Tóm Tắt Ngũ Uẩn Giảng Giải 31 - Cốt Lõi Pháp Hành Nikāya 1
Tinh Hoa Nikāya
Tóm Tắt Ngũ Uẩn Giảng Giải 31
Cốt Lõi Pháp Hành Nikāya 1
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Vấn - đáp PAGEREF _Toc204010188 \h 1
II. Như Lý Tác Ý PAGEREF _Toc204010189 \h 5
III. Tầm quan trọng của quán chiếu PAGEREF _Toc204010190 \h 8
IV. Sự nguy hại của sắc PAGEREF _Toc204010191 \h 10
V. Xúc PAGEREF _Toc204010192 \h 17
I. Vấn - đáp
Sư Phụ: Ai trả lời đúng có thưởng, thời gian nào là thời gian quan trọng nhất, công việc nào là công việc quan trọng nhất, con người nào là con người quan trọng nhất.
Sư cô 1: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch thầy giáo thọ cùng toàn thể đại chúng, theo con thì thời gian quan trọng nhất là thời gian mà hiện tại bây giờ, còn người quan trọng nhất là người đang bên cạnh mình hiện tại, còn công việc quan trọng nhất là giờ học của lớp mình hiện tại, bây giờ là quan trọng nhất.
Sư Phụ: Cho tràng vỗ tay lớn đi, sư cô được lãnh thưởng. Bây giờ mình đang chạy xe cái gì là quan trọng nhất? Cái xe quan trọng nhất. Mình đang đối diện với người đó thì người nào quan trọng nhất? Là người đối diện. Rồi cái công việc mà mình đang làm có phải là quan trọng nhất không? Vậy thì công việc giờ mình đang làm là công việc gì? Học mà không có chuẩn bị tức là cái tâm mình không có chánh niệm trong cái việc mình, đây là kinh Tứ Niệm Xứ, biết rõ việc mình đang làm, thân thể được sử dụng như thế nào phải rõ biết là nó như thế đó, đó là niệm xứ đó. Phải biết rõ việc mình đang làm, con thưa với các thầy, các cô, con đứng lớp năm nay chắc cũng phải gần hai mươi năm và những cái pháp hội thì phải cũng phải là vài ngàn buổi chia sẻ pháp, con đi trễ thì là có thể đếm trên đầu ngón tay một hai lần thôi vì trường hợp bất khả kháng. Những buổi giảng hay là buổi lên lớp học là con phải đi trước cả tiếng hoặc là nửa tiếng đồng hồ là chỗ gần, còn nếu chỗ xa là đi trước mấy tiếng.
Lúc đó là chùa Hoàng Pháp mở khóa đầu tiên Phật học thường thức là hòa thượng trụ trì giao cho con hẳn cái chương trình đó, con thường đi tới trước hai tiếng đồng hồ. Khi đó đi tới đường đó là người ta chặn ngang vì sửa đường nên kẹt xe, không đi đường đó được nên con phải xuống đi xe ôm quay ngược vô nên trễ năm phút. Đó là lần duy nhất mấy mươi năm cho nên quý thượng tọa biết cái tánh của con là đúng giờ phải lên lớp dù ít hay nhiều. Bây giờ mình tính đi, mỗi bữa mình đi vô trễ năm phút, mình đi về sớm năm phút thì cả một học kỳ mình mất bao nhiêu thời gian? Mình tính được không? Một năm mình mất bao nhiêu thời gian? Hai năm, ba năm cộng lại mình mất bao nhiêu thời gian?
Khi mình lên lớp học với thái độ học như thế nào? Mình có tập trung tâm ý lắng tai nghe pháp, đem hết tất cả tâm lực của mình, đem hết tất cả sự chú ý chú tâm tập trung để nghe hay không? Trong khi nghe nếu có năm triền cái thì mình không có tiếp nhận pháp một cái trọn vẹn được, cho nên tại sao ngài A-nan được ca ngợi:
Tướng giống trăng thu đầy
Mắt giống hoa sen xanh
Phật Pháp như biển rộng
Rót vào tâm A-nan.
Bài kệ đó là nổi tiếng ca ngợi tôn giả Ananda, mà ngài A-nan khi nghe pháp là không có năm triền cái. Năm triền cái là gì sư cô?
Sư cô 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính ngưỡng bái bạch thượng tọa giáo tọa sư, kính thưa toàn thể đại chúng, năm triền cái gồm có trạo cử, hôn trầm, tham, sân và si.
Sư Phụ: Cái cuối cùng là gì?
Sư cô 2: Dạ là si.
Sư Phụ: Có ai nhắc không?
Sư cô 3: Dạ kính bạch thượng tọa giáo thọ, năm triền cái là tham sân, hôn trầm, trạo cử và hoài nghi ạ.
Sư Phụ: Khi nghe pháp mà mức độ tập trung tâm ý, lắng tai nghe pháp của mình ở mức độ nào nữa chứ không phải chỉ có mặt là đủ, thành ra cái việc quan trọng mà mình đang làm chính là hiện tại giờ mình đang ngồi học. Khi mình lên hành thiền thì lúc đó mình hành thiền với cái tâm gì? Nếu có năm triền cán thì giờ hành thiền của mình coi như là một cái giờ với cái tâm mờ tối, yếu ớt, không mắt, mù lòa, vô trí, mình không có đi vào được sơ thiền. Ví dụ mình ngồi mà mình cứ đơ đơ, con mắt lờ đờ mà mình vẫn để vậy, tức là chìm vào trong cái chỗ mờ tối, rồi hôn trầm. Trầm là chìm, hôn là hôn mê, là mù mịt, là mờ mịt, hoặc là mình ngồi đó cứ gãi chỗ này, ngứa chỗ kia, mình mỏi chỗ nọ, mình cứ dao động cái thân hoài, hoặc là trong tâm mình ngồi nhớ chuyện bực hồi sáng này, cái ông sư sư huynh nói câu vậy đó, mình cứ nhớ cái câu đó mình bực hoài, hay là mình ngồi đó tiếc chiều này mình đi trễ không được ăn bún mắm.
Cái giờ ngồi thiền của mình là coi như năm triền cái xâm chiếm, áp đảo tâm làm cho mình yếu ớt trí tuệ, tác thành mù lòa, tác thành không mắt, tác thành vô trí. Cho nên chúng ta phải để ý rất là nhiều ở trong việc làm của chúng ta, tại sao nó không có hiệu quả hoặc nó hiệu quả ít, cái nguyên nhân đó là từ đâu cũng như mình tu vậy đó, sao mình học hoài mình không có thấy pháp, mình tu hoài cũng không thấy tinh tiến, trí tuệ gì hết, thành tựu các pháp, tín – tấn – niệm – định – tuệ, ngũ căn, ngũ lực hay là thành tựu những cái trí tuệ về khổ, nguyên nhân của khổ, sao mình học hoài không thấy. Đó là do cách học của mình cho nên cái quan trọng thật sự của sự tu không phải là ngày hôm qua, cũng không phải là ngày mai mà cái tu của mình thật sự chỉ tu ngay bây giờ thôi.
Người nào nghĩ rằng cái ngày mai mới tu, tuần sau mới tu, tháng sau con mới tu được, con lớn tuổi con mới tu, hay con học xong hết rồi con mới đi nhập thất, thì người này l chưa có thấy pháp, chưa có hiểu pháp. Người hiểu pháp là tu ngay giờ phút này, ở đây, ngay bây giờ, tại chỗ này. Tu ngay hiện tại là tu thế nào?
Sư cô 3: Mô Phật, bạch thầy là chánh niệm tỉnh giác ngay giây phút hiện tại.
Sư Phụ: Chánh niệm thỉnh giác ngay giây phút hiện tại như thế nào?
Sư cô 3: Khi bước đi thì mình chỉ biết mình đang bước đi.
Sư Phụ: Cái đó nó nhỏ lắm, nó không có đủ sức để đâm thủng được khối vô minh uẩn.
Sư cô 3: Dạ, ví dụ giống như khi mình đối diện với một cái gì đó bất ý nghịch lòng với mình, khi tâm mình khởi lên cái gì thì mình phải rõ biết cái điều đó.
Sư Phụ: Bây giờ cái bất ý nghịch lòng nó tới mình mới tu, còn lúc mình vừa ý là mình tu làm sao? Ngồi ngay tại chỗ này là tu sao?
Sư cô 3: Dạ ngay bây giờ thì mình lắng động để nghe pháp, nghe thầy giảng dạy.
Sư Phụ: Rồi lúc ra chơi tu thế nào?
Sư cô 3: Dạ, thì mình làm gì mình rõ biết điều đó.
Sư Phụ: Bây giờ nhìn vô tâm rõ biết bây giờ.
Sư cô 3: Dạ con đang suy nghĩ để trả lời những câu hỏi của thầy.
Sư Phụ: Nhắm mắt lại nhìn sâu vào bên trong nhận diện ngũ uẩn, sắc; thọ; tưởng; hành; thức bây giờ như thế nào?
Sư cô 3: Cảm giác của con hơi run, tưởng là con đang suy nghĩ.
Sư Phụ: Tưởng mà sao con đang suy nghĩ? Nhắm mắt lại tưởng gì?
Sư cô 3: Dạ, tưởng đến những câu hỏi của thầy.
Sư Phụ: Hành suy nghĩ gì? Bây giờ cô nhắm mắt nhìn kỹ trong tâm đang có hình bóng gì?
Sư cô 3: Dạ hình bóng những lời nói của thầy.
Sư Phụ: Rồi có ai xung phong nhận diện ngũ uẩn không ạ? Chưa có nắm pháp sâu sắc được, những cái pháp mình đã được học phải thực hành, phải thực tập, phải thực nghiệm, phải chứng nghiệm.
Sư thầy 1: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính lễ thầy giáo thọ sư cùng đại chúng, trong giây phút hiện tại thì tâm có tham biết mình đang tham, khi mình đang sân biết mình đang sân, khi mình đang si, đang hôn trầm thì mình biết mình đang si, đang hôn trầm. Khi mình biết tham thì mình dùng phương pháp để loại trừ tham ra khỏi cái tâm mình, khi biết sân si, hôn trầm đang hiện khởi ở trong tâm mình thì mình dùng phương pháp để loại trừ những ác pháp đó ra khỏi tâm mình, khi tâm mình có trạng thái an lạc rồi thì cũng ghi nhận trạng thái an lạc.
Sư Phụ: Còn gì nữa không sư?
Sư thầy 1: Dạ hết rồi.
Sư Phụ: Rồi mời quý vị khác, tu ngay bây giờ là tu như thế nào? Mình phải nắm được cái chìa khóa, mình phải nắm được cái pháp hành, mình không nắm được cái này là coi như uổng công mình học.
Sư cô 4: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch trên thầy, khi nãy khi mà con đến trường thì con bị kẹt xe con. Trong khi con dừng lại thì cái tâm con có cảm giác khó chịu và nôn nóng, không biết là mình đến lớp có kịp giờ hay không. Sau khi đi qua khỏi đoạn đường kẹt xe đó thì con lại suy nghĩ về cái cảnh là thứ nhất ở lớp không biết thầy giáo đã vô tới lớp chưa, thứ hai nữa là con sợ đến trễ sẽ ảnh hưởng đến lớp vì mình vô trễ, và cảm giác của con khi vừa tới lớp thì cảm thấy rất là mệt vì mình con rất ít đi trễ mà hôm nay con đi trễ cho nên cảm giác rất là khó chịu. Nhưng khi vừa tới lớp thì tự nhiên con nghe được câu hỏi của trên thầy thì ban đầu con chưa nghe rõ lắm cho nên con hỏi cô lớp phó và con cảm thấy là mình trả lời để mình lấy lại cái sự bình tĩnh của mình sau khi mình tới lớp với cái sự gọi là bị mệt, với cái tâm mình chưa có được ổn định.
II. Như Lý Tác Ý
Sư Phụ: Chúng ta có rất là nhiều cái pháp hành chúng ta đã được học mà không có nhớ. Tại sao không nhớ? Tại vì không có thực hành, tu là tu bất cứ mọi lúc mọi nơi chứ không phải đợi giờ tu mới tu, cái pháp cực kỳ quan trọng ở bất cứ mọi lúc mọi nơi là cái pháp an trú cảm giác toàn thân. Cái lớp này là con cứ lặp tới lặp lui cái pháp hành cho chúng ta, mình phải luôn luôn coi cái cảm thọ trong con người của mình, đương nhiên cái phần đi, đứng, ngồi, nằm thì ai cũng nắm được rồi, không cần phải nhắc lại hoài nữa. Lúc nào mình cũng phải để ý cái thân hình của mình và để ý cái cảm thọ trong thân, mình phải tưới tẩm và phải nuôi dưỡng những cái cảm giác hiền thiện, an tịnh. Bất cứ lúc nào đi, đứng, ngồi, nằm, bất cứ ở đâu mình cũng để ý cái cảm giác toàn thân, từ đỉnh đầu cho tới gót chân của mình cảm giác đang như thế nào.
Nếu mình thấy có một cái cảm giác lăng xăng, dao động thì lúc đó mình phải lập tức làm cho nó an tịnh, lắng dịu. Phải để ý kỹ cái này vì đây là pháp hành, nếu mình để ý thấy hiện tại bây giờ trong thân mình và cảm thọ đang có một sự lăng xăng, dao động, vội vàng, hấp tấp thì lập tức mình phải ra một cái pháp lệnh an tịnh, lắng dịu cái sắc này. Mình hành pháp thì phải ra một cái pháp lệnh, trong người mình không có pháp thì lấy gì mình có pháp lệnh, trong người mình không có pháp lấy gì mình có pháp hành, trong người mình không có pháp lấy gì mình an trú cái pháp, trong người mình không có trí lấy gì mình thấy được cái pháp, mình trú cái pháp. Chúng ta thấy chưa? Cho nên khi mình thấy một cái thân sắc hiện tại đang có một cái sự vội vã, vội vàng, bộp chộp, gấp gáp, lăng xăng, dao động, trạo cử thì lập tức mình ra một cái pháp lệnh an tịnh, lắng dịu "này cảm thọ, ngươi hãy nghe đây, an tịnh lắng dịu xuống. Ta ra lệnh cho ngươi an tịnh, lắng dịu ngay lập tức, liền và ngay bây giờ". Đó là chúng ta tu để nhìn thấy được thân tâm của mình, điều chỉnh thân tâm của mình, đưa nó vào cái đạo lộ, đưa nó vào cái sự hành trì, đưa nó vào cái thánh đạo.
Bây giờ mình thấy trong này có những cái cảm giác thúc giục "bây giờ ngươi thúc giục cái gì? Ngươi dục cái gì? Ngươi ái cái gì? Ngươi khoái cái gì? Ngươi người ham cái gì? Lấy cái tay rờ lên cái đầu trọc đi, vô coi cái gương coi ngươi dục ái gì, ái cái gì, tham cái gì, ngươi thèm cái gì, khát cái gì?". Phải quở trách tâm mình, trách cái dục, la dục, mắng dục, chửi dục, nó là dục chứ nó không phải là mình, cái cảm giác thúc giục muốn ăn, muốn chơi, muốn đi đây đi đó, hí ha hí hửng, buông lung phóng dật, thả lỏng các căn là phải rầy la, quở trách, mắng. Trong kinh Đức Phật nói tự mình đi đến mình tự mình dò xét mình tự mình chỉ trích mình
"Tự mình chỉ trích mình
Tự mình dò xét mình,
Tỳ-kheo tự phòng hộ
Chánh niệm, trú an lạc"
(Kinh Pháp Cú 25 – Phẩm Tỳ-kheo, kệ 379)
Đó là pháp hành, tự mình đi đến mình tức là mình quay về mình nhận diện thân tâm chứ không phải mình đi đến người tam không phải mình đi đến Sa Đéc, Vũng Tàu, Rạch Giá, Đà Lạt, Hà Nội, Thái Lan, Mỹ, Úc, đi cái đó thì đi hết cái địa cầu này cũng tham, sân, si, sầu, bi, khổ, ưu, não thôi, đi hết mấy cái đó thì cũng trở thành nắm tro, trở thành bộ xương, trở thành đống cát bụi thôi, không đến đâu hết trơn nhưng mà đi đến mình thì mình mới nhiếp phục được tham, sân, si, mới chấm dứt sanh tử. Cái sự tu hành này là cái sự đi về mình, đi đến mình, chúng ta nhớ kỹ cái này, "ngươi thúc giục cái gì? Ngươi ham muốn cái gì? Ngươi khoan khoái cái gì? Ngươi thích cái giống gì ở trên cuộc đời này? Cha mẹ ngươi còn bỏ, anh em ngươi còn bỏ, cô bác, ông bà, thân quyến cùng một huyết thống ngươi còn bỏ hết thì vô đây ngươi thích cái gì? Ngươi khoái cái gì? Ngươi dục cái gì? Ngươi ái cái gì? Ngươi kết thân với ai?". Chúng ta phải rầy tâm, la tâm, quở tâm, trách tâm, mắng tâm, chửi cái tâm, đó là như lý tác ý, đó là tuệ lực, đó là thánh tư duy, là chánh tư duy, đó là sức mạnh của tri kiến.
Chúng ta có tu cái này không? Một ngày la tâm được bao nhiêu lần? Tại cái tâm mình không có la cho nên ở ngoài ai la mình là mình sân liền, tự ái, bản ngã liền. Nếu mình thường la mắng cái tâm mình thì ở ngoài người ta la thì mình bình thường, ngược lại còn cảm ơn cho nên tự mình đi đến mình, tự mình dò xét mình, tự mình chỉ trích mình. Ba cái từ đó là ba cái phương diện, ba cái khía cạnh, ba cái góc độ, là chánh kiến, đó là nhìn thấy được chính mình, thấy đúng về mình, thấy chính xác về mình, thấy trân xác về mình, thấy xác đáng về mình, thấy xác thực về mình mà thấy bằng trí tuệ, thấy bằng thánh trí, thấy bằng cái tri kiến của bậc thánh. Không phải thấy bằng cái tình cảm thông thường để nuông chiều mình, bênh vực mình tể ôm ấp cho cái tự ngã mình cao to lên, cái đó là cái thấy của phàm phu, thấy của ngu si, thấy của vô minh, thấy của chấp ngã, thấy của hơn thua, thấy của đúng sai, thị phi, tật đố, cái thấy đó chỉ đưa đến khổ đau thôi.
Mình không cần đi tìm cái thấy đó, cái thấy đó đầy rẫy trên thế gian này rồi, mình đi tìm cái thấy cao thượng hơn, thù thắng hơn, cái thấy xứng đáng bậc thánh, thượng nhân pháp cho nên kêu nhận diện ngũ uẩn mà cứ ngồi im hoài. Phải xung phong lên, nhiệt tâm lên, năng động lên, thậm chí là chưa kêu nữa là xung phong lên "con nhận diện ngũ uẩn trong tuần này, con thấy nó quậy quá xá rồi". Cho nên tự mình đi đến mình là quay trở về thân "cái thân này đang làm gì đây thân?", khi mình nhìn bằng Tứ Niệm Xứ, khi bằng mình nhìn bằng trí tuệ, khi mình nhìn bằng chánh quán, khi mình nhìn bằng thánh trí thì lúc đó thân này là đối tượng của thiền quán chứ không phải thân này là mình. Thân này là đối tượng của cái trí tuệ để nhìn, bây giờ nhìn lại cái cảm thợ "mày thúc giục cái gì? Mày ham muốn cái gì? Mày thèm khát cái gì? Mày khao khát cái gì? Mày khát ái dữ lắm phải không? Mày khát vô lượng vô biên kiếp tới giờ vẫn còn khát phải không?"
Mình la tâm, quở tâm, trách tâm, chửi tâm, mắng tâm, đánh đập cái tâm cho nên tự mình chỉ trích mình, đó là trong Nikāya. Bắt đầu trí tuệ lóe sáng lên chưa? Thấy được pháp hành chưa? Học mà chỉ đọc thôi thì đọc cho tới chết trí tuệ cũng không có khai sáng lên được, mình không thấy mình thì làm sao mình có thể dọn dẹp được những cái rác bẩn ở trong con người mình, trong tâm mình. Vì vậy tự mình đi đến mình là nhận diện ngũ uẩn coi trong cảm thọ rồi tự mình dò xét, mình mình trong cái suy nghĩ, trong hình bóng trong tâm này. Cái suy nghĩ này là suy nghĩ ác, bất thiện pháp, dục tư duy, sân tư duy, hại tư duy, cái suy nghĩ của bản ngã, của hơn thua hay là suy nghĩ ly tham, ly dục, ly sân bất hại, đây là chánh tư duy ở trong Bát Thánh Đạo, từ chánh kiến đi đến chánh tư duy, từ cái thấy đúng đi đến cái suy nghĩ đúng, cái quán sát đúng.
Mình dò xét mình, chỉ trích mình, mình theo dõi nó, phải bám sát cái đối tượng cho nên vị cao Tăng ở bên Myanmar nói "tâm không gắn liền đề mục thì cả đời buông lung phóng dật", tâm không có gắn với đề một thì cả cuộc đời của mình buông lung phóng dật cho nên khi kêu trình pháp có biết gì đâu mà trình, mình có tu đâu, mình có thực hành đâu, do mình không có gắn liền với cái đề mục. Cái đề một tu hành của mình là cái gì? Phải có đề mục và đề mục đó phải đúng thánh trí của Đức Phật dạy mình chứ không phải mình tu theo cái đề mục sau này của người ta đưa ra, đưa ra trong vô minh, đưa ra trong mê tín, cầu xin, van xin, Đức Phật không có dạy cái đó.
Đức Phật dạy mình phải nhìn thấy thân tâm của mình, nhiếp phục, chế ngự, tẩy sạch tất cả những cái làm cho mình khổ đau, tham, sân, si, dục ái, bản ngã. Họ không có kêu mình đi cầu xin ai hết, ngay cả Đức Phật cũng không có cầu xin Phật cho nên tâm không có gắn với cái đề mục, cả cuộc đời của mình buông lung phóng dật, sống vất vơ vất vưởng như cô hồn, tâm không có an trú vô pháp. Chúng ta nhìn lại cái cảm giác đó, hay là một cái cảm giác sân hận, bốc cháy lên, nó khó chịu, nó bực bội, nó gắt gỏng, nó ghim gút, cọc cằn, nó cau có, nó phẫn nộ, nó nhiệt não, nóng bức thì cái này ác độc, cái này là khốn nạn, súc sanh. Mình la cái tâm mình, mình mới dùng những cảm thọ hiền thiện của tâm hiền, tâm từ để trị nó, hóa giải cái này. Nó đang bừng, nó đang bốc, nó đang cháy, nó đang phựt, nó đang phẫn nộ lên, nói nhẹ một câu thôi là sừng sộ, phẫn nộ, sân hận, cau có, cọc cằn thì tâm này là tâm quái vật, mình kêu thẳng vô cái cảm thọ "mày là quái vật, mày đâu phải người tu". Phải dùng cái từ cho nó mạnh chứ còn nhẹ nhẹ làm sao trị nổi con quái vật khổng lồ vô lượng vô biên kiếp tới nay, bao nhiêu con yêu tinh trong Tây Du Ký là chỉ cho cái tâm mình. Chúng ta nhớ kỹ cái tâm này là ma tâm.
Sắc là ma, thọ là ma, tưởng là ma, hành là ma, thức là ma, sắc là kẻ giết người, mình bị nó giết vô lượng vô số, vô biên kiếp rồi chứ không phải mới đây.
"Người ấy không như thật biết rõ: 'Sắc là kẻ giết người'; 'Thọ là kẻ giết người'... 'Tưởng là kẻ giết người'... 'Các hành là kẻ giết người'... 'Thức là kẻ giết người', người ấy không như thật biết rõ: 'Thức là kẻ giết người'.
Người ấy đến với sắc, chấp thủ, nhiếp trì: 'Sắc là tự ngã của ta'. Người ấy đến với thọ... với tưởng... với các hành... người ấy đến với thức, chấp thủ và nhiếp trì: 'Thức là tự ngã của ta'. Năm thủ uẩn này được người ấy đi đến chấp thủ, sẽ đưa đến bất hạnh, đau khổ lâu dài cho người ấy". (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (e), IV. Phẩm Trưởng Lão, III. Yamaka)
Thầy có bị giết không? Có bị giết nhiều không?
III. Tầm quan trọng của quán chiếu
Sư thầy 2: A-di-đà Phật, kính bạch thượng tọa giáo thọ sư cùng đại chúng, cái sắc thì nó giết nhiều lắm, chẳng những mà nó làm mình nhớ nhung, nó làm mình phải sầu não, làm mình phải bất an, làm mình phải khó chịu. Lúc mình tuổi mới lớn, mình mới biết yêu lần đầu thì mình thấy một đối tượng mà mình thích thú, mình yêu mến, mình để vào lòng thì lúc nào tâm trí mình cũng bị gắn liền với nó, không còn ở trong cái thân này mà tối ngày cái tư tưởng cứ nhớ về người yêu đó, cái mối tình đầu đó làm mình phải sầu não ghê gớm, làm mình có thể đi đến quyên sinh, tự tử, có thể là bế tắt luôn. Nếu mình không gặp được những bậc thượng thiện nhân hoặc những thầy lành bạn sáng để chỉ dạy, để mình tâm sự, để mình mở tâm khai thông trí ra để tìm một con đường thoát khỏi những sự ám ảnh đó thì có thể cuộc đời mình tàn phế luôn, mình sẽ lọt vào những căn bệnh trầm cảm rồi mình tối ngày chỉ đóng cửa chơi mình thôi. Mình buồn bã, mình sầu não, mình ám ảnh, mình khó chịu, nói chung là người mình giống con ma vậy đó.
Con cũng từng bị cái này, lúc đi học đại học ở ngoài đời cũng bị trường hợp này nên mấy ông thầy bạn ghẹo "Ủa bộ thất tình đi tu hả" thì mình cũng cười cười nhưng mà mình thật sự rất là khổ đau khi trải qua giai đoạn đó. Nó làm mình hủy hoại luôn cái thân tâm mình, học hành không có nổi luôn và bế tắc dữ lắm, tối tăm, u ám ghê gớm luôn, khổ. Đó là trường hợp bản thân con từng trải qua.
Sư Phụ: Mình nhận diện như vậy rất là tốt, phải vạch cái mặt của nó ra, cái mặt ác độc của nó, cái mặt mà nó tàn bạo, nó hãm hại mình mà mình không thấy được kẻ thù, mình lại còn nâng niu, ôm ấp, mình sống dùng với nó thì thôi rồi, thì mình chết dài dài, chết hoài hoài, chết mãi mãi, chết vĩnh viễn, chết vô lượng vô số, vô biên kiếp mà mình không thấy kẻ thù của mình, mình chơi thân, mình kết thân giao với nó. Bây giờ mình phải ly dị nó, nhất chí không? Có ly vị với sắc không? Phải hướng tâm tới đó, nó làm cho mình khổ, nó làm cho mình sầu, nó làm cho mình đau, nó làm cho mình buồn, nó làm cho mình ưu não. Mình phải nhàm chán nó, phải quán thật là nhiều cái tính nguy hại của sắc, sự nguy hiểm và tác hại của sắc, chúng ta phải quán vì tất cả là thiền quán.
Nếu không có quán chiếu làm sao sanh trí tuệ? Phải thiền quán sự nguy hiểm và tác hại của nó, nó ác độc lắm. Bởi giờ mình nói mình yêu thương, mình nhớ nhung, mình tương tư, mình khổ sầu, mình thất tình rồi bây giờ mình có sân hận không? Mình có bị đốt cháy không? Mình có bị giam hãm ở trong đó không? Cái tâm cứ xà quần trong đó hoài không biết đường ra, mà không phải người dưng, người thân trong gia đình mà cũng giận nhau, rồi thận thù với nhau, cho nên cái sắc này đâu phải nó chỉ là tham dục không đâu, nó sân hận, hơn thua, bản ngã đủ thứ hết. Vì mình vô minh, mình si mê, mình mù lòa, mình không có thấy đường, mình đui cho nên mình mới khổ, nếu mình mở được mắt thánh ra rồi, thánh nhãn mở, pháp nhãn mở, trí nhãn mở, minh nhãn rồi rồi tuệ nhãn mở ra thì mình đã nhàm chán nó từ lâu rồi thứ ác độc, tai họa, cái thứ thống khổ, đau khổ.
Mình bị ăn bù mê thuốc lú, tức là vô minh, bị cái vị ngọt có một chút xíu đó thôi là trời đất ơi, trời đất ơi, trời ơi, kêu trời không thấu mà kêu đất không xong. Một chút xíu vị ngọt của nó thôi là chết mê chết mệt, chết cay, chết đắng, chết nhục, chết nhã, chết hèn, chết hạ, chết tan, chết tức, chết tưởi, chết không thấy xác chết bờ, chết bụi, chết cay, chết đắng, chết khổ, chết sầu, chết đau, chết đớn. Nó ác độc như vậy mà mình không nhìn thấy được cho nên mình phải ngồi thiền nghiền ngẫm, mình quán hết tất cả những cái sự ác độc, nguy hiểm, tai họa, những cái thứ cho mình đau khổ mình lôi hết tất cả, mình khổ từ hồi nhỏ tới lớn bao nhiêu mình lôi hết ra rồi mình điểm mặt, mình vạch mặt, mình chỉ mặt, mình tán vô mặt nó "đồ ác độc mày tan biến khỏi tâm tao đi, mày tham cái giống gì trong này? Trời đất ơi tao khổ vậy mà chưa đủ nữa sao mà mày chập chờm, mày ma sao mà ám ảnh tao hoài vậy? Tan biến khỏi tâm ta đi".
Đó là thánh trí tuệ đó, thánh trí đó, đó là cốt tỷ của kinh tạng Nikāya đó, thánh trí đó, là tuệ giác đó. Còn tu mà ngồi im ru, không có suy nghĩ gì hết, đơ đơ, si si, mê mê, ám ám, ngơ ngơ, ngáo ngáo rồi biết ngày nào sanh khởi tuệ giác? Cái thánh trí là mình phải nghe được cái thánh trí rồi mình nhắc hoài, nhắc tới nhắc lui để nhớ rồi nó sống ở trong đó, tới lúc mà nó nhớ mãi không quên thì thể nhập thánh trí. Bây giờ hỏi ngồi đây tu gì không ai nói được, phải nhìn sâu và bên trong, thứ nhất nhìn cái thân thể tức là quán thân trên thân, thứ hai nhìn trong cảm thọ coi trong này nó có thúc giục không, nó có bực bội, khó chịu ai không, nhiều khi trời nóng nực chút cũng bực, trời lạnh chút cũng khó chịu, đi chút cũng mỏi chân, cũng sân, rồi ai chạm tới chút cũng phẫn nộ. Cái này có không? Đừng có vội, chậm chậm mà trả lời bằng thiền quán, bây giờ nói không mà tới lúc người ta chạm vô thì nói có. Mình không có nhận diện ngũ uẩn, mình không có thấy đâu, không có thấy được, ở phải nhận diện ngũ uẩn thường xuyên mới thấy.
IV. Sự nguy hại của sắc
Sư thầy 3: Dạ mô Phật, kính bạch thầy, kính thưa đại chúng, sau khi con nghe thầy hỏi về chữ sắc thì ngay lúc này hình bóng trong tâm con hiện về, con lại nghĩ là con nhớ lại hồi năm lớp bốn con đã giống như biết thương một cô đó. Cô đó là lớp trưởng.
Sư Phụ: Mọi người an tịnh, lắng dịu, tập trung quay trở về cả thọ của mình để nghe.
Sư thầy 3: Ngay lúc đó hình bóng, cái sắc tưởng và cái thanh tưởng của cô lớp trưởng hiện về trong con, con nghĩ là cái sự thích thú của mình về những cái sắc đẹp đầu đời của mình. Con tưởng lại, con nhớ lại ngay lúc đó của mình thấy cô đó nói chuyện với ai đi nữa là tự nhiên trong tâm con lúc đó là xuất hiện cái tâm ganh tỵ, không có muốn cô gái đó tiếp xúc với những người đàn ông ở trong lớp. Cái tâm ganh tức, cái tâm ích kỷ, hẹp hòi của con hiện lên và ngay cái lúc đó cái sắc tưởng của con nhớ từng cái chi tiết khuôn mặt cô sao, cái thanh tưởng và cái giọng nói cô ấy như thế nào và con càng để ý càng sâu hơn nữa những cái cử chỉ nhỏ nhất của cô, từ cái tay cầm cây viết, khi cô ấy đứng trên lớp phát biểu, cái khẩu hình miệng như thế nào con đều nhớ hết.
Tiếp theo tới năm lớp tám thì lại cũng là một cô lớp trưởng khác, mỗi buổi sáng con đều bị cái sắc này nó ngự trị là mình đi học sớm hơn, mình biết cô đó ở cái nhà đó, thường cái giờ đó là bắt đầu cô sẽ đi vào trường thì cái lúc đó tự nhiên ngay cái thời gian đó mình lại đứng ngay cái hành lang ngóng ra ngoài cổng trường coi cái cô này cô đến trường. Mình nhìn theo cái hình bấm của cô đi từ ngoài cổng trường đi vào tới lớp, hoặc là có những giờ thể dục thì lớp con với lớp của người con gái đó được học chung.
Sư Phụ: Đừng có khai thác về cái hướng đó nhiều mà hãy đưa cái trí tuệ vào nhiều hơn.
Sư thầy 3: Dạ, thì ngay lúc đó con nhớ lại những lời dạy này, mình đã bị cái sắc nó ngự trị quá lâu trong tâm, nó làm mình thứ nhất là mất thời gian, thứ hai là những cái tâm tiêu cực của mình, những cái tâm ghen tức, những cái tâm ích kỷ, hẹp hòi của mình ngự trì trong mình. Đến khi sau này khi con xuất gia được học và thực tập những cái cơ bản nhất thì mỗi lần đứng trước một cái sắc đẹp, con nhớ tác ý theo trong phim Tây Du Ký, con yêu quái biến thành một người nữ đẹp thì mới đầu nó tiếp cận với ông thầy này là một hình tướng người nữ rất là đẹp, nhưng khi ông thầy đã bị mê muội rồi thì bắt đầu cái con yêu quái sẽ mọc lên năm cái móng tay rất là dài, nó bấu vào đầu của ông thầy, lúc đó ông thầy chảy máu, ông thầy chết thì con nhớ lại lời của thượng tọa Quảng Thiện đã dạy "người con gái nào mà càng đẹp chính là yêu quái, mà yêu quái thì nó sẽ làm hại cho chính đời tu của mình, hủy hoại đi cái thân này của mình và cả đời tu, lúc đó cái tâm mình không hướng đến cái sự tu tập nữa mà luôn hướng đến sự đau khổ, luôn bị cái đau khổ ngự trị".
Cái thứ hai để con tác ý đến là khi con gặp một cái sắc đẹp bị đắm chìm ở trong đó, mình bị cái đó lôi cuốn và lúc đó con suy nghĩ rằng đời tu của mình có thể từ bỏ hết cha mẹ. Cha mẹ của mình là người gần gũi nhất của mình, người thương yêu nhất của mình mà mình có thể từ bỏ được, những người này chỉ là người dưng nước lã thôi mà mình còn ôm ấp mấy cái này, mình từ bỏ mấy cái này không được. Cái thứ ba nữa con suy nghĩ đến là mình mà còn đắm chìm trong cái này thì mình còn sẽ phải đau khổ hoài hoài, ngay lúc đó những cái khát ái, những cái tham muốn, những cái tâm lý muốn chiếm đoạt cái người đó từ từ nó con thấy bắt đầu bớt dần và cứ theo năm tháng như vậy. Lúc trước khi con nhìn một cái hình bóng, hình tướng đẹp như vậy thì cái tâm con khởi lên những cái ham muốn, thích thú về cái sắc đẹp đó, nó mười nhưng mà con thấy thời gian từ từ nó chỉ còn chín hoặc còn tám, hoặc là con nhớ nhung về hình ảnh đó thí dụ một tháng nhưng mà bây giờ có thể là chỉ trong vòng hai ngày, ba ngày hoặc là một tuần gì đó.
Con thấy khi mình tác ý tới cuộc đời của Đức Phật, những lời dạy của những vị sư phụ và những cái cảnh khổ của những vị tu sĩ khi bị những cái đó chế ngự, những cái đau khổ mà những vị tu sĩ đó bị. Con suy nghĩ tới những cái đó tự nhiên những cái thích thú của mình bắt đầu giảm bớt và con thấy cái này rất là hữu ích. Nam mô A-di-đà Phật.
Sư Phụ: Cho tràng vỗ tay lớn đi, đó là mình quán sự nguy hại của sắc, sự nguy hại của dục, nguy hiểm và tác hại. Mình phải triển khai thiền quán, phải chiêm nghiệm, phải quán sát, phải tư duy, phải nghiền ngẫm, phải đột phá, phải đánh phá, phải phá tan, phá vỡ, phá banh, phá nát, phá sập, phá đổ cái hang ổ, xào huyệt, cái căn cứ địa của dục sắc ở trong thân tâm của mình. Đâu có phải tu phớt phớt, chơi chơi được, mình phải gia công dụng hạnh, dồn lực, dồn sức, dồn tâm của mình, phải tận lực, không phải chuyện dễ, một cái quan ải này "tự cổ anh hùng nan quá mỹ nhân quan", nghĩa là từ xưa đến nay anh hùng khó qua ải mỹ nhân. Tất cả ngồi bên đây là yêu quái, bên đây cũng là yêu quái của bên đây luôn, chúng ta hiểu cái ý con nói không? Sắc chính là yêu quái, cái này không phải con nói chuyện giỡn đâu. Một thầy Tỳ-kheo bạch Thế Tôn thế nào là mara (ma), Đức Phật nói sắc là ma.
"Tôn giả Ràdha bạch Thế Tôn:
-- 'Màra, Màra', bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, được gọi là Màra?
-- Nếu có sắc, này Ràdha, thời có chết (Màra) hay có sát giả (Màretà), hay có sự chết (Miiyati). Do vậy, này Ràdha, Ông hãy thấy sắc là sự chết, hãy thấy là sát giả, hãy thấy là bị chết, hãy thấy là bệnh, hãy thấy là ung nhọt, hãy thấy là mũi tên, hãy thấy là bất hạnh, hãy thấy tự tánh là bất hạnh. Những ai thấy sắc như vậy là thấy chơn chánh.
... Thọ... tưởng... các hành... (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương II. Tương Ưng Rādha, I. Phẩm Thứ Nhất, I. Māra)
Tại sao sắc là ma? Tại vì mình đam mê vô sắc này thì có phải mình sanh tử không? Mà tử là người ta kêu là đám ma cho nên sắc là ma, thọ; tưởng; hành; thức cũng ma nên gọi là ma tâm. Tại vì cái sắc này mình đối diện với nó có một chút thôi nhưng mà thọ; tưởng; hành; thức ở trong này cho nên từ lớp bốn tới giờ mà nhắc là nhớ liền. Nó an trú ở trong đó, nó có chỗ đứng ở thọ; tưởng; hành; thức của mình mà vì vô minh, vì si mê, vì không có trí tuệ cho nên mình không biết cái hang ổ, cái xào huyệt, cái căn cứ địa và cái nhân duyên tập khởi của nó, tức là từ đâu mà nó nhen nhóm, nó manh nha rồi nó có chỗ đứng trong tâm của mình. Mình không biết nên nó xâm chiếm, nó áp đảo, nó làm cho mình đau khổ, sầu, bi, ưu, não thế nào mình cũng không hay.
Bây giờ mình muốn đoạn tận, diệt nó, sắc diệt mình không biết, không biết sắc tập khởi, không biết sắc đoạn diệt cho nên mình mới khổ đau, mình mới luân ngồi. Còn bây giờ mình học cái này, mình học thánh trí ngũ uẩn là mình có được sanh diệt trí về năm quẩn. Sanh diệt trí là một cái trí tuệ thấy được căn nguyên, nguồn cội từ đâu mà nó sanh khởi và làm như thế nào cho nó chấm dứt, chúng ta đang học đây là ba mươi bảy loại trí, bảy trí sắc, bảy trí thọ, bảy trí tưởng, bảy trí hành cho nên gọi là sanh diệt trí. Thế nào là sắc sanh?
Sư thầy 4: Mô Phật, kính bạch thượng tọa giáo thọ sư, kính bạch đại chúng sắc sanh là do thức ăn tập khởi nên sắc tập khởi.
Sư Phụ: Đúng rồi nhưng mà thầy thuộc thêm mấy cái trí khác không?
Sư thầy 4: Dạ thuộc.
Sư Phụ: Vậy thầy đọc luôn đi.
Sư thầy 4: Sắc diệt, do thức ăn đoạn diệt nên sắc đoạn diệt. Sắc diệt đạo, phương pháp tu tập đúng đắng đưa đến sắc đoạn diệt là phương pháp tám đúng. Vị ngọt của sắc là do duyên sắc khởi lên lạc hỷ gì thì lạc hỷ này là vị ngọt của sắc. Sự nguy hại của sắc là bản chất của nó là vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, đó là sự nguy hại của sắc. Sự xuất ly của sắc, sự nhiếp phục dục và tham, sự đoạn tận dục và tham đối với sắc là sự xuất ly khỏi sắc.
Sư Phụ: Cho tràng vỗ tay lớn và dài, ai xung phong trả bài bảy trí về thọ? Cái này là rất quan trọng, thánh trí mà không thuộc thì làm sao biết cái cách quán chiếu tu tập? Bảy trí về thọ ai thuộc? Tại sao thọ sanh? Vị ngọt của thọ là cái gì? Sự nguy hại của thọ là cái gì? Làm sao để đoạn diệt thọ? Cái này phải thuộc lòng thuộc như thuộc như chú vãng sanh, như chú đại bi vậy đó, thuộc như lăng nghiêm vậy đó, thuộc còn hơn mấy cái đó nữa mới được. Cái này quan trọng lắm, rất là quan trọng, tất cả sự tu này là tu ngay bây giờ, tu ngay tại chỗ ngồi này, những cái hình ảnh xuất hiện là mình đánh phá liền, những cái suy nghĩ đó xuất hiện là mình diệt nó liền, sát phạt nó liền, những cái cảm giác đó xuất hiện là lập tức mình dập nó tới tấp. Đó là tu ngay tại bây giờ chứ đợi tới bao giờ tu? Mình phải quán, tác ý, tư duy, mang cái hình hài này là một tai họa, là một sự bất hạnh, là một sự bệnh hoạn, ung nhọt.
"Ví như, này chư Hiền, một ung nhọt đã trải nhiều năm. Nó có chín miệng vết thương, có chín miệng nứt rạn. Từ đấy có cái gì chảy ra, chắc chắn bất tịnh rỉ chảy, chắc chắn hôi thúi rỉ chảy, chắc chắn nhàm chán rỉ chảy; có cái gì nứt chảy, chắc chắn bất tịnh nứt chảy, chắc chắn hôi thối nứt chảy, chắc chắn nhàm chán nứt chảy.
Ung nhọt, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với thân này do bốn đại tác thành, do cha mẹ sinh ra, do cơm cháo chất chứa nuôi dưỡng, vô thường, biến hoại, tan nát, hủy hoại, hoại diệt, có chín miệng vết thương, có chín miệng nứt rạn. Từ đấy có cái gì chảy ra, chắc chắn bất tịnh rỉ chảy, chắc chắn hôi thúi rỉ chảy, chắc chắn nhàm chán rỉ chảy; có cái gì nứt chảy, chắc chắn bất tịnh nứt chảy, chắc chắn hôi thúi nứt chảy, chắc chắn nhàm chán nứt chảy.
Do vậy, này các Tỳ-kheo, các Thầy hãy nhàm chán thân này." (Tăng Chi Bộ, Chương IX - Chín Pháp, II. Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử, (V). Một Ung Nhọt)
Mình phải nhớ hoài, mỗi khi mình đi tiểu đi tiện mình phải nhìn kỹ, mình ngửi cái mùi đó, mình đưa cái cảm thọ, mình phải nhận định một cách sâu sắc những cái thứ này là từ thân này, mồ hôi chảy ra, nước mũi chảy ra, cứt mũi chảy ra, cứt ráy chảy ra, nước miếng chảy ra, máu chảy ra, mỡ nó chảy ra, nước tiểu, phân chảy ra thì mình phải cảm thọ một cách sâu sắc một cái sự thật phũ phàng mà nó nhơ nhóp như vậy, một cái tâm mê, hôn mê, hôn ám, si ám, ngu muội. Nó ăn cháu lú ở trong này, lú tức là vô minh, hai cái tên đầu xỏ, tổng chỉ quy, bộ tổng tư lệnh là vô minh và khát ái, bây giờ mà mình cứ để im ru cho nó thì làm sao mình diệt nó được.
Phải tâm tâm, niệm niệm, giờ giờ, phút phút từng cái suy nghĩ, từng cái hình bóng, từng cái cảm giác. Mình đánh phá hai cái tên tổng tư lệnh, bộ chỉ quy này, những cái thứ ác độc nhất đang ngắm ngầm hoạt động ở trong thân tâm của mình. Khi mình nghe thánh pháp thì bên trong có một cái tâm chống đói lại, nó nói đẹp mà, dễ thương mà sao bây giờ kêu quán bất tịnh. Thí dụ bây giờ ai chỉ vô mặt mình nói "cô thúi quắc hà", "thầy dơ bẩn quá vậy, hôi hám" thì lúc đó mình sao? Mình sân hận lên, cái đó là sự thật mà tại sao mình sân? Tại vì mình ăn cháo lú, tại vì vô minh, tại vì si mê, tại vì hôn ám cho nên người ta nói sự thật là mình bực bội, mình sân hận lên. Chính vì vậy Đức Thế Tôn khi ngài chứng Chánh Đẳng Chánh Giác ngài không có muốn thuyết pháp, ngài không muốn nói pháp ngài đạt được vì nó thâm thúy, vi diệu, nó siêu thế, không lý luận, khó hiểu mà chúng sanh đầy rẫy những bụi đời, họ khoái dục, họ ham dục, họ thích dục, họ khát ái, khát dục thì bây giờ ta nói mà chúng sanh không hiểu thì thật là mệt nhọc cho ta, thật là phiền não cho ta nên ngài hướng tới Niết-bàn vô vi thụ động.
"Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Uruvelà trên bờ sông Neranjarà, dưới gốc cây Ajapàla Nigrodha, khi Ngài mới thành đạo.
Rồi Thế Tôn, trong khi Thiền tịnh độc cư, tư tưởng sau đây được khởi lên:
'Pháp này do Ta chứng được, thật là sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, cao thượng, siêu lý luận, vi diệu, chỉ người có trí mới cảm nhận! Còn quần chúng này ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục, thật khó thấy định lý này, tức là y duyên tánh duyên khởi pháp. Thật khó thấy định lý này, tức là tất cả hành là tịch tịnh, tất cả sanh y được từ bỏ, ái tận, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn. Nếu nay Ta thuyết pháp mà các người khác không hiểu Ta, như vậy thật mệt mỏi cho Ta, như vậy thật bực phiền cho Ta.'
Rồi những bài kệ vi diệu này, từ trước chưa từng được nghe, được Thế Tôn nói lên:
Pháp Ta chứng khó khăn,
Sao nay Ta nói lên?
Tham, sân chi phối ai,
Khó chứng ngộ pháp này.
Pháp này đi ngược dòng,
Vi diệu và thâm sâu,
Khó thấy, rất vi tế.
Những ai ưa ái dục,
Bị vô minh bao phủ,
Rất khó thấy pháp này.
Thế Tôn với suy tư như vậy, tâm hướng về thụ động, không muốn thuyết pháp.
Rồi Phạm thiên Sahampati biết được tâm tư Thế Tôn nhờ tâm tư của mình, liền suy nghĩ: 'Thật sự thế giới bị tiêu diệt, thật sự thế giới bị diệt vong, nếu tâm Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác hướng về thụ động, không muốn thuyết pháp'.
Rồi Phạm thiên Sahampati, như nhà lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi thẳng; cũng vậy, vị ấy biến mất ở Phạm thiên giới và hiện ra trước mặt Thế Tôn.
Rồi Phạm thiên Sahampati đắp thượng y trên một bên vai, quỳ đầu gối bên phải trên mặt đất, chắp tay hướng về Thế Tôn và bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, hãy thuyết pháp! Bạch Thiện Thệ, hãy thuyết pháp! Có những chúng sanh ít nhiễm bụi trần sẽ bị nguy hại, nếu không được nghe Chánh pháp. Nếu được nghe những vị này có thể thâm hiểu Chánh pháp.
Rồi Thế Tôn biết được lời thỉnh cầu của Phạm thiên, vì lòng thương xót đối với chúng sanh, nhìn đời với Phật nhãn." (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương VI. Tương Ưng Phạm Thiên, I. Phẩm Thứ Nhất, I. Thỉnh Cầu)
Lúc đó phạm thiên Sahampati là ta bà chủ, ở ngoài đời kêu là đấng sáng thế, đó là cái vị cao nhất trong tất cả các tầng trời. Phạm thiên Sahampati thấy Đức Thế Tôn suy nghĩ như vậy thì ngài lo lắng, ngài sợ hãi, ngài nói chúng sanh sẽ bị mù lòa, chúng sanh sẽ bị chìm đắm, chúng sanh sẽ bị đau khổ. Ngài lập tức trong khoảng co cánh tay, duỗi tay ra mất ở phạm thiên giới hiện ra ngay dưới chân Đức Phật, cúi lễ bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy thuyết pháp, bạch Thiện Thệ, xin Thiện Thệ hãy thuyết pháp. Có những chúng sanh ít nhiễm bụi đời có thể nghe hiểu được thánh pháp của Đức Thế Tôn, bạch Thế Tôn xin ngài hãy thuyết pháp, bạch Thiện Thệ xin hãy thuyết pháp, ba lần cầu thỉnh như vậy, khát ngưỡng như vậy Đức Thế Tôn mới đồng ý.
Tại vì cái pháp này đâu phải cái pháp dễ học, dễ nghe, dễ hành đâu, thậm chí mình tu ở trong chùa cho tới chết chưa chắc gì trong cuộc đời được nghe một lần cái chánh pháp này, nếu không học kinh tạng Nikāya chúng ta có nghe được những cái pháp như vậy không, thâm sâu như vậy không, nghe những cái vuốt vuốt lên cho nó khoái, cho nó thích, nói đưa trên mây không à, tăng trưởng dục, ái, tham thêm lên đối với sắc pháp, sắc uẩn chứ không có đưa đến sự nhiếp phục, diệt tận hoàn toàn cái sắc uẩn đầy vô thường, khổ đau, trống rỗng, vô ngã này. Đó là giá trị của chánh pháp tối thượng, thánh trí là như vậy đó.
Đức Phật chứng ngộ nguyên nhân sanh khởi, hình thành, an trú và hoại diệt của tất cả những cái thân xác này, cảm giác này, những cái suy nghĩ, hình bóng, nhận thức này. Đức Phật chứng ngộ hết tất cả mọi phương diện, khía cạnh, góc độ của sắc; thọ; tưởng; hành; thức, từ đâu nó sanh, nó an trú như thế nào, nó vận hành như thế nào, nó diệt tận như thế nào và làm sao cho nó diệt, Đức Phật đều có cách chứng ngộ hết tất cả loại trí tuệ đó. Chúng ta thấy siêu khủng không? Đó là thánh trí của Đức Phật.
V. Xúc
Cảm giác từ đâu sanh ra? Tại sao có cảm giác?
Sư cô 5: Mô Phật, bạch thầy cảm giác có từ trong tâm thức của con người.
Sư Phụ: Không có thuộc bài.
Sư cô 5: Khi mà mình chạm với nhau thì nó có cảm xúc với nhau.
Sư Phụ: Chạm sao, thí dụ?
Sư cô 5: Dạ ví dụ như tâm mình lúc đó chưa có lắng tịnh được thì người khác giới mà chạm đến mình là mình có cái cảm giác.
Sư Phụ: Ai thuộc bài? Thuộc nguyên văn của kinh, không có nói chung chung, tại sao có thọ?
Sư cô 6: Dạ mô Phật, bạch thầy cùng đại chúng cảm giác là do sự tiếp xúc, con mắt tiếp xúc với sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi và lưỡi nếm vị, thân xúc chạm.
Sư Phụ: Còn cái xúc nào nữa không? Năm xúc rồi còn cái xúc nào nữa không? Ai thuộc câu nguyên văn của kinh.
Sư thầy 5: Mô Phật, kính bạch thượng tọa giáo thọ sư cùng đại chúng, nguyên nhân có thọ sanh khởi là do xúc tập khởi nên thọ tập khởi mà xúc có từ đâu, chúng ta học duyên sanh pháp rồi thì do duyên có con mắt với cảnh sắc rồi nó sanh ra nhãn thức, sự giao thoa, hội tụ của ba pháp này sanh ra xúc, xúc sanh thọ, sanh ái, sanh khổ, sanh nghiệp, sanh dục.
Sư Phụ: Cho tràng vỗ tay lớn đi, mấy cô đợt này học thua mấy thầy rồi đó, về cố gắng học bài. Xúc tập khởi là thọ tập khởi cho nên Đức Phật trình bày đây là sự chứng ngộ của ngài, tại sao có cái hình hại này, tại sao có ra cái cảm giác, tại sao trong tâm có hình bóng.
Sư thầy 6: Dạ mô Phật, kính bạch thầy cùng toàn chúng, sở dĩ trong tâm mình nó có hình bóng là do con mắt của mình thấy và cái thức mình lúc đó cũng nhận biết được rõ cái sắc pháp mà con mắt nó thấy. Vì nhận rõ như vậy thành ra nó lưu lại trong tâm, có hình bóng trong tâm.
Sư Phụ: Tại sao có tưởng? Phải học thuộc lòng câu kinh mới được, không có nói chung chung, nói chung chung mình diễn ra nó sai hết, mất chánh pháp.
Sư thầy 6: Dạ mô Phật thầy, là do xúc tập khởi tưởng tập khởi.
Sư Phụ: Đúng rồi, mình phải thuộc lòng cái câu kinh như vậy, phải thuộc lòng, trí tuệ này là thánh trí không có được sai một chữ, sai chữ là coi như xong rồi đó, sai một ly đi một dặm. Cho nên bây giờ ngay tại đây mình tu như thế nào, mình đánh phá những cái thứ này, vô minh là không thấy ngũ uẩn, không thấy sắc; thọ; tưởng; hành; thức, thấy một cái tôi, một cái ta, một cái ngã, một cái mình, một cái tôi, một con người, một ông thầy, một sư cô, thấy như vậy là vô minh. "Tôi là thầy nè", "tôi là cô nè", tôi là một con người nè", "Tôi là một đại đức, thượng tọa, Sa-di", tôi… tôi… tôi… tất cả cái thấy đó là vô minh, không thấy được ngũ uẩn.
Chúng ta nghĩ cái này dễ hay khó nhớ? Chẳng những phải học thuộc mà còn phải nhắc nhớ thường xuyên, phải như lý tác ý đúng như chân lý, tác động tâm ý đúng như chân lý. Như lý tác ý là tác động tâm ý đúng như chân lý, mà chân lý đó là thánh trí của Đức Phật, mà thánh trí là thánh trí ngũ uẩn, thánh trí ngũ uẩn tức là kinh tạng Nikāya, mà kinh tạng chính là giáo pháp nguyên chất của Đức Phật, chính là lời dạy nguyên gốc của Đức Phật, chính là thánh trí tuệ, con đường, đạo lộ, cái phương pháp, cái cách thức. Từ một thái tử Tất-đạt-đa trở thành vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, chính là con đường này, là đạo lộ này, là phương pháp này, là cách quán này, là cách tu này, là cách hành trì này chứ chúng ta không nắm được là vĩnh viễn và mãi mãi chúng ta chỉ tu ở trong nhân thiên pháp thôi, tức là được những cái thiện pháp của cõi người, cõi trời thôi chứ không thể chấm dứt được sanh tử, không thể thoát ra khỏi ngũ uẩn được.
Tất cả những cái mình tu, mình học mà mình không thành tựu thánh trí ngũ uẩn thì mình lòng vòng ở trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức thôi, không bao giờ mình đi ra được sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Con đường này chỉ có bậc Chánh Đẳng Giác duy nhất, không có người thứ hai nói được, sau đó là các bậc thánh A-la-hán và sau đó là những người được nghe hai vị này nói, mà thất truyền là ba hai ngàn mấy trăm năm, sau Đức Phật năm trăm năm là thất truyền cho tới bây giờ. Thời kỳ chánh pháp có năm trăm năm, sau năm trăm năm Đức Phật nhập diệt là thời kỳ chánh pháp và sau năm trăm linh một năm trở về sau tới bây giờ là thời kỳ tượng pháp, không có chánh pháp cho nên chúng ta phải nắm thật là vững, thật là kỹ, thật là rõ, nếu không chúng ta cứ tu lòng vòng, tu lờ mờ, hỏi tu tới đâu cũng không biết, "tu bất khả tư nghì, nói không được, này khó nói lắm, này tôi cũng không biết được, không nói được" vì có biết cái gì đâu mà nói, giống như mình đi ngoài đường có người hỏi:
Thầy đi đâu vậy?
Tôi không biết.
Thầy đi tới chỗ nào?
Tôi cũng không biết luôn.
Vậy là ông thầy nào có vấn đề, bây giờ sự tu mình chung chung, bây giờ là vậy đó, còn cái này không có, cái này mình học kỹ rồi sẽ thấy thế nào là bậc Dự Lưu, thế nào là bậc Nhất Lai, thế nào là bậc Bất Lai, thế nào là bậc vô sanh rõ ràng, minh minh, bạch bạch, tỏ tỏ, tường tường, trong trong, sáng sáng, rõ rõ, ràng ràng. Đi tới đâu mình biết tới đó hết cho nên ngay bây giờ và ở đây là mình luôn luôn phá vô minh bằng cách nhận diện ngũ uẩn. Chính vì vậy mà bây giờ kêu nhận diện ngũ uẩn mà mình không nhận diện được rồi làm sao mình phá vô minh? Làm sao mình hết vô minh? Vì thế lớp học chúng ta vô học là phải nhận diện ngũ uẩn, bất cứ đầu giờ, giữa giờ, cuối giờ đều phải nhận ngũ uẩn và phải cái đó phải làm cho được.
Phật tử người ta lên núi tu có hai tuần thôi mà xuống núi đã nắm được rồi, trong khi mình học mấy năm rồi mà bây giờ mình không nhận diện được thì quá là đáng thương. Thậm chí có người lên núi có mấy ngày thôi, Phật tử cư sĩ mà lên rồi về là người ta nắm được pháp, người ta tu, người ta hành trì, người ta hướng Dự Lưu luôn mà bây giờ mình xuất gia, mình học như vậy liên tục bao nhiêu năm mà mình không nhận diện được là uổng lắm. Mình phải dùng như lý tác ý để mình phá cái khát ái này tức là mình phải quán chiếu nhiều phương diện ở trong cái quán thân, quán bất tịnh, quán ba mươi hai thể trược, quán chín giai đoạn tử thi, quán những cái nguy hại của sắc để mình phá cái khát ái này từ từ. Không phải chỉ có cái thân xác không mà mình ái đủ thứ hết, sắc ái, hương ái, thanh ái, vị ái, xúc ái, pháp ái.
Cái hình bóng trong tâm mình có ái không? Cái hình bóng trong tâm mình có thích không? Nhiều khi thấy minh tinh điện ảnh rồi tương tư, rồi đau khổ, rồi lấy cái hình ôm ngủ, dán hình người ta đủ thứ hết, tự mình làm cho mình khổ vậy đó. Đó là pháp ái, những cái hình bóng, những cái cảm thọ, suy nghĩ bên trong, tự mình làm cho mình khổ chứ người ta có biết mình là ai đâu, rồi mình giận, mình hờn, mình yêu, mình thương, rồi mình mơ, mình mộng, rồi mình tưởng, mình nhớ, rồi mình đau, mình khổ, mình sầu. Ôi trời đất ơi! Giờ kêu trời thôi chứ không biết kêu làm sao, đó là cái dục vọng, cái ác dục của con người, rồi cái ác tham, còn cái sân hận, cái bản ngã, cái vô minh một con người bây giờ là khủng khiếp và kinh hãi. Những ác và bất thiện pháp bây giờ là khủng hoảng.
Bây giờ dùng từ khủng hoảng đạo đức toàn cầu, khủng hoảng nhân đạo cả thế giới, dùng những cái từ xưa nay mình chưa từng nghe mà bây giờ nó đang diễn ra sự thật trên cuộc đời này. Những cái cảm giác hiền thiện rất quan trọng, cực kỳ quan trọng, mình phải phát triển cái này chứ giờ ngồi đây hỏi tu cái gì không biết tu gì hết. Mình chưa nắm được pháp học rồi làm sao mình thực hành pháp hành? Mình không có thực hành pháp hành làm sao mình đi tới pháp thành, làm sao thành tựu? Không thành tựu tức là mình trở thành người vô tích, sự tu cả đời vô tích sự không có được gì hết cho nên phải để tâm thật nhiều vào sự tu học mà mình được thầy chú ý, quan tâm tới mình, nhắc nhở mình, kêu mình trả bài, để tâm hỏi mình là mình rất là có phước báo, chứ không phải mình sợ, không có sợ, hoan hỉ, hạnh phúc, sung sướng, vui mừng vì mình có phước mới được gặp pháp, mình được quan tâm, mình được kêu, mình được nhắc, mình được hướng dẫn là phước báo.
./.
Tóm Tắt Ngũ Uẩn Giảng Giải 31
Cốt Lõi Pháp Hành Nikāya 1
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Vấn - đáp PAGEREF _Toc204010188 \h 1
II. Như Lý Tác Ý PAGEREF _Toc204010189 \h 5
III. Tầm quan trọng của quán chiếu PAGEREF _Toc204010190 \h 8
IV. Sự nguy hại của sắc PAGEREF _Toc204010191 \h 10
V. Xúc PAGEREF _Toc204010192 \h 17
I. Vấn - đáp
Sư Phụ: Ai trả lời đúng có thưởng, thời gian nào là thời gian quan trọng nhất, công việc nào là công việc quan trọng nhất, con người nào là con người quan trọng nhất.
Sư cô 1: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch thầy giáo thọ cùng toàn thể đại chúng, theo con thì thời gian quan trọng nhất là thời gian mà hiện tại bây giờ, còn người quan trọng nhất là người đang bên cạnh mình hiện tại, còn công việc quan trọng nhất là giờ học của lớp mình hiện tại, bây giờ là quan trọng nhất.
Sư Phụ: Cho tràng vỗ tay lớn đi, sư cô được lãnh thưởng. Bây giờ mình đang chạy xe cái gì là quan trọng nhất? Cái xe quan trọng nhất. Mình đang đối diện với người đó thì người nào quan trọng nhất? Là người đối diện. Rồi cái công việc mà mình đang làm có phải là quan trọng nhất không? Vậy thì công việc giờ mình đang làm là công việc gì? Học mà không có chuẩn bị tức là cái tâm mình không có chánh niệm trong cái việc mình, đây là kinh Tứ Niệm Xứ, biết rõ việc mình đang làm, thân thể được sử dụng như thế nào phải rõ biết là nó như thế đó, đó là niệm xứ đó. Phải biết rõ việc mình đang làm, con thưa với các thầy, các cô, con đứng lớp năm nay chắc cũng phải gần hai mươi năm và những cái pháp hội thì phải cũng phải là vài ngàn buổi chia sẻ pháp, con đi trễ thì là có thể đếm trên đầu ngón tay một hai lần thôi vì trường hợp bất khả kháng. Những buổi giảng hay là buổi lên lớp học là con phải đi trước cả tiếng hoặc là nửa tiếng đồng hồ là chỗ gần, còn nếu chỗ xa là đi trước mấy tiếng.
Lúc đó là chùa Hoàng Pháp mở khóa đầu tiên Phật học thường thức là hòa thượng trụ trì giao cho con hẳn cái chương trình đó, con thường đi tới trước hai tiếng đồng hồ. Khi đó đi tới đường đó là người ta chặn ngang vì sửa đường nên kẹt xe, không đi đường đó được nên con phải xuống đi xe ôm quay ngược vô nên trễ năm phút. Đó là lần duy nhất mấy mươi năm cho nên quý thượng tọa biết cái tánh của con là đúng giờ phải lên lớp dù ít hay nhiều. Bây giờ mình tính đi, mỗi bữa mình đi vô trễ năm phút, mình đi về sớm năm phút thì cả một học kỳ mình mất bao nhiêu thời gian? Mình tính được không? Một năm mình mất bao nhiêu thời gian? Hai năm, ba năm cộng lại mình mất bao nhiêu thời gian?
Khi mình lên lớp học với thái độ học như thế nào? Mình có tập trung tâm ý lắng tai nghe pháp, đem hết tất cả tâm lực của mình, đem hết tất cả sự chú ý chú tâm tập trung để nghe hay không? Trong khi nghe nếu có năm triền cái thì mình không có tiếp nhận pháp một cái trọn vẹn được, cho nên tại sao ngài A-nan được ca ngợi:
Tướng giống trăng thu đầy
Mắt giống hoa sen xanh
Phật Pháp như biển rộng
Rót vào tâm A-nan.
Bài kệ đó là nổi tiếng ca ngợi tôn giả Ananda, mà ngài A-nan khi nghe pháp là không có năm triền cái. Năm triền cái là gì sư cô?
Sư cô 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính ngưỡng bái bạch thượng tọa giáo tọa sư, kính thưa toàn thể đại chúng, năm triền cái gồm có trạo cử, hôn trầm, tham, sân và si.
Sư Phụ: Cái cuối cùng là gì?
Sư cô 2: Dạ là si.
Sư Phụ: Có ai nhắc không?
Sư cô 3: Dạ kính bạch thượng tọa giáo thọ, năm triền cái là tham sân, hôn trầm, trạo cử và hoài nghi ạ.
Sư Phụ: Khi nghe pháp mà mức độ tập trung tâm ý, lắng tai nghe pháp của mình ở mức độ nào nữa chứ không phải chỉ có mặt là đủ, thành ra cái việc quan trọng mà mình đang làm chính là hiện tại giờ mình đang ngồi học. Khi mình lên hành thiền thì lúc đó mình hành thiền với cái tâm gì? Nếu có năm triền cán thì giờ hành thiền của mình coi như là một cái giờ với cái tâm mờ tối, yếu ớt, không mắt, mù lòa, vô trí, mình không có đi vào được sơ thiền. Ví dụ mình ngồi mà mình cứ đơ đơ, con mắt lờ đờ mà mình vẫn để vậy, tức là chìm vào trong cái chỗ mờ tối, rồi hôn trầm. Trầm là chìm, hôn là hôn mê, là mù mịt, là mờ mịt, hoặc là mình ngồi đó cứ gãi chỗ này, ngứa chỗ kia, mình mỏi chỗ nọ, mình cứ dao động cái thân hoài, hoặc là trong tâm mình ngồi nhớ chuyện bực hồi sáng này, cái ông sư sư huynh nói câu vậy đó, mình cứ nhớ cái câu đó mình bực hoài, hay là mình ngồi đó tiếc chiều này mình đi trễ không được ăn bún mắm.
Cái giờ ngồi thiền của mình là coi như năm triền cái xâm chiếm, áp đảo tâm làm cho mình yếu ớt trí tuệ, tác thành mù lòa, tác thành không mắt, tác thành vô trí. Cho nên chúng ta phải để ý rất là nhiều ở trong việc làm của chúng ta, tại sao nó không có hiệu quả hoặc nó hiệu quả ít, cái nguyên nhân đó là từ đâu cũng như mình tu vậy đó, sao mình học hoài mình không có thấy pháp, mình tu hoài cũng không thấy tinh tiến, trí tuệ gì hết, thành tựu các pháp, tín – tấn – niệm – định – tuệ, ngũ căn, ngũ lực hay là thành tựu những cái trí tuệ về khổ, nguyên nhân của khổ, sao mình học hoài không thấy. Đó là do cách học của mình cho nên cái quan trọng thật sự của sự tu không phải là ngày hôm qua, cũng không phải là ngày mai mà cái tu của mình thật sự chỉ tu ngay bây giờ thôi.
Người nào nghĩ rằng cái ngày mai mới tu, tuần sau mới tu, tháng sau con mới tu được, con lớn tuổi con mới tu, hay con học xong hết rồi con mới đi nhập thất, thì người này l chưa có thấy pháp, chưa có hiểu pháp. Người hiểu pháp là tu ngay giờ phút này, ở đây, ngay bây giờ, tại chỗ này. Tu ngay hiện tại là tu thế nào?
Sư cô 3: Mô Phật, bạch thầy là chánh niệm tỉnh giác ngay giây phút hiện tại.
Sư Phụ: Chánh niệm thỉnh giác ngay giây phút hiện tại như thế nào?
Sư cô 3: Khi bước đi thì mình chỉ biết mình đang bước đi.
Sư Phụ: Cái đó nó nhỏ lắm, nó không có đủ sức để đâm thủng được khối vô minh uẩn.
Sư cô 3: Dạ, ví dụ giống như khi mình đối diện với một cái gì đó bất ý nghịch lòng với mình, khi tâm mình khởi lên cái gì thì mình phải rõ biết cái điều đó.
Sư Phụ: Bây giờ cái bất ý nghịch lòng nó tới mình mới tu, còn lúc mình vừa ý là mình tu làm sao? Ngồi ngay tại chỗ này là tu sao?
Sư cô 3: Dạ ngay bây giờ thì mình lắng động để nghe pháp, nghe thầy giảng dạy.
Sư Phụ: Rồi lúc ra chơi tu thế nào?
Sư cô 3: Dạ, thì mình làm gì mình rõ biết điều đó.
Sư Phụ: Bây giờ nhìn vô tâm rõ biết bây giờ.
Sư cô 3: Dạ con đang suy nghĩ để trả lời những câu hỏi của thầy.
Sư Phụ: Nhắm mắt lại nhìn sâu vào bên trong nhận diện ngũ uẩn, sắc; thọ; tưởng; hành; thức bây giờ như thế nào?
Sư cô 3: Cảm giác của con hơi run, tưởng là con đang suy nghĩ.
Sư Phụ: Tưởng mà sao con đang suy nghĩ? Nhắm mắt lại tưởng gì?
Sư cô 3: Dạ, tưởng đến những câu hỏi của thầy.
Sư Phụ: Hành suy nghĩ gì? Bây giờ cô nhắm mắt nhìn kỹ trong tâm đang có hình bóng gì?
Sư cô 3: Dạ hình bóng những lời nói của thầy.
Sư Phụ: Rồi có ai xung phong nhận diện ngũ uẩn không ạ? Chưa có nắm pháp sâu sắc được, những cái pháp mình đã được học phải thực hành, phải thực tập, phải thực nghiệm, phải chứng nghiệm.
Sư thầy 1: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính lễ thầy giáo thọ sư cùng đại chúng, trong giây phút hiện tại thì tâm có tham biết mình đang tham, khi mình đang sân biết mình đang sân, khi mình đang si, đang hôn trầm thì mình biết mình đang si, đang hôn trầm. Khi mình biết tham thì mình dùng phương pháp để loại trừ tham ra khỏi cái tâm mình, khi biết sân si, hôn trầm đang hiện khởi ở trong tâm mình thì mình dùng phương pháp để loại trừ những ác pháp đó ra khỏi tâm mình, khi tâm mình có trạng thái an lạc rồi thì cũng ghi nhận trạng thái an lạc.
Sư Phụ: Còn gì nữa không sư?
Sư thầy 1: Dạ hết rồi.
Sư Phụ: Rồi mời quý vị khác, tu ngay bây giờ là tu như thế nào? Mình phải nắm được cái chìa khóa, mình phải nắm được cái pháp hành, mình không nắm được cái này là coi như uổng công mình học.
Sư cô 4: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch trên thầy, khi nãy khi mà con đến trường thì con bị kẹt xe con. Trong khi con dừng lại thì cái tâm con có cảm giác khó chịu và nôn nóng, không biết là mình đến lớp có kịp giờ hay không. Sau khi đi qua khỏi đoạn đường kẹt xe đó thì con lại suy nghĩ về cái cảnh là thứ nhất ở lớp không biết thầy giáo đã vô tới lớp chưa, thứ hai nữa là con sợ đến trễ sẽ ảnh hưởng đến lớp vì mình vô trễ, và cảm giác của con khi vừa tới lớp thì cảm thấy rất là mệt vì mình con rất ít đi trễ mà hôm nay con đi trễ cho nên cảm giác rất là khó chịu. Nhưng khi vừa tới lớp thì tự nhiên con nghe được câu hỏi của trên thầy thì ban đầu con chưa nghe rõ lắm cho nên con hỏi cô lớp phó và con cảm thấy là mình trả lời để mình lấy lại cái sự bình tĩnh của mình sau khi mình tới lớp với cái sự gọi là bị mệt, với cái tâm mình chưa có được ổn định.
II. Như Lý Tác Ý
Sư Phụ: Chúng ta có rất là nhiều cái pháp hành chúng ta đã được học mà không có nhớ. Tại sao không nhớ? Tại vì không có thực hành, tu là tu bất cứ mọi lúc mọi nơi chứ không phải đợi giờ tu mới tu, cái pháp cực kỳ quan trọng ở bất cứ mọi lúc mọi nơi là cái pháp an trú cảm giác toàn thân. Cái lớp này là con cứ lặp tới lặp lui cái pháp hành cho chúng ta, mình phải luôn luôn coi cái cảm thọ trong con người của mình, đương nhiên cái phần đi, đứng, ngồi, nằm thì ai cũng nắm được rồi, không cần phải nhắc lại hoài nữa. Lúc nào mình cũng phải để ý cái thân hình của mình và để ý cái cảm thọ trong thân, mình phải tưới tẩm và phải nuôi dưỡng những cái cảm giác hiền thiện, an tịnh. Bất cứ lúc nào đi, đứng, ngồi, nằm, bất cứ ở đâu mình cũng để ý cái cảm giác toàn thân, từ đỉnh đầu cho tới gót chân của mình cảm giác đang như thế nào.
Nếu mình thấy có một cái cảm giác lăng xăng, dao động thì lúc đó mình phải lập tức làm cho nó an tịnh, lắng dịu. Phải để ý kỹ cái này vì đây là pháp hành, nếu mình để ý thấy hiện tại bây giờ trong thân mình và cảm thọ đang có một sự lăng xăng, dao động, vội vàng, hấp tấp thì lập tức mình phải ra một cái pháp lệnh an tịnh, lắng dịu cái sắc này. Mình hành pháp thì phải ra một cái pháp lệnh, trong người mình không có pháp thì lấy gì mình có pháp lệnh, trong người mình không có pháp lấy gì mình có pháp hành, trong người mình không có pháp lấy gì mình an trú cái pháp, trong người mình không có trí lấy gì mình thấy được cái pháp, mình trú cái pháp. Chúng ta thấy chưa? Cho nên khi mình thấy một cái thân sắc hiện tại đang có một cái sự vội vã, vội vàng, bộp chộp, gấp gáp, lăng xăng, dao động, trạo cử thì lập tức mình ra một cái pháp lệnh an tịnh, lắng dịu "này cảm thọ, ngươi hãy nghe đây, an tịnh lắng dịu xuống. Ta ra lệnh cho ngươi an tịnh, lắng dịu ngay lập tức, liền và ngay bây giờ". Đó là chúng ta tu để nhìn thấy được thân tâm của mình, điều chỉnh thân tâm của mình, đưa nó vào cái đạo lộ, đưa nó vào cái sự hành trì, đưa nó vào cái thánh đạo.
Bây giờ mình thấy trong này có những cái cảm giác thúc giục "bây giờ ngươi thúc giục cái gì? Ngươi dục cái gì? Ngươi ái cái gì? Ngươi khoái cái gì? Ngươi người ham cái gì? Lấy cái tay rờ lên cái đầu trọc đi, vô coi cái gương coi ngươi dục ái gì, ái cái gì, tham cái gì, ngươi thèm cái gì, khát cái gì?". Phải quở trách tâm mình, trách cái dục, la dục, mắng dục, chửi dục, nó là dục chứ nó không phải là mình, cái cảm giác thúc giục muốn ăn, muốn chơi, muốn đi đây đi đó, hí ha hí hửng, buông lung phóng dật, thả lỏng các căn là phải rầy la, quở trách, mắng. Trong kinh Đức Phật nói tự mình đi đến mình tự mình dò xét mình tự mình chỉ trích mình
"Tự mình chỉ trích mình
Tự mình dò xét mình,
Tỳ-kheo tự phòng hộ
Chánh niệm, trú an lạc"
(Kinh Pháp Cú 25 – Phẩm Tỳ-kheo, kệ 379)
Đó là pháp hành, tự mình đi đến mình tức là mình quay về mình nhận diện thân tâm chứ không phải mình đi đến người tam không phải mình đi đến Sa Đéc, Vũng Tàu, Rạch Giá, Đà Lạt, Hà Nội, Thái Lan, Mỹ, Úc, đi cái đó thì đi hết cái địa cầu này cũng tham, sân, si, sầu, bi, khổ, ưu, não thôi, đi hết mấy cái đó thì cũng trở thành nắm tro, trở thành bộ xương, trở thành đống cát bụi thôi, không đến đâu hết trơn nhưng mà đi đến mình thì mình mới nhiếp phục được tham, sân, si, mới chấm dứt sanh tử. Cái sự tu hành này là cái sự đi về mình, đi đến mình, chúng ta nhớ kỹ cái này, "ngươi thúc giục cái gì? Ngươi ham muốn cái gì? Ngươi khoan khoái cái gì? Ngươi thích cái giống gì ở trên cuộc đời này? Cha mẹ ngươi còn bỏ, anh em ngươi còn bỏ, cô bác, ông bà, thân quyến cùng một huyết thống ngươi còn bỏ hết thì vô đây ngươi thích cái gì? Ngươi khoái cái gì? Ngươi dục cái gì? Ngươi ái cái gì? Ngươi kết thân với ai?". Chúng ta phải rầy tâm, la tâm, quở tâm, trách tâm, mắng tâm, chửi cái tâm, đó là như lý tác ý, đó là tuệ lực, đó là thánh tư duy, là chánh tư duy, đó là sức mạnh của tri kiến.
Chúng ta có tu cái này không? Một ngày la tâm được bao nhiêu lần? Tại cái tâm mình không có la cho nên ở ngoài ai la mình là mình sân liền, tự ái, bản ngã liền. Nếu mình thường la mắng cái tâm mình thì ở ngoài người ta la thì mình bình thường, ngược lại còn cảm ơn cho nên tự mình đi đến mình, tự mình dò xét mình, tự mình chỉ trích mình. Ba cái từ đó là ba cái phương diện, ba cái khía cạnh, ba cái góc độ, là chánh kiến, đó là nhìn thấy được chính mình, thấy đúng về mình, thấy chính xác về mình, thấy trân xác về mình, thấy xác đáng về mình, thấy xác thực về mình mà thấy bằng trí tuệ, thấy bằng thánh trí, thấy bằng cái tri kiến của bậc thánh. Không phải thấy bằng cái tình cảm thông thường để nuông chiều mình, bênh vực mình tể ôm ấp cho cái tự ngã mình cao to lên, cái đó là cái thấy của phàm phu, thấy của ngu si, thấy của vô minh, thấy của chấp ngã, thấy của hơn thua, thấy của đúng sai, thị phi, tật đố, cái thấy đó chỉ đưa đến khổ đau thôi.
Mình không cần đi tìm cái thấy đó, cái thấy đó đầy rẫy trên thế gian này rồi, mình đi tìm cái thấy cao thượng hơn, thù thắng hơn, cái thấy xứng đáng bậc thánh, thượng nhân pháp cho nên kêu nhận diện ngũ uẩn mà cứ ngồi im hoài. Phải xung phong lên, nhiệt tâm lên, năng động lên, thậm chí là chưa kêu nữa là xung phong lên "con nhận diện ngũ uẩn trong tuần này, con thấy nó quậy quá xá rồi". Cho nên tự mình đi đến mình là quay trở về thân "cái thân này đang làm gì đây thân?", khi mình nhìn bằng Tứ Niệm Xứ, khi bằng mình nhìn bằng trí tuệ, khi mình nhìn bằng chánh quán, khi mình nhìn bằng thánh trí thì lúc đó thân này là đối tượng của thiền quán chứ không phải thân này là mình. Thân này là đối tượng của cái trí tuệ để nhìn, bây giờ nhìn lại cái cảm thợ "mày thúc giục cái gì? Mày ham muốn cái gì? Mày thèm khát cái gì? Mày khao khát cái gì? Mày khát ái dữ lắm phải không? Mày khát vô lượng vô biên kiếp tới giờ vẫn còn khát phải không?"
Mình la tâm, quở tâm, trách tâm, chửi tâm, mắng tâm, đánh đập cái tâm cho nên tự mình chỉ trích mình, đó là trong Nikāya. Bắt đầu trí tuệ lóe sáng lên chưa? Thấy được pháp hành chưa? Học mà chỉ đọc thôi thì đọc cho tới chết trí tuệ cũng không có khai sáng lên được, mình không thấy mình thì làm sao mình có thể dọn dẹp được những cái rác bẩn ở trong con người mình, trong tâm mình. Vì vậy tự mình đi đến mình là nhận diện ngũ uẩn coi trong cảm thọ rồi tự mình dò xét, mình mình trong cái suy nghĩ, trong hình bóng trong tâm này. Cái suy nghĩ này là suy nghĩ ác, bất thiện pháp, dục tư duy, sân tư duy, hại tư duy, cái suy nghĩ của bản ngã, của hơn thua hay là suy nghĩ ly tham, ly dục, ly sân bất hại, đây là chánh tư duy ở trong Bát Thánh Đạo, từ chánh kiến đi đến chánh tư duy, từ cái thấy đúng đi đến cái suy nghĩ đúng, cái quán sát đúng.
Mình dò xét mình, chỉ trích mình, mình theo dõi nó, phải bám sát cái đối tượng cho nên vị cao Tăng ở bên Myanmar nói "tâm không gắn liền đề mục thì cả đời buông lung phóng dật", tâm không có gắn với đề một thì cả cuộc đời của mình buông lung phóng dật cho nên khi kêu trình pháp có biết gì đâu mà trình, mình có tu đâu, mình có thực hành đâu, do mình không có gắn liền với cái đề mục. Cái đề một tu hành của mình là cái gì? Phải có đề mục và đề mục đó phải đúng thánh trí của Đức Phật dạy mình chứ không phải mình tu theo cái đề mục sau này của người ta đưa ra, đưa ra trong vô minh, đưa ra trong mê tín, cầu xin, van xin, Đức Phật không có dạy cái đó.
Đức Phật dạy mình phải nhìn thấy thân tâm của mình, nhiếp phục, chế ngự, tẩy sạch tất cả những cái làm cho mình khổ đau, tham, sân, si, dục ái, bản ngã. Họ không có kêu mình đi cầu xin ai hết, ngay cả Đức Phật cũng không có cầu xin Phật cho nên tâm không có gắn với cái đề mục, cả cuộc đời của mình buông lung phóng dật, sống vất vơ vất vưởng như cô hồn, tâm không có an trú vô pháp. Chúng ta nhìn lại cái cảm giác đó, hay là một cái cảm giác sân hận, bốc cháy lên, nó khó chịu, nó bực bội, nó gắt gỏng, nó ghim gút, cọc cằn, nó cau có, nó phẫn nộ, nó nhiệt não, nóng bức thì cái này ác độc, cái này là khốn nạn, súc sanh. Mình la cái tâm mình, mình mới dùng những cảm thọ hiền thiện của tâm hiền, tâm từ để trị nó, hóa giải cái này. Nó đang bừng, nó đang bốc, nó đang cháy, nó đang phựt, nó đang phẫn nộ lên, nói nhẹ một câu thôi là sừng sộ, phẫn nộ, sân hận, cau có, cọc cằn thì tâm này là tâm quái vật, mình kêu thẳng vô cái cảm thọ "mày là quái vật, mày đâu phải người tu". Phải dùng cái từ cho nó mạnh chứ còn nhẹ nhẹ làm sao trị nổi con quái vật khổng lồ vô lượng vô biên kiếp tới nay, bao nhiêu con yêu tinh trong Tây Du Ký là chỉ cho cái tâm mình. Chúng ta nhớ kỹ cái tâm này là ma tâm.
Sắc là ma, thọ là ma, tưởng là ma, hành là ma, thức là ma, sắc là kẻ giết người, mình bị nó giết vô lượng vô số, vô biên kiếp rồi chứ không phải mới đây.
"Người ấy không như thật biết rõ: 'Sắc là kẻ giết người'; 'Thọ là kẻ giết người'... 'Tưởng là kẻ giết người'... 'Các hành là kẻ giết người'... 'Thức là kẻ giết người', người ấy không như thật biết rõ: 'Thức là kẻ giết người'.
Người ấy đến với sắc, chấp thủ, nhiếp trì: 'Sắc là tự ngã của ta'. Người ấy đến với thọ... với tưởng... với các hành... người ấy đến với thức, chấp thủ và nhiếp trì: 'Thức là tự ngã của ta'. Năm thủ uẩn này được người ấy đi đến chấp thủ, sẽ đưa đến bất hạnh, đau khổ lâu dài cho người ấy". (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (e), IV. Phẩm Trưởng Lão, III. Yamaka)
Thầy có bị giết không? Có bị giết nhiều không?
III. Tầm quan trọng của quán chiếu
Sư thầy 2: A-di-đà Phật, kính bạch thượng tọa giáo thọ sư cùng đại chúng, cái sắc thì nó giết nhiều lắm, chẳng những mà nó làm mình nhớ nhung, nó làm mình phải sầu não, làm mình phải bất an, làm mình phải khó chịu. Lúc mình tuổi mới lớn, mình mới biết yêu lần đầu thì mình thấy một đối tượng mà mình thích thú, mình yêu mến, mình để vào lòng thì lúc nào tâm trí mình cũng bị gắn liền với nó, không còn ở trong cái thân này mà tối ngày cái tư tưởng cứ nhớ về người yêu đó, cái mối tình đầu đó làm mình phải sầu não ghê gớm, làm mình có thể đi đến quyên sinh, tự tử, có thể là bế tắt luôn. Nếu mình không gặp được những bậc thượng thiện nhân hoặc những thầy lành bạn sáng để chỉ dạy, để mình tâm sự, để mình mở tâm khai thông trí ra để tìm một con đường thoát khỏi những sự ám ảnh đó thì có thể cuộc đời mình tàn phế luôn, mình sẽ lọt vào những căn bệnh trầm cảm rồi mình tối ngày chỉ đóng cửa chơi mình thôi. Mình buồn bã, mình sầu não, mình ám ảnh, mình khó chịu, nói chung là người mình giống con ma vậy đó.
Con cũng từng bị cái này, lúc đi học đại học ở ngoài đời cũng bị trường hợp này nên mấy ông thầy bạn ghẹo "Ủa bộ thất tình đi tu hả" thì mình cũng cười cười nhưng mà mình thật sự rất là khổ đau khi trải qua giai đoạn đó. Nó làm mình hủy hoại luôn cái thân tâm mình, học hành không có nổi luôn và bế tắc dữ lắm, tối tăm, u ám ghê gớm luôn, khổ. Đó là trường hợp bản thân con từng trải qua.
Sư Phụ: Mình nhận diện như vậy rất là tốt, phải vạch cái mặt của nó ra, cái mặt ác độc của nó, cái mặt mà nó tàn bạo, nó hãm hại mình mà mình không thấy được kẻ thù, mình lại còn nâng niu, ôm ấp, mình sống dùng với nó thì thôi rồi, thì mình chết dài dài, chết hoài hoài, chết mãi mãi, chết vĩnh viễn, chết vô lượng vô số, vô biên kiếp mà mình không thấy kẻ thù của mình, mình chơi thân, mình kết thân giao với nó. Bây giờ mình phải ly dị nó, nhất chí không? Có ly vị với sắc không? Phải hướng tâm tới đó, nó làm cho mình khổ, nó làm cho mình sầu, nó làm cho mình đau, nó làm cho mình buồn, nó làm cho mình ưu não. Mình phải nhàm chán nó, phải quán thật là nhiều cái tính nguy hại của sắc, sự nguy hiểm và tác hại của sắc, chúng ta phải quán vì tất cả là thiền quán.
Nếu không có quán chiếu làm sao sanh trí tuệ? Phải thiền quán sự nguy hiểm và tác hại của nó, nó ác độc lắm. Bởi giờ mình nói mình yêu thương, mình nhớ nhung, mình tương tư, mình khổ sầu, mình thất tình rồi bây giờ mình có sân hận không? Mình có bị đốt cháy không? Mình có bị giam hãm ở trong đó không? Cái tâm cứ xà quần trong đó hoài không biết đường ra, mà không phải người dưng, người thân trong gia đình mà cũng giận nhau, rồi thận thù với nhau, cho nên cái sắc này đâu phải nó chỉ là tham dục không đâu, nó sân hận, hơn thua, bản ngã đủ thứ hết. Vì mình vô minh, mình si mê, mình mù lòa, mình không có thấy đường, mình đui cho nên mình mới khổ, nếu mình mở được mắt thánh ra rồi, thánh nhãn mở, pháp nhãn mở, trí nhãn mở, minh nhãn rồi rồi tuệ nhãn mở ra thì mình đã nhàm chán nó từ lâu rồi thứ ác độc, tai họa, cái thứ thống khổ, đau khổ.
Mình bị ăn bù mê thuốc lú, tức là vô minh, bị cái vị ngọt có một chút xíu đó thôi là trời đất ơi, trời đất ơi, trời ơi, kêu trời không thấu mà kêu đất không xong. Một chút xíu vị ngọt của nó thôi là chết mê chết mệt, chết cay, chết đắng, chết nhục, chết nhã, chết hèn, chết hạ, chết tan, chết tức, chết tưởi, chết không thấy xác chết bờ, chết bụi, chết cay, chết đắng, chết khổ, chết sầu, chết đau, chết đớn. Nó ác độc như vậy mà mình không nhìn thấy được cho nên mình phải ngồi thiền nghiền ngẫm, mình quán hết tất cả những cái sự ác độc, nguy hiểm, tai họa, những cái thứ cho mình đau khổ mình lôi hết tất cả, mình khổ từ hồi nhỏ tới lớn bao nhiêu mình lôi hết ra rồi mình điểm mặt, mình vạch mặt, mình chỉ mặt, mình tán vô mặt nó "đồ ác độc mày tan biến khỏi tâm tao đi, mày tham cái giống gì trong này? Trời đất ơi tao khổ vậy mà chưa đủ nữa sao mà mày chập chờm, mày ma sao mà ám ảnh tao hoài vậy? Tan biến khỏi tâm ta đi".
Đó là thánh trí tuệ đó, thánh trí đó, đó là cốt tỷ của kinh tạng Nikāya đó, thánh trí đó, là tuệ giác đó. Còn tu mà ngồi im ru, không có suy nghĩ gì hết, đơ đơ, si si, mê mê, ám ám, ngơ ngơ, ngáo ngáo rồi biết ngày nào sanh khởi tuệ giác? Cái thánh trí là mình phải nghe được cái thánh trí rồi mình nhắc hoài, nhắc tới nhắc lui để nhớ rồi nó sống ở trong đó, tới lúc mà nó nhớ mãi không quên thì thể nhập thánh trí. Bây giờ hỏi ngồi đây tu gì không ai nói được, phải nhìn sâu và bên trong, thứ nhất nhìn cái thân thể tức là quán thân trên thân, thứ hai nhìn trong cảm thọ coi trong này nó có thúc giục không, nó có bực bội, khó chịu ai không, nhiều khi trời nóng nực chút cũng bực, trời lạnh chút cũng khó chịu, đi chút cũng mỏi chân, cũng sân, rồi ai chạm tới chút cũng phẫn nộ. Cái này có không? Đừng có vội, chậm chậm mà trả lời bằng thiền quán, bây giờ nói không mà tới lúc người ta chạm vô thì nói có. Mình không có nhận diện ngũ uẩn, mình không có thấy đâu, không có thấy được, ở phải nhận diện ngũ uẩn thường xuyên mới thấy.
IV. Sự nguy hại của sắc
Sư thầy 3: Dạ mô Phật, kính bạch thầy, kính thưa đại chúng, sau khi con nghe thầy hỏi về chữ sắc thì ngay lúc này hình bóng trong tâm con hiện về, con lại nghĩ là con nhớ lại hồi năm lớp bốn con đã giống như biết thương một cô đó. Cô đó là lớp trưởng.
Sư Phụ: Mọi người an tịnh, lắng dịu, tập trung quay trở về cả thọ của mình để nghe.
Sư thầy 3: Ngay lúc đó hình bóng, cái sắc tưởng và cái thanh tưởng của cô lớp trưởng hiện về trong con, con nghĩ là cái sự thích thú của mình về những cái sắc đẹp đầu đời của mình. Con tưởng lại, con nhớ lại ngay lúc đó của mình thấy cô đó nói chuyện với ai đi nữa là tự nhiên trong tâm con lúc đó là xuất hiện cái tâm ganh tỵ, không có muốn cô gái đó tiếp xúc với những người đàn ông ở trong lớp. Cái tâm ganh tức, cái tâm ích kỷ, hẹp hòi của con hiện lên và ngay cái lúc đó cái sắc tưởng của con nhớ từng cái chi tiết khuôn mặt cô sao, cái thanh tưởng và cái giọng nói cô ấy như thế nào và con càng để ý càng sâu hơn nữa những cái cử chỉ nhỏ nhất của cô, từ cái tay cầm cây viết, khi cô ấy đứng trên lớp phát biểu, cái khẩu hình miệng như thế nào con đều nhớ hết.
Tiếp theo tới năm lớp tám thì lại cũng là một cô lớp trưởng khác, mỗi buổi sáng con đều bị cái sắc này nó ngự trị là mình đi học sớm hơn, mình biết cô đó ở cái nhà đó, thường cái giờ đó là bắt đầu cô sẽ đi vào trường thì cái lúc đó tự nhiên ngay cái thời gian đó mình lại đứng ngay cái hành lang ngóng ra ngoài cổng trường coi cái cô này cô đến trường. Mình nhìn theo cái hình bấm của cô đi từ ngoài cổng trường đi vào tới lớp, hoặc là có những giờ thể dục thì lớp con với lớp của người con gái đó được học chung.
Sư Phụ: Đừng có khai thác về cái hướng đó nhiều mà hãy đưa cái trí tuệ vào nhiều hơn.
Sư thầy 3: Dạ, thì ngay lúc đó con nhớ lại những lời dạy này, mình đã bị cái sắc nó ngự trị quá lâu trong tâm, nó làm mình thứ nhất là mất thời gian, thứ hai là những cái tâm tiêu cực của mình, những cái tâm ghen tức, những cái tâm ích kỷ, hẹp hòi của mình ngự trì trong mình. Đến khi sau này khi con xuất gia được học và thực tập những cái cơ bản nhất thì mỗi lần đứng trước một cái sắc đẹp, con nhớ tác ý theo trong phim Tây Du Ký, con yêu quái biến thành một người nữ đẹp thì mới đầu nó tiếp cận với ông thầy này là một hình tướng người nữ rất là đẹp, nhưng khi ông thầy đã bị mê muội rồi thì bắt đầu cái con yêu quái sẽ mọc lên năm cái móng tay rất là dài, nó bấu vào đầu của ông thầy, lúc đó ông thầy chảy máu, ông thầy chết thì con nhớ lại lời của thượng tọa Quảng Thiện đã dạy "người con gái nào mà càng đẹp chính là yêu quái, mà yêu quái thì nó sẽ làm hại cho chính đời tu của mình, hủy hoại đi cái thân này của mình và cả đời tu, lúc đó cái tâm mình không hướng đến cái sự tu tập nữa mà luôn hướng đến sự đau khổ, luôn bị cái đau khổ ngự trị".
Cái thứ hai để con tác ý đến là khi con gặp một cái sắc đẹp bị đắm chìm ở trong đó, mình bị cái đó lôi cuốn và lúc đó con suy nghĩ rằng đời tu của mình có thể từ bỏ hết cha mẹ. Cha mẹ của mình là người gần gũi nhất của mình, người thương yêu nhất của mình mà mình có thể từ bỏ được, những người này chỉ là người dưng nước lã thôi mà mình còn ôm ấp mấy cái này, mình từ bỏ mấy cái này không được. Cái thứ ba nữa con suy nghĩ đến là mình mà còn đắm chìm trong cái này thì mình còn sẽ phải đau khổ hoài hoài, ngay lúc đó những cái khát ái, những cái tham muốn, những cái tâm lý muốn chiếm đoạt cái người đó từ từ nó con thấy bắt đầu bớt dần và cứ theo năm tháng như vậy. Lúc trước khi con nhìn một cái hình bóng, hình tướng đẹp như vậy thì cái tâm con khởi lên những cái ham muốn, thích thú về cái sắc đẹp đó, nó mười nhưng mà con thấy thời gian từ từ nó chỉ còn chín hoặc còn tám, hoặc là con nhớ nhung về hình ảnh đó thí dụ một tháng nhưng mà bây giờ có thể là chỉ trong vòng hai ngày, ba ngày hoặc là một tuần gì đó.
Con thấy khi mình tác ý tới cuộc đời của Đức Phật, những lời dạy của những vị sư phụ và những cái cảnh khổ của những vị tu sĩ khi bị những cái đó chế ngự, những cái đau khổ mà những vị tu sĩ đó bị. Con suy nghĩ tới những cái đó tự nhiên những cái thích thú của mình bắt đầu giảm bớt và con thấy cái này rất là hữu ích. Nam mô A-di-đà Phật.
Sư Phụ: Cho tràng vỗ tay lớn đi, đó là mình quán sự nguy hại của sắc, sự nguy hại của dục, nguy hiểm và tác hại. Mình phải triển khai thiền quán, phải chiêm nghiệm, phải quán sát, phải tư duy, phải nghiền ngẫm, phải đột phá, phải đánh phá, phải phá tan, phá vỡ, phá banh, phá nát, phá sập, phá đổ cái hang ổ, xào huyệt, cái căn cứ địa của dục sắc ở trong thân tâm của mình. Đâu có phải tu phớt phớt, chơi chơi được, mình phải gia công dụng hạnh, dồn lực, dồn sức, dồn tâm của mình, phải tận lực, không phải chuyện dễ, một cái quan ải này "tự cổ anh hùng nan quá mỹ nhân quan", nghĩa là từ xưa đến nay anh hùng khó qua ải mỹ nhân. Tất cả ngồi bên đây là yêu quái, bên đây cũng là yêu quái của bên đây luôn, chúng ta hiểu cái ý con nói không? Sắc chính là yêu quái, cái này không phải con nói chuyện giỡn đâu. Một thầy Tỳ-kheo bạch Thế Tôn thế nào là mara (ma), Đức Phật nói sắc là ma.
"Tôn giả Ràdha bạch Thế Tôn:
-- 'Màra, Màra', bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, được gọi là Màra?
-- Nếu có sắc, này Ràdha, thời có chết (Màra) hay có sát giả (Màretà), hay có sự chết (Miiyati). Do vậy, này Ràdha, Ông hãy thấy sắc là sự chết, hãy thấy là sát giả, hãy thấy là bị chết, hãy thấy là bệnh, hãy thấy là ung nhọt, hãy thấy là mũi tên, hãy thấy là bất hạnh, hãy thấy tự tánh là bất hạnh. Những ai thấy sắc như vậy là thấy chơn chánh.
... Thọ... tưởng... các hành... (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương II. Tương Ưng Rādha, I. Phẩm Thứ Nhất, I. Māra)
Tại sao sắc là ma? Tại vì mình đam mê vô sắc này thì có phải mình sanh tử không? Mà tử là người ta kêu là đám ma cho nên sắc là ma, thọ; tưởng; hành; thức cũng ma nên gọi là ma tâm. Tại vì cái sắc này mình đối diện với nó có một chút thôi nhưng mà thọ; tưởng; hành; thức ở trong này cho nên từ lớp bốn tới giờ mà nhắc là nhớ liền. Nó an trú ở trong đó, nó có chỗ đứng ở thọ; tưởng; hành; thức của mình mà vì vô minh, vì si mê, vì không có trí tuệ cho nên mình không biết cái hang ổ, cái xào huyệt, cái căn cứ địa và cái nhân duyên tập khởi của nó, tức là từ đâu mà nó nhen nhóm, nó manh nha rồi nó có chỗ đứng trong tâm của mình. Mình không biết nên nó xâm chiếm, nó áp đảo, nó làm cho mình đau khổ, sầu, bi, ưu, não thế nào mình cũng không hay.
Bây giờ mình muốn đoạn tận, diệt nó, sắc diệt mình không biết, không biết sắc tập khởi, không biết sắc đoạn diệt cho nên mình mới khổ đau, mình mới luân ngồi. Còn bây giờ mình học cái này, mình học thánh trí ngũ uẩn là mình có được sanh diệt trí về năm quẩn. Sanh diệt trí là một cái trí tuệ thấy được căn nguyên, nguồn cội từ đâu mà nó sanh khởi và làm như thế nào cho nó chấm dứt, chúng ta đang học đây là ba mươi bảy loại trí, bảy trí sắc, bảy trí thọ, bảy trí tưởng, bảy trí hành cho nên gọi là sanh diệt trí. Thế nào là sắc sanh?
Sư thầy 4: Mô Phật, kính bạch thượng tọa giáo thọ sư, kính bạch đại chúng sắc sanh là do thức ăn tập khởi nên sắc tập khởi.
Sư Phụ: Đúng rồi nhưng mà thầy thuộc thêm mấy cái trí khác không?
Sư thầy 4: Dạ thuộc.
Sư Phụ: Vậy thầy đọc luôn đi.
Sư thầy 4: Sắc diệt, do thức ăn đoạn diệt nên sắc đoạn diệt. Sắc diệt đạo, phương pháp tu tập đúng đắng đưa đến sắc đoạn diệt là phương pháp tám đúng. Vị ngọt của sắc là do duyên sắc khởi lên lạc hỷ gì thì lạc hỷ này là vị ngọt của sắc. Sự nguy hại của sắc là bản chất của nó là vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, đó là sự nguy hại của sắc. Sự xuất ly của sắc, sự nhiếp phục dục và tham, sự đoạn tận dục và tham đối với sắc là sự xuất ly khỏi sắc.
Sư Phụ: Cho tràng vỗ tay lớn và dài, ai xung phong trả bài bảy trí về thọ? Cái này là rất quan trọng, thánh trí mà không thuộc thì làm sao biết cái cách quán chiếu tu tập? Bảy trí về thọ ai thuộc? Tại sao thọ sanh? Vị ngọt của thọ là cái gì? Sự nguy hại của thọ là cái gì? Làm sao để đoạn diệt thọ? Cái này phải thuộc lòng thuộc như thuộc như chú vãng sanh, như chú đại bi vậy đó, thuộc như lăng nghiêm vậy đó, thuộc còn hơn mấy cái đó nữa mới được. Cái này quan trọng lắm, rất là quan trọng, tất cả sự tu này là tu ngay bây giờ, tu ngay tại chỗ ngồi này, những cái hình ảnh xuất hiện là mình đánh phá liền, những cái suy nghĩ đó xuất hiện là mình diệt nó liền, sát phạt nó liền, những cái cảm giác đó xuất hiện là lập tức mình dập nó tới tấp. Đó là tu ngay tại bây giờ chứ đợi tới bao giờ tu? Mình phải quán, tác ý, tư duy, mang cái hình hài này là một tai họa, là một sự bất hạnh, là một sự bệnh hoạn, ung nhọt.
"Ví như, này chư Hiền, một ung nhọt đã trải nhiều năm. Nó có chín miệng vết thương, có chín miệng nứt rạn. Từ đấy có cái gì chảy ra, chắc chắn bất tịnh rỉ chảy, chắc chắn hôi thúi rỉ chảy, chắc chắn nhàm chán rỉ chảy; có cái gì nứt chảy, chắc chắn bất tịnh nứt chảy, chắc chắn hôi thối nứt chảy, chắc chắn nhàm chán nứt chảy.
Ung nhọt, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với thân này do bốn đại tác thành, do cha mẹ sinh ra, do cơm cháo chất chứa nuôi dưỡng, vô thường, biến hoại, tan nát, hủy hoại, hoại diệt, có chín miệng vết thương, có chín miệng nứt rạn. Từ đấy có cái gì chảy ra, chắc chắn bất tịnh rỉ chảy, chắc chắn hôi thúi rỉ chảy, chắc chắn nhàm chán rỉ chảy; có cái gì nứt chảy, chắc chắn bất tịnh nứt chảy, chắc chắn hôi thúi nứt chảy, chắc chắn nhàm chán nứt chảy.
Do vậy, này các Tỳ-kheo, các Thầy hãy nhàm chán thân này." (Tăng Chi Bộ, Chương IX - Chín Pháp, II. Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử, (V). Một Ung Nhọt)
Mình phải nhớ hoài, mỗi khi mình đi tiểu đi tiện mình phải nhìn kỹ, mình ngửi cái mùi đó, mình đưa cái cảm thọ, mình phải nhận định một cách sâu sắc những cái thứ này là từ thân này, mồ hôi chảy ra, nước mũi chảy ra, cứt mũi chảy ra, cứt ráy chảy ra, nước miếng chảy ra, máu chảy ra, mỡ nó chảy ra, nước tiểu, phân chảy ra thì mình phải cảm thọ một cách sâu sắc một cái sự thật phũ phàng mà nó nhơ nhóp như vậy, một cái tâm mê, hôn mê, hôn ám, si ám, ngu muội. Nó ăn cháu lú ở trong này, lú tức là vô minh, hai cái tên đầu xỏ, tổng chỉ quy, bộ tổng tư lệnh là vô minh và khát ái, bây giờ mà mình cứ để im ru cho nó thì làm sao mình diệt nó được.
Phải tâm tâm, niệm niệm, giờ giờ, phút phút từng cái suy nghĩ, từng cái hình bóng, từng cái cảm giác. Mình đánh phá hai cái tên tổng tư lệnh, bộ chỉ quy này, những cái thứ ác độc nhất đang ngắm ngầm hoạt động ở trong thân tâm của mình. Khi mình nghe thánh pháp thì bên trong có một cái tâm chống đói lại, nó nói đẹp mà, dễ thương mà sao bây giờ kêu quán bất tịnh. Thí dụ bây giờ ai chỉ vô mặt mình nói "cô thúi quắc hà", "thầy dơ bẩn quá vậy, hôi hám" thì lúc đó mình sao? Mình sân hận lên, cái đó là sự thật mà tại sao mình sân? Tại vì mình ăn cháo lú, tại vì vô minh, tại vì si mê, tại vì hôn ám cho nên người ta nói sự thật là mình bực bội, mình sân hận lên. Chính vì vậy Đức Thế Tôn khi ngài chứng Chánh Đẳng Chánh Giác ngài không có muốn thuyết pháp, ngài không muốn nói pháp ngài đạt được vì nó thâm thúy, vi diệu, nó siêu thế, không lý luận, khó hiểu mà chúng sanh đầy rẫy những bụi đời, họ khoái dục, họ ham dục, họ thích dục, họ khát ái, khát dục thì bây giờ ta nói mà chúng sanh không hiểu thì thật là mệt nhọc cho ta, thật là phiền não cho ta nên ngài hướng tới Niết-bàn vô vi thụ động.
"Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Uruvelà trên bờ sông Neranjarà, dưới gốc cây Ajapàla Nigrodha, khi Ngài mới thành đạo.
Rồi Thế Tôn, trong khi Thiền tịnh độc cư, tư tưởng sau đây được khởi lên:
'Pháp này do Ta chứng được, thật là sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, cao thượng, siêu lý luận, vi diệu, chỉ người có trí mới cảm nhận! Còn quần chúng này ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục, thật khó thấy định lý này, tức là y duyên tánh duyên khởi pháp. Thật khó thấy định lý này, tức là tất cả hành là tịch tịnh, tất cả sanh y được từ bỏ, ái tận, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn. Nếu nay Ta thuyết pháp mà các người khác không hiểu Ta, như vậy thật mệt mỏi cho Ta, như vậy thật bực phiền cho Ta.'
Rồi những bài kệ vi diệu này, từ trước chưa từng được nghe, được Thế Tôn nói lên:
Pháp Ta chứng khó khăn,
Sao nay Ta nói lên?
Tham, sân chi phối ai,
Khó chứng ngộ pháp này.
Pháp này đi ngược dòng,
Vi diệu và thâm sâu,
Khó thấy, rất vi tế.
Những ai ưa ái dục,
Bị vô minh bao phủ,
Rất khó thấy pháp này.
Thế Tôn với suy tư như vậy, tâm hướng về thụ động, không muốn thuyết pháp.
Rồi Phạm thiên Sahampati biết được tâm tư Thế Tôn nhờ tâm tư của mình, liền suy nghĩ: 'Thật sự thế giới bị tiêu diệt, thật sự thế giới bị diệt vong, nếu tâm Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác hướng về thụ động, không muốn thuyết pháp'.
Rồi Phạm thiên Sahampati, như nhà lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi thẳng; cũng vậy, vị ấy biến mất ở Phạm thiên giới và hiện ra trước mặt Thế Tôn.
Rồi Phạm thiên Sahampati đắp thượng y trên một bên vai, quỳ đầu gối bên phải trên mặt đất, chắp tay hướng về Thế Tôn và bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, hãy thuyết pháp! Bạch Thiện Thệ, hãy thuyết pháp! Có những chúng sanh ít nhiễm bụi trần sẽ bị nguy hại, nếu không được nghe Chánh pháp. Nếu được nghe những vị này có thể thâm hiểu Chánh pháp.
Rồi Thế Tôn biết được lời thỉnh cầu của Phạm thiên, vì lòng thương xót đối với chúng sanh, nhìn đời với Phật nhãn." (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương VI. Tương Ưng Phạm Thiên, I. Phẩm Thứ Nhất, I. Thỉnh Cầu)
Lúc đó phạm thiên Sahampati là ta bà chủ, ở ngoài đời kêu là đấng sáng thế, đó là cái vị cao nhất trong tất cả các tầng trời. Phạm thiên Sahampati thấy Đức Thế Tôn suy nghĩ như vậy thì ngài lo lắng, ngài sợ hãi, ngài nói chúng sanh sẽ bị mù lòa, chúng sanh sẽ bị chìm đắm, chúng sanh sẽ bị đau khổ. Ngài lập tức trong khoảng co cánh tay, duỗi tay ra mất ở phạm thiên giới hiện ra ngay dưới chân Đức Phật, cúi lễ bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy thuyết pháp, bạch Thiện Thệ, xin Thiện Thệ hãy thuyết pháp. Có những chúng sanh ít nhiễm bụi đời có thể nghe hiểu được thánh pháp của Đức Thế Tôn, bạch Thế Tôn xin ngài hãy thuyết pháp, bạch Thiện Thệ xin hãy thuyết pháp, ba lần cầu thỉnh như vậy, khát ngưỡng như vậy Đức Thế Tôn mới đồng ý.
Tại vì cái pháp này đâu phải cái pháp dễ học, dễ nghe, dễ hành đâu, thậm chí mình tu ở trong chùa cho tới chết chưa chắc gì trong cuộc đời được nghe một lần cái chánh pháp này, nếu không học kinh tạng Nikāya chúng ta có nghe được những cái pháp như vậy không, thâm sâu như vậy không, nghe những cái vuốt vuốt lên cho nó khoái, cho nó thích, nói đưa trên mây không à, tăng trưởng dục, ái, tham thêm lên đối với sắc pháp, sắc uẩn chứ không có đưa đến sự nhiếp phục, diệt tận hoàn toàn cái sắc uẩn đầy vô thường, khổ đau, trống rỗng, vô ngã này. Đó là giá trị của chánh pháp tối thượng, thánh trí là như vậy đó.
Đức Phật chứng ngộ nguyên nhân sanh khởi, hình thành, an trú và hoại diệt của tất cả những cái thân xác này, cảm giác này, những cái suy nghĩ, hình bóng, nhận thức này. Đức Phật chứng ngộ hết tất cả mọi phương diện, khía cạnh, góc độ của sắc; thọ; tưởng; hành; thức, từ đâu nó sanh, nó an trú như thế nào, nó vận hành như thế nào, nó diệt tận như thế nào và làm sao cho nó diệt, Đức Phật đều có cách chứng ngộ hết tất cả loại trí tuệ đó. Chúng ta thấy siêu khủng không? Đó là thánh trí của Đức Phật.
V. Xúc
Cảm giác từ đâu sanh ra? Tại sao có cảm giác?
Sư cô 5: Mô Phật, bạch thầy cảm giác có từ trong tâm thức của con người.
Sư Phụ: Không có thuộc bài.
Sư cô 5: Khi mà mình chạm với nhau thì nó có cảm xúc với nhau.
Sư Phụ: Chạm sao, thí dụ?
Sư cô 5: Dạ ví dụ như tâm mình lúc đó chưa có lắng tịnh được thì người khác giới mà chạm đến mình là mình có cái cảm giác.
Sư Phụ: Ai thuộc bài? Thuộc nguyên văn của kinh, không có nói chung chung, tại sao có thọ?
Sư cô 6: Dạ mô Phật, bạch thầy cùng đại chúng cảm giác là do sự tiếp xúc, con mắt tiếp xúc với sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi và lưỡi nếm vị, thân xúc chạm.
Sư Phụ: Còn cái xúc nào nữa không? Năm xúc rồi còn cái xúc nào nữa không? Ai thuộc câu nguyên văn của kinh.
Sư thầy 5: Mô Phật, kính bạch thượng tọa giáo thọ sư cùng đại chúng, nguyên nhân có thọ sanh khởi là do xúc tập khởi nên thọ tập khởi mà xúc có từ đâu, chúng ta học duyên sanh pháp rồi thì do duyên có con mắt với cảnh sắc rồi nó sanh ra nhãn thức, sự giao thoa, hội tụ của ba pháp này sanh ra xúc, xúc sanh thọ, sanh ái, sanh khổ, sanh nghiệp, sanh dục.
Sư Phụ: Cho tràng vỗ tay lớn đi, mấy cô đợt này học thua mấy thầy rồi đó, về cố gắng học bài. Xúc tập khởi là thọ tập khởi cho nên Đức Phật trình bày đây là sự chứng ngộ của ngài, tại sao có cái hình hại này, tại sao có ra cái cảm giác, tại sao trong tâm có hình bóng.
Sư thầy 6: Dạ mô Phật, kính bạch thầy cùng toàn chúng, sở dĩ trong tâm mình nó có hình bóng là do con mắt của mình thấy và cái thức mình lúc đó cũng nhận biết được rõ cái sắc pháp mà con mắt nó thấy. Vì nhận rõ như vậy thành ra nó lưu lại trong tâm, có hình bóng trong tâm.
Sư Phụ: Tại sao có tưởng? Phải học thuộc lòng câu kinh mới được, không có nói chung chung, nói chung chung mình diễn ra nó sai hết, mất chánh pháp.
Sư thầy 6: Dạ mô Phật thầy, là do xúc tập khởi tưởng tập khởi.
Sư Phụ: Đúng rồi, mình phải thuộc lòng cái câu kinh như vậy, phải thuộc lòng, trí tuệ này là thánh trí không có được sai một chữ, sai chữ là coi như xong rồi đó, sai một ly đi một dặm. Cho nên bây giờ ngay tại đây mình tu như thế nào, mình đánh phá những cái thứ này, vô minh là không thấy ngũ uẩn, không thấy sắc; thọ; tưởng; hành; thức, thấy một cái tôi, một cái ta, một cái ngã, một cái mình, một cái tôi, một con người, một ông thầy, một sư cô, thấy như vậy là vô minh. "Tôi là thầy nè", "tôi là cô nè", tôi là một con người nè", "Tôi là một đại đức, thượng tọa, Sa-di", tôi… tôi… tôi… tất cả cái thấy đó là vô minh, không thấy được ngũ uẩn.
Chúng ta nghĩ cái này dễ hay khó nhớ? Chẳng những phải học thuộc mà còn phải nhắc nhớ thường xuyên, phải như lý tác ý đúng như chân lý, tác động tâm ý đúng như chân lý. Như lý tác ý là tác động tâm ý đúng như chân lý, mà chân lý đó là thánh trí của Đức Phật, mà thánh trí là thánh trí ngũ uẩn, thánh trí ngũ uẩn tức là kinh tạng Nikāya, mà kinh tạng chính là giáo pháp nguyên chất của Đức Phật, chính là lời dạy nguyên gốc của Đức Phật, chính là thánh trí tuệ, con đường, đạo lộ, cái phương pháp, cái cách thức. Từ một thái tử Tất-đạt-đa trở thành vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, chính là con đường này, là đạo lộ này, là phương pháp này, là cách quán này, là cách tu này, là cách hành trì này chứ chúng ta không nắm được là vĩnh viễn và mãi mãi chúng ta chỉ tu ở trong nhân thiên pháp thôi, tức là được những cái thiện pháp của cõi người, cõi trời thôi chứ không thể chấm dứt được sanh tử, không thể thoát ra khỏi ngũ uẩn được.
Tất cả những cái mình tu, mình học mà mình không thành tựu thánh trí ngũ uẩn thì mình lòng vòng ở trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức thôi, không bao giờ mình đi ra được sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Con đường này chỉ có bậc Chánh Đẳng Giác duy nhất, không có người thứ hai nói được, sau đó là các bậc thánh A-la-hán và sau đó là những người được nghe hai vị này nói, mà thất truyền là ba hai ngàn mấy trăm năm, sau Đức Phật năm trăm năm là thất truyền cho tới bây giờ. Thời kỳ chánh pháp có năm trăm năm, sau năm trăm năm Đức Phật nhập diệt là thời kỳ chánh pháp và sau năm trăm linh một năm trở về sau tới bây giờ là thời kỳ tượng pháp, không có chánh pháp cho nên chúng ta phải nắm thật là vững, thật là kỹ, thật là rõ, nếu không chúng ta cứ tu lòng vòng, tu lờ mờ, hỏi tu tới đâu cũng không biết, "tu bất khả tư nghì, nói không được, này khó nói lắm, này tôi cũng không biết được, không nói được" vì có biết cái gì đâu mà nói, giống như mình đi ngoài đường có người hỏi:
Thầy đi đâu vậy?
Tôi không biết.
Thầy đi tới chỗ nào?
Tôi cũng không biết luôn.
Vậy là ông thầy nào có vấn đề, bây giờ sự tu mình chung chung, bây giờ là vậy đó, còn cái này không có, cái này mình học kỹ rồi sẽ thấy thế nào là bậc Dự Lưu, thế nào là bậc Nhất Lai, thế nào là bậc Bất Lai, thế nào là bậc vô sanh rõ ràng, minh minh, bạch bạch, tỏ tỏ, tường tường, trong trong, sáng sáng, rõ rõ, ràng ràng. Đi tới đâu mình biết tới đó hết cho nên ngay bây giờ và ở đây là mình luôn luôn phá vô minh bằng cách nhận diện ngũ uẩn. Chính vì vậy mà bây giờ kêu nhận diện ngũ uẩn mà mình không nhận diện được rồi làm sao mình phá vô minh? Làm sao mình hết vô minh? Vì thế lớp học chúng ta vô học là phải nhận diện ngũ uẩn, bất cứ đầu giờ, giữa giờ, cuối giờ đều phải nhận ngũ uẩn và phải cái đó phải làm cho được.
Phật tử người ta lên núi tu có hai tuần thôi mà xuống núi đã nắm được rồi, trong khi mình học mấy năm rồi mà bây giờ mình không nhận diện được thì quá là đáng thương. Thậm chí có người lên núi có mấy ngày thôi, Phật tử cư sĩ mà lên rồi về là người ta nắm được pháp, người ta tu, người ta hành trì, người ta hướng Dự Lưu luôn mà bây giờ mình xuất gia, mình học như vậy liên tục bao nhiêu năm mà mình không nhận diện được là uổng lắm. Mình phải dùng như lý tác ý để mình phá cái khát ái này tức là mình phải quán chiếu nhiều phương diện ở trong cái quán thân, quán bất tịnh, quán ba mươi hai thể trược, quán chín giai đoạn tử thi, quán những cái nguy hại của sắc để mình phá cái khát ái này từ từ. Không phải chỉ có cái thân xác không mà mình ái đủ thứ hết, sắc ái, hương ái, thanh ái, vị ái, xúc ái, pháp ái.
Cái hình bóng trong tâm mình có ái không? Cái hình bóng trong tâm mình có thích không? Nhiều khi thấy minh tinh điện ảnh rồi tương tư, rồi đau khổ, rồi lấy cái hình ôm ngủ, dán hình người ta đủ thứ hết, tự mình làm cho mình khổ vậy đó. Đó là pháp ái, những cái hình bóng, những cái cảm thọ, suy nghĩ bên trong, tự mình làm cho mình khổ chứ người ta có biết mình là ai đâu, rồi mình giận, mình hờn, mình yêu, mình thương, rồi mình mơ, mình mộng, rồi mình tưởng, mình nhớ, rồi mình đau, mình khổ, mình sầu. Ôi trời đất ơi! Giờ kêu trời thôi chứ không biết kêu làm sao, đó là cái dục vọng, cái ác dục của con người, rồi cái ác tham, còn cái sân hận, cái bản ngã, cái vô minh một con người bây giờ là khủng khiếp và kinh hãi. Những ác và bất thiện pháp bây giờ là khủng hoảng.
Bây giờ dùng từ khủng hoảng đạo đức toàn cầu, khủng hoảng nhân đạo cả thế giới, dùng những cái từ xưa nay mình chưa từng nghe mà bây giờ nó đang diễn ra sự thật trên cuộc đời này. Những cái cảm giác hiền thiện rất quan trọng, cực kỳ quan trọng, mình phải phát triển cái này chứ giờ ngồi đây hỏi tu cái gì không biết tu gì hết. Mình chưa nắm được pháp học rồi làm sao mình thực hành pháp hành? Mình không có thực hành pháp hành làm sao mình đi tới pháp thành, làm sao thành tựu? Không thành tựu tức là mình trở thành người vô tích, sự tu cả đời vô tích sự không có được gì hết cho nên phải để tâm thật nhiều vào sự tu học mà mình được thầy chú ý, quan tâm tới mình, nhắc nhở mình, kêu mình trả bài, để tâm hỏi mình là mình rất là có phước báo, chứ không phải mình sợ, không có sợ, hoan hỉ, hạnh phúc, sung sướng, vui mừng vì mình có phước mới được gặp pháp, mình được quan tâm, mình được kêu, mình được nhắc, mình được hướng dẫn là phước báo.
./.