Trí Tuệ Về Cảm Thọ
Tinh Hoa Nikāya
TRÍ TUỆ VỀ CẢM THỌ
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Các loại cảm thọ PAGEREF _Toc114322825 \h 1
II. Cảm thọ sanh khởi PAGEREF _Toc114322826 \h 2
III. Vị ngọt – sự nguy hiểm của cảm thọ PAGEREF _Toc114322827 \h 5
I. Các loại cảm thọ
Hôm nay Minh Thành xin giới thiệu trí tuệ về cảm thọ. Trong cuộc sống thường ngày chúng ta quen chú trọng cái ăn, cái mặc, cái ở, còn một cái rất quan trọng mà chúng ta quên đó là cảm xúc, cảm giác, cảm thọ của chúng ta, trong kinh Nikāya dùng từ cảm thọ còn Tiếng Việt gọi là cảm xúc, cảm giác. Chúng ta có thể nghe nhiều câu chuyện nhưng sau đó chúng ta quên, có thể gặp nhiều cảnh đẹp nhưng sau đó cũng quên, có thể chúng ta gặp nhiều người nhưng rồi cũng vào dĩ vãng nhưng có những cảm giác, cảm xúc sẽ đi theo chúng ta suốt cả đời không quên. Tại sao lại như vậy? Minh Thành xin lặp lại một câu kinh trong bài kinh Cội rễ của sự vật, trong đó Đức Phật nói rằng tất cả pháp đều hội tụ ở cảm thọ.
"Này chư Hiền, các pháp lấy dục làm căn bản. Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi. Tất cả pháp lấy xúc làm tập khởi. Tất cả pháp lấy thọ làm chỗ tụ hội. Tất cả pháp lấy định làm thượng thủ. Tất cả pháp lấy niệm làm tăng thượng. Tất cả pháp lấy tuệ làm tối thượng. Tất cả pháp lấy giải thoát làm lõi cây" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII. Tám Pháp, IX. Phẩm Niệm, (III) Cội Rễ Của Sự Vật)
Tức là tất cả những gì mình muốn biết trong tâm chỉ cần nhìn trở vào cảm thọ, cảm xúc là sẽ thấy được. Hôm nay chúng ta đi vào bảy trí tuệ về cảm thọ.
Thứ nhất phải biết cảm thọ là gì,
Thứ hai là tại sao có cảm thọ sanh khởi,
Thứ ba là tại sao cảm thọ này chấm dứt,
Thứ tư là phương pháp, là con đường dẫn đến sự chấm dứt các cảm thọ,
Thứ năm là vị ngọt của cảm thọ,
Thứ sáu là sự nguy hiểm và tác hại của cảm thọ,
Thứ bảy là sự xuất ly, thoát ra khỏi các cảm thọ, cảm xúc.
Đây là bảy loại trí tuệ mà chúng ta tu học từ lời dạy cội gốc của Đức Phật để thấy được thật sự trong thân tâm, thấy được nguyên nhân làm mình đau khổ. Đức Phật nói rằng được cảm nhận cho nên gọi là cảm thọ, thọ tức là nhận, Tiếng Việt là cảm xúc, cảm giác, cảm nhận. Có ba loại cảm thọ, đó là cảm thọ vui (lạc thọ), cảm thọ buồn (khổ thọ), cảm thọ không vui không khổ (bất khổ bất lạc thọ).
"Này các Tỳ-kheo, có ba thọ này. Thế nào là ba? Lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Ðây, này các Tỳ-kheo, là ba thọ".
(Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một - Phẩm Có Kệ, I. Thiền Ðịnh)
Đức Phật gom lại có ba đặc tính của cảm thọ, tất cả cảm giác đều không ra khỏi ba cái này, hằng ngay chúng ta sống đều quanh quẩn xung quanh ba loại cảm giác này nhưng mình không biết vì mình chưa học, chưa hiểu, chưa thực tập nhận diện, chưa quán chiếu, mà không biết thì Đức Phật gọi là vô minh đối với các cảm thọ vì vậy bây giờ mình học là mình bắt đầu có minh, có trí, có sự thấy biết đối với cảm thọ.
II. Cảm thọ sanh khởi
Đầu tiên mình biết được có ba loại cảm thọ là vui, khổ và không vui không khổ. Thứ hai tại sao lại có cảm thọ này sanh khởi? Là do mình có sự tiếp xúc. Thứ ba là tại sao cảm giác lại chấm dứt? Cũng do không còn sự tiếp xúc nữa.
"Này các Tỳ-kheo, ba thọ này do xúc sanh, lấy xúc làm căn bản, lấy xúc làm nhân duyên, lấy xúc làm trợ duyên, do duyên xúc tương ứng, các thọ tương ứng, tương ứng, khởi lên. Do sự đoạn diệt của xúc tương ứng, tương ứng các thọ tương ứng, tương ứng được đoạn diệt".
(Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một - Phẩm Có Kệ, X. Căn Bản Của Xúc)
Thứ tư phương pháp đưa đến chấm dứt tất cả mọi cảm thọ đó là Bát Chánh Đạo. Nếu nói về tính chất, đặc tính thì có ba loại cảm giác là khổ, vui, không khổ không vui nhưng nói về phương diện chỗ ở, nơi cư trú của các cảm giác thì có sáu cảm giác, sáu cảm thọ, sáu cảm thọ này do sáu sự tiếp xúc của chúng ta. Do có sự tiếp xúc của con mắt sanh ra cảm giác. Mình chỉ biết khi thấy đẹp là mình thích chứ mình không biết nó trải qua cả một chuỗi nhân duyên, duyên khởi sanh ra, Đức Phật dạy đầu tiên phải có con mắt, thứ hai là phải có hình bóng Minh Thành trên màn ảnh, từ con mắt, có hình sắc trước mặt và khởi lên sự rõ biết hình sắc đó.
Ba cái này là căn, trần, thức giao thoa với nhau trở thành sự tiếp xúc của con mắt, hình sắc và sự rõ biết nên phát sanh ra cảm giác. Nếu hình sắc mình thấy là cảnh đẹp, người đẹp, món đồ đẹp thì mình thích thú, vui vẻ, cảm thọ đó sanh ra có nơi cư trú là con mắt, ở nơi con mắt có cảm giác sướng cho nên mới có câu "nhìn sướng con mắt", đó là thọ do nhãn xúc sanh, khi có cảm giác vui sướng thì có tham muốn, yêu thích.
Chỗ cư trú thứ hai là lỗ tai, lúc đó mình có lỗ tai, có bài nhạc du dương, có sự rõ biết của lỗ tai, ba cái này hội tụ, giao thoa tạo thành sự tiếp xúc của lỗ tai rồi sanh ra cảm giác "đã lỗ tai", danh từ chuyên môn gọi là thọ do nhĩ xúc sanh, tức là cảm giác được sanh ra từ lỗ tai tiếp xúc với âm thanh, nếu là bài nhạc hay thì nghe đã tai, thích thú, khoan khoái, đó là cảm giác vui sướng và mình ham thích trong đó, nếu là tiếng chê bai, chửi rủa thì có cảm giác khổ, lúc đó mình không biết đang có cảm giác khổ và mình bị cái sân, sự tức giận bốc lên, lỗ tai đỏ lên nghe lùng bùng.
Đức Phật nói sáu cảm thọ cư trú ở sáu căn, khi mình vui hay khổ thì căn sẽ có sự biến động, nghĩa là giận thì mắt đỏ, biểu hiện sự giận dữ trong ánh mắt, tai đỏ, nghe lùng bùng, đó là sự sanh khởi của các cảm thọ do tiếp xúc, phần này rất quan trọng trong sự tu học của chúng ta. Nếu mình thấy hoặc nghe một chuyện gì đó mà không thích cũng không ghét thì lúc đó là si mê, vì lúc đó mình không biết các pháp đang sanh khởi, vận hành, căn là tai, trần là âm thanh và sự rõ biết âm thanh đó là thức, ba pháp căn, trần, thức giao thoa tạo thành sự tiếp xúc của lỗ tai là nhĩ xúc, sự tiếp xúc đó sanh ra cảm giác gọi là cảm xúc, cảm giác đó mình cũng không thấy không biết mà cho rằng "tôi đang nghe đã tai" hoặc là "tôi đang giận", như vậy các pháp căn, trần, thức, xúc, thọ, tham hoặc sân, ái hoặc sân, nó sanh khởi ra một chuỗi các pháp mà mình không thấy không biết rồi mình dính chặt vào đó và cho rằng cảm giác đó là tôi, là của tôi thì đó là sự vô minh, không nhìn thấy được sự sanh khởi của các cảm thọ.
Ở trên là mắt, tai, sau đây là mũi, khi bước vào bếp ngửi mùi thơm của thức ăn, có lỗ mũi, có mùi thơm và sự rõ biết các mùi, ba pháp này giao thoa tạo thành sự tiếp xúc của lỗ mũi lập tức cảm giác sanh ra, thấy thích thú thì đó là thọ do tỷ xúc sanh, tức là cảm giác do sự tiếp xúc của lỗ mũi sanh khởi ra, nếu là mùi thơm thì ham thích, vậy là có tham trong đó, nếu là mùi hôi thối thì bực mình, bức xúc, sân lên, đó là xúc tập khởi nên thọ tập khởi, do có sự tiếp xúc mới sanh ra cảm giác, hễ mùi thơm thì thích, mùi hôi thì khó chịu, sân lên.
Bây giờ đến cái lưỡi nếm vị ngon, ưa thích thì lúc đó là lưỡi, có món ăn, có sự rõ biết món ăn, ba cái này giao thoa tạo thành sự tiếp xúc của lưỡi, khi tiếp xúc như vậy tạo thành cảm giác, hoặc là ưa thích, dễ chịu hoặc là khó chịu, không thích, sân lên.
Cái thân mình cũng vậy, do duyên có thân, có sự đụng chạm, mình rõ biết sự đụng chạm, ba cái này giao thoa tức là thân căn, xúc trần, thân thức tạo thành thân xúc, sự tiếp xúc của thân, mình đang đứng mà có người từ phía sau chen lên đạp trúng chân thì sanh lên bực bội, tức giận, nếu được vuốt ve, mơn trớn, mát-xa thì mình ham thích, dễ chịu, khoan khoái. Đó là năm cảm thọ do mắt; tai; mũi; lưỡi; thân tiếp xúc và cái sâu sắc bên trong là khi ngồi một mình để ý trong tâm sẽ thấy có hình bóng của người mình thương, có cảm giác dễ chịu, có suy nghĩ về người đó, lúc đó có sự rõ biết, cái này gọi là ý xúc, sự tiếp xúc của ý, khi để ý lại vào nội tâm sẽ có những hình bóng, cảm giác, nghĩ tưởng hiện ra, sự tiếp xúc ở bên trong thì gọi là ý xúc, nếu là hiện là hình bóng người mình thương sẽ có sự ưa thích, nếu là hình bóng người mình ghét hiện ra thì sân hận, tức giận.
III. Vị ngọt – sự nguy hiểm của cảm thọ
Trí tuệ thứ năm của cảm thọ là vị ngọt của cảm thọ, từ việc tiếp xúc sanh khởi ra cảm giác vui thích, khoan khoái, vui sướng thì đó là vị ngọt của cảm thọ và vị ngọt này gọi là "ngọt mật chết ruồi", vị ngọt này nhận chìm thế giới. Tất cả đời sống đều chạy theo cảm giác vui thích, chạy xe ôm suốt ngày cực khổ mà tối đi nhậu hết tiền, thậm chí có khi xảy ra đánh nhau, thiếu nợ, như vậy người ta thích nhậu nhẹt vì người ta thích vị ngọt trong việc nhậu đó. Người ta biết hút thuốc là bệnh, gây hại cho sức khỏe không những cho người hút mà cả người xung quanh nhưng người ta bỏ không được vì vị ngọt của cảm giác khi nhả khói phun mây làm người ta thích thú. Người xưa có câu "miếng ăn là miếng tồi tàn, mất đi một miếng lộn gan lên đầu", tranh giành thức ăn vì vị ngọt của lưỡi khi nếm thức ăn. Chúng sanh chết với vị ngọt này, đau khổ với vị ngọt này, trong kinh Đức Phật nói thân này là thiếu thốn, thân này là khát khao, thân này là nô lệ cho tham ái.
"Thế giới (thân này) là thiếu thốn, khao khát, nô lệ cho tham ái".
(Trung Bộ Kinh, 82. Kinh Ratthapàla)
Thân này lúc nào cũng cảm thấy thiếu thốn cảm giác được vui thích, khoan khoái, sung sướng nên lúc nào cũng đi tìm, đi tìm sắc đẹp, đi tìm tiếng hay, đi tìm cảnh đẹp để nhìn cho đã mắt, nghe cho sướng tai, đi tìm mùi thơm hoặc tìm vị ngon, thời điểm này không kiềm chế được mà chạy ra ngoài tìm đồ ăn ngon theo mong muốn sẽ có nguy cơ bị nhiễm dịch bệnh, vì vậy mà trước khi có những chỉ thị mới về phong tỏa, cách ly là các siêu thị trở nên chật kín người đi mua sắm tích trữ đồ ăn, hết đồ ăn thì không nói nhưng nhiều khi còn cũng ráng phải đi mua, tranh giành với mọi người dù biết cái đó là nguy hiểm, có khả năng nhiễm dịch bệnh, như vậy vị ngọt này làm chúng ta vất vả, nhọc nhằn, trong tâm có cảm giác thèm muốn, khao khát, đòi hỏi nên chúng ta là nô lệ cho những cảm giác vui sướng đó.
Lúc chưa quen nhau sống bình thường, bây giờ quen rồi mà không có người đó bên cạnh là chết, không sống nổi, chia tay rồi bị bệnh tương tư hoặc là tự vẫn, đó là do vị ngọt trong sự xúc chạm nam nữ đem lại cho hai người làm họ không bỏ được, đó là thọ do thân xúc sanh, nghĩa là cảm giác do sự đụng chạm, tiếp xúc đem lại.
Nhìn ra ngoài thấy biết bao đau khổ trên cuộc đời này là do chạy theo đi tìm vị ngọt, mình khổ vì cái này rất nhiều, gặp người nào lạ mặt mà được khen nức nở rồi người ta mượn tiền, lỡ được khen rồi và vì sĩ diện nên cho mượn, sau đó không đòi được là tức giận, phiền não, cho nên chúng ta bị vị ngọt chi phối suốt ngày suốt đêm, suốt tuần suốt tháng, suốt năm, suốt nhiều năm, suốt cuộc đời và nhiều đời nhiều kiếp trong vòng luân hồi sanh tử này, chúng ta bị cảm thọ trói cột cho nên Đức Thế Tôn nói rằng kẻ vô văn phàm phu không nghe chánh pháp, không thực hành chánh pháp, không thấy không biết về cảm thọ, không có trí tuệ về cảm giác cảm xúc nên gặp cảm giác vui thì người này giống như người đang bị trói buộc, gặp cảm giác khổ giống như người bị trói cột, gặp cảm giác không vui không khổ, cảm giác đều đều thì người này cũng giống như người đang bị trói cột, ba cảm giác đều bị trói cột vì vui thì tham đắm, dục ái, khổ là sân hận, bực tức, bức xúc, cảm giác bình thường đều đều thì chúng ta lại không biết nó là vô thường, cứ nghĩ nó là thường, mình nghĩ cuộc sống này lúc nào cũng như vậy nhưng khi dịch bệnh xuất hiện thì mọi người đều hoảng loạn, bất ngờ.
"Này các Tỳ-kheo, kẻ vô văn phàm phu khi cảm xúc khổ thọ; thời sầu muộn, than vãn, khóc lóc, đấm ngực, đi đến bất tỉnh. Người ấy cảm giác hai cảm thọ, cảm thọ về thân và cảm thọ về tâm. Cảm xúc bởi khổ thọ ấy, người ấy cảm thấy sân hận (patigha). Do cảm thấy sân hận đối với khổ thọ ấy, sân tùy miên đối với khổ thọ được tồn chỉ tùy miên (anuseti). Cảm xúc bởi khổ thọ, người ấy hoan hỷ dục lạc. Vì sao? Vì rằng, này các Tỳ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không tìm thấy một sự xuất ly khổ thọ nào khác, ngoài dục lạc. Do hoan hỷ dục lạc ấy, tham tùy miên đối với lạc thọ tồn tại. Người ấy không như thật rõ biết sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của các cảm thọ ấy. Do người ấy không như thật rõ biết sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của các cảm thọ ấy, nên vô minh tùy miên đối với bất khổ bất lạc thọ tồn tại. Nếu người ấy cảm thọ cảm giác lạc thọ, người ấy cảm thọ cảm giác như người bị trói buộc (sannutto). Nếu người ấy cảm thọ cảm giác khổ thọ, người ấy cảm thọ cảm giác như người bị trói buộc. Nếu người ấy cảm thọ cảm giác bất khổ bất lạc thọ, người ấy cảm thọ cảm giác như người bị trói buộc. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là kẻ vô văn phàm phu bị trói buộc bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng người ấy bị trói buộc bởi đau khổ".
(Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một - Phẩm Có Kệ, VI. Với Mũi Tên)
Chúng ta cho rằng cuộc sống này là như vậy, cứ bình thường, đều đều như vậy mà chúng ta không biết cái bình thường đó là vô thường, không có cái nào bình thường, khi nó biến đổi là chúng ta bất an, lo lắng, sợ hãi, bàng hoàng. Lúc còn cha mẹ thì không quan tâm, chăm sóc mà cứ chủ quan, nghĩ ba mẹ có làm sao đâu, đến khi cha mẹ bệnh tật hoặc thậm chí qua đời thì lúc đó mới thấy hối tiếc lúc cha mẹ còn sống không phụng dưỡng, hiếu thảo cho nên Đức Phật nói mình vô minh, không thấy không biết cảm giác không khổ không vui này là vô thường cho nên cái trí thứ sáu là sự nguy hiểm và tác hại của cảm thọ chính là vô thường, khổ đau, chịu sự biến hoại.
"Tánh vô thường, khổ, chịu sự biến hoại của thọ là sự nguy hiểm của thọ".
(Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Hai - Phẩm Sống Một Mình, VII. Tám Lần (1) (Atthaka))
Tính chất của cảm thọ là vô thường, khổ đau, biến đổi và tan hoại, hoại diệt, đó là sự nguy hiểm và tác hại của cảm giác, cảm thọ nhưng điều đau xót là chúng ta lại đi tìm vị ngọt, ưa thích vị ngọt, đam mê, bị trói buộc trong sự sung sướng nhưng chúng ta không thấy mặt trái của nó là biến đổi, tan hoại, vô thường, chúng ta chỉ thấy vị ngọt mà không hề thấy được sự nguy hại của nó. Trong sự tu của chúng điều cực kì quan trọng là quán chiếu về tính chất nguy hiểm và tác hại của các cảm giác này, nếu mình không thấy được mặt này thì không thể xuất ly ra khỏi các cảm giác được. Sự nhiếp phục, sự đoạn tận dục và tham đối với cảm giác chính là sự thoát ra khỏi cảm giác, cảm thọ.
"Sự nhiếp phục dục tham, sự đoạn tận dục tham đối với thọ là sự xuất ly của thọ". (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Hai - Phẩm Sống Một Mình, VII. Tám Lần (1) (Atthaka))
Làm thế nào để chúng ta có thể nhiếp phục được cảm giác vui sướng, thích thú này? Làm sao để chúng ta chấm dứt được sự tham đắm, say đắm, đam mê đối với những cảm giác này? Đầu tiên phải thấy được nó là vô thường, Đức Phật dạy quán chiếu cảm giác vui là khổ đau, quán chiếu cảm giác đau khổ là mũi tên, quán chiếu cảm giác thường thường, đều đều, không khổ không vui là vô thường.
"-- Này các Tỳ-kheo, có ba cảm thọ này. Thế nào là ba? Lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Lạc thọ, này các Tỳ-kheo, cần phải thấy là khổ. Khổ thọ cần phải thấy là mũi tên. Bất khổ bất lạc thọ cần phải thấy là vô thường"
(Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một - Phẩm Có Kệ, V. Cần Phải Quán Kiến)
Tại sao phải quán cảm giác vui sướng là đau khổ? Chẳng lẽ Đức Thế Tôn dạy mình đi ngược sự thật hay sao? Không phải vậy, chúng ta thấy đua xe lạng lách cười giỡn có vui không? Lúc đầu vui nhưng khi té xe gây tai nạn, trầy xước tay chân, thậm chí gãy tay chân hoặc gây tai nạn chết người thì nó chính là khổ đau. Lúc kéo băng nhóm đánh người ta ra vẻ ta đây rất oai phong, hùng dũng nhưng hậu quả là vào viện, tù tội, gây ra cái chết, đó là lý do Đức Phật nói quán chiếu cảm giác vui sướng là khổ đau, vui sướng trong dục tham, sân hận, tức giận, vui sướng trong ta đây, vô minh, bản ngã thì đó là vui sướng trong đau khổ.
Vị ngọt trong việc sử dụng các chất kích thích vui sướng, các thanh thiếu niên tổ chức tiệc tùng hàng chục, hàng trăm người để sử dụng các chất cấm đó, có được sự vui vẻ, sung sướng khi sử dụng các chất kích thích nhưng hậu quả nặng nề, thân tàn ma dại, thân bại danh diệt, gia đình tan nát, cha mẹ buồn khổ, xã hội bất an cho nên cảm giác vui sướng đó chính là sự đau khổ.
Nếu chúng ta nhìn thấy được sự nguy hiểm và tác hại của những thứ đó thì chúng ta mới có khả năng nhiếp phục được lòng tham muốn với những thứ ác bất thiện pháp đó, nếu chúng ta chỉ thấy được vị ngọt trong những việc đó thì chúng ta sẽ đau khổ lâu dài trong hiện tại và tương lai, chính vì vậy Đức Phật dạy phải quán cảm giác vui là đau khổ để không chạy theo vị ngọt của những cảm giác vui sướng trong tham, sân, si trong vô minh.
Tiếp theo, tại sao cần quán cảm giác đau khổ là mũi tên? Bây giờ không dám bước ra đường, tiếp xúc người quen cũng sợ, thậm chí ở trong nhà đóng kín cửa cũng bị nhiễm dịch bệnh, trong một gia đình ai cũng qua đời hết vì dịch bệnh, như vậy sự đau khổ này giống như mũi tên. Chúng ta thấy cảnh bệnh tật, sân hận, đấu đá, hơn thua nhau, cảnh chết chóc, nằm trên giường bệnh như mũi tên ghim vào tim mình, những đứa nhỏ mất cha mất mẹ, thậm chí mất cả cha mẹ trong trận đại dịch nhưng chúng nó vẫn ngây ngô không biết gì hỏi cha mẹ chừng nào về, có gia đình chỉ trong vài ngày không còn ai sống sót, chỉ còn căn nhà trống vắng, lạnh lẽo, điều này chẳng khác vì mũi tên ghim vào tim đau thắt lại, vì thế chúng ta phải quán cảm giác đau khổ là mũi tên để thấy tính chất đột ngột, đột biến, đột tử, đột quỵ của cuộc đời này, đó cũng chính là ý nghĩa của chữ "vô thường", đột ngột nghe nhiễm bệnh phải đi cách ly, mấy ngày sau lại nghe tin chết rồi, đó lại là những người thân thương, là bà con dòng họ, bạn bè thân quen của mình, thậm chí là những người trong gia đình, đó chính là sự vô thường, biến đổi và tan hoại, không có gì vững chắc và bền lâu, trong tích tắc là thân xác này sẽ nằm xuống, ngã xuống, sụp xuống, không còn tri giác nữa, chỉ như khúc cây khô ai muốn làm gì thì làm.
Chúng ta phải quán chiếu những cảm giác, hình hài này, thân xác này, những suy nghĩ này là vô thường, biến đổi, tan hoại, tự tánh của nó là đổi khác, chỉ có quán như vậy thì chúng ta mới tháo gỡ, mới cắt được những sự trói buộc, ham muốn trong các cảm thọ tham, sân, si, bản ngã, những cảm thọ ganh tỵ, đố kỵ, đấu tranh, khẩu tranh với nhau, hơn nhau từng lời nói, từng ánh mắt, đấu đá nhau trong từng cử chỉ hành động, đó là tự mình làm khổ chính mình, tự mình thắp lửa để thiêu đốt chính mình.
Nếu mình ham thích trong cảm thọ vui sẽ giống như rơi vũng lầy, lún sâu trong đầm lầy. Cảm thọ sân hận, tức giận như một đống lửa để thiêu đốt mình, cảm giác đó trước tiên đốt mình, con mắt, lỗ tai đỏ lên, quơ tay múa chân rồi làm cho những người xung quanh khổ đau, sống chung với người hay sân hận rất khổ sở, ngày nào cũng có chuyện cự cãi, căng thẳng. Cảm giác lờ đờ, tâm mê muội không tỉnh táo, không chánh niệm giống như màn đêm, đó là mình sống trong bóng tối, sống trong trường dạ vô minh.
Chúng ta cần nhớ vị trí trú ẩn của tham, sân, si, đầu tiên là dục trú ẩn ở bộ phận sinh dục, sân ở ngay lồng ngực, si là ở trên con mắt và cái đầu, khi mình lờ đờ buồn ngủ là con mắt nặng nề sụp xuống, đầu gục lên gục xuống, đó là ba chỗ cư trú của tham, sân, si và sự quán chiếu, tác ý là nhằm đánh đuổi ba cảm thọ này ra khỏi thân tâm, dùng con mắt tâm nhìn vào ngay chỗ phát ra tham, sân, si rồi quán chiếu, tác ý "tan biến đi, tham hoài thì khổ hoài. Ngươi đã trói buộc, hành hạ ta, ngươi đã thèm khát, thiếu thốn, đòi hỏi, áp đảo ta bao nhiêu đó là đủ rồi. Bây giờ ngươi hãy tan biến hoàn toàn khỏi tâm ta thành mây, thành khói, thành hư không đi", từng lời tác ý của mình hướng vào chỗ phát sanh dục, sân, si thì mình sẽ thấy được cảm giác ngay đó tan ra, lắng dịu, giống như viên thuốc sủi bỏ vào nước tan ra, khi mình tác động tâm ý quở trách, rầy la, đuổi nó ra khỏi thân tâm thì nó sẽ tan biến, cái đó gọi là "pháp do Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu".
Khi cảm thọ sân đang sanh khởi, đốt nóng trong lồng ngực thì mình cũng tác ý giống vậy "ngươi đã đốt ta vô lượng vô biên kiếp rồi, ngươi đốt ra trăm ngàn vạn kiếp rồi, ta khổ bao nhiêu đó đủ rồi. Hãy lắng dịu đi, tan biến hoàn toàn đi", dùng con mắt tâm hướng vào ngay lồng ngực rồi hỏi cảm giác sân "mày thích đốt lắm phải không? Mày muốn phóng hỏa để mày khổ, người khổ phải không, hành hạ mình, hành hạ người phải không? Sống mát mẻ, thanh lương lại không chịu, làm ơn đi chỗ khác giùm để tao tu, tan biến hoàn toàn khỏi tâm ta đi", tác ý như vậy giống như dùng cây chổi quét sự sân hận ra hỏi thân tâm, đuổi nó như đuổi tà, "an tịnh, lắng dịu, mát mẻ, ngọt ngào đi, làm ơn đừng có giận nữa", sau khi tác ý xong là trải tình thương rộng khắp hữu tình chúng sanh.
Mình biết rằng cơn giận này là một hiểm họa, là tai hại, là cái thứ ác độc cho nên không chấp nhận nó, thấy trong nhà có đám lửa thì phải lập tức lấy nước dập lửa, thế thì tại sao căn nhà bên ngoài mình biết lấy nước dập lửa trong khi căn nhà tâm linh lại để nó bắt lửa phóng hỏa vậy? Như vậy có phải mình si mê không? Có phải mình vô minh không? Có phải mình không thấy không biết về cảm giác thọ rồi để nó tàn phá mình, ăn không ngon ngủ không yên, cảm giác tức giận đi theo miên man suốt nhiều năm thậm chí là giận sống để dạ chết đem theo, "vô minh mà nghĩ rằng thông minh, ôm lửa than trong lòng chỉ để đốt lửa lên", mình la rầy, quở trách tâm chính mình, cứ làm như vậy rồi cảm giác đó trong lồng ngực sẽ lắng dịu, an tịnh, dễ chịu. Tâm này là một đứa trẻ rất ương ngạnh, cứng đầu nên rất cần sự giáo dục, dạy dỗ và huấn luyện, tức là cảm giác này cần sự huấn luyện, giáo dục, dạy dỗ.
"Thương lâu rồi ta sống
Trong sự quên lãng mình
Ta bỏ quên cảm thọ
Nên để mình khổ đau.
Thương lâu rồi ta thiếu
Thương hiểu cảm thọ mình
Để tham, sân hành hạ
Ta để mình khổ đau
Nay hiểu rồi thọ ạ
Ta nhớ đến thọ rồi
Thôi thọ đừng sân giận
Thọ thương mình nhiều nha"
(Cửa vào bất tử - Chơn Tín Toàn)
Bây giờ ta đã thấy đã biết nên tội nghiệp cảm xúc này, mình hành tội những người thân ở chung nhà với mình, tâm tính rắc rối, khó chịu, bực bội, cộc cằn, sân si, nhất là mùa dịch phải ở trong nhà nên cứ đi ra đi vào thấy gương mặt cau có là lửa than lại bùng lên làm khổ lẫn nhau, chính vì thế cần trải tâm từ, mở tâm thương cho mát mẻ, dịu dàng, ngọt ngào, thanh lương, phải nhớ dùng tâm thương để làm lắng dịu cảm thọ sân hận, khó chịu đó. Bây giờ đến cảm giác si dại nơi con mắt, chúng ta đã ngủ vô lượng vô biên kiếp rồi nhưng đến giờ nghe pháp là ngủ, ngồi thiền là ngủ cho nên phải tác ý "suốt ngày ăn với ngủ để làm Trư Bát Giới hay sao?", tác ý mạnh mẽ như vậy rồi mở to mắt ra, cảm thọ thật mạnh trong ánh mắt và mở tầm nhìn rộng khắp mọi nơi, nếu có vách tường là quán chiếu ánh nhìn xuyên ra bức tường, xuyên qua nóc nhà tới trời xanh, làm cho tâm rộng lớn rộng mở khắp vô lượng vô biên như bầu trời, như vậy mình hướng vào con mắt và cái đầu mà đánh tan cảm thọ si dại, lờ đờ, làm một chút là cái đầu minh mẫn, sáng suốt, người tu là phải trí tuệ như vậy chứ đừng âm u, vô minh.
Như vậy mình giải phá ba loại cảm thọ vui, khổ, không vui không khổ, tham, sân, si bằng sự quay lại hướng nội nhìn vào bên trong, lúc nào cũng nhìn trong thân lúc này cảm giác đang như thế nào, nếu có dục tham thì dùng quán bất tịnh để giải phá, quán bộ xương để giảm bớt lòng dục, lòng tham, lòng ái, nếu có si mê thì phải quán tinh cần, tinh tấn, dõng mãnh, trí tuệ, mắt mở sáng, tâm tỏ, cảm giác toàn thân là an tịnh, lắng dịu, ngọt ngào trong sự tu tập.
Hôm nay Minh Thành chia sẻ cho quý vị trí tuệ về cảm thọ, quý vị nhớ rằng có ba cảm thọ hoặc sáu cảm thọ. Ba cảm thọ là dễ chịu, khó chịu, không dễ chịu không khó chịu, trong ba cảm thọ này tất cả chúng ta đều bị chi phối, áp đảo, nhận chìm. Khi tham dục nổi lên là mình không còn nhận biết gì nữa mà bị nó lôi kéo xuống vũng lầy, khi nóng giận sanh khởi mà không có chánh niệm là mình bị nó đốt thiêu, khi si mê sanh khởi mà không tỉnh táo là mình sống trong màn đêm u tối.
Sự tu học của mình là hướng vào nội luôn để ý cảm giác toàn bộ cơ thể, quý vị nghe thêm bài cảm giác toàn thân mà Minh Thành đã chia sẻ rồi chịu khó thực tập theo đó để giải phá những cảm giác của tham dục, sân hận, si mê, vô minh, bản ngã bên trong, khi thấy rõ được những cảm giác này thì sự tu tập của mình sẽ rõ ràng, thiết thực, hiện tại. Tự mình thấy được tham, sân, si còn nhiều hay ít trong tâm, bản ngã trong tâm còn nhiều hay ít, sự nhiếp phục của mình từ từ sẽ đi đến thành công. Mình không bị vị ngọt của cảm thọ nhận chìm nữa mà thấy được tính chất nguy hiểm và tác hại, sự vô thường, sự đau khổ, chịu sự biến hoại của các cảm giác, nó không còn hoài mà sẽ tan hoại, từ đó tâm mình sẽ thoát ra, không còn bị ràng buộc trong các cảm thọ, mình sẽ có chánh niệm và tỉnh giác trong tất cả cảm thọ, đó là trí tuệ trong giáo pháp của Đức Như Lai. Kính chúc quý vị có giấc ngủ an lành trong chánh niệm.
./.
TRÍ TUỆ VỀ CẢM THỌ
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Các loại cảm thọ PAGEREF _Toc114322825 \h 1
II. Cảm thọ sanh khởi PAGEREF _Toc114322826 \h 2
III. Vị ngọt – sự nguy hiểm của cảm thọ PAGEREF _Toc114322827 \h 5
I. Các loại cảm thọ
Hôm nay Minh Thành xin giới thiệu trí tuệ về cảm thọ. Trong cuộc sống thường ngày chúng ta quen chú trọng cái ăn, cái mặc, cái ở, còn một cái rất quan trọng mà chúng ta quên đó là cảm xúc, cảm giác, cảm thọ của chúng ta, trong kinh Nikāya dùng từ cảm thọ còn Tiếng Việt gọi là cảm xúc, cảm giác. Chúng ta có thể nghe nhiều câu chuyện nhưng sau đó chúng ta quên, có thể gặp nhiều cảnh đẹp nhưng sau đó cũng quên, có thể chúng ta gặp nhiều người nhưng rồi cũng vào dĩ vãng nhưng có những cảm giác, cảm xúc sẽ đi theo chúng ta suốt cả đời không quên. Tại sao lại như vậy? Minh Thành xin lặp lại một câu kinh trong bài kinh Cội rễ của sự vật, trong đó Đức Phật nói rằng tất cả pháp đều hội tụ ở cảm thọ.
"Này chư Hiền, các pháp lấy dục làm căn bản. Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi. Tất cả pháp lấy xúc làm tập khởi. Tất cả pháp lấy thọ làm chỗ tụ hội. Tất cả pháp lấy định làm thượng thủ. Tất cả pháp lấy niệm làm tăng thượng. Tất cả pháp lấy tuệ làm tối thượng. Tất cả pháp lấy giải thoát làm lõi cây" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII. Tám Pháp, IX. Phẩm Niệm, (III) Cội Rễ Của Sự Vật)
Tức là tất cả những gì mình muốn biết trong tâm chỉ cần nhìn trở vào cảm thọ, cảm xúc là sẽ thấy được. Hôm nay chúng ta đi vào bảy trí tuệ về cảm thọ.
Thứ nhất phải biết cảm thọ là gì,
Thứ hai là tại sao có cảm thọ sanh khởi,
Thứ ba là tại sao cảm thọ này chấm dứt,
Thứ tư là phương pháp, là con đường dẫn đến sự chấm dứt các cảm thọ,
Thứ năm là vị ngọt của cảm thọ,
Thứ sáu là sự nguy hiểm và tác hại của cảm thọ,
Thứ bảy là sự xuất ly, thoát ra khỏi các cảm thọ, cảm xúc.
Đây là bảy loại trí tuệ mà chúng ta tu học từ lời dạy cội gốc của Đức Phật để thấy được thật sự trong thân tâm, thấy được nguyên nhân làm mình đau khổ. Đức Phật nói rằng được cảm nhận cho nên gọi là cảm thọ, thọ tức là nhận, Tiếng Việt là cảm xúc, cảm giác, cảm nhận. Có ba loại cảm thọ, đó là cảm thọ vui (lạc thọ), cảm thọ buồn (khổ thọ), cảm thọ không vui không khổ (bất khổ bất lạc thọ).
"Này các Tỳ-kheo, có ba thọ này. Thế nào là ba? Lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Ðây, này các Tỳ-kheo, là ba thọ".
(Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một - Phẩm Có Kệ, I. Thiền Ðịnh)
Đức Phật gom lại có ba đặc tính của cảm thọ, tất cả cảm giác đều không ra khỏi ba cái này, hằng ngay chúng ta sống đều quanh quẩn xung quanh ba loại cảm giác này nhưng mình không biết vì mình chưa học, chưa hiểu, chưa thực tập nhận diện, chưa quán chiếu, mà không biết thì Đức Phật gọi là vô minh đối với các cảm thọ vì vậy bây giờ mình học là mình bắt đầu có minh, có trí, có sự thấy biết đối với cảm thọ.
II. Cảm thọ sanh khởi
Đầu tiên mình biết được có ba loại cảm thọ là vui, khổ và không vui không khổ. Thứ hai tại sao lại có cảm thọ này sanh khởi? Là do mình có sự tiếp xúc. Thứ ba là tại sao cảm giác lại chấm dứt? Cũng do không còn sự tiếp xúc nữa.
"Này các Tỳ-kheo, ba thọ này do xúc sanh, lấy xúc làm căn bản, lấy xúc làm nhân duyên, lấy xúc làm trợ duyên, do duyên xúc tương ứng, các thọ tương ứng, tương ứng, khởi lên. Do sự đoạn diệt của xúc tương ứng, tương ứng các thọ tương ứng, tương ứng được đoạn diệt".
(Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một - Phẩm Có Kệ, X. Căn Bản Của Xúc)
Thứ tư phương pháp đưa đến chấm dứt tất cả mọi cảm thọ đó là Bát Chánh Đạo. Nếu nói về tính chất, đặc tính thì có ba loại cảm giác là khổ, vui, không khổ không vui nhưng nói về phương diện chỗ ở, nơi cư trú của các cảm giác thì có sáu cảm giác, sáu cảm thọ, sáu cảm thọ này do sáu sự tiếp xúc của chúng ta. Do có sự tiếp xúc của con mắt sanh ra cảm giác. Mình chỉ biết khi thấy đẹp là mình thích chứ mình không biết nó trải qua cả một chuỗi nhân duyên, duyên khởi sanh ra, Đức Phật dạy đầu tiên phải có con mắt, thứ hai là phải có hình bóng Minh Thành trên màn ảnh, từ con mắt, có hình sắc trước mặt và khởi lên sự rõ biết hình sắc đó.
Ba cái này là căn, trần, thức giao thoa với nhau trở thành sự tiếp xúc của con mắt, hình sắc và sự rõ biết nên phát sanh ra cảm giác. Nếu hình sắc mình thấy là cảnh đẹp, người đẹp, món đồ đẹp thì mình thích thú, vui vẻ, cảm thọ đó sanh ra có nơi cư trú là con mắt, ở nơi con mắt có cảm giác sướng cho nên mới có câu "nhìn sướng con mắt", đó là thọ do nhãn xúc sanh, khi có cảm giác vui sướng thì có tham muốn, yêu thích.
Chỗ cư trú thứ hai là lỗ tai, lúc đó mình có lỗ tai, có bài nhạc du dương, có sự rõ biết của lỗ tai, ba cái này hội tụ, giao thoa tạo thành sự tiếp xúc của lỗ tai rồi sanh ra cảm giác "đã lỗ tai", danh từ chuyên môn gọi là thọ do nhĩ xúc sanh, tức là cảm giác được sanh ra từ lỗ tai tiếp xúc với âm thanh, nếu là bài nhạc hay thì nghe đã tai, thích thú, khoan khoái, đó là cảm giác vui sướng và mình ham thích trong đó, nếu là tiếng chê bai, chửi rủa thì có cảm giác khổ, lúc đó mình không biết đang có cảm giác khổ và mình bị cái sân, sự tức giận bốc lên, lỗ tai đỏ lên nghe lùng bùng.
Đức Phật nói sáu cảm thọ cư trú ở sáu căn, khi mình vui hay khổ thì căn sẽ có sự biến động, nghĩa là giận thì mắt đỏ, biểu hiện sự giận dữ trong ánh mắt, tai đỏ, nghe lùng bùng, đó là sự sanh khởi của các cảm thọ do tiếp xúc, phần này rất quan trọng trong sự tu học của chúng ta. Nếu mình thấy hoặc nghe một chuyện gì đó mà không thích cũng không ghét thì lúc đó là si mê, vì lúc đó mình không biết các pháp đang sanh khởi, vận hành, căn là tai, trần là âm thanh và sự rõ biết âm thanh đó là thức, ba pháp căn, trần, thức giao thoa tạo thành sự tiếp xúc của lỗ tai là nhĩ xúc, sự tiếp xúc đó sanh ra cảm giác gọi là cảm xúc, cảm giác đó mình cũng không thấy không biết mà cho rằng "tôi đang nghe đã tai" hoặc là "tôi đang giận", như vậy các pháp căn, trần, thức, xúc, thọ, tham hoặc sân, ái hoặc sân, nó sanh khởi ra một chuỗi các pháp mà mình không thấy không biết rồi mình dính chặt vào đó và cho rằng cảm giác đó là tôi, là của tôi thì đó là sự vô minh, không nhìn thấy được sự sanh khởi của các cảm thọ.
Ở trên là mắt, tai, sau đây là mũi, khi bước vào bếp ngửi mùi thơm của thức ăn, có lỗ mũi, có mùi thơm và sự rõ biết các mùi, ba pháp này giao thoa tạo thành sự tiếp xúc của lỗ mũi lập tức cảm giác sanh ra, thấy thích thú thì đó là thọ do tỷ xúc sanh, tức là cảm giác do sự tiếp xúc của lỗ mũi sanh khởi ra, nếu là mùi thơm thì ham thích, vậy là có tham trong đó, nếu là mùi hôi thối thì bực mình, bức xúc, sân lên, đó là xúc tập khởi nên thọ tập khởi, do có sự tiếp xúc mới sanh ra cảm giác, hễ mùi thơm thì thích, mùi hôi thì khó chịu, sân lên.
Bây giờ đến cái lưỡi nếm vị ngon, ưa thích thì lúc đó là lưỡi, có món ăn, có sự rõ biết món ăn, ba cái này giao thoa tạo thành sự tiếp xúc của lưỡi, khi tiếp xúc như vậy tạo thành cảm giác, hoặc là ưa thích, dễ chịu hoặc là khó chịu, không thích, sân lên.
Cái thân mình cũng vậy, do duyên có thân, có sự đụng chạm, mình rõ biết sự đụng chạm, ba cái này giao thoa tức là thân căn, xúc trần, thân thức tạo thành thân xúc, sự tiếp xúc của thân, mình đang đứng mà có người từ phía sau chen lên đạp trúng chân thì sanh lên bực bội, tức giận, nếu được vuốt ve, mơn trớn, mát-xa thì mình ham thích, dễ chịu, khoan khoái. Đó là năm cảm thọ do mắt; tai; mũi; lưỡi; thân tiếp xúc và cái sâu sắc bên trong là khi ngồi một mình để ý trong tâm sẽ thấy có hình bóng của người mình thương, có cảm giác dễ chịu, có suy nghĩ về người đó, lúc đó có sự rõ biết, cái này gọi là ý xúc, sự tiếp xúc của ý, khi để ý lại vào nội tâm sẽ có những hình bóng, cảm giác, nghĩ tưởng hiện ra, sự tiếp xúc ở bên trong thì gọi là ý xúc, nếu là hiện là hình bóng người mình thương sẽ có sự ưa thích, nếu là hình bóng người mình ghét hiện ra thì sân hận, tức giận.
III. Vị ngọt – sự nguy hiểm của cảm thọ
Trí tuệ thứ năm của cảm thọ là vị ngọt của cảm thọ, từ việc tiếp xúc sanh khởi ra cảm giác vui thích, khoan khoái, vui sướng thì đó là vị ngọt của cảm thọ và vị ngọt này gọi là "ngọt mật chết ruồi", vị ngọt này nhận chìm thế giới. Tất cả đời sống đều chạy theo cảm giác vui thích, chạy xe ôm suốt ngày cực khổ mà tối đi nhậu hết tiền, thậm chí có khi xảy ra đánh nhau, thiếu nợ, như vậy người ta thích nhậu nhẹt vì người ta thích vị ngọt trong việc nhậu đó. Người ta biết hút thuốc là bệnh, gây hại cho sức khỏe không những cho người hút mà cả người xung quanh nhưng người ta bỏ không được vì vị ngọt của cảm giác khi nhả khói phun mây làm người ta thích thú. Người xưa có câu "miếng ăn là miếng tồi tàn, mất đi một miếng lộn gan lên đầu", tranh giành thức ăn vì vị ngọt của lưỡi khi nếm thức ăn. Chúng sanh chết với vị ngọt này, đau khổ với vị ngọt này, trong kinh Đức Phật nói thân này là thiếu thốn, thân này là khát khao, thân này là nô lệ cho tham ái.
"Thế giới (thân này) là thiếu thốn, khao khát, nô lệ cho tham ái".
(Trung Bộ Kinh, 82. Kinh Ratthapàla)
Thân này lúc nào cũng cảm thấy thiếu thốn cảm giác được vui thích, khoan khoái, sung sướng nên lúc nào cũng đi tìm, đi tìm sắc đẹp, đi tìm tiếng hay, đi tìm cảnh đẹp để nhìn cho đã mắt, nghe cho sướng tai, đi tìm mùi thơm hoặc tìm vị ngon, thời điểm này không kiềm chế được mà chạy ra ngoài tìm đồ ăn ngon theo mong muốn sẽ có nguy cơ bị nhiễm dịch bệnh, vì vậy mà trước khi có những chỉ thị mới về phong tỏa, cách ly là các siêu thị trở nên chật kín người đi mua sắm tích trữ đồ ăn, hết đồ ăn thì không nói nhưng nhiều khi còn cũng ráng phải đi mua, tranh giành với mọi người dù biết cái đó là nguy hiểm, có khả năng nhiễm dịch bệnh, như vậy vị ngọt này làm chúng ta vất vả, nhọc nhằn, trong tâm có cảm giác thèm muốn, khao khát, đòi hỏi nên chúng ta là nô lệ cho những cảm giác vui sướng đó.
Lúc chưa quen nhau sống bình thường, bây giờ quen rồi mà không có người đó bên cạnh là chết, không sống nổi, chia tay rồi bị bệnh tương tư hoặc là tự vẫn, đó là do vị ngọt trong sự xúc chạm nam nữ đem lại cho hai người làm họ không bỏ được, đó là thọ do thân xúc sanh, nghĩa là cảm giác do sự đụng chạm, tiếp xúc đem lại.
Nhìn ra ngoài thấy biết bao đau khổ trên cuộc đời này là do chạy theo đi tìm vị ngọt, mình khổ vì cái này rất nhiều, gặp người nào lạ mặt mà được khen nức nở rồi người ta mượn tiền, lỡ được khen rồi và vì sĩ diện nên cho mượn, sau đó không đòi được là tức giận, phiền não, cho nên chúng ta bị vị ngọt chi phối suốt ngày suốt đêm, suốt tuần suốt tháng, suốt năm, suốt nhiều năm, suốt cuộc đời và nhiều đời nhiều kiếp trong vòng luân hồi sanh tử này, chúng ta bị cảm thọ trói cột cho nên Đức Thế Tôn nói rằng kẻ vô văn phàm phu không nghe chánh pháp, không thực hành chánh pháp, không thấy không biết về cảm thọ, không có trí tuệ về cảm giác cảm xúc nên gặp cảm giác vui thì người này giống như người đang bị trói buộc, gặp cảm giác khổ giống như người bị trói cột, gặp cảm giác không vui không khổ, cảm giác đều đều thì người này cũng giống như người đang bị trói cột, ba cảm giác đều bị trói cột vì vui thì tham đắm, dục ái, khổ là sân hận, bực tức, bức xúc, cảm giác bình thường đều đều thì chúng ta lại không biết nó là vô thường, cứ nghĩ nó là thường, mình nghĩ cuộc sống này lúc nào cũng như vậy nhưng khi dịch bệnh xuất hiện thì mọi người đều hoảng loạn, bất ngờ.
"Này các Tỳ-kheo, kẻ vô văn phàm phu khi cảm xúc khổ thọ; thời sầu muộn, than vãn, khóc lóc, đấm ngực, đi đến bất tỉnh. Người ấy cảm giác hai cảm thọ, cảm thọ về thân và cảm thọ về tâm. Cảm xúc bởi khổ thọ ấy, người ấy cảm thấy sân hận (patigha). Do cảm thấy sân hận đối với khổ thọ ấy, sân tùy miên đối với khổ thọ được tồn chỉ tùy miên (anuseti). Cảm xúc bởi khổ thọ, người ấy hoan hỷ dục lạc. Vì sao? Vì rằng, này các Tỳ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không tìm thấy một sự xuất ly khổ thọ nào khác, ngoài dục lạc. Do hoan hỷ dục lạc ấy, tham tùy miên đối với lạc thọ tồn tại. Người ấy không như thật rõ biết sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của các cảm thọ ấy. Do người ấy không như thật rõ biết sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của các cảm thọ ấy, nên vô minh tùy miên đối với bất khổ bất lạc thọ tồn tại. Nếu người ấy cảm thọ cảm giác lạc thọ, người ấy cảm thọ cảm giác như người bị trói buộc (sannutto). Nếu người ấy cảm thọ cảm giác khổ thọ, người ấy cảm thọ cảm giác như người bị trói buộc. Nếu người ấy cảm thọ cảm giác bất khổ bất lạc thọ, người ấy cảm thọ cảm giác như người bị trói buộc. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là kẻ vô văn phàm phu bị trói buộc bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng người ấy bị trói buộc bởi đau khổ".
(Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một - Phẩm Có Kệ, VI. Với Mũi Tên)
Chúng ta cho rằng cuộc sống này là như vậy, cứ bình thường, đều đều như vậy mà chúng ta không biết cái bình thường đó là vô thường, không có cái nào bình thường, khi nó biến đổi là chúng ta bất an, lo lắng, sợ hãi, bàng hoàng. Lúc còn cha mẹ thì không quan tâm, chăm sóc mà cứ chủ quan, nghĩ ba mẹ có làm sao đâu, đến khi cha mẹ bệnh tật hoặc thậm chí qua đời thì lúc đó mới thấy hối tiếc lúc cha mẹ còn sống không phụng dưỡng, hiếu thảo cho nên Đức Phật nói mình vô minh, không thấy không biết cảm giác không khổ không vui này là vô thường cho nên cái trí thứ sáu là sự nguy hiểm và tác hại của cảm thọ chính là vô thường, khổ đau, chịu sự biến hoại.
"Tánh vô thường, khổ, chịu sự biến hoại của thọ là sự nguy hiểm của thọ".
(Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Hai - Phẩm Sống Một Mình, VII. Tám Lần (1) (Atthaka))
Tính chất của cảm thọ là vô thường, khổ đau, biến đổi và tan hoại, hoại diệt, đó là sự nguy hiểm và tác hại của cảm giác, cảm thọ nhưng điều đau xót là chúng ta lại đi tìm vị ngọt, ưa thích vị ngọt, đam mê, bị trói buộc trong sự sung sướng nhưng chúng ta không thấy mặt trái của nó là biến đổi, tan hoại, vô thường, chúng ta chỉ thấy vị ngọt mà không hề thấy được sự nguy hại của nó. Trong sự tu của chúng điều cực kì quan trọng là quán chiếu về tính chất nguy hiểm và tác hại của các cảm giác này, nếu mình không thấy được mặt này thì không thể xuất ly ra khỏi các cảm giác được. Sự nhiếp phục, sự đoạn tận dục và tham đối với cảm giác chính là sự thoát ra khỏi cảm giác, cảm thọ.
"Sự nhiếp phục dục tham, sự đoạn tận dục tham đối với thọ là sự xuất ly của thọ". (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Hai - Phẩm Sống Một Mình, VII. Tám Lần (1) (Atthaka))
Làm thế nào để chúng ta có thể nhiếp phục được cảm giác vui sướng, thích thú này? Làm sao để chúng ta chấm dứt được sự tham đắm, say đắm, đam mê đối với những cảm giác này? Đầu tiên phải thấy được nó là vô thường, Đức Phật dạy quán chiếu cảm giác vui là khổ đau, quán chiếu cảm giác đau khổ là mũi tên, quán chiếu cảm giác thường thường, đều đều, không khổ không vui là vô thường.
"-- Này các Tỳ-kheo, có ba cảm thọ này. Thế nào là ba? Lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Lạc thọ, này các Tỳ-kheo, cần phải thấy là khổ. Khổ thọ cần phải thấy là mũi tên. Bất khổ bất lạc thọ cần phải thấy là vô thường"
(Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một - Phẩm Có Kệ, V. Cần Phải Quán Kiến)
Tại sao phải quán cảm giác vui sướng là đau khổ? Chẳng lẽ Đức Thế Tôn dạy mình đi ngược sự thật hay sao? Không phải vậy, chúng ta thấy đua xe lạng lách cười giỡn có vui không? Lúc đầu vui nhưng khi té xe gây tai nạn, trầy xước tay chân, thậm chí gãy tay chân hoặc gây tai nạn chết người thì nó chính là khổ đau. Lúc kéo băng nhóm đánh người ta ra vẻ ta đây rất oai phong, hùng dũng nhưng hậu quả là vào viện, tù tội, gây ra cái chết, đó là lý do Đức Phật nói quán chiếu cảm giác vui sướng là khổ đau, vui sướng trong dục tham, sân hận, tức giận, vui sướng trong ta đây, vô minh, bản ngã thì đó là vui sướng trong đau khổ.
Vị ngọt trong việc sử dụng các chất kích thích vui sướng, các thanh thiếu niên tổ chức tiệc tùng hàng chục, hàng trăm người để sử dụng các chất cấm đó, có được sự vui vẻ, sung sướng khi sử dụng các chất kích thích nhưng hậu quả nặng nề, thân tàn ma dại, thân bại danh diệt, gia đình tan nát, cha mẹ buồn khổ, xã hội bất an cho nên cảm giác vui sướng đó chính là sự đau khổ.
Nếu chúng ta nhìn thấy được sự nguy hiểm và tác hại của những thứ đó thì chúng ta mới có khả năng nhiếp phục được lòng tham muốn với những thứ ác bất thiện pháp đó, nếu chúng ta chỉ thấy được vị ngọt trong những việc đó thì chúng ta sẽ đau khổ lâu dài trong hiện tại và tương lai, chính vì vậy Đức Phật dạy phải quán cảm giác vui là đau khổ để không chạy theo vị ngọt của những cảm giác vui sướng trong tham, sân, si trong vô minh.
Tiếp theo, tại sao cần quán cảm giác đau khổ là mũi tên? Bây giờ không dám bước ra đường, tiếp xúc người quen cũng sợ, thậm chí ở trong nhà đóng kín cửa cũng bị nhiễm dịch bệnh, trong một gia đình ai cũng qua đời hết vì dịch bệnh, như vậy sự đau khổ này giống như mũi tên. Chúng ta thấy cảnh bệnh tật, sân hận, đấu đá, hơn thua nhau, cảnh chết chóc, nằm trên giường bệnh như mũi tên ghim vào tim mình, những đứa nhỏ mất cha mất mẹ, thậm chí mất cả cha mẹ trong trận đại dịch nhưng chúng nó vẫn ngây ngô không biết gì hỏi cha mẹ chừng nào về, có gia đình chỉ trong vài ngày không còn ai sống sót, chỉ còn căn nhà trống vắng, lạnh lẽo, điều này chẳng khác vì mũi tên ghim vào tim đau thắt lại, vì thế chúng ta phải quán cảm giác đau khổ là mũi tên để thấy tính chất đột ngột, đột biến, đột tử, đột quỵ của cuộc đời này, đó cũng chính là ý nghĩa của chữ "vô thường", đột ngột nghe nhiễm bệnh phải đi cách ly, mấy ngày sau lại nghe tin chết rồi, đó lại là những người thân thương, là bà con dòng họ, bạn bè thân quen của mình, thậm chí là những người trong gia đình, đó chính là sự vô thường, biến đổi và tan hoại, không có gì vững chắc và bền lâu, trong tích tắc là thân xác này sẽ nằm xuống, ngã xuống, sụp xuống, không còn tri giác nữa, chỉ như khúc cây khô ai muốn làm gì thì làm.
Chúng ta phải quán chiếu những cảm giác, hình hài này, thân xác này, những suy nghĩ này là vô thường, biến đổi, tan hoại, tự tánh của nó là đổi khác, chỉ có quán như vậy thì chúng ta mới tháo gỡ, mới cắt được những sự trói buộc, ham muốn trong các cảm thọ tham, sân, si, bản ngã, những cảm thọ ganh tỵ, đố kỵ, đấu tranh, khẩu tranh với nhau, hơn nhau từng lời nói, từng ánh mắt, đấu đá nhau trong từng cử chỉ hành động, đó là tự mình làm khổ chính mình, tự mình thắp lửa để thiêu đốt chính mình.
Nếu mình ham thích trong cảm thọ vui sẽ giống như rơi vũng lầy, lún sâu trong đầm lầy. Cảm thọ sân hận, tức giận như một đống lửa để thiêu đốt mình, cảm giác đó trước tiên đốt mình, con mắt, lỗ tai đỏ lên, quơ tay múa chân rồi làm cho những người xung quanh khổ đau, sống chung với người hay sân hận rất khổ sở, ngày nào cũng có chuyện cự cãi, căng thẳng. Cảm giác lờ đờ, tâm mê muội không tỉnh táo, không chánh niệm giống như màn đêm, đó là mình sống trong bóng tối, sống trong trường dạ vô minh.
Chúng ta cần nhớ vị trí trú ẩn của tham, sân, si, đầu tiên là dục trú ẩn ở bộ phận sinh dục, sân ở ngay lồng ngực, si là ở trên con mắt và cái đầu, khi mình lờ đờ buồn ngủ là con mắt nặng nề sụp xuống, đầu gục lên gục xuống, đó là ba chỗ cư trú của tham, sân, si và sự quán chiếu, tác ý là nhằm đánh đuổi ba cảm thọ này ra khỏi thân tâm, dùng con mắt tâm nhìn vào ngay chỗ phát ra tham, sân, si rồi quán chiếu, tác ý "tan biến đi, tham hoài thì khổ hoài. Ngươi đã trói buộc, hành hạ ta, ngươi đã thèm khát, thiếu thốn, đòi hỏi, áp đảo ta bao nhiêu đó là đủ rồi. Bây giờ ngươi hãy tan biến hoàn toàn khỏi tâm ta thành mây, thành khói, thành hư không đi", từng lời tác ý của mình hướng vào chỗ phát sanh dục, sân, si thì mình sẽ thấy được cảm giác ngay đó tan ra, lắng dịu, giống như viên thuốc sủi bỏ vào nước tan ra, khi mình tác động tâm ý quở trách, rầy la, đuổi nó ra khỏi thân tâm thì nó sẽ tan biến, cái đó gọi là "pháp do Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu".
Khi cảm thọ sân đang sanh khởi, đốt nóng trong lồng ngực thì mình cũng tác ý giống vậy "ngươi đã đốt ta vô lượng vô biên kiếp rồi, ngươi đốt ra trăm ngàn vạn kiếp rồi, ta khổ bao nhiêu đó đủ rồi. Hãy lắng dịu đi, tan biến hoàn toàn đi", dùng con mắt tâm hướng vào ngay lồng ngực rồi hỏi cảm giác sân "mày thích đốt lắm phải không? Mày muốn phóng hỏa để mày khổ, người khổ phải không, hành hạ mình, hành hạ người phải không? Sống mát mẻ, thanh lương lại không chịu, làm ơn đi chỗ khác giùm để tao tu, tan biến hoàn toàn khỏi tâm ta đi", tác ý như vậy giống như dùng cây chổi quét sự sân hận ra hỏi thân tâm, đuổi nó như đuổi tà, "an tịnh, lắng dịu, mát mẻ, ngọt ngào đi, làm ơn đừng có giận nữa", sau khi tác ý xong là trải tình thương rộng khắp hữu tình chúng sanh.
Mình biết rằng cơn giận này là một hiểm họa, là tai hại, là cái thứ ác độc cho nên không chấp nhận nó, thấy trong nhà có đám lửa thì phải lập tức lấy nước dập lửa, thế thì tại sao căn nhà bên ngoài mình biết lấy nước dập lửa trong khi căn nhà tâm linh lại để nó bắt lửa phóng hỏa vậy? Như vậy có phải mình si mê không? Có phải mình vô minh không? Có phải mình không thấy không biết về cảm giác thọ rồi để nó tàn phá mình, ăn không ngon ngủ không yên, cảm giác tức giận đi theo miên man suốt nhiều năm thậm chí là giận sống để dạ chết đem theo, "vô minh mà nghĩ rằng thông minh, ôm lửa than trong lòng chỉ để đốt lửa lên", mình la rầy, quở trách tâm chính mình, cứ làm như vậy rồi cảm giác đó trong lồng ngực sẽ lắng dịu, an tịnh, dễ chịu. Tâm này là một đứa trẻ rất ương ngạnh, cứng đầu nên rất cần sự giáo dục, dạy dỗ và huấn luyện, tức là cảm giác này cần sự huấn luyện, giáo dục, dạy dỗ.
"Thương lâu rồi ta sống
Trong sự quên lãng mình
Ta bỏ quên cảm thọ
Nên để mình khổ đau.
Thương lâu rồi ta thiếu
Thương hiểu cảm thọ mình
Để tham, sân hành hạ
Ta để mình khổ đau
Nay hiểu rồi thọ ạ
Ta nhớ đến thọ rồi
Thôi thọ đừng sân giận
Thọ thương mình nhiều nha"
(Cửa vào bất tử - Chơn Tín Toàn)
Bây giờ ta đã thấy đã biết nên tội nghiệp cảm xúc này, mình hành tội những người thân ở chung nhà với mình, tâm tính rắc rối, khó chịu, bực bội, cộc cằn, sân si, nhất là mùa dịch phải ở trong nhà nên cứ đi ra đi vào thấy gương mặt cau có là lửa than lại bùng lên làm khổ lẫn nhau, chính vì thế cần trải tâm từ, mở tâm thương cho mát mẻ, dịu dàng, ngọt ngào, thanh lương, phải nhớ dùng tâm thương để làm lắng dịu cảm thọ sân hận, khó chịu đó. Bây giờ đến cảm giác si dại nơi con mắt, chúng ta đã ngủ vô lượng vô biên kiếp rồi nhưng đến giờ nghe pháp là ngủ, ngồi thiền là ngủ cho nên phải tác ý "suốt ngày ăn với ngủ để làm Trư Bát Giới hay sao?", tác ý mạnh mẽ như vậy rồi mở to mắt ra, cảm thọ thật mạnh trong ánh mắt và mở tầm nhìn rộng khắp mọi nơi, nếu có vách tường là quán chiếu ánh nhìn xuyên ra bức tường, xuyên qua nóc nhà tới trời xanh, làm cho tâm rộng lớn rộng mở khắp vô lượng vô biên như bầu trời, như vậy mình hướng vào con mắt và cái đầu mà đánh tan cảm thọ si dại, lờ đờ, làm một chút là cái đầu minh mẫn, sáng suốt, người tu là phải trí tuệ như vậy chứ đừng âm u, vô minh.
Như vậy mình giải phá ba loại cảm thọ vui, khổ, không vui không khổ, tham, sân, si bằng sự quay lại hướng nội nhìn vào bên trong, lúc nào cũng nhìn trong thân lúc này cảm giác đang như thế nào, nếu có dục tham thì dùng quán bất tịnh để giải phá, quán bộ xương để giảm bớt lòng dục, lòng tham, lòng ái, nếu có si mê thì phải quán tinh cần, tinh tấn, dõng mãnh, trí tuệ, mắt mở sáng, tâm tỏ, cảm giác toàn thân là an tịnh, lắng dịu, ngọt ngào trong sự tu tập.
Hôm nay Minh Thành chia sẻ cho quý vị trí tuệ về cảm thọ, quý vị nhớ rằng có ba cảm thọ hoặc sáu cảm thọ. Ba cảm thọ là dễ chịu, khó chịu, không dễ chịu không khó chịu, trong ba cảm thọ này tất cả chúng ta đều bị chi phối, áp đảo, nhận chìm. Khi tham dục nổi lên là mình không còn nhận biết gì nữa mà bị nó lôi kéo xuống vũng lầy, khi nóng giận sanh khởi mà không có chánh niệm là mình bị nó đốt thiêu, khi si mê sanh khởi mà không tỉnh táo là mình sống trong màn đêm u tối.
Sự tu học của mình là hướng vào nội luôn để ý cảm giác toàn bộ cơ thể, quý vị nghe thêm bài cảm giác toàn thân mà Minh Thành đã chia sẻ rồi chịu khó thực tập theo đó để giải phá những cảm giác của tham dục, sân hận, si mê, vô minh, bản ngã bên trong, khi thấy rõ được những cảm giác này thì sự tu tập của mình sẽ rõ ràng, thiết thực, hiện tại. Tự mình thấy được tham, sân, si còn nhiều hay ít trong tâm, bản ngã trong tâm còn nhiều hay ít, sự nhiếp phục của mình từ từ sẽ đi đến thành công. Mình không bị vị ngọt của cảm thọ nhận chìm nữa mà thấy được tính chất nguy hiểm và tác hại, sự vô thường, sự đau khổ, chịu sự biến hoại của các cảm giác, nó không còn hoài mà sẽ tan hoại, từ đó tâm mình sẽ thoát ra, không còn bị ràng buộc trong các cảm thọ, mình sẽ có chánh niệm và tỉnh giác trong tất cả cảm thọ, đó là trí tuệ trong giáo pháp của Đức Như Lai. Kính chúc quý vị có giấc ngủ an lành trong chánh niệm.
./.