Tương Ưng Cảm Thọ 1
TƯƠNG ƯNG CẢM THỌ 1
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Đức Phật dạy về cảm thọ PAGEREF _Toc76309132 \h 1
II. Huấn luyện cảm thọ PAGEREF _Toc76309133 \h 3
III. Vì sao sân? PAGEREF _Toc76309134 \h 5
IV. Xuất ly cảm thọ PAGEREF _Toc76309135 \h 6
V. Các loại thức ăn PAGEREF _Toc76309136 \h 7
I. Đức Phật dạy về cảm thọ
“Vị đệ tử đức Phật,
Ðịnh, tỉnh giác, chánh niệm,
Hiểu rõ ràng các thọ,
Và xuất ly các thọ.
--
Chỗ này, chúng đoạn diệt,
Con đường đến đoạn diệt,
Tỳ-kheo đoạn các thọ,
Không khát ái, tịch tịnh.”
(Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ,
Phần Một - Phẩm Có Kệ, 1. I. Thiền Ðịnh)
“Lạc thọ hay khổ thọ,
Cùng bất khổ bất lạc,
Nội thọ và ngoại thọ,
Phàm có cảm thọ gì.
--
Biết được: "Ðây là khổ",
Hư ngụy và biến hoại,
Thấy xúc, xúc biến diệt,
Ở đây, sống ly tham.”
(Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ,
Phần Một - Phẩm Có Kệ, 2. II. An Lạc)
“Này các Tỳ-kheo, tham tùy miên đối với lạc thọ cần phải đoạn tận. Sân tùy miên đối với khổ thọ cần phải đoạn tận. Vô minh tùy miên đối với bất khổ bất lạc thọ cần phải đoạn tận.
Này các Tỳ-kheo, khi nào Tỳ-kheo đoạn tận tham tùy miên đối với lạc thọ, đoạn tận sân tùy miên đối với khổ thọ, đoạn tận vô minh tùy miên đối với bất khổ bất lạc thọ; thời này các Tỳ-kheo, sự từ bỏ tham tùy miên của Tỳ-kheo được gọi là chánh kiến, ái được đoạn tận, kiết sử được hủy hoại. Với minh kiến chơn chánh đối với ngã mạn (sammà mànabhisamayà), vị ấy đoạn tận khổ đau.
1)Nếu cảm giác lạc thọ,
Không tuệ tri cảm thọ,
Ðây gọi tham tùy miên,
Không thấy rõ xuất ly.
2) Nếu cảm giác khổ thọ,
Không tuệ tri cảm thọ,
Ðây gọi sân tùy miên,
Không thấy rõ xuất ly.
3) Với bất khổ bất lạc,
Bậc Ðại trí thuyết giảng,
Nếu hoan hỷ thọ ấy,
Không thoát được khổ đau.
4) Vị Tỳ-kheo nhiệt tình,
Tỉnh giác, không cuồng trí,
Ðối với tất cả thọ,
Bậc Hiền trí liễu tri.
5) Vị ấy liễu tri thọ,
Hiện tại không lậu hoặc,
Thân hoại, bậc Pháp trú
Ðại trí vượt ước lường.”
(Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ,
Phần Một - Phẩm Có Kệ, 3. III. Ðoạn Tận)
II. Huấn luyện cảm thọ
Sự nhiếp phục được cảm thọ rất tuyệt diệu và mình phải để ý thực tập. Trước khi vào nhập thất khoảng 2 tuần thì con đã hướng dẫn mọi người làm toilet như thế nào, đến khi con vào thất thì các chú chụp hình gửi vào thì nó hoàn toàn khác với những gì con đã yêu cầu. Khi con thấy tấm hình tức là thọ do nhãn xúc sanh sanh khởi làm giao động thân tâm sinh cảm thọ khó chịu, bực bội vì đã dặn dò kĩ càng hết rồi mà bây giờ làm khác.
Con thấy cảm giác biến động trong thân tâm thì con mới tác ý "tu hành để mong cầu thành quả sự tu học hay để được toilet này. Hỡi đồ ngu si mày tu hành để thành tựu trí huệ giải thoát hay tu để được cái toilet này? Hỡi này cái đồ ngu si, vô minh, bản ngã, sân hận, si mê như vậy là vừa đủ rồi, tan biến đi". Lập tức trong thời gian ngắn là cảm thọ khó chịu lắng dịu xuống, tan ra, cuối cùng con giải quyết xong luôn, sau này có đi ngang chỗ đó thì cảm thọ có gợi lên một chút thì con cũng tác ý rồi cuối cùng cũng bứng tận gốc rễ, hoàn toàn không còn ý niệm đối với chỗ xây sai ý mình đó nữa. Cái tu này cứu mình rất nhiều việc nên hãy biết quán chiếu cảm thọ.
Khi chùa bị lấn đất, lúc đó có rất nhiều chuyện xảy ra cùng lúc, gọi là thập diện mai phục. Một lần là nhập thất để quyết định thể nhập vào dòng pháp này thì cái núi này muốn sập luôn vì đánh lộn ngoài đây, làm hao tiền tốn của, huynh đệ tương tàn gây chấn động. Lần thứ hai khi con bước ra hoằng pháp thì hay tin đất chùa bị lấn rất nhiều thì thọ do nhĩ xúc sanh bị biến đổi, con thấy trong thân tâm đang biến động thì con tác ý”
"Không có gì là tôi, không có gì là của tôi cả, miếng đất đó là nơi chôn xác của mày đó. Đấu đá, giành giựt để lấy miếng đất đó xây mồ cho mày hả đồ ngu si? Miếng đất đó là vô số những ác nghiệp trong quá khứ của nhà ngươi. Chính vì sự chấp thủ vào tài sản, đất đai nên vòng luân hồi bất tận này tiếp diễn. Hãy buông bỏ, xả bỏ, không gì là tôi, không có gì là của tôi ở đây cả. Mày là người xuất gia vô sở hữu, mày là kẻ ăn xin, mày không có bất cứ một cái gì trong người trên đời này, mày là kẻ không có nhà ở, những cái đó của người cư sĩ thì hãy để tự họ giải quyết, mày không có dính dáng gì trong đây".
Khi con tác ý mạnh như vậy thì cảm thọ khó chịu tan biến cho đến giờ không còn gốc rễ, như chặt cây tala để không còn sanh khởi trở lại trong tương lai, bây giờ nghĩ đến là nó không còn biến động trong thân tâm nữa. Nếu người đời không biết tu mà bị lấn đất như vậy sẽ trở thành chuyện lớn, cho nên việc tu tập cảm thọ này rất quan trọng. Phải thường xuyên để ý cảm thọ, cảm xúc của mình và phần Tương Ưng Thọ này là một trong những cốt tủy của tạng kinh Nikāya.
Cho nên Đức Phật đã nói các vị đệ tử Phật thường an tịnh, chánh niệm tỉnh giác để hiểu rõ ràng các thọ. Nếu cái tâm không an tịnh, không tỉnh giác, không có chánh niệm thì làm sao có thể hiểu được lúc đó đang có thọ gì, lúc đó đang có cảm giác tham, thích hay cảm giác si mê, ngu ngơ, hay bực tức. Thành ra phải có sự định tĩnh, có chánh niệm hiểu rõ các thọ thì mới có thể xuất ly khỏi các cảm giác đó. Nếu không có sự định tĩnh, không có chánh niệm thì mình sẽ không biết vì lúc đó mình chỉ biết bề ngoài, ví dụ khi thấy mình bị mất mát đồ đạc hay không có những chuyện không như ý mình thì mình chỉ đổ lỗi cho đối phương nên cái thọ khó chịu, bực bội cứ dâng trào nhiều thêm thì làm sao mình có thể làm giảm bớt để đi đến chấm dứt, xuất ly các thọ, vì vậy đây mới chính là bí kíp thánh trí, chính là việc kiểm soát, quán chiếu các cảm giác, cảm xúc để thoát ra khỏi những cảm giác tiêu cực của tham sân si, bản ngã, vô minh, nhất định phải vượt thoát khỏi nó.
Chỗ này, chúng đoạn diệt,
Con đường đến đoạn diệt,
Tỳ-kheo đoạn các thọ,
Không khát ái, tịch tịnh.
III. Vì sao sân?
Có một Phật tử bên Nhật nhắn tin hỏi thăm con, tin nhắn này có liên quan đến bài này:
Bạch sư phụ. Con có một câu hỏi muốn được sư phụ hoan hỷ chỉ thêm cho con ạ. Tại sao con người ta lại thích sân mà con nhớ trong bài pháp Giải Phá Chấp Ngã, sư phụ có nói là con người ta ái, khoái, thích được sân. Lý do sâu xa của nó là gì ạ?
Con đã trả lời ngắn gọn: Vì ái tự ngã chính mình nên không theo bản ngã thì sân hận, thưa chú.
Tỳ-kheo đoạn các thọ,
Không khát ái, tịch tịnh.
Tại sao mình lại sân? Tại sao mình lại giận, bực bội? Vì không làm theo ý mình, làm trái ý mình, nghịch ý mình nên mình mới sân hận, tức giận, bực bội. Ngầm sâu bên trong chính là bản ngã của mình, họ lấn đất của mình, họ lấy đồ của mình, họ cướp công của mình, vì vậy gốc rễ sự việc ở đây là sự tham ái, tự thể ái, nghĩa là ái tự ngã chính mình. Khi mình niệm cái này không phải là tôi, không phải là của tôi, không phải tự ngã của tôi thì tự động những cảm xúc tiêu cực kia sẽ tan biến, không còn bực bội, sân hận thì ái tự ngã sẽ tự động bị phá nên sẽ không còn sân si, tức giận nữa. Khi thực tập rồi sẽ thấy nguyên nhân sâu xa bên trong của những cơn tức giận, sân si chính là cái tôi.
IV. Xuất ly cảm thọ
Chỗ này, chúng đoạn diệt,
Con đường đến đoạn diệt,
Khi xuất ly các thọ, nhàm chán đối với tất cả các thọ, tất cả các cảm giác mình đều tập an tịnh, lắng dịu, dù cho có vui sướng, thích thú cỡ nào mình cũng tập an tịnh, lắng dịu, dù cho có sân hận, tức giận cỡ nào mình cũng tập an tịnh, lắng dịu.
Lạc thọ hay khổ thọ,
Cùng bất khổ bất lạc,
Nội thọ và ngoại thọ,
Phàm có cảm thọ gì.
Đây chính là thánh tri kiến (chánh tri kiến) là sự thấy biết của bậc thánh. Cảm thọ khổ, cảm thọ vui hay cảm thọ không khổ, không vui, cảm thọ trong hay cảm thọ ngoài đều biết đây là khổ, hư ngụy và biến đổi, nó sẽ chấm dứt, hoại diệt. Vui sướng gì rồi cũng chấm dứt, ăn ngon cỡ nào rồi cũng đào thải ra những chất hôi thối nên trong khi ăn mình không có khoan khoái, thích thú, biết cái vị như vậy nhưng mình không khoan khoái, thích thú, tham đắm trong đó.
Biết được: "Ðây là khổ",
Hư ngụy và biến hoại,
Thấy xúc, xúc biến diệt,
Ở đây, sống ly tham.
Cảm thọ nào khởi lên mình cũng biết đó là khổ, là giả dối, hư ngụy, biến hoại. Như vậy mình tập an tịnh trước tất cả các cảm thọ, rồi mình tập nhàm chán với tất cả cảm thọ kể cả cái vui, vì cái vui là cái mầm mống chứa đựng đau khổ, dính mắc vào cái thích thú, vui vẻ rồi khổ, cảm thọ trơ trơ an toàn này cũng khổ. Phải cẩn trọng, tỉnh giác chánh niệm đối với tất cả cảm xúc, cảm thọ, lúc nào cũng nhìn thấy nó là thứ vô thường, khổ não, là thứ mê hoặc, chính vì nó mà mình ngu si, mê muội.
Phải tỉnh táo trước các cảm thọ, phải quán xét, soi rọi lại những thứ ác độc này, đam mê nó rồi sầu bi khổ ưu não khởi lên. Thấy xúc, xúc biến diệt, do tiếp xúc nên mới có cảm thọ, cái tiếp xúc này sẽ biến diệt, cái thọ này sẽ biến hoại, cho nên Ở đây, sống ly tham, không tham muốn các cảm thọ nữa. Tại sao người ta không thể ngăn chặn lại những ca nhiễm dịch bệnh trên thế giới? Là do xúc thực, người ta muốn tiếp xúc, ở nhà không chịu nổi mà phải đi ra ngoài.
V. Các loại thức ăn
Ở trong nhà sẽ đỡ lây lan dịch bệnh nhưng ở là chịu không nổi, muốn ra thế giới bên ngoài để thấy, nghe, nếm, để tiếp xúc cho nên chính vì cái muốn đi ra ngoài mà cái bệnh càng phát triển, và vì không chiến thắng được cái muốn tiếp xúc đó nên có rất nhiều người phải chết vì bị lây bệnh. Vì vậy Đức Thế Tôn đã nói đoàn thực, xúc thực, tư niệm thực, thất thực là bốn thứ này lấy ái làm nhân, lấy ái là duyên, lấy ái làm gốc rễ.
“Này các Tỳ-kheo, có bốn loại đồ ăn này khiến cho các loại sanh vật hay các loại chúng sanh được tồn tại hay khiến cho các loại sắp sanh thành được thọ sanh. Thế nào là bốn?
Đoàn thực hoặc thô hoặc tế,
Xúc thực,
Tư niệm thực,
Thức thực.
Này các Tỳ-kheo, bốn loại đồ ăn này khiến cho các loại sanh vật hay khiến cho các loại chúng sanh được tồn tại hay khiến cho các loại sắp sanh thành được thọ sanh.
Và này các Tỳ-kheo, bốn loại đồ ăn này do cái gì làm nhân, do cái gì tập khởi, do cái gì tác sanh, do cái gì làm cho hiện hữu? Bốn loại đồ ăn này do ái làm nhân, do ái tập khởi, do ái tác sanh, do ái làm hiện hữu.”
(Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên,
Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a), II. Phẩm Ðồ Ăn, XI. Các Loại Ðồ Ăn)
Ưa thích sự tiếp xúc bằng mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, ưa thích sự đụng chạm, thích cái gì là cứ ngồi nghĩ ngợi về cái đó chứ an trú cảm giác toàn thân không được, thích là cứ làm cho nó sanh khởi lên các thọ; tưởng; hành. Đó là xúc, vì mình ưa thích thức ăn, ưa thích tiếp xúc, ưa thích tư niệm là sự suy nghĩ, ưa thích biết cái này biết cái kia thêm nữa nên tu không có kết quả là vậy, cứ thích đọc sách này sách kia hoài mà thấy thánh pháp rồi cũng không chịu ứng dụng để tu học. Ái nên cho nó ăn về vật chất, ăn về ngũ uẩn bên trong vậy là mình lại tiếp tục làm hang ổ, thân trống rỗng, không ai trong đó.
Cô mình đã 82 tuổi rồi mà không bỏ nổi mấy cái lưỡi câu, mấy cái lưới, mấy cái lờ bắt cá. Rất xót xa, cô giàu có đầy đủ chứ không phải túng thiếu. Hơn 80 tuổi mà không bỏ nổi tủ thuốc lá, nửa đêm ra ngồi canh mà đâu phải thiếu tiền. Đó là các bà cô của con, cái tâm làm ổ trong đó, không có là không chịu nổi. Nó đã làm tổ trong đó rồi, bây giờ tới chết không đi ra khỏi thùng thuốc lá đó, không ra khỏi những tấm lưới, cái lờ bắt cá.
Con nhìn thấy bà Năm bụng càng ngày càng to, chân sưng lên, da dẻ biến đổi, đi đứng khó khăn, ăn uống không được. Cái tâm giờ đây làm tổ chi để cho khổ vậy? Mình phải tu tập, thức tỉnh để thoát ra cái thân vô thường ung nhọt, bệnh hoạn, nhơ nhớt, bẩn thỉu này. Làm tổ trong đây rồi vô lượng vô biên kiếp đi ra không được nên phải tập sống ly tham, tập đoạn tận các cả cái tham đi theo miên man trong cảm giác, phải nỗ lực chấm dứt những cái sân đi theo trong cảm giác khó chịu, phải tập cố gắng đoạn tận tất cả những cái si trong các cảm giác không vui không khổ, thường thường đó.
Đức Phật bậc đại trí huệ nói rằng nếu mình hoan hỷ trong các cảm thọ đó thì không thoát được khổ đau. Điều này hết sức sâu xa, không thể nào cái trí của chúng sanh bình thường có thể thấy được đều này và chúng ta đã làm ổ, làm xào huyệt trong các cảm thọ, cảm xúc này.
Vị Tỳ-kheo nhiệt tình,
Tỉnh giác, không cuồng trí,
Ðối với tất cả thọ,
Bậc Hiền trí liễu tri.
Liễu tri là sự biết đầy đủ toàn diện của tất cả mọi khía cạnh của các cảm giác. Biết được sự nguy hại, vị ngọt, sự xuất ly. Vị ấy liễu tri thọ nghĩa là vị ấy biết được tất cả thấu đáo tường tận các cảm thọ, cảm giác. Hiện tại không lậu hoặc, ngay đời sống hiện tại không còn các dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu. Thân hoại, bậc Pháp trú, hiện tại đã không có lậu hoặc thì khi chết (thân hoại) vị này an trú trong thánh pháp, thánh trí. Ðại trí vượt ước lường, đó là bậc đại trí huệ vượt qua tất cả mọi sự đo lường, ước tính của phàm phu.
./.
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Đức Phật dạy về cảm thọ PAGEREF _Toc76309132 \h 1
II. Huấn luyện cảm thọ PAGEREF _Toc76309133 \h 3
III. Vì sao sân? PAGEREF _Toc76309134 \h 5
IV. Xuất ly cảm thọ PAGEREF _Toc76309135 \h 6
V. Các loại thức ăn PAGEREF _Toc76309136 \h 7
I. Đức Phật dạy về cảm thọ
“Vị đệ tử đức Phật,
Ðịnh, tỉnh giác, chánh niệm,
Hiểu rõ ràng các thọ,
Và xuất ly các thọ.
--
Chỗ này, chúng đoạn diệt,
Con đường đến đoạn diệt,
Tỳ-kheo đoạn các thọ,
Không khát ái, tịch tịnh.”
(Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ,
Phần Một - Phẩm Có Kệ, 1. I. Thiền Ðịnh)
“Lạc thọ hay khổ thọ,
Cùng bất khổ bất lạc,
Nội thọ và ngoại thọ,
Phàm có cảm thọ gì.
--
Biết được: "Ðây là khổ",
Hư ngụy và biến hoại,
Thấy xúc, xúc biến diệt,
Ở đây, sống ly tham.”
(Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ,
Phần Một - Phẩm Có Kệ, 2. II. An Lạc)
“Này các Tỳ-kheo, tham tùy miên đối với lạc thọ cần phải đoạn tận. Sân tùy miên đối với khổ thọ cần phải đoạn tận. Vô minh tùy miên đối với bất khổ bất lạc thọ cần phải đoạn tận.
Này các Tỳ-kheo, khi nào Tỳ-kheo đoạn tận tham tùy miên đối với lạc thọ, đoạn tận sân tùy miên đối với khổ thọ, đoạn tận vô minh tùy miên đối với bất khổ bất lạc thọ; thời này các Tỳ-kheo, sự từ bỏ tham tùy miên của Tỳ-kheo được gọi là chánh kiến, ái được đoạn tận, kiết sử được hủy hoại. Với minh kiến chơn chánh đối với ngã mạn (sammà mànabhisamayà), vị ấy đoạn tận khổ đau.
1)Nếu cảm giác lạc thọ,
Không tuệ tri cảm thọ,
Ðây gọi tham tùy miên,
Không thấy rõ xuất ly.
2) Nếu cảm giác khổ thọ,
Không tuệ tri cảm thọ,
Ðây gọi sân tùy miên,
Không thấy rõ xuất ly.
3) Với bất khổ bất lạc,
Bậc Ðại trí thuyết giảng,
Nếu hoan hỷ thọ ấy,
Không thoát được khổ đau.
4) Vị Tỳ-kheo nhiệt tình,
Tỉnh giác, không cuồng trí,
Ðối với tất cả thọ,
Bậc Hiền trí liễu tri.
5) Vị ấy liễu tri thọ,
Hiện tại không lậu hoặc,
Thân hoại, bậc Pháp trú
Ðại trí vượt ước lường.”
(Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ,
Phần Một - Phẩm Có Kệ, 3. III. Ðoạn Tận)
II. Huấn luyện cảm thọ
Sự nhiếp phục được cảm thọ rất tuyệt diệu và mình phải để ý thực tập. Trước khi vào nhập thất khoảng 2 tuần thì con đã hướng dẫn mọi người làm toilet như thế nào, đến khi con vào thất thì các chú chụp hình gửi vào thì nó hoàn toàn khác với những gì con đã yêu cầu. Khi con thấy tấm hình tức là thọ do nhãn xúc sanh sanh khởi làm giao động thân tâm sinh cảm thọ khó chịu, bực bội vì đã dặn dò kĩ càng hết rồi mà bây giờ làm khác.
Con thấy cảm giác biến động trong thân tâm thì con mới tác ý "tu hành để mong cầu thành quả sự tu học hay để được toilet này. Hỡi đồ ngu si mày tu hành để thành tựu trí huệ giải thoát hay tu để được cái toilet này? Hỡi này cái đồ ngu si, vô minh, bản ngã, sân hận, si mê như vậy là vừa đủ rồi, tan biến đi". Lập tức trong thời gian ngắn là cảm thọ khó chịu lắng dịu xuống, tan ra, cuối cùng con giải quyết xong luôn, sau này có đi ngang chỗ đó thì cảm thọ có gợi lên một chút thì con cũng tác ý rồi cuối cùng cũng bứng tận gốc rễ, hoàn toàn không còn ý niệm đối với chỗ xây sai ý mình đó nữa. Cái tu này cứu mình rất nhiều việc nên hãy biết quán chiếu cảm thọ.
Khi chùa bị lấn đất, lúc đó có rất nhiều chuyện xảy ra cùng lúc, gọi là thập diện mai phục. Một lần là nhập thất để quyết định thể nhập vào dòng pháp này thì cái núi này muốn sập luôn vì đánh lộn ngoài đây, làm hao tiền tốn của, huynh đệ tương tàn gây chấn động. Lần thứ hai khi con bước ra hoằng pháp thì hay tin đất chùa bị lấn rất nhiều thì thọ do nhĩ xúc sanh bị biến đổi, con thấy trong thân tâm đang biến động thì con tác ý”
"Không có gì là tôi, không có gì là của tôi cả, miếng đất đó là nơi chôn xác của mày đó. Đấu đá, giành giựt để lấy miếng đất đó xây mồ cho mày hả đồ ngu si? Miếng đất đó là vô số những ác nghiệp trong quá khứ của nhà ngươi. Chính vì sự chấp thủ vào tài sản, đất đai nên vòng luân hồi bất tận này tiếp diễn. Hãy buông bỏ, xả bỏ, không gì là tôi, không có gì là của tôi ở đây cả. Mày là người xuất gia vô sở hữu, mày là kẻ ăn xin, mày không có bất cứ một cái gì trong người trên đời này, mày là kẻ không có nhà ở, những cái đó của người cư sĩ thì hãy để tự họ giải quyết, mày không có dính dáng gì trong đây".
Khi con tác ý mạnh như vậy thì cảm thọ khó chịu tan biến cho đến giờ không còn gốc rễ, như chặt cây tala để không còn sanh khởi trở lại trong tương lai, bây giờ nghĩ đến là nó không còn biến động trong thân tâm nữa. Nếu người đời không biết tu mà bị lấn đất như vậy sẽ trở thành chuyện lớn, cho nên việc tu tập cảm thọ này rất quan trọng. Phải thường xuyên để ý cảm thọ, cảm xúc của mình và phần Tương Ưng Thọ này là một trong những cốt tủy của tạng kinh Nikāya.
Cho nên Đức Phật đã nói các vị đệ tử Phật thường an tịnh, chánh niệm tỉnh giác để hiểu rõ ràng các thọ. Nếu cái tâm không an tịnh, không tỉnh giác, không có chánh niệm thì làm sao có thể hiểu được lúc đó đang có thọ gì, lúc đó đang có cảm giác tham, thích hay cảm giác si mê, ngu ngơ, hay bực tức. Thành ra phải có sự định tĩnh, có chánh niệm hiểu rõ các thọ thì mới có thể xuất ly khỏi các cảm giác đó. Nếu không có sự định tĩnh, không có chánh niệm thì mình sẽ không biết vì lúc đó mình chỉ biết bề ngoài, ví dụ khi thấy mình bị mất mát đồ đạc hay không có những chuyện không như ý mình thì mình chỉ đổ lỗi cho đối phương nên cái thọ khó chịu, bực bội cứ dâng trào nhiều thêm thì làm sao mình có thể làm giảm bớt để đi đến chấm dứt, xuất ly các thọ, vì vậy đây mới chính là bí kíp thánh trí, chính là việc kiểm soát, quán chiếu các cảm giác, cảm xúc để thoát ra khỏi những cảm giác tiêu cực của tham sân si, bản ngã, vô minh, nhất định phải vượt thoát khỏi nó.
Chỗ này, chúng đoạn diệt,
Con đường đến đoạn diệt,
Tỳ-kheo đoạn các thọ,
Không khát ái, tịch tịnh.
III. Vì sao sân?
Có một Phật tử bên Nhật nhắn tin hỏi thăm con, tin nhắn này có liên quan đến bài này:
Bạch sư phụ. Con có một câu hỏi muốn được sư phụ hoan hỷ chỉ thêm cho con ạ. Tại sao con người ta lại thích sân mà con nhớ trong bài pháp Giải Phá Chấp Ngã, sư phụ có nói là con người ta ái, khoái, thích được sân. Lý do sâu xa của nó là gì ạ?
Con đã trả lời ngắn gọn: Vì ái tự ngã chính mình nên không theo bản ngã thì sân hận, thưa chú.
Tỳ-kheo đoạn các thọ,
Không khát ái, tịch tịnh.
Tại sao mình lại sân? Tại sao mình lại giận, bực bội? Vì không làm theo ý mình, làm trái ý mình, nghịch ý mình nên mình mới sân hận, tức giận, bực bội. Ngầm sâu bên trong chính là bản ngã của mình, họ lấn đất của mình, họ lấy đồ của mình, họ cướp công của mình, vì vậy gốc rễ sự việc ở đây là sự tham ái, tự thể ái, nghĩa là ái tự ngã chính mình. Khi mình niệm cái này không phải là tôi, không phải là của tôi, không phải tự ngã của tôi thì tự động những cảm xúc tiêu cực kia sẽ tan biến, không còn bực bội, sân hận thì ái tự ngã sẽ tự động bị phá nên sẽ không còn sân si, tức giận nữa. Khi thực tập rồi sẽ thấy nguyên nhân sâu xa bên trong của những cơn tức giận, sân si chính là cái tôi.
IV. Xuất ly cảm thọ
Chỗ này, chúng đoạn diệt,
Con đường đến đoạn diệt,
Khi xuất ly các thọ, nhàm chán đối với tất cả các thọ, tất cả các cảm giác mình đều tập an tịnh, lắng dịu, dù cho có vui sướng, thích thú cỡ nào mình cũng tập an tịnh, lắng dịu, dù cho có sân hận, tức giận cỡ nào mình cũng tập an tịnh, lắng dịu.
Lạc thọ hay khổ thọ,
Cùng bất khổ bất lạc,
Nội thọ và ngoại thọ,
Phàm có cảm thọ gì.
Đây chính là thánh tri kiến (chánh tri kiến) là sự thấy biết của bậc thánh. Cảm thọ khổ, cảm thọ vui hay cảm thọ không khổ, không vui, cảm thọ trong hay cảm thọ ngoài đều biết đây là khổ, hư ngụy và biến đổi, nó sẽ chấm dứt, hoại diệt. Vui sướng gì rồi cũng chấm dứt, ăn ngon cỡ nào rồi cũng đào thải ra những chất hôi thối nên trong khi ăn mình không có khoan khoái, thích thú, biết cái vị như vậy nhưng mình không khoan khoái, thích thú, tham đắm trong đó.
Biết được: "Ðây là khổ",
Hư ngụy và biến hoại,
Thấy xúc, xúc biến diệt,
Ở đây, sống ly tham.
Cảm thọ nào khởi lên mình cũng biết đó là khổ, là giả dối, hư ngụy, biến hoại. Như vậy mình tập an tịnh trước tất cả các cảm thọ, rồi mình tập nhàm chán với tất cả cảm thọ kể cả cái vui, vì cái vui là cái mầm mống chứa đựng đau khổ, dính mắc vào cái thích thú, vui vẻ rồi khổ, cảm thọ trơ trơ an toàn này cũng khổ. Phải cẩn trọng, tỉnh giác chánh niệm đối với tất cả cảm xúc, cảm thọ, lúc nào cũng nhìn thấy nó là thứ vô thường, khổ não, là thứ mê hoặc, chính vì nó mà mình ngu si, mê muội.
Phải tỉnh táo trước các cảm thọ, phải quán xét, soi rọi lại những thứ ác độc này, đam mê nó rồi sầu bi khổ ưu não khởi lên. Thấy xúc, xúc biến diệt, do tiếp xúc nên mới có cảm thọ, cái tiếp xúc này sẽ biến diệt, cái thọ này sẽ biến hoại, cho nên Ở đây, sống ly tham, không tham muốn các cảm thọ nữa. Tại sao người ta không thể ngăn chặn lại những ca nhiễm dịch bệnh trên thế giới? Là do xúc thực, người ta muốn tiếp xúc, ở nhà không chịu nổi mà phải đi ra ngoài.
V. Các loại thức ăn
Ở trong nhà sẽ đỡ lây lan dịch bệnh nhưng ở là chịu không nổi, muốn ra thế giới bên ngoài để thấy, nghe, nếm, để tiếp xúc cho nên chính vì cái muốn đi ra ngoài mà cái bệnh càng phát triển, và vì không chiến thắng được cái muốn tiếp xúc đó nên có rất nhiều người phải chết vì bị lây bệnh. Vì vậy Đức Thế Tôn đã nói đoàn thực, xúc thực, tư niệm thực, thất thực là bốn thứ này lấy ái làm nhân, lấy ái là duyên, lấy ái làm gốc rễ.
“Này các Tỳ-kheo, có bốn loại đồ ăn này khiến cho các loại sanh vật hay các loại chúng sanh được tồn tại hay khiến cho các loại sắp sanh thành được thọ sanh. Thế nào là bốn?
Đoàn thực hoặc thô hoặc tế,
Xúc thực,
Tư niệm thực,
Thức thực.
Này các Tỳ-kheo, bốn loại đồ ăn này khiến cho các loại sanh vật hay khiến cho các loại chúng sanh được tồn tại hay khiến cho các loại sắp sanh thành được thọ sanh.
Và này các Tỳ-kheo, bốn loại đồ ăn này do cái gì làm nhân, do cái gì tập khởi, do cái gì tác sanh, do cái gì làm cho hiện hữu? Bốn loại đồ ăn này do ái làm nhân, do ái tập khởi, do ái tác sanh, do ái làm hiện hữu.”
(Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên,
Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a), II. Phẩm Ðồ Ăn, XI. Các Loại Ðồ Ăn)
Ưa thích sự tiếp xúc bằng mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, ưa thích sự đụng chạm, thích cái gì là cứ ngồi nghĩ ngợi về cái đó chứ an trú cảm giác toàn thân không được, thích là cứ làm cho nó sanh khởi lên các thọ; tưởng; hành. Đó là xúc, vì mình ưa thích thức ăn, ưa thích tiếp xúc, ưa thích tư niệm là sự suy nghĩ, ưa thích biết cái này biết cái kia thêm nữa nên tu không có kết quả là vậy, cứ thích đọc sách này sách kia hoài mà thấy thánh pháp rồi cũng không chịu ứng dụng để tu học. Ái nên cho nó ăn về vật chất, ăn về ngũ uẩn bên trong vậy là mình lại tiếp tục làm hang ổ, thân trống rỗng, không ai trong đó.
Cô mình đã 82 tuổi rồi mà không bỏ nổi mấy cái lưỡi câu, mấy cái lưới, mấy cái lờ bắt cá. Rất xót xa, cô giàu có đầy đủ chứ không phải túng thiếu. Hơn 80 tuổi mà không bỏ nổi tủ thuốc lá, nửa đêm ra ngồi canh mà đâu phải thiếu tiền. Đó là các bà cô của con, cái tâm làm ổ trong đó, không có là không chịu nổi. Nó đã làm tổ trong đó rồi, bây giờ tới chết không đi ra khỏi thùng thuốc lá đó, không ra khỏi những tấm lưới, cái lờ bắt cá.
Con nhìn thấy bà Năm bụng càng ngày càng to, chân sưng lên, da dẻ biến đổi, đi đứng khó khăn, ăn uống không được. Cái tâm giờ đây làm tổ chi để cho khổ vậy? Mình phải tu tập, thức tỉnh để thoát ra cái thân vô thường ung nhọt, bệnh hoạn, nhơ nhớt, bẩn thỉu này. Làm tổ trong đây rồi vô lượng vô biên kiếp đi ra không được nên phải tập sống ly tham, tập đoạn tận các cả cái tham đi theo miên man trong cảm giác, phải nỗ lực chấm dứt những cái sân đi theo trong cảm giác khó chịu, phải tập cố gắng đoạn tận tất cả những cái si trong các cảm giác không vui không khổ, thường thường đó.
Đức Phật bậc đại trí huệ nói rằng nếu mình hoan hỷ trong các cảm thọ đó thì không thoát được khổ đau. Điều này hết sức sâu xa, không thể nào cái trí của chúng sanh bình thường có thể thấy được đều này và chúng ta đã làm ổ, làm xào huyệt trong các cảm thọ, cảm xúc này.
Vị Tỳ-kheo nhiệt tình,
Tỉnh giác, không cuồng trí,
Ðối với tất cả thọ,
Bậc Hiền trí liễu tri.
Liễu tri là sự biết đầy đủ toàn diện của tất cả mọi khía cạnh của các cảm giác. Biết được sự nguy hại, vị ngọt, sự xuất ly. Vị ấy liễu tri thọ nghĩa là vị ấy biết được tất cả thấu đáo tường tận các cảm thọ, cảm giác. Hiện tại không lậu hoặc, ngay đời sống hiện tại không còn các dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu. Thân hoại, bậc Pháp trú, hiện tại đã không có lậu hoặc thì khi chết (thân hoại) vị này an trú trong thánh pháp, thánh trí. Ðại trí vượt ước lường, đó là bậc đại trí huệ vượt qua tất cả mọi sự đo lường, ước tính của phàm phu.
./.