Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Tóm Tắt Ngũ Uẩn Giảng Giải 7

2026-03-03 00:55:08
TINH HOA NIKĀYA

TÓM TẮT NGŨ UẨN GIẢNG GIẢI 7

VÔ MINH - ÁM ẢNH - VÔ THƯỜNG - VÔ NGÃ - LUÂN HỒI

–Thích Minh Thành–

Cái tâm chúng sanh là một cái tâm hôn mê, tâm chúng sanh là một cái tâm vô minh. Ngày xưa khi chúng ta chưa học về pháp hành kinh tạng Nikāya thì mình nghĩ vô minh là một cái gì xa xôi từ vô thỉ kiếp, một cái gì trừu tượng nhưng khi học vào dòng pháp Nikāya thì chúng ta sẽ thấy vô minh có trong mỗi hơi thở, mỗi suy nghĩ, nhận thức, đều có vô minh trong đó, chúng ta sẽ thấy rất bất ngờ. Chúng ta đã được học từ buổi đầu đến nay thì nói dễ hiểu nhất là lúc nào chúng ta không nhìn thấy ngũ uẩn thì lúc đó vô minh, lúc nào chúng ta suy nghĩ rằng "tôi đang làm cái này", "tôi đang ngồi học"… thì suy nghĩ đó là vô minh vì không thấy ngũ uẩn, không biết ý hành đó là hành uẩn nên mình cho rằng có một cái tôi đang ngồi học nên suy nghĩ đó là vô minh, vì thế đi vào dòng pháp Nikāya này mới lột tả được những cái thâm sâu của giáo pháp. Những điều thông thường được chúng ta chấp nhận nhưng khi vào dòng pháp này đều bị đánh bật gốc, bị đánh sụp đổ, tan rã, tan nát, tan hoại trong Thánh trí ngũ uẩn của Đức Phật.

Do tâm vô minh, hôn mê và dính mắc với ngũ uẩn nên tâm không được an tịnh, không được trong sạch, không được vắng lặng, không được tinh khiết, mà tâm này bị ám ảnh, bị dao động, bị thúc giục, bị đòi hỏi, bị ái luyến đối với ngũ uẩn. Bị ám ảnh là như thế nào? Ví dụ mình thích xe thì hình ảnh những chiếc xe mình thích cứ chập chờn ẩn hiện trong tâm mình, đó là chúng ta bị sắc ám ảnh, nói chi tiết là sắc tưởng. Người ưa thích xe sẽ bị hình bóng chiếc xe ám ảnh, lúc nào trong tâm người đó cũng chập chờn, ẩn hiện hình bóng của chiếc xe đó, nên họ bị sắc ám ảnh. Nếu ưa thích một người nào đó thì hình bóng của người ưa thích đó ám ảnh, cái này cũng thuộc về sắc hoặc là người này ưa thích âm thanh du dương, nhạc trữ tình thì người này bị âm thanh đó ám ảnh, người này thích ăn nên hương vị đó ám ảnh trong tâm, đó là chúng ta nói đến sáu trần sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp cho nên tâm của chúng sanh là một cái tâm bị ám ảnh, bị dao động, bị thúc giục, bị đòi hỏi và ái luyến với ngũ uẩn.

Tâm chúng ta là một cái tâm nghèo thiếu, đói khát, tâm không bao giờ biết đủ, không bao giờ biết thỏa mãn cho nên chữ khổ trong tiếng Pali được giải thích là bất toại nguyện. Mình ăn 30 năm, 50 năm nhưng không bao giờ thỏa mãn với món ăn, lúc nào cũng thèm muốn, mình đi biết bao nhiêu chỗ, thậm chí đi trong nước, ngoài nước mà vẫn không thỏa mãn, chính vì bản chất không thỏa mãn đó nên mới khổ, trừ khi nào mình nhìn ra được tính chất bất toại nguyện của nó rồi nhiếp phục, đoạn tận dục ái thì mới hết khổ, nếu không chúng sanh vĩnh viễn và mãi mãi không bao giờ hết khổ, trừ người nào thấy được Khổ Thánh Đế. Trong Tương Ưng Bộ Đức Phật đã nói rất nhiều lần câu "một sự thật cần phải cố gắng làm để rõ biết đây là khổ".

"Này các Tỳ-kheo, một sự thật các thầy cần phải cố gắng để thấy rõ được đây là khổ, đây là nguyên nhân của khổ, đây là sự chấm dứt khổ và đây là con đường đưa đến diệt tận khổ đau" (Tương Ưng Bộ, Tập V- Thiên Đại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật, I. Phẩm Định)

Như vậy nguyên nhân của khổ chính là tâm khát ái và vô minh, vô minh là không thấy được sắc; thọ; tưởng; hành; thức mà chỉ thấy một tự ngã, khát ái là tâm khao khát, yêu thích, ham muốn, đòi hỏi, thèm khát nên khổ mãi cho đến khi nào nhận ra bản chất đó làm cho khổ thì mới dừng lại. Một người thấy được bản chất làm cho mình khổ thì trong kinh gọi là thấy pháp, kiến đạo, kiến đế, minh kiến, thấy được tính chất hoạt động của những ngũ uẩn này, nói đơn giản là thấy được tính chất hoạt động của cảm giác, cảm thọ đói khát, thèm khát, khao khát, mong muốn, thấy nó là nguyên nhân của khổ thì người này mới bắt đầu có khả năng nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận nó. Người thấy được như vậy thì trong kinh gọi là thấy pháp, thấy đạo, đắc pháp nhãn tịnh, pháp ở đây là sự thật của khổ, hoặc gọi là kiến đế, trong đó đế nghĩa là chân lý, kiến đạo là thấy được đạo lộ chấm dứt khổ, đắc pháp nhãn tịnh là mở được con mắt pháp ra.

Chúng ta bị ái luyến đối với sắc; thọ; tưởng; hành; thức, cứ yêu thích những hình thể, những vóc dáng, hình tướng, cứ yêu thích những cảm giác, những suy nghĩ, yêu thích những hình bóng trong tâm, yêu thích nhận thức của chính mình, không thể ra khỏi nó từ vô lượng vô thỉ kiếp. Do tâm bị ám ảnh, bị ái luyến đối với ngũ uẩn nên khi mạng chung tâm lại tiếp tục bị sự ám ảnh và ái luyến này đẩy đi hướng ngoại, tìm cầu các ngũ uẩn, vì vậy một ngũ uẩn mới do tâm si mê lại được hình thành lại được tiếp tục, lại được tiếp diễn, đó gọi là sanh. Mình nghĩ chết là xong nhưng không phải vậy, chỉ có phần sắc uẩn tan rã thôi, còn cảm giác, hình bóng, suy nghĩ, nhận thức còn luyến ái nên đẩy những thọ; tưởng; hành; thức này đi tìm cầu những ngũ uẩn mới, tìm cầu một sắc thân mới, tìm cầu một hình thái sống mới. Ví dụ người A yêu thương người B nhưng lại thất tình, người A đau khổ nên đi tìm người C để thay thế vào chỗ thiếu vắng đó, người A nghĩ người C sẽ giúp cho hết đau khổ nhưng không ngờ lại gặp nỗi khổ mới, thậm chí còn nhiều hơn. Đó là một hình thức đau khổ ở một phương diện khác nhưng bản chất vẫn là khổ, có những người 4-5 đời vợ hoặc 4-5 đời chồng, bỏ người này đi tìm người khác chắc sẽ hạnh phúc hơn nhưng không ngờ vẫn khổ.

Thân này cũng vậy, khi nó tan hoại rồi tâm thức sẽ đi tìm một thân mới nhưng vì tâm này là một cái tâm si mê, tâm mù lòa cho nên làm sao đi tìm đúng được, người mù làm sao tìm trúng được. Do sự mê lầm, mù lòa cộng với tâm ham thích, khao khát kết hợp với nghiệp của quá khứ làm thành sức mạnh đẩy chúng sanh này đi, chụp trúng thân kêu meo meo là con mèo, vào trúng thân kêu gâu gâu là con chó, vào thân chít chít là con chuột… có vô số thân súc sanh. Do tâm thức người này mê muội cộng với sự khát ái, khao khát tìm một thân mới để thực hiện dục ái, ham muốn rồi kết hợp với ác nghiệp thì đi vào loài ngạ quỷ, cô hồn hoặc vào địa ngục, có khi vào thân người bị dị dạng, dị hình, dị tật. Tùy theo phước như thế nào thì có tấm thân tương ứng với cái nghiệp đó vì vậy chúng sanh hoàn toàn không có quyền quyết định đời sau của mình mà nghiệp sẽ quyết định, nghiệp làm chủ.

Lúc còn sống mình là chủ của nghiệp, tức là chủ nhân để tạo ra những suy nghĩ, lời nói, hành động nhưng khi nhắm mắt thì nghiệp làm chủ mình. Tâm thức mình không đủ đạo lực, định lực, tuệ lực để mình có thể chống lại, ngăn chặn nghiệp lực, sức mạnh của thói quen đã huân tập, chính vì vậy tâm si mê này lại được hình thành, tiếp diễn cho nên gọi là sanh. Ví dụ mình thích bonsai, cây kiểng nên thấy chậu bonsai kia thì thích thú, ao ước được đem nó về nhà. Đem về nhà thì hạnh phúc được mấy ngày, ra chỗ khác lại thấy chậu khác đẹp hơn, chậu ở nhà không bằng rồi cố gắng đem chậu mới này về rồi ngắm tới ngắm lui chụp hình khoe, nhưng sau đó lại thấy có cây kiểng đẹp hơn, độc lạ hơn thì lại thích. Cứ tiếp tục như vậy, cái dục không bao giờ thỏa mãn, đối với chậu hoa, chiếc xe, con người, căn nhà, món đồ cũng giống như nhau, thân hình của mình ở trong những kiếp tiếp theo cũng như vậy. Chụp vào tấm thân nào cũng là thân bất tịnh, vô thường, khổ đau, vô ngã, chụp trúng cái thân nào cũng ta đây, cũng vỗ ngực xưng tên.

Một lần Minh Thành đi thiền hành ngoài mái hiên, đối diện là chánh điện, sau đó là nhà tổ, cuối cùng là nhà người dân. Con chó nhà người dân chồm lên sủa qua tới bên phòng Minh Thành rất dữ dội, khi đó Minh Thành tác ý trong tâm "thôi con ơi, vì tâm sân si, vô minh mà bây giờ chui vào thân lông lá bù xù, vậy mà còn bản ngã, ta đây sân hận như vậy thì ngày nào mới thoát ra khỏi thân lông lá, súc sanh này" rồi trải tâm từ đến chúng sanh đó, vừa đi kinh hành vừa tác ý vài lần như vậy "con có thấy là con đau khổ không, con có nhận thức được ác nghiệp trong quá khứ của con không? Vì vô minh, vì ngu si, vì ác nghiệp mà con phải mang cái thân lông lá bù xù của thú vật, súc sanh như vậy. Giờ này may mắn được ở cạnh ngôi tam bảo mà còn không biết lo tu hiền, cứ mang tâm sân hận, bản ngã thì chừng nào mới thoát khỏi thân súc sanh này". Minh Thành tác ý nhiều lần như vậy thì tự động con chó im lặng, gương mặt cúi xuống hiền lại, mấy bữa sau đi thiền hành không thấy sủa nữa. Như vậy khi mình tu tập tâm từ bằng lòng chân thành của mình thì có thể những chúng sanh hữu tình sẽ cảm nhận được chứ không phải thú vật không cảm nhận được, nó cũng có tánh linh. Ngũ uẩn này, cái vô minh, tham ái, cái ác nghiệp này là một vấn đề rất lớn để chúng ta quán chiếu, nghiền ngẫm, tu tập, chúng ta không thể xem thường được, từ chỗ tâm mê đó cộng với vô minh, khát ái, ác nghiệp thì tái diễn tái sanh.

Vì ngũ uẩn là cái do duyên tâm mê, tâm vô minh mà hình thành nên ngũ uẩn này là duyên sanh, là vô thường, là không bền vững, không chắc ổn, vì sao? Vì khi các duyên không còn phối hợp được nữa thì ngũ uẩn này hoại diệt. Khi thân ngũ uẩn này bị hoại diệt thì đó gọi là tử. Khi nó tan nát, tan rã, hủy hoại, hoại diệt thì gọi là tử, sanh và tử hình thành và hoại diệt đó là bản chất, là bản tánh của những pháp do duyên sanh, và thân ngũ uẩn này là một pháp do duyên sanh, nên thân ngũ uẩn không thoát ra khỏi bản tánh phải bị sanh và phải bị diệt. Nhưng khổ thay, sanh thì vui mà tử thì buồn. Vì cứ vui buồn thương ghét và mê mãi đeo đuổi theo những thứ vô thường sanh diệt nên chúng sanh cứ mãi trầm luân trong sanh sanh diệt diệt triền miên không có điểm dừng, không có lối thoát, đó gọi là luân hồi. Trên đây giải thích cho chúng ta ba chữ sanh – tử – luân hồi, sanh ra thì "chúc mừng sinh nhật" nhưng chết đi thì "thành kính phân ưu", sanh thì vui còn chết đi thì buồn đau.

Sanh tử là hai mặt của một bàn tay, khi chúng ta chưng hoa lên cúng Phật rất đẹp, vài ngày sau bị héo úa, bốc mùi hôi thối thì mình có khóc không? Mình không khóc vì mình biết nó phải như vậy, bình bông ngắn ngày, ngắn hạn nên mình điềm nhiên, còn đời sống con người dài hơn như vậy rất nhiều nên mình không biết, mình bị lầm tưởng. Lễ tiệc Halloween ở Hàn Quốc vừa rồi thật khủng khiếp, kinh hoàng, chết hơn cả trăm người vì giẫm đạp nhau, Việt Nam mình có một bạn du học sinh bên đó cũng thiệt mạng, đi chơi lễ mà tập trung hàng trăm ngàn người rồi chen lấn, đẩy nhau rồi cuối cùng ngạt thở. Thi thể được kéo ra, người người được hô hấp nhân tạo hàng loạt, trên 300 người chết lẫn bị thương, thảm kịch kinh hoàng trong lịch sử. Bên Ấn Độ thì sập cầu chết 90 người, ở Châu Phi cũng tương tự như vậy, chỉ trong vòng vài ngày có biết bao người thiệt mạng, ngày xưa chết vài người nhưng bây giờ chết một lần hàng chục, hàng trăm hàng triệu người, trận đại dịch vừa rồi số người chết lên hàng triệu người. Mình quán chiếu như thế nào về những sự kiện đang diễn ra? Tất cả là một sự thúc giục bên trong, ham vui nên khổ vô cùng, thấy đông là tụ tập lại, ham đông, thích đông, khoái náo nhiệt, vừa rồi ở Indonesia chết hàng trăm người trong một trận bóng đá, cũng vì giành sự hơn thua với nhau mà chết hàng trăm người, hàng ngàn người, có khi cả triệu người trong trận đại địch vừa rồi.

Có biết bao sinh mạng, bao nhiêu chúng sanh, bao nhiêu oan hồn trước đó có nghĩ rằng đêm nay họ sẽ ra đi không? Làm sao họ biết được, tất cả mọi thứ đến đều đột ngột, mọi sự đều là bất trắc, bất thường, bất định, thế giới này là thế giới của bất an, trong khi mình cứ nghĩ hôm nay mình như vậy thì ngày mai mình cũng như vậy, năm sau cũng vậy, đó là ý nghĩ của vô minh, không thấy được sự thật. Sự thật chúng ta sống chỉ có giây phút hiện tại, ngay bây giờ biết là chúng ta đang sống nhưng phút sau thì không biết được, thấy được như vậy mới gọi là tin vô thường. Khi gia đình cô sinh viên du học sinh Hàn Quốc bị mất mạng trong lễ Halloween vừa rồi thì quá bi thảm, gia đình đau đớn thống khổ, những tiếng khóc bi thương, kêu gào vì họ không thể tưởng tượng được chết hàng trăm người, người ta cứ nghĩ tụ tập vui chơi thôi cho nên người tu được Đức Phật dạy không được đến những chỗ đông người, điều này rất quan trọng, phải tránh xa chỗ đông người. Các nhà chuyên môn nói rằng do ngạt khí, do chèn ép nhau với lực đẩy gần 500 kí, đẩy nhẹ thôi nhưng với một lực như vậy thì không thở được. Qua đây chúng ta thấy được hình hài này, sinh mạng này, đời sống này có gì là bền chắc? Có gì kiên cố, vững vàng, bảo đảm trong hình hài này? Chỉ cần chạy xe mà lỡ va chạm là có thể kết thúc một đời sống hoặc cụt chân.

Một cậu thanh niên mới ngoài 20 tuổi chuẩn bị cưới vợ mà bị tai nạn giao thông đứt lìa hai chân, chỉ còn nữa thân trên, tất cả mọi người trong gia đình và tự thân cậu này bị sốc kinh hoàng rồi bị trầm cảm, không đi đâu, không gặp mặt ai. Tất cả những điều này mình phải nhìn thấy, phải có sự quán chiếu, phải có sự nhớ nghĩ về điều đó vì bất cứ lúc nào nó cũng có thể đến với mình, nhớ được như vậy mới gọi là niệm vô thường, quán vô thường, tưởng vô thường, an trú trong vô thường tưởng, tức là đặt tâm mình vào sự quán tưởng vô thường mọi lúc mọi nơi, bất cứ lúc nào mình cũng có thể xảy ra tai nạn, bất cứ lúc nào mình cũng có thể chết, bất cứ lúc nào mình cũng có thể bị tai biến, bất cứ lúc nào cũng có thể bị ung thư giai đoạn cuối. Mình phải có tâm thái chuẩn bị tinh thần, nếu mình trú được vô thường tưởng như vậy thì mọi tham, sân, si của cuộc đời này sẽ tự động lắng dịu, an tịnh, giảm bớt, còn tâm mê dẫn mình đi thì không biết được thân sau này là thân gì, nghiệp thiện và nghiệp ác quyết định chứ mình không thể quyết định.

Luân là bánh xe, hồi là quay, hồi lại, luân hồi là quay tròn như bánh xe, chúng sanh quay tròn, quay cuồng trong dục, ái, tham, sân, si, vô minh và bản ngã, quay cuồng trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức, quay tròn trong sầu, bi, khổ, ưu, não không có lối thoát vì bản chất của sắc là khổ, là vô thường, vô ngã, nếu mình cho rằng sắc là mình thì làm sao có được an ổn. Bông hoa nhất định sẽ tàn héo, cái chậu nhất định sẽ bể, nhất định tan hoại mà mình cho nó là tôi, là của tôi thì chắc chắn mình phải đau khổ, vì thế Đức Phật nói ai thích sắc là người đó thích khổ, người nào thích khổ thì không thể thoát khỏi khổ đau, ai không thích sắc thì người đó không thích khổ, ai không thích khổ thì có thể thoát khỏi khổ đau.

"Ai ưa thích các sắc, này các Tỳ-kheo, người ấy ưa thích khổ. Ai ưa thích khổ, Ta nói người ấy không thoát khỏi khổ. Ai ưa thích các tiếng... các hương... các vị... các xúc... Ai ưa thích các pháp, người ấy ưa thích khổ. Ai ưa thích khổ, Ta nói người ấy không thoát khỏi khổ. Ai không ưa thích các sắc, này các Tỳ-kheo, người ấy không ưa thích khổ. Ai không ưa thích khổ, Ta nói người ấy thoát khỏi khổ. Ai không ưa thích các tiếng... các hương... các vị... các xúc... Ai không ưa thích các pháp, người ấy không ưa thích khổ. Ai không ưa thích khổ, Ta nói người ấy thoát khỏi khổ" (Tương Ưng Bộ, Chương IV. Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (a), Phần Một – Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, II. Phẩm Song Đôi, VIII. Ưa Thích (2))

Mình thích khổ thì làm sao mình ra khỏi nó được? Ai thích cảm giác (thọ) thì người đó thích khổ, thích cảm giác mạnh nên đua xe, thích cảm giác phê pha nên dùng chất kích thích, ăn nhậu rồi đấu đá, đánh đấm. Những người đua xe trái phép bị bắt, bị tịch thu xe mà vẫn đầu tư thời gian mua xe mới, độ xe lên đua tiếp? Vì họ thích cảm giác thể hiện ta đây, ai cũng nhìn mình ngưỡng mộ, sau đó là tai nạn giao thông hoặc vào tù, như vậy ai thích cảm giác thì thích khổ, ai thích khổ thì không thể giải thoát khỏi khổ đau. Tình yêu nam nữ cũng là cảm giác yêu thương, cảm giác được quan tâm, chỉ vì một chút cảm giác này mà không thể tu được cho nên thích cảm giác là thích khổ. Chỉ có trí tuệ Nikāya mới soi hết tất cả những phương diện, ngõ ngách, khía cạnh của đời sống vô minh, tham ái và chấp thủ của chúng sanh.

Mình có thích hình bóng ý trung nhân không? Cho nên ai thích tưởng là người đó thích khổ, ai thích khổ thì không thoát khỏi khổ. Hình bóng chiếc xe, hình bóng chậu bonsai, căn nhà, miếng vườn, sổ tiết kiệm hay con người đó ám ảnh trong tâm, mình yêu thích hình bóng đó và thâm sâu hơn nữa là hình bóng của tự thân, đây chính là thân kiến. Hình bóng của tự thân ám ảnh trong tâm mình, mình bỏ anh, bỏ em, bỏ tài sản, bỏ tuổi trẻ được, bỏ những thú vui của cuộc đời, bỏ lục thân quyến thuộc nhưng hình bóng trong tâm mình bỏ không được. Sự nghiệp, tương lai mình bỏ được, nhà cửa, xóm làng, quê hương, cha mẹ, ông bà bỏ được nhưng hình bóng trong tâm lại không bỏ được, đó là Thánh trí ngũ uẩn, trí huệ của Đức Phật rất khủng khiếp, học Nikāya rồi chúng ta sẽ sốc toàn tập. Trước nay mình học chỉ cưỡi ngựa xem hoa, còn bây giờ vào Thánh trí huệ này mình mới thấy được sự chứng ngộ của Đức Phật có tầm vóc đến cỡ nào, không phải như mình hiểu trước nay, trí huệ mà Đức Phật chứng ngộ là siêu khủng, bất khả tư nghì không thể tưởng tượng nổi.

Đức Phật nhìn ra mọi góc độ, phương diện, khía cạnh của thân tâm, đời sống, nhân sinh, vũ trụ, vạn vật, thế giới, hành tinh, tất cả chỉ là ngũ uẩn mà thôi, chúng sanh đau khổ vì cái này và giải thoát cũng từ nơi này, tham ái, yêu thích, nắm giữ, say đắm, điên đảo trong đó rồi sầu, bi, ưu, não. Thấu rõ bản chất đau khổ, bất an, không kiên cố, không bền chắc, thấu rõ vô thường, trống rỗng, tan hoại, thoát ra thì người đó giải thoát đối với năm thủ uẩn. Những gì mình đang học ở đây chính là cốt lõi của đại tạng Nikāya, là con mắt của 12 phần giáo, là trái tim của Thế Tôn, là trí tuệ chứng ngộ của bậc Chánh Đẳng Giác. Chúng ta có thấy hạnh phúc không? Cái này không phải dễ được nghe, vô lượng vô biên kiếp trong sanh tử mới được nghe.

Mình có thích những suy nghĩ của mình không? Suy nghĩ, nhận thức của mình nói ra mà bị chê là mình khó chịu, sân si, đó là ưa thích hành thủ uẩn, mình nắm giữ những suy nghĩ này cho nó là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Đức Thế Tôn nói suy nghĩ này là kẻ giết người, chúng sanh bị giết chết, bị sát hại trong cái nghĩ tưởng này.

"Người ấy không như thật biết rõ: 'Sắc là kẻ giết người'; 'Thọ là kẻ giết người"... 'Tưởng là kẻ giết người'... 'Các hành là kẻ giết người'... 'Thức là kẻ giết người', người ấy không như thật biết rõ: 'Thức là kẻ giết người".

Người ấy đến với sắc, chấp thủ, nhiếp trì: 'Sắc là tự ngã của ta'. Người ấy đến với thọ... với tưởng... với các hành... người ấy đến với thức, chấp thủ và nhiếp trì: 'Thức là tự ngã của ta'. Năm thủ uẩn này được người ấy đi đến chấp thủ, sẽ đưa đến bất hạnh, đau khổ lâu dài cho người ấy". (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (e), IV. Phẩm Trưởng Lão, III. Yamaka)

Hành động cướp ngân hàng có phải bắt nguồn từ suy nghĩ không? Ba mẹ mình đến với nhau cũng từ suy nghĩ rồi mới có mình, mình đi xuất gia cũng xuất phát từ suy nghĩ cho nên trói cột hay tháo mở đều từ suy nghĩ. Một suy nghĩ trói cột để làm cho mình sầu, bi, khổ, ưu, não thì đó gọi là tà tư duy, nghĩ sai, nghĩ lầm lạc, nếu một suy nghĩ để vượt ra, thoát ra, để viễn ly, xuất ly thì suy nghĩ đó gọi là chánh tư duy, Thánh tư duy, là nghĩ đúng. Hằng ngày chúng ta có kiểm tra suy nghĩ của mình là đúng hay không đúng không hay suy nghĩ nào khởi lên cũng cho là "tôi nghĩ"? Đó là sự nắm chặt, bám chấp vào suy nghĩ, cho suy nghĩ này là mình mà không biết nó là hành uẩn, đó là lý do chúng ta phải tập nhận diện những dòng suy nghĩ trong mọi lúc mọi nơi, mình phải xem suy nghĩ này là thiện hay bất thiện, hại hay có lợi, suy nghĩ này đem lại an lạc hay đem lại khổ đau, suy nghĩ này là hợp pháp hay phi pháp. Mình phải lắng nghe suy nghĩ, phải đọc suy nghĩ, mình phải quán sát trong suy nghĩ của mình, phải nhận diện trong từng ý nghĩ, đó là quán tâm trên tâm.

Đối với cảm giác cũng phải để ý từng cảm giác, phân loại cảm giác và xem trong đó có gì, nếu là thiện pháp thì phát huy, còn bất thiện pháp thì chặn đứng, nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận, tẩy sạch thì đó là quán thọ trên các cảm thọ. Khi hình bóng hiện trong tâm phải xem có dục, có ái, có tham hay không hay hình bóng này đưa đến ly tham, giải thoát, nếu hình bóng này đưa đến tăng trưởng dục, ái, tham thì phải quét sạch hình bóng đó ra khỏi tâm, không để nó tồn tại trong tâm, kêu nó "hãy tan biến thành mây, thành khói, thành hư không đi, để cho tao tu, tất cả những hình bóng này hãy tan biến hoàn toàn đi", còn nếu kêu mãi mà nó không nghe thì chửi nó, dùng mọi từ ngữ để nó tan biến thì thôi "tại sao đi tu mà có những hình bóng này hiện ra?". Đó là như lý tác ý, là Thánh tư duy, là chánh tư duy, là tuệ lực, là cây chổi thần để quét rác trong nội tâm, không phải hình bóng nào hiện ra mình cũng chấp nhận, suy nghĩ nào hiện ra cũng cho là tôi nghĩ, không phải cảm giác nào sanh khởi cũng nhập cuộc vào nó, như vậy là vô minh, si mê rồi.

Chúng ta phải nắm vững trí tuệ này để tu tập, còn nếu không biết tu là khổ vô cùng, sắc; thọ; tưởng; hành; thức sẽ quậy mình rất nhiều. Con mắt nhìn thấy, lỗ tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm và ý nhận thức các pháp, tức là ý mình nhận thức được thọ; tưởng; hành bên trong nhưng do tâm mê nên cái nào cũng cho là mình, cái thức gạt mình rất vi tế. Mình nhìn thấy tưởng là đúng nhưng thật ra không đúng, mình cứ nghĩ cái thấy đó đúng là vậy rồi nắm giữ vào đó gọi là thức thủ uẩn, mình chấp thủ vào nó, cho nó là mình, mình thấy, mình biết, mình nghe như vậy nhưng cuối cùng không phải vậy cho nên mình đừng tin vào nhận thức này, phải biết nhận thức này là duyên sanh, vô thường để mình có thể nhận diện được năm nhóm sắc; thọ; tưởng; hành; thức này, để mình đừng bị nó lừa.

Luân là luân chuyển, luân phiên. Hồi là quay về, quay lại. “Luân hồi sanh tử” nghĩa là sự sanh tử cứ luân chuyển thay phiên nhau tới lui tái diễn hoài, có vậy mà làm hoài. Sanh rồi chết, chết rồi lại sanh, sanh rồi lại chết, sanh chết có bao nhiêu đó mà cứ tới lui làm hoài. Vui rồi buồn, buồn rồi lại vui, vui rồi lại buồn, trong một ngày cứ lẩn quẩn trong vui buồn. Thương rồi ghét, ghét rồi lại thương, thương rồi lại ghét, suốt cuộc đời cứ sống trong thương ghét, cứ lẩn quẩn trong thương ghét… Đó gọi là luân hồi. Luân hồi là sự lần quần, lẩn quẩn, quanh quẩn trong buồn vui, thương ghét, được mất, đúng sai, có không, phải quấy, hít thở, ăn uống tiểu tiện, trẻ già, khỏe bệnh, sanh tử... Chỉ có bao nhiêu đó thôi mà cứ lẩn quẩn như vậy hết đời sống này đến đời sống khác, hết thân ngũ uẩn này tới thân ngũ uẩn khác, đó gọi là luân hồi. Như vậy, không phải chỉ có sanh tử là luân hồi, mà thương ghét cũng là luân hồi, buồn vui cũng là luân hồi, được mất cũng là luân hồi…

Sự luân hồi diễn ra trong đời sống hằng ngày của chúng sanh. Trong từng hơi thở thì sự luân hồi vẫn đang có mặt và sự luân hồi trong lúc này chính là hơi thở, hít vào rồi thở ra, thở ra xong rồi lại hít vào, hít vào xong rồi lại thở ra. Trong sự ăn uống, tiểu tiện sự luân hồi vẫn đang diễn ra, và sự luân hồi trong lúc này chính là sự ăn uống và tiểu tiện, ăn uống rồi lại tiểu tiện, tiểu tiện xong rồi lại ăn uống, ăn uống xong rồi lại tiểu tiện… Như vậy, luân hồi là quanh quẩn quay về trong bao nhiêu thứ đó, nhưng cứ triền miên không dứt. Đó là sự quay về quanh quẩn trong thương rồi ghét, ghét rồi thương, vui rồi buồn, buồn rồi vui, được rồi mất, mất rồi được, có rồi không, không rồi có, nhục rồi vinh, vinh rồi nhục, đúng rồi sai, sai rồi đúng, khen rồi chê, chê rồi khen, đẹp rồi xấu, xấu rồi đẹp, trẻ rồi già, già rồi trẻ, ăn uống rồi tiểu tiện, tiểu tiện rồi ăn uống, thức rồi ngủ, ngủ rồi thức, hít rồi thở, thở xong lại hít, nóng rồi lạnh, lạnh rồi lại nóng, sanh rồi chết, chết rồi lại sanh, khóc rồi lại cười, cười rồi lại khóc… triền miên, triền miên, triền miên. Cuộc sống cứ quay về tới lui triền miên, chìm đắm và luẩn quẩn trong bao nhiêu thứ đó, đó gọi là luân hồi. Tất cả những điều này chính là những hoạt động của những ngũ uẩn sanh sanh diệt diệt triền miên trong tâm hôn mê và vô minh vô trí đối với ngũ uẩn.

Đây là đề mục quán chiếu rất sâu sắc, mình nói chữ Hán Việt của luân hồi hơi trừu tượng nên nói tiếng việt là sự quay vòng, quay cuồng, mình nhìn một bánh xe đang chuyển động, cánh quạt đang quay thì luân hồi cũng giống vậy. Hơi thở của chúng ta đang vào ra khì khịt, thở vào rồi lại thở ra đều đều, nếu thở ra luôn thì kết thúc cuộc đời. Chúng ta ăn vào rồi trả ra, ăn vào đủ thứ món, nhạt không chịu, mặn thì chê, phải nóng chứ nguội cũng không chịu nhưng khi trả ra thì lặng lẽ đóng cửa một mình. Khi ăn thì đông vui, cười nói, có biết bao màu sắc, bao nhiêu hương vị nhưng khi trả ra chỉ có một mùi kinh khủng, cứ đưa vô rồi lại trả ra như vậy liên tục, cứ ham thích, khoan khoái trong đó, không phải cái gì đưa vào cũng được mà có sự đòi hỏi, nhiều người ăn đồ sống mới chịu. Có những thú vui ăn uống ác khủng khiếp, chặt bộ óc của con khỉ còn sống để ăn, ăn cá sống, bò sống… Chỉ việc mượn vào trả ra lòng vòng cái bụng, lòng vòng quanh sự tiểu tiện mà có biết bao ác nghiệp trong đó, bao nhiêu nước mắt, mồ hôi, bao nhiêu nỗi khổ niềm đau trong miếng ăn đó cho nên mình phải tập nhiếp phục và chế ngự sự ham muốn hương vị của thức ăn.

Trên Linh Quy có những khóa tu, nhất là xuất gia gieo duyên thì tất cả đều bỏ thức ăn chung vào một bình bát trộn lại để ăn, điều này nhằm phá vị giác, phá sự yêu thích, khoan khoái dục ái trong hương vị của thức ăn. Trong cái ăn đó thì đi chợ mất biết bao thời gian, nấu lên, dọn bàn, lên ăn rồi dọn dẹp cũng mất rất nhiều thời gian, mệt mỏi, làm mệt nhưng lại khen chê, nhạt mặn, nguội nóng cho nên mình tu trong những cái căn bản này, phải nhiếp phục và chế ngự sự ham muốn vị giác trong món ăn. Chiều nay học xong về chùa thì không còn gì để ăn, chỉ còn chút rau sống, đồ ăn không còn gì, còn lại chút ít cơm cháy, đây là bài tập cho chúng ta tu, tu ngay tại bếp, tu trong món ăn chứ không phải chỉ tu trên chánh điện, phải quán chiếu, tác ý như thế nào để tâm mình vẫn an tịnh, lắng dịu, vẫn dễ chịu khi ăn cơm nguội bị khét và chút ít rau với nước tương, đó là công phu hành trì của mình.

Tu là để giảm bớt cái dục, ái, tham chứ không phải tu là để tăng trưởng dục, ái, tham, phải nhiếp phục, chế ngự cái muốn, cái thích, cái đòi hỏi, cái đó là thước đo của sự tu. Nhiếp phục dục tham và đoạn tận dục tham là yếu chỉ, là đích đến, là cốt lõi của sự tu hành trong kinh tạng Nikāya. Mình đi tu chỉ có vài bộ đồ, hôm nay có người cúng cho bộ mới nên mình đi giặt để mặc, tự nhiên có người lấy mất thì lúc đó tâm xả, tâm bố thí ở đâu? Mình vừa tu được hạnh xả vừa có phước, đây là cơ hội để mình cúng dường, mình phải đi tìm người này người kia cúng mà nay người ta đến sẵn nên không cần kiếm đâu xa, mình vừa được tu tâm xả, vừa cúng dường, vừa có phước. Có khi mình đem cho người đó nhưng chưa chắc người ta cần món đồ đó, trong khi người ta cần cái đó nên mới lấy thì tại sao mình không cho? Mình lên chánh điện tụng kinh hay ngồi thiền xong thì bước ra mất đôi dép, lúc đó phải tác ý "may mắn quá, hôm nay mình được bố thí mà không cần phải tìm người để cho", thứ nhất là mình được cái phước, thứ hai là mình xem lại tâm mình lúc đó cảm thọ như thế nào, có tu tâm xả không, tâm buông bỏ đã thức dậy chưa, hiện tại trong ta có tâm buông bỏ hay không, "tâm buông bỏ đang có trong ta, trong ta đang có tâm buông bỏ, tâm buông bỏ đang sanh khởi trong ta, tâm buông bỏ đang tràn ngập trong ta. Ta được buông bỏ đôi dép mà không cần phải đi kiếm người nên ta vui, ta mừng, ta đi chân trần về nhưng vẫn hoan hỉ, an lạc vì ta thực tập được tâm xả, nhiếp phục, chế ngự cảm thọ sân hận, ý niệm của ta", "ta xin từ bỏ ý niệm đôi dép này là của ta".

Con mới thực tập điều này ở Linh Quy, buổi sáng lên hướng dẫn cho các y bác sĩ xong xuôi hết đi xuống thì mất đôi dép, đi chân trần từ Cổng Trời xuống, trong lúc đi con tác ý hoan hỉ như vậy, mất dép nhưng vui, an lạc. Mình phải từ bỏ ý niệm tôi, của tôi và tự ngã của tôi thì mới có an lạc trong bất cứ mọi trường hợp, nếu còn nắm giữ tôi, của tôi và tự ngã của tôi thì trong tất cả mọi trường hợp đều sầu, bi, khổ, ưu, não, đều bất an. Thậm chí với chiếc y của mình cũng vậy, lỡ có ai lấy mất chiếc y thì mừng, đây là vô thượng phước điền y mà có người lấy đắp thì tốt cho người ta, mình còn y chứ không hết, mình được tu tập hạnh bố thí, cúng dường, được tu tập hạnh buông bỏ và nhiếp phục, chế ngự cảm thọ sân hận, tu tập hạnh từ bỏ ý niệm của tôi. Đó là pháp hành rất quan trọng trong sự tu của chúng ta, điều này tuyệt đối quan trọng nên cần thực tập thường xuyên và liên tục. Mình đi học chỗ ngồi của mình là ngay bàn thứ nhất, vị trí thứ nhất nhưng có người mới vào học sau đến ngồi ngay đó thì tu như thế nào? Công phu của mình ở đâu? Đâu có chỗ nào là chỗ của mình, nhường chỗ ngồi cho người ta, không sao hết, vẫn bình an, ngọt ngào, dễ chịu, dễ thương, mình phải thực tập như vậy thì khi có chuyện đến mình mới có đủ tâm bình an, lắng dịu, ngọt ngào, còn nếu không tu tập thì chuyện đến mình không bao giờ có được tâm bình an. Tất cả mọi thứ trong đời sống phải được thực tập dù là nhỏ nhiệm, vi tế, trong ý nghĩ phải thường xuyên loại bỏ suy tư cho rằng đây là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, phải xem suy nghĩ này như kẻ thù, khi nó sanh khởi lên là mình đánh đuổi, đoạn tận, không cho nó tồn tại trong tâm mình. Những ý niệm cho rằng đây là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi phải được diệt tận, phải được quét sạch, tẩy sạch, đó chính là Thánh tư duy, trí huệ của bậc Thánh, là Thánh tri kiến hay còn gọi là Thánh trí vô ngã, vô ngã trí nhưng không phải tự nhiên có được mà phải thực tập, rèn luyện thường xuyên và liên tục nhiều giờ, nhiều ngày, nhiều tuần, nhiều tháng, nhiều năm cho đến nhiều chục năm, nhiều đời thì mới thành tựu được Thánh trí vô ngã này.

Phải nhìn thấy tính chất trống rỗng của sắc; thọ; tưởng; hành; thức, tính chất vô sở hữu, tính tàn hoại, hủy hoại, tiêu ma, hoại diệt của năm thủ uẩn này, cần phải thường xuyên tác ý nhắc nhở và luôn luôn nhớ trong mọi cử chỉ, hành động, suy tư, nhận thức, cảm giác của mình. Đó là suy nghĩ của bậc Thánh, là sự thấy biết của bậc Thánh, là trí tuệ vô ngã của bậc Thánh, thương ghét, đúng sai, khen chê đều là đề mục để thiền quán. Hai huynh đệ cự cãi nhau nên lên mách với sư phụ thì sư phụ đều bảo về hết đi, ngày mai lên. Ngày mai lên hai người hỏi sư phụ ai đúng ai sai thì sư phụ bảo người lên đây là người không đúng, người đúng là không lên đây. Cái người thị phi, tranh đua đúng sai thì không đúng, người đúng thì không có tranh thị phi, đúng sai. Mình bỏ cha bỏ mẹ, bỏ hết tất cả để đi tu, bây giờ vào chùa chỉ có một chuyện nhỏ nhặt thôi mà mình làm cho lớn lên thì đúng hay sai? Người xử cho người nào đúng người nào sai thì người xử đó đúng hay sai? Càng sai luôn cho nên sân là sai, thị phi là sai, phải quấy là sai, không ai đúng cả, còn đúng là không có những chuyện đó xảy ra mới gọi là đúng. Trong cuộc đời tu của mình suốt ngày cứ đúng sai, phải quấy, hơn thua, cứ tham, sân, si, bản ngã liên tục, cứ lòng vòng trong đó nên gọi là luân hồi, cứ hơn thua, chia phe, tạo nhóm, vào tu rồi mà thích chơi chị này không thích cô kia thì làm sao ở được trong chùa. Mình đem rác vào chùa, đem cái tham, sân, si, bản ngã vào chùa, đem cái cấu nhiễm vào chùa, không được làm ô uế thiền môn, lúc nào mình sanh khởi lên hơn thua, đúng sai thì tác ý "thôi nha tâm mê ơi, mi đừng làm ô uế thiền môn nha". Mình đánh cho bầm dập, cho nhục nhã để không còn dám hơn thua nữa.

Trong kinh Đức Phật ví dụ hình ảnh con bò, sau này thiền tông lấy cái đó làm thập mục ngưu đồ. Trong đó Đức Phật dạy con bò chạy vào lúa mạ thì người chăn bò đánh cho một trận nên thân, tức là như lý tác ý quở trách tâm, la rầy, mắng chửi. Con bò thấy lúa mạ nên nhào vô ăn là bị đánh nên sau này gặp lúa mạ không dám chạy vào ăn nữa vì nó sợ cảm giác đau đớn của trận đòn nên thân đó, chừng nào cho mới dám ăn.

"Ví như, này các Tỳ-kheo, lúa mì đã chín và một người giữ lúa mì phóng dật (lơ đãng). Có con bò ăn lúa mì, xâm phạm lúa mì, xâm phạm lúa mì ấy và mê say ăn một cách thỏa thích. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không hộ trì đối với sáu xúc xứ, mê say thọ dụng một cách thỏa thích đối với năm dục công đức.

Ví như, này các Tỳ-kheo, lúa mì đã chín và một người giữ lúa mì không phóng dật. Có con bò ăn lúa mì, xâm phạm lúa mì ấy. Người giữ lúa mì nắm chắc cái lỗ mũi của con bò; sau khi nắm chắc cái lỗ mũi, người ấy rị chặt trên cái trán. Sau khi rị chặt trên cái trán, với cái gậy, người ấy đánh con bò một trận nên thân. Sau khi lấy gậy đánh cho một trận nên thân, người ấy thả con bò đi.

Lần thứ hai, này các Tỳ-kheo...

Lần thứ ba, này các Tỳ-kheo, có con bò ăn lúa mì, xâm phạm lúa mì ấy. Người giữ lúa mì nắm chặt cái mũi con bò; sau khi nắm chắc cái mũi, người ấy rị chặt trên cái trán. Sau khi rị chặt trên cái trán, với cái gậy, người ấy đánh con bò một trận nên thân. Sau khi lấy gậy đánh con bò một trận nên thân, người ấy thả con bò đi. Như vậy, này các Tỳ-kheo, con bò ăn lúa mì ấy đi vào làng, hay đi vào rừng, hay khi đứng, hay ngồi, nó không xâm phạm lúa mì ấy, vì nó nhớ đến cảm xúc cái gậy lần trước. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, khi nào Tỳ-kheo có tâm chơn trực, chánh trực đối với sáu xúc xứ, thời nội tâm được an trú, tịnh chỉ, nhứt tâm, Thiền định" (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (g), IV. Phẩm Rắn Ðộc, IX. Đờn Tỳ Bà)

Đức Phật dạy phải tự mình quở trách tâm mình, tự mình la mắng tâm mình.

"Tự mình chỉ trích mình,

Tự mình dò xét mình,

Tỳ-kheo tự phòng hộ

Chánh niệm, trú an lạc"

(Kinh Pháp Cú 25 – Phẩm Tỳ-kheo, kệ 379)

Tự mình la rầy, quở trách tâm "nhà ngươi cho thấy nhục không, tu mười mấy năm rồi mà bản ngã chình ình như vậy có thấy nhục không?", "nhà ngươi tu hai chục năm rồi mà cứ thị phi, hơn thua từng chút như vậy thì có thấy phàm phu vô minh không". Tác ý như vậy để mình tàm quý, xấu hổ tột độ, để mình sanh khởi lên tài sản của bậc Thánh chính là tàm quý, thấy xấu hổ, sợ hãi với các ác bất thiện pháp, xấu hổ không dám nhìn mặt ai, "tu biết bao năm mà hở chút là sân si, bản ngã, hơn thua, ta tội nghiệp mi quá tâm ơi, mi làm ơn tỉnh giùm tao đi, sao còn mê quá vậy. Cha mẹ bệnh tật ở nhà, tất cả lục thân quyến thuộc đang chờ đợi ngươi, nương dựa vào ngươi vậy mà ngươi vào đây tu cái gì, được một đống tham, sân, si, bản ngã hay sao". Mình tự vấn, tự trách tâm mình thường xuyên trong mỗi ngày, mình đánh cho nhức nhối, làm cho tâm phải ray rứt, đau nhức, mình phải trăn trở tại sao mình lại như vậy, làm cho sanh khởi lên sự lo lắng, sợ hãi, xấu hổ, cái pháp này sẽ đưa mình đi đến chỗ thanh tịnh cứu cánh của bậc Thánh, từ nhục nhã mới sanh Thánh quả, càng nhục chừng nào càng gần tới bậc Thánh chừng đó. Còn người vô tàm vô quý, mặt chai thì người này cuộc đời chấm hết, trơ trơ trước lỗi lầm, ác bất thiện pháp, không biết sợ gì cả, không thấy xấu hổ gì cả thì cuộc đời tu chấm dứt, chỉ còn địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh chứ không còn đường nào khác. Người chân tu là khi phạm lỗi phải ray rứt, phải nhức nhối, phải đau khổ, hối hận thì còn cứu chữa được, còn vô tàm vô quý là hết thuốc chữa. Mình quở trách tâm mình như vậy thì sự tu của mình chắc chắn sẽ tiến bộ, sẽ tăng thượng, sẽ lớn mạnh trong giới đức, thiền định và trí tuệ.

./.