Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Làm Sao Để Thành Người Xuất Gia Đúng Nghĩa 3 - Kinh Xóm Ngựa

2026-03-03 00:55:08
LÀM SAO ĐỂ THÀNH NGƯỜI XUẤT GIA ĐÚNG NGHĨA 3- KINH XÓM NGỰA - TRUNG BỘ

Thích Minh Thành

Rõ biết trước mặt, cảm nhận hơi thở, cảm nhận cơ thể, cảm nhận cảm giác của toàn bộ cơ thể, thở vào làm cho thân an tịnh, thở ra làm cho tâm lắng dịu. An tịnh… lắng dịu… an tịnh… lắng dịu… dễ chịu.

Kính thưa đại chúng hôm nay chúng ta có buổi pháp đàm, chúng ta có thể nêu lên những điều mình chưa hiểu, những khó khăn trở ngại trong việc thực tập giáo pháp, đây là cơ hội để chúng ta được soi sáng, được chia sẻ trong tinh thần thân thiện, cởi mở trong giáo pháp.

Mình học bài kinh về người tu là Đại Kinh Xóm Ngựa trong Trung Bộ Kinh. Khi mình ngồi lâu thì thân mệt mỏi và tưởng, khi mình nhiếp tâm sẽ nhẹ nhàng khinh an thì thân giống như bông gòn, lơ lửng trong hư không, đó là trạng thái khinh an. Cần học cho kĩ cách thực tập ngồi thiền trong bài Nhập Thất Chia Sẻ Chỉ Cách Ngồi Thiền của Minh Thành trên trang linhquyphapan.vn, thực tập không đúng pháp, chú tâm vào chỗ này chỗ kia dễ có sự lệch lạc hoặc nhức đầu, khó thở là do chưa nắm vững pháp hành, cần học lại cho kĩ cách thực tập, không chỉ là hơi thở hoặc là cái bụng phồng xẹp trong lúc ngồi thiền mà phải thực tập đầy đủ ba pháp, ngoài ra cần nghe thêm bài Công Năng Và Tác Dụng Thực Tập Ba Pháp nhiều lần để nắm vững pháp hành. Khi mình thực hành không đầy đủ, không đúng có khi dẫn đến các trạng thái khó thở, nhức đầu, căng thẳng cho nên phải khéo léo điều tiết thân tâm của mình và thực hành cho kĩ vì thiền đòi hỏi phải có sự hiểu biết và phải có người hướng dẫn, cái tâm không vững, không khéo léo sẽ làm sai và phải ngưng lại chờ học hỏi cho kĩ rồi mới làm.

(Chú tâm cảnh giác)

Này các Tỳ-kheo, thế nào la các công việc đáng phải làm hơn nữa? "Chúng ta phải chú tâm cảnh giác. Ban ngày đi kinh hành (hay) trong lúc ngồi, chúng ta phải tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại. Ban đêm canh một đi kinh hành (hay) trong lúc ngồi, chúng ta phải tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại. Ban đêm canh giữa, chúng ta phải nằm dáng nằm con sư tử, nghiêng bên hông tay phải, một chân đặt trên chân kia, chánh niệm tỉnh giác, tâm nghĩ đến lúc thức dậy lại. Ban đêm canh đầu thức dậy, đi kinh hành (hay) trong lúc ngồi, chúng ta phải tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại". (Trung Bộ Kinh, 39. Ðại kinh Xóm ngựa)

Ở đây Đức Phật dạy chúng ta chú tâm cảnh giác, khi đi; đứng; ngồi; nằm phải tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại. Thế nào là chú tâm cảnh giác và thế nào là các pháp chướng ngại? Chú tâm cảnh giác cũng giống chánh niệm tỉnh giác nhưng chú tâm cảnh giác có hai phần: Thứ nhất là khi đi rõ biết mình đang đi, khi đứng rõ biết mình đang đứng, ngồi hay nằm cũng đều rõ biết, rõ biết các cử chỉ của mình không thô tháo, không lăng xăng, không dao động nhiều, ví dụ đang ngồi thiền bị tê chân thì muốn trở chân hoặc bị muỗi cắn ngứa mà muốn gãi, không phải tê là trở chân liền hay bị ngứa là gãi sột sột liền, đó là không thực hành chánh niệm tỉnh giác, muốn trở chân thì phải làm từ từ trong sự chánh niệm kiểm soát hành vi, muốn gãi thì cũng đưa tay lên gãi nhẹ nhàng, cho nên sự học về Thân Hành Niệm tức là kiểm soát cử chỉ, hành động được sử dụng như thế nào thì phải biết được sử dụng như thế ấy, điều này làm nên dáng vẻ của người tu nhưng chỉ mới ở vỏ ngoài của Phạm hạnh, nếu không có thì không có vỏ ngoài cho nên cách đi đứng, ăn nói của người tu đều khác với người đời, không thể chưa thấy người đã nghe tiếng dép kéo lê dưới nền đất, đó là không có dáng dấp của người tu dù cho người đó có cạo tóc đắp y đi nữa, người đó chỉ có hình thức bên ngoài, vì vậy người tu phải đi đứng nhẹ nhàng, khoan thai, chánh niệm, mỗi cử chỉ hành vi đều phải được kiểm soát, quản lý, xem xét, nhất là trong nhà bếp cần phải tu nhiều nhất vì vào đó là những tập khí, tánh tình đều được bung ra, cái tu của chúng ta không phải trong giờ học hay giờ thiền mà ngay giờ ra chơi phải tu nhiều nhất vì lúc đó là lúc mình thường thả lỏng các căn, các đối tượng mà mình phải tu nhiều nhất là những người thân trong gia đình mình vì với những người đó mình rất dễ bung các tập khí, nói không cẩn thận, hành động buông thả cho nên sự tu rất nhỏ nhiệm, vi tế và phải được tu tập, hành trì, quản lý khéo léo, nhiếp phục. Thứ hai là thọ khởi lên phải biết, cảm giác an trú và chấm dứt đều phải biết, trong tâm có hình bóng gì sanh khởi, an trú và tan biến mình phải biết, trong đầu đang có suy nghĩ gì, suy nghĩ đó đang tồn tại trong tâm và khi nó chấm dứt mình phải biết, tức là những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ trong tâm sanh khởi lên, nó tồn tại và chấm dứt mình phải biết thì gọi là chú tâm tỉnh giác hoặc chánh niệm tỉnh giác. Một người suốt ngày nhìn cảnh bên ngoài, nhìn người này người nọ thì làm sao biết được thọ; tưởng; hành? Làm sao biết được cảm giác, nghĩ tưởng đang có gì? Thực tế không chỉ biết được cảm giác, nghĩ tưởng thôi mà còn phải biết thọ đó thuộc về thọ gì, nếu đó là cảm giác khoan khoái, thích thú thì phải biết có dục, tham, ái trong đó và phải tẩy sạch nó, thành ra sự tu đúng theo Đức Phật nói sẽ rất khó khăn nhưng có vậy mới tẩy sạch các lậu hoặc và đi đến thánh quả. Mình không phải chỉ biết đang có cảm thọ mà còn phải biết cảm thọ đó thuộc về thọ gì (lạc thọ; khổ thọ; bất khổ bất lạc thọ), trong thọ này có dục, tham, ái, có dự dính mắc và phải tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại pháp, nếu trong cảm giác có sân phải trải tâm từ, làm cho cảm giác bực bội, nóng giận đó lắng dịu, an tịnh, dễ chịu, trong cảm giác có si, lờ đờ thì tác ý đánh đuổi nó để cái si tan biến thì cái tâm sáng suốt, minh mẫn hiện ra.

Chướng ngại pháp là ngũ cái: Dục tham; sân; hôn trầm-thụy miên; trạo hối; hoài nghi. Năm cái này gọi là chướng ngại pháp, năm cái pháp làm chướng ngại tâm của mình hay còn gọi là ngũ cái (ngũ triền cái/ năm triền cái). Cái là sự che đậy, triền là sự trói cột. Năm thứ này che đậy làm tâm thức không sáng tỏ được, khi dục tham ái sanh khởi thì tâm không minh mẫn được, khi đã thấy món đồ đẹp nảy sinh lòng tham nên người đó bị mờ mắt, trí não không sáng suốt không thấy trong nhà có camera. Tâm sân, bực bội nổi lên thì giận quá mất khôn. Tâm hôn trầm còn tệ hơn. Trạo cử là lăng xăng hoặc hối hận về những điều mình đã làm, khi ngồi thiền yên tịnh nếu mình có làm gì sai phạm thì những cái đó hiện lên làm tâm mình hối hận, hối tiếc làm mình không vào định được vì tâm bất an. Chính những điều này cho chúng ta thấy không dễ dàng để ngồi thiền, không dễ để bước vào định, người muốn vào định thì giới phải thanh tịnh, không định được thì làm sao có tuệ? Vì vậy giới – định – tuệ là ba cái có sự liên kết với nhau, hỗ trợ lẫn nhau để thành tựu, cho nên trạo hối là ở ngoài là một sự lăng xăng, lóc chóc còn bên trong là cái tâm hối hận, hối tiếc, sự trách móc làm mình bất an không vào định được, ví dụ khi nói dối người nào đó thì tối về ngồi thiền nhớ lại, băn khoăn không biết họ biết mình nói dối không, vậy là thọ; tưởng; hành vận hành làm tâm mình bất an suốt đời nếu không sám hối thanh tịnh, ngồi thiền không bao giờ vào định được. Cứ ngồi thiền là những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ hiện lên, tòa án lương tâm quở trách, có cảm giác hối hận, hối tiếc rất khó chịu, vì vậy mà trong kinh ghi ngày đêm phải tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại, đó là ban ngày, ban đêm canh một, ban đêm canh giữ, canh đầu đều phải tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại, đi đứng hay ngồi nằm đều quay trở lại tâm tư để tẩy sạch các chướng ngại pháp, tham ở đâu là rửa ở đó, dục ở đâu là tẩy ở đó, ái ở đâu là đoạn ở đó. Dì mẫu của chúng ta, tổ sư Ma-ha-ba-xà-ba-đề (Mahapajapati Gotami) lớn tuổi rồi đã đến bạch Thế Tôn xin Thế Tôn chỉ dạy pháp ngắn gọn để thành tựu, Thế Tôn đã nói bà thấy ái ở đâu là đoạn ở đó, tham ở đâu là diệt, dục ở đâu trừ ở đó, dì mẫu làm theo không lâu sau tẩy sạch mọi chướng ngại pháp, chứng thánh quả A-la-hán và trở thành tổ sư của Ni đoàn.

Ái tận là giải thoát.

Ái trong đạo Phật không phải chỉ là nam nữ mà nó bao trùm mọi thứ thế giới, chỗ ngồi cũng ái, món ăn cũng ái, cái áo mặc cũng ái… tất cả mọi cái về mình và của mình cũng ái, thậm chí không phải của mình cũng ái. Cho nên trong kinh Đại Niệm Xứ Thế Tôn đã hỏi ái ở đâu, làm sao để diệt trừ, Thế Tôn trả lời ở đời con mắt là sắc thân ái, khả ái, đáng yêu, lỗ mũi… tai… đôi môi… cái miệng… gương mặt này… tai… chân... cơ thể này là sắc thân ái, là sắc khả ái và đoạn tận ngay chỗ đó.

Này các Tỳ-kheo, sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đâu, khi an trú thì an trú ở đâu? Ở đời, sắc gì thân ái, sắc gì khả ái? Ở đời con mắt là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy. Ở đời cái tai... ở đời mũi... ở đời lưỡi... ở đời thân... ở đời ý là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy.

Ở đời các sắc... ở đời các tiếng... ở đời các hương... ở đời các vị... ở đời các cảm xúc... ở đời các pháp là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy.

Ở đời nhãn thức... ở đời nhĩ thức... ở đời tỷ thức... ở đời thiệt thức... ở đời thân thức... ở đời ý thức là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy.

Ở đời nhãn xúc... ở đời nhĩ xúc... ở đời tỷ xúc... ở đời thiệt xúc... ở đời thân xúc... ở đời ý xúc là sắc thân ái, à sắc khả ái. Sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy. (Trường Bộ Kinh, 22. Kinh Ðại Niệm xứ)

Nội dung kinh Tứ Niệm Xứ là quán chiếu thân thể này là 32 thể trược, 9 giai đoạn của một tử thi, phèo phổi, gan ruột, phân và nước tiểu… để phá cái ái, vì thế tu là cả một công trình vĩ đại chứ không hề đơn giản như mình nghĩ một ngày 2 thời công phu là xong, tu đúng theo lời Đức Phật nói là cực kì khó khăn và gian khổ nhưng tu như vậy mới đi được đến chỗ diệt tận tham sân si, chứng nhập Niết-bàn, thành tựu thánh quả, còn tu theo kiểu của mình bây giờ thì tu hoài mà tham sân si không hết, không thấy được thánh trí, thánh tuệ, phàm tâm càng ngày càng phát triển mạnh vì mình đặt tâm không đúng hướng, không tâm niệm ngày đêm tẩy sạch các chướng ngại pháp, cứ chạy theo hình thức bên ngoài màu mè lòe loẹt trong khi nội tâm đầy rác bẩn. Vì thế những bài kinh này cực kì quan trọng, làm tư lương cho mình hành trì và hướng dẫn những người tu sau.

Đang đi mà ái sanh khởi là diệt liền, tẩy liền. Ví dụ đang đi chung một đoàn đến đảnh lễ các vị tôn đức mà thấy cảnh đẹp là muốn cả đoàn dừng lại chờ để mình vào chụp hình. Cái đó là dục muốn vào chụp hình, thích chụp là ái, muốn chụp nhiều là tham, mình làm cho cả đoàn người phiền não, bực bội mà mình cứ lo cho cái dục tham ái của mình được thỏa mãn thì quá ích kỉ, những cái này bắt buộc phải tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại. Có một chú đi dự khóa tu 7 ngày, trở về con hỏi chú ấn tượng gì nhất khi dự khóa tu, chú trả lời dĩa tàu hủ 4 miếng mà một mình ông kia ăn mất 2 miếng, cái tu không phải xa xôi, không phải tu trên chánh điện, trên thiền đường mà tu trong sinh hoạt hằng ngày, khi ăn, khi ngủ cũng vậy, chuông báo thức reng rồi mà vẫn với tay tắt đồng hồ ngủ tiếp. Có một chú tiểu ở chùa Bửu Liên ngủ một giấc làm mất đi một năm, đến ngày thi mà ngủ quên đến khi giật mình thức dậy thì trễ giờ nên phải ở lại lớp 1 năm cho nên Minh Thành mới nói ngủ một giấc mà mất một năm, mình nghe thì cười chú tiểu nhưng thật chất mình đã ngủ một giấc ngàn năm rồi, không thấy ngủ uẩn, không thấy tham sân si, bản ngã, không thấy chướng ngại pháp rồi đam mê, tham đắm trong đó, cho nên mới gọi là ngủ mê, ngủ hoài trong đó, có người đánh thức khai thị chỉ dẫn cho thì giận. Cho nên tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại là cực kì quan trọng, phải tâm niệm điều này ngày đêm và thường xuyên, thấy các ác, bất thiện pháp chỗ nào là quét dọn, tẩy sạch ngay đó. Một người ở sạch là người đó thường lau chùi, quét dọn căn phòng, thầy Pháp An là ba Minh Thành lên núi ở là xung quanh khu vực đó không có một cọng cỏ, nhổ cỏ làm cỏ không lên nổi. Người tu cũng giống như người ở sạch, phải quét căn nhà nội tâm cho sạch, nhiều khi lau dọn bên ngoài láng bóng nhưng bên trong cái tâm không làm sạch, dơ bẩn. Quét cái phòng, quét cái chùa mà tâm không chịu quét trong khi điều quan trọng là quét tâm sạch thì tâm mới bình an, thanh tịnh, ngọt ngào, còn không quét thì tâm rất cay đắng, chua chát, đau khổ vì những cảm giác trong này toàn là ganh tị, đố kị, nhỏ mọn, đụng vào là xảy ra chuyện, gây thị phi hết người này đến người kia. Một cái tâm như vậy rất khổ sở cho nên phải tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại, một cái tâm luôn hiền lành, dễ chịu, từ bi thì đẹp biết bao cho nên hãy tu tập tâm đó sẽ được an lạc, hòa kính, thanh tịnh. Những cái này phải được thực tập trước mặt cũng như sau lưng các bậc đồng Phạm hạnh, miệng nói lời từ, thân làm việc từ, ý suy nghĩ từ.

Như vậy, này các Tỳ-kheo, các Ông cần phải tu tập. Nhưng này các Tỳ-kheo, các Ông có thể khởi lên ý kiến: "Chúng ta đã thành tựu tàm quý, thân hành chúng ta thanh tịnh, khẩu hành thanh tịnh, ý hành thanh tịnh, sanh mạng thanh tịnh, các căn đã được hộ trì, ăn uống có tiết độ, chú tâm cảnh giác, đến mức độ này, như vậy là vừa đủ; đến mức độ này, như vậy đã làm xong. Chúng ta đã đạt được mục đích Sa-môn hạnh. Chúng ta không có gì phải làm hơn nữa". Và cho đến mức độ ấy, các Ông có thể tự thỏa mãn. Này các Tỳ-kheo, Ta khuyến cáo các Ông. Này các Tỳ-kheo, Ta tuyên bố cho các ông: Khi các Ông hướng đến mục đích Sa-môn hạnh, chớ có từ bỏ mục đích này, khi đang còn công việc đáng phải làm hơn nữa.

(Chánh niệm tỉnh giác)

Này các Tỳ-kheo, thế nào là các công việc đáng phải làm hơn nữa? "Chúng ta phải chánh niệm tỉnh giác, khi đi tới, khi đi lui đều tỉnh giác, khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác, khi co tay, khi duỗi tay đều tỉnh giác, khi mang y kép, bình bát, thượng y đều tỉnh giác, khi ăn uống, nhai, nuốt đều tỉnh giác, khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác, khi đi đứng, nằm, thức, nói, yên lặng đều tỉnh giác". (Trung Bộ Kinh, 39. Ðại kinh Xóm ngựa)

Chỉ riêng phần khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác phải học một buổi chứ không đơn giản như mình nghĩ. Lúc đi toilet mà không có chánh niệm tỉnh giác sẽ làm phiền người khác, ví dụ như mang dép đạp vào thành bồn cầu, đi ra lại không rửa, hoặc là đi rồi lại không xả nước, chỉ riêng việc đi đại tiện thôi cũng chia tông phái làm chấn động đến Đức Thế Tôn, một vị pháp sư và một vị luật sư cãi nhau vì cái chậu nước, đi vào toilet rồi không úp chậu xuống, hai đệ tử dằn co rồi xảy ra chuyện lớn, Đức Thế Tôn can ngăn thì lại bảo Thế Tôn về ngủ đi, chuyện của tụi con để tụi con giải quyết, cho nên Đức Thế Tôn đi vào rừng ở một mình.

Tại Kosambi, trong tinh xá Ghosita có hai Tỳ-kheo trú ngụ, một vị là luật sư, vị kia là pháp sư, mỗi vị dẫn đầu năm trăm tăng. Một hôm, vị pháp sư sau khi tắm xong đã chừa lại một ít nước trong bồn tắm và đi ra. Kế đó, vị luật sư đi vào thấy nước dư, lúc trở ra ngoài ông hỏi bạn:

- Này huynh, có phải huynh đã chừa nước lại không?

Vị pháp sư đáp:

- Vâng, huynh ạ!

- Nhưng huynh không biết là đã phạm lỗi sao?

- Thật ra tôi không biết.

-Này huynh, đó là một lỗi.

- Như thế, tôi sẽ sám hối về lỗi ấy.

- Dĩ nhiên, này huynh! Nếu huynh không cố ý làm, vô tâm thì không gọi là lỗi.

Nghe vị luật sư bảo thế, vị pháp sư yên trí xem như không có lỗi. Ấy thế mà vị luật sư lại nói với học chúng của mình:

- Vị pháp sư dù đã phạm lỗi vẫn không thấy lỗi.

Và nhóm học chúng này khi gặp nhóm học chúng của vị pháp sư liền kháo nhau:

- Thầy của các anh đã phạm lỗi mà không nhận lỗi.

Học chúng của vị pháp sư về kể lại với thầy mình. Vị pháp sư nghe qua liền đáp:

- Vị luật sư này trước đó đã nói là không lỗi, bây giờ nói có lỗi. Ông ta là người dối trá.

Học chúng của hai bên gặp nhau, rồi lời qua tiếng lại:

- Thầy của các huynh là người dối trá!

Họ tranh cãi nhau. Và vị luật sư thừa cơ hội tuyên án tẩn xuất vị pháp sư vì đã không nhận lỗi. Từ đó, ngay đến những thí chủ cúng dường cho họ cũng chia làm hai phe, ngay cả những cô ni được họ dạy, cả thiện thần hộ pháp, bạn bè và những người thân tín, chư thiên trên trời, lan đến Phạm thiên đều như thế. Mọi người, ngay cả những người chưa quy y cũng chia làm hai phe. Sự tranh cãi lan rộng từ trời Tứ thiên vương cho đến trời Ðế Thích.

Ðến mức độ thì có một Tỳ-Kheo tới gần thế Tôn thưa kể tự sự: "Những người tuyên án tẩn xuất thì giữ quan điểm rằng pháp sư bị tẩn xuất là đúng luật, ngược lại những người bênh vực thì cho rằng trái luật, và tụ họp lại để ủng hộ pháp sư mặc dù những người tuyên bố tẩn xuất cấm họ làm như vậy". Ðã hai lần Thế Tôn nhắn hai bên Tỳ-Kheo hãy đoàn kết, và đều nhận được câu trả lời:

- Bạch Thế Tôn! Họ không chịu đoàn kết.

Lần thứ ba, Thế Tôn bảo:

- Tăng đoàn đã bị chia rẽ!

Nói xong, Phật đến chỗ các Tỳ-kheo và chỉ cho nhóm vị Tỳ-kheo luật sư, người tuyên bố tẩn xuất, sự sai lầm trong quyết định ấy, và đối với nhóm vị Tỳ-kheo pháp sư, người không nhận lỗi, Ngài cũng chỉ sự sai lầm trong hành động ấy. Một lần nữa, Phật bắt các Tỳ-kheo kiết trai và khiến họ hành sám ngay tại chỗ, trong khu vực giới hạn. Ngài đặt luật cho các Tỳ-kheo, nếu gây gỗ trong phòng ăn hoặc các nơi khác, họ bắt buộc phải ngồi chỗ riêng biệt trong trai đường.

Nhưng các Tỳ-kheo vẫn không ngừng gây nhau, đức Phật lại đi đến nơi và khuyên răn:

- Ðủ rồi, các Tỳ-kheo! Ðừng gây gỗ nữa! Gây gỗ, đấu tranh, tranh chấp, tranh cãi, mọi thứ này đều nguy hại. Bởi lẽ vì tranh cãi một con chim bé bỏng cũng làm một con voi quý phải chết.

Và đức Phật kể chuyện Bổn Sanh "Con Chim Nhỏ". Ngài dạy tiếp:

- Các Tỳ-kheo, hãy đoàn kết! Hãy dừng tranh cãi, vì sự tranh cãi mà hàng ngàn con chim nhỏ đã mất mạng.

Và Ngài kể chuyện Bổn Sanh "Những Con Chim". Nhưng dù vậy họ vẫn không nghe lời Phật, và một ngoại đạo muốn Phật bớt phiền nhiễu, thưa rằng:

- Bạch Ngài, đấng Thế Tôn, đấng Pháp Vương! Hãy ở nhà! Ðấng Thế Tôn! Ngài hãy sống một đời vô sự và tự tại ở cõi này. Chúng con có gây gỗ, đấu tranh, tranh chấp, tranh cãi nhau mới làm sáng tỏ ai phải ai trái.

Dù đã được khuyên nhủ như thế, các Tỳ-kheo vẫn không đoàn kết theo lời Phật. Không vui vì phải sống trong cảnh ồn náo, không thoải mái vì bị quấy rầy, hơn nữa các Tỳ-kheo này không đếm xỉa đến lời Phật dạy, nên Thế Tôn quyết định sống độc cư tránh xa đám người chộn rộn. Sau khi đi khất thực ở Câu-thâm, không từ giã Tăng đoàn, đức Phật đắp y, ôm bát, một mình đi đến Bàlaka, chỗ bán muối, tại đây Ngài thuyết pháp cho Trưởng lão Bhagu về đời sống độc cư. Rồi Ngài đến Ðông Trúc Lộc Giã, và thuyết pháp cho ba chàng trai gia thế về hạnh phúc an lành của sự hòa hợp. Và từ đó, Ngài đến Pàrileyyaka. Ở đó, dưới gốc cây Sala đẹp đẽ, trong rừng Bảo Hộ, đức Thế Tôn đã trải qua một mùa hạ an vui, có voi Pàrileyyaka phục vụ.

Có người nói:

- Những vị Tỳ-kheo này, sau khi được thu nhận làm Tỳ-kheo dưới sự lãnh đạo của Ðạo sư, lại không muốn hàn gắn những rạn nứt theo lời yêu cầu của Ngài. Ðây hoàn toàn do lỗi của họ mà chúng ta không được gặp Phật. Ðối với những Tỳ-kheo này, chúng ta nhất quyết sẽ không mời ngồi và cũng không bao giờ kính lễ hoặc cúng dường nữa. Và từ đó họ không thèm cúng kính các Tỳ-kheo nữa. Hậu quả là các Tỳ-kheo bị thiếu vật thực và gần chết đói, nên chỉ sau vài ngày các Tỳ-kheo đã biết phục thiện. Rồi họ sám hối nhau, xin được tha thứ. Họ bảo các cư sĩ:

- Ðạo hữu! Chúng tôi đã hòa hợp. Xin đối với chúng tôi như xưa. (Tích truyện Pháp Cú, Những Vị Tỳ-kheo Hay Cãi Cọ Ở Xứ Câu Thâm (Kosambi))

Mình thấy chuyện đại tiểu tiện là bình thường nhưng nó lại là chuyện quan trọng trong tu học, trong lịch sử đã từng xảy ra cãi cọ nhau. Cái nói của mình có phiền người ta không? Người ta muốn nghe pháp mà cứ nói rù rì hoài, bây giờ lịch sự chẳng lẽ người ta cứ im hoài hay là khó chịu bảo mình đừng nói nữa, cho nên nói hay im lặng cũng cần có chánh niệm tỉnh giác. Nhiều khi đi vào toilet xong rồi bước ra không cần biết trong đó còn ai hay không, thế là cứ tắt đèn, có ai từng bị vậy bao giờ chưa? Bước vào giải quyết nỗi buồn xong là bước ra tắt đèn luôn, không cần biết có ai nữa không, mình là tất cả, là cái rốn vũ trụ thế là cứ tắt đèn tối thui trong khi còn 2-3 người trong đó. Vào khóa tu người ta đứng ngoài chờ mà mình cứ ở trong nghịch điện thoại, chụp hình làm mọi người chờ đợi khó chịu, cho nên trong sự tu học có rất nhiều vấn đề cần nói, nhiều khi đi vào toilet không có chánh niệm tỉnh giác phát ra âm thanh xấu hổ, đỏ mặt, tất cả đều cần có tu tập và đó là chỗ cần tu. Hoặc là đi vào xong rồi là đi ra để thùng không, không mở nước cho đầy như lúc đầu bước vào, có những chỗ hay bị cúp nước nên dùng xong phải mở đầy nước cho người đi sau có để dùng, Minh Thành ở trên thất cao trong rừng, lâu lâu đường nước bị kẹt sình, cát, nước dơ bẩn, mỗi lần như vậy mình đều có chứa nước sẵn để dành dùng đỡ vài ngày, vừa đủ thời gian chờ thợ sửa ống nước đến, không phải cứ gọi là thợ phải có mặt lập tức sửa ống nước cho mình vì mình ở xa xôi chứ không phải ở gần trung tâm hoặc trong thành thị, có nhiều người nhập thất bị vậy rồi kêu thợ phải có mặt ngay nên người ta phiền, sân. Tất cả mọi thứ đều phải có sự để tâm, để ý quán sát tu tập, không có chánh niệm tỉnh giác sẽ trở thành chuyện đại sự, kể cả chuyện đốt nhang, đốt đèn cũng vậy, chỉ cần cơn gió hoặc con mèo nhảy ra làm ngã đổ đèn là cháy nhà thậm chí mất mạng, ở Sài Gòn có nhiều chùa cổ bị cháy chỉ vì đốt nhang, rằm tháng bảy vừa rồi ở miền Bắc có người đốt nhang đèn làm cháy nhà, vì thế trong sự tu chánh niệm tỉnh giác là không có chuyện gì là nhỏ. Đi cầu thang mà cứ nhìn vào màn hình điện thoại rồi cười nói thế là té cầu thang, vào bệnh viện bó bột… cho nên không có chuyện nào là nhỏ nhặt để mà không tu. Con đi mấy chục tiểu bang bên Mỹ để hoằng pháp chỉ có một mình, vào nhà cư sĩ ở để giảng pháp cho nên phải cực kì cẩn thận, cái gác bằng gỗ nên mỗi lần bước đi đều phát ra âm thanh. Có một cô lái xe chở 5 người trên đó mà vừa lái xe vừa livestream, nói chuyện cười giỡn, ăn trái cây, không chú ý nên gây ra tại nạn làm chết cả 5 người trên xe. Từ chỗ này mình phải nhìn ra các vấn đề, chánh niệm tỉnh giác trong mọi trường hợp sẽ không xảy ra những bất trắc, như vào toilet mà sàn nhà trơn trợt nếu không cẩn thận sẽ bị té ngã gây chấn thương, nhẹ thì bó bột nặng thì nằm một chỗ. Cho nên phần chánh niệm tỉnh giác, trong việc đại tiện tiểu tiện có rất nhiều vấn đề cần nói, cần thực tập, vào chỗ toilet không được dọn dẹp sẽ bóc mùi hôi thối, nội tâm không được tẩy rửa, lau chùi tham sân si thì người ta lại gần là tham sân si, bản ngã phát khởi ra liền, nó còn hôi hơn toilet ngàn năm không lau chùi. Cái tâm đầy lậu hoặc, đầy tham sân si, bản ngã, ganh tị, đố kị, hơn thua, ích kỉ hôi còn hơn toilet nữa vì vậy phải tẩy sạch tâm tư. Chánh niệm tỉnh giác đến mức như vậy mà Đức Phật còn nói cũng chưa đủ, đừng tự thỏa mãn vì còn nhiều việc đáng phải làm hơn nữa.

(Ðoạn trừ các triền cái)

Này các Tỳ-kheo, thế nào là các công việc đáng phải làm hơn nữa? Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo lựa một chỗ thanh vắng, tịch mịch, như khu rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây, ngoài trời, đống rơm. Sau khi đi khất thực về và ăn xong, vị ấy ngồi kiết già, lưng thẳng, và an trú chánh niệm trước mặt. Vị ấy từ bỏ tham ái ở đời, sống với tâm thoát ly tham ái, gột rửa tâm hết tham ái. Từ bỏ sân hận, vị ấy sống với tâm không sân hận, lòng từ mẫn thương xót tất cả chúng hữu tình, gột rửa tâm hết sân hận. Từ bỏ hôn trầm thụy miên, vị ấy sống thoát ly hôn trầm và thụy miên, với tâm tưởng hướng về ánh sáng, chánh niệm tỉnh giác, gột rửa tâm hết hôn trầm thụy miên. Từ bỏ trạo cử hối quá, vị ấy sống không trạo cử hối tiếc, nội tâm trầm lặng, gột rửa tâm hết trạo cử hối tiếc. Từ bỏ nghi ngờ, vị ấy sống thoát khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự, gột rửa tâm hết nghi ngờ đối với thiện pháp. (Trung Bộ Kinh, 39. Ðại kinh Xóm ngựa)

Đây cũng là bài phục nguyện mỗi khuya của Linh Quy Pháp Ấn, tẩy sạch ngũ cái và ngày nào cũng đọc để nhắc nhở bản thân.

Này các Tỳ-kheo, như một người mắc nợ liền làm các nghề nghiệp. Những nghề này được phát đạt, người ấy không những trả được nợ cũ, còn có tiền dư để nuôi dưỡng vợ. Người ấy nghĩ: "Ta trước kia mắc nợ nên làm các nghề nghiệp. Những nghề này được phát đạt, ta không những trả được những nợ cũ, còn có tiền dư để nuôi dưỡng vợ". Người ấy nhờ vậy được sung sướng, hoan hỷ. Này các Tỳ-kheo, như một người bị bệnh, đau đớn, trầm trọng, ăn uống không tiêu, thể lực suy yếu. Sau một thời gian, người ấy khỏi bệnh, ăn uống tiêu thông, thể lực khôi phục. Người ấy nghĩ: "Ta trước kia bị bệnh, đau đớn trầm trọng, ăn uống không tiêu, thể lực suy yếu. Nay ta khỏi bệnh, ăn uống tiêu thông, thể lực khôi phục". Người ấy nhờ vậy được sung sướng, hoan hỷ. Này các Tỳ-kheo, như một người bị nhốt trong ngục. Người ấy sau một thời gian được khỏi tù tội, an lạc kiện toàn, tài sản không bị giảm tổn. Người ấy nghĩ: "Ta trước kia bị nhốt trong ngục, nay ta được khỏi tù tội, an lạc kiện toàn, tài sản không bị giảm tổn. "Người ấy nhờ vậy được sung sướng, hoan hỷ. Này các Tỳ-kheo, như một người nô lệ, không được tự chủ, lệ thuộc người khác, không được tự do đi lại. Người ấy sau một thời gian thoát khỏi cảnh nô lệ, được tự chủ, không lệ thuộc người khác, một người thoát khỏi cảnh nô lệ, được tự chủ, không lệ thuộc người khác, một người giải thoát, được tự do đi lại.

 Cũng vậy này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo tự mình, quán năm triền cái chưa xả ly, như món nợ, như bệnh hoạn, như ngục tù, như cảnh nô lệ, như con đường qua sa mạc. Này các Tỳ-kheo, cũng như không mắc nợ, không bị bệnh tật được khỏi tù tội, được tự do, đến được đất lành yên ổn. Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo quán năm triền cái khi chúng được diệt trừ. (Trung Bộ Kinh, 39. Ðại kinh Xóm ngựa)

Năm triền cái: tham dục, sân nhuế, thụy miên, điệu hối và nghi. Khi thấy trong lòng còn tham, còn dục ái thì phải quán mình là kẻ mắc nợ vì mình đi đến đâu hình ảnh tham dục ái hiện ra, cảm giác khởi lên, suy nghĩ loanh quanh chỗ đó, dù cho có đi nửa vòng Trái Đất hoặc ở một mình nơi thanh vắng cũng không thể thoát ra khỏi tâm tham ái, tham dục đó. Chính nó là món nợ, đi đến đâu là nó theo đó để đòi nợ mình cho nên khi đối diện thân tâm lúc ngồi một mình là hình bóng đó hiện ta, thích người nào thì người đó hiện ra, những cảm giác khi gặp nhau nói chuyện ra sao nó hiện rõ, thích chiếc xe là chiếc xe sẽ hiện ra, những suy nghĩ về nó đi theo mình, dù cho có đi tới đâu thì nó cũng đeo đẳng dai dẳng theo mình, đây gọi là sắc ám ảnh, dục ám ảnh, tham ám ảnh, ái ám ảnh của người đó và người này đau khổ, đây là chỗ thâm sâu của pháp, tâm người này không được an, không nhập thất được, không ở núi rừng một mình được, dục của họ sẽ lôi kéo họ đi tìm kiếm những điều đó, vì vậy mà Đức Thế Tôn đã nói thân này là thiếu thốn, là khát khao, là nô lệ cho tham ái.

"Thế giới là thiếu thốn, khao khát, nô lệ cho tham ái", thưa Ðại vương, đó là thuyết giáo Chánh pháp thứ tư, do Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuyết giảng. Do tôi biết, tôi thấy, tôi nghe thuyết giáo ấy, mà tôi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. (Trung Bộ Kinh, 82. Kinh Ratthapàla)

Chừng nào tu tập mà phá sạch, phá nát tất cả những hình bóng ám ảnh, những dục tham ái trong tâm thì mình mới hết mắc nợ, đi đến đâu mà còn những hình bóng, suy nghĩ, cảm giác đó thì mình còn là kẻ mang nợ, mình không giải thoát khỏi sắc được mà bị sắc ám ảnh, bị sắc chinh phục, ám đảo. Sắc là than đỏ, những cảm giác dục ái trong sắc là than đỏ, những suy nghĩ về dục ái tham đó là than đỏ, những hình bóng là than đỏ, sắc; thọ; tưởng; hành; thức là than đỏ.

Sắc là than đỏ, này các Tỳ-kheo! Thọ là than đỏ! Tưởng là than đỏ! Các hành là than đỏ! Thức là than đỏ!

Thấy vậy, này các Tỳ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với sắc, nhàm chán đối với thọ, nhàm chán đối với tưởng, nhàm chán đối với các hành, nhàm chán đối với thức.

Do nhàm chán nên ly tham, do ly tham nên giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: "Ta đã được giải thoát". Vị ấy biết rõ: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa". (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (g), C. Năm Mươi Kinh Sau, IV. Phẩm Than Ðỏ, I. Than Ðỏ Hực)

Người nghiền thuốc lá thì điếu thuốc là món nợ của họ, không có nó là họ khổ. Người nghiền rượu thì rượu là món nợ của họ. Người nghiền hát thì âm nhạc, lời bài hát là món nợ của họ, không hát được họ cảm thấy thiếu thốn, bức rức. Người dính mắc trong dục thì cái dục đó là món nợ của họ, suốt cuộc đời nó xâm chiếm, ám ảnh trong tâm cho nên sự tu là đối diện nội tâm, giải quyết những vấn đề bên trong thân tâm. Thân Hành Niệm trong Tứ Niệm Xứ là phương pháp để giải quyết vấn đề, quán tứ đại, quán 32 thể trược, quán 9 giai đoạn tử thi để phá sự ám ảnh của sắc trong tâm, quán sự nguy hại của sắc để có sự xuất ly khỏi sắc. Không phải mình có thể làm được ngay nhưng ít nhất mình có thể nhìn thấy được và có được sự nhiếp phục phần nào trong tâm, nếu không mình mù rồi sống trong bóng đêm.

Ví dụ thứ hai mà Đức Phật dùng là một người bị bệnh, đau đớn, trầm trọng, ăn uống không tiêu, thể lực suy yếu, đó là ví dụ cho sự sân hận. Mỗi khi thân tâm khởi lên cảm giác sân hận, tức giận, thiêu đốt thì mình tự tác ý "Này kẻ bệnh nhân, mày là con bệnh, mày là kẻ đang bị bệnh trầm kha, bệnh hết thuốc chữa mà cứ gây sự kiếm chuyện hoài". Phải quán chiếu mình là con bệnh và mình muốn thoát ra khỏi cái bệnh này.

Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.

./.