Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Cửa Vào Bất Tử 7

2026-03-03 00:55:08
Cửa Vào Bất Tử 7

Thích Minh Thành

Ngày 20 tháng 05 năm 2022

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Thức uẩn PAGEREF _Toc105488004 \h 1

II. Ý thức PAGEREF _Toc105488005 \h 8

I. Thức uẩn

Kính bạch các bậc hiền trí, tăng ni và quý Phật tử, hôm nay chúng ta tiếp tục chủ đề Cửa vào bất tử phần thứ bảy.

Chúng ta đã tìm hiểu về sắc, thọ, tưởng, hành, hôm nay chúng ta bước qua thức uẩn. Như chúng ta đã biết, sự tu học theo kinh tạng Nikāya là quay trở lại tìm hiểu, thấy và biết tự thân tâm của mình. Sự tu học này xuyên suốt từ đầu đến cuối, từ mới bắt đầu cho đến khi thành tựu cứu cánh viên mãn giác ngộ. Quay trở lại để nhìn sắc thân này, nhìn những cảm giác này, nhìn những hình bóng ở trong tâm, tưởng. Nhìn những suy nghĩ, ý hành ở bên trong, nhìn sự nhận thức, rõ biết bên trong thân tâm của chúng ta.

Nếu mình không hiểu được tự thân của mình, không thấy biết được nội tâm của mình, mình chỉ hướng ra bên ngoài thì nguồn gốc, căn nguyên của khổ đau không thể thấy, biết được. Nhưng nếu không thấy được nguồn gốc, căn nguyên, động cơ để phát sanh ra đau khổ thì chúng ta không làm sao để ngăn chặn, chế ngự, đoạn tận, tẩy sạch và chấm dứt được khổ.

Chúng ta nhớ, Thế Tôn tuyên bố rằng: “Xưa và nay Như Lai chỉ nói có hai điều: sự thật về khổ và phương pháp diệt khổ.” Nếu chúng ta không ghi khắc trong lòng, không để tâm, không quán chiếu, học hỏi theo phương châm, phương hướng này thì dù cho hình thức là có tu học Phật, làm được rất nhiều việc ở bên ngoài nhưng quay về nội tâm vẫn là một đống rác bẩn, tham lam, nóng giận, hơn thua, vô minh, bản ngã, khổ đau.

Vậy nên, bài Cửa vào bất tử này Ni sư Chân Tín Toàn soạn ra trong quyển Cửa vào bất tử chính là đạo lộ, con đường để đưa chúng ta đạt đến chỗ liễu sanh thoát tử, chấm dứt tham, sân, si, cũng có nghĩa là chấm dứt hết tất cả sầu bi, khổ, ưu não. Nên mới được đặt tên là Cửa vào bất tử và hôm nay chúng ta tìm hiểu tiếp phần cuối là thức uẩn.

“Tập thấy biết rõ về các Thức

Thức là sự rõ biết trong ngoài,

Rõ biết thôi, cái biết rõ ràng,

Không có nói thầm gì trong đó.

Sự rõ biết sắc, thanh, hương, vị

Sự rõ biết xúc, thọ, tưởng, hành

Chỉ biết thôi, cái biết rõ ràng

Sáu cái biết này là sáu Thức.”

Mình thực tập nhận thức về các thức: “Thức là sự rõ biết trong ngoài”. Chúng ta rất dễ lầm, mình nghĩ rằng mình có một cái biết, cho rằng cái biết đó là cái hoàn hảo, một cái trọn vẹn, một cái viên mãn, nguyên khối, nguyên xi. Nhưng không phải vậy, đó là cái biết của phàm phu. Đức Phật chứng ngộ về thức, Ngài trình bày cho mình là có sáu cái biết.

“Sự rõ biết sắc, thanh, hương, vị

Sự rõ biết xúc, thọ, tưởng, hành

Chỉ biết thôi, cái biết rõ ràng

Sáu cái biết này là sáu Thức.

Rõ biết người, cảnh, vật - Nhãn thức

Rõ biết các âm thanh - Nhĩ thức

Rõ biết mùi thơm thúi - Tỷ thức

Rõ biết vị chua, cay - Thiệt thức

Rõ biết thân đụng chạm - Thân thức

Rõ biết thọ, tưởng, hành - Ý thức.”

Chúng ta thực tập nhận diện, nhận ra về sáu thức. Đầu tiên, rõ biết người, cảnh vật là nhãn thức, giờ mắt chúng ta nhìn thấy người, cảnh, vật không? Cái rõ biết người, đồ vật, cảnh thì cái rõ biết đó là nhãn thức. Chúng ta phải tập nhận diện như vậy, nếu mình không biết đó là nhãn thức thì đó là mình sống trong vô minh. Mình nói “Tôi thấy! Thấy là tôi!” Như vậy là mình chấp thủ nhãn thức đó làm tự ngã.

Tuy là học từ ngữ cảm thấy đơn giản, giống như mình biết rồi, hiểu rồi nhưng khi ứng dụng thì không có mấy người ứng dụng được, khi trở ra đều nhận thức đó là mình. “Rõ ràng khi nãy tôi thấy! Tôi thấy rõ người đó làm gì đó!” Nên mình không nhận diện rằng “À, nhãn thức nó thấy, nó rõ biết được!” Khi mình nhận diện được đó là nhãn thức, sự rõ biết người, vật cảnh bên ngoài thì mình tác nhãn thức đó ra khỏi, không cho nhãn thức đó là mình.

Rõ biết các âm thanh – Nhĩ thức, giờ tiếng karaoke ở dưới núi đang dội lên, rõ biết âm thanh là nhĩ thức. Như tiếng côn trùng đang nỉ non bên ngoài hay tiếng Minh Thành đang nói cho đại chúng, sự rõ biết được tiếng này là nhĩ thức. Một ngày mình nhớ nhĩ thức đó được mấy lần? Hay chỉ nói “Tôi đang nghe đây! Đừng tưởng tôi không nghe, mà tôi nghe thấy, tôi biết hết đấy!”

Như vậy, mình gắn nhãn thức, nắm vào nhĩ thức gọi là tôi, đó gọi là thức thủ uẩn. Nhưng trong suy nghĩ, nhìn nhận của mình thì cái nào mình cũng nắm vào. Cái thấy thì nói “Tôi thấy!”, cái nghe nói “Tôi nghe!”, “Cái thấy là tôi, cái nghe cũng là tôi đó!” Như vậy là vô minh, không nhận diện được thức uẩn. Nên khi mình nghe cái gì thì mình quay trở lại, mình xem “Cái rõ biết âm thanh này là thức uẩn, là nghĩ thức, cái rõ biết hình sắc là nhãn thức, đừng có mê đồ đẹp, cảnh đẹp, người đẹp nha! Đừng có mê tiếng êm ái, ngọt ngào, dễ chịu nha! Đừng có sân khi nghe tiếng nói chỉ trích, chê bai. Đây chỉ là thanh trần, nhĩ căn, lỗ tai thôi! Chỉ là sự rõ biết âm thanh của nhĩ thức thôi!”

Như chúng ta đã học duyên sanh pháp, chúng ta quay trở lại nhận diện “Đây là nhĩ thức! Nhĩ thức là nhĩ thức, nhĩ thức không phải là tôi, không phải là của tôi, không phải là tự ngã của tôi!” Một ngày mình nhận diện nhĩ thức được mấy lần? Nên rất thâm sâu, đây là sự chứng ngộ của Đức Phật, không phải chỉ nói là mình nghe được từ như vậy là “Tôi nghe rồi, tôi biết rồi, tôi hiểu rồi! Tôi học rồi!”

Tiếp theo mình phải nhận diện về mùi

“Rõ biết mùi thơm thúi - Tỷ thức”

Tỷ thức là rõ biết mùi thơm hay hôi. Như khi có người đi ngang mình thì mình ngửi thấy mùi khó chịu, mình đi lùi lại. Cũng có người có mùi đi xa nhưng mình cũng muốn bước lại để ngửi thấy mùi. Như vậy có ghê gớm không? Mình rõ biết mùi đó, mùi thơm hay hôi, mùi hấp dẫn hay kinh khủng mình phải biết lúc đó là tỷ thức đang rõ biết tất cả các mùi.

Mới bước vào cửa nhà bếp khi nấu bún mắm là mùi bốc ra, người nào thích thì thấy dễ chịu, khoái, còn người nào không thích mùi đó thì thấy khó chịu, không muốn ngửi. Rõ biết các mùi đó là tỷ thức.

“Rõ biết vị chua, cay - Thiệt thức”

Câu trên là trình bày ngắn gọn, chúng ta cần hiểu thêm đó là đủ vị như mặn, ngọt, nhạt, chát… đủ các vị. Rõ biết các vị gọi là thiệt thức. Vậy khi ăn món gì ngon có biết đó là thiệt thức không? Ngửi mùi gì thơm, hấp dẫn quá có biết tỷ thức đang rõ biết không? Hay là bị mùi, vị đó làm quên hết các pháp? Lúc đó gọi là vô minh, tham ái, dục, sân hoạt động.

Vô minh là không nhận biết được pháp đang hiện hữu ngay lúc đó không thấy không biết gọi là vô minh. Cũng vì không thấy, không biết nó là pháp duyên sanh. Do duyên có lưỡi, có đồ ăn, có sự rõ biết vị đồ ăn đó, ba pháp đó tiếp xúc sanh ra cảm giác thích thú, khoan khoái thì lúc đó vô minh và tham ái hoạt động, không còn thấy lưỡi, không còn thấy đó là món ăn, là vị, không còn thấy thiệt thức – sự rõ biết các vị, không còn thấy sự tiếp xúc của ba pháp đang diễn ra. Không còn thấy cảm giác sanh khởi từ sự tiếp xúc đó.

Lúc đó là dồn chung một cục cứ lắp chắp, nhai lia lịa, nuốt ào ào, có khi mắc nghẹn nữa. Ăn chay mắc nghẹn còn đỡ, còn ăn mặn như mắc xương cá có khi bị mất mạng.

Vậy nên chúng ta nên tập như vậy, không phải học lướt qua rồi trả bài là xong mà chúng ta phải tập, khi lưỡi tiếp xúc với món ăn là phải nhận ra các pháp đang có mặt, vận hành, sanh khởi như thế nào. Lúc đó mình chỉ biết cái này ngon, cái này dở quá làm cho mình bực mình, khó chịu nên sân, ngon quá, thích quá làm mình tham, mình muốn dục, mình khoái ái. Dở quá làm mình bực bội, sân hận.

Cho nên mình nhận diện thiệt thức này. Khi mình biết nhận diện thì dù cho vị đó là ngon, món ăn đó là ngon hay dở thì mình có sự tách mình ra khỏi những thiệt thức, món ăn đó, cái lưỡi đó, những cái tiếp xúc sanh ra cảm giác đó. Mình có sự nhìn ngó, quán sát, như lý giác sát, như lý tác ý, chánh niệm tỉnh giác tức là do có một tâm trầm tĩnh, soi xét các pháp trong khi ăn nên tâm mình sáng tỏ đối với các pháp, không mờ, không lẫn lộn, không nhập cuộc đối với các pháp. Như vậy sự ăn đó gọi là chánh quán thọ thực.

Chánh là đúng, chánh quán là nhìn đúng, nhìn sâu sắc, nhìn một cách đúng đắn, chân chánh, nhìn cái nhìn của bậc Thánh, nhìn của trí tuệ, không phải cái nhìn của bình thường, mà đó là cái nhìn theo cái nhìn của Đức Phật. Đó gọi là chánh quán thọ thực.

Ăn mà mê, say sưa trong đó, là ăn ở trong mê, thích, tức là trong vô minh và tham ái. Mê là vô minh, thích là tham ái. Ăn mà trong mê, thích thú, khoan khoái. Nếu lỡ như có ai lỡ làm rơi dĩa đồ ăn đang ngon thích, hay không cho ăn nữa thì lúc đó tham, sân nổi lên.

Khi gặp món ngon là mình ái, gặp món dở là mình sân, mình không nhận diện được thiệt thức sanh khởi trong lúc đó.

Vậy nên tu theo Đức Phật dạy thì hết sức sâu sắc, hết sức tế nhị, hết sức nhỏ nhiệm, tinh vi và nhiều phương diện, khía cạnh, góc độ trong đời sống. Khi nhìn thì có trí tuệ trong nhìn, khi nghe có trí tuệ trong nghe, khi ngửi thì có trí tuệ trong ngửi, thấy biết trong ngửi. Khi nếm thì có thấy, có biết thì có chánh quán thọ thực. Con của Đức Phật là vậy, Thánh đệ tử là vậy, khác với phàm phu, bất cộng pháp với phàm phu là vậy, là không chung cùng với những vô văn phàm phu.

Phàm phu không nghe pháp, không thành tựu được trí tuệ, không nhìn thấy ngũ uẩn, tham, sân si, dục ái, vô minh, bản ngã. Còn bậc Thánh đệ tử là bắt đầu thấy, thấy được dần dẫn rõ ra và có những vị nhiếp phục, chế ngự, có những vị đi đến chỗ đoạn tận, có ra các thứ bậc của hiền Thánh. Trong sự thấy biết thân tâm, ngũ uẩn, lậu hoặc. Đó chính là chánh quán thọ thực.

Nên canh chừng trong cái thấy, đề phòng trong nghe, dò xét trong ngửi, quán chiếu trong nếm. Đức Phật gọi là:

“Sáu xúc xứ này, này các Tỷ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ.

10) Có sáu xúc này, này các Tỷ-kheo, khéo nhiếp phục, khéo phòng hộ, khéo bảo vệ, khéo thâu nhiếp, đem lại an lạc.”

(Bài kinh Thâu nhiếp, V. Phẩm Từ Bỏ - Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ - Tương Ưng Bộ Kinh)

Các câu trên trong Tương Ưng Sáu Xứ.

“Rõ biết thân đụng chạm - Thân thức”

Điều này bắt đầu vi tế. Hiện tại chúng ta đang ngồi nghe pháp, thân của chúng ta tiếp giáp với mặt đất hoặc là ghế ngồi. Chỗ thân mình đụng chạm với mặt đất hay thân mình xúc chạm với ghế ngồi, ở chỗ đó có sự rõ biết, rõ biết sự đụng chạm đó. Đó là thân thức.

Ví dụ như giờ mình rõ biết quần áo tiếp xúc với da thịt của mình. Điều này chúng ta phải thực tập thường xuyên phải để ý mới nhận ra được thân thức. Như hai chân của mình đang để lên, thì chỗ chân này chạm vào chân kia thì có sự rõ biết sự đụng chạm đó. Hay là hai tay của chúng ta chắp lên thì chỗ tiếp xúc của hai bàn tay đó thì chúng ta có sự rõ biết chỗ tiếp xúc đó thì gọi là thân thức.

Đó là nói về tự thân của mình, hoặc người khác xúc chạm hoặc khó chịu, dễ chịu, làm cho mình tham, làm cho mình sân. “Thương quá! Nựng một cái!” hay khi gặp em bé ba, bốn tuổi, mặt mũm mĩm, mập trắng, tròn, dễ thương quá nên đến nựng thì đó là khả ái, dễ thương, dễ chịu, đó là xúc, là tiếp xúc. Nhưng nếu có ai tới tát thì đó cũng là xúc, làm cho sân lên.

Thân thức là rõ biết sự đụng chạm, xúc rất ghê gớm, yêu và hận, tham và sân, say mê, đắm đuối điên đảo cũng là vì xúc này. Hận thù, huyết lệ cũng là vì xúc. Và sự rõ biết được chỗ xúc chạm, đụng chạm đó là thân thức. Rõ biết thân đụng chạm là thân thức.

Chúng ta đã thấy được trí huệ của bậc tối tôn, tối thượng, Chánh Đẳng Chánh Giác không? Không có một người thứ hai trong tam giới, ba ngàn đại thiên thế giới mà thành tựu được trí huệ, mà tất cả phương diện, khía cạnh, góc độ, ngõ ngách của thân tâm nhìn ra được hết tất cả. Vậy nên gọi Ngài là bậc Thế Gian Giải, Chánh Biến Tri, Chánh Đẳng Chánh Giác. Không còn một pháp nhỏ nào trong mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý này, sắc, thọ, tưởng, hành, thức này mà Thế Tôn không biết được nhân duyên sanh diệt của nó.

Ngài thấy biết đến tận cùng căn nguyên, từ đâu nó sanh khởi, làm sao nó hoại diệt, nó hiện hữu, vận hành như thế nào, cái gì làm ra nó, làm thế nào để chấm dứt nó. Chỉ có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân thôi thì chúng ta đã sốc rồi, thấy bất ngờ. Quý vị thử tìm được trên toàn cầu, cả vũ trụ này có được người thứ hai mà chỉ ra được trí tuệ như vậy không? Nhiều khi chúng ta học hay đọc xong rồi thì chúng ta để đó, để vào tủ cất, không đem ra vận dụng, không thấy được giá trị tối thượng của nó.

Như vậy, tập cho chúng ta nhận diện được thân thức là để làm gì? Để khi thân này tiếp xúc, đụng chạm với các sự vật, con người thì không bị tham, sân, si. Không phải mình nghĩ học thân thức là đơn giản, biết được rõ biết đụng chạm là thân thức vậy rồi xong, không phải vậy. Vì khi tiếp xúc như vậy, nếu không biết thì là si, còn nếu khoan khoái, say đắm trong tiếp xúc đó thì là tham, bực bội, khó chịu thì là sân. Nên một pháp của Đức Phật thôi đưa ra đều có công dụng diệt tham, sân, si hết.

Nhận diện được sáu thức để phá tham, sân, si, phá chấp thủ, phá vô minh, phá tham ái. Không phải là nói sáu thức để cho mình biết vậy thôi. Không có pháp nào mà tự Đức Phật nói ra mà không có công năng, tác đụng để đưa đến diệt khổ. Cái gì Đức Phật nói ra là cái đó có công năng, tác dụng, mục đích, có lợi ích. Lợi ích tối thượng trong tất cả các lợi ích là nhận được tham, sân, si, nhiếp phục, chế ngự và tẩy sạch, diệt tận tham, sân, si để đi đến chấm dứt khổ.

Đức Phật đã nói: “Từ xưa đến nay, ta chỉ nói hai điều, khổ và con đường diệt khổ.” Tất cả những pháp Đức Phật đã dạy mình thì mình quy nạp về một chỗ để nhìn ra thì nhất quán hết tất cả ba mươi bảy phẩm trợ đạo, tất cả trong kinh tạng Nikāya, tinh hoa Nikāya là ở chỗ đó.

Nhận diện được thân thức, rõ biết thân đụng chạm là thân thức, rõ biết sự đụng chạm là thân thức. Vậy nên xúc này mình phải chánh niệm và tỉnh giác đối với sáu xúc xứ đó, như bảng chúng ta treo Viễn ly xứ đó. Cẩn thận, chánh niệm và tỉnh giác đối với sáu chỗ tiếp xúc. Ở đây nói gọn là thân. Nhận diện ra thân thức, nên khi chúng ta ngồi thiền, bữa nào đó chúng ta dành ra một buổi để nhận diện các thức để mình thành tựu được trí tuệ đó.

Nhưng mình nghĩ “Sao giờ học ngũ uẩn hoài?” Mình tưởng là mình biết nhưng thật ra là chưa có gì, chỉ biết chữ, biết nghĩa, biết một góc cạnh nhỏ thôi. Còn thật pháp là phải thấy biết và chứng ngộ.

II. Ý thức

“Rõ biết thọ, tưởng, hành - Ý thức.”

Chỗ này rất quan trọng, nhiều khi chúng ta nói ý thức mà không biết rõ là gì. Ý thức là cái rõ biết được cảm giác, hình bóng trong tâm, những suy nghĩ nói thầm bên trong, đó là ý thức.

Các Phật tử nên ghi chép và học thuộc lòng về định nghĩa sáu thức, nhất là rõ biết thọ, tưởng, hành là ý thức. Nhiều khi chúng ta học, tu đến chết mà chúng ta cũng chưa biết được ý thức thật sự là gì. Khi mình học kinh Nikāya rồi thì mình mới thấy rõ ràng, khi trong tâm mình có một hình bóng về người, đồ vật, cảnh vật thì mình biết trong tâm mình đang có tưởng đó.

Khi bên trong mình đang có một cảm giác dễ chịu hay khó chịu, không dễ chịu không khó chịu, mình biết đang có cảm giác đó thì đó là mình đang rõ biết thọ, khi trong tâm mình đang có một suy nghĩ thiện hay bất thiện, lành hay dữ, nghĩ tốt hay nghĩ xấu, mình biết được mình đang suy nghĩ thiện hay bất thiện, lành hay dữ, tốt hay xấu. Nên sự rõ biết được ba thọ, tưởng, hành đó là ý thức.

Nên mình càng học thì mình càng muốn sụp xuống lạy Đức Phật, mỗi lạy thì mình tràn nước mắt ra, mình dập đầu xuống, mình lạy xuống như vậy cho vỡ đầu vô minh, chấp thủ ra, vỡ tâm ngạo mạn, vỡ tâm si mê, ngu muội đó. Mình càng hiểu Đức Phật thì mình càng tin Ngài, càng hiểu Ngài. Đó là chánh tín, tịnh tín bất động đối với Phật, đối với Pháp. Chúng ta thấy sáu thức này hiểu một cách thấu đáu và tu tập đủ sức chứng ngộ Thánh quả A-la-hán.

Mình không có biết được ý thức là gì. Hình bóng trong tâm khi mình chưa nhận diện được ngũ uẩn thì mình không biết được nó là tưởng. Những cảm giác mà mình say mê, say đắm trong đó, bị nhấn chìm trong đó thì mình không biết đó là thọ. Hết suy nghĩ này đến suy nghĩ khác, cứ luân phiên như vậy mà mình không biết được đó là hành mà mình nghĩ là “Tôi nghĩ. Tôi sướng. Tôi khổ. Tôi tưởng cái này cái kia. Tôi biết cái này cái nọ.” Đó là mình dính chùm trong đó, mình bấu víu, nắm, giữ, chấp, thủ trong đó thì đó gọi là năm thủ uẩn.

Nắm giữ trong đó, đây là thức thủ uẩn, tức là sự nắm giữ vào trong tổ hợp của nhận thức. Tâm mình là một sự nắm giữ, chấp thủ vào trong tổ hợp nhận thức này. Tổ hợp nhận thức này có sáu cái biết mà nãy giờ chúng ta đang nhận diện.

Vậy nên, chúng ta nhận diện được những cảm giác, những hình bóng trong tâm, những suy nghĩ, lời nói thầm là nhờ có ý thức. Vậy nên ý thức trong sự tu hành là hết sức quan trọng, nếu mình không biết được đó là ý thức thì làm sao mình sử dụng được nó một cách thiện xảo, thông minh, sâu sắc, khéo léo, thiện xảo, đầy đủ công năng, tác dụng, giá trị, lợi ích, sự tu hành của nó?

Cho nên, nhờ mình nhận ra được hình bóng trong tâm, nhờ mình nhận rõ ra được các cảm giác, những suy nghĩ, lời nói thầm thì mình mới có khả năng nhiếp phục và chế ngự, đoạn tận những cái ác, bất thiện pháp. Lau chùi, quét dọn, vệ sinh, tẩy rửa những cái cấu uế, rác bẩn ở bên trong của chúng ta. Đó là nhờ ý thức này, nó rõ biết, khi nó rõ biết rồi thì mới có nhiều sự tác ý, quán chiếu kết hợp thọ, tưởng, hành và thức để mình đưa ra cách xử lý rác bẩn, rác thải, vệ sinh nội tâm của mình.

Còn nếu chúng ta tu mà không biết ý thức thì làm sao mình biết được thọ, tưởng, hành? Còn nếu mình biết được đúng một cái nào thì những cái khác sẽ rõ ràng, rành mạch, rạch ròi. Còn nếu chúng ta chỉ học một uẩn thôi. Ví dụ như giờ tu chỉ trình bày có sắc uẩn thôi thì sự tu như vậy không đầy đủ, nên không có sức mạnh để làm cho có khả năng nhiếp phục, chế ngự được các vô minh, dục ái, sân hận. Mạnh mẽ, lâu đời, nhiều đời nhiều kiếp, vô lượng vô biên vô thỉ kiếp của chúng ta.

Như vậy, chúng ta nhận diện sáu thức là: Rõ biết người, cảnh vật là nhãn thức. Rõ biết âm thanh là nhĩ thức. Rõ biết mùi thơm, thúi là tỷ thức. Rõ biết vị chua, cay là thiệt thức. Rõ biết sự đụng chạm là thân thức. Rõ biết thọ, tưởng, hành là thân thức. Nắm thật kĩ, thật vững, rõ biết thôi, cái biết rõ ràng, không nói thầm gì trong đó. Chỗ này cần phân biệt thật kĩ, vì có nhiều người nhận lầm hành uẩn là thức. Thường mình nghĩ thức là rõ biết phân biệt, rõ biết thôi, cái biết rõ ràng, không nói thầm gì trong đó. Vì nói thầm là hành uẩn.

“Thức sanh khởi do duyên Danh sắc,

Danh sắc diệt thì Thức đoạn diệt

Danh - thọ, tưởng, tư, xúc, tác ý.

Sắc là tứ đại, và sắc tướng.”

(Trích quyển Cửa vào bất tử)

Đây là nói nhân duyên sanh diệt của thức uẩn nên bài này là tóm thâu Thánh trí năm uẩn, không phải là bài kệ thông thường. Tóm thâu Thánh trí của Đức Phật. “Danh - thọ, tưởng, tư, xúc, tác ý”, thọ là cảm thọ, là tưởng, hình bóng trong tâm; tư là hành, suy tư; xúc là sự tiếp xúc, tác ý là sự tác động tâm ý. Đây là danh, chỉ cho phần tâm, tâm có tên nhưng không có hình tướng, nên gọi là danh, tên. “Sắc là tứ đại, và sắc tướng” là nói về đất nước, gió, lửa và những thứ do đất, nước, gió, lửa tạo thành.

Chúng ta nhìn thấy cây này là gì? Cây tùng này là gì? Là sắc, do đất, nước, gió, lửa tạo ra. Nhà này là gì? Là sắc, là gỗ từ đất, nước, gió, lửa mọc lên. Chuông này cũng là sắc, làm bằng đồng, từ đâu có ra đồng? Cây trúc này cũng là sắc, từ đất, nước, gió, lửa tạo thành.

Khi học thì nói vanh vách nhưng trở ra là cái nào ra cái đó. Phải nhìn được bằng trí tuệ là tất cả những cái này đều là tứ đại, là đất, nước, gió, lửa. Đó mới là thể nhập Thánh trí năm uẩn. Giờ nói là nhớ rõ, nhưng khi trở ra nhìn thì có còn là đất, nước, gió, lửa không? Con mắt liếc ngang, liếc dọc thì con mắt đó làm bằng gì? Cũng là tứ đại – đất, nước, gió, lửa. Da thịt, gân máu cũng là đất, nước, gió, lửa tạo thành. Vậy con mắt trìu mến, yêu thương thì con mắt đó làm bằng gì? Cũng là tứ đại.

Vậy tại sao con mắt kia sân si, phừng phực lên, phẫn nộ lên còn con mắt nọ lại yêu thương, say đắm, nhớ nhung, đau khổ?

Nên nhận diện cho được danh và sắc. Nhận diện ra danh và sắc, thấy được sự thật này là tham, sân, si là tắt, lụi tàn hết. Giờ chỉ vừa thấy trời mưa, gió thổi là bối rối ngay, mình cũng vẫn có kéo cửa, cũng có bảo vệ thân nhưng vẫn chánh niệm tỉnh giác.

Bây giờ chỉ một ngọn gió, một vài hạt mưa thổi mà mình chịu không được thì mai sau cái chết đến thì làm sao chịu được? Làm sao an tịnh, lắng dịu được? Làm sao quán chiếu sắc, tứ đại?

Giờ chúng ta ngồi ở đây còn ngày xưa Bồ Tát Tất-đạt-đa ngồi ở đâu? Sáu năm Thái tử đã trải qua. Bao nhiêu đó để chúng ta chiêm nghiệm, thương Đức Phật, kính Đức Phật, nhớ ơn Đức Phật. Phải quán chiếu danh và sắc này.

Nên thức sanh khởi là do duyên danh và sắc, nếu không có danh, sắc, không có thân tứ đại này, không có thọ, tưởng, tư, xúc, tác ý thì thức không sanh khởi. Nên khi tứ đại này diệt thì lúc đó chúng ta thấy là còn phần tâm thức, nếu tâm thức đó chấm dứt tức là thọ, tưởng, tư, xúc, tác ý chấm dứt thì lúc đó thức cũng không hoạt động được. Nó là pháp sanh và diệt, nương náu nhau để sanh khởi. Rõ biết này rất giới hạn, chúng ta tưởng đâu cái biết của chúng ta là thông thiên, thấu địa nhưng không phải vậy, cái biết của mình rất nhỏ.

Mình ngồi ở đây nhưng bên kia ở trước cổng chùa có ai nói xấu mình thì mình không nghe được thì mình không sân hay tức giận. Vậy nên nhĩ thức phải ở trong tầm nhận thức thì mới biết được. Giờ có ai đang ở Cà Mau đang chửi mình thì mình có giận không? Nhưng chừng nào gọi qua điện thoại thì giận vì nó ở trong tầm của nhĩ thức thì nó nhận biết được, còn nếu vượt ngoài cái tầm thì nó không biết.

Vậy nên biết này là biết rất nhỏ hẹp, rất giới hạn, rất nhỏ bé, là kiến, trùng, hạt cát. Sự thấy biết của mình đối với của bậc Thánh nó chỉ là bọt, hạt cát, sợi lông, nó là con ruồi, con nhặng, con muỗi, con rận, con rệp, con dòi. Đừng tự hào với cái biết này, đừng cho biết đây là tôi là ta, là tao, là hơn, là hay, là giỏi, đừng vỗ ngực xưng tên với những biết này. Mình có nói ra và nhận thức vậy, người ta nói đó là sai rồi, thì đáp là “Dạ! Để em coi lại! Chắc là sai rồi, để từ từ coi lại!” Không phải nghe là nhào tới cãi lại ngay, phản ứng ngay lập tức. Nên trầm tĩnh, an tịnh, lắng dịu, sâu sắc.

Nếu mình thấy rõ ràng như vậy mà người ta lại nói đó là không phải, thì đó là “Thức này là vô thường, thấy vậy chưa chắc đó là vậy! Thôi buông xả nhận thức này, đừng chấp thủ vào thức này nữa. Thân là duyên sanh, thọ, tưởng, hành, thức cũng là duyên sanh. Thân là vô thường, họ, tưởng, hành, thức cũng là vô thường. Thôi, buông xả, dễ chịu đi!”

Khi mình thấy, nghe, tiếp xúc, nhận thức, dù cho người khác nói đó là sai rồi, muốn gây, muốn cự, muốn cãi, muốn tranh giành, tranh luận thì mình nên buông xả, dễ chịu, nhẹ nhàng, tâm bình an.

Như vậy, hôm nay chúng ta đã tiếp tục qua phần thứ bảy Cửa vào bất tử, chúng ta bước qua phần nhận diện sáu thức. Kính chúc quý vị có một đêm an lạc trong Chánh pháp.