Kham Nhẫn
Kinh Nikāya Giảng Giải
Kham Nhẫn
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Kham nhẫn PAGEREF _Toc213837811 \h 1
II. Trình pháp PAGEREF _Toc213837812 \h 11
III. Bốn đạo hành PAGEREF _Toc213837813 \h 12
IV. Trình pháp 2 PAGEREF _Toc213837814 \h 15
V. Người chiến sĩ PAGEREF _Toc213837815 \h 16
VI. Trình pháp 3 PAGEREF _Toc213837816 \h 26
I. Kham nhẫn
Kính bạch chư tôn thiền đức và chư hiền trí, hôm nay chúng ta tìm hiểu chuyên đề kham nhẫn.
"- Thành tựu năm chi phần, này các Tỳ-kheo, con voi của vua không xứng đáng cho vua, không là tài sản của vua, không được xem là một biểu tượng của vua. Thế nào là năm?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, con voi của vua không kham nhẫn các sắc, không kham nhẫn các tiếng, không kham nhẫn các hương, không kham nhẫn các vị, không kham nhẫn các xúc. Và này các Tỳ-kheo, thế nào là con voi của vua không kham nhẫn các sắc?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, con voi của vua, khi đi đến chiến trận, thấy đoàn voi hay thấy đoàn ngựa, hay thấy đoàn xe, hay thấy đoàn bộ binh đã chùn chân, rủn chí, không còn can đảm, không thể tham gia chiến trận. Như vậy, này các Tỳ-kheo, con voi của vua không kham nhẫn đối với các sắc" (Tăng Chi Bộ, Chương V - Năm Pháp, XIV. Phẩm Vua, Chương (IX). Không Có Thể Kham Nhẫn)
Vào trong chiến trường thấy cái đoàn voi, thấy đoàn ngựa, thấy đoàn xe hay thấy những cái bộ binh đã chùng chân yếu ý chí, không có can đảm, không thể tham gia chiến trận, một con voi như vậy thì làm sao để nhà vua cưỡi được. Đây gọi là không kham nhẫn đối với sắc.
"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là con voi của vua không kham nhẫn các tiếng?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, con voi của vua, đi đến chiến trận, khi nghe tiếng voi, nghe tiếng ngựa, nghe tiếng xe, nghe tiếng bộ binh, hay nghe tiếng trống lớn, thanh la, tiếng tù và, tiếng trống nhỏ, liền chùn chân, rủn chí, không còn can đảm, không thể tham gia chiến trận. Như vậy, này các Tỳ-kheo, con voi của vua không kham nhẫn các tiếng" (Tăng Chi Bộ, Chương V - Năm Pháp, XIV. Phẩm Vua, Chương (IX). Không Có Thể Kham Nhẫn)
Vừa nghe trống kèn thôi, vừa nghe cái tiếng rú của các con voi khác, tiếng ngựa hí vang lên là nó sợ, đây là không có kham nhẫn với các cái âm thanh.
"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là con voi của vua không kham nhẫn các hương?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, con voi của vua đi đến chiến trận, khi đó ngửi mùi phân và nước tiểu của các con voi của vua thuộc loại quý chủng đã quen chiến trận, liền chùn chân, rủn chí, không còn can đảm, không thể tham gia chiến trận. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là con voi của vua không kham nhẫn các hương" (Tăng Chi Bộ, Chương V - Năm Pháp, XIV. Phẩm Vua, Chương (IX). Không Có Thể Kham Nhẫn)
Những con voi quý ngửi được mùi phân, mùi nước tiểu thì nó sợ, chùn chân, rủn chí, nó không còn cái ý muốn để chiến đấu nữa. Nó sợ mấy con voi kia vì đồng loại với nhau nó ngửi cái mùi nó biết đây là thứ dữ, cũng như con người với người gặp nhau nhìn là biết cái này không phải thứ thường, cái này không phải dạng vừa đâu. Nó ngửi mùi biết đây là hương tượng, đây là tượng vương, thì nó nghe nó sợ, vậy là nó không có kham nhẫn với các hương.
"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là con voi của vua không kham nhẫn các vị?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, con voi của vua khi đi đến chiến trận, chán ngấy một máng cỏ và nước, hay chán ngấy hai, ba, bốn hay năm máng cỏ và nước, liền chùn chân, rủn chí, không còn can đảm, không thể tham gia chiến trận. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là con voi của vua không kham nhẫn các vị" (Tăng Chi Bộ, Chương V - Năm Pháp, XIV. Phẩm Vua, Chương (IX). Không Có Thể Kham Nhẫn)
Khi ra chiến trận thì nó chán ngán một máng cỏ và nước hay là nó ngán những cái máng cỏ, nó không có muốn lâm trận chiến, như vậy là không kham nhẫn với các vị.
"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là con voi của vua không kham nhẫn các xúc?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, con voi của vua đi đến chiến trận, khi bị trúng một mũi tên, hay hai, hay ba, hay bốn, hay năm mũi tên, liền chùn chân, rủn chí, không còn can đảm, không thể tham gia chiến trận. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là con voi của vua không kham nhẫn các xúc" (Tăng Chi Bộ, Chương V - Năm Pháp, XIV. Phẩm Vua, Chương (IX). Không Có Thể Kham Nhẫn)
Khi con voi này ra trận mới trúng một hai mũi tên là không muốn tham chiến nữa, không muốn vươn lên nữa.
"Thành tựu năm chi phần, này các Tỳ-kheo, một con voi của vua không xứng đáng của vua, không là tài sản của vua, không được xem là một biểu tượng của vua" (Tăng Chi Bộ, Chương V - Năm Pháp, XIV. Phẩm Vua, Chương (IX). Không Có Thể Kham Nhẫn)
Như vậy con voi này có năm cái tính chất không có mạnh mẽ, không có kham nhẫn, không có chịu đựng, không có oai hùng thì không xứng đáng để cho vua cưỡi, không phải là biểu tượng của vua, không phải là tài sản của vua.
"Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, một vị Tỳ-kheo thành tựu năm pháp không đáng cung kính, không đáng tôn trọng, không đáng cúng dường, không đáng chắp tay, không còn là phước điền vô thượng ở đời. Thế nào là năm?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo không kham nhẫn các sắc, không kham nhẫn các tiếng, không kham nhẫn các hương, không kham nhẫn các vị, không kham nhẫn các xúc" (Tăng Chi Bộ, Chương V - Năm Pháp, XIV. Phẩm Vua, Chương (IX). Không Có Thể Kham Nhẫn)
Nhìn thấy món đồ đẹp là tham liền, thích liền, tâm không còn định tĩnh nữa, không còn cảm giác toàn thân gì nữa, không còn an tịnh, lắng dịu gì nữa hết, nhìn một cái là mê, đắm đuối, mê say, thích thú, hoan hỉ, dính mắt. Nhìn món đồ đẹp, nhìn cảnh đẹp, nhìn người đẹp, nhìn cái rồi cái tâm mất định tĩnh liền, nếu người tu còn ở trong cái trạng thái này thì người này cũng chưa có đáng cho người ta cung kính, chưa đáng cho người ta tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường, chấp tay. Mới vừa nghe tiếng khả ái, dễ thương, vừa nghe cái âm thanh đó là tham đắm liền, tâm mất định tĩnh liền, loạn liền. Mình đang nghe pháp mà ở dưới có karaoke dội lên là cái tâm mình động liền, có hai trường hợp động, một là nó sân, nó khó chịu, hai là nó tham, là cái bài trúng tủ, trúng cái gu, cái sở thích mà hồi trước ở nhà mình thích cái bài đó, họ mở ngay cái bài đó là cái thọ; tưởng; hành của mình chạy theo. Như vậy là không kham nhẫn với các tiếng.
Chúng ta thấy cái chữ kham nhẫn này hay lắm, cái chuyên đề này độc đáo lắm, tu mà không có kham nhẫn thì không có tu. Nghe cái âm thanh là không có kham nhẫn, cái này nói rộng ra nhiều pháp lắm, mới nói một câu là nhảy vào cãi liền, biện luận, ngụy biện, che chắn, xảo biện đủ thứ hết, không có chút kham nhẫn nào hết. Tức là mình không có kham nhẫn với tiếng âm thanh, mình đang ngồi thiền mà con chó sủa là quay mình nhìn liền, như vậy là không có kham nhẫn, không có nhiếp phục, không có chế ngự, có một gì động là mình bị liền.
Chúng ta nhớ mùa dịch không? Chúng ta đang ngồi đây mà bên kia tốc mái nhà là mọi người nhóm lên, con nói kệ, bây giờ nó sập cái nhà này cũng ngồi ngay đây nghe pháp, đó là kham nhẫn với tiếng, kham nhẫn với sắc. Cái mùa dịch là chúng con ngồi đây học kinh thì gió bão thổi bay lên nửa cái nóc nhà của Ni xá, mọi người sợ muốn đi gom đồ thì con nói không, cứ ngồi đây mà lỡ như cái nhà này sập ngay tại chỗ này mà nó đè mình chết ở đây thì vẫn ngồi đây, vì chết là mình sanh thiên, mình lên thánh đệ tử thiên. Đó là kham nhẫn với tiếng, kham nhẫn với sắc, kham nhẫn với sự biến hoại của các pháp, phải tập kham nhẫn, vừa thấy, vừa nghe một chút là tâm luýnh quýnh, lăng xăng hết trơn, dao động, động loạn hết trơn thì làm sao tu.
Trong cái kham nhẫn này có nhiều pháp lắm, nó có định trong đó, có nhiếp phục, chế ngự trong đó, nó có hộ trì căn trong đó, chúng ta thấy không ạ? Nó niệm, định, tuệ trong đó, nó có sự chịu đựng cho nên người có kham nhẫn này là có sức mạnh vĩ đại. Người có kham nhẫn tuyệt diệu lắm, bình thản lắm, mọi chuyện nó tới bình thản mà người ta chửi cũng bình thản, tuy là trong này nó có khó chịu, nó có khổ thọ nhưng mà ở bên ngoài vẫn nhiếp phục được chứ không phải là mới vừa nói tới cái tên mình là mình nhảy dựng lên, phản ứng liền, che chắn, mình bao biện, làm đủ thứ trò, đủ thứ kiểu, nhìn mắc cười lắm, không có tu gì hết, còn bảo vệ cái tự ngã này khủng khiếp lắm, còn cưng, còn chiều, còn thương, còn che, còn chắn, còn đậy.
Nếu còn thương cái tự ngã này làm sao phá thân kiến nổi? Phải để cho người ta đập, người ta giậm lên chứ, giậm lên cái nùi giẻ chứ. Cho nên nhiều khi con thấy cái tu Nikāya của mình tuyệt vời lắm, nhìn thấy biết liền, công phu biết liền, khỏi cần giấu giếm gì hết. Vừa nói cái gì là nhảy dựng lên đổ thừa tại cái này, tại cái kia, những lúc như thế chỉ biết cười trừ thôi chứ nói gì nữa, học ngũ uẩn, chỉ cho quán chiếu cảm thọ, chỉ cho hộ trì các căn, chỉ cho chánh niệm tỉnh giác nhưng ra ngoài là mất hết, không còn pháp gì nữa.
"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là Tỳ-kheo không kham nhẫn các hương?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo khi mũi ngửi hương liền tham đắm các hương khả ái, tâm không thể định tĩnh. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là Tỳ-kheo không kham nhẫn các hương" (Tăng Chi Bộ, Chương V - Năm Pháp, XIV. Phẩm Vua, Chương (IX). Không Có Thể Kham Nhẫn)
Mùi này là mùi thơm và mùi hôi thối cho nên khi có sự tiếp xúc mắt; tai; mũi; lưỡi; thân thì mình có phòng hộ, chế ngự, bảo vệ, hộ trì hay không và lúc đó mình có sự chánh niệm tỉnh giác, cảm giác toàn thân hay không, lúc đó mình có sự kham nhẫn, chịu đựng không. Nhẫn là sức mạnh của Sa-môn, là đều ước muốn, đó là mới nói cái điểm đầu thôi còn khi mình làm thì nó trở thành sức mạnh và nó trở thành cái áo giáp, nó trở thành cái biểu tượng của người tu. Người tu là phải có chữ nhẫn vì nếu không có nhẫn thì làm sao tu? Vừa đụng vào là nhe nanh, phùng mang trợn mắt ra thì tu cái gì? Không có tu gì hết, ở đây thậm chí bị oan ức nhưng vẫn bình tĩnh, tuy là trong này cũng khó chịu chứ không phải không khổ thọ nhưng mà bình tĩnh rồi từ từ giải quyết "oan cái gì, tao cho mày oan nhiều luôn, tao cho cái bản ngã này phải chết, mày phải tê liệt, mày phải bán thân bất toại cho tao".
Mình học kinh thấy thương Đức Phật lắm, Thế Tôn đi bình thản ôm bình bát thì phía sau vị thầy chửi không ra gì trong khi người đệ tử lại khen Thế Tôn nhưng giữa cái khen chê thì ngài vẫn đi bình thản bất động.
"Bà-la-môn Akkosaka Bhàradvàja được nghe Bà-la-môn thuộc dòng họ Bhàradvàja đã xuất gia với Thế Tôn, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
Ông phẫn nộ, không hoan hỷ, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói những lời nói không tốt đẹp, ác ngữ, phỉ báng và nhiếc mắng Thế Tôn.
Ðược nghe nói vậy, Thế Tôn nói với Bà-la-môn Akkosaka Bhàradvàja:
-- Này Bà-la-môn, Ông nghĩ thế nào? Các thân hữu bà con huyết thống, các khách có đến viếng thăm Ông không?
-- Thưa Tôn giả Gotama, thỉnh thoảng, các thân hữu, bà con huyết thống, các khách có đến viếng thăm tôi.
-- Này Bà-la-môn, Ông nghĩ thế nào? Ông có sửa soạn cho họ các món ăn loại cứng, loại mềm và các loại đồ nếm không?
-- Thưa Tôn giả Gotama, thỉnh thoảng tôi sửa soạn cho họ các món ăn loại cứng, loại mềm, các loại đồ nếm.
-- Nhưng này Bà-la-môn, nếu họ không thâu nhận, thời các món ăn ấy về ai?
-- Thưa Tôn giả Gotama, nếu họ không thâu nhận, thời các món ăn ấy về lại chúng tôi.
-- Cũng vậy, này Bà-la-môn, nếu Ông phỉ báng chúng tôi là người không phỉ báng; nhiếc mắng chúng tôi là người không nhiếc mắng; gây lộn với chúng tôi là người không gây lộn; chúng tôi không thâu nhận sự việc ấy từ Ông, thời này Bà-la-môn, sự việc ấy về lại Ông. Này Bà-la-môn, sự việc ấy chỉ về lại Ông. Này Bà-la-môn, ai phỉ báng lại khi bị phỉ báng, nhiếc mắng lại khi bị nhiếc mắng, gây lộn lại khi bị gây lộn, thời như vậy, này Bà-la-môn, người ấy được xem là đã hưởng thọ, đã san sẻ với Ông. Còn chúng tôi không cùng hưởng thọ sự việc ấy với Ông, không cùng san sẻ sự việc ấy với Ông, thời này Bà-la-môn, sự việc ấy về lại Ông! Này Bà-la-môn, sự việc ấy về lại Ông!" (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương VII. Tương Ưng Bà La Môn, I. Phẩm A-La-Hán Thứ Nhất, II. Phỉ Báng)
Tại sao bây giờ mới vừa nói tới cái tên là mình chảy dựng lên thì tu cái gì? Người ta khen cũng động lên, người ta chê cũng loạn lên, không an trú cảm giác toàn thân, không nhớ cái nùi giẻ rách, không nhớ cái cầu tiêu di động, quên hết trơn, những cái đó không còn là định tướng nữa chỉ thấy một cái ta to, bự, cao thành ra chạm tới là phản ứng liền ngay lập tức, không có kham nhẫn.
"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là Tỳ-kheo không kham nhẫn các vị?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo khi lưỡi nếm vị liền tham đắm các vị khả ái, tâm không thể định tĩnh. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là Tỳ-kheo không kham nhẫn các vị" (Tăng Chi Bộ, Chương V - Năm Pháp, XIV. Phẩm Vua, Chương (IX). Không Có Thể Kham Nhẫn)
Ăn vô là quên hết, mê hết trơ, không có thấy cái nào là cái lưỡi, cái nào là cái vị, cái nào là thiệt thức, cái nào là thiệt xúc, cái nào là thọ cho thiệt xúc sanh, chỉ thấy ngon quá, mê say trong đó chứ không thấy pháp gì hết. Cái thọ lúc đó nó trùm chiếm hết, cái lạc thọ đó nó phong tỏa hết, nó bao phủ hết, nó xâm chiếm hết, nó áp đảo nhận chìm hết trong khi ăn, thế là cứ ăn vào, múc vào, nhai vào rồi cuối cùng bệnh. Cái này có nhiều không? Cho nên bây giờ bán cái thuốc gì đó uống vô để đừng có mập, bán mắc nhưng người ta cũng mua hết, uống cho tan mỡ, ăn thì nhiều nhưng mà đừng cho mập.
Chúng ta thấy kinh Nikāya Đức Phật dạy tu rất kĩ, hồi đó giờ mình tu biết bao nhiêu môn nhưng có thấy chỗ nào dạy tới mức độ này không? Không có, thấy phải kham nhẫn, nghe cũng phải nhẫn nhịn, ngửi, nếm cũng phải nhiếp phục, chế ngự, rồi tiếp xúc, đụng chạm càng phải có một cái sự quán sát áp đảo bên trong tu. Như vậy đó tu thật là kỹ, tu thật là nhỏ nhiệm vi tế, người có tu nhìn cái thân hành của họ, cái khẩu hành của họ mình biết liền vì nó an tịnh, lắng dịu lắm, nó hiện rõ ra, nó biểu hiện rõ ra, còn cái người không có sự kham nhẫn này thì nghe cái lời nói, cái âm thanh, cái khẩu khí, cái cách đi, đứng, cái hành động buông lung phóng dật, không có đi vào trong pháp, nhìn nó biểu hiện rõ lắm. Các pháp nó hiện rõ trong ngoài, cái tâm mình là một cái tâm hết sức buông lung phóng dật cho nên nó gặp cái cảnh buông là trúng tủ rồi, nó mượn cớ vô là nó làm không còn gì pháp gì nữa hết, lúc đó nói pháp có khi phải coi chừng nó.
Cho nên mình nhìn thấy hay lắm, nó mượn cớ rất siêu đẳng, nó gặp những cái cảnh buông lung phóng dật là nó giống như cá dưới nước, chim sổ lồng vậy đó. Đó là lý do tại sao chúng ta mỗi ngày tu học tám tiếng tại vì buông cái giờ tu ra mà cái người không có tinh cần, tinh tấn là người đó không còn gì hết, đừng có nói chi lúc buông mà ngay cái giờ tu thôi vẫn chưa chắc bên trong có kham nhẫn, ngay cái giờ tu nó ngồi nhưng có kham nhẫn để chiến đấu ở bên trong thọ; tưởng; hành không hay là ngồi cho hết giờ. Chúng ta thấy vi tế sâu sắc đến vậy, không phải lên ngồi là xong mà ở bên trong đó nó có nhiếp phục, chế ngự, nó có kham nhẫn chịu đựng không, sự tu của mình nó vậy đó, nó rất là tế nhị, nó rất là vi tế, rất là nhỏ nhiệm, rất là sâu sắc, nó rất là sắc, nó rất là tinh anh, tinh vi, tinh túy, tinh hoa Nikāya.
"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là vị Tỳ-kheo không kham nhẫn các xúc?
Ở đây, này Tỳ-kheo, Tỳ-kheo khi thân cảm xúc liền tham đắm các xúc khả ái, tâm không thể định tĩnh. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là Tỳ-kheo không kham nhẫn các xúc" (Tăng Chi Bộ, Chương V - Năm Pháp, XIV. Phẩm Vua, Chương (IX). Không Có Thể Kham Nhẫn)
Đây là thân súc đụng chạm, tiếp xúc. Thí dụ mình ngồi lâu trên cái ghế tre bị cấn rồi mình đau, mình khó chịu thì có sân vi tế bên trong, hay mình ngồi thiền, mình nghe pháp, mình tu lâu quá thì bên trong có cảm giác khó chịu, cái thân đó mệt mỏi, đau nhức thì lúc đó là cái thân xúc, thì mình có kham nhẫn để mình tác ý để vượt qua được cái cảm thọ khó chịu đó không. Nếu không thì mình tuy ngồi đó như bên trong là nó sân tùy miên vi tế, cái này chúng ta thấy có không? Cái đó làm sao người khác biết nhưng mà có khi con nhìn con biết, những cái nhỏ nhỏ đó mình tu cho mình.
Bây giờ là mình ngồi thiền một chút mình chịu không được, nghe pháp một chút mình chịu không được thì mai mốt xe đụng què giò, gãy chân, bán thân bất toại thì sao chịu được, vô thường nó ập đến lúc đó sao chịu được, cái chết diễn ra trên thân mình sao chịu được. Đó chính những cái kham nhẫn, đó là cái mình tập niệm, định, tuệ đó mà cũng là kham nhẫn, đầy đủ niệm, định, tuệ tại vì mình nhớ pháp rồi mình có một cái sức chịu đựng và mình có một cái trí để nhiếp phục, chế ngự cái cảm thọ này để vượt qua thì đó là niệm, định, tuệ.
Cho nên con voi xứng đáng của nhà vua thì nó phải ngược lại với hồi nãy, khi nó thấy những cái đó, nó nghe, nó ngửi, nó nếm, nó tiếp xúc mà nó vẫn không có bị chùn chân, rủn chí, có đủ can đảm có thể tham gia chiến trận. Kham nhẫn sắc, kham nhẫn tiếng, kham nhẫn hương, kham nhẫn các vị, kham nhẫn các xúc, con voi của nhà vua bị bắn trúng biết bao mũi tên nhưng nó vẫn không chùn chân, không rủn chí, vẫn can đảm tham gia chiến trận.
"Ta như voi giữa trận,
Hứng chịu cung tên rơi,
Chịu đựng mọi phỉ báng.
Ác giới rất nhiều người."
(Kinh Pháp Cú 23 – Phẩm Voi, kệ 320)
Những lời người ta phỉ báng, người ta mắng nhiếc, người ta chê bai, thậm chí người ta hãm hại khi Đức Thế Tôn còn tại thế, cũng vậy vị Tỳ-kheo thành tựu năm pháp thì đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chấp tay, là ruộng phước vô thượng ở trên đời.
"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là Tỳ-kheo kham nhẫn các sắc?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo khi mắt thấy sắc, không tham đắm các sắc khả ái, có thể giữ tâm định tĩnh. Như vậy, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo kham nhẫn các sắc" (Tăng Chi Bộ, Chương V - Năm Pháp, XIV. Phẩm Vua, Chương (IX). Không Có Thể Kham Nhẫn)
Ở đây mình phải hiểu theo hai chiều, Đức Phật nói gọn nhưng mà mình phải hiểu khi thấy sắc đáng yêu thì mình giữ tâm định tĩnh, khi gặp người đáng ghét có giữ tâm không?
"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là Tỳ-kheo kham nhẫn các tiếng?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo khi tai nghe tiếng, không tham đắm các tiếng khả ái, có thể giữ tâm định tĩnh. Như vậy, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo kham nhẫn các tiếng. Và này các Tỳ-kheo, thế nào là Tỳ-kheo kham nhẫn các hương?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo khi mũi ngửi các hương, không tham đắm các hương khả ái, có thể giữ tâm định tĩnh. Như vậy, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo kham nhẫn các hương. Và này các Tỳ-kheo, thế nào là Tỳ-kheo kham nhẫn các vị?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo khi lưỡi nếm các vị, không tham đắm các vị khả ái, có thể giữ tâm định tĩnh. Như vậy, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo kham nhẫn các vị. Và thế nào, này các Tỳ-kheo, là Tỳ-kheo kham nhẫn các xúc?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo khi thân cảm các xúc, không tham đắm các xúc khả ái, có thể giữ tâm định tĩnh. Như vậy, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo kham nhẫn các xúc." (Tăng Chi Bộ, Chương V - Năm Pháp, XIV. Phẩm Vua, Chương (IX). Không Có Thể Kham Nhẫn)
Đức Phật dạy hết sức bình dị, thiết thực không? Đơn giản thôi, khi thấy, nghe, ngửi, nếm, tiếp xúc phải giữ được cái tâm định tĩnh, tuy nhiên bình thường mà còn giữ không được thì tới lúc nó bất thường, nó vô thường thì làm sao giữ? Bình thường còn trai tráng, còn thanh thiếu niên, còn minh mẫn, còn sáng suốt, còn tỉnh táo, chưa có bệnh nằm liệt giường liệt chiếu, chưa có bán thân bất toại, còn có trí tuệ như vậy mà giữ không được thì tới cái lúc bất thình lình đột quỵ, tai biến, xe đụng, rớt máy bay, rắn cắn, té đập đầu bể sọ não, tới lúc người ta lấy cây đập, lấy đá liệng, lấy gươm giáo đâm, lấy súng ra bắn, lúc lựu đạn rơi hay là hỏa hoạn, chiến tranh, lũ lụt, sống thần, động đất thì lúc đó là sao giữ tâm định tĩnh.
Thầy nói một câu cãi lại ba câu, huynh đệ góp ý là sân hận, có chuyện gì tới chút xíu là tâm loạn động lên hết, rồi tới những cái lúc tai nạn như nãy nói thì làm sao? Cho nên mình tu mà nếu như mình được ngồi như vậy hoài thì khỏi tu, con thưa các ngài khỏi cần tu gì hết, nếu sáng bữa nào thức dậy cũng lên tụng kinh rồi chưa ăn cơm, chiều ngồi thiền thì khỏi cần tu gì hết, sướng quá trời quá đất, hơn tiên còn tu gì nữa nhưng mà nó không phải như vậy.
Hôm qua Ni sư lên quỳ thưa nước mắt rưng mẹ con cấp cứu rồi, phải về liền, phải ngồi xe mười bốn tiếng, nó không có bình thường. Tất cả nó trong cái trạng thái bất thường, vô thường, nó đi đến tan hoại, hủy hoại, hoại diệt, tiêu vong, tan nát cho nên mình mới tu. Con mới gửi lên cái đám cưới đó 1300 người trong đó mà bắn cái pháo hoa lên thì những chất dễ cháy nó cháy một cái là chết vài trăm người rồi, có gia đình chết luôn mười mấy người, cả giờ đình chết hết trơn, rồi những đứa nhỏ mấy tuổi đi lại dự đám cưới, đang ăn, đang vui, đang chơi, cô dâu chú rể kề môi với nhau ngay lúc đó mà, vỗ tay lên rồi nó bùng lên một cái là chạy không kịp nữa, chứa một ngàn mấy trăm người như vậy mà cái cửa thì có một thước rưỡi. Thế là thi thể la liệt và cái hội trường đám cưới trở thành cái nghĩa địa, nghĩa trang kinh hoàng, để quốc tang luôn vì tất cả những cái mà nó bình thường như vậy thì nó không có bình thường, nó đi đến bất thường, nó đi đến vô thường cho nên mình mới tu.
Con xin thưa đại chúng một buổi chúng ta học thì các ngài nghĩ nó đơn giản nhưng mà con thật sự là cả một sự gian nan, sức khỏe giảng nổi không, công việc có rảnh không, âm thanh chung quanh là có được an ổn không, rồi coi đại chúng có muốn nghe không nữa. Mệt, chán, không muốn nghe, có số người vậy đó, thật sự đối với con là cả một cái khó khăn, khổ tâm, không có dễ dàng chút nào, tất cả mọi cái con đều thấy cái khổ và cái khó, không có gì thấy dễ dàng trên cuộc đời này hết. Mình đưa cái cao quý, cái tốt đẹp, cái hiền thiện cho người ta nhưng mà có khi người ta bực bội, khó chịu, sân hận, không có dễ chút nào. Con thưa các ngài không có dễ, cuộc đời này nó cay đắng lắm, nó vô tình vô nghĩa, vô thường, vô ngã, trống rỗng, nó xót xa lắm, xót xa và đau lòng lắm. Người ta bệnh nặng mà mình đưa thuốc cho người ta gạt ngang, hất ngang thì thầy thuốc cũng đành chịu thôi chứ giờ sao, không phải một lần.
Thật là phải kham nhẫn rất là nhiều với cái thế giới ta bà này là cái thế giới kham nhẫn. Người phải chịu khó, chịu khó rất là nhiều, phải chịu khó mới tu, phải chịu khó, chịu đựng, chịu khổ, phải chịu nghe những lời chỉ dạy, chỉ trích, la rầy. Con người bây giờ thật là khó để kham nhẫn, không chịu, chỉ muốn cái gì dễ, muốn gì theo ý họ, theo cái họ thích, họ muốn, họ làm, họ không có chấp nhận học pháp, không có thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhặt cho nên mình phải càng chịu khó nhiều hơn nữa. Đức Phật nói chịu khó nóng, chịu khó lạnh, chịu khó ruồi muỗi, chịu khó mệt mỏi, chịu khó buồn ngủ, chịu khó đau đớn, bệnh tật để mình tu nhẫn dục, nhẫn sắc, đè cái bản ngã này cũng phải chịu khó.
Con biết rằng là tất cả chúng ta cũng phải gian khổ, cũng phải rất là khó khăn chứ không phải dễ dàng nhưng mà mình phải cố gắng nhiều lên nữa, chưa có đủ nên phải cố gắng nhiều hơn nữa, tinh cần, tinh tấn, nỗ lực chứ chúng ta không chịu khó, không chịu khổ, không chịu đựng, không chịu bẻ gãy cái bản ngã này, không chịu đè bẹp cái dục ái này thì làm sao chúng ta vượt qua được cái đầm lầy, cái hỏa hoạn, cái bóng đêm trường dạ này. Mình phải tác ý thường xuyên, thường xuyên, liên tục tác ý, cả một cái sự chịu khó, chịu đựng, chịu khổ, mình chịu nhục, chịu người ta khinh chê, người ta hủy nhục, người ta chửi mắng không sao hết, cứ để cho người ta khinh khi, người ta hủy nhục, người ta chửi mắng, người ta chê bai
Về núi còn đâu tiếng với tăm
Bần Tăng ẩn dật tận sơn lâm
Không tranh với đời nùi giẻ rách
Ăn xin khất sĩ thật xứng danh
Về núi còn đâu cao với thấp
Được mất hơn thua chẳng bận lòng
Cam tâm tình nguyện làm phế vật
Nương ẩn núi rừng thỏa ước mong
II. Trình pháp
Cô Hiền Hạnh: Con xin chân thành đảnh lễ Đức Thế Tôn bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác, con xin chân thành đảnh lễ pháp thân bậc đạo sư tôn kính, con xin chân thành đảnh lễ bậc ân sư tôn kính, con xin chân thành đảnh lễ chư tôn thiền đức Tăng Ni cùng tất cả các bậc hiền trí. Sáng nay con được sư phụ chia sẻ cho chúng con về chuyên đề kham nhẫn, khi con được xuất gia thì con rất là trân quý cái đức kham nhẫn vì khi con còn ở ngoài đời thì con đã nhận được cái sự quý giá của đức hạnh khiêm nhẫn, và khi con được bước vào môi trường của thiền môn thì con cảm nhận được cái giá trị của đức kham nhẫn càng là vô giá.
Mỗi việc đến với con thì chính nhờ cái đức kham nhẫn này nó chuyển hóa rất là nhiều, và cái sự vô giá khi mình thực hành được đức kham nhẫn này cũng là cái gốc để mình nuôi dưỡng được cái tâm từ cũng như sự thấu hiểu và cảm thông. Hình ảnh của một người tu khi thực hành được sự kham nhẫn rất là thiêng liêng và nó rất là cao đẹp, khi con nhìn Ni sư, khi con được tiếp xúc với ngài, con biết về bệnh tật của ngài thì cái sự kính phục của con đối với ngài khi ngài nhiếp phục được những cái bệnh tật, khi con được ở gần ngài thì con cảm nhận cái sự nhẹ nhàng, thanh thản. Nếu một người bình thường có được những cái năng lượng đó là đã rất là khó nhưng mà Ni sư phải chiến đấu từng phút, từng giây với thân bệnh nhưng lúc nào con ở bên ngài cũng cảm nhận được một cái từ trường rất là bình an cũng như sư cô Tuệ Quý cũng cho con rất là nhiều niềm cảm hứng khi con xuất gia.
Con nhìn con quan sát ngài từng cái việc rất là nhỏ, ngài dạy cho con những điều rất là nhỏ, từ những cái việc rất là đơn giản nhưng con cảm nhận được trong đó là cả một cái đức kham nhẫn vì đại chúng từng chút. Mỗi lời dạy của ngài con nhìn từ cái thân giáo của ngài, cả đại chúng là nguồn cảm hứng cho con khi con được về Linh Quy tu học. Trong con lúc này là một sự biết ơn dạt dào, con cảm thấy mình rất là diễm phúc, rất là hạnh phúc khi con có được một môi trường tu tập như thế với những con người hiền thiện với tình thương mà cả một đời con tìm kiếm ngoài đời nó rất là khó để con nhìn thấy được tình người trong đó. Khi con bước vào đạo thì tình Tăng lữ luôn là một nguồn cảm xúc thật là thiêng liêng, thật là vô giá, những con người không hề có thân bằng quyến thuộc nhưng đến với nhau bằng tình thương, sự chân thành, chỉ muốn dìu dắt nhau, xoa dịu nỗi đau cho nhau thì con cảm nhận được cái đức kham nhẫn, nó chuyển hóa tất cả cái đức nhẫn, nó vô giá trong con và cũng là bài học cho con trên bước đường tu hành.
Con càng phải trân quý và càng phải phát triển cái đức hạnh kham nhẫn này của một người xuất gia thì đó là những cái cảm thọ khi mà con được lắng nghe sư phụ chia sẻ. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
III. Bốn đạo hành
Sư Phụ:
"- Này các Tỳ-kheo, có bốn đạo hành này. Thế nào là bốn?
Ðạo hành không kham nhẫn, đạo hành kham nhẫn, đạo hành nhiếp phục, đạo hành an tịnh.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là đạo hành không kham nhẫn?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, có hạng người chưởi mắng lại kẻ đã chưởi mắng, sân hận lại với kẻ đã sân hận, gây lộn lại với kẻ đã gây lộn. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là đạo hành không kham nhẫn" (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, XVII. Phẩm Ðạo Hành, (IV). Kham Nhẫn (1))
Người ta chửi mình thì mình chửi lại, người ta mắng mình thì mình mắng lại, người ta giận dữ với mình thì mình giận dữ lại, người ta gây gổ với mình thì mình gây gổ lại. Đây là đạo hành không có kham nhẫn, ăn thua chung đủ, bị mắng thì mắng lại, bị chửi thì chửi lại, sân hận, nóng giận thì nóng giận, sân hận trở lại, đây là không có kham nhẫn.
"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là đạo hành kham nhẫn?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, có hạng người không nhiếc mắng lại kẻ đã nhiếc mắng, không sân hận lại kẻ đã sân hận, không gây lộn lại với kẻ đã gây lộn. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là đạo hành kham nhẫn" (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, XVII. Phẩm Ðạo Hành, (IV). Kham Nhẫn (1))
Đức Phật dạy mình đâu có cái gì xa vời, viễn vong đâu, đạo hành kham nhẫn là không mắng nhiếc lại kẻ đã mắng nhiếc mình, không có tức giận là những kẻ đã tức giận mình, không có gây gổ lại những kẻ đã gây gổ với mình, vậy là đạo hành kham nhẫn. Bao nhiêu vụ án trên cuộc đời này, bao nhiêu nước mắt, bao nhiêu máu, bao nhiêu cái đau khổ trên cuộc đời này là từ đâu? Bị chửi mắng thì chửi mắng lại, bị tức giận thì tức giận trở lại, bị sân hạn thì sân hận trở lại, bị gây gổ thì gây gổ trở lại, bị đánh đập thì đánh đập trở lại thì đó là nguyên nhân của đau khổ trên cuộc đời này, không có cái tâm từ nhẫn, không có cái tâm kham nhẫn, không có cái tâm nhẫn nhịn, không có sự thực hành kham nhẫn.
"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là đạo hành nhiếp phục?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo khi mắt thấy sắc, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Phàm do nhân duyên gì với nhãn căn này không được chế ngự, khiến cho tham ái, ưu bi, các ác bất thiện khởi lên, vị ấy chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì nhãn căn, sống với sự chế ngự nhãn căn. Khi tai nghe tiếng ... khi mũi ngửi hương ... khi lưỡi nếm vị ... khi thân cảm xúc ... khi ý biết pháp, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Phàm do nhân duyên gì ý căn này không được chế ngự, khiến cho tham ái, ưu bi, các ác bất thiện khởi lên, vị ấy chế ngự nguyên nhân ấy, thọ trì ý căn, sống với sự chế ngự ý căn. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là đạo hành nhiếp phục.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào gọi là đạo hành an tịnh?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo không có chấp nhận dục tầm khởi lên, từ bỏ, tẩy sạch, làm cho an tịnh, chấm dứt, khiến đi đến không sanh hữu, không có chấp nhận sân tầm khởi lên ... không có chấp nhận hại tầm khởi lên ... không có chấp nhận các pháp ác bất thiện tầm khởi lên, từ bỏ, tẩy sạch, làm cho an tịnh, chấm dứt, khiến đi đến không sanh hữu. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là đạo hành an tịnh.
Này các Tỳ-kheo, có bốn đạo hành này" (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, XVII. Phẩm Ðạo Hành, (IV). Kham Nhẫn (1))
chúng ta thấy cái ý nghĩa chữ an tịnh hết sức là thâm sâu, là không chấp nhận tham, sân, si, không chấp nhận dục ái, vô minh, bản ngã sanh khởi lên thì vị này từ bỏ, tẩy sạch, làm cho đi đến chỗ an tịnh, lắng dịu, chấm dứt khiến cho nó không có sanh khởi trở lại nữa. Đó là đạo hành an tịnh, là con đường đưa đến sự an tịnh. Trước đó mình chưa đi vào dòng pháp này mình không biết pháp hành là cái gì thì đây chính là pháp hành, tất cả toàn là pháp hành hết, kham nhẫn, nhiếp phục, an tịnh.
"- Này các Tỳ-kheo, có bốn đạo hành này. Thế nào là bốn?
Ðạo hành không kham nhẫn, đạo hành kham nhẫn, đạo hành nhiếp phục, đạo hành an tịnh.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là đạo hành không kham nhẫn?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, có hạng người không kham nhẫn lạnh, nóng, đói, khát, sự xúc chạm của ruồi muỗi, gió, sức nóng mặt trời, các loài bò sát; không kham nhẫn những hình thức chưởi mắng, phỉ báng, không thể chịu đựng được cảm thọ về thân khởi lên, khổ đau, nhói đau, mãnh liệt, kịch liệt, không khả hỷ, không khả ý, chết điếng người. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là đạo hành không kham nhẫn.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là đạo hành kham nhẫn?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, có hạng người kham nhẫn lạnh, nóng ... chết điếng người. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là đạo hành kham nhẫn.
(Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, XVII. Phẩm Ðạo Hành, (V). Kham Nhẫn (2))
Chịu đựng được những cảm thọ khổ đau khởi lên từ nơi cái thân này, đau nhói mãnh liệt, nhói đau kịch liệt, không thoải mái, không vừa lòng chết điếng người mà vì này chịu đựng, đó là kham nhẫn. Bây giờ trời lạnh quá thôi trùm mền, trùm cái đầu lại luôn, nóng quá thôi tu gì, ồn quá thôi tu gì, mệt quá thôi tu gì, thành ra đây là một sức mạnh rất là mạnh, đây còn gọi là nhẫn lực, sức mạnh của sự kham nhẫn. Buổi sáng mình ăn điểm tâm sáng rất trễ, mà có những vị không ăn buổi chiều nữa, sáng tám giờ mấy có khi chín giờ mới ăn thì thế nào trong bụng cũng kêu ục ục, nó cồn cào chứ nhưng mà kham nhẫn, tuyệt vời không? Rồi trời lạnh là mang vớ, bao tay, đội nón rồi này kia nhưng mà vẫn chiến đấu bốn tiếng, tuyệt vời không? Rồi bệnh ho mà không dám ho, hãm hết hơi lại, tuyệt vời không? Thậm chí có những vị bệnh mà cũng không có trị, thậm chi ở nhà có người bệnh nhiều cũng ráng để mà tu, kham nhẫn cái ái, cái tình đó, tuyệt vời không?
Mình phải nhìn thấy được cái gì mình làm được, cái gì mình đang làm, cái gì mình hướng tới và những cái gì mình chưa làm được mình phải thấy. Phải thường xuyên quay lại thì mình mới thấy rằng cái gì mình đã làm được thì mình hoan hỉ với cái đó, cái gì mình đang làm thì mình tinh tấn với cái đó, nỗ lực lên và cái gì mình hướng tới hướng tới điều đó thì mình nuôi dưỡng dục như ý túc, tinh tấn như ý túc và cái gì mình chưa làm được thì mình phải biết trong chặn đường mà mình đang tu học. Mình phải đặt ra cho mình những cái mục tiêu, những cái bước đi, những cái chặn đường mà mình phải đi đến và vượt qua, ăn chay rát ruột cạo đầu rát da, cỡ tuổi trẻ thanh thiếu niên như vầy ở ngoài thì đi chơi, đi hưởng thụ vui vẻ, bạn bè này kia mà bây giờ mình từ bỏ những cái đó là mình đã có sự kham nhẫn, cả một sự quyết tâm bỏ cha, bỏ mẹ, nhất mà đi lên núi tu nữa thì phải chiến đấu ở bên trong rất nhiều.
IV. Trình pháp 2
Phật tử 1: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch trên sư phụ, con kính bạch trên chư tôn thiền đức Tăng Ni cùng các bậc hiền trí. Trong khóa tu xuất gia duyên vừa rồi có con nguyện ở lại, sau đó vì gia đình là con thất hứa với sư phụ con xuống núi. Dạ nhân dây con cũng xin được sám hối với sư phụ, khi về thì con vẫn giữ trong mình là tâm niệm con sẽ quay trở lại núi để tu nhưng cha mẹ con, đặc biệt là mẹ con vẫn nhất mực phản đối, dùng nhiều cách để cho con thối lui nhưng con quyết tâm bằng lòng tham cầu của mình động viên mẹ nhiều ngày, nói rõ những gì trong lòng con nghĩ và những gì mà con muốn tìm đến.
Con muốn tìm cầu sự tu học trong đời sống của mình rồi đến lúc mẹ con cũng nguôi đi, cũng không phải là chấp nhận cho con đi ngay nhưng mà cũng không còn phản đối kịch liệt như trước nữa. Và khi đó con cũng cảm nhận được rằng là mình có chút thành tựu vì đã cảm hóa được mẹ một phần, khi đó con cũng xin sư phụ con được quay trở lại núi để tu. Khi đi mà thấy bố cha mẹ như vậy lòng con xót lắm nhưng con nghĩ là nếu mà con không đi, không chịu tu thì không biết đến đời nào kiếp nào thì con mới thoát khỏi luân hồi được. Dạ và cuối cùng con cũng xin rời gia đình con đi, dạ con xin hết ạ. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Phật tử 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch trên sư phụ, con xin kính bạch trên quý thầy, quý sư cô cùng bậc Tăng Ni và bậc hiền trí có mặt ngày hôm nay ạ. Con xin chia sẻ cảm thọ của con khi sư phụ giảng bài pháp về kham nhẫn, thực sự ra khi con lên lại đây lần thứ hai con đã quyết định tu học nhưng trong con tâm lúc nào cũng chiến đấu, luôn luôn khởi lên những cái vọng tưởng phía ngoài cuộc sống, nào là ăn chơi, nào là thú vui. Lúc đó thật sự có những lúc con cạn kệt sức lực, con không biết phải làm sao nhưng con nhớ tới sư phụ, con rất biết ơn sư phụ và những quý thầy, sư cô, những người đã giúp đỡ con để con được ngồi ở đây ngày hôm nay. Con rất ăn năng và sám hối vì những điều đã xảy ra, con lại cố gắng tinh tấn và cố gắng nhiều hơn để không phụ lòng của những người, những bậc thánh nhân đã đưa cho con pháp hành. Hôm nay con xin thành tâm xin lỗi sư phụ vì những ý nghĩ không tốt đã trỗi dậy trong con và con xin hứa với sư phụ con sẽ cố gắng. Dạ con xin hết ạ. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
V. Người chiến sĩ
Sư Phụ: Ai ngồi ở đây cũng là những chiến sĩ, chúng ta nhất trí không? Từ già cho đến trẻ, từ nam cho tới nữ, từ khỏe cho đến bệnh tất cả mọi người ngồi đây đều là những con voi, nhất trí không? Những con voi lâm trận và đương nhiên là phải có những đặc tính kham nhẫn mới ngồi đây, nếu không thì đã hạ sơn lâu rồi, nhất trí không? Những dũng sĩ, những chiến sĩ trên chiến trường đầy ác nghiệt và thầm lặng, nhiều khi nhìn bên ngoài như vậy chứ bên trong người ta khổ, mình học rồi mỗi người một nỗi khổ thì mình phải hiểu cái nỗi khổ đó, cái nỗi đau của người ta, không phải là mọi người không cố gắng đâu, không cố gắng thì đâu ngồi được ở đây, đâu có bò lên được tới trên đây, đâu có trụ lại được ở trên đây và đương nhiên còn tập khí, còn nghiệp, còn phiền não cho nên mình hiểu thương và cảm thông chứ ai cũng là những chiến sĩ hết.
Phải chiến đấu với những cái nghiệp của mình, những cái tập khí của mình, những cái thói quen của mình, những lậu hoặc của mình. Chiến đấu mệt không? Mệt nhưng mà vui, mệt mà hạnh phúc, mệt mà hân hoan, mệt mà tự hào, mà vinh quang, phải không? Vì vô lượng chúng sanh họ mệt mỏi, họ ở trong sự lo lắng, sợ hãi, bất an, tủi nhục và khổ đau mà không có lối thoát, nhưng mình mệt mỏi mà mình có hướng đi, mình có đường đi, mình có đạo lộ, mình có lối thoát cho nên cái mệt mỏi của mình là rất xứng đáng, rất là hạnh phúc, rất phấn khởi. Mình phải thấy được điều đó, mình vui từng ngày, mình vui từng giờ, mình vui từng lời kinh câu kệ, tiếng pháp, mình vui từng giây phút ở trên bồ đoàn, giây phút mình được công quả, những giây phút mình được tác ý thiền quán. Mình vui, mình hạnh phúc vì mình biết rằng thật sự còn nhiều chúng sanh đang đau khổ, họ quờ quạng giữa trời đêm, họ loanh quanh, lẩn quẩn, họ đau khổ mà chẳng biết tại vì sao.
Thương cho ta đau khổ mà chẳng biết vì sao, rồi thương cho ta muốn thoát khổ mà cũng chẳng biết cái lối ra. Trong khi chúng ta biết lối ra, mình tìm được cái lối ra, mình thấy được cái lối ra, mình biết được cái lối ra và mình đang đi ra thì không có một cái hạnh phúc nào có thể so sánh nổi với cái hạnh phúc vĩ đại, vô thượng, tối thượng này hết. Mình trú ở trong hạnh phúc này thì tất cả những cái nhỏ nhặt kia mình cho qua một cách dễ dàng, tất cả những cái nhỏ nhặt mình coi nó không có ra gì hết, mình thấy cái lớn này, cái mà vĩ đại nhất là mình tìm được lối ra, mình đang đi ra, mình đang trên con đường đến cái chỗ mình muốn đến. Tức là ra khỏi những cái đống hỗn độn này, những đống khổ đau, những đống bất an, tai họa, những đống nhục nhã, lo lắng, sợ hãi cho nên chúng ta phải thường xuyên có sự tác ý cũng như hồi nãy Trí Phụng trình pháp bây giờ là phải tác ý hỷ lạc, những cái bài hỷ lạc về tu học là phải thường xuyên tác ý để mình có hỷ lạc này thì mình mới có thể xa được cái hỷ lạc kia.
Mình có cái pháp lạc, có cái thiền lạc, có cái siêu thế lạc, viễn ly lạc, chánh giác lạc thì mình mới có thể đánh bại được cái dục lạc, còn không có cái vui là mình sống không nổi đâu. Phải có cái vui, phải có niềm vui nhưng cái vui của mình lạ lắm, trong cái bài tâm hỉ nói mình chán mà mình vui nó mới hay chứ, nó tuyệt vời không bao giờ có. Mình chán cái thân ngũ uẩn này, mình chán cái đời sống vô thường này, mình chán cái thâm, sân, si này, mình chán cái bản ngã này nhưng mình lại vui, đặc biệt chỉ có thánh trí mới có cái này thôi. Mình chán cái tham nhưng mà mình vui với cái chán đó tại vì vui vì ta biết chán, hồi xưa mình không biết chán mà, mình không biết ngán, mình không biết khổ mà bây giờ mình thấy càng ngày mình càng hiền, càng ngày tâm mình càng chấp nhận với lời Phật dạy trí tuệ, càng ngày cái tâm của mình càng thấm thía cái khổ, càng ngày lòng từ, tình thương của mình càng lan tỏa rộng lớn, càng ngày mình càng yêu thích đời sống thoát ly, đời sống viễn ly, đời sống xả ly.
Mọi người có thấy điều này không? Có cảm nhận được không? Những cái này là cái thuốc bổ, đó là chất dinh dưỡng, đó là sức sống, đó là nguồn sống, là sinh lực, là tăng lực để nó làm cái đà đẩy mình đi lên núi, tuyệt vời lắm.
"Rồi này các Tỳ-kheo, người đánh xe Màtali nói lên những bài kệ với Thiên chủ Sakka:
Này Thiên chủ Sakka,
Có phải là Ông sợ,
Hay vì Ông yếu hèn,
Nên mới phải kham nhẫn,
Khi Ông nghe ác ngữ,
Từ Vepacitti?" (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương XI. Tương Ưng Sakka, Phẩm Thứ Nhất, IV. Vepacitti hay Kham Nhẫn)
Tức là ông sợ hay là ông yếu hèn mà tại sao người ta nói những lời hung ác vậy mà ông nhịn vậy? Ông yếu hèn hay ông sợ người ta.
"(Sakka):
Không phải vì sợ hãi,
Không phải vì yếu hèn,
Mà ta phải kham nhẫn,
Với Vepacitti.
Sao kẻ trí như ta,
Lại liên hệ người ngu?" (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương XI. Tương Ưng Sakka, Phẩm Thứ Nhất, IV. Vepacitti hay Kham Nhẫn)
Ta không phải vì sợ, ta cũng không phải yếu hèn mà ta nhịn. Tại sao ta là bậc trí lại đi hơn thua với cái kẻ ngu?
"(Màtali):
Kẻ ngu càng nổi khùng,
Nếu không người đối trị,
Vậy với hình phạt nặng,
Kẻ trí trị người ngu.
(Sakka):
Như vậy theo ta nghĩ,
Chỉ đối trị người ngu,
Biết kẻ khác phẫn nộ,
Giữ niệm tâm an tịnh" (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương XI. Tương Ưng Sakka, Phẩm Thứ Nhất, IV. Vepacitti hay Kham Nhẫn)
Ông đánh xe nói nếu người trí không trị người ngu thì người ngu này càng làm loạn, sau đây là cái cách trị người của vua trời: Người ta phẫn nộ nhưng mà mình giữ niệm tâm an tịnh. Tuyệt vời không? Quá là tối thượng luôn, vị Đế-thích này đâu phải vừa đâu, các vị này là thánh đệ tử thiên là đệ tử của Đức Phật. Đối trị người ngu, đối trị với những kẻ phẫn nộ, sân hận bằng cách giữ niệm tâm an tịnh. Nhớ cái này kỹ nha, tới chết không bao giờ quên.
Trong mấy cái phim kiếm hiệp ngày xưa thì cái người mà dữ dằn, gian ác, xảo trá, mưu mô, quỷ quyệt, đi cướp bí kiếp võ lâm mà họ đi cướp hoài không được, nhưng mà cái anh hiền lành, khờ khờ lại lọt xuống hang động gặp bộ xương của tiền bối đang ngồi, thế là anh lạy xuống ba lạy vậy thì tự nhiên rung rinh hết trơn, hiện ra cuốn bí kiếp võ lâm. Còn đây là bí kiếp chánh pháp còn hơn cái bí kiếp võ lâm đó gấp ngàn lần, mình gặp một người phẫn nộ, sân hận thì mình cứ giữ cái niệm an tịnh tâm của mình. Đây là bí kiếp chánh pháp đó, không cần làm gì hết, chỉ cần cái tâm mình an tịnh thôi, mình vừa giúp được mình, mình vừa giúp được người, mình vừa độ được mình vừa độ được người, tự lợi lợi tha, tự độ độ tha, tự giác giác tha trong một cái thôi, là giữ niệm tâm an tịnh. Chúng ta thấy đơn giản không?
Trong cái bài khuyên mẹ tu tập bậc đạo sư có ghi:
Mẹ nhớ niệm thầm trong tự tâm.
Niệm “Bỏ hết đi, cảnh vô thường!”
Niệm “Tâm lặng yên, tâm dễ chịu!”
Niệm “Ngũ uẩn này, không phải ta”
(Cửa Vào Bất Tử - Chơn Tín Toàn)
Bất cứ gặp cái cảnh chướng tai gai mắt, nghịch cảnh, thử thách, mắng chửi, oan ức, nhục nhã, tai họa thì cứ đem bí kiếp chánh pháp, vô thượng pháp bảo, tối thượng thánh là trí giữ niệm tâm an tịnh, niệm tâm lặng yên tâm dễ chịu, niệm ngũ uẩn này không phải ta. Như vậy có cần phải kiềm nhiều không? Không cần kiềm, cái này nó bung luôn, nó không cần kiềm gì hết, nó diệt tận, nó bứng cái gốc cảm thọ luôn không có kiềm, nó giải tỏa luôn thâm sâu, cái đó gọi là vô sanh pháp nhẫn. Nghĩa là nhẫn bằng trí tuệ chứ không phải nhẫn bằng cái sự kiềm cọng, đè nén rồi ráng để kiềm hãm, không phải như vậy mà hiểu cái vấn đề tới gốc rễ cho nên buông xả cái tâm, nếu chưa buông xả được thì cũng có thể nhịn được, có thể chịu đựng được, nhẫn chịu được, kham nhẫn được.
Đây là bí kiếp chánh pháp, là bảo bối của Phật gia, bảo bối nhà Phật, bí kiếp chánh pháp, vô thượng pháp luân, là thể gian chí bảo, tức là cái tâm an tịnh của mình trong tất cả mọi trường hợp, mọi hoàn cảnh, giữ cái thâm an tịnh đó là tối thượng. Đó là thế gian chí bảo, đó là kim cương trong tâm, kim cương là giữ cái tâm an tịnh trong tất cả mọi trường hợp, đó là kim cương thánh trí, đó cũng là thánh chánh định cuối cùng của Bát Chánh Đạo, không phải dễ. Nhờ cái vấn đề mình thấy có cái gì đâu, tại sao phải làm cho lớn chuyện lên, tại sao phải giao động, động loạn lên, có cái gì đâu, an tịnh, lắng dịu đi.
"(Màtali):
Hỡi này Vàsana,
Sự kham nhẫn như vậy,
Ta thấy là lỗi lầm,
Khi kẻ ngu nghĩ rằng:
"Vì sợ ta, nó nhẫn"
Kẻ ngu càng hăng tiết,
Như bò thấy người chạy,
Càng hung hăng đuổi dài." (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương XI. Tương Ưng Sakka, Phẩm Thứ Nhất, IV. Vepacitti hay Kham Nhẫn)
Ông đánh xe ông nói vua trời nhẫn như vậy là ta thấy sai rồi, ông nhịn vậy là sai rồi. Tại sao vậy? Ông nhịn như vậy thì mọi người sẽ nói rằng ông sợ nó, không nhịn, "cô nhịn vậy đó là người ta nói cô sợ đó", cô sợ cái cô kia, sợ cái bà kia đó, nhịn vậy là người ta nói mình "Tại sao phải sợ cổ? Tại sao phải sợ?". Nếu mình nhịn như vậy thì người ngu kia càng hăng tiết lên, hăng máu lên như con bò thấy người chạy thì nó càng hung hăng đuổi theo.
"(Sakka):
Hãy để nó suy nghĩ,
Như ý nó mong muốn,
Nghĩ rằng, ta kham nhẫn,
Vì ta sợ hãi nó.
Trong tư lợi tối thượng,
Không gì hơn kham nhẫn.
Người đầy đủ sức mạnh,
Chịu nhẫn người yếu kém,
Nhẫn ấy gọi tối thượng,
Thường nhẫn kẻ yếu hèn.
Sức mạnh của kẻ ngu,
Ðược xem là sức mạnh,
Thời sức mạnh kẻ mạnh,
Lại được gọi yếu hèn.
Người mạnh hộ trì pháp,
Không nói lời phản ứng,
Bị mắng nhiếc, mắng lại,
Ác hại nặng nề hơn.
Bị mắng, không mắng lại,
Ðược chiến thắng hai lần.
Sống lợi ích cả hai,
Lợi mình và lợi người,
Biết kẻ khác tức giận,
Giữ niệm, tâm an tịnh,
Là y sĩ cả hai,
Chữa mình và chữa người,
Quần chúng nghĩ là ngu,
Vì không giỏi Chánh pháp." (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương XI. Tương Ưng Sakka, Phẩm Thứ Nhất, IV. Vepacitti hay Kham Nhẫn)
Mình phải thêm vào trong pháp hành Nikāya cái kham nhẫn này. Bây giờ người ta nói tôi là sợ thì cứ để cho người ta nghĩ, người ta nói kệ người, người ta có miệng người ta nói, kệ người ta. Ở trong kinh ở đây dịch chữ tư lợi nhưng mà chữ tư lợi thì tiếng Việt mình cái nghĩa nó khác cho nên đây là tự lợi đó, "trong tự lợi tối thượng không gì hơn kham nhẫn" câu này phải viết ra treo lên. Trong sự tu hành của chính mình thì kham nhẫn là tối thượng, không có gì hơn hết, trước nay mình đã được học chánh tín, chánh kiến, chánh tư duy, chánh tinh tấn thì giờ mình phải học được kham nhẫn, trong tự lợi tối thượng không gì hơn kham nhẫn. Mình nhịn được, mình chịu khó được, mình nhẫn nại được, mình kham nhẫn được, mình từ nhẫn được.
Ngươi tiếp tục quỳ xuống đất mau,
Mau quỳ xuống lạy kẻ dưới mình,
Mau quỳ xuống lễ người kém cỏi,
Bản ngã dập đầu, cúi lạy mau.
Đó là nhẫn những cái người yếu hơn mình, có khi họ không hiểu biết nhưng mà họ cho họ thông minh lắm, họ nói mình không hiểu biết thì "dạ, con không hiểu biết gì hết, con ngáo, con ngu", không sao hết vì sự kham nhẫn vừa có trí tuệ vừa có nhiếp phục bản ngã trong đó, không có hơn thua, người ta chửi mình ngu thì "dạ, trời ơi con quá xá ngu luôn, con đang tu, con thấy cái vô minh nhiều lắm. Dạ con ngu đúng rồi". Tuyệt vời lắm, còn nhiều bài về núi lắm, mình đúng là kẻ hèn hạ không biết gì hết, không biết hơn, không biết thua, không biết danh, không biết lợi, không biết giành giật cho nên mình ngu nhưng mà mình được an. Mình chỉ xin hai chữ bình an cho cuộc đời này để mình tu rồi mình đi ra, mình đâu có ở trong nhà lửa đâu, còn người ta khôn để người ta giành giật trong nhà lửa cho nên mình tu mà mình được người ta chê ngu là tốt lắm. Ngu là đúng rồi đó, ngu thật tại vì mình không có muốn hơn thua với ai, những cái người ta tranh giành thì mình không có tranh giành, những cái người ta tôn thờ thì mình không có tôn thờ, những cái người ta làm mục tiêu để đạt đến thì mình không có mục tiêu gì hết, mình chỉ có cái mục tiêu mà không ai thích hết trơn là mục tiêu để thấy được cái khổ, mà người ta không ưa cái khổ, người ta muốn tìm cái vui nhưng mà mình là muốn làm sao, con cầu mong sao suốt đời này con sống để con thật sự thấy được cái khổ trọn vẹn. Có ngược đời không nhưng mà tuyệt vời.
Nó không giống ai hết, người ta là chán khổ tìm vui, đừng nói cái chuyện khổ, "Bà ơi lên mà cứ khóc hoài, trời đất ơi tu cái giống gì mà cứ lên khóc". Vừa lên Linh Quy Pháp Ấn tu về có người hỏi "có khóc không?", nói chung là mình có những cái không giống ai, chỉ giống Phật thôi, con có thường chia sẻ mấy huynh đệ đi chung là cái gì mà người ta thích thì mình đừng thích, cái gì người ta quý trọng thì mình tránh xa nó ra đi, cái gì người ta quăng bỏ cái đó mình lượm mình xài, cái chỗ núi rừng đâu ai thèm ở, cái chỗ đông đúc thì mọi người tranh giành thì thôi mình đi tìm cái chỗ không ai thèm giành gọi là vô tranh nhưng con rất là hạnh phúc. Quý vị có hạnh phúc nhiều không?
Thực tình sao mình thấy mình rất là hạnh phúc với cái nùi giẻ rách, mình càng hạnh phúc với một cái kẻ ăn mày, nó sướng vô cùng sướng, không biết quý vị có sướng không, làm kẻ ăn mày sướng không cần ngày mai. Mình hết sức là hạnh phúc với một kẻ hèn hạ nhất trong cuộc đời này, thấp kém nhất, không có một cái địa vị gì trong cuộc đời này, rất là hạnh phúc. Cái người ngu mà họ cho rằng họ mạnh thì cái mạnh đó lại là cái yếu kém tại vì ai cũng cho rằng mình hung hăng, mình dữ dằn, người đó là đáng nể, họ cho đó là sức mạnh, nếu họ cho cái sự hung hăng, dữ dằn, sân si đó là sức mạnh thì người tu tâm hiền, người luôn luôn khiêm cung, khiêm hạ thì cho rằng người này yếu. Bây giờ mình chịu yếu hay chịu mạnh? Người ta cứ chê nhưng mình an tịnh, lắng dịu, hiền thiện, ngọt ngào, dễ chịu, từ bi, tuyệt vời không? Người ta có miệng thì người ta cứ chê mà mình vẫn giữ được cái hiền thiện, hiền lành, an lạc trong tâm mình, cái đó nó mới quý, cái đó mới là cái cần thiết.
"Người mạnh hộ Trì pháp không nói lời phản ứng", chúng ta đọc vô đây chúng ta mới thấy công đức của bậc đạo sư, ngài bôi từng chữ, ngài tô từng màu, ngày gạch từng cái đường nét, cái chữ "không" vừa tô đậm vừa gạch dưới. nếu mình phản ứng trả lại với những người sân si thì mình còn khổ hơn nhiều lắm. "Bị mắng không mắng lại được chiến thắng hai lần", tại sao lại như vậy?
Phật tử 3: Dạ thưa sư phụ con nghĩ chiến thắng hai lần thì một là chiến thắng chính mình, hai là có được sự kham nhẫn, đó là sự chiến thắng rồ.
Sư Phụ: Rồi cho tràng vô tay lớn.
Chú Trí Thành: Dạ mô Phật thưa thầy con nghĩ mình chiến thắng hai lần là mình nhẫn nhịn mình đã thắng người rồi, mình nhẫn nhịn cũng đã thắng chính mình.
Sư Phụ: Ai có ý kiến nữa? Tại sao là chiến thắng hai lần?
Phật tử 4: Con bạch sư phụ, theo ý con nghĩ là chiến thắng hai lần đã chiến thắng được mình mà nhiếp hóa được trong người kia, tức hai lần.
Sư Phụ: Đúng rồi đó, mình chiến thắng được mình và mình chiến thắng được người ta luôn. Mình không cần chiến mà mình thắng, mà cái thắng nó siêu việt cả cái thắng bại thường tình của thế gian, ở đây không phải là thắng bại, không phải là hơn thua mà là cái sự siêu việt lên cái hơn thua. Cái thắng này mới thắng vinh quang, cái thắng này mới là cái thắng của đạo pháp chứ không phải cái thắng bại thường tình theo thế gian, không phải. Vì họ không biết chánh pháp họ nghĩ người đó là ngu, là khờ, là hiền nhưng mà người này chiến thắng được hai lần, trị bệnh cho cả hai luôn, y sĩ cả hai chữa mình và chữa người luôn.
"Này các Tỳ-kheo, Thiên chủ Sakka ấy đã tự nuôi sống với quả công đức của mình, đã ngự trị và cai trị chư Thiên Tam thập tam thiên, sẽ nói lời tán thán nhẫn nhục và nhu hòa.
Ở đây, này các Tỳ-kheo, các Ông hãy làm chói sáng pháp luật này bằng cách trong khi xuất gia trong pháp và luật khéo giảng này, hãy thật hành kham nhẫn và nhu hòa." (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương XI. Tương Ưng Sakka, Phẩm Thứ Nhất, IV. Vepacitti hay Kham Nhẫn)
Đức Thế Tôn tán thán Đế-thích thiên là vị này tự nuôi sống mình bằng thành quả công đức của chính mình, và thành quả công đức của chính mình là cai trị ba mươi ba cung điện ở cõi trời tam thập tam thiên. Hãy thực hành kham nhẫn và nhu hòa sẽ chói sáng pháp luật này, thực hành kham nhẫn và nhu hòa sẽ chói sáng non thiêng này, thực hành kham nhẫn và nhu hòa sẽ chói sáng Linh Quy Pháp Ấn này, thực hành kham nhẫn và nhu hòa sẽ chói sáng đạo tràng Nikāya, thực hành kham nhẫn và nhu hòa sẽ chói sáng dòng pháp tối thượng, vi diệu, thần diệu này. Chúng ta nhớ kham nhẫn, nhu hòa ở đây không phải là Kham nhẫn nhu hòa của một cái người chưa chánh kiến, nhớ kỹ cái kham nhẫn và nhu hòa này là từ cái chánh kiến thấy được ngũ uẩn, thấy được tham, sân, si, lậu hoặc. Cho nên mỗi một cái pháp như vậy là nó viên mãn.
Chúng ta thấy nãy giờ mình học kham nhẫn đâu phải là nhẫn giống như lúc trước mình học đâu mà là thấy biết các pháp hết, kham nhẫn ở trong trí tuệ. Nhu hòa là cái tâm hiền trí ở trong một cái tuệ giác, ở trong cái tâm đại từ bi thì như vậy là chói sáng pháp và luật.
VI. Trình pháp 3
Cô Bửu Anh: Con xin chí thành đảnh lễ đức bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác, con xin chí thành đảnh lễ với lòng biết ơn đức bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, đấng cha lành của chúng sinh vạn loại, con xin chí thành đảnh lễ đức ân sư đã chỉ dạy cho chúng con bài pháp vi diệu, dạ chúng con xin đảnh đễ chư vị Tăng Ni, quý hiền trí đang có mặt trong buổi pháp giảng hôm nay. Dạ bạch sư phụ, lúc sáng nay nghe sư phụ đọc bài kinh về con voi thì cái đầu ngu của con nói sao Đức Phật hay đem con này con kia ra nói, rồi nói nóng lạnh này kia mấy cái chuyện đó, con cũng thấy bình thường lúc mới đầu nghe sư phụ đọc bài kinh. Nhưng sau khi nghe sư phụ chỉ dạy, giảng dạy thêm thì quả là con thấy mình như một gã cùng tử được gặp viên minh châu nên con rất là hoan hỉ, và hôm nay con xin trình pháp mà con không có khóc.
Bạch sư phụ, bài giảng pháp của Đức Phật và được sư phụ chỉ dạy, soi sáng thì con mới hiểu con voi đó chính là chúng con, và khi con voi lâm trận thì cái chiến trận ở trước mắt nó chính là cái chiến trận để chiến đấu diệt tận tham, ái dục, vô minh, ngã chấp. Khi sư phụ giảng là nó thấy mấy cái đàn voi kia, rồi nó hoảng sợ, rồi nó nghe những cái âm thanh của đối phương, trống kèn này kia nó hoảng sợ, lúc sư phụ đọc bài kinh nó ngửi mùi phân của những con voi khác thì con mới nghĩ sao mà có phân voi trong đây nữa, con voi bị tên bắn, con voi nhớ nghĩ đến cái máng cỏ thì con mới hiểu được rằng Đức Phật chỉ dạy trong cái bài kinh này đó là con do này không có biết phòng hộ sáu căn của nó.
Cho nên nó không có nhiếp phục được sáu trần, khi tiếp xúc như vậy nó không có được cái ánh sáng của chánh kiến soi sáng cho nên nó hoảng sợ. Chính vì nó hoảng sợ nên nó không kham nhẫn được những cái sắc; thanh; hương; vị; xúc mà nó cứ nhớ, nghe những cái đó với những cái tưởng tượng của nó, nó không được cái ánh sáng của chánh kiến soi sáng các sắc là vô thường, khổ, vô ngã. Nếu nó biết nó có được ánh sáng chánh kiến soi sáng thì nó sẽ không hoảng sợ, nó biết thu nhiếp sáu căn, sáu trần lại thì nó sẽ không hoảng sợ. Con nghĩ là con voi này nếu nó không được chánh kiến soi sáng thì bản thân nó không xứng đáng được ông vua cưỡi. Nhưng ông vua ở đây là ai? Con cũng suy nghĩ sao Đức Phật lại đưa một hình tượng là không xứng đáng cho ông vua cưỡi, ông vua ở đây con nghĩ là cái tâm tịch tĩnh, vắng lặng, nếu con voi này không có giới, định, tuệ, phòng hộ thì nó không thể có được cái tâm tịch tĩnh và con voi đó chính là ngũ uẩn của chúng con.
Nếu không có được ánh sáng của Tứ Thánh Đế soi sáng để thấy rằng sắc; thọ; tưởng; hành; thức không phải là của ta, không phải là ta thì chúng con cũng giống như con voi đó khi lâm trận, sẽ bị hoảng sợ trước những cái cám dỗ, không kham nhẫn được trước tham, sân, si. Khi nghe bài kinh Đức phật chỉ dạy là không kham nhẫn với nóng lạnh con còn hiểu sâu thêm được rằng nóng lạnh đây không chỉ là nóng lạnh của thời tiết, mà nóng lạnh đây còn là nóng lạnh của sự sân giận của chính bản thân mình và của những chúng sinh khác. Cái lạnh ở đây không phải là cái lạnh của thời tiết mà cái lạnh của cái lòng lạnh lùng, cái tâm lạnh lùng không biết thương xót chúng sinh của mình và cũng như của ngũ uẩn khác.
Có rắn rít rồi ruồi, muỗi châm chích thì con mới nghĩ ra cái ruồi muỗi châm chích mình đó là những cái lời chỉ trích, chê bai của những người chung quanh, mình có kham nhẫn được hay không. Rắn độc ở đây con nghĩ có khi tại vì có thời gian mà đi làm này kia tiếp xúc thì con biết có những trường hợp người ta nói oan cho mình thì đó là nọc độc của rắn cắn. Vậy mình có kham nhẫn được với những điều đó hay không hoặc như sư phụ vừa kể chuyện Đức Phật đi đằng trước mà ông Bà-la-môn ở sau chửi, ông học trò thì khen ngợi, những lời phỉ báng đó đối với cái ngũ uẩn này mình nghe mình có bị dính mắc vô đó hay không, hay là nhờ cái chánh tri kiến của Phật soi sáng thì chúng ta biết rằng không có ai, không có người nào chửi, cũng không có người nào nghe, cũng không có người nào bị chửi hay không có người nào chửi những lời đó, chỉ là ngũ uẩn thôi thì chúng ta thoát ra được những cái khổ đau của nóng lạnh hay là của những cái lời phỉ báng.
Con xin trình bày những cái những cái suy nghĩ của con qua cái sự chỉ dạy của sư phụ con hiểu được như vậy, không biết là nó còn có chưa đúng gì với trong pháp hay không. Con xin mong sư phụ cùng đại chúng chỉ dạy thêm cho con. Con xin cảm ơn.
Sư Phụ: Lành thay! Lành thay! Mình nhớ Đức Phật nói có sự có lý đầy đủ, nó cũng có rắn, có muỗi, có nóng, có lạnh rồi cái phần kia cũng có, Đức Phật dạy rất là đầy đủ, mình không có nghiêng qua cái lý không mà sự lý đầy đủ.
Tâm vui này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này.
Tâm vui này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la.
./.
Kham Nhẫn
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Kham nhẫn PAGEREF _Toc213837811 \h 1
II. Trình pháp PAGEREF _Toc213837812 \h 11
III. Bốn đạo hành PAGEREF _Toc213837813 \h 12
IV. Trình pháp 2 PAGEREF _Toc213837814 \h 15
V. Người chiến sĩ PAGEREF _Toc213837815 \h 16
VI. Trình pháp 3 PAGEREF _Toc213837816 \h 26
I. Kham nhẫn
Kính bạch chư tôn thiền đức và chư hiền trí, hôm nay chúng ta tìm hiểu chuyên đề kham nhẫn.
"- Thành tựu năm chi phần, này các Tỳ-kheo, con voi của vua không xứng đáng cho vua, không là tài sản của vua, không được xem là một biểu tượng của vua. Thế nào là năm?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, con voi của vua không kham nhẫn các sắc, không kham nhẫn các tiếng, không kham nhẫn các hương, không kham nhẫn các vị, không kham nhẫn các xúc. Và này các Tỳ-kheo, thế nào là con voi của vua không kham nhẫn các sắc?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, con voi của vua, khi đi đến chiến trận, thấy đoàn voi hay thấy đoàn ngựa, hay thấy đoàn xe, hay thấy đoàn bộ binh đã chùn chân, rủn chí, không còn can đảm, không thể tham gia chiến trận. Như vậy, này các Tỳ-kheo, con voi của vua không kham nhẫn đối với các sắc" (Tăng Chi Bộ, Chương V - Năm Pháp, XIV. Phẩm Vua, Chương (IX). Không Có Thể Kham Nhẫn)
Vào trong chiến trường thấy cái đoàn voi, thấy đoàn ngựa, thấy đoàn xe hay thấy những cái bộ binh đã chùng chân yếu ý chí, không có can đảm, không thể tham gia chiến trận, một con voi như vậy thì làm sao để nhà vua cưỡi được. Đây gọi là không kham nhẫn đối với sắc.
"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là con voi của vua không kham nhẫn các tiếng?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, con voi của vua, đi đến chiến trận, khi nghe tiếng voi, nghe tiếng ngựa, nghe tiếng xe, nghe tiếng bộ binh, hay nghe tiếng trống lớn, thanh la, tiếng tù và, tiếng trống nhỏ, liền chùn chân, rủn chí, không còn can đảm, không thể tham gia chiến trận. Như vậy, này các Tỳ-kheo, con voi của vua không kham nhẫn các tiếng" (Tăng Chi Bộ, Chương V - Năm Pháp, XIV. Phẩm Vua, Chương (IX). Không Có Thể Kham Nhẫn)
Vừa nghe trống kèn thôi, vừa nghe cái tiếng rú của các con voi khác, tiếng ngựa hí vang lên là nó sợ, đây là không có kham nhẫn với các cái âm thanh.
"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là con voi của vua không kham nhẫn các hương?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, con voi của vua đi đến chiến trận, khi đó ngửi mùi phân và nước tiểu của các con voi của vua thuộc loại quý chủng đã quen chiến trận, liền chùn chân, rủn chí, không còn can đảm, không thể tham gia chiến trận. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là con voi của vua không kham nhẫn các hương" (Tăng Chi Bộ, Chương V - Năm Pháp, XIV. Phẩm Vua, Chương (IX). Không Có Thể Kham Nhẫn)
Những con voi quý ngửi được mùi phân, mùi nước tiểu thì nó sợ, chùn chân, rủn chí, nó không còn cái ý muốn để chiến đấu nữa. Nó sợ mấy con voi kia vì đồng loại với nhau nó ngửi cái mùi nó biết đây là thứ dữ, cũng như con người với người gặp nhau nhìn là biết cái này không phải thứ thường, cái này không phải dạng vừa đâu. Nó ngửi mùi biết đây là hương tượng, đây là tượng vương, thì nó nghe nó sợ, vậy là nó không có kham nhẫn với các hương.
"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là con voi của vua không kham nhẫn các vị?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, con voi của vua khi đi đến chiến trận, chán ngấy một máng cỏ và nước, hay chán ngấy hai, ba, bốn hay năm máng cỏ và nước, liền chùn chân, rủn chí, không còn can đảm, không thể tham gia chiến trận. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là con voi của vua không kham nhẫn các vị" (Tăng Chi Bộ, Chương V - Năm Pháp, XIV. Phẩm Vua, Chương (IX). Không Có Thể Kham Nhẫn)
Khi ra chiến trận thì nó chán ngán một máng cỏ và nước hay là nó ngán những cái máng cỏ, nó không có muốn lâm trận chiến, như vậy là không kham nhẫn với các vị.
"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là con voi của vua không kham nhẫn các xúc?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, con voi của vua đi đến chiến trận, khi bị trúng một mũi tên, hay hai, hay ba, hay bốn, hay năm mũi tên, liền chùn chân, rủn chí, không còn can đảm, không thể tham gia chiến trận. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là con voi của vua không kham nhẫn các xúc" (Tăng Chi Bộ, Chương V - Năm Pháp, XIV. Phẩm Vua, Chương (IX). Không Có Thể Kham Nhẫn)
Khi con voi này ra trận mới trúng một hai mũi tên là không muốn tham chiến nữa, không muốn vươn lên nữa.
"Thành tựu năm chi phần, này các Tỳ-kheo, một con voi của vua không xứng đáng của vua, không là tài sản của vua, không được xem là một biểu tượng của vua" (Tăng Chi Bộ, Chương V - Năm Pháp, XIV. Phẩm Vua, Chương (IX). Không Có Thể Kham Nhẫn)
Như vậy con voi này có năm cái tính chất không có mạnh mẽ, không có kham nhẫn, không có chịu đựng, không có oai hùng thì không xứng đáng để cho vua cưỡi, không phải là biểu tượng của vua, không phải là tài sản của vua.
"Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, một vị Tỳ-kheo thành tựu năm pháp không đáng cung kính, không đáng tôn trọng, không đáng cúng dường, không đáng chắp tay, không còn là phước điền vô thượng ở đời. Thế nào là năm?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo không kham nhẫn các sắc, không kham nhẫn các tiếng, không kham nhẫn các hương, không kham nhẫn các vị, không kham nhẫn các xúc" (Tăng Chi Bộ, Chương V - Năm Pháp, XIV. Phẩm Vua, Chương (IX). Không Có Thể Kham Nhẫn)
Nhìn thấy món đồ đẹp là tham liền, thích liền, tâm không còn định tĩnh nữa, không còn cảm giác toàn thân gì nữa, không còn an tịnh, lắng dịu gì nữa hết, nhìn một cái là mê, đắm đuối, mê say, thích thú, hoan hỉ, dính mắt. Nhìn món đồ đẹp, nhìn cảnh đẹp, nhìn người đẹp, nhìn cái rồi cái tâm mất định tĩnh liền, nếu người tu còn ở trong cái trạng thái này thì người này cũng chưa có đáng cho người ta cung kính, chưa đáng cho người ta tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường, chấp tay. Mới vừa nghe tiếng khả ái, dễ thương, vừa nghe cái âm thanh đó là tham đắm liền, tâm mất định tĩnh liền, loạn liền. Mình đang nghe pháp mà ở dưới có karaoke dội lên là cái tâm mình động liền, có hai trường hợp động, một là nó sân, nó khó chịu, hai là nó tham, là cái bài trúng tủ, trúng cái gu, cái sở thích mà hồi trước ở nhà mình thích cái bài đó, họ mở ngay cái bài đó là cái thọ; tưởng; hành của mình chạy theo. Như vậy là không kham nhẫn với các tiếng.
Chúng ta thấy cái chữ kham nhẫn này hay lắm, cái chuyên đề này độc đáo lắm, tu mà không có kham nhẫn thì không có tu. Nghe cái âm thanh là không có kham nhẫn, cái này nói rộng ra nhiều pháp lắm, mới nói một câu là nhảy vào cãi liền, biện luận, ngụy biện, che chắn, xảo biện đủ thứ hết, không có chút kham nhẫn nào hết. Tức là mình không có kham nhẫn với tiếng âm thanh, mình đang ngồi thiền mà con chó sủa là quay mình nhìn liền, như vậy là không có kham nhẫn, không có nhiếp phục, không có chế ngự, có một gì động là mình bị liền.
Chúng ta nhớ mùa dịch không? Chúng ta đang ngồi đây mà bên kia tốc mái nhà là mọi người nhóm lên, con nói kệ, bây giờ nó sập cái nhà này cũng ngồi ngay đây nghe pháp, đó là kham nhẫn với tiếng, kham nhẫn với sắc. Cái mùa dịch là chúng con ngồi đây học kinh thì gió bão thổi bay lên nửa cái nóc nhà của Ni xá, mọi người sợ muốn đi gom đồ thì con nói không, cứ ngồi đây mà lỡ như cái nhà này sập ngay tại chỗ này mà nó đè mình chết ở đây thì vẫn ngồi đây, vì chết là mình sanh thiên, mình lên thánh đệ tử thiên. Đó là kham nhẫn với tiếng, kham nhẫn với sắc, kham nhẫn với sự biến hoại của các pháp, phải tập kham nhẫn, vừa thấy, vừa nghe một chút là tâm luýnh quýnh, lăng xăng hết trơn, dao động, động loạn hết trơn thì làm sao tu.
Trong cái kham nhẫn này có nhiều pháp lắm, nó có định trong đó, có nhiếp phục, chế ngự trong đó, nó có hộ trì căn trong đó, chúng ta thấy không ạ? Nó niệm, định, tuệ trong đó, nó có sự chịu đựng cho nên người có kham nhẫn này là có sức mạnh vĩ đại. Người có kham nhẫn tuyệt diệu lắm, bình thản lắm, mọi chuyện nó tới bình thản mà người ta chửi cũng bình thản, tuy là trong này nó có khó chịu, nó có khổ thọ nhưng mà ở bên ngoài vẫn nhiếp phục được chứ không phải là mới vừa nói tới cái tên mình là mình nhảy dựng lên, phản ứng liền, che chắn, mình bao biện, làm đủ thứ trò, đủ thứ kiểu, nhìn mắc cười lắm, không có tu gì hết, còn bảo vệ cái tự ngã này khủng khiếp lắm, còn cưng, còn chiều, còn thương, còn che, còn chắn, còn đậy.
Nếu còn thương cái tự ngã này làm sao phá thân kiến nổi? Phải để cho người ta đập, người ta giậm lên chứ, giậm lên cái nùi giẻ chứ. Cho nên nhiều khi con thấy cái tu Nikāya của mình tuyệt vời lắm, nhìn thấy biết liền, công phu biết liền, khỏi cần giấu giếm gì hết. Vừa nói cái gì là nhảy dựng lên đổ thừa tại cái này, tại cái kia, những lúc như thế chỉ biết cười trừ thôi chứ nói gì nữa, học ngũ uẩn, chỉ cho quán chiếu cảm thọ, chỉ cho hộ trì các căn, chỉ cho chánh niệm tỉnh giác nhưng ra ngoài là mất hết, không còn pháp gì nữa.
"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là Tỳ-kheo không kham nhẫn các hương?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo khi mũi ngửi hương liền tham đắm các hương khả ái, tâm không thể định tĩnh. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là Tỳ-kheo không kham nhẫn các hương" (Tăng Chi Bộ, Chương V - Năm Pháp, XIV. Phẩm Vua, Chương (IX). Không Có Thể Kham Nhẫn)
Mùi này là mùi thơm và mùi hôi thối cho nên khi có sự tiếp xúc mắt; tai; mũi; lưỡi; thân thì mình có phòng hộ, chế ngự, bảo vệ, hộ trì hay không và lúc đó mình có sự chánh niệm tỉnh giác, cảm giác toàn thân hay không, lúc đó mình có sự kham nhẫn, chịu đựng không. Nhẫn là sức mạnh của Sa-môn, là đều ước muốn, đó là mới nói cái điểm đầu thôi còn khi mình làm thì nó trở thành sức mạnh và nó trở thành cái áo giáp, nó trở thành cái biểu tượng của người tu. Người tu là phải có chữ nhẫn vì nếu không có nhẫn thì làm sao tu? Vừa đụng vào là nhe nanh, phùng mang trợn mắt ra thì tu cái gì? Không có tu gì hết, ở đây thậm chí bị oan ức nhưng vẫn bình tĩnh, tuy là trong này cũng khó chịu chứ không phải không khổ thọ nhưng mà bình tĩnh rồi từ từ giải quyết "oan cái gì, tao cho mày oan nhiều luôn, tao cho cái bản ngã này phải chết, mày phải tê liệt, mày phải bán thân bất toại cho tao".
Mình học kinh thấy thương Đức Phật lắm, Thế Tôn đi bình thản ôm bình bát thì phía sau vị thầy chửi không ra gì trong khi người đệ tử lại khen Thế Tôn nhưng giữa cái khen chê thì ngài vẫn đi bình thản bất động.
"Bà-la-môn Akkosaka Bhàradvàja được nghe Bà-la-môn thuộc dòng họ Bhàradvàja đã xuất gia với Thế Tôn, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
Ông phẫn nộ, không hoan hỷ, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói những lời nói không tốt đẹp, ác ngữ, phỉ báng và nhiếc mắng Thế Tôn.
Ðược nghe nói vậy, Thế Tôn nói với Bà-la-môn Akkosaka Bhàradvàja:
-- Này Bà-la-môn, Ông nghĩ thế nào? Các thân hữu bà con huyết thống, các khách có đến viếng thăm Ông không?
-- Thưa Tôn giả Gotama, thỉnh thoảng, các thân hữu, bà con huyết thống, các khách có đến viếng thăm tôi.
-- Này Bà-la-môn, Ông nghĩ thế nào? Ông có sửa soạn cho họ các món ăn loại cứng, loại mềm và các loại đồ nếm không?
-- Thưa Tôn giả Gotama, thỉnh thoảng tôi sửa soạn cho họ các món ăn loại cứng, loại mềm, các loại đồ nếm.
-- Nhưng này Bà-la-môn, nếu họ không thâu nhận, thời các món ăn ấy về ai?
-- Thưa Tôn giả Gotama, nếu họ không thâu nhận, thời các món ăn ấy về lại chúng tôi.
-- Cũng vậy, này Bà-la-môn, nếu Ông phỉ báng chúng tôi là người không phỉ báng; nhiếc mắng chúng tôi là người không nhiếc mắng; gây lộn với chúng tôi là người không gây lộn; chúng tôi không thâu nhận sự việc ấy từ Ông, thời này Bà-la-môn, sự việc ấy về lại Ông. Này Bà-la-môn, sự việc ấy chỉ về lại Ông. Này Bà-la-môn, ai phỉ báng lại khi bị phỉ báng, nhiếc mắng lại khi bị nhiếc mắng, gây lộn lại khi bị gây lộn, thời như vậy, này Bà-la-môn, người ấy được xem là đã hưởng thọ, đã san sẻ với Ông. Còn chúng tôi không cùng hưởng thọ sự việc ấy với Ông, không cùng san sẻ sự việc ấy với Ông, thời này Bà-la-môn, sự việc ấy về lại Ông! Này Bà-la-môn, sự việc ấy về lại Ông!" (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương VII. Tương Ưng Bà La Môn, I. Phẩm A-La-Hán Thứ Nhất, II. Phỉ Báng)
Tại sao bây giờ mới vừa nói tới cái tên là mình chảy dựng lên thì tu cái gì? Người ta khen cũng động lên, người ta chê cũng loạn lên, không an trú cảm giác toàn thân, không nhớ cái nùi giẻ rách, không nhớ cái cầu tiêu di động, quên hết trơn, những cái đó không còn là định tướng nữa chỉ thấy một cái ta to, bự, cao thành ra chạm tới là phản ứng liền ngay lập tức, không có kham nhẫn.
"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là Tỳ-kheo không kham nhẫn các vị?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo khi lưỡi nếm vị liền tham đắm các vị khả ái, tâm không thể định tĩnh. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là Tỳ-kheo không kham nhẫn các vị" (Tăng Chi Bộ, Chương V - Năm Pháp, XIV. Phẩm Vua, Chương (IX). Không Có Thể Kham Nhẫn)
Ăn vô là quên hết, mê hết trơ, không có thấy cái nào là cái lưỡi, cái nào là cái vị, cái nào là thiệt thức, cái nào là thiệt xúc, cái nào là thọ cho thiệt xúc sanh, chỉ thấy ngon quá, mê say trong đó chứ không thấy pháp gì hết. Cái thọ lúc đó nó trùm chiếm hết, cái lạc thọ đó nó phong tỏa hết, nó bao phủ hết, nó xâm chiếm hết, nó áp đảo nhận chìm hết trong khi ăn, thế là cứ ăn vào, múc vào, nhai vào rồi cuối cùng bệnh. Cái này có nhiều không? Cho nên bây giờ bán cái thuốc gì đó uống vô để đừng có mập, bán mắc nhưng người ta cũng mua hết, uống cho tan mỡ, ăn thì nhiều nhưng mà đừng cho mập.
Chúng ta thấy kinh Nikāya Đức Phật dạy tu rất kĩ, hồi đó giờ mình tu biết bao nhiêu môn nhưng có thấy chỗ nào dạy tới mức độ này không? Không có, thấy phải kham nhẫn, nghe cũng phải nhẫn nhịn, ngửi, nếm cũng phải nhiếp phục, chế ngự, rồi tiếp xúc, đụng chạm càng phải có một cái sự quán sát áp đảo bên trong tu. Như vậy đó tu thật là kỹ, tu thật là nhỏ nhiệm vi tế, người có tu nhìn cái thân hành của họ, cái khẩu hành của họ mình biết liền vì nó an tịnh, lắng dịu lắm, nó hiện rõ ra, nó biểu hiện rõ ra, còn cái người không có sự kham nhẫn này thì nghe cái lời nói, cái âm thanh, cái khẩu khí, cái cách đi, đứng, cái hành động buông lung phóng dật, không có đi vào trong pháp, nhìn nó biểu hiện rõ lắm. Các pháp nó hiện rõ trong ngoài, cái tâm mình là một cái tâm hết sức buông lung phóng dật cho nên nó gặp cái cảnh buông là trúng tủ rồi, nó mượn cớ vô là nó làm không còn gì pháp gì nữa hết, lúc đó nói pháp có khi phải coi chừng nó.
Cho nên mình nhìn thấy hay lắm, nó mượn cớ rất siêu đẳng, nó gặp những cái cảnh buông lung phóng dật là nó giống như cá dưới nước, chim sổ lồng vậy đó. Đó là lý do tại sao chúng ta mỗi ngày tu học tám tiếng tại vì buông cái giờ tu ra mà cái người không có tinh cần, tinh tấn là người đó không còn gì hết, đừng có nói chi lúc buông mà ngay cái giờ tu thôi vẫn chưa chắc bên trong có kham nhẫn, ngay cái giờ tu nó ngồi nhưng có kham nhẫn để chiến đấu ở bên trong thọ; tưởng; hành không hay là ngồi cho hết giờ. Chúng ta thấy vi tế sâu sắc đến vậy, không phải lên ngồi là xong mà ở bên trong đó nó có nhiếp phục, chế ngự, nó có kham nhẫn chịu đựng không, sự tu của mình nó vậy đó, nó rất là tế nhị, nó rất là vi tế, rất là nhỏ nhiệm, rất là sâu sắc, nó rất là sắc, nó rất là tinh anh, tinh vi, tinh túy, tinh hoa Nikāya.
"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là vị Tỳ-kheo không kham nhẫn các xúc?
Ở đây, này Tỳ-kheo, Tỳ-kheo khi thân cảm xúc liền tham đắm các xúc khả ái, tâm không thể định tĩnh. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là Tỳ-kheo không kham nhẫn các xúc" (Tăng Chi Bộ, Chương V - Năm Pháp, XIV. Phẩm Vua, Chương (IX). Không Có Thể Kham Nhẫn)
Đây là thân súc đụng chạm, tiếp xúc. Thí dụ mình ngồi lâu trên cái ghế tre bị cấn rồi mình đau, mình khó chịu thì có sân vi tế bên trong, hay mình ngồi thiền, mình nghe pháp, mình tu lâu quá thì bên trong có cảm giác khó chịu, cái thân đó mệt mỏi, đau nhức thì lúc đó là cái thân xúc, thì mình có kham nhẫn để mình tác ý để vượt qua được cái cảm thọ khó chịu đó không. Nếu không thì mình tuy ngồi đó như bên trong là nó sân tùy miên vi tế, cái này chúng ta thấy có không? Cái đó làm sao người khác biết nhưng mà có khi con nhìn con biết, những cái nhỏ nhỏ đó mình tu cho mình.
Bây giờ là mình ngồi thiền một chút mình chịu không được, nghe pháp một chút mình chịu không được thì mai mốt xe đụng què giò, gãy chân, bán thân bất toại thì sao chịu được, vô thường nó ập đến lúc đó sao chịu được, cái chết diễn ra trên thân mình sao chịu được. Đó chính những cái kham nhẫn, đó là cái mình tập niệm, định, tuệ đó mà cũng là kham nhẫn, đầy đủ niệm, định, tuệ tại vì mình nhớ pháp rồi mình có một cái sức chịu đựng và mình có một cái trí để nhiếp phục, chế ngự cái cảm thọ này để vượt qua thì đó là niệm, định, tuệ.
Cho nên con voi xứng đáng của nhà vua thì nó phải ngược lại với hồi nãy, khi nó thấy những cái đó, nó nghe, nó ngửi, nó nếm, nó tiếp xúc mà nó vẫn không có bị chùn chân, rủn chí, có đủ can đảm có thể tham gia chiến trận. Kham nhẫn sắc, kham nhẫn tiếng, kham nhẫn hương, kham nhẫn các vị, kham nhẫn các xúc, con voi của nhà vua bị bắn trúng biết bao mũi tên nhưng nó vẫn không chùn chân, không rủn chí, vẫn can đảm tham gia chiến trận.
"Ta như voi giữa trận,
Hứng chịu cung tên rơi,
Chịu đựng mọi phỉ báng.
Ác giới rất nhiều người."
(Kinh Pháp Cú 23 – Phẩm Voi, kệ 320)
Những lời người ta phỉ báng, người ta mắng nhiếc, người ta chê bai, thậm chí người ta hãm hại khi Đức Thế Tôn còn tại thế, cũng vậy vị Tỳ-kheo thành tựu năm pháp thì đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chấp tay, là ruộng phước vô thượng ở trên đời.
"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là Tỳ-kheo kham nhẫn các sắc?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo khi mắt thấy sắc, không tham đắm các sắc khả ái, có thể giữ tâm định tĩnh. Như vậy, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo kham nhẫn các sắc" (Tăng Chi Bộ, Chương V - Năm Pháp, XIV. Phẩm Vua, Chương (IX). Không Có Thể Kham Nhẫn)
Ở đây mình phải hiểu theo hai chiều, Đức Phật nói gọn nhưng mà mình phải hiểu khi thấy sắc đáng yêu thì mình giữ tâm định tĩnh, khi gặp người đáng ghét có giữ tâm không?
"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là Tỳ-kheo kham nhẫn các tiếng?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo khi tai nghe tiếng, không tham đắm các tiếng khả ái, có thể giữ tâm định tĩnh. Như vậy, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo kham nhẫn các tiếng. Và này các Tỳ-kheo, thế nào là Tỳ-kheo kham nhẫn các hương?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo khi mũi ngửi các hương, không tham đắm các hương khả ái, có thể giữ tâm định tĩnh. Như vậy, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo kham nhẫn các hương. Và này các Tỳ-kheo, thế nào là Tỳ-kheo kham nhẫn các vị?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo khi lưỡi nếm các vị, không tham đắm các vị khả ái, có thể giữ tâm định tĩnh. Như vậy, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo kham nhẫn các vị. Và thế nào, này các Tỳ-kheo, là Tỳ-kheo kham nhẫn các xúc?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo khi thân cảm các xúc, không tham đắm các xúc khả ái, có thể giữ tâm định tĩnh. Như vậy, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo kham nhẫn các xúc." (Tăng Chi Bộ, Chương V - Năm Pháp, XIV. Phẩm Vua, Chương (IX). Không Có Thể Kham Nhẫn)
Đức Phật dạy hết sức bình dị, thiết thực không? Đơn giản thôi, khi thấy, nghe, ngửi, nếm, tiếp xúc phải giữ được cái tâm định tĩnh, tuy nhiên bình thường mà còn giữ không được thì tới lúc nó bất thường, nó vô thường thì làm sao giữ? Bình thường còn trai tráng, còn thanh thiếu niên, còn minh mẫn, còn sáng suốt, còn tỉnh táo, chưa có bệnh nằm liệt giường liệt chiếu, chưa có bán thân bất toại, còn có trí tuệ như vậy mà giữ không được thì tới cái lúc bất thình lình đột quỵ, tai biến, xe đụng, rớt máy bay, rắn cắn, té đập đầu bể sọ não, tới lúc người ta lấy cây đập, lấy đá liệng, lấy gươm giáo đâm, lấy súng ra bắn, lúc lựu đạn rơi hay là hỏa hoạn, chiến tranh, lũ lụt, sống thần, động đất thì lúc đó là sao giữ tâm định tĩnh.
Thầy nói một câu cãi lại ba câu, huynh đệ góp ý là sân hận, có chuyện gì tới chút xíu là tâm loạn động lên hết, rồi tới những cái lúc tai nạn như nãy nói thì làm sao? Cho nên mình tu mà nếu như mình được ngồi như vậy hoài thì khỏi tu, con thưa các ngài khỏi cần tu gì hết, nếu sáng bữa nào thức dậy cũng lên tụng kinh rồi chưa ăn cơm, chiều ngồi thiền thì khỏi cần tu gì hết, sướng quá trời quá đất, hơn tiên còn tu gì nữa nhưng mà nó không phải như vậy.
Hôm qua Ni sư lên quỳ thưa nước mắt rưng mẹ con cấp cứu rồi, phải về liền, phải ngồi xe mười bốn tiếng, nó không có bình thường. Tất cả nó trong cái trạng thái bất thường, vô thường, nó đi đến tan hoại, hủy hoại, hoại diệt, tiêu vong, tan nát cho nên mình mới tu. Con mới gửi lên cái đám cưới đó 1300 người trong đó mà bắn cái pháo hoa lên thì những chất dễ cháy nó cháy một cái là chết vài trăm người rồi, có gia đình chết luôn mười mấy người, cả giờ đình chết hết trơn, rồi những đứa nhỏ mấy tuổi đi lại dự đám cưới, đang ăn, đang vui, đang chơi, cô dâu chú rể kề môi với nhau ngay lúc đó mà, vỗ tay lên rồi nó bùng lên một cái là chạy không kịp nữa, chứa một ngàn mấy trăm người như vậy mà cái cửa thì có một thước rưỡi. Thế là thi thể la liệt và cái hội trường đám cưới trở thành cái nghĩa địa, nghĩa trang kinh hoàng, để quốc tang luôn vì tất cả những cái mà nó bình thường như vậy thì nó không có bình thường, nó đi đến bất thường, nó đi đến vô thường cho nên mình mới tu.
Con xin thưa đại chúng một buổi chúng ta học thì các ngài nghĩ nó đơn giản nhưng mà con thật sự là cả một sự gian nan, sức khỏe giảng nổi không, công việc có rảnh không, âm thanh chung quanh là có được an ổn không, rồi coi đại chúng có muốn nghe không nữa. Mệt, chán, không muốn nghe, có số người vậy đó, thật sự đối với con là cả một cái khó khăn, khổ tâm, không có dễ dàng chút nào, tất cả mọi cái con đều thấy cái khổ và cái khó, không có gì thấy dễ dàng trên cuộc đời này hết. Mình đưa cái cao quý, cái tốt đẹp, cái hiền thiện cho người ta nhưng mà có khi người ta bực bội, khó chịu, sân hận, không có dễ chút nào. Con thưa các ngài không có dễ, cuộc đời này nó cay đắng lắm, nó vô tình vô nghĩa, vô thường, vô ngã, trống rỗng, nó xót xa lắm, xót xa và đau lòng lắm. Người ta bệnh nặng mà mình đưa thuốc cho người ta gạt ngang, hất ngang thì thầy thuốc cũng đành chịu thôi chứ giờ sao, không phải một lần.
Thật là phải kham nhẫn rất là nhiều với cái thế giới ta bà này là cái thế giới kham nhẫn. Người phải chịu khó, chịu khó rất là nhiều, phải chịu khó mới tu, phải chịu khó, chịu đựng, chịu khổ, phải chịu nghe những lời chỉ dạy, chỉ trích, la rầy. Con người bây giờ thật là khó để kham nhẫn, không chịu, chỉ muốn cái gì dễ, muốn gì theo ý họ, theo cái họ thích, họ muốn, họ làm, họ không có chấp nhận học pháp, không có thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhặt cho nên mình phải càng chịu khó nhiều hơn nữa. Đức Phật nói chịu khó nóng, chịu khó lạnh, chịu khó ruồi muỗi, chịu khó mệt mỏi, chịu khó buồn ngủ, chịu khó đau đớn, bệnh tật để mình tu nhẫn dục, nhẫn sắc, đè cái bản ngã này cũng phải chịu khó.
Con biết rằng là tất cả chúng ta cũng phải gian khổ, cũng phải rất là khó khăn chứ không phải dễ dàng nhưng mà mình phải cố gắng nhiều lên nữa, chưa có đủ nên phải cố gắng nhiều hơn nữa, tinh cần, tinh tấn, nỗ lực chứ chúng ta không chịu khó, không chịu khổ, không chịu đựng, không chịu bẻ gãy cái bản ngã này, không chịu đè bẹp cái dục ái này thì làm sao chúng ta vượt qua được cái đầm lầy, cái hỏa hoạn, cái bóng đêm trường dạ này. Mình phải tác ý thường xuyên, thường xuyên, liên tục tác ý, cả một cái sự chịu khó, chịu đựng, chịu khổ, mình chịu nhục, chịu người ta khinh chê, người ta hủy nhục, người ta chửi mắng không sao hết, cứ để cho người ta khinh khi, người ta hủy nhục, người ta chửi mắng, người ta chê bai
Về núi còn đâu tiếng với tăm
Bần Tăng ẩn dật tận sơn lâm
Không tranh với đời nùi giẻ rách
Ăn xin khất sĩ thật xứng danh
Về núi còn đâu cao với thấp
Được mất hơn thua chẳng bận lòng
Cam tâm tình nguyện làm phế vật
Nương ẩn núi rừng thỏa ước mong
II. Trình pháp
Cô Hiền Hạnh: Con xin chân thành đảnh lễ Đức Thế Tôn bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác, con xin chân thành đảnh lễ pháp thân bậc đạo sư tôn kính, con xin chân thành đảnh lễ bậc ân sư tôn kính, con xin chân thành đảnh lễ chư tôn thiền đức Tăng Ni cùng tất cả các bậc hiền trí. Sáng nay con được sư phụ chia sẻ cho chúng con về chuyên đề kham nhẫn, khi con được xuất gia thì con rất là trân quý cái đức kham nhẫn vì khi con còn ở ngoài đời thì con đã nhận được cái sự quý giá của đức hạnh khiêm nhẫn, và khi con được bước vào môi trường của thiền môn thì con cảm nhận được cái giá trị của đức kham nhẫn càng là vô giá.
Mỗi việc đến với con thì chính nhờ cái đức kham nhẫn này nó chuyển hóa rất là nhiều, và cái sự vô giá khi mình thực hành được đức kham nhẫn này cũng là cái gốc để mình nuôi dưỡng được cái tâm từ cũng như sự thấu hiểu và cảm thông. Hình ảnh của một người tu khi thực hành được sự kham nhẫn rất là thiêng liêng và nó rất là cao đẹp, khi con nhìn Ni sư, khi con được tiếp xúc với ngài, con biết về bệnh tật của ngài thì cái sự kính phục của con đối với ngài khi ngài nhiếp phục được những cái bệnh tật, khi con được ở gần ngài thì con cảm nhận cái sự nhẹ nhàng, thanh thản. Nếu một người bình thường có được những cái năng lượng đó là đã rất là khó nhưng mà Ni sư phải chiến đấu từng phút, từng giây với thân bệnh nhưng lúc nào con ở bên ngài cũng cảm nhận được một cái từ trường rất là bình an cũng như sư cô Tuệ Quý cũng cho con rất là nhiều niềm cảm hứng khi con xuất gia.
Con nhìn con quan sát ngài từng cái việc rất là nhỏ, ngài dạy cho con những điều rất là nhỏ, từ những cái việc rất là đơn giản nhưng con cảm nhận được trong đó là cả một cái đức kham nhẫn vì đại chúng từng chút. Mỗi lời dạy của ngài con nhìn từ cái thân giáo của ngài, cả đại chúng là nguồn cảm hứng cho con khi con được về Linh Quy tu học. Trong con lúc này là một sự biết ơn dạt dào, con cảm thấy mình rất là diễm phúc, rất là hạnh phúc khi con có được một môi trường tu tập như thế với những con người hiền thiện với tình thương mà cả một đời con tìm kiếm ngoài đời nó rất là khó để con nhìn thấy được tình người trong đó. Khi con bước vào đạo thì tình Tăng lữ luôn là một nguồn cảm xúc thật là thiêng liêng, thật là vô giá, những con người không hề có thân bằng quyến thuộc nhưng đến với nhau bằng tình thương, sự chân thành, chỉ muốn dìu dắt nhau, xoa dịu nỗi đau cho nhau thì con cảm nhận được cái đức kham nhẫn, nó chuyển hóa tất cả cái đức nhẫn, nó vô giá trong con và cũng là bài học cho con trên bước đường tu hành.
Con càng phải trân quý và càng phải phát triển cái đức hạnh kham nhẫn này của một người xuất gia thì đó là những cái cảm thọ khi mà con được lắng nghe sư phụ chia sẻ. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
III. Bốn đạo hành
Sư Phụ:
"- Này các Tỳ-kheo, có bốn đạo hành này. Thế nào là bốn?
Ðạo hành không kham nhẫn, đạo hành kham nhẫn, đạo hành nhiếp phục, đạo hành an tịnh.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là đạo hành không kham nhẫn?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, có hạng người chưởi mắng lại kẻ đã chưởi mắng, sân hận lại với kẻ đã sân hận, gây lộn lại với kẻ đã gây lộn. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là đạo hành không kham nhẫn" (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, XVII. Phẩm Ðạo Hành, (IV). Kham Nhẫn (1))
Người ta chửi mình thì mình chửi lại, người ta mắng mình thì mình mắng lại, người ta giận dữ với mình thì mình giận dữ lại, người ta gây gổ với mình thì mình gây gổ lại. Đây là đạo hành không có kham nhẫn, ăn thua chung đủ, bị mắng thì mắng lại, bị chửi thì chửi lại, sân hận, nóng giận thì nóng giận, sân hận trở lại, đây là không có kham nhẫn.
"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là đạo hành kham nhẫn?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, có hạng người không nhiếc mắng lại kẻ đã nhiếc mắng, không sân hận lại kẻ đã sân hận, không gây lộn lại với kẻ đã gây lộn. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là đạo hành kham nhẫn" (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, XVII. Phẩm Ðạo Hành, (IV). Kham Nhẫn (1))
Đức Phật dạy mình đâu có cái gì xa vời, viễn vong đâu, đạo hành kham nhẫn là không mắng nhiếc lại kẻ đã mắng nhiếc mình, không có tức giận là những kẻ đã tức giận mình, không có gây gổ lại những kẻ đã gây gổ với mình, vậy là đạo hành kham nhẫn. Bao nhiêu vụ án trên cuộc đời này, bao nhiêu nước mắt, bao nhiêu máu, bao nhiêu cái đau khổ trên cuộc đời này là từ đâu? Bị chửi mắng thì chửi mắng lại, bị tức giận thì tức giận trở lại, bị sân hạn thì sân hận trở lại, bị gây gổ thì gây gổ trở lại, bị đánh đập thì đánh đập trở lại thì đó là nguyên nhân của đau khổ trên cuộc đời này, không có cái tâm từ nhẫn, không có cái tâm kham nhẫn, không có cái tâm nhẫn nhịn, không có sự thực hành kham nhẫn.
"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là đạo hành nhiếp phục?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo khi mắt thấy sắc, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Phàm do nhân duyên gì với nhãn căn này không được chế ngự, khiến cho tham ái, ưu bi, các ác bất thiện khởi lên, vị ấy chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì nhãn căn, sống với sự chế ngự nhãn căn. Khi tai nghe tiếng ... khi mũi ngửi hương ... khi lưỡi nếm vị ... khi thân cảm xúc ... khi ý biết pháp, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Phàm do nhân duyên gì ý căn này không được chế ngự, khiến cho tham ái, ưu bi, các ác bất thiện khởi lên, vị ấy chế ngự nguyên nhân ấy, thọ trì ý căn, sống với sự chế ngự ý căn. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là đạo hành nhiếp phục.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào gọi là đạo hành an tịnh?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo không có chấp nhận dục tầm khởi lên, từ bỏ, tẩy sạch, làm cho an tịnh, chấm dứt, khiến đi đến không sanh hữu, không có chấp nhận sân tầm khởi lên ... không có chấp nhận hại tầm khởi lên ... không có chấp nhận các pháp ác bất thiện tầm khởi lên, từ bỏ, tẩy sạch, làm cho an tịnh, chấm dứt, khiến đi đến không sanh hữu. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là đạo hành an tịnh.
Này các Tỳ-kheo, có bốn đạo hành này" (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, XVII. Phẩm Ðạo Hành, (IV). Kham Nhẫn (1))
chúng ta thấy cái ý nghĩa chữ an tịnh hết sức là thâm sâu, là không chấp nhận tham, sân, si, không chấp nhận dục ái, vô minh, bản ngã sanh khởi lên thì vị này từ bỏ, tẩy sạch, làm cho đi đến chỗ an tịnh, lắng dịu, chấm dứt khiến cho nó không có sanh khởi trở lại nữa. Đó là đạo hành an tịnh, là con đường đưa đến sự an tịnh. Trước đó mình chưa đi vào dòng pháp này mình không biết pháp hành là cái gì thì đây chính là pháp hành, tất cả toàn là pháp hành hết, kham nhẫn, nhiếp phục, an tịnh.
"- Này các Tỳ-kheo, có bốn đạo hành này. Thế nào là bốn?
Ðạo hành không kham nhẫn, đạo hành kham nhẫn, đạo hành nhiếp phục, đạo hành an tịnh.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là đạo hành không kham nhẫn?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, có hạng người không kham nhẫn lạnh, nóng, đói, khát, sự xúc chạm của ruồi muỗi, gió, sức nóng mặt trời, các loài bò sát; không kham nhẫn những hình thức chưởi mắng, phỉ báng, không thể chịu đựng được cảm thọ về thân khởi lên, khổ đau, nhói đau, mãnh liệt, kịch liệt, không khả hỷ, không khả ý, chết điếng người. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là đạo hành không kham nhẫn.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là đạo hành kham nhẫn?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, có hạng người kham nhẫn lạnh, nóng ... chết điếng người. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là đạo hành kham nhẫn.
(Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, XVII. Phẩm Ðạo Hành, (V). Kham Nhẫn (2))
Chịu đựng được những cảm thọ khổ đau khởi lên từ nơi cái thân này, đau nhói mãnh liệt, nhói đau kịch liệt, không thoải mái, không vừa lòng chết điếng người mà vì này chịu đựng, đó là kham nhẫn. Bây giờ trời lạnh quá thôi trùm mền, trùm cái đầu lại luôn, nóng quá thôi tu gì, ồn quá thôi tu gì, mệt quá thôi tu gì, thành ra đây là một sức mạnh rất là mạnh, đây còn gọi là nhẫn lực, sức mạnh của sự kham nhẫn. Buổi sáng mình ăn điểm tâm sáng rất trễ, mà có những vị không ăn buổi chiều nữa, sáng tám giờ mấy có khi chín giờ mới ăn thì thế nào trong bụng cũng kêu ục ục, nó cồn cào chứ nhưng mà kham nhẫn, tuyệt vời không? Rồi trời lạnh là mang vớ, bao tay, đội nón rồi này kia nhưng mà vẫn chiến đấu bốn tiếng, tuyệt vời không? Rồi bệnh ho mà không dám ho, hãm hết hơi lại, tuyệt vời không? Thậm chí có những vị bệnh mà cũng không có trị, thậm chi ở nhà có người bệnh nhiều cũng ráng để mà tu, kham nhẫn cái ái, cái tình đó, tuyệt vời không?
Mình phải nhìn thấy được cái gì mình làm được, cái gì mình đang làm, cái gì mình hướng tới và những cái gì mình chưa làm được mình phải thấy. Phải thường xuyên quay lại thì mình mới thấy rằng cái gì mình đã làm được thì mình hoan hỉ với cái đó, cái gì mình đang làm thì mình tinh tấn với cái đó, nỗ lực lên và cái gì mình hướng tới hướng tới điều đó thì mình nuôi dưỡng dục như ý túc, tinh tấn như ý túc và cái gì mình chưa làm được thì mình phải biết trong chặn đường mà mình đang tu học. Mình phải đặt ra cho mình những cái mục tiêu, những cái bước đi, những cái chặn đường mà mình phải đi đến và vượt qua, ăn chay rát ruột cạo đầu rát da, cỡ tuổi trẻ thanh thiếu niên như vầy ở ngoài thì đi chơi, đi hưởng thụ vui vẻ, bạn bè này kia mà bây giờ mình từ bỏ những cái đó là mình đã có sự kham nhẫn, cả một sự quyết tâm bỏ cha, bỏ mẹ, nhất mà đi lên núi tu nữa thì phải chiến đấu ở bên trong rất nhiều.
IV. Trình pháp 2
Phật tử 1: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch trên sư phụ, con kính bạch trên chư tôn thiền đức Tăng Ni cùng các bậc hiền trí. Trong khóa tu xuất gia duyên vừa rồi có con nguyện ở lại, sau đó vì gia đình là con thất hứa với sư phụ con xuống núi. Dạ nhân dây con cũng xin được sám hối với sư phụ, khi về thì con vẫn giữ trong mình là tâm niệm con sẽ quay trở lại núi để tu nhưng cha mẹ con, đặc biệt là mẹ con vẫn nhất mực phản đối, dùng nhiều cách để cho con thối lui nhưng con quyết tâm bằng lòng tham cầu của mình động viên mẹ nhiều ngày, nói rõ những gì trong lòng con nghĩ và những gì mà con muốn tìm đến.
Con muốn tìm cầu sự tu học trong đời sống của mình rồi đến lúc mẹ con cũng nguôi đi, cũng không phải là chấp nhận cho con đi ngay nhưng mà cũng không còn phản đối kịch liệt như trước nữa. Và khi đó con cũng cảm nhận được rằng là mình có chút thành tựu vì đã cảm hóa được mẹ một phần, khi đó con cũng xin sư phụ con được quay trở lại núi để tu. Khi đi mà thấy bố cha mẹ như vậy lòng con xót lắm nhưng con nghĩ là nếu mà con không đi, không chịu tu thì không biết đến đời nào kiếp nào thì con mới thoát khỏi luân hồi được. Dạ và cuối cùng con cũng xin rời gia đình con đi, dạ con xin hết ạ. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Phật tử 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch trên sư phụ, con xin kính bạch trên quý thầy, quý sư cô cùng bậc Tăng Ni và bậc hiền trí có mặt ngày hôm nay ạ. Con xin chia sẻ cảm thọ của con khi sư phụ giảng bài pháp về kham nhẫn, thực sự ra khi con lên lại đây lần thứ hai con đã quyết định tu học nhưng trong con tâm lúc nào cũng chiến đấu, luôn luôn khởi lên những cái vọng tưởng phía ngoài cuộc sống, nào là ăn chơi, nào là thú vui. Lúc đó thật sự có những lúc con cạn kệt sức lực, con không biết phải làm sao nhưng con nhớ tới sư phụ, con rất biết ơn sư phụ và những quý thầy, sư cô, những người đã giúp đỡ con để con được ngồi ở đây ngày hôm nay. Con rất ăn năng và sám hối vì những điều đã xảy ra, con lại cố gắng tinh tấn và cố gắng nhiều hơn để không phụ lòng của những người, những bậc thánh nhân đã đưa cho con pháp hành. Hôm nay con xin thành tâm xin lỗi sư phụ vì những ý nghĩ không tốt đã trỗi dậy trong con và con xin hứa với sư phụ con sẽ cố gắng. Dạ con xin hết ạ. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
V. Người chiến sĩ
Sư Phụ: Ai ngồi ở đây cũng là những chiến sĩ, chúng ta nhất trí không? Từ già cho đến trẻ, từ nam cho tới nữ, từ khỏe cho đến bệnh tất cả mọi người ngồi đây đều là những con voi, nhất trí không? Những con voi lâm trận và đương nhiên là phải có những đặc tính kham nhẫn mới ngồi đây, nếu không thì đã hạ sơn lâu rồi, nhất trí không? Những dũng sĩ, những chiến sĩ trên chiến trường đầy ác nghiệt và thầm lặng, nhiều khi nhìn bên ngoài như vậy chứ bên trong người ta khổ, mình học rồi mỗi người một nỗi khổ thì mình phải hiểu cái nỗi khổ đó, cái nỗi đau của người ta, không phải là mọi người không cố gắng đâu, không cố gắng thì đâu ngồi được ở đây, đâu có bò lên được tới trên đây, đâu có trụ lại được ở trên đây và đương nhiên còn tập khí, còn nghiệp, còn phiền não cho nên mình hiểu thương và cảm thông chứ ai cũng là những chiến sĩ hết.
Phải chiến đấu với những cái nghiệp của mình, những cái tập khí của mình, những cái thói quen của mình, những lậu hoặc của mình. Chiến đấu mệt không? Mệt nhưng mà vui, mệt mà hạnh phúc, mệt mà hân hoan, mệt mà tự hào, mà vinh quang, phải không? Vì vô lượng chúng sanh họ mệt mỏi, họ ở trong sự lo lắng, sợ hãi, bất an, tủi nhục và khổ đau mà không có lối thoát, nhưng mình mệt mỏi mà mình có hướng đi, mình có đường đi, mình có đạo lộ, mình có lối thoát cho nên cái mệt mỏi của mình là rất xứng đáng, rất là hạnh phúc, rất phấn khởi. Mình phải thấy được điều đó, mình vui từng ngày, mình vui từng giờ, mình vui từng lời kinh câu kệ, tiếng pháp, mình vui từng giây phút ở trên bồ đoàn, giây phút mình được công quả, những giây phút mình được tác ý thiền quán. Mình vui, mình hạnh phúc vì mình biết rằng thật sự còn nhiều chúng sanh đang đau khổ, họ quờ quạng giữa trời đêm, họ loanh quanh, lẩn quẩn, họ đau khổ mà chẳng biết tại vì sao.
Thương cho ta đau khổ mà chẳng biết vì sao, rồi thương cho ta muốn thoát khổ mà cũng chẳng biết cái lối ra. Trong khi chúng ta biết lối ra, mình tìm được cái lối ra, mình thấy được cái lối ra, mình biết được cái lối ra và mình đang đi ra thì không có một cái hạnh phúc nào có thể so sánh nổi với cái hạnh phúc vĩ đại, vô thượng, tối thượng này hết. Mình trú ở trong hạnh phúc này thì tất cả những cái nhỏ nhặt kia mình cho qua một cách dễ dàng, tất cả những cái nhỏ nhặt mình coi nó không có ra gì hết, mình thấy cái lớn này, cái mà vĩ đại nhất là mình tìm được lối ra, mình đang đi ra, mình đang trên con đường đến cái chỗ mình muốn đến. Tức là ra khỏi những cái đống hỗn độn này, những đống khổ đau, những đống bất an, tai họa, những đống nhục nhã, lo lắng, sợ hãi cho nên chúng ta phải thường xuyên có sự tác ý cũng như hồi nãy Trí Phụng trình pháp bây giờ là phải tác ý hỷ lạc, những cái bài hỷ lạc về tu học là phải thường xuyên tác ý để mình có hỷ lạc này thì mình mới có thể xa được cái hỷ lạc kia.
Mình có cái pháp lạc, có cái thiền lạc, có cái siêu thế lạc, viễn ly lạc, chánh giác lạc thì mình mới có thể đánh bại được cái dục lạc, còn không có cái vui là mình sống không nổi đâu. Phải có cái vui, phải có niềm vui nhưng cái vui của mình lạ lắm, trong cái bài tâm hỉ nói mình chán mà mình vui nó mới hay chứ, nó tuyệt vời không bao giờ có. Mình chán cái thân ngũ uẩn này, mình chán cái đời sống vô thường này, mình chán cái thâm, sân, si này, mình chán cái bản ngã này nhưng mình lại vui, đặc biệt chỉ có thánh trí mới có cái này thôi. Mình chán cái tham nhưng mà mình vui với cái chán đó tại vì vui vì ta biết chán, hồi xưa mình không biết chán mà, mình không biết ngán, mình không biết khổ mà bây giờ mình thấy càng ngày mình càng hiền, càng ngày tâm mình càng chấp nhận với lời Phật dạy trí tuệ, càng ngày cái tâm của mình càng thấm thía cái khổ, càng ngày lòng từ, tình thương của mình càng lan tỏa rộng lớn, càng ngày mình càng yêu thích đời sống thoát ly, đời sống viễn ly, đời sống xả ly.
Mọi người có thấy điều này không? Có cảm nhận được không? Những cái này là cái thuốc bổ, đó là chất dinh dưỡng, đó là sức sống, đó là nguồn sống, là sinh lực, là tăng lực để nó làm cái đà đẩy mình đi lên núi, tuyệt vời lắm.
"Rồi này các Tỳ-kheo, người đánh xe Màtali nói lên những bài kệ với Thiên chủ Sakka:
Này Thiên chủ Sakka,
Có phải là Ông sợ,
Hay vì Ông yếu hèn,
Nên mới phải kham nhẫn,
Khi Ông nghe ác ngữ,
Từ Vepacitti?" (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương XI. Tương Ưng Sakka, Phẩm Thứ Nhất, IV. Vepacitti hay Kham Nhẫn)
Tức là ông sợ hay là ông yếu hèn mà tại sao người ta nói những lời hung ác vậy mà ông nhịn vậy? Ông yếu hèn hay ông sợ người ta.
"(Sakka):
Không phải vì sợ hãi,
Không phải vì yếu hèn,
Mà ta phải kham nhẫn,
Với Vepacitti.
Sao kẻ trí như ta,
Lại liên hệ người ngu?" (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương XI. Tương Ưng Sakka, Phẩm Thứ Nhất, IV. Vepacitti hay Kham Nhẫn)
Ta không phải vì sợ, ta cũng không phải yếu hèn mà ta nhịn. Tại sao ta là bậc trí lại đi hơn thua với cái kẻ ngu?
"(Màtali):
Kẻ ngu càng nổi khùng,
Nếu không người đối trị,
Vậy với hình phạt nặng,
Kẻ trí trị người ngu.
(Sakka):
Như vậy theo ta nghĩ,
Chỉ đối trị người ngu,
Biết kẻ khác phẫn nộ,
Giữ niệm tâm an tịnh" (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương XI. Tương Ưng Sakka, Phẩm Thứ Nhất, IV. Vepacitti hay Kham Nhẫn)
Ông đánh xe nói nếu người trí không trị người ngu thì người ngu này càng làm loạn, sau đây là cái cách trị người của vua trời: Người ta phẫn nộ nhưng mà mình giữ niệm tâm an tịnh. Tuyệt vời không? Quá là tối thượng luôn, vị Đế-thích này đâu phải vừa đâu, các vị này là thánh đệ tử thiên là đệ tử của Đức Phật. Đối trị người ngu, đối trị với những kẻ phẫn nộ, sân hận bằng cách giữ niệm tâm an tịnh. Nhớ cái này kỹ nha, tới chết không bao giờ quên.
Trong mấy cái phim kiếm hiệp ngày xưa thì cái người mà dữ dằn, gian ác, xảo trá, mưu mô, quỷ quyệt, đi cướp bí kiếp võ lâm mà họ đi cướp hoài không được, nhưng mà cái anh hiền lành, khờ khờ lại lọt xuống hang động gặp bộ xương của tiền bối đang ngồi, thế là anh lạy xuống ba lạy vậy thì tự nhiên rung rinh hết trơn, hiện ra cuốn bí kiếp võ lâm. Còn đây là bí kiếp chánh pháp còn hơn cái bí kiếp võ lâm đó gấp ngàn lần, mình gặp một người phẫn nộ, sân hận thì mình cứ giữ cái niệm an tịnh tâm của mình. Đây là bí kiếp chánh pháp đó, không cần làm gì hết, chỉ cần cái tâm mình an tịnh thôi, mình vừa giúp được mình, mình vừa giúp được người, mình vừa độ được mình vừa độ được người, tự lợi lợi tha, tự độ độ tha, tự giác giác tha trong một cái thôi, là giữ niệm tâm an tịnh. Chúng ta thấy đơn giản không?
Trong cái bài khuyên mẹ tu tập bậc đạo sư có ghi:
Mẹ nhớ niệm thầm trong tự tâm.
Niệm “Bỏ hết đi, cảnh vô thường!”
Niệm “Tâm lặng yên, tâm dễ chịu!”
Niệm “Ngũ uẩn này, không phải ta”
(Cửa Vào Bất Tử - Chơn Tín Toàn)
Bất cứ gặp cái cảnh chướng tai gai mắt, nghịch cảnh, thử thách, mắng chửi, oan ức, nhục nhã, tai họa thì cứ đem bí kiếp chánh pháp, vô thượng pháp bảo, tối thượng thánh là trí giữ niệm tâm an tịnh, niệm tâm lặng yên tâm dễ chịu, niệm ngũ uẩn này không phải ta. Như vậy có cần phải kiềm nhiều không? Không cần kiềm, cái này nó bung luôn, nó không cần kiềm gì hết, nó diệt tận, nó bứng cái gốc cảm thọ luôn không có kiềm, nó giải tỏa luôn thâm sâu, cái đó gọi là vô sanh pháp nhẫn. Nghĩa là nhẫn bằng trí tuệ chứ không phải nhẫn bằng cái sự kiềm cọng, đè nén rồi ráng để kiềm hãm, không phải như vậy mà hiểu cái vấn đề tới gốc rễ cho nên buông xả cái tâm, nếu chưa buông xả được thì cũng có thể nhịn được, có thể chịu đựng được, nhẫn chịu được, kham nhẫn được.
Đây là bí kiếp chánh pháp, là bảo bối của Phật gia, bảo bối nhà Phật, bí kiếp chánh pháp, vô thượng pháp luân, là thể gian chí bảo, tức là cái tâm an tịnh của mình trong tất cả mọi trường hợp, mọi hoàn cảnh, giữ cái thâm an tịnh đó là tối thượng. Đó là thế gian chí bảo, đó là kim cương trong tâm, kim cương là giữ cái tâm an tịnh trong tất cả mọi trường hợp, đó là kim cương thánh trí, đó cũng là thánh chánh định cuối cùng của Bát Chánh Đạo, không phải dễ. Nhờ cái vấn đề mình thấy có cái gì đâu, tại sao phải làm cho lớn chuyện lên, tại sao phải giao động, động loạn lên, có cái gì đâu, an tịnh, lắng dịu đi.
"(Màtali):
Hỡi này Vàsana,
Sự kham nhẫn như vậy,
Ta thấy là lỗi lầm,
Khi kẻ ngu nghĩ rằng:
"Vì sợ ta, nó nhẫn"
Kẻ ngu càng hăng tiết,
Như bò thấy người chạy,
Càng hung hăng đuổi dài." (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương XI. Tương Ưng Sakka, Phẩm Thứ Nhất, IV. Vepacitti hay Kham Nhẫn)
Ông đánh xe ông nói vua trời nhẫn như vậy là ta thấy sai rồi, ông nhịn vậy là sai rồi. Tại sao vậy? Ông nhịn như vậy thì mọi người sẽ nói rằng ông sợ nó, không nhịn, "cô nhịn vậy đó là người ta nói cô sợ đó", cô sợ cái cô kia, sợ cái bà kia đó, nhịn vậy là người ta nói mình "Tại sao phải sợ cổ? Tại sao phải sợ?". Nếu mình nhịn như vậy thì người ngu kia càng hăng tiết lên, hăng máu lên như con bò thấy người chạy thì nó càng hung hăng đuổi theo.
"(Sakka):
Hãy để nó suy nghĩ,
Như ý nó mong muốn,
Nghĩ rằng, ta kham nhẫn,
Vì ta sợ hãi nó.
Trong tư lợi tối thượng,
Không gì hơn kham nhẫn.
Người đầy đủ sức mạnh,
Chịu nhẫn người yếu kém,
Nhẫn ấy gọi tối thượng,
Thường nhẫn kẻ yếu hèn.
Sức mạnh của kẻ ngu,
Ðược xem là sức mạnh,
Thời sức mạnh kẻ mạnh,
Lại được gọi yếu hèn.
Người mạnh hộ trì pháp,
Không nói lời phản ứng,
Bị mắng nhiếc, mắng lại,
Ác hại nặng nề hơn.
Bị mắng, không mắng lại,
Ðược chiến thắng hai lần.
Sống lợi ích cả hai,
Lợi mình và lợi người,
Biết kẻ khác tức giận,
Giữ niệm, tâm an tịnh,
Là y sĩ cả hai,
Chữa mình và chữa người,
Quần chúng nghĩ là ngu,
Vì không giỏi Chánh pháp." (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương XI. Tương Ưng Sakka, Phẩm Thứ Nhất, IV. Vepacitti hay Kham Nhẫn)
Mình phải thêm vào trong pháp hành Nikāya cái kham nhẫn này. Bây giờ người ta nói tôi là sợ thì cứ để cho người ta nghĩ, người ta nói kệ người, người ta có miệng người ta nói, kệ người ta. Ở trong kinh ở đây dịch chữ tư lợi nhưng mà chữ tư lợi thì tiếng Việt mình cái nghĩa nó khác cho nên đây là tự lợi đó, "trong tự lợi tối thượng không gì hơn kham nhẫn" câu này phải viết ra treo lên. Trong sự tu hành của chính mình thì kham nhẫn là tối thượng, không có gì hơn hết, trước nay mình đã được học chánh tín, chánh kiến, chánh tư duy, chánh tinh tấn thì giờ mình phải học được kham nhẫn, trong tự lợi tối thượng không gì hơn kham nhẫn. Mình nhịn được, mình chịu khó được, mình nhẫn nại được, mình kham nhẫn được, mình từ nhẫn được.
Ngươi tiếp tục quỳ xuống đất mau,
Mau quỳ xuống lạy kẻ dưới mình,
Mau quỳ xuống lễ người kém cỏi,
Bản ngã dập đầu, cúi lạy mau.
Đó là nhẫn những cái người yếu hơn mình, có khi họ không hiểu biết nhưng mà họ cho họ thông minh lắm, họ nói mình không hiểu biết thì "dạ, con không hiểu biết gì hết, con ngáo, con ngu", không sao hết vì sự kham nhẫn vừa có trí tuệ vừa có nhiếp phục bản ngã trong đó, không có hơn thua, người ta chửi mình ngu thì "dạ, trời ơi con quá xá ngu luôn, con đang tu, con thấy cái vô minh nhiều lắm. Dạ con ngu đúng rồi". Tuyệt vời lắm, còn nhiều bài về núi lắm, mình đúng là kẻ hèn hạ không biết gì hết, không biết hơn, không biết thua, không biết danh, không biết lợi, không biết giành giật cho nên mình ngu nhưng mà mình được an. Mình chỉ xin hai chữ bình an cho cuộc đời này để mình tu rồi mình đi ra, mình đâu có ở trong nhà lửa đâu, còn người ta khôn để người ta giành giật trong nhà lửa cho nên mình tu mà mình được người ta chê ngu là tốt lắm. Ngu là đúng rồi đó, ngu thật tại vì mình không có muốn hơn thua với ai, những cái người ta tranh giành thì mình không có tranh giành, những cái người ta tôn thờ thì mình không có tôn thờ, những cái người ta làm mục tiêu để đạt đến thì mình không có mục tiêu gì hết, mình chỉ có cái mục tiêu mà không ai thích hết trơn là mục tiêu để thấy được cái khổ, mà người ta không ưa cái khổ, người ta muốn tìm cái vui nhưng mà mình là muốn làm sao, con cầu mong sao suốt đời này con sống để con thật sự thấy được cái khổ trọn vẹn. Có ngược đời không nhưng mà tuyệt vời.
Nó không giống ai hết, người ta là chán khổ tìm vui, đừng nói cái chuyện khổ, "Bà ơi lên mà cứ khóc hoài, trời đất ơi tu cái giống gì mà cứ lên khóc". Vừa lên Linh Quy Pháp Ấn tu về có người hỏi "có khóc không?", nói chung là mình có những cái không giống ai, chỉ giống Phật thôi, con có thường chia sẻ mấy huynh đệ đi chung là cái gì mà người ta thích thì mình đừng thích, cái gì người ta quý trọng thì mình tránh xa nó ra đi, cái gì người ta quăng bỏ cái đó mình lượm mình xài, cái chỗ núi rừng đâu ai thèm ở, cái chỗ đông đúc thì mọi người tranh giành thì thôi mình đi tìm cái chỗ không ai thèm giành gọi là vô tranh nhưng con rất là hạnh phúc. Quý vị có hạnh phúc nhiều không?
Thực tình sao mình thấy mình rất là hạnh phúc với cái nùi giẻ rách, mình càng hạnh phúc với một cái kẻ ăn mày, nó sướng vô cùng sướng, không biết quý vị có sướng không, làm kẻ ăn mày sướng không cần ngày mai. Mình hết sức là hạnh phúc với một kẻ hèn hạ nhất trong cuộc đời này, thấp kém nhất, không có một cái địa vị gì trong cuộc đời này, rất là hạnh phúc. Cái người ngu mà họ cho rằng họ mạnh thì cái mạnh đó lại là cái yếu kém tại vì ai cũng cho rằng mình hung hăng, mình dữ dằn, người đó là đáng nể, họ cho đó là sức mạnh, nếu họ cho cái sự hung hăng, dữ dằn, sân si đó là sức mạnh thì người tu tâm hiền, người luôn luôn khiêm cung, khiêm hạ thì cho rằng người này yếu. Bây giờ mình chịu yếu hay chịu mạnh? Người ta cứ chê nhưng mình an tịnh, lắng dịu, hiền thiện, ngọt ngào, dễ chịu, từ bi, tuyệt vời không? Người ta có miệng thì người ta cứ chê mà mình vẫn giữ được cái hiền thiện, hiền lành, an lạc trong tâm mình, cái đó nó mới quý, cái đó mới là cái cần thiết.
"Người mạnh hộ Trì pháp không nói lời phản ứng", chúng ta đọc vô đây chúng ta mới thấy công đức của bậc đạo sư, ngài bôi từng chữ, ngài tô từng màu, ngày gạch từng cái đường nét, cái chữ "không" vừa tô đậm vừa gạch dưới. nếu mình phản ứng trả lại với những người sân si thì mình còn khổ hơn nhiều lắm. "Bị mắng không mắng lại được chiến thắng hai lần", tại sao lại như vậy?
Phật tử 3: Dạ thưa sư phụ con nghĩ chiến thắng hai lần thì một là chiến thắng chính mình, hai là có được sự kham nhẫn, đó là sự chiến thắng rồ.
Sư Phụ: Rồi cho tràng vô tay lớn.
Chú Trí Thành: Dạ mô Phật thưa thầy con nghĩ mình chiến thắng hai lần là mình nhẫn nhịn mình đã thắng người rồi, mình nhẫn nhịn cũng đã thắng chính mình.
Sư Phụ: Ai có ý kiến nữa? Tại sao là chiến thắng hai lần?
Phật tử 4: Con bạch sư phụ, theo ý con nghĩ là chiến thắng hai lần đã chiến thắng được mình mà nhiếp hóa được trong người kia, tức hai lần.
Sư Phụ: Đúng rồi đó, mình chiến thắng được mình và mình chiến thắng được người ta luôn. Mình không cần chiến mà mình thắng, mà cái thắng nó siêu việt cả cái thắng bại thường tình của thế gian, ở đây không phải là thắng bại, không phải là hơn thua mà là cái sự siêu việt lên cái hơn thua. Cái thắng này mới thắng vinh quang, cái thắng này mới là cái thắng của đạo pháp chứ không phải cái thắng bại thường tình theo thế gian, không phải. Vì họ không biết chánh pháp họ nghĩ người đó là ngu, là khờ, là hiền nhưng mà người này chiến thắng được hai lần, trị bệnh cho cả hai luôn, y sĩ cả hai chữa mình và chữa người luôn.
"Này các Tỳ-kheo, Thiên chủ Sakka ấy đã tự nuôi sống với quả công đức của mình, đã ngự trị và cai trị chư Thiên Tam thập tam thiên, sẽ nói lời tán thán nhẫn nhục và nhu hòa.
Ở đây, này các Tỳ-kheo, các Ông hãy làm chói sáng pháp luật này bằng cách trong khi xuất gia trong pháp và luật khéo giảng này, hãy thật hành kham nhẫn và nhu hòa." (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương XI. Tương Ưng Sakka, Phẩm Thứ Nhất, IV. Vepacitti hay Kham Nhẫn)
Đức Thế Tôn tán thán Đế-thích thiên là vị này tự nuôi sống mình bằng thành quả công đức của chính mình, và thành quả công đức của chính mình là cai trị ba mươi ba cung điện ở cõi trời tam thập tam thiên. Hãy thực hành kham nhẫn và nhu hòa sẽ chói sáng pháp luật này, thực hành kham nhẫn và nhu hòa sẽ chói sáng non thiêng này, thực hành kham nhẫn và nhu hòa sẽ chói sáng Linh Quy Pháp Ấn này, thực hành kham nhẫn và nhu hòa sẽ chói sáng đạo tràng Nikāya, thực hành kham nhẫn và nhu hòa sẽ chói sáng dòng pháp tối thượng, vi diệu, thần diệu này. Chúng ta nhớ kham nhẫn, nhu hòa ở đây không phải là Kham nhẫn nhu hòa của một cái người chưa chánh kiến, nhớ kỹ cái kham nhẫn và nhu hòa này là từ cái chánh kiến thấy được ngũ uẩn, thấy được tham, sân, si, lậu hoặc. Cho nên mỗi một cái pháp như vậy là nó viên mãn.
Chúng ta thấy nãy giờ mình học kham nhẫn đâu phải là nhẫn giống như lúc trước mình học đâu mà là thấy biết các pháp hết, kham nhẫn ở trong trí tuệ. Nhu hòa là cái tâm hiền trí ở trong một cái tuệ giác, ở trong cái tâm đại từ bi thì như vậy là chói sáng pháp và luật.
VI. Trình pháp 3
Cô Bửu Anh: Con xin chí thành đảnh lễ đức bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác, con xin chí thành đảnh lễ với lòng biết ơn đức bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, đấng cha lành của chúng sinh vạn loại, con xin chí thành đảnh lễ đức ân sư đã chỉ dạy cho chúng con bài pháp vi diệu, dạ chúng con xin đảnh đễ chư vị Tăng Ni, quý hiền trí đang có mặt trong buổi pháp giảng hôm nay. Dạ bạch sư phụ, lúc sáng nay nghe sư phụ đọc bài kinh về con voi thì cái đầu ngu của con nói sao Đức Phật hay đem con này con kia ra nói, rồi nói nóng lạnh này kia mấy cái chuyện đó, con cũng thấy bình thường lúc mới đầu nghe sư phụ đọc bài kinh. Nhưng sau khi nghe sư phụ chỉ dạy, giảng dạy thêm thì quả là con thấy mình như một gã cùng tử được gặp viên minh châu nên con rất là hoan hỉ, và hôm nay con xin trình pháp mà con không có khóc.
Bạch sư phụ, bài giảng pháp của Đức Phật và được sư phụ chỉ dạy, soi sáng thì con mới hiểu con voi đó chính là chúng con, và khi con voi lâm trận thì cái chiến trận ở trước mắt nó chính là cái chiến trận để chiến đấu diệt tận tham, ái dục, vô minh, ngã chấp. Khi sư phụ giảng là nó thấy mấy cái đàn voi kia, rồi nó hoảng sợ, rồi nó nghe những cái âm thanh của đối phương, trống kèn này kia nó hoảng sợ, lúc sư phụ đọc bài kinh nó ngửi mùi phân của những con voi khác thì con mới nghĩ sao mà có phân voi trong đây nữa, con voi bị tên bắn, con voi nhớ nghĩ đến cái máng cỏ thì con mới hiểu được rằng Đức Phật chỉ dạy trong cái bài kinh này đó là con do này không có biết phòng hộ sáu căn của nó.
Cho nên nó không có nhiếp phục được sáu trần, khi tiếp xúc như vậy nó không có được cái ánh sáng của chánh kiến soi sáng cho nên nó hoảng sợ. Chính vì nó hoảng sợ nên nó không kham nhẫn được những cái sắc; thanh; hương; vị; xúc mà nó cứ nhớ, nghe những cái đó với những cái tưởng tượng của nó, nó không được cái ánh sáng của chánh kiến soi sáng các sắc là vô thường, khổ, vô ngã. Nếu nó biết nó có được ánh sáng chánh kiến soi sáng thì nó sẽ không hoảng sợ, nó biết thu nhiếp sáu căn, sáu trần lại thì nó sẽ không hoảng sợ. Con nghĩ là con voi này nếu nó không được chánh kiến soi sáng thì bản thân nó không xứng đáng được ông vua cưỡi. Nhưng ông vua ở đây là ai? Con cũng suy nghĩ sao Đức Phật lại đưa một hình tượng là không xứng đáng cho ông vua cưỡi, ông vua ở đây con nghĩ là cái tâm tịch tĩnh, vắng lặng, nếu con voi này không có giới, định, tuệ, phòng hộ thì nó không thể có được cái tâm tịch tĩnh và con voi đó chính là ngũ uẩn của chúng con.
Nếu không có được ánh sáng của Tứ Thánh Đế soi sáng để thấy rằng sắc; thọ; tưởng; hành; thức không phải là của ta, không phải là ta thì chúng con cũng giống như con voi đó khi lâm trận, sẽ bị hoảng sợ trước những cái cám dỗ, không kham nhẫn được trước tham, sân, si. Khi nghe bài kinh Đức phật chỉ dạy là không kham nhẫn với nóng lạnh con còn hiểu sâu thêm được rằng nóng lạnh đây không chỉ là nóng lạnh của thời tiết, mà nóng lạnh đây còn là nóng lạnh của sự sân giận của chính bản thân mình và của những chúng sinh khác. Cái lạnh ở đây không phải là cái lạnh của thời tiết mà cái lạnh của cái lòng lạnh lùng, cái tâm lạnh lùng không biết thương xót chúng sinh của mình và cũng như của ngũ uẩn khác.
Có rắn rít rồi ruồi, muỗi châm chích thì con mới nghĩ ra cái ruồi muỗi châm chích mình đó là những cái lời chỉ trích, chê bai của những người chung quanh, mình có kham nhẫn được hay không. Rắn độc ở đây con nghĩ có khi tại vì có thời gian mà đi làm này kia tiếp xúc thì con biết có những trường hợp người ta nói oan cho mình thì đó là nọc độc của rắn cắn. Vậy mình có kham nhẫn được với những điều đó hay không hoặc như sư phụ vừa kể chuyện Đức Phật đi đằng trước mà ông Bà-la-môn ở sau chửi, ông học trò thì khen ngợi, những lời phỉ báng đó đối với cái ngũ uẩn này mình nghe mình có bị dính mắc vô đó hay không, hay là nhờ cái chánh tri kiến của Phật soi sáng thì chúng ta biết rằng không có ai, không có người nào chửi, cũng không có người nào nghe, cũng không có người nào bị chửi hay không có người nào chửi những lời đó, chỉ là ngũ uẩn thôi thì chúng ta thoát ra được những cái khổ đau của nóng lạnh hay là của những cái lời phỉ báng.
Con xin trình bày những cái những cái suy nghĩ của con qua cái sự chỉ dạy của sư phụ con hiểu được như vậy, không biết là nó còn có chưa đúng gì với trong pháp hay không. Con xin mong sư phụ cùng đại chúng chỉ dạy thêm cho con. Con xin cảm ơn.
Sư Phụ: Lành thay! Lành thay! Mình nhớ Đức Phật nói có sự có lý đầy đủ, nó cũng có rắn, có muỗi, có nóng, có lạnh rồi cái phần kia cũng có, Đức Phật dạy rất là đầy đủ, mình không có nghiêng qua cái lý không mà sự lý đầy đủ.
Tâm vui này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này.
Tâm vui này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la.
./.