Mùa Xuân Ly Tham Bất Tử - Thánh Trí 5 Uẩn
Kinh Nikāya Giảng Giải
Mùa Xuân Ly Tham Bất Tử - Thánh Trí 5 Uẩn
Thích Minh Thành
Ngày 28 tháng 01 năm 2022
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Ly tham PAGEREF _Toc97748176 \h 1
II. Tác ý hỷ lạc PAGEREF _Toc97748177 \h 6
I. Ly tham
Đảnh lễ Đức Thế Tôn bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác.
Kính thưa các bậc Hiền trí, tăng, ni và quý Phật tử.
Hôm nay, chúng ta nghe về “Tương Ưng Uẩn”, tiếp tục ở trong Thánh Trí Năm Uẩn đã được chia sẻ trước nay. Trong bộ Thánh Trí Năm Uẩn là bài kinh “Vô Thường”, “Tương Ưng Bộ Kinh”, Tập 3:
“Này các Tỷ-kheo, nếu vị Tỷ-kheo đối với sắc giới có tâm ly tham, giải thoát, không có chấp thủ các lậu hoặc, đối với thọ giới... đối với tưởng giới... đối với hành giới... đối với thức giới, có tâm ly tham, giải thoát, không có chấp thủ các lậu hoặc. Do giải thoát, vị ấy an trú. Do an trú, vị ấy tri túc. Do tri túc, vị ấy không ưu não. Do không ưu não, vị ấy tự mình tịch tịnh. Vị ấy biết: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa "”.
Chúng ta vừa nghe phần chánh văn của kinh, bây giờ Minh Thành sẽ diễn giải ra tiếng Việt để dễ hiểu hơn. Nếu vị tỷ-kheo đối với đồ vật, tài vật, tài sản, thân xác này mà có tâm lìa tham, không có tham muốn, có tâm thoát ra, không có sự nắm giữ các mê lầm, tham, sân, si, bản ngã trong đó. Nếu một người tu có tâm lìa tham, hướng đến sự thoát ra, tâm không có nắm giữ những tài sản, vật chất, thân xác thì tâm của người đó sẽ được thoát ra khỏi tài sản, vật chất, thân xác, sắc uẩn này. Tâm thoát ra đó sẽ được an trú, tức là sẽ được ở yên, an yên.
Do tâm được an yên như vậy thì vị ấy sẽ biết đủ, biết đủ đối với sắc, biết đủ đối với những phương tiện nhu yếu của đời sống, không có đòi hỏi, biết đủ nên vị ấy không có buồn lo ưu não. “Ưu” là lo lắng, chữ “não” là buồn phiền.
Do vị ấy biết đủ cho nên vị ấy không có lo lắng, buồn phiền. Do vị ấy không có lo lắng, buồn phiền nên vị ấy tự mình tịch tịnh, tâm được lặng lẽ. Đây cũng là “đạo lộ” của sự tu tập và tiến trình tâm của những vị thực hành theo đúng Thánh Đạo của Đức Phật.
Chúng ta thấy ở đây có những điểm. Thứ nhất là đối với sắc giới có tâm ly tham giải thoát, không có chấp thủ các lậu hoặc. Chữ “sắc giới” ở đây là thân xác, tài sản, vật chất, tiền của, là những cảnh vật mà tâm của mình có sự ly tham, lìa tham, và tâm của mình có một hướng thoát ra, giải thoát, là tâm đi ra đối với những thứ đó. Tâm hướng đến sự thoát ra, từ bỏ, giải thoát, không có nắm vào những thứ đó; tâm không có giữ những thứ đó, không có bị buộc vào những thứ đó và không có bị mê, bị lầm trong những thứ đó.
Với một tâm như vậy thì vị này sẽ được thoát ra và tâm được ở yên. Cho nên trước nay, chúng ta trang bị mấy năm qua mà hay gọi là “đảnh lễ giáo pháp Ly Tham tối thượng”, là toàn bộ những lời dạy của Đức Phật chỉ cho chúng ta thấy khổ và nguyên nhân của khổ. Nguyên nhân của khổ là gì? Là tham, tham dính, tham chấp, tham muốn, tham dục, tham ái, tham lam, tà tham, ác tham, vọng tham, cuồng tham, si tham, mê tham. Không biết bao nhiêu là dạng thức, hình thái, khía cạnh của tham nhưng tất cả những cái đó đều là tham hết. Và chính tham đó làm mình khổ.
Bây giờ, Đức Phật dạy mình con đường thoát khổ là gì? Là lìa tham, ly tham. Thành ra, chúng ta mới nói “đảnh lễ giáo pháp Ly Tham tối thượng”. Tại sao mình có thể lìa tham được? Tại sao mình có thể không tham? Tại sao mình có thể từ bỏ được? Chúng ta vẫn trở về cái mấu chốt là nhìn thấy được tính chất “khổ” ở trong “sắc”, tính chất tan rã, biến ngoại, hủy hoại, hoại diệt ở trong “sắc”, trong những hình hài, thân xác, tài sản, vật chất này. Bất cứ lúc nào, nó cũng có thể tan nát, biến hoại. Thành ra chúng ta nhìn thấy được tính chất vô thường, khổ não, bất an ở trong “sắc”, trong cảm giác, trong những hình bóng nội tâm, những suy nghĩ, những nhận thức.
Chúng ta thấy được tính chất, bản chất, khía cạnh, góc độ, trí tuệ, sự thật đó. Chúng ta “như lý giác sát, như lý quán sát, như lý tác ý”. Chúng ta nhớ những từ này hết sức quan trọng, đó là Pháp Hành. Như lý giác sát: Chữ “giác” là tĩnh giác, chữ “sát” là quán sát, chúng ta tĩnh giác để quán sát đúng với sự thật, đúng như bản chất, đúng với chân lý, tính chất, bản tánh của nó thì sự thật sẽ hiển lộ ra. “Như lý giác sát, như lý quán sát và như lý tác ý”. Sau khi đã quán sát, chúng ta chăm chú chuyên tâm để tâm nhìn sâu vào ở trong lòng của sự vật đó, trong lòng của những sắc pháp, những sắc tướng, những hình hài, những hình tướng đó. Chúng ta thấy bản chất của nó không có lõi bên trong, chỉ là bong bóng, bọt nước, ráng mặt trời, là ảo tưởng, ảo ảnh, hư tưởng, huyễn tưởng, vọng tưởng, mê lầm tưởng, điên đảo tưởng.
Chúng ta chỉ nhìn thấy những trò ảo thuật của tâm thức, những suy nghĩ như bẹ chuối không có lõi bên trong, những hình bóng nội tâm như những ráng mặt trời, những đám mây không nắm bắt được. Những cảm giác nổi lên rồi lại tan biến, phồng rồi xẹp, những cảm giác của bọt nước, những sắc pháp, những hình tướng của bong bóng nước. Chúng ta nhìn sâu vào trong đó, thường thường, luôn luôn nhìn, mọi lúc mọi nơi nhìn, không có quên cái nhìn đó thì tính chất thật sự của các Pháp sẽ hiển lộ ra. Khi nó hiển lộ ra, chúng ta nhìn thấy như vậy thì tâm sẽ rời tham muốn, lìa tham muốn, không tham muốn nữa đối với chúng. Như vậy gọi là “tâm ly tham, giải thoát”.
Do tâm không có tham muốn đó, tâm thoát ra. Đối với hình hài này, những cảm giác nghĩ tưởng này thì vị ấy sẽ được an trú, trong tâm của vị ấy ở yên, sẽ an yên, sẽ được an ổn, an bình, an lạc, an tịnh, an trú, ở yên, yên vui, yên ổn, yên bình, yên tịnh, yên lành, sự bình an, sự an yên, an lành, an tịnh, an bình, an vui, an lòng, an ổn, an lạc. Với một trí tuệ Ly tham, với một tâm hướng đến sự thoát ra, với một tầm nhìn sâu sắc vào bản chất của các pháp Năm Uẩn Tứ Đại thì tâm của vị này sẽ thoát ra và chính tâm thoát ra đó là một nội tâm yên tịnh, yên lặng, yên ổn, yên vui.
Chúng ta thấy hết sức là tuyệt vời không? Đây là sự vận hành của Pháp. Nếu tâm còn đầy dẫy những tham muốn, tham dục, tham ái, tham lam, tham vọng thì nội tâm đó là sẽ bị trói buộc, bất an, lo lắng, sợ hãi, sẽ bị nắm chặt, buộc chặt, siết chặt, bám chặt, nắm chặt. Và nội tâm như vậy thì làm sao có được sự ở yên, nội tâm lắng dịu, an tịnh, khi trong này là biết bao nhiêu những suy nghĩ, toan tính, mong muốn.
Bây giờ, mình thấy chút xíu một hai tấc đất làm mình đau khổ, bất an, bất ổn. Rồi khi mình nằm xuống, nằm bề dài hai thước, bề ngang có một thước thôi, còn chưa đến như vậy nữa, còn nhỏ hơn nữa nhưng mình còn sống thì giành giật, muốn bự, to lớn, muốn rộng không bao nhiêu cho đủ hết. Để làm cái gì? Chẳng qua là vô minh, ảo tưởng; mình tưởng ra nhiều, to lớn, rộng, bự như vậy là mình hơn, giàu. Thật sự, đó chỉ là ảo tưởng của vô minh thôi.
Bây giờ bất thình lình tai nạn giao thông, tai biến mạch máu não, nhiễm bệnh nằm xuống, lấy từng hơi thở khốn khổ, khó khăn, nhọc nhằn. Đất, tiền, nhà đó còn giá trị với ai nữa. Tất cả tài sản bằng mồ hôi, máu, nước mắt tích góp sáu bảy chục năm qua, năm chục năm qua, lúc đó còn cái gì hay mình chỉ mong cầu làm sao để cho thở được thôi.
Như vậy, trong lúc đó thì nghĩ vậy nhưng khi thở được rồi lại bắt đầu tham lam, giành giật, tích góp, chiếm hữu nữa. Chúng ta thấy tâm vô minh của chúng sanh không, thấy tâm tham lam của hữu tình không, thấy tâm khờ dại của chúng ta không? Thật là dại khờ, trẻ thơ, ấu trĩ, những đứa con nít không biết gì, sống trong bóng đêm, dại khờ, hư tưởng ảo tưởng, mộng tưởng, điên đảo tưởng, vô minh tưởng, khát ái tưởng. Cứ như vậy, hết ý nghĩ này tới ý nghĩ khác, cảm giác này tới cảm giác khác, hình bóng này tới hình bóng khác. Đầy dãy trong đó là những cảm xúc ham muốn, chiếm hữu, chiếm đoạt cho tôi, cho của tôi, cho tự ngã của tôi.
Đó là những tư tưởng của vô minh, ngu muội, dại khờ, si ám. Gỡ ra hết những ý nghĩ này, phải loại trừ, tẩy sạch, đánh đuổi nó; phải nhìn thấy được tính chất của những thứ đồ gốm, bọt bóng, ảo ảnh đó, những cái đám mây, ráng mặt trời đó phải nhìn cho ra. Hãy nhìn cho thấu, xuyên thủng, xuyên thấu, xuyên qua nó, còn bằng không là mình khổ lắm. Ngày đêm, mình cứ lo lắng buồn phiền, giận hờn, tức tối, tranh giành những bọt bèo này, đấu đá, đánh đấm, hơn thua. Có những cái bóng, ảo ảnh, ảo tưởng mà mình tưởng tượng ra, không có gì hết. Mình phải quán chiếu đó là nhân quả, nghiệp báo. Buông xả đi, cố gắng buông xả hết sức mình rồi mình sẽ thấy sự an trú, giải thoát xuất hiện.
Mình thoát ra được cảm thọ, những suy nghĩ, cảm giác đó rồi tâm mình sẽ an yên, an trú, nhẹ nhàng, giải thoát tuyệt vời lắm. Làm đi! Sống đi! Quán đi! Mình tu đi rồi sẽ thấy phép màu tuyệt vời lắm! Bất cứ lúc nào, cái chết đến mình mỉm cười rồi thôi, khỏe, nhẹ. Từ bỏ xác thân đầy lo lắng, bất an, bệnh tật, bất tịnh này. Không có gì phải lưu luyến, không có gì phải lo lắng, sợ hãi. Rồi nó tới rồi, ta đã chuẩn bị sẵn 5 năm, 7 năm, 10 năm, ta chuẩn bị sẵn rồi, chấp nhận. Đối với thân xác này mình phải có cái nhìn như vậy, huống gì những cái ở ngoài thân. Những cái tâm như vậy đó là cái tâm được giải thoát, an trú. Chúng ta thấy cái này thần thánh, vi diệu, tối thượng không.
Thân xác này mà mình còn nhìn thấy như vậy thì huống chi mấy tấc đất ở ngoài, mấy món đồ chơi nhà chòi ở ngoài, bất cứ lúc nào tâm mình cũng luôn luôn hướng đến sự từ bỏ, buông xả, thoát ra. Đó là tâm của một bậc hướng Dự Lưu, đệ tử cưng của Thế Tôn, con ngoan của bậc Chánh Giác, mới xứng danh hai chữ là “chân chánh” Phật tử.
Minh Thành nói mà xúc động đến nước mắt rưng rưng, vui sướng, hạnh phúc, sung sướng, hoan hỉ, thích thú. Sao mà mình may mắn đến vậy? Sao mà mình là hạnh phúc đến như vậy? Sao mà mình lại phước báo đến như vậy? Sao trong hơn 7 tỷ người mà mình lại có được một ân đức tối thượng đến như vậy, được nghe những lời Pháp như vậy, được thấy, hiểu, biết, thức tri, quán chiếu như vậy? Hạnh phúc, hân hoan, phấn khởi, tuyệt diệu không? Thần thánh, Thánh Pháp, Thánh Trí, Thánh Đạo, Thánh Quả, Thánh Đức, Thánh Tuệ, Thánh Ân, Thánh Nghĩa, Thánh Tình, Thánh Đạo Lộ, Thánh Thoát Ly, Thánh Thể Nhập, Thánh Tri Kiến, Thánh An trú, Thánh An lạc, Thánh An bình, Thánh An tịnh, Thánh An tuệ, Thánh An vui, Thánh An ổn.
Chúng ta thấy vô số lượng những cảm giác hiền thiện, vi diệu, tối thượng mà an trú trong dòng Pháp này mới được thừa hưởng. Không có cùng chung với phàm phu, kẻ vô văn phàm phu, những người chưa từng nghe Pháp này, chưa thấy được Ngũ Uẩn, chưa thấy được những dục, tham, ái, vô minh, bản ngã. Mà nghĩa là khủng bố thế giới này thì những người đó làm sao mà có được thấy biết, hiểu biết, cảm thọ, nhận thức, tuệ giác như vậy. Chúng ta thấy mình phúc lạc tối thượng không. Mình nuôi lớn trí tuệ này để ăn Tết, ăn Tết bằng trí tuệ này. Người ta ăn Tết bằng hoa đào, nhánh mai, bánh chưng, bánh dày, bánh tét. Mình ăn Tết bằng “trí tuệ” tối thượng của bậc Thánh.
II. Tác ý hỷ lạc
Hoan hỷ không, năm nay mình ăn Tết lớn nhất không? Xin thưa với tất cả đại chúng là năm nay, không có ngày nào mà mình không nghe Pháp. Chịu ăn Tết bằng Thánh Pháp, Thánh Trí không? Ăn Tết bằng sự an ổn, an vui, an bình, an lạc, an tịnh, an lành của bậc Thánh, Thánh Trí Tuệ, Thánh Tối Thượng, Thánh Giải Thoát, Thánh Tri Kiến, Thánh Xuất Ly, Thánh Đạo Lộ. Năm nay, mình ăn Tết vĩ đại, Đạo tràng Nikāya ăn Tết tối thượng vĩ đại, ăn cái Tết mà vô lượng kiếp qua chưa từng thưởng thức “mùa xuân bất tử”.
Phải thưởng thức được hương vị của “mùa xuân bất tử”. Mùa xuân của sự giải thoát tất cả những buồn lo, đau khổ, những dòng nước mắt trong vô lượng kiếp vừa qua. Hôm nay, chúng ta phải thoát ra, tiến lên, ăn mừng vì chúng ta đã thấy được Đạo lộ và đang bước trên Đạo lộ tối thượng, vi diệu, tuyệt vời của bậc Thánh.
Còn Tết nào mà hơn Tết này? Còn mùa xuân nào mà bằng mùa xuân này? Còn năm mới nào mà có thể so sánh được với năm mới này? Còn sự hoan hỉ nào mà có thể ngang bằng được với sự hoan hỉ này? Còn niềm vui nào trên thế giới này có thể so sánh, có thể lớn bằng niềm vui này?
Bây giờ, mai đang nở xung quanh chúng ta, đào đang tươi thắm xung quanh hư không trời đất này, hoa vạn thọ vàng rực khắp hành tinh này, ngàn hoa vạn đóa đang nở rực cùng khắp hết trong Thánh Pháp, Thánh Trí Tuệ này, Chư Thiên đang đại hoan hỷ. Tất cả chúng sanh, chư vị ở trong khoảng hư không trời đất đang reo mừng Thánh Pháp tối thượng vi diệu này được tuyên thuyết, tuyên giảng, hiển thị, hiển lộ, trình bày, giải thích, phân tích, khai mở, phơi bày ra cho tất cả chúng sanh trong tam giới nhìn thấy ánh sáng vô thượng, vi diệu, tối thượng, xuất thế, siêu thế. Đó là hương vị của “mùa xuân bất tử”.
Năm nay Tết quá lớn, một cái Tết vĩ đại, cái Tết mà vô lượng vô biên kiếp vừa qua chúng ta chưa từng thưởng thức, cảm nhận, thấy, nghe, hiểu; mà bây giờ chúng ta thấy, nghe, hiểu, thức tri, tuệ tri được cái Tết này, vào mùa xuân Thánh Trí Tuệ tối thượng này. Mùa xuân ly tham, giải thoát, không có chấp thủ đối với các Lậu hoặc, mùa xuân được an trú, tri túc, an vui, an tịnh, an lạc, an bình, an yên, an lành, an lòng, an tâm. Để vượt qua tất cả những sầu não, khổ ưu, thành tựu Chánh Trí, chứng ngộ Niết-bàn, và chúng ta có một nội tâm tịch tịnh, lắng dịu, tĩnh lặng và bình yên.
Hôm nay, Minh Thành đãi cho quý vị cái Tết vĩ đại, tối thượng, thù thắng, siêu thế như vậy. Quý vị chia sẻ những cảm xúc, hạnh phúc chưa từng có của mình, để cho đại chúng trong đạo tràng Nikāya được thắm nhuần, được hưởng “mùa xuân bất tử” của năm nay.
Thầy mong rằng tất cả quý Phật tử sau khi nghe, hiểu, mình cố gắng giữ gìn những thấy, biết, tri kiến, cảm thọ của sự thật mà Đức Phật đã truyền trao cho chúng ta. Đức Phật dạy chúng ta tâm của mình hướng đến sự lìa tham đối với đời sống, thân xác, cảm giác, nghĩ tưởng này, hướng đến sự thoát ra, sự không có nắm giữ chấp thủ. Nhờ tâm của mình hướng đến sự thoát ra như vậy, tâm đó ít bị động, chạy lăng xăng, bớt đuổi tìm, truy tầm và đã được ở yên, an trú. Và khi tâm an trú rồi thì vị ấy sẽ biết đủ. Chỗ này là chỗ quan trọng, biết đủ, tự thấy đầy đủ trong đời sống, hai cái chữ “Biết đủ: Tri túc” này hết sức quan trọng.
Không phải chỉ ở ngoài thân và hình thức mà thật sự trong cảm thọ, trong những suy nghĩ của mình, không còn chạy, tìm, kiếm, mong, cầu, đòi, hỏi, yêu cầu phải vậy, yêu cầu phải khác, mong muốn phải vậy, mong muốn phải khác, đòi hỏi phải vậy, đòi hỏi phải khác. Tâm mình tự thấy biết đủ với hoàn cảnh hiện tại, những cái mình đang có hiện tại.
Đây là điều tuyệt diệu trong sự tu học, hành trì, thực tập của chúng ta. Cái tâm biết đủ, không thấy thiếu nữa, không muốn đòi hỏi thêm nữa, không có muốn gầy dựng, tạo dựng thêm nữa mà nó biết đủ: Tri túc. Chính tâm “biết đủ”, tâm “tri túc” này đó thì mình sẽ không có lo lắng và buồn phiền nữa. Chữ “ưu” là lo lắng, chữ “não” là buồn phiền. Tại vì tâm biết đủ không có đòi hỏi cho nên đâu có lo nữa, vì mình muốn thêm nữa nên mới lo, lo cho nên mới phiền. Tâm mình biết đủ với những gì hiện có, tâm đó được an yên, ở yên và không có lo lắng, buồn phiền. Khi mà tâm không lo lắng, không buồn phiền được an yên như vậy thì “vị ấy tự mình tịch tịnh”, tự mình có sự lắng dịu, an tịnh, tĩnh lặng ở bên trong.
Đây là mùa xuân “Ly Tham Bất Tử”, một tâm tĩnh lặng, tịch tịnh, một tâm ly tham, lìa tham, tâm thoát ra, không có nắm lấy, nắm giữ bất cứ một vật gì ở trên đời. Vì biết nó là bọt bóng, bọt nước nắm cũng đâu có được, “nắm” chẳng qua là ảo tưởng, hư tưởng của mình thôi. Mình tưởng như là nắm được, đang có, đó chỉ là ảo tưởng, vọng tưởng. Tất cả những cái đó chỉ là mình tưởng như có được, là của mình.
Thành ra những cái hiện giờ mà mình nghĩ rằng là của tôi, là tôi, tôi nhiều, tôi to, tôi bự, tôi lớn, tôi giàu. Tất cả những cái đó thật sự chỉ là ảo tưởng thôi, “đứt hơi” rồi tất cả mọi cái là hoàn toàn không còn gì nữa hết. Cho nên một khi tâm biết đủ rồi thì sẽ không có buồn lo, mà cái tâm không buồn lo đó được tự mình tịch tịnh, tự mình yên tĩnh, lắng dịu, bình an.
Tâm không còn rong chạy, đuổi tìm, đòi hỏi, thèm muốn nữa, không còn khao khát. Tâm đó là tâm tịch tịnh, tâm an lành, tâm an nhiên, tâm đại bình yên, tâm hoàn toàn lắng dịu, tâm diệt tận khổ đau, tâm hạnh phúc tràn đầy, tâm bình an tuyệt đối, tâm đó là tâm “Mùa xuân Ly Tham Bất Tử”. Năm nay chúng ta thưởng thức “Mùa xuân Ly Tham Bất Tử”.
Tâm thương này tỏa rộng cùng khắp thế giới này. Tâm thương này tỏa rộng khắp trời đất bao la.
Mùa Xuân Ly Tham Bất Tử - Thánh Trí 5 Uẩn
Thích Minh Thành
Ngày 28 tháng 01 năm 2022
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Ly tham PAGEREF _Toc97748176 \h 1
II. Tác ý hỷ lạc PAGEREF _Toc97748177 \h 6
I. Ly tham
Đảnh lễ Đức Thế Tôn bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác.
Kính thưa các bậc Hiền trí, tăng, ni và quý Phật tử.
Hôm nay, chúng ta nghe về “Tương Ưng Uẩn”, tiếp tục ở trong Thánh Trí Năm Uẩn đã được chia sẻ trước nay. Trong bộ Thánh Trí Năm Uẩn là bài kinh “Vô Thường”, “Tương Ưng Bộ Kinh”, Tập 3:
“Này các Tỷ-kheo, nếu vị Tỷ-kheo đối với sắc giới có tâm ly tham, giải thoát, không có chấp thủ các lậu hoặc, đối với thọ giới... đối với tưởng giới... đối với hành giới... đối với thức giới, có tâm ly tham, giải thoát, không có chấp thủ các lậu hoặc. Do giải thoát, vị ấy an trú. Do an trú, vị ấy tri túc. Do tri túc, vị ấy không ưu não. Do không ưu não, vị ấy tự mình tịch tịnh. Vị ấy biết: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa "”.
Chúng ta vừa nghe phần chánh văn của kinh, bây giờ Minh Thành sẽ diễn giải ra tiếng Việt để dễ hiểu hơn. Nếu vị tỷ-kheo đối với đồ vật, tài vật, tài sản, thân xác này mà có tâm lìa tham, không có tham muốn, có tâm thoát ra, không có sự nắm giữ các mê lầm, tham, sân, si, bản ngã trong đó. Nếu một người tu có tâm lìa tham, hướng đến sự thoát ra, tâm không có nắm giữ những tài sản, vật chất, thân xác thì tâm của người đó sẽ được thoát ra khỏi tài sản, vật chất, thân xác, sắc uẩn này. Tâm thoát ra đó sẽ được an trú, tức là sẽ được ở yên, an yên.
Do tâm được an yên như vậy thì vị ấy sẽ biết đủ, biết đủ đối với sắc, biết đủ đối với những phương tiện nhu yếu của đời sống, không có đòi hỏi, biết đủ nên vị ấy không có buồn lo ưu não. “Ưu” là lo lắng, chữ “não” là buồn phiền.
Do vị ấy biết đủ cho nên vị ấy không có lo lắng, buồn phiền. Do vị ấy không có lo lắng, buồn phiền nên vị ấy tự mình tịch tịnh, tâm được lặng lẽ. Đây cũng là “đạo lộ” của sự tu tập và tiến trình tâm của những vị thực hành theo đúng Thánh Đạo của Đức Phật.
Chúng ta thấy ở đây có những điểm. Thứ nhất là đối với sắc giới có tâm ly tham giải thoát, không có chấp thủ các lậu hoặc. Chữ “sắc giới” ở đây là thân xác, tài sản, vật chất, tiền của, là những cảnh vật mà tâm của mình có sự ly tham, lìa tham, và tâm của mình có một hướng thoát ra, giải thoát, là tâm đi ra đối với những thứ đó. Tâm hướng đến sự thoát ra, từ bỏ, giải thoát, không có nắm vào những thứ đó; tâm không có giữ những thứ đó, không có bị buộc vào những thứ đó và không có bị mê, bị lầm trong những thứ đó.
Với một tâm như vậy thì vị này sẽ được thoát ra và tâm được ở yên. Cho nên trước nay, chúng ta trang bị mấy năm qua mà hay gọi là “đảnh lễ giáo pháp Ly Tham tối thượng”, là toàn bộ những lời dạy của Đức Phật chỉ cho chúng ta thấy khổ và nguyên nhân của khổ. Nguyên nhân của khổ là gì? Là tham, tham dính, tham chấp, tham muốn, tham dục, tham ái, tham lam, tà tham, ác tham, vọng tham, cuồng tham, si tham, mê tham. Không biết bao nhiêu là dạng thức, hình thái, khía cạnh của tham nhưng tất cả những cái đó đều là tham hết. Và chính tham đó làm mình khổ.
Bây giờ, Đức Phật dạy mình con đường thoát khổ là gì? Là lìa tham, ly tham. Thành ra, chúng ta mới nói “đảnh lễ giáo pháp Ly Tham tối thượng”. Tại sao mình có thể lìa tham được? Tại sao mình có thể không tham? Tại sao mình có thể từ bỏ được? Chúng ta vẫn trở về cái mấu chốt là nhìn thấy được tính chất “khổ” ở trong “sắc”, tính chất tan rã, biến ngoại, hủy hoại, hoại diệt ở trong “sắc”, trong những hình hài, thân xác, tài sản, vật chất này. Bất cứ lúc nào, nó cũng có thể tan nát, biến hoại. Thành ra chúng ta nhìn thấy được tính chất vô thường, khổ não, bất an ở trong “sắc”, trong cảm giác, trong những hình bóng nội tâm, những suy nghĩ, những nhận thức.
Chúng ta thấy được tính chất, bản chất, khía cạnh, góc độ, trí tuệ, sự thật đó. Chúng ta “như lý giác sát, như lý quán sát, như lý tác ý”. Chúng ta nhớ những từ này hết sức quan trọng, đó là Pháp Hành. Như lý giác sát: Chữ “giác” là tĩnh giác, chữ “sát” là quán sát, chúng ta tĩnh giác để quán sát đúng với sự thật, đúng như bản chất, đúng với chân lý, tính chất, bản tánh của nó thì sự thật sẽ hiển lộ ra. “Như lý giác sát, như lý quán sát và như lý tác ý”. Sau khi đã quán sát, chúng ta chăm chú chuyên tâm để tâm nhìn sâu vào ở trong lòng của sự vật đó, trong lòng của những sắc pháp, những sắc tướng, những hình hài, những hình tướng đó. Chúng ta thấy bản chất của nó không có lõi bên trong, chỉ là bong bóng, bọt nước, ráng mặt trời, là ảo tưởng, ảo ảnh, hư tưởng, huyễn tưởng, vọng tưởng, mê lầm tưởng, điên đảo tưởng.
Chúng ta chỉ nhìn thấy những trò ảo thuật của tâm thức, những suy nghĩ như bẹ chuối không có lõi bên trong, những hình bóng nội tâm như những ráng mặt trời, những đám mây không nắm bắt được. Những cảm giác nổi lên rồi lại tan biến, phồng rồi xẹp, những cảm giác của bọt nước, những sắc pháp, những hình tướng của bong bóng nước. Chúng ta nhìn sâu vào trong đó, thường thường, luôn luôn nhìn, mọi lúc mọi nơi nhìn, không có quên cái nhìn đó thì tính chất thật sự của các Pháp sẽ hiển lộ ra. Khi nó hiển lộ ra, chúng ta nhìn thấy như vậy thì tâm sẽ rời tham muốn, lìa tham muốn, không tham muốn nữa đối với chúng. Như vậy gọi là “tâm ly tham, giải thoát”.
Do tâm không có tham muốn đó, tâm thoát ra. Đối với hình hài này, những cảm giác nghĩ tưởng này thì vị ấy sẽ được an trú, trong tâm của vị ấy ở yên, sẽ an yên, sẽ được an ổn, an bình, an lạc, an tịnh, an trú, ở yên, yên vui, yên ổn, yên bình, yên tịnh, yên lành, sự bình an, sự an yên, an lành, an tịnh, an bình, an vui, an lòng, an ổn, an lạc. Với một trí tuệ Ly tham, với một tâm hướng đến sự thoát ra, với một tầm nhìn sâu sắc vào bản chất của các pháp Năm Uẩn Tứ Đại thì tâm của vị này sẽ thoát ra và chính tâm thoát ra đó là một nội tâm yên tịnh, yên lặng, yên ổn, yên vui.
Chúng ta thấy hết sức là tuyệt vời không? Đây là sự vận hành của Pháp. Nếu tâm còn đầy dẫy những tham muốn, tham dục, tham ái, tham lam, tham vọng thì nội tâm đó là sẽ bị trói buộc, bất an, lo lắng, sợ hãi, sẽ bị nắm chặt, buộc chặt, siết chặt, bám chặt, nắm chặt. Và nội tâm như vậy thì làm sao có được sự ở yên, nội tâm lắng dịu, an tịnh, khi trong này là biết bao nhiêu những suy nghĩ, toan tính, mong muốn.
Bây giờ, mình thấy chút xíu một hai tấc đất làm mình đau khổ, bất an, bất ổn. Rồi khi mình nằm xuống, nằm bề dài hai thước, bề ngang có một thước thôi, còn chưa đến như vậy nữa, còn nhỏ hơn nữa nhưng mình còn sống thì giành giật, muốn bự, to lớn, muốn rộng không bao nhiêu cho đủ hết. Để làm cái gì? Chẳng qua là vô minh, ảo tưởng; mình tưởng ra nhiều, to lớn, rộng, bự như vậy là mình hơn, giàu. Thật sự, đó chỉ là ảo tưởng của vô minh thôi.
Bây giờ bất thình lình tai nạn giao thông, tai biến mạch máu não, nhiễm bệnh nằm xuống, lấy từng hơi thở khốn khổ, khó khăn, nhọc nhằn. Đất, tiền, nhà đó còn giá trị với ai nữa. Tất cả tài sản bằng mồ hôi, máu, nước mắt tích góp sáu bảy chục năm qua, năm chục năm qua, lúc đó còn cái gì hay mình chỉ mong cầu làm sao để cho thở được thôi.
Như vậy, trong lúc đó thì nghĩ vậy nhưng khi thở được rồi lại bắt đầu tham lam, giành giật, tích góp, chiếm hữu nữa. Chúng ta thấy tâm vô minh của chúng sanh không, thấy tâm tham lam của hữu tình không, thấy tâm khờ dại của chúng ta không? Thật là dại khờ, trẻ thơ, ấu trĩ, những đứa con nít không biết gì, sống trong bóng đêm, dại khờ, hư tưởng ảo tưởng, mộng tưởng, điên đảo tưởng, vô minh tưởng, khát ái tưởng. Cứ như vậy, hết ý nghĩ này tới ý nghĩ khác, cảm giác này tới cảm giác khác, hình bóng này tới hình bóng khác. Đầy dãy trong đó là những cảm xúc ham muốn, chiếm hữu, chiếm đoạt cho tôi, cho của tôi, cho tự ngã của tôi.
Đó là những tư tưởng của vô minh, ngu muội, dại khờ, si ám. Gỡ ra hết những ý nghĩ này, phải loại trừ, tẩy sạch, đánh đuổi nó; phải nhìn thấy được tính chất của những thứ đồ gốm, bọt bóng, ảo ảnh đó, những cái đám mây, ráng mặt trời đó phải nhìn cho ra. Hãy nhìn cho thấu, xuyên thủng, xuyên thấu, xuyên qua nó, còn bằng không là mình khổ lắm. Ngày đêm, mình cứ lo lắng buồn phiền, giận hờn, tức tối, tranh giành những bọt bèo này, đấu đá, đánh đấm, hơn thua. Có những cái bóng, ảo ảnh, ảo tưởng mà mình tưởng tượng ra, không có gì hết. Mình phải quán chiếu đó là nhân quả, nghiệp báo. Buông xả đi, cố gắng buông xả hết sức mình rồi mình sẽ thấy sự an trú, giải thoát xuất hiện.
Mình thoát ra được cảm thọ, những suy nghĩ, cảm giác đó rồi tâm mình sẽ an yên, an trú, nhẹ nhàng, giải thoát tuyệt vời lắm. Làm đi! Sống đi! Quán đi! Mình tu đi rồi sẽ thấy phép màu tuyệt vời lắm! Bất cứ lúc nào, cái chết đến mình mỉm cười rồi thôi, khỏe, nhẹ. Từ bỏ xác thân đầy lo lắng, bất an, bệnh tật, bất tịnh này. Không có gì phải lưu luyến, không có gì phải lo lắng, sợ hãi. Rồi nó tới rồi, ta đã chuẩn bị sẵn 5 năm, 7 năm, 10 năm, ta chuẩn bị sẵn rồi, chấp nhận. Đối với thân xác này mình phải có cái nhìn như vậy, huống gì những cái ở ngoài thân. Những cái tâm như vậy đó là cái tâm được giải thoát, an trú. Chúng ta thấy cái này thần thánh, vi diệu, tối thượng không.
Thân xác này mà mình còn nhìn thấy như vậy thì huống chi mấy tấc đất ở ngoài, mấy món đồ chơi nhà chòi ở ngoài, bất cứ lúc nào tâm mình cũng luôn luôn hướng đến sự từ bỏ, buông xả, thoát ra. Đó là tâm của một bậc hướng Dự Lưu, đệ tử cưng của Thế Tôn, con ngoan của bậc Chánh Giác, mới xứng danh hai chữ là “chân chánh” Phật tử.
Minh Thành nói mà xúc động đến nước mắt rưng rưng, vui sướng, hạnh phúc, sung sướng, hoan hỉ, thích thú. Sao mà mình may mắn đến vậy? Sao mà mình là hạnh phúc đến như vậy? Sao mà mình lại phước báo đến như vậy? Sao trong hơn 7 tỷ người mà mình lại có được một ân đức tối thượng đến như vậy, được nghe những lời Pháp như vậy, được thấy, hiểu, biết, thức tri, quán chiếu như vậy? Hạnh phúc, hân hoan, phấn khởi, tuyệt diệu không? Thần thánh, Thánh Pháp, Thánh Trí, Thánh Đạo, Thánh Quả, Thánh Đức, Thánh Tuệ, Thánh Ân, Thánh Nghĩa, Thánh Tình, Thánh Đạo Lộ, Thánh Thoát Ly, Thánh Thể Nhập, Thánh Tri Kiến, Thánh An trú, Thánh An lạc, Thánh An bình, Thánh An tịnh, Thánh An tuệ, Thánh An vui, Thánh An ổn.
Chúng ta thấy vô số lượng những cảm giác hiền thiện, vi diệu, tối thượng mà an trú trong dòng Pháp này mới được thừa hưởng. Không có cùng chung với phàm phu, kẻ vô văn phàm phu, những người chưa từng nghe Pháp này, chưa thấy được Ngũ Uẩn, chưa thấy được những dục, tham, ái, vô minh, bản ngã. Mà nghĩa là khủng bố thế giới này thì những người đó làm sao mà có được thấy biết, hiểu biết, cảm thọ, nhận thức, tuệ giác như vậy. Chúng ta thấy mình phúc lạc tối thượng không. Mình nuôi lớn trí tuệ này để ăn Tết, ăn Tết bằng trí tuệ này. Người ta ăn Tết bằng hoa đào, nhánh mai, bánh chưng, bánh dày, bánh tét. Mình ăn Tết bằng “trí tuệ” tối thượng của bậc Thánh.
II. Tác ý hỷ lạc
Hoan hỷ không, năm nay mình ăn Tết lớn nhất không? Xin thưa với tất cả đại chúng là năm nay, không có ngày nào mà mình không nghe Pháp. Chịu ăn Tết bằng Thánh Pháp, Thánh Trí không? Ăn Tết bằng sự an ổn, an vui, an bình, an lạc, an tịnh, an lành của bậc Thánh, Thánh Trí Tuệ, Thánh Tối Thượng, Thánh Giải Thoát, Thánh Tri Kiến, Thánh Xuất Ly, Thánh Đạo Lộ. Năm nay, mình ăn Tết vĩ đại, Đạo tràng Nikāya ăn Tết tối thượng vĩ đại, ăn cái Tết mà vô lượng kiếp qua chưa từng thưởng thức “mùa xuân bất tử”.
Phải thưởng thức được hương vị của “mùa xuân bất tử”. Mùa xuân của sự giải thoát tất cả những buồn lo, đau khổ, những dòng nước mắt trong vô lượng kiếp vừa qua. Hôm nay, chúng ta phải thoát ra, tiến lên, ăn mừng vì chúng ta đã thấy được Đạo lộ và đang bước trên Đạo lộ tối thượng, vi diệu, tuyệt vời của bậc Thánh.
Còn Tết nào mà hơn Tết này? Còn mùa xuân nào mà bằng mùa xuân này? Còn năm mới nào mà có thể so sánh được với năm mới này? Còn sự hoan hỉ nào mà có thể ngang bằng được với sự hoan hỉ này? Còn niềm vui nào trên thế giới này có thể so sánh, có thể lớn bằng niềm vui này?
Bây giờ, mai đang nở xung quanh chúng ta, đào đang tươi thắm xung quanh hư không trời đất này, hoa vạn thọ vàng rực khắp hành tinh này, ngàn hoa vạn đóa đang nở rực cùng khắp hết trong Thánh Pháp, Thánh Trí Tuệ này, Chư Thiên đang đại hoan hỷ. Tất cả chúng sanh, chư vị ở trong khoảng hư không trời đất đang reo mừng Thánh Pháp tối thượng vi diệu này được tuyên thuyết, tuyên giảng, hiển thị, hiển lộ, trình bày, giải thích, phân tích, khai mở, phơi bày ra cho tất cả chúng sanh trong tam giới nhìn thấy ánh sáng vô thượng, vi diệu, tối thượng, xuất thế, siêu thế. Đó là hương vị của “mùa xuân bất tử”.
Năm nay Tết quá lớn, một cái Tết vĩ đại, cái Tết mà vô lượng vô biên kiếp vừa qua chúng ta chưa từng thưởng thức, cảm nhận, thấy, nghe, hiểu; mà bây giờ chúng ta thấy, nghe, hiểu, thức tri, tuệ tri được cái Tết này, vào mùa xuân Thánh Trí Tuệ tối thượng này. Mùa xuân ly tham, giải thoát, không có chấp thủ đối với các Lậu hoặc, mùa xuân được an trú, tri túc, an vui, an tịnh, an lạc, an bình, an yên, an lành, an lòng, an tâm. Để vượt qua tất cả những sầu não, khổ ưu, thành tựu Chánh Trí, chứng ngộ Niết-bàn, và chúng ta có một nội tâm tịch tịnh, lắng dịu, tĩnh lặng và bình yên.
Hôm nay, Minh Thành đãi cho quý vị cái Tết vĩ đại, tối thượng, thù thắng, siêu thế như vậy. Quý vị chia sẻ những cảm xúc, hạnh phúc chưa từng có của mình, để cho đại chúng trong đạo tràng Nikāya được thắm nhuần, được hưởng “mùa xuân bất tử” của năm nay.
Thầy mong rằng tất cả quý Phật tử sau khi nghe, hiểu, mình cố gắng giữ gìn những thấy, biết, tri kiến, cảm thọ của sự thật mà Đức Phật đã truyền trao cho chúng ta. Đức Phật dạy chúng ta tâm của mình hướng đến sự lìa tham đối với đời sống, thân xác, cảm giác, nghĩ tưởng này, hướng đến sự thoát ra, sự không có nắm giữ chấp thủ. Nhờ tâm của mình hướng đến sự thoát ra như vậy, tâm đó ít bị động, chạy lăng xăng, bớt đuổi tìm, truy tầm và đã được ở yên, an trú. Và khi tâm an trú rồi thì vị ấy sẽ biết đủ. Chỗ này là chỗ quan trọng, biết đủ, tự thấy đầy đủ trong đời sống, hai cái chữ “Biết đủ: Tri túc” này hết sức quan trọng.
Không phải chỉ ở ngoài thân và hình thức mà thật sự trong cảm thọ, trong những suy nghĩ của mình, không còn chạy, tìm, kiếm, mong, cầu, đòi, hỏi, yêu cầu phải vậy, yêu cầu phải khác, mong muốn phải vậy, mong muốn phải khác, đòi hỏi phải vậy, đòi hỏi phải khác. Tâm mình tự thấy biết đủ với hoàn cảnh hiện tại, những cái mình đang có hiện tại.
Đây là điều tuyệt diệu trong sự tu học, hành trì, thực tập của chúng ta. Cái tâm biết đủ, không thấy thiếu nữa, không muốn đòi hỏi thêm nữa, không có muốn gầy dựng, tạo dựng thêm nữa mà nó biết đủ: Tri túc. Chính tâm “biết đủ”, tâm “tri túc” này đó thì mình sẽ không có lo lắng và buồn phiền nữa. Chữ “ưu” là lo lắng, chữ “não” là buồn phiền. Tại vì tâm biết đủ không có đòi hỏi cho nên đâu có lo nữa, vì mình muốn thêm nữa nên mới lo, lo cho nên mới phiền. Tâm mình biết đủ với những gì hiện có, tâm đó được an yên, ở yên và không có lo lắng, buồn phiền. Khi mà tâm không lo lắng, không buồn phiền được an yên như vậy thì “vị ấy tự mình tịch tịnh”, tự mình có sự lắng dịu, an tịnh, tĩnh lặng ở bên trong.
Đây là mùa xuân “Ly Tham Bất Tử”, một tâm tĩnh lặng, tịch tịnh, một tâm ly tham, lìa tham, tâm thoát ra, không có nắm lấy, nắm giữ bất cứ một vật gì ở trên đời. Vì biết nó là bọt bóng, bọt nước nắm cũng đâu có được, “nắm” chẳng qua là ảo tưởng, hư tưởng của mình thôi. Mình tưởng như là nắm được, đang có, đó chỉ là ảo tưởng, vọng tưởng. Tất cả những cái đó chỉ là mình tưởng như có được, là của mình.
Thành ra những cái hiện giờ mà mình nghĩ rằng là của tôi, là tôi, tôi nhiều, tôi to, tôi bự, tôi lớn, tôi giàu. Tất cả những cái đó thật sự chỉ là ảo tưởng thôi, “đứt hơi” rồi tất cả mọi cái là hoàn toàn không còn gì nữa hết. Cho nên một khi tâm biết đủ rồi thì sẽ không có buồn lo, mà cái tâm không buồn lo đó được tự mình tịch tịnh, tự mình yên tĩnh, lắng dịu, bình an.
Tâm không còn rong chạy, đuổi tìm, đòi hỏi, thèm muốn nữa, không còn khao khát. Tâm đó là tâm tịch tịnh, tâm an lành, tâm an nhiên, tâm đại bình yên, tâm hoàn toàn lắng dịu, tâm diệt tận khổ đau, tâm hạnh phúc tràn đầy, tâm bình an tuyệt đối, tâm đó là tâm “Mùa xuân Ly Tham Bất Tử”. Năm nay chúng ta thưởng thức “Mùa xuân Ly Tham Bất Tử”.
Tâm thương này tỏa rộng cùng khắp thế giới này. Tâm thương này tỏa rộng khắp trời đất bao la.