phải hiểu ý đó. Vì hình bóng trong tâm mình phớt qua rồi mất, suy nghĩ chút xíu rồi mình quên, nhưng cảm thọ có khi suốt đời mình không quên một cảm giác nào đó. Mình tiếp xúc người đó rồi quên, cảnh vật rồi cũng đi theo năm tháng, những lời nói rồi cũng gió thoảng mây bay nhưng những cảm xúc, cảm giác có thể suốt đời mình không quên.
Thành ra thọ uẩn là chỗ quy tụ, hội tụ, là kho chứa của tất cả các pháp trong ngũ uẩn nên mình muốn biết trong thân tâm mình còn gì trong đó, chỉ cần nhìn vô thọ nó sẽ hiện lên rõ hết. Ví dụ mình thấy cảm thọ này phơi phới, dễ chịu nhưng mình coi cảm thọ dễ chịu, cảm thọ lạc này, cảm giác vui này là pháp hay không phải pháp, nó liên hệ đến dục lạc hay Chánh pháp? Hai cảm thọ này cũng là lạc thọ nhưng 1 cái của thế gian, 1 cái của đạo Pháp. Cái của đạo pháp mình phát huy, cái của dục lạc mình nhiếp phục, hạn chế, giảm bớt từ từ.
Trong sự tu học về ngũ uẩn chúng ta tuyệt diệu và vi diệu lắm. Vì đây là những lời dạy gốc của Đức Phật, mà ngũ uẩn là thân tâm mình. Sự tu học là sự tìm hiểu lại thân tâm mình, trước nay không hiểu mình toàn đi tìm ở ngoài, giờ hiểu đúng theo lời Đức Phật dạy mình sẽ nhìn thấy được sự thật đang diễn ra bên trong và bên ngoài mình. Nên bước quan trọng nhất của chúng ta là phải nhận diện được ngũ uẩn. Nếu không nhận diện được ngũ uẩn thì sự tu, sự học của mình chỉ là tri thức hoặc là trên suy tưởng.
Chúng ta thấy phần nhiều mình tu trên cái hành và tưởng nhiều hơn. Mình tu là thường thường mình nghĩ tưởng chứ chưa đi vào tới cảm thọ sâu sắc để mình cảm xúc được với cái khổ của đời sống. Mình cảm xúc được, chạm được với sự vô thường của ngũ uẩn, mình chưa chạm tới được một cảm giác trống rỗng của thân tâm này nên sự tu mình là xoáy sâu vô cảm thọ. Vào trong cảm thọ đó mình mới có thể thẩm thấu, thể nhập, xuyên thấu, thâm nhập, chứng nhập trí tuệ trong đó. Nên tất cả những pháp quán của chúng ta là khai mở cảm thọ, đi sâu vào cảm thọ khai thác tầng sâu sắc, sâu thẳm, đi sâu của các dòng cảm thọ, cảm xúc của mình bên trong.
2. Những dòng cảm thọ thiêng liêng:
Chính vì vậy nếu Phật tử có xem đạo tràng Nikāya mà tu thì quý vị thấy khóc nhiều lắm. Quý vị có xem không? Quý vị thấy rằng đạo tràng gì mà khóc không vậy? Nhưng mà không phải, khóc đó là những giọt nước mắt của hạnh phúc, những giọt nước mắt của sự tiếp xúc với sự thật, khóc đó là những giọt nước mắt vỡ òa ra trước một sự thật mà mình đã bị che giấu nhiều đời nhiều kiếp. Bây giờ mình mở được con mắt trí tuệ ra để nhìn thấy, lúc đó sẽ có những sự cảm xúc hết sức sâu sắc. Như vậy, những dòng nước mắt tuôn ra là trí tuệ, chạm tới chân lý, là tình thương, sự cảm thông, nhìn thấy được chính mình.
Cho nên tu học trong dòng pháp này quý vị đừng sợ chảy nước mắt. Khi mình thiền quán về bất tịnh, thiền quán về vô thường, đau khổ, trải tâm từ mà quý vị được tuôn nước mắt thì cái đó tốt lắm. Tức các dòng cảm thọ của quý vị nó sẽ được mở ra dần dần. Có một Phật tử vừa rồi tu ở chùa Hoằng Pháp, vị này mới tu gần đây chứ không phải tu lâu, vị này khóc nức nở, nói rằng trước kia tâm con chỉ thương gia đình mình thôi, chồng con, anh em, bà con, cha mẹ con thôi, nhưng sau khi thực tập theo Đức Phật dạy trong kinh tạng Nikāya và trải tâm từ rộng lớn, bây giờ con thấy tình thương của con lan tỏa, rộng lớn ra. Một sự bi mẫn lan tỏa, mà khi quán về nỗi khổ của miền Trung, cô xúc động rất bi thương, đau xót giống như người thân trong gia đình mình, tức lòng từ đã được tưới tẩm, nuôi dưỡng, tăng trưởng, phát triển, quảng đại.
Cho nên mình tu, Đức Phật dạy mình trong kinh tạng Nikāya tu tập tâm từ, lập tới lập lui nhiều lần cho đến khi nào tâm từ mình vững chắc, kiên trú, thành cổ xe, thành căn cứ địa. Lúc đó lòng sân hận của mình sẽ giảm, và gần như tê liệt, và ở đâu mình cũng nhìn thấy một tình thương lan tỏa rộng khắp. Vì tất cả toàn là ngũ uẩn, toàn là tham lam, sân hận, si mê, vô minh, chấp ngã nên tâm từ của mình sẽ được rộng mở. Mà cái rộng mở quan trọng nhất là thương mình trước, rồi sẽ thương được người. Thương mình là thương cái vô minh của chính mình, thương sự tham dục, sân hận, bản ngã của mình. Chính cái đó làm cho mình khổ mà hồi đó giờ mình không thấy, tưởng rằng người ta làm cho mình khổ.
3. Nhận diện cảm thọ:
Tới khi mình thấy được những dòng suy nghĩ, những dòng cảm giác, những hình bóng thúc giục, đốt cháy bên trong, những hình bóng xâm chiếm, ám ảnh bên trong làm mình đau khổ. Mình thấy được rồi mới hết sức thương mình, thật sự mình thương mình rồi lúc đó mới bắt đầu khởi động được tâm từ bên trong mình. Trước kia nghĩ rằng mình từ bi, nhưng cái đó nó chưa phải là từ bi thực sự. Còn bây giờ mình thấy được ngũ uẩn, thấy được nỗi khổ niềm đau của mình và của hữu tình, thấy được tai hại nguy hiểm, ác độc của tham, sân, si và bản ngã. Thấy được rồi mới nhận ra mình là kẻ đáng thương nhất, và tất cả chúng sanh trong đó gồm có anh chị em, ông bà, cha mẹ, cô bác, chú dì của mình là những người đáng thương hết.
Chúng ta bị tai nạn, bị làm hại, không phải do ai khác mà chính những tâm đó hại mình, tâm thúc giục bên trong, tâm nóng giận đốt cháy này hại, tâm mê mờ, không thấy rõ pháp, không thấy rõ ngũ uẩn, sự sanh khởi các cảm thọ, các tưởng, của các ý hành, suy nghĩ, không thấy rõ. Và như vậy nó dẫn dắt, xâm chiếm, áp đảo, ám ảnh mình khổ đau. Nên chúng ta bị 5 uẩn ám ảnh, có những hình bóng mình nghĩ về là mình đau khổ, nghĩ về những người khiến mình đau khổ. Đó là bị sắc ám ảnh, hình bóng đó cứ chập chờn ám ảnh mình hoài. Có người giận 5 năm, 10 năm, mà mỗi lần nhớ tới người giận là lúc đó đau khổ, đó là bị sắc ám ảnh, bị cảm giác sân và thọ ám ảnh, hình bóng của người đó là tưởng ám ảnh, bị suy nghĩ đó là hành ám ảnh, rồi bị nhận thức trong đó đi ra không được là thức ám ảnh.
Trong phần Tương Ưng Uẩn, Đức Phật nói sắc ám ảnh, thọ ám ảnh, hành ám ảnh, thức ám ảnh, tất cả chúng sanh bị ám ảnh và đau khổ. Chúng ta tu cái này để nhìn thấy ra được hết tất cả những sự ám ảnh, những cảm giác, dòng suy nghĩ đó để mình có thể thấy rõ chúng, thấy rõ sự nguy hiểm và tác hại của chúng để nhiếp phục và từ từ rời xa, không chấp nhận cho nó ở trong căn nhà nội tâm mình nữa. Mình đuổi nó, quét nó, quăng nó ra ngoài thì mình sẽ có một căn nhà nội tâm trong sạch. “Nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm”. Và nội tâm của chúng ta là một nội tâm thanh tịnh, an lạc, hạnh phúc chứ không phải ai cho mình được hết mà chính mình dẹp những nguyên nhân làm cho đau khổ hết, lúc đó mình được bình an, hạnh phúc. Chúng ta thấy hết sức nhân quả, hết sức khoa học, rõ ràng và thực tế.
Bây giờ một cảm giác đang đốt cháy trong lòng ngực mình, mình có thấy hạnh phúc không, có không quý vị? Bực bội, nóng bức, sân hận trong này. Đức Phật nói rất rõ, có một Bà-la-môn tới hỏi, giáo pháp của ngài là thiết thực hiện tại, thực tế, ngay lập tức có hiệu quả liền, vậy thế nào là thực tế, thế nào là ngay lập tức có hiệu quả liền? Đức Phật nói ông sanh khởi lên sân là hạnh phúc hay bất hạnh? Ông nói dạ đó là bất hạnh. Bây giờ ông dập tắt cảm thọ sân hận, tâm ông hạnh phúc, mát mẻ, đó là hạnh phúc hay bất hạnh. Ông trả lời đó là hạnh phúc. Đức Phật nói đó là thiết thực hiện tại, giáo pháp của Ta phi thời gian, ngay lập tức nhiếp phục được cảm thọ, hóa giải được cảm giác đó thì ngay lập tức mình có được sự an tịnh, hạnh phúc, mát mẻ.
Giờ quý vị giận ai, lúc đó có vui không? Bây giờ mình xóa tan cảm giác giận đó, được mát mẻ, lúc đó mình được an vui không? Thiết thực không? Có hiệu quả tức thời không? Không phải trải qua thời gian. Đức Phật là bậc trí tự mình giác hiểu, bậc trí tức là bậc nhìn thấy được ngũ uẩn. Còn không thấy ngũ trong mình, đi dòm người ta thôi thì như vậy không phải là bậc trí nên đầu tiên phải thấy được ngũ uẩn trong mình.
4. Đường lối tu hành đúng đắn:
Muốn thấy được ngũ uẩn trong mình phải có người hướng dẫn đúng phương pháp, mình thực tập một cách chuyên cần, kiên trì, bền trí, vững tin; thực tập một cách nghiêm túc, chuyên cần, để tâm, cố gắng theo Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ý Túc của Đức Phật thì từ từ sẽ nhìn thấy rõ được thân tâm mình, kiểm soát và chế phục được thân tâm mình. Và sự hạnh phúc hay đau khổ mình sẽ thấy rằng chính mình là người quyết định. Phật chỉ có phương pháp, làm hay không là ở nơi mình. Mà quan trọng phương pháp mình học đúng mới có kết quả. Nó có vang ra loa không? Đó là tu đúng, đúng chỗ mới được nên Chánh Kiến quyết định hết tất cả.
Bấm tất cả không chỗ nào vang, phải bấm đúng chỗ này, ngược lại mình bấm chỗ này nó tắt không? Bấm trên hư không có tắt không? Bấm chỗ này, bấm huyệt trên người mình nó tắt không? Bấm chỗ này. Đó là diệt Thánh đế, ra tay đúng chỗ mới diệt được tham, sân, si. Nếu mình hạ thủ công phu sai chỗ, mình tu một tỷ năm tham, sân, si vẫn còn nguyên, có khi tăng trưởng nữa. Chúng ta thấy tự thân mình và những người chung quanh không? Nếu mình hạ thủ không đúng, mình hướng ra bên ngoài, hướng ngoại, cầu xin, tưởng đâu có ai giúp đỡ mình thì mình không thấy tham, sân, si, không nhiếp phục được nó. Nên bấm tất cả chỗ trong nguyên phòng này không được nhưng bấm chỗ này nó tắt, bấm ngay cảm thọ.
“Lành thay, này Thiên chủ, là lòng tin bất động đối với Pháp: Pháp do Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu”.
(Bài kinh Vua – Phẩm Veludvara - Chương XI Tương Ưng Dự Lưu – Tập IV Thiên Sáu Xứ - Kinh Tương Ưng Bộ)
Quý vị thấy sự tu học này hết sức là, Đức Phật gọi pháp của Như Lai là thiết thực hiện tại, không có thời gian, có hiệu quả tức thời, đến đó mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu là vậy đó. Bậc trí tuệ tức là bậc nhìn thấy năm uẩn. Minh Thành muốn quý vị trở thành người trí tuệ hết nên cho quý vị nhận diện 5 uẩn, chịu không? Khóa tu này từ đây tới chiều từng người từng người phải nhận diện được 5 uẩn. Mình không nhìn thấy được 5 uẩn là mình đọc kiến thức thôi, đọc trên suy tưởng, còn thấy 5 uẩn là thấy sự thật, hiện pháp, pháp hiện thực đang diễn ra trong thân tâm của mình mọi lúc mọi nơi.
Quý vị thử chỉ sự vật trong thế giới này, có cái nào đi ra ngoài 5 uẩn không? Mình tu học 5 uẩn là tu trí vũ trụ, trí trùm trời đất. Quý vị vui không, hạnh phúc không, hân hoan không? Thấy mình may mắn, phước lành, công đức không, hi hữu, thù thắng, quý hiếm, khó được, vi diệu, màu nhiệm không? Đó là phước báu của Chánh Pháp. “Pháp vị thắng mọi vị, pháp hỷ thắng mọi hỷ, pháp lạc thắng tất cả lạc, Niết-bàn vui tối thượng”. Nên phước báu cho chúng ta, phước lành, hy hữu, hiếm có, thù thắng cho chúng ta, sau Đức Phật gần 3.000 năm mà chúng ta nhìn thấy được ngũ uẩn của Đức Phật chỉ dạy khi ngài còn tại thế. Cố gắng lên, đem hết tấm lòng chân thành, cung kính tu học, đừng xem thường, đừng nghĩ rằng nó dễ được, đây là pháp tối thượng. Con mời cô chia sẻ cảm xúc hiện tại.
III. Chia sẻ - khuyến tu:
Phật tử: Kính thưa thầy, kính thưa sư phụ và toàn thể đại chúng, bây giờ trong con rất xúc động bởi vì sự may mắn của con. Thưa thầy, năm nay con gần 60 tuổi nhưng con cũng mới biết đến Phật pháp, rất may mắn con được gặp Diệu Minh, biết được Phật pháp, biết được kinh Nikāya, con rất hạnh phúc và con sẽ quyết tâm dù khó khăn đến đâu cũng cố gắng thực hành theo sự dạy bảo của thầy. Con xin đa tạ thầy rất nhiều.
Phật tử Diệu Linh: Con xin kính bạch trên sư phụ, con kính bạch quý đại đức tăng ni cùng quý đạo hữu đồng tu đang có mặt hôm nay. Con xin sám hối sư phụ với đại đức tăng ni Phật tử đang có mặt ở đây vì con đã không trọn vẹn được giờ bắt đầu cho mọi người. Xin sư phụ và mọi người hoan hỉ bỏ qua cho con.
Trên con đường tu học của con, con biết đến sư phụ là bậc đầu tiên cũng như con cảm nhận được dòng pháp sư phụ đang truyền trao cho mọi người là một dòng pháp đặc biệt và nó có giá trị ngay lập tức. Nó như một dòng điện vậy, nhanh, và làm cho người học nhận ngay lập tức. Con cũng trải qua 1 thời gian cũng không được dài, những gì sư phụ dạy con nghiêm túc học tập và con được biết sư phụ ra ngoài bắc để hoằng pháp. Có duyên con thỉnh được sư phụ và mọi người biết đến điều này nên tất cả hoan hỉ. Ở đây có những người bạn đã sinh hoạt với con, cũng có những người bạn không sinh hoạt với con, thậm chí con còn không biết mọi người. Nhưng mọi người rất hoan hỉ, con thấy nó giá trị nên đến giờ con không biết nói gì ngoài tri ân sư phụ. Con còn dại trên chặng đường tu học, cũng như cách trình pháp, nói pháp, con không biết một cái gì hết, có gì sư phụ và đại chúng hoan hỉ bỏ qua và dạy dỗ con thêm.
Sư phụ: Dạ, con xin thưa quý thầy, quý sư cô và tất cả Phật tử. Phật tử Diệu Linh đi vào trong Linh Quy Pháp Ấn, gặp con lần đầu tiên thì trào dâng nức nở những dòng nước mắt hạnh phúc, cảm nhận về Chánh Pháp trong suốt 1 tiếng đồng hồ, tuôn trào những cảm xúc của thiện pháp, của trí tuệ, của sự tiếp nhận được chân lý và xin quy y Tam Bảo. Cũng ngay tại chỗ đó, con trao truyền tam quy ngũ giới, sau đó về thì với sự tinh tấn, siêng năng tu tập, cũng có những kết quả ban đầu tốt và có nhân duyên chia sẻ với bạn đồng đạo. Hôm nay có duyên, cô Diệu Linh mời Minh Thành thăm viếng, chia sẻ với quý Phật tử.
Minh Thành cũng không ngờ rằng quý vị rất để tâm, học thuộc bài và có sự thực tập khá tốt, Minh Thành rất hoan hỉ, rất trân trọng, nhất là tấm lòng chân thành cung kính Tam Bảo của cô Diệu Linh đã làm cho chư tăng trong Linh Quy mới có chuyến ra đây để thăm viếng, chia sẻ với quý Phật tử. Mong rằng tất cả chúng ta hãy xem nhau là huynh đệ, cùng là những đứa con trung kiên của Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni Như Lai để chúng ta đem tất cả tấm lòng mình thực tập hành trì để thực sự có được những giá trị, nhiếp phục được tham, sân, si, vô minh và bản ngã để mình đỡ khổ, bớt khổ và đi đến chỗ diệt khổ.
Đó là sự cúng dường tối thượng đối với Tam Bảo, không có sự cúng dường nào bằng sự cúng dường thực hành pháp, thực chứng pháp, chứng nghiệm pháp. Đó cũng là một sự đền ơn, trả ơn trọn vẹn nhất mà Đức Thế Tôn, các bậc Thánh tăng, các vị Tôn Đức đã truyền trì Chánh Pháp này suốt gần 3.000 năm để ngày hôm nay chúng ta cầm trên tay một tạng kinh Nikāya của đại lão hòa thượng Thượng Minh Hạ Châu, cũng như công đức của các vị hi sinh cả cuộc đời để dấn thân, thực hành tìm thấy được Thánh Trí ngũ uẩn này để chúng ta có sự tu tập rất tuyệt vời, trực tiếp, thẳng tắp trong đạo tràng Nikāya của chúng ta. Cầu chúc quý vị tinh tấn, thanh tịnh, trang nghiêm mà hoan hỉ trong sự tu học trọn vẹn 1 ngày nay cũng như những ngày về sau. Chúng ta sẽ có nhân duyên cùng tu tập ở tại rừng thiền Linh Quy Pháp Ấn ở Lâm Đồng.
IV. Thực hành ba pháp:
Kính thưa đại chúng, trong phần thực hành 3 pháp, mà khi nãy quý vị được hướng dẫn thì có chỗ nào chưa hiểu không? Chỗ nào chưa hiểu quý vị có thể hỏi, quý vị có thực hành được cảm giác của toàn bộ cơ thể không? Cảm nhận, ghi nhận được cảm giác đó? Có ai không thực hành cảm giác toàn thân được không? Cô có tiếp xúc với pháp này được lâu chưa hay mới đến đây lần đầu tiên?
Cô đứng lên đi, Minh Thành chỉ cho cô cảm giác toàn thân. Cô đứng lên, gập người về phía trước giống như tập thể dục vậy, đưa 2 tay lên rồi gập người xuống càng sâu càng tốt rồi cô giữ lại thật lâu nhất có thể. Rồi cô đứng lên, cô thấy cảm giác cơ thể không? Tức mình cảm nhận được những cảm giác trong cơ thể mình đó gọi là cảm giác toàn thân. Khi mình ngồi quý thầy hướng dẫn mình cảm giác phần đỉnh đầu, gương mặt, cảm nhận 2 vai, cánh tay, lòng bàn tay, cảm nhận lưng, bụng, mông, chân, móng chân, lòng bàn chân rồi cảm nhận chung hết toàn bộ cơ thể của mình cảm giác đang như thế nào, mình cảm nhận được. Cô thấy rõ được vấn đề này chưa? Tập từ từ.
Tại sao chúng ta phải tập 3 pháp? Cái này Minh Thành đã chia sẻ rất nhiều lần rồi, quý vị chịu khó về nghe thêm bài thực hành 3 pháp, công năng và lợi ích của thực hành 3 pháp. Ở đây chúng ta nói sơ lược một vài nguyên nhân, lợi ích, mục đích của việc thực hành 3 pháp này. Từ trước giờ chúng ta quen khi ngồi thiền nhắm mắt phải không quý vị? Mấy chú ngồi thiền nhắm mắt hay mở mắt, mấy chú thanh niên bên đây nè, lúc trước giờ đó, nhắm phải không? Mình ngồi thiền nhắm mắt như vậy có thấy tỉnh táo, minh mẫn không?
Có 1 cô nói u mê, lúc đầu là tỉnh táo nhưng dần dần rơi vào, 1 là trạng thái tưởng, tức nhắm mắt 1 hồi lúc đầu là bóng đen, bóng này bóng kia, cảnh này cảnh kia, 1 là vọng tưởng; 2 là trạng thái si, lúc đó nó lờ mờ hoặc hôn trầm. Tức dần dần đưa mình vô trạng thái, hôn là ở trong sự mờ tối, trầm là chìm – chìm trong sự mờ tối, rồi đưa đến tình trạng ngủ gục. Người thực tập thiền rơi vào trạng thái này rất nhiều. Như vậy đó là lý do tại sao chúng ta phải ngồi thiền mở mắt? Mình ngồi thiền để mình tỉnh hay mê thưa quý vị? Mà giờ ngồi thiền của mình còn mê hơn giờ bình thường không thiền, phải không? Nếu mình ngồi nhắm lại thì không biết trước mặt mình là gì, chung quanh mình có gì cũng không biết, trên thân thể mình có gì cũng không biết.
Như vậy trong sự thực tập ngồi thiền, pháp thứ nhất là rõ biết trước mặt. Đức Phật gọi là đặc niệm, Chánh Niệm trước mặt, đây là phương pháp dạy thiền của Đức Phật trong kinh Nikāya, 16 hơi thở mình gom gọn lại trong 3 pháp, chứ nói 16 thì không ai nhớ, thành ra mình gom phần trọng yếu lại để quý vị dễ nắm bắt và thực hành. Thành ra tuyệt đối ngồi thiền không nhắm mắt, vì khi mình nhắm lại chúng ta thấy rằng 1 rơi vô tưởng, 2 rơi vô si, 3 rơi vô hôn trầm, 4 rơi vô ngủ gục. Mình muốn cho tỉnh nhưng thực sự lúc đó mê hơn ngồi thiền nữa. Như vậy thành ra ngồi hoài, ngồi lâu, ngồi nhiều nằm nhưng trí huệ không sanh, minh không sanh, trí không sanh, tuệ không sanh. Vì mình ngồi trong cái mê làm sao sanh được cái tỉnh, ngồi trong cái tối làm sao phát ra ánh sáng được?
Cho nên trước Minh Thành cũng vậy, cứ ngồi vô là nhắm mắt, thở vô, thở ra một hồi thì… Nhất là cư sĩ, Phật tử đi làm từ sáng tới chiều, tối ăn một bụng rồi leo lên ngồi nhắm mắt thở vô, thở ra thì đi tới đâu? Chính chỗ đó mà mình ngồi không phát sanh, tuệ không sanh, trí không sanh, quang không sanh, tri kiến như thật trong thân tâm mình không sanh khởi, vì mình ngồi nhắm mắt. Nên tượng Phật chúng ta làm đúng không phải là tượng Phật nhắm mắt mà Đức Phật mở vừa chừng. Mình nhớ nhé, cái này thầy nói trong mỹ thuật và kiến trúc Phật giáo nữa về cách tạc tượng của Đức Phật.
Pháp thứ nhất mình hết sức để tâm là vấn đề mở mắt trong khi ngồi thiền, nếu như nó lơ đơ lơ đơ, chuẩn bị vô một trạng thái si mê thì phải mở hết mắt lên, mở lớn lên. Mình có nhìn thấy mấy hình của ông tổ Bồ Đề Đạt Ma không? Có thấy không? Sao mắt trợn lên dữ vậy? Khi ngồi thiền buồn ngủ mình phải nhớ tới ánh mắt đó của tổ Bồ Đề Đạt Ma. Như vậy, khi ngồi thiền mình phải rõ biết, tỉnh táo ở phía trước mặt. Nếu hôn trầm mình phải cảm giác thật mạnh đôi mắt, phải nhìn thật rõ những gì phía trước mặt, tâm rộng mở, không chú tâm vô nhìn 1 điểm. Nhìn 1 điểm ở trước mắt thì một hồi ra con này, con kia, phải không quý vị? Mấy vân gỗ hay mấy tấm thảm này, nhìn một hồi ra cái này cái kia đủ thứ, rồi tưởng.
Còn nếu như mình nhắm mắt lại hoặc nhìn một chỗ cũng không được. Giờ cái nhìn của mình là một cái nhìn rộng mở, mở rộng tầm nhìn hết sức ra 2 bên. Tức 1 cái nhìn phổ quát, rộng lớn, sáng rỡ, sáng tỏ cả ở phía trước mặt của mình. Cái nhìn như vậy, quý vị thấy là làm cho mình tỉnh táo, rõ biết, sáng tỏ ngay trong chỗ mình đang ngồi. Phần này chúng ta thấy rõ rồi ha, rõ biết, đặt niệm, Chánh Niệm ở trước mặt.
Trong kinh Tứ Niệm Xứ Đức Phật nói, phần thứ 2 là phần cảm giác toàn thân mà chúng ta mới nói, phần này rất quan trọng. Cảm giác toàn thân này không chỉ là trong giờ ngồi thiền chúng ta tập mà tập trong tất cả mọi lúc mọi nơi. Tại sao chúng ta phải thực tập cảm giác toàn thân? Như lúc đầu chúng ta chia sẻ, Đức Phật nói tất cả pháp hội tụ ở nơi cảm thọ, cảm giác. Trong bài kinh “Cội rễ của sự vật” – Tăng Chi Bộ Kinh, Đức Phật nói: “Này, các Tỳ-kheo, tất cả pháp hội tụ ở nơi cảm thọ, quy tụ nơi cảm thọ, cảm giác”.
Thành ra nếu như mình không biết cảm giác coi như không biết thân tâm của mình. Ví dụ rất rõ, nếu mình không học và thực tập kinh Nikāya này, ai hỏi mình tham, sân, si ở đâu, mình có biết không? Mình tu 10 năm, 20 năm, 30 năm, có khi suốt đời, hỏi tham, sân, si ở đâu, mình nói trong tâm. Hỏi tâm là cái gì? Tâm là tâm, tâm là biết mới có thức uẩn. Có những nhà bác học nói tôi suy nghĩ cái đó là tâm của tôi, thì đó là uẩn gì? Hành uẩn thôi hả, như vậy nhiều người nói rằng tôi cảm giác, cái đó là có tôi, đó mới là thọ uẩn thôi.
Như vậy, tất cả sự nhìn nhận của người thế gian chưa đến chỗ viên mãn giác, chỉ có Đức Phật mới thành tựu được sự giác ngộ viên mãn cùng cực, đầy đủ, đồng đều, tròn vẹn tất cả mọi phương diện, khía cạnh, góc độ của thân tâm và thế giới. Nên Đức Phật tuyên bố rằng “Ta không tuyên bố ta chứng ngộ vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác khi ta chưa hoàn toàn tuệ tri, liễu tri, thắng tri về năm thủ uẩn, cho đến khi nào ta đã hoàn toàn thấu suốt, rõ biết tường tận tất cả mọi góc cạnh, khía cạnh, phương diện, đầy đủ hết tất cả về 5 uẩn này, lúc đó ta mới tuyên bố ta thành tựu giác ngộ cứu cánh cùng cực giữa chư thiên, loài người, ma phạm, Sa-môn và Bà-la-môn”.
Như vậy sự giác ngộ của Đức Phật là sự giác ngộ về năm uẩn, mà năm uẩn chính là thân tâm và thế giới. Bây giờ mình tu mà không biết cảm giác là gì làm sao biết được chính mình, không biết thọ, sắc, hành, thức. Mình chỉ thấy một cái tôi, một cái của tôi, như vậy vẫn là vô văn phàm phu, dù cho mình có tu bao nhiêu năm đi nữa mà không thấy ngũ uẩn, chỉ thấy một cái tôi. Vậy sự tu học của chúng ta là gì? Là sự quay lại, thành tựu trí tuệ về tự thân, mà tự thân mình gồm có 5 phần, nhưng ở đây Minh Thành muốn nói kỹ về phần thọ thôi, vì thời gian không có nhiều và chúng ta cũng là những người mới nên phần cảm thọ này tuyệt đối quan trọng và chúng ta sẽ thấy rất rõ.
Ngay cả như bản thân Minh Thành tu mấy chục năm mà nhiều khi hỏi tham, sân, si ở đâu, mình cứ nói chung chung trong tâm mình trước khi mình đi học về dòng pháp Nikāya này. Sau khi chúng ta học và tu rồi, thấy rằng nó biểu hiện rất rõ. Bây giờ mình giận ai, người ta nhìn có biết không? Giận ở trong tâm mà sao nhìn mặt mình biết đang giận? Tại vì có thọ uẩn, là một sự gắn kết, nối liền giữa thân và tâm. Cái đặc biệt của thọ uẩn, còn phần sắc uẩn chỉ là vô tri, là đất nước gió lửa, vô tri. Còn tưởng thì trong tâm mình tưởng, mình suy nghĩ gì người ta cũng đâu biết, phải không? Còn thức đương nhiên vô hình rồi, nhưng phần cảm giác nó biểu hiện trên thân, nó ở trong tâm nhưng lại biểu hiện trên thân.
Chính vì vậy khi mình thích, khoái, người ta nhìn biết không? Biết mình có tham, có thích, có khoái. Khi mình giận, mình bực, sân người ta nhìn biết không? Từ đâu mà họ nhìn họ biết? Từ chỗ nào? Từ phần cảm thọ biểu hiện trên thân. Lúc ngồi thiền mà có si người ta nhìn biết không? Ở trong thiền viện là ăn một cái chat thiền bảng. Trong thiền viện có một thầy đi giám thiền với cây thiền trượng, thiền bảng đi, thấy ai ngồi quẹo quẹo gật gật xuống, thầy nhịp nhịp đánh cái chát rồi xuống xá như xá xuống xin lỗi và cảm ơn, đánh mà còn phải cảm ơn nữa, vì người ta phá cái si mê cho mình.
Như vậy, tham, sân, si tuy ở trong cảm thọ nhưng biểu hiện qua thân. Mình nhìn mặt có biết người này đang ở trong trạng thái đơ đơ không? Nó biểu hiện ở trên mắt, trên gương mặt, rồi nhìn thấy người này đang vui, biết; người này đang buồn đang giận, biết thì cảm thọ biểu hiện qua thân. Bây giờ mình thấy khi mình nổi nóng lên thì ở đâu khó chịu quý vị? Ở giữa lồng ngực nó sao, có ai diễn tả cảm thọ sân giùm con không. Mời vị nào diễn tả giùm, nào giờ mình giận hoài mấy chục lần, mấy trăm lần, ngàn lần rồi, bây giờ diễn tả không được hay sao? Bây giờ nhận diện cảm thọ sân nó sanh khởi như thế nào?
VI. Sân:
1. Phật tử chia sẻ - vượt qua căn bệnh hiểm nghèo:
Phật tử: Dạ, con kính bạch thầy và tất cả các bạn là Phật tử trong khóa tu ngày hôm nay. Con là Mai, ở Ba Vì, Hà Nội, con biết đến khóa tu này nhờ cô Diệu Linh, để con biết được cô Diệu Linh là nhờ một bạn Oanh, con cũng rất hạnh phúc khi được đến với kinh Nikāya. Có một điều trước khi trả lời câu hỏi của thầy, bạch thầy cho con tâm tư được đôi điều, là con đến với khóa tu với một sự rất hào hứng mặc dù con mới đến nhóm của cô Diệu Linh được 4 tuần – 4 buổi sinh hoạt thôi ạ. Cho đến giờ phút này, vì là mới mẻ nên có những cái con biết nhưng con chưa hiểu được và chính vì biết mà chưa hiểu nên con lại càng hứng thú và có 1 cái gì trong cơ thể, trong tâm con muốn đến để tu tập.
Hôm nay con trực tiếp được kính bạch thầy và gặp gỡ tất cả các bạn đồng tu như thế này là con cảm giác từ những hôm trước, con đến được với khóa tu này con thấy hạnh phúc vô cùng. Để trả lời câu hỏi của thầy thì trong cuộc sống của mình, có nhiều lúc con sân hận. Sân hận vì chính bản thân con, về những người thân của con, về những người trong xã hội mà con cùng công tác, giao lưu, giao tiếp hằng ngày. Thế thì mỗi khi sân hận, con thấy trong tâm con, nơi vùng ngực con, tim đập rất nhanh, sân hận mà con muốn khóc nhưng không khóc được thì con cảm thấy có một sức ép nào đó ép vào cả thân con, con cảm thấy khó chịu vô cùng. Mỗi lúc con sân hận lên, nếu con buột được ra bằng lời nói của mình hoặc bằng một cử chỉ hành động của mình thì con cảm thấy nó nhẹ. Nhưng sau lúc đó con cảm thấy nước mắt muốn trào ra nhưng có những lúc trào ra được, còn có những lúc không.
Đấy là những cái đã qua, thế nhưng hiện tại bây giờ, con thấy rằng được mấy buổi sinh hoạt cùng với nhóm của cô Diệu Linh, con cảm thấy rằng đạo tràng Nikāya là một đạo tràng đang dẫn con đến một cái đích mà con chưa biết đích của nó là cái gì. Thế nhưng con cảm nhận rằng con đang đi trên một con đường mà con đường đấy nó làm cho con không sân hận nữa và làm cho con thoải mái hơn bất cứ một điều gì trong cuộc sống hằng ngày mà con tiếp xúc với người thân, những người xung quanh và con cảm thấy rằng cuộc đời của con đau khổ cũng có rồi, những cái tự hào của mình mà con hãnh diện cũng có rồi. Thế nhưng cái khổ của con trong cuộc sống hằng ngày vẫn còn, nhưng để nén lại được đau khổ và sân hận thì một phần nào đó con đã làm được.
Chính vì thế con rất thoải mái, con rút được kinh nghiệm những lúc mình sân hận như thế không đem lại cho mình 1 điều gì cả, mà chỉ đem lại cho mình những khổ đau thôi nên con sẽ không sân hận nữa. Mặc dù con chưa biết cái sân cái hận trong kinh Nikāya dạy điều gì, và kết quả đạt được như thế nào khi mình thành tựu được. Nhưng con thấy rằng không sân hận nữa thì mình hạnh phúc hơn, và cảm thấy lúc nào mình cũng khỏe hơn. Con cũng mạnh dạn chia sẻ với thầy và với các bạn trong khóa tu ngày hôm nay, khi con bị mắc bệnh hiểm nghèo, cách đây 4 tháng con phát hiện ra thôi, nhưng cho đến bây giờ con cảm thấy rằng mình vô tư bao nhiêu thì mình sống một cuộc sống hạnh phúc bấy nhiêu. Mình không sân hận nữa thì cuộc sống của mình hạnh phúc hơn.
Chính vì vậy, từ khi con mắc bệnh đến bây giờ, ngày hôm qua con khám bệnh viện thì bác sĩ đã chúc mừng con là trong cơ thể con không còn tế bào ác nữa. Bởi vì trong 4 tháng con mắc bệnh, con phẫu thuật, con từ chối điều trị hóa chất và con tự chữa bệnh. Thứ nhất con tin rằng con sẽ khỏe, sẽ khỏi và bắt đầu con ăn chay.
Chính vì thế, con nghĩ rằng hiệu quả mà thứ nhất không sân hận, thứ 2 nữa là coi người thân của mình là chính mình và tất cả những người xung quanh của mình cũng là chính mình, và con nghĩ rằng, cộng với sự ăn chay trường, con quyết định nguyện như thế thì trong tâm con cảm thấy rất thoải mái, thanh thản. Và có lẽ do thế, bệnh của con được bác sĩ chúc mừng con ngày hôm qua con cảm thấy rất hạnh phúc. Cộng với sự hứng khởi niềm tin của con đến với khóa tu này và được trực tiếp gặp thầy và các bạn đồng tu, chắc có lẽ mọi người cũng sẽ có những nỗi khổ, những nỗi vui buồn trong cuộc sống, nhưng mà con tin tưởng rằng, được tu và tu với niềm tin của mình thì sẽ hạnh phúc hơn. Con xin cảm ơn thầy và mọi người đã lắng nghe ạ.
2. Sư phụ dạy về sân tâm – an trú cảm giác toàn thân:
Chúng ta nhận diện các cảm thọ, các cảm giác từ sự an trú cảm giác toàn thân mà chúng ta vừa rồi thực tập hết sức quan trọng. Khi mình nổi giận lên, lồng ngực của mình nóng, có khi mình thấy giống như nó bốc cháy, hừng hực và chúng ta thấy nó hực lên tới trên mặt, tai, mắt. Mắt có khi mình giận quá nó lờ mờ luôn, lỗ tai có khi lùng bùng, gương mặt của mình là gương mặt đổi màu. Nếu chúng ta không thực tập nhận diện 5 uẩn, không thực tập quán chiếu cảm giác, an trú trong sự quán thọ trên thọ, thì lúc đó chúng ta sẽ bị cảm giác đó nó dẫn dắt mình, lôi kéo, lôi cuốn, xâm chiếm, áp đảo mình và hoàn toàn làm chủ mình. Và chúng ta thấy hằng ngày trên tin tức báo chí, đó chính là sự nguy hiểm và tác hại của cảm giá. Mỗi một ngày chúng ta đều nhìn thấy.
Tại sao khi một cảm thọ nóng giận sanh khởi lên là một cảm thọ thiêu đốt, bực bội, bứt rứt, cảm giác muốn phá hoại, hủy diệt những đối tượng nào nó cho là chướng ngại. Từ đó, chính cảm giác này giết người ta chứ không phải là đối tượng bên ngoài mà hại mình. Chúng ta thấy ngày nay, bao nhiêu những sự việc hết sức đau lòng, từ ở trong nhà ngoài phố đến xã hội hay thế giới. Chúng ta coi kỹ lại, tất cả có vụ án nào, có sự kiện nào đi ra ngoài cảm giác này không? Bây giờ cái tham lam đi cướp của giết người có phải từ cảm giác muốn hưởng thụ không? Rồi thù hận muốn trả thù cho hả dạ có phải cảm giác không? Rồi sự buông thả, thả trôi, trụy lạc, sa đọa của giới trẻ hiện này mình cũng thấy là từ cảm giác.
Chính vì vậy sự thực tập pháp thứ 2 là an trú cảm giác toàn thân, để nhìn ra sự sanh khởi, sự vận hành, sự dẫn dắt, đưa mình tới đau khổ. Và mình nhìn ra được tập Thánh đế, tức nguyên nhân của khổ. Trước giờ mình nói nguyên nhân của khổ là tham, sân, si mà tham, sân, si nó ở đâu mình không biết. Mình thấy là thấy cái đuôi của nó thôi, tức có khi giận lên rồi mới hay, mà khi hay rồi là chặn không kịp. Nhưng bây giờ mình an trú trong cảm giác toàn thân này thì sao? Một sự rục rịch, cục kịch, mấy động của nó mình có nắm bắt được không? Bây giờ nó sanh khởi lên một suy nghĩ bực bội, một cảm giác khó chịu, một hình bóng sân hận lên, mình nhận diện ngũ uẩn mình thấy rõ không quý vị?
Cho nên mình đã có một sự nhìn nhận lại thân tâm mình thường trực, liên tục, tập tành, từ từ nó trở thành một sự quen, khéo léo, thiện xảo rồi chỉ cần nó có một mầm mống, có một sự rục rịch, cục kịch, nhúc nhích ở bên trong sanh khởi lên là mình phát giác, phát hiện ngay lập tức. Còn ngay chỗ đó mình nhiếp phục, mình hóa giải, giải phá hình bóng đó thì như vậy mình diệt nó từ trong trứng nước. Nếu như chưa được, nó cũng giảm bớt được rất nhiều. Còn lúc trước mình hoàn toàn không biết, không biết đây là cảm giác, dẫn mình tới chỗ sân hận, thiêu đốt, đốt cháy, phân ly, chia ly, hủy diệt.
Mình không thấy được sự nguy hại và xuất ly của nó, thoát ra như thế nào, nguy hiểm, tác hại của cảm giác sận hận, bực bội, nóng bức, ray rứt này thiêu đốt, tại hại đến mức độ nào, mình không thấy nguy hiểm ra làm sao. Và mình cứ nhập cuộc với nó, một là mình bị đồng hóa, nhập cuộc là bị trong cảm giác, và bị cảm giác đó dẫn dắt, lôi kéo, xâm chiếm, áp đảo, và đưa mình tới khổ đau. Khổ đau cho mình và khổ đau cho những người thân thương nhất trong gia đình mình. Bình thường 1 tháng gây lộn mấy lần? Khai thiệt giùm coi, sao im re hết trơn vậy, mấy chú bên kia ngồi im re hết trơn vậy, không cự hả, một tháng cự mấy lần, có không, giận mấy lần.
Bây giờ sự tu học của mình, mình an trú trong các cảm thọ này, mình quán chiếu nó được thì mình sẽ có khả năng nhiếp phục nó được. Một người không biết tên tuổi, mặt mũi, tánh tình, không biết chiều hướng suy tư của họ ra sao làm sao mình có thể quản lý. Cũng vậy, mình không biết cảm thọ là gì, có mấy loại cảm thọ, trong các loại cảm thọ có cái gì tham, sân, si, hôn trầm trong đó mình không biết. Rồi mình không biết phương pháp để hóa giải, nhiếp phục, chuyển hóa, giải trừ, giải phá. Như vậy, Đức Phật gọi là vô minh, không sáng suốt, không nhìn thấy được chính mình.
Một thí dụ đơn giản, mình thấy chuyện đó không hài lòng, đúng ra mình la, nhưng giờ mình thấy trong này có một cảm giác không hài lòng. Mình mới nói nhẹ thôi, bây giờ mình học những bài hết sức cản bản, mình nói: “An tịnh đi”. Quý vị làm theo, đưa tay lên, đặt tay lên ngực, nói theo, mạnh mẽ lên một chút: “An tịnh đi, lắng dịu đi, dễ chịu, dễ thương”. Tập đơn giản vậy thôi, đó là những bài học hết sức căn bản khi bực mình, khi quạu quọ, khi muốn sân giận mình niệm câu đó lên. Mỗi câu vậy 3 lần. Mà nhớ, niệm tới đâu phải thấm thía vô cảm thọ mình, chứ không phải niệm ngoài miệng không, mà niệm ngoài miệng là mới khẩu hành thôi, rồi ở trong tâm mình mới có ý hành.
Giờ mình niệm làm sao nó qua tới dòng cảm thọ, đi vào trong tưởng uẩn là rõ ràng mình thấy có một cảm giác, thực sự lắng xuống, dịu xuống, trong tâm mình có một hình bóng, cảm giác lắng xuống, dịu xuống, an tịnh xuống rõ ràng, yên yên, lắng xuống. Mình cảm nhận được một cảm giác, mình nhớ mình tu cái này là mình khai thác cảm thọ, nhớ cái này quan trọng. Trong sự tu của chúng ta, thọ uẩn tuyệt đối quan trọng. Nếu mình chỉ nói trên miệng không thì nó không thấm thía gì vô tâm mình hết. Nên tại sao có người nói vô thường nhưng họ về họ sân si, tham lam, vì mới nói cái miệng thôi, chưa thấm vô các cảm thọ, chưa đi vào cảm xúc, chưa vào cảm giác, chưa thể nhập, thâm nhập, thấm nhập, chứng nhập. Nên đòi hỏi sự cảm thọ của mình hết sức quan trọng, muốn vậy, thứ nhất mình phải nhìn thấy cảm thọ.
Đầu tiên mình biết về nó, kế đó là nhìn thấy nó, sau đó huấn luyện nó, huấn luyện làm thay đổi cảm thọ, cảm giác. Vì trong này mình bỏ quên cảm thọ, cảm giác rất lâu rồi, mình cứ làm cho mình khổ, sân hận, bực bội, sầu đau mà mình nói là mình thương mình, thật sự là không có thương, mình đang hành hạ mình bằng những cảm thọ, cảm xúc. Mình thương mình là mình phải biết làm cho cảm giác của mình được nhẹ nhàng, an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào. Đó mới là thương mình.
Giờ quý vị thử nghĩ một người mà lúc nào cảm giác cũng dễ chịu, nhẹ nhàng, an tịnh, lắng dịu, quý vị nghĩ người đó hạnh phúc cỡ nào? Một người lúc nào cảm thọ cũng bừng bừng, phực phực cháy, một người lúc nào cảm thọ cũng gay gắt, hơn thua, thì quý vị thấy người đó khổ hay vui? Là khổ. Chính vì vậy sự tu tập là huấn luyện, sự nuôi dưỡng, tưới tẩm các cảm xúc, cảm giác của mình. Lúc nào cũng nhẹ nhàng, đi cũng nhẹ nhàng, nói cũng nhẹ nhàng, thậm chí lúc giận cũng nhẹ nhàng. Tại vì sao? Vì mình đã huấn luyện cảm thọ này rồi, dù khó chịu nhưng ở ngoài mình vẫn nói nhẹ nhàng. Còn cái kia mình không thực tập, nhiếp phục, không có sự điêu luyện, nhuần nhuyễn, thuần thục, hễ trong này nó ra sao thì ở ngoài nó bung ra như vậy. Còn cái này mình có sự chuyển hóa, giáo hóa, sự huấn luyện.
Quý vị thấy nội mình kềm được cảm giác sân này thôi, mình thấy bớt khổ nhiều không quý vị? Bớt rất nhiều. Cho nên sự an trú cảm giác toàn thân này là chúng ta phải dòm ngó, để ý, thường xuyên, luôn luôn. Đi mình cũng có cảm giác, có vội vàng không, có thúc giục không, có muốn mau mau lẹ lẹ, nhanh nhanh không? Rồi đi cầu thang mà cứ nghe điện thoại, rồi không để ý cảm giác đôi chân và toàn thân, cứ nói điện thoại, rồi có chuyện gì la lối trên điện thoại này kia, quên mình đang bước cầu thang, lúc đó chuyện gì xảy ra. Quý vi thấy không, nên biết tu của mình hay lắm, hay rất nhiều phương diện.
Khoan nói tới Niết-bàn giải thoát thâm sâu, nó giúp mình có một sự phòng hộ, bảo vệ, có một sự an toàn, tránh được những điều đáng tiếc xảy ra trong sinh hoạt hằng ngày, đi đứng ngồi nằm. Rồi khi mình nói chuyện cũng vậy nữa, nói chuyện có cảm giác không vậy thưa quý vị? Cứ nói cho đã đi, rồi một hồi có chuyện, khổ không? Cũng là cảm giác đó thôi, nhưng nếu mình nói Chánh Niệm, biết nói tới mức độ nào thôi, nhiêu đó đủ rồi đừng nói nữa, thì quý vị thấy mình kiểm soát trong lời nói, trong bước chân, trong hành động. Rồi trong suy nghĩ có cảm giác không? Ngồi một mình vậy đó rồi tự nhiên cảm giác, hình bóng gì đó hiện ra trong tâm. Có khi giận, có khi thương, có khi buồn, có khi ghét, thì trong đó nó cũng có cảm thọ ở trong, đó là pháp trần, là những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ bên trong. Mình có cảm giác, sự an trú trong tâm nên phát hiện ra cái này không được, cái này bất thiện pháp, ác bất thiện pháp. Làm cho nó lắng dịu, đừng đi theo cảm thọ này nữa, xả cảm thọ này ra, buông nó xuống, tác ý cho cảm thọ này tan biến. Rồi mình trở lại cho nó an tịnh, lắng dịu, dễ chịu. Nhớ câu hồi nãy rất quan trọng trong sự thực tập.
Mình an trú cảm giác toàn thân như vậy thì mình chăm sóc cho cảm giác của mình, một ngày quý vị ăn cơm mấy lần, ăn mấy buổi, ngày ăn 3 buổi, ngày chăm sóc cảm giác mấy lần? Phải không? Cho nên cái ăn là nuôi thể xác, còn sự thực tập, thiền tập là cái nuôi tinh thần, tâm linh. Mình chỉ nuôi thể xác không mà tâm mình không lo, tâm mình tiều tụy, ốm yếu, bị bệnh, gọi là tâm bệnh. Cho nên bây giờ sự tu của mình là trở về chăm sóc cảm thọ cũng là tâm – một phần của tâm, cảm giác. Mình tập an trú trong một cảm thọ nhẹ nhàng, an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, dễ thương, ngọt ngào.
3. Lạc thọ - tham:
Vừa rồi trong khóa tu Nikāya ở Sài Gòn, có cô Phật tử không biết cổ nói cảm thọ vui, cảm thọ khổ, cảm thọ không vui không khổ thì cổ biết, mà cảm thọ ngọt ngào là sao vậy thầy, con không biết, con không thấy nó ngọt ra sao. Minh Thành có giải thích rất đầy đủ, quý vị đoán coi cảm thọ ngọt ngào là gì? Quý vị sẽ thấy được là cảm thọ của mình, mình phải làm cho nó ngọt ngào, cảm giác của mình phải làm cho nó bình an, để không thôi trong này nó cứ thúc giục hoài, 3 đồng, 5 đồng, 7 đồng cũng thấy chưa đủ, 100 đồng cũng không đủ, 1.000 đồng cũng không đủ. Trong này nó thúc giục, làm cho mình chạy hoài, cuối cùng làm cho nó sụp xuống 1 cái hố, quý vị biết cái hố đó không? Biết không? Bề dài 2 thước, bề ngang 1 thước.
Chứ giờ nó thúc giục trong này, cứ chạy hoài như vậy, chạy tới chừng sụp hố rồi lúc đó mới nằm chứ còn không dừng lại được, cũng là một cảm giác của dục tham. Đức Phật gọi thân này là thiếu thốn, khát khao, nô lệ cho tham ái. Bản chất của thân này là thiếu , khát khao, nô lệ cho tham ái. Quý vị hỏi người giàu nhất trên hành tinh này, người đó đủ chưa? Chưa, vẫn thiếu thốn. Bản chất của ngũ uẩn này là thiếu thốn, là khát khao.
Mình ăn đã 40 năm nay rồi, 50 năm rồi mà giờ vẫn còn thèm ăn không? Đó là khát khao. Đức Phật nói không sai được, là nô lệ cho tham ái. Mình là nô lệ, là đầy tớ. Không phải ai, mà chính là tâm tham muốn, ưa thích của mình làm nô lệ cho nó, nó sai đâu mình nghe đó, nó điều khiển suốt cuộc đời mình. Khi mình tu tập cảm giác mình mới thấy, nếu không tu tập nói cái này ra mình khó biết. Khi thực tập quán chiếu cảm giác rồi mình sẽ thấy từng sự thúc giục của nó, chút xíu chúng ta thực hành chánh quán thọ thực để mình thấy cái dục, cái ái, cái tham trong khi ăn.
Một sự thúc giục bên trong, gắp lẹ, gắp nhanh, nhai mau, nuốt lẹ, trong này nhai chưa hết là múc muỗng thứ 2 chờ sẵn, mà có khi nhai đến nỗi sặc. Không thôi, uống sặc, làm cái ọt rồi sặc, một hơi một hết nguyên ly. Tức là trong này một sự thúc giục, sự tham muốn, sự khao khát, muốn thêm. Cho nên nhiều chuyện lạ lắm, ăn nhiều thì lên cân, giờ ăn cái gì cho làm sao ăn nhiều mà để đừng lên cân? Thuốc giảm cân bây giờ đắt lắm. Quý vị thấy như thế nào? Đức Phật sẽ chỉ cho mình thấy hết những cái gì hoạt động, những sự vận hành, dẫn dắt của các dòng cảm thọ, cảm xúc, cảm giác bên trong. Và chính nó hành hạ mình, đày đọa, sai khiến mình, mình làm nô lệ cho nó suốt đời suốt kiếp.
Thân này là thiếu thốn, khát khao, là nô lệ cho tham ái, mỗi khi lòng tham nổi lên mà không đúng pháp, đọc câu này lên, đọc lên 10 lần, 20 lần “Thân này là thiếu thốn, là khát khao, là nô lệ cho tham ái mà mày cứ đòi hỏi hoài, khát khao, tham muốn hoài mà không biết chán? Mệt mỏi chưa? Mệt mỏi hay sao? Chạy đuổi hoài, tìm kiếm hoài, tìm kiếm mấy chục năm rồi, thỏa mãn chưa? Không thỏa mãn”. Cho nên chúng ta sẽ nhìn ra được cảm giác tham dục, cảm giác sân hận, rồi cảm giác bản ngã, cái tôi, mình sẽ nhìn ra được, hay lắm, tuyệt vời lắm. Mình sẽ nói: “Ô”! Mình ồ một cái, nước mắt mình sẽ trào tuôn ra, thì ra từ xưa đến nay mình hiểu lầm ai làm mình khổ, không có ai làm cho mình khổ hết, chính cảm giác thúc giục, ham muốn này, cảm giác truy tầm, đuổi rượt, khao khát này, chính cảm giác này làm cho mình mệt mỏi, tiều tụy, khổ đau.
4. Tác ý đánh đuổi các dòng cảm thọ:
Rồi mình sẽ ngồi lại, sống trong một cảm giác an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, mình sẽ hưởng được thiên lạc, niềm vui của cõi trời, niềm vui một sự bình an, lắng dịu, an tịnh, tuyệt vời khi mình nhiếp phục được các cảm thọ. Mình sẽ không làm con rối để cho các cảm thọ, các dục này nó giật dây nữa, mình sẽ không làm một người máy để cho cái dục tham trong này điều khiển, điều hành mình nữa, phải giành lại quyền làm chủ thân tâm, kiểm soát các cảm thọ, cảm xúc. Mình sẽ ngồi bình yên trên giường, trước sân nhà mình, không cần phải tìm kiếm một cái gì nữa, mà mình thấy một sự đại bình an và hạnh phúc của thân tâm.
Cảm giác ơi, cảm giác ơi, ta đã khổ đau với ngươi rất nhiều rồi. Hỡi này những cảm giác thúc giục, hỡi này những cảm giác tham muốn, thèm thuồng, khao khát kia, ta đã chảy bao nhiêu dòng nước mắt, bao nhiêu giọt máu, bao nhiêu mồ hôi, bao nhiêu sự thống khổ, khổ lụy, sự đày đọa, hành hạ trong vô lượng vô biên kiếp vừa qua. Nay ta đã thấy mi rồi, ta không làm nô lệ cho mi nữa. Ngươi hãy tan biến trong thân tâm ta, hãy tan biến hoàn toàn thành mây, thành khói, thành hư không, hãy chấm dứt hoàn toàn những cảm giác thúc giục, khao khát thèm muốn này. Hãy chấm dứt diệt tận một cách hoàn toàn, chấm dứt tan biến và diệt tận một cách hoàn toàn thành hư không đi, thành mây khói đi, để cho ta được bình an.
Ta sẽ không làm nô lệ, không làm con rối cho ngươi nữa, ta sẽ không làm đầy tớ cho dục, tham, ái này nữa. Ta phải làm chủ thân tâm của ta, ta sẽ chăm sóc, tưới tẩm, nuôi dưỡng các dòng cảm thọ an tịnh, lắng dịu, hiền từ, từ ái, bi mẫn này. Ta sẽ phát huy một tình thương rộng lớn, tràn ngập, bao la, ta sẽ không nghe lời của những cảm giác sân hận, si mê, bản ngã này nữa. Ngồi một cách bình an trước sân nhà, không cần phải chạy đi tìm một cái gì nữa. Mà hạnh phúc, sự an lạc, an lạc, tịnh lạc, màu nhiệm, ngay tại chỗ ngồi này.
Chúng ta thực hành cảm giác toàn thân lợi ích như vậy, công năng, tác dụng như vậy. Phương pháp thứ 3 là thực hành nội tâm tỉnh giác, tức nãy giờ chúng ta cũng đã có nói qua. Tức trong tâm của mình, mình rõ biết các cảm thọ sanh khởi, các hình bóng, suy nghĩ gì sanh khởi. Nếu như những cảm thọ của thiện pháp, của trí tuệ, của từ bi thì mình phát huy, tăng trưởng, phát triển, tu tập, làm cho nó quảng đại, sung túc, viên mãn. Còn nếu như những suy nghĩ, những cảm giác, những hình bóng ác bất thiện pháp liên hệ đến tham, sân si, bản ngã thì lúc đó mình hãy tác ý như nãy giờ chúng ta tác ý, mình đánh đuổi nó ra, không chấp nhận nó nữa. Giống như trong nhà mình dơ, có rác thì mình phải hốt đổ ra, trong nhà có con rắn hổ mang mình phải đuổi nó ra, không lẽ mình nằm đó ngủ sao, phải đuổi nó ra.
Cũng vậy, không phải chỉ tham biết tham, chỉ sân biết sân, chỉ si biết si, không phải. Biết bằng trí tuệ để đánh đuổi nó ra, chứ không phải biết rồi để đó, không phải. Chúng ta ví dụ, mình đang ngủ, có cái bóng gì lờ mờ lờ mờ thò vô gần giường mình, mình dòm kỹ, rọi đèn vô thì là rắn hổ mang, mình nằm đó nói thôi kệ, rắn biết rắn, rồi nằm ngủ tiếp hay sao? Hay phải đuổi ra, đuổi ra rồi mình mới nằm ngủ yên phải không? Cũng vậy, giờ mình biết sân, thôi kệ, biết sân, không phải. Chữ biết đó là tuệ tri, biết bằng trí tuệ, Minh Thành đã có giảng giải trong bài kinh Tứ Niệm Xứ mới trong khóa tu vừa rồi, quý vị lên coi kỹ, bài kinh Tứ Niệm Xứ này rất quan trọng, mới 7 ngày chia sẻ quán thân, quán thọ, quán tâm, còn pháp là chưa.
Chúng ta sẽ thấy chữ tuệ tri – biết bằng trí tuệ này, nó là cả một khẩu quyết, 2 chữ tuệ tri đó thôi là cả một lộ trình tu tập. Trong đó gồm Chánh Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh Tinh tấn, nó gồm Bát Chánh Đạo trong đó. Sau khi mình biết sự tác hại, nguy hiểm của con rắn độc mình phải đuổi nó chứ, phải dùng mọi phương tiện, la lên. Mình dùng mọi phương tiện, la lên, nghĩ cách đuổi, đó gọi là Chánh Tư duy. Khi mình dùng mọi phương tiện, nỗ lực, làm cho nó đi nhanh, đó là Chánh tín. Khi nó ra khỏi, tâm mình bình an là Chánh Định. Thành ra Bát Chánh Đạo xuyên suốt tất cả mọi lúc mọi nơi trong cuộc sống mình chứ không phải lúc nào mình tu lúc đó mới sử dụng Bát Chánh Đạo.
Như vậy, nội tâm tỉnh giác là vậy, là nhìn thấy được tham, sân, si, những cái nguy hiểm, tác hại, mình phải ngay lập tức đánh đuổi nó ra. Bây giờ người ta bưng ly cà phê sữa cho mình, mình rất thích uống, nhưng có người lại, nói nhỏ: trong này có hóa chất, có chất độc, dám uống không quý vị? Tại sao mình không dám uống, mình biết nó độc hại, nguy hiểm, biết uống nó có thể tử vong vì nó có thuốc độc trong đó. Như vậy trong tâm mình mình nói là tam độc mà sao vẫn chất chứa nó? Vì mình chưa thấy nó độc. Khi nào mình thấy cái tham, sân, thấy bản ngã, si mê, mà mình thấy sợ nó, không chấp nhận, không để nó trong tâm, thấy nó phải quét liền, thấy nó đuổi liền giống như rắn độc vậy. Lúc đó mình mới thành tựu Chánh Tri Kiến viên mãn. Tại sao có người giận mấy tháng rồi chưa hết giận? Vì người đó đâu thấy tác hại, nguy hiểm như thế nào.
Cho nên chúng ta tu tập Chánh Kiến là vậy, thấy đúng trong thân tâm mình, nhờ công năng của sự thực hành cảm giác toàn thân, Như Lý Tác Ý tác động tâm ý để mình tu. Như vậy, sáng hôm nay chúng ta đã trải qua 1 buổi pháp thoại, kế đó là thực tập thiền, rồi chúng ta tụng một thời Căn Bản Trí, rồi chúng ta nói nguyên nhân, lợi ích, mục đích của thực hành 3 pháp, vừa lý thuyết vừa thực hành. Tới giờ này chúng ta đau cẳng, cảm thọ khổ thọ rồi cho nên cần thiết thay đổi oai nghi. Trong vài phút chúng ta sẽ thư giãn rồi Chánh quán thọ thực, quý thầy sẽ hướng dẫn quý vị. Tới giờ cơm là giờ tu, để cho quý vị thấy như cảm giác mà nãy giờ chúng ta nói.