Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Giác Ngộ Cái Gì 1-2

2026-03-03 00:55:09
Tinh Hoa Nikāya

GIÁC NGỘ CÁI GÌ?

Thích Minh Thành

MỤC LỤC TOC \o "1-3" \h \z \u

I.Trình pháp PAGEREF _Toc71088369 \h 1

II. Đánh phá phương tiện chấp thủ PAGEREF _Toc71088370 \h 4

III. Giác ngộ sự thật về năm thủ uẩn PAGEREF _Toc71088371 \h 6

IV. Phá tan tham ái PAGEREF _Toc71088372 \h 15

V. Hỷ lạc trong Thánh pháp PAGEREF _Toc71088373 \h 20

Trình pháp

Sư cô:

“Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Con kính bạch trên sư phụ. Con kính thưa quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng. Con pháp danh là Khánh Ngân, đến từ chùa Diệp Sơn. Thời gian tu học của con ở đây không được nhiều. Qua mấy ngày được tu học tại Linh Quy Pháp Ấn, con cảm nhận thân tâm của mình được an lạc, thấy được nội tâm của mình, nhận diện được các tưởng đang hiện khởi bên trong. Nhờ phương pháp tu tập ở Linh Quy, con được hướng dẫn làm thế nào để có thể dập tắt được các tưởng đang khởi lên trong tâm trí. Mô Phật, kính thưa sư phụ đó là những gì trong những ngày qua.”

Sư phụ: Cô có nắm vững và thực hành ba pháp rõ ràng và nhận diện năm uẩn chính xác chưa? Hai điều đó là căn bản, bây giờ nghe và thực tập nhận diện năm uẩn. Ngay lúc này cô nhân diện năm uẩn như thế nào? Nhắm mắt lại, nhìn kỹ xem có hình bóng gì ở bên trong? Lắng tâm thật là sâu để xem trong đó có suy nghĩ gì, những lời nói lầm thầm gì ngay bây giờ?

Chú Phong:

“Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Bạch thầy, hôm qua con mới đến Linh Quy Pháp Ấn, chỉ một thời gian ngắn ngủi nhưng con có cảm nhận mình tiếp nhận được những điều quý báu từ các quý thầy giảng dạy cho con. Khi trở về con sẽ cố gắng nhớ những lời của quý thầy dạy để thực hành và rèn luyện bản thân mình. Mặc dù là thời gian ngắn ngủi, nhưng thân tâm con rất xúc động với những gì mình đang tiếp nhận, biết là rất khó khăn để thay đổi nhưng con sẽ cố gắng để thực hành. Bạch thầy.”

Sư phụ: Có phải huynh phát tâm phụ trợ chăm sóc trang web Linh Quy Pháp Ấn không? Nhân duyên vì sao?

“Nhân duyên ban đầu là con đọc trên trang web đang tìm những người chuyển lời giảng dạy của thầy sang file word và lúc đó con đã tham gia chuyển một bài của thầy. Sau đó đệ Tuấn Anh thấy con có kinh nghiệm và hỏi con những vấn đề hiện tại của trang web. Con nói những vấn đề hiện tại đang đối diện phải và con phát tâm có thể giúp đỡ hay làm hết những gì mình có thể để hoàn thiện hơn tốt hơn.”

Sư phụ: Huynh có thực tập nhận diện được năm uẩn chưa?

“Bạch thầy, con chỉ thực tập được 2 đến 3 lần. Lần trước là thầy có giảng dạy ở lễ Vu Lan, lần này là con lên khóa tu ngắn hạn cùng các sư thầy, con không có thực hành nhiều.”

Sư phụ: Hiện tại có cảm giác như thế nào?

“Bạch thầy, hiện tại cảm giác giống như đầu óc đang trống không và có một chút mệt trong cơ thể nhưng vẫn còn niềm vui gì đó trỗi dậy nhưng mình chưa cảm thụ được hết nỗi niềm đó.”

Sư phụ: Thân hơi mệt nhưng tâm vui. Đó là cảm giác của thân và cảm giác của tâm riêng. Hiện tại đang có suy nghĩ gì?

“Bạch thầy, hiện tại con chưa có suy nghĩ được gì nhiều trong người khi mà nhắm mắt lại như thầy hướng dẫn. Thì con vẫn còn suy nghĩ hướng về những người thân của mình.”

Sư phụ: Huynh cứ nhắm mắt lại coi nó có những suy nghĩ gì?

“Bạch thầy, con đang suy nghĩ làm sao cho cái thân này bớt mệt lại để con thực hành tiếp những gì thầy đã giảng dạy.”

Sư phụ: Huynh có biết được mình đang có suy nghĩ đó không?

“Dạ, con đang suy nghĩ như vậy.”

Sư phụ: Cảm giác mình thấy thân mệt nhưng tâm vui đó là thọ thân với thọ tâm, cảm giác của thân với cảm giác của tâm. Suy nghĩ đó là hành. Sự rõ biết mình đang có cảm giác đó, suy nghĩ đó là thức. Phải tập nhận diện năm uẩn, nó có lợi ích cho mình rất nhiều, để mình biết được tâm mình có cái gì đang vận hành. Con mời thím Ngọc cảm nhận lên đây tu học như thế nào, dịch bệnh như vậy thì có suy nghĩ làm sao, lo lắng như thế nào?

Thím Ngọc:

“Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Con kính bạch trên sư phụ. Con kính thưa quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng.

Hôm trước còn ở nhà con mong đi lên chùa, vì con nhớ ở chùa, nhưng vì bệnh dịch con không lên được. Ở nhà con theo dõi thời sự thì thấy toàn thế giới đều bị bệnh dịch, người ta chết nhiều quá, con cũng không biết làm sao. Mỗi ngày con nguyện cầu, ra ngoài đứng nhìn thấy mấy chú honda ôm, nhiều khi đón khách mà không có người khách nào. Xe buýt thì không có xe chạy. Xe đò không chở khách. Con thấy con xót lắm. Con chờ con có điện về, xin tiền chị chồng để làm từ thiện. Trong ngày đó nó điện về con hỏi, nên nó điện liền cho mấy chị nó, mấy chị nó đồng ý làm. Con mừng và mua đồ phát trước nhà con một00 phần quà, con đặt may khẩu trang cho người ta. Trên chợ, chị em thầy Pháp Thạnh và nhiều người hùn với nhau, đặt một000 khẩu trang phát cho người ta. Con rất mừng dù đó chỉ là một phần nhỏ thôi. Nếu làm thì không biết bao nhiêu cho đủ. Trước lúc đó con làm thì trên cô Hồng cũng phát 300 phần quà và con lên phụ mấy cô. Ở chợ cũng có người làm. Trong thời gian một, 2 tháng này làm như vậy thì mình thấy trong lòng rất thoải mái, vui vẻ nhưng bao nhiêu cũng không đủ, còn nhiều người quá khổ. Con chỉ mong đại dịch sớm qua đi, rồi cả hạn mặn, mưa đá. Toàn là thấy khổ, không thấy gì vui được hết. Con chỉ có bao nhiêu lời đó trình bày với sư phụ.

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”

Sư phụ: Trong cuộc sống hiện nay của thím, có nhìn thấy, giảm thiểu, nhiếp phục được những phiền não không?

“Mô Phật, thưa sư phụ đối với phiền não, trong gia đình con cũng ổn, chỉ còn thấy bên ngoài. Nhiều khi ngồi công phu nhưng suy nghĩ những chuyện đó.”

Sư phụ: Khi cảm giác nóng giận lên thím có nhìn thấy không? Những cảm giác buồn sanh khởi lên có nhìn thấy không?

“Buồn thì con để trong lòng và khi nóng giận lên thì con ráng dằn lại như thầy đã dạy phải tu tâm từ. Con cố gắng lắm, có tâm từ thành ra nhìn cái gì cũng thấy thương xót. Mô Phật.”

Phật tử:

“Thưa thầy, con lên đây vì cảnh đẹp của chùa, nhưng từ tối qua tới nay con suy nghĩ rất nhiều. Con không phải Phật tử nhưng mẹ con có đi chùa nghe pháp, xem những video trên youtube. Con có nghe, cảm nhận và có những khúc mắc. Có những cái theo con nghĩ, tại sao đạo Phật hay những người theo đạo Phật người ta tự đặt ra và tự trói mình vào trong đó. Có những khái niệm như nhân, duyên, nợ, nhân quả, ví dụ mình gặp gì đó suôn sẻ ở hiện tại thì sẽ sẽ giải thích từ kiếp trước, hoặc kiếp trước nữa. Hay khi mình gặp một người đó ở ngoài đường, như là con lên đây gặp thầy, thì đó là cái duyên, rồi sau đó tiếp tục lại là nợ, duyên nợ. Cho con hỏi thầy những cái đó giải thích như thế nào? Nó như một cái vòng lặp vậy. Con thắc mắc nếu nó là một vòng lặp như vậy thì tu hành có thật sự thoát ra khỏi cái đó hay không? Những cái luân hồi, duyên nợ, người ta nói chết không phải là hết và nếu tu hành thì tới mức độ nào mới thoát ra khỏi?”

Sư phụ: Chưa hiểu Phật pháp, thì cái đó cao sâu lắm, có thể trao đổi với quý thầy khi uống trà. Chưa có những kiến thức căn bản thì nhiều vấn đề lớn quá nó ngoài sức của mình. Căn bản của đạo Phật là nhận thức những suy nghĩ, lời nói, hành động, kiểm soát thấy cái thiện thì phát huy, thấy cái ác thì mình phải nhiếp phục, diệt trừ, chọn cái thiện, cái lành, cái tốt để mình có những nhân duyên an lạc. Đó là điều căn bản nhất của Phật pháp.

Đánh phá phương tiện chấp thủ

Xin thưa đại chúng, hôm nay có một vài vị đi về, thời gian tu học ở đây rất là ngắn, hơn nữa sắp tới Minh Thành cũng bận công việc, cho nên chúng ta tranh thủ thời gian yên tịnh này để tu học. Đức Thế Tôn hồi xưa không ăn sáng, Thánh chúng cũng không ăn sáng, chúng ta hôm nay cũng vậy, đừng để thói quen phàm tục trói cột mình, lâu lâu phải có bức phá.

Nhiều khi ngồi đây đói bụng, nói tới giờ ăn sáng là ăn sáng, đó là chấp thủ. “Phàm dục gì, tham gì, hỷ gì, khát ái gì đối với sắc, thọ, tưởng, hành, thức đều đưa đến sầu bi, khổ, ưu não”. Nếu cứ chấp chặt giờ đó là giờ ăn, giờ đó là giờ ngủ thì đó là chấp thủ và món ăn đó là phương tiện chấp thủ. Cái giường, cái võng, giấc ngủ đó cũng là phương tiện chấp thủ. Một người ở trong ngôi nhà đó quen rồi cực chẳng đã người ta đi nhà khác thôi, chứ người ta mong lẹ lẹ trở về căn nhà của họ, nhà tôi ở quen rồi. Ngay cả người xuất gia, nếu không tu tập, quán sát một cách chân chánh về tứ vật dụng thì vẫn bị chấp thủ trong phòng của mình ở. Quen ở trong phòng đó nhưng nay vì hoàn cảnh gì đó mà mình không được ở trong phòng đó thì lúc ấy tâm bị dao động. Thành ra sự tu học của mình rất vi tế và sâu sắc.

Chúng ta phải luôn đặt mình vào trường hợp những lúc chấp thủ, bám vào những cảm giác, những sắc chất, những suy nghĩ thì lúc đó phải nghĩ rằng ngay bây giờ mình chết thì sao? Nếu vào những loại cô hồn, ngạ quỷ đói khát, có thức ăn nhưng ăn không được, nếu mình đam mê trong thức ăn này, mình đòi hỏi, bám chấp đối với thức ăn này thì mình sẽ đi vào loại đói khát, đau khổ như vậy. Khi đó, chúng ta phá được những chấp thủ, phương tiện chấp thủ trong cái ăn, cái ngủ, trong những lề thói con người đặt ra.

Ví dụ, mình là người xuất gia, cư sĩ gặp mình phải xá, phải chào, giờ người ta gặp nhưng không chào, không xá, không dòm gì hết thì lúc đó tâm mình bị động. Cho nên, đối với tự thân thì chúng ta đưa bản thân vào khuôn khổ, nề nếp, quy luật phép tắc thật nghiêm khắc, nhưng đối với duyên hoàn cảnh bên ngoài biến động thì mình được vượt qua tất cả nguyên tắc, khuôn khổ. Đối những oai nghi, giới luật, phép tắc tùng lâm thì mình giữ nghiêm túc, nhưng đối với bên ngoài, những cái duyên, cái cảnh thì nên linh động, tùy duyên, uyển chuyển để phá phương tiện chấp thủ. Lâu lâu Minh Thành với đại chúng tu học từ 4 giờ tới 9 giờ mà vẫn an lạc, đó là bắt đầu tập phá phương tiện chấp thủ.

Cũng như dịch bệnh hiện nay, chúng ta không biết khi nào hết, không chắc chắn khi nào có thuốc giải. Và sự vô thường, vô ngã, sự biến động, tan hoại, diệt tận của các pháp cũng giống như vậy. Nhưng không sợ biến động ở bên ngoài, chỉ sợ biến động ở bên trong. Bên ngoài biến động kệ nó, miễn sao bên trong nhiếp phục được tham, sân, si, vô minh, bản ngã là mình bất biến giữa vòng đời vạn biến, bất động giữa muôn ngàn biến động.

Giác ngộ sự thật về năm thủ uẩn

Bây giờ Minh Thành mới thấm thía hai chữ “giác ngộ”, nó hết sức thâm sâu và sâu sắc, ngay cả người học Phật nếu không tìm hiểu đến nơi đến chốn sẽ không hiểu được hoặc là hiểu không chính xác.

“Giác” là phát giác, phát hiện, biết rõ; “Ngộ” là nhận ra. Như vậy, phát giác, phát hiện, nhận ra cái gì? Đó chính là nhận ra dục, tham, ái, nhận ra sân hận, tức giận, bực dọc, bức bối, bứt rứt. Nhận ra bản ngã, cái tôi siêu to khổng lồ. Phát giác, phát hiện, nhận ra sự âm u và đen tối, mê lầm của tự thân. Như vậy chữ giác ngộ là giác ngộ dục, tham, ái, vô minh, chấp thủ và bản ngã, giác ngộ tâm cấu nhiễm và lậu hoặc. Phát giác, phát hiện, nhận rõ ra sự có mặt và vận hành của chúng nó, sự chi phối, áp đảo, xâm chiếm của chúng nó, sự thống trị toàn cầu, thống trị thâm tâm của chính mình và toàn thể chúng sinh. Đó là sự giác ngộ và cũng là Tập Thánh Đế, thấy được thật sự nguyên nhân làm cho mình khổ.

Một người khi thấy được nguyên nhân làm chỗ mình khổ thì chắc chắn người đó đi đến giảm khổ, bớt khổ, hết khổ, dứt khổ, diệt khổ. Đây là một cái thấy thần thánh, siêu việt, cái thấy vượt khỏi tầm vóc, tầm với của phàm phu. Chỉ có bậc Đa văn Thánh đệ tử mới có thể nghe, học, nhìn nhận năm uẩn, phát giác, phát hiện, nhận rõ ra được những sự cấu uế đang tồn tại, vận hành xâm chiếm, khống chế, chế ngự, thống trị bên trong thân tâm của mình. Sự thấy biết một cách tường tận, thấu đáo, tròn vẹn, đầy đủ thì đó gọi là Thánh tri kiến – tri kiến của bậc Thánh, phàm phu không bao giờ thấy được vì phàm phu hướng ngoại. Thí dụ họ giận gì đó là họ đổ thừa tại ông đó, tại bà đó, tại người đó chứ họ không biết nguyên nhân tại sao họ giận. Họ không biết từ bản ngã, từ sự chấp thủ đúng sai, từ cái tôi, từ cái tham, dục sanh khởi ra sân hận.

Vĩnh viễn và mãi mãi nếu không gặp được bậc Chánh Đẳng Giác, không gặp được đệ tử của Ngài, không gặp được kinh tạng Nikāya thì không thể nào biết được điều đó, đây mới gọi là Thánh tri kiến. Cho nên khi thấy được điều này mình vui lắm! “Một nỗ lực cần cố gắng để thấy rõ được đây là khổ, một nỗ lực cần phải cố gắng làm để thấy rõ đây là nguyên nhân của khổ, một nỗ lực cần cố gắng phải làm để thấy rõ đây là sự chấm dứt khổ và con đường đưa đến đoạn tận khổ đau”. Đời tu chúng ta có một nỗ lực đó thôi và khi thấy được “đây là khổ” thì mình vui lắm, vui lạ lắm, vui của sự thấy biết sự thật. Lúc trước mình tưởng mọi thứ đều là vui, không biết đó là khổ. Bây giờ thấy sự thật đúng như sự thật, mình không bị sắc lừa gạt, không bị thân xác, hình sắc bên ngoài lừa gạt, không bị những cái lòe loẹt của thế giới lừa gạt nữa. Một trong những pháp quán là quay lưng đối với tất cả sự lòe loẹt của thế giới, không còn bị sắc, bị những cảm giác lừa gạt, dầu cho tập khí mạnh, mình thua nó, nhưng mình vẫn biết đó là thứ khổ.

Thí dụ như dục, sân, bản ngã là những cảm giác, mình biết nó nhưng lâu lâu cũng bị nó quật. Tuy bị vậy nhưng biết những thứ đó là thứ đưa tới tai hại, thống khổ, mình không chấp nhận nó, chẳng qua nó mạnh quá, mình còn yếu nhưng “Ngươi hãy đợi đấy!”. Tuy là thua nhưng mình vẫn không khuất phục, không nhận nó là mình, còn hồi xưa mình nhận nó là mình, đó là sự khác biệt so với Chánh tri kiến. Mình nói “Các ngươi hãy đợi đấy, chờ ta tập vợt võ công, khi công lực ta đủ mười phần rồi thì các ngươi sẽ biết tay ta.” Cho nên khi thấy khổ, nghiên cứu về những nguyên nhân của khổ, tìm hiểu nó tận tường thì mình rất là vui. Đó chính là“Tăng là đoàn thể đẹp, đi trên con đường vui”, chữ Tăng ở đây là bao gồm Tăng, Ni và cả luôn nam cư sĩ, nữ cư sĩ, nam nữ Phật tử.

Cho nên sự giác ngộ hay lắm! Giác ngộ được sắc trùm trời, trùm đất, trùm cả hành tinh này. Đức Thế Tôn phán một chữ sắc uẩn thôi nhưng nó đã trùm hết mười ngàn thế giới. Đây là sự tu học tới chỗ chí cực của chân lý, Thánh trí năm uẩn này là chỗ chí cực, chỗ quy túc của tất cả các pháp, chỗ tối thượng của trí huệ thế và xuất thế gian. Mình tập khi nhìn bất cứ thứ gì cũng đều biết đồ sắc này, đống sắc này không có gì hết, tác ý như vậy để xả ly, từ bỏ, viễn ly.

Giác ngộ được thọ, phát giác, phát hiện, nhận rõ các dòng cảm thọ. Thứ tích tụ trong vô lượng kiếp, thứ điều khiển âm thầm, sai khiến, dẫn dắt, thứ nhận chìm cả thế giới là các dòng cảm thọ đang chảy và vận hành ở bên trong.

Giác ngộ được tưởng. Tất cả mọi hình bóng bên trong dầu là hình bóng gì, cười hay khóc, đẹp hay xấu, khổ hay vui, đen hay trắng mình đều thấy nó là tưởng thì đó là sự giác ngộ của Thánh trí.

Tất cả những suy nghĩ, mình giác đều ngộ nó là hành, không còn bị những cảm giác suy nghĩ, hình bóng đó lừa dối. Nó đạo diễn, dựng ra không biết bao nhiêu vỡ tuồng bây giờ mình phải giác ngộ.

Lang thang bao kiếp sống

Ta tìm nhưng chẳng gặp,

Người xây dựng nhà này,

Khổ thay, phải tái sanh.”

Ôi ! Người làm nhà kia

Nay ta đã thấy ngươi!

Ngươi không làm nhà nữa.

Đòn tay ngươi bị gẫy,

Kèo cột ngươi bị tan

Tâm ta đạt tịch diệt,

Tham ái thảy tiêu vong.

(Kinh Pháp Cú – Phẩm Già)

Lang thang bao số kiếp, ta tìm mà không gặp, nay ta thấy được kẻ làm nhà. Kẻ ấy làm ra ngôi nhà của sanh tử, ngôi nhà của luân hồi, ngôi nhà của vô minh, tham ái, chấp thủ, làm ra ngôi nhà của năm uẩn. Ta thấy được kẻ làm nhà, kèo cột bị gãy, kính xiêng sụp đổ, tâm ta đạt tịch tịnh, tham ái hết tiêu vong. Kẻ làm nhà làm ra ngôi nhà của năm uẩn. Làm ra ngôi nhà của năm uẩn này là do tham, ái, dục đối với sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Do tham, ái và dục đó kết dính năm uẩn lại giống như cục nam châm, để đó thì năm miếng sắt chung quanh hít vô thành một chùm, thành một cái cục nhưng thật sự đó là năm thứ. Do sức hút của dục, ái, tham, vô minh, sự hấp dẫn, sự dính khắn, sự thu hút nhập vô chung lại thành ra một đống như vậy là năm thủ uẩn. Nếu không có thủ, không có ái thì cũng giống như cục đá không có tham dục, đống đất không có biết sân nhưng hễ có dục, ái, thọ, tưởng, hành, thức vô trong đó là cục đá đó nó đấm đá, nó trừng trợn, giết người. Cho nên sự giác ngộ được năm uẩn là Thánh trí tối thượng của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác.

Chúng ta phải thường trực, suốt ngày dòm cái sắc này, dòm hoài cái thân thể này, thực tập Thân Hành Niệm. Dòm hoài những cảm giác, dòm hoài nội tâm xem bên trong có gì, nó đang vận hành cái gì bên trong đó, đó là Tứ Niệm Xứ. Mình không nói những từ chuyên môn nhưng vẫn thấy nó diễn ra rất rõ ràng. Cứ dòm thân thể, hành động, dòm những cảm giác, dòm trong tâm, xem nó đang vận hành cái gì trong đó, cứ dòm hoài như vậy để phát giác, phát hiện kịp thời, ngăn chặn, triệt hạ, triệt phá, triệt tiêu đó chính là công việc của người tu. Như vậy, khi một người tu chân chánh trong Tứ Niệm Xứ như vậy thì có giận, có sân, có kiếm chuyện với ai không, có đi gây gổ, moi móc ai không? Chỉ có người không chân tu mới vậy, còn người chân tu không có đủ thời gian để dòm kỹ lại bởi vì cái thọ, cái hành như Đức Phật nói là nó nhanh không tưởng tượng nổi.

Đức Phật thí dụ một người bắn một mũi tên, có ngươi ở dưới đất nhảy lên chụp mũi tên đó, Đức Phật hỏi như vậy có nhanh không thì Ngài A-nan nói rất là nhanh. Đức Thế Tôn nói có người cùng một lúc bắn 4 mũi tên lên 4 hướng, người này nhảy lên chụp được cùng một lúc thì Ngài A-nan nói như vậy là quá nhanh. Đức Phật nói cái nhanh đó nó vẫn không bằng cái nhanh của thọ, tưởng, hành. Một người nhảy lên chụp cùng lúc 4 mũi tên ở 4 hướng thì họ nhanh tới mức độ nào và những thọ, tưởng, hành của mình nhanh hơn những cái đó. Nếu mình không lo nhìn, không kiểm soát thì sẽ không thấy, không phát giác, không phát hiện thì làm sao giác ngộ.

Minh Thành rất tâm đắc chữ giác ngộ này. Giác ngộ là giác ngộ được thân tâm, năm uẩn, giác ngộ được Bốn Thánh trí Năm uẩn và Bốn Thánh trí Lậu hoặc, nhìn thấy được bên trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức là tham, ái, vô minh, bản ngã, chấp thủ. Đó là nói tổng quát, còn nói sâu hơn, vi tế hơn là dục hoạt động như thế nào, trạng thái của ái ra làm sao, cảm giác của tham như thế nào? Nhìn sâu hơn nữa là nhìn vào nguyên nhân, phương tiện chấp thủ, chấp vào cái gì, ái như thế nào, dục như thế nào, tham như thế nào, sân như thế nào, tại sao nó sân? Bản ngã như thế nào, tại sao nó bản ngã, gá vô cái gì mà nó bản ngã, phương tiện chấp thủ là gì?

Ví dụ một người ao ước mua một cái đồng hồ mắc tiền, thương hiệu nổi tiếng. Hôm đó đủ tiền mua được cái đồng hồ đeo lên tay, người đó đi đâu, ăn gì cũng giả bộ đưa cái đồng hồ ra cho mọi nhìn thấy đây là đồng hồ mắc tiền, đồng hồ xịn, thì cái đồng hồ đó là phương tiện chấp thủ. Hoặc mình có căn nhà, biệt thự, mình có món đồ gì quý, miếng đất bao nhiêu tỷ, đi tới đâu mình cũng nói đến nó hết, trong tâm mình hay suy nghĩ về nó thì đó là phương tiện chấp thủ. Đó là cái bên ngoài, đi sâu hơn nữa thì mình phải tìm hiểu nhà nghiên cứu tâm lý học tối thượng của Phật giáo, đó là người tu năm uẩn. Cũng đồng thời trong cái dục, cái ái đó nhưng mình phải xem chỗ nào nặng, tìm cho ra được chỗ đó rồi dùng Như Lý Tác Ý đánh thẳng tổng hành dinh đó. Cái sân cũng vậy, ngày xưa đi học, mấy đứa bạn học chung trong trường nói “Mày nói tao gì cũng được nhưng mày không được chưởi cha ta nghe. Chưởi cha tao là tao xử lý mày”, hễ chạm tới chỗ đó là sân nổi lên. Mình phải nghiên cứu trong tâm mình tại sao nổi sân, nghiên cứu phương tiện chấp thủ và mình diệt ngay chỗ đó. Khi mình nhận diện năm uẩn lúc đầu chỉ đại khái, tổng quát, kế đó phải phát giác ra lậu hoặc, dục, tham, sân, si, vô minh, bản ngã, đó như là bước thứ hai, càng ngày càng vi tế. Sau khi mình thấy được vô minh, lậu hoặc, tham ái rồi thì bắt đầu tìm hiểu xem nó vận hành, sanh khởi, an trú, tồn tại, chấm dứt ra sao, kiểu hoạt động như thế nào. Thí dụ, mình nói ăn nhưng có biết bao nhiêu kiểu ăn, biết bao nhiêu món ăn, và mỗi người lại thích món khác nhau, thành ra nói chung là ăn nhưng có đủ thứ kiểu ăn, cách ăn. Trong tâm mình cũng vậy, phải nghiên cứu từng cái, nghiên cứu sâu trong những lúc mình thiền định, yên tịnh, sâu lắng. Những lúc nó sanh khởi lên là cơ hội cho mình nghiên cứu một cách thẩm thấu. Chẳng hạn bản ngã sanh khởi lên là lúc đó mình phải ngồi thiền để mình coi trong này cảm giác, suy nghĩ vận hành ra sao, cái tưởng như thế nào, mình nhìn để đọc cho thật kỹ hết tất cả, không được bỏ qua cái nào hết. Đó là người đọc được tâm của mình, đó là tạng kinh sống, là tinh hoa Nikāya, đọc được thọ, tưởng, hành ngay lúc có dục, sân sanh khởi. Cho nên đây là cả một sự tinh đời, tinh mắt, tinh vi, vậy mới gọi là Thánh tri kiến, mới gọi là sự thấy biết của bậc Thánh, sự thấy biết xuất thế, sự thấy biết đưa đến diệt tận khổ đau.

Con mời sư cô Hạnh Đức, vừa qua rời Đài Loan về đây để tu học trên núi. Cô có thể trình bày khi có cơn sân, hay có bản ngã, lậu hoặc sanh khởi thì cô đọc được, nhận diện được cơn sân, bản ngã đó như thế nào?

Sư cô Hạnh Đức:

“Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Con kính bạch trên sư phụ. Con kính thưa quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng. Con xin chia sẻ trong quá trình tu học.

Từ hôm qua con có nhân duyên lần thứ 2 nghe cô Chơn Tín Toàn giảng pháp, bắt đầu từ hôm qua con có định hướng thêm là bắt đầu mỗi ngày mở mắt ra con sẽ định hướng ngày hôm nay con sẽ làm gì. Từ hôm qua con có suy nghĩ khuyết điểm và thiếu sót trong con là bản ngã, con muốn diệt bản ngã này. Có thêm một nhân duyên là cảm xúc của con lúc trải tâm từ rất rất mãnh liệt. Khi trải tâm từ thương hết chúng sanh, con thấy trong chúng sanh có con, và con thương ở trong đó có bản thân này bị năm uẩn dìm, khống chế, dắt mũi mình đi. Lúc đó con thấy cái hiện lên mạnh nhất trong mình là cái ngã. Con lấy một điều thực tế, sáng này khi ngồi thiền xong, bắt đầu đi về qua bên kia thì lúc đi con thấy ánh nắng, tay con tự nhiên theo bản năng che lại. Con quay về lại xem sao lại lấy tay che, tức là con sợ bị nắng, sợ bị đen, sợ bị xấu, lúc đó con thấy cái ngã mày ra rồi phải không. Con bắt đầu trú trong ba pháp: rõ biết trước mặt, cảm nhận toàn thân, nội tâm tỉnh giác. Khi con cảm nhận toàn thân thì bắt đầu con tác ý “Sợ nắng ở chỗ nào, sợ mặt của mày hả, sợ cái thân này của mày hả, chỗ nào là của mày. Mày nắng chỗ nào, nắng cái da à, sau cái da này chỉ có lớp thịt, sau lớp thịt chỉ có mấy dây thần kinh, không có gì để đẹp, để sợ, để che”. Lúc đó tâm con hoan hỷ, con quay lại tự hỏi cái gì sản sanh ra để con có cái niệm như vậy, con mới thấy được là do tham, dục, ái. Con nói “Đức à, công việc của mày hôm nay là phải thấy rõ mày hơn nữa”. Qua đó con thấy nếu tu hành có một định tướng nhất định thì tâm của con có cảm giác chuyên chú hơn, xác định rõ hướng để con thực hành và nhận diện năm uẩn được rõ ràng hơn.”

Con mời đại chúng trình bày tâm lậu hoặc của mình. Tức là trình bày thí dụ dục khởi lên thì hình tướng nó như thế nào, mình nhận diện và tu như thế nào. Cái sân, bản ngã, si, vô minh sanh khởi, vận hành như thế nào và mình tu như thế nào? Đây là nhận diện năm uẩn sâu sắc hơn, bước qua cái trí về lậu hoặc. Ai nhận diện cái này kỹ thì người đó giác ngộ.

Thầy Pháp An:

“Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Con kính thưa sư phụ. Con kính thưa quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng. Pháp An kính trình sự hiểu biết về lậu hoặc mà sư phụ vừa nói.

Pháp An thấy lậu hoặc sanh khởi ra do nguyên nhân đầu tiên là do cảm giác. Chẳng hạn khi sân, cảm giác báo động cho mình biết mình sân làm sao. Cơ thể mình chuyển động, ngực mình nóng lên, từ từ lên tới mặt, tới lỗ tai rồi bắt đầu nó xuất thành khẩu. Khi mình biết lậu hoặc có sân như vậy mình Như lý tác ý “Cái gì mà mày nóng mày sân, mày sân cái gì? Đó là cảm giác thôi, đó là giả chứ không phải thật, nó đến rồi đi, sanh rồi diệt, có gì đâu mà phải ràng buộc, nắm chặt hay giữ nó lại làm gì? Đó là cảm thọ thôi.” Sau đó mình vui vẻ, mình suy nghĩ bằng Chánh tư duy, Chánh kiến, rõ biết được đó là cảm giác, là duyên khởi, sanh rồi diệt, không có gì quan trọng hết, đừng bận lòng gì với nó nữa, cứ thoải mái, bình an. Đó là nhận diện về lậu sân của Pháp An. Kính trình và mong sự chỉ dạy của sư phụ, quý thầy, quý sư cô và đại chúng.

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”

Sư cô Hạnh Trí:

“Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Con kính thưa sư phụ. Con kính thưa quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng. Con xin trình bày sự thực tập của con trong sự nhận ra lậu hoặc.

Cách đây mấy hôm sau khi nghe pháp, con đi qua bếp thì thấy trong bếp có trái bắp chuối và con đang thích ăn bắp chuối trộn gỏi hay gì đó. Tự nhiên dục lậu này khởi lên cảm giác vị tưởng là bắp chuối trộn gỏi với bánh tráng ngày xưa mình từng ăn. Nó khởi lên nhanh và siêu tốc đến độ mình không kịp nhìn thấy. Khi ý khởi lên như vậy thì khẩu hành phát ra nói là xin bà Năm một trái bắp chuối. Ngay đó con nhận ra nhưng không kịp nữa vì đã lỡ nói ra rồi, bà Năm đã lấy một cái bì, con chỉ lấy một trái thôi. Khi xách trái bắp chuối từ bếp tới thất thì sự xấu hổ của con dâng tràn. Tại sao tu đến ngày giờ này còn bị những vị tưởng như vậy khởi lên và còn không làm chủ được để phát ra khẩu hình xin trái bắp chuối như vậy. Con để trái bắp chuối đó tới 3 ngày con không ăn nữa. Con nhìn sâu vào, mình thích những cái vị là mình đã làm nô lệ của nó bao nhiêu đời kiếp rồi. Sau khi ăn qua cổ thì nó xuống ruột non, ruột già thì cũng thành một đống phân. Khi con đi vệ sinh, con nhìn đống phân rất là kỹ, đây là những thức ăn ăn vô rồi đi vệ sinh ra, rồi lại ăn vô cái phân, nước tiểu đó người ta tưới, phân bón trên cây. Quay lại mình tiếp tục ăn rồi lại đi ra. Cứ như vậy lòng vòng không những đời này, mà bao nhiêu đời kiếp mình phải làm nô lệ cho những cái dục như vậy để nuôi thân xác này. Trong bữa ăn khi con đọc Chánh quán khi thọ thực, con mở kinh Nikāya, Tương Ưng Bộ, trong bài kinh “Thịt đứa con”:

Ví như, này các Tỷ-kheo, hai vợ chồng đem theo một ít lương thực đi qua một quảng đường hoang dã, với một đứa con khả ái, thương mến.

Rồi này các Tỷ-kheo, trong khi hai vợ chồng ấy đang đi trên con đường hoang vu, số lương thực ít ỏi ấy đi đến hao mòn, khánh tận. Và một vùng hoang vu còn lại chưa được họ vượt qua.

Rồi này các Tỷ-kheo, hai vợ chồng người ấy suy nghĩ: " Đồ lương thực ít ỏi của chúng ta đã bị hao mòn, khánh tận; còn lại vùng hoang vu này chưa được vượt qua; vậy chúng ta hãy giết đứa con một, khả ái, dễ thương này, làm thành thịt khô và thịt ướp, ăn thịt đứa con và vượt qua vùng hoang vu còn lại này, chớ để tất cả ba chúng đều bị chết hại ".

Rồi hai vợ chồng ấy giết đứa con một, khả ái, dễ thương ấy, làm thịt khô và thịt ướp, ăn thịt người con và vượt qua vùng hoang vu còn lại ấy. Họ vừa ăn thịt con, vừa đập ngực ( than khóc): " Đứa con một ở đâu? Đứa con một ở đâu? "

Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Họ ăn món ăn có phải để vui chơi? Hay họ ăn món ăn để tham đắm? Hay họ ăn món ăn để trang sức? Hay họ ăn món ăn để béo tốt?

- Thưa không phải vậy, bạch Thế Tôn.

Có phải họ ăn các món ăn chỉ với mục đích vượt qua vùng hoang vu?

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Ta nói đoàn thực cần phải nhận xét như vậy.

Này các Tỷ-kheo, khi đoàn thực được hiểu biết, thời lòng tham đối với năm dục trưởng dưỡng được hiểu biết. Khi lòng tham đối với năm dục trưởng dưỡng được hiểu biết, thời không còn kiết sử, do kiết sử này, một vị Thánh đệ tử bị trói buộc để phải sanh lại đời này.

Và này các Tỷ-kheo, xúc thực cần phải nhận xét như thế nào?

Này các Tỷ-kheo, ví như một con bò cái bị lở da, nếu nó đứng dựa vào tường, thời các sanh vật sống ở tường cắn nó. Nếu nó đứng dựa vào cây, thời các sanh vật sống ở cây cắn nó. Nếu nó đứng ở trong nước, thời các sanh vật sống ở trong nước cắn nó. Nếu nó đứng giữa hư không, thời các sanh vật giữa hư không cắn nó. Này các Tỷ-kheo, con bò cái ấy đứng dựa vào chỗ nào, thời các sanh vật trong các chỗ ấy cắn nó. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Ta nói xúc thực cần phải được nhận xét.

(Tương Ưng Bộ Kinh – Tập 2, Chương I. Chương Ưng Nhân Duyên, VII, Đại Phẩm Thứ Bẩy, Thịt đứa con)

Khi con nhìn sâu vào dục lậu của mình, con thấy rất khủng khiếp và ghê tởm đối với sự hoạt động của năm uẩn quá siêu tốc. Con thấy đa phần nếu mình không giác ngộ được Chánh pháp, không thấy được những dục lậu hoạt động như thế nào thì thật sự mình phải sống trong mù lòa, vô minh và làm nô lệ cho nó. Khi thấy được điều này, mỗi lần ăn con thấy cả một cực hình, phải ngồi để múc, bởi vì không thì không thể sống được. Bốn loại thức ăn: đoàn thực, xúc thực, tự niệm thực, thức thực là những nguyên nhân để tiếp tục sanh ra những sắc pháp vô thường như thế này. Con thấy thực sự ngao ngán trong đời sống. Đó là những gì con trình bày về những thực tầm và những cái nhìn thấy của con. Con xin thành tâm tri ân đến Đức Thế Tôn, đến cô Toàn, đến sư phụ, quý sư cô và toàn thể đại chúng. Chưa bao giờ con cảm nhận được từ giác ngộ sau bao nhiêu năm, và hôm qua khi cô Toàn giảng trong con thật sự chấn động và thấy rõ được tại sao phải giác ngộ mới tu. Vì tu với hình thức nào dù đắp y mấy chục năm nhưng không giác ngộ thì chẳng khác nào người mù và sống như một người bình thường. Con thật là xấu hổ và tàm quý, con xin thành tâm sám hối với những tất cả lậu hoặc và rác bẩn trong con.

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”

Phá tan tham ái

Hai chữ “giác ngộ” theo tinh thần Đức Phật hết sức thâm sâu, hết sức thiết thực, rành rõ. Khi nghe kinh Đại Niệm Xứ, nước mắt Minh Thành tràn ra, rúng động hết thân tâm. Trong đó Đức Phật nói tham ái an trú ở đâu, cư trú ở chỗ nào, Minh Thành nghe và rúng động khủng khiếp trước trí tuệ Chánh Đẳng Giác.

Tham ái cư trú ở trong con mắt của chính mình, trong lỗ tai của chính mình, cái mũi, cái miệng, cái lưỡi, vóc hình, cái ý của chính mình. Tham ái cư trú trên những hình sắc, cư trú chỗ những âm thanh, cư trú trên mùi hương. Nếu mình không học pháp này thì vừa bước lên đây mình thấy mây bay, chim hót nên mình thích. Có nhiều người chết vì cái tiếng, có nhiều người chết vì cái mùi, có nhiều người chết vì vóc dáng, hình hài, vì cái sắc, đây là nói riêng trong việc tình cảm. Có nhiều người chết trong cái vị, chết trong cái xúc, cũng có nhiều người chết trong pháp tức là thọ, tưởng, hành, những cảm giác, nghĩ tưởng. Tham ái cũng cư trú ở sự rõ biết các sắc. Lấy thí dụ hình ảnh muốn xin trái bắp chuối về ăn như cô Hạnh Trí trình bày lúc nãy là do sự vận hành của nhãn thức, căn, trần, thức, xúc, thọ, ái, chúng hết sức nhanh và vi tế. Nếu hằng ngày mình không nhận diện, phát giác, phát hiện, mình không quán chiếu thì đối với người bình thường đó là chuyện hết sức bình thường nhưng đối với người tu là thấy được lậu hoặc ở ngay trong những chuyện bình thường.

Tham ái cư trú trong nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức, trong sự rõ biết hình sắc, rõ biết âm thanh, rõ biết mùi, rõ biết vị, rõ biết những cảm giác, nghĩ tưởng bên trong. Cho nên có những hình bóng không bao giờ quên, đó là tham ái cư trú trong tưởng uẩn. Tham ái cư trú ở nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc, ý xúc, xúc một cái là tham ái trú ở trong đó, cho nên mới có xúc thực. Ưa thích sự tiếp xúc, mắt ưa nhìn, lỗ tai ưa nghe, dù cho những chuyện không đáng nghe nhưng nó cũng đi tìm để nghe rồi phiền não, hoặc biết đó là lời nó lường gạt nhưng cũng muốn nghe. Nhiều người nói chỉ cần nghe một câu thôi rồi chết cũng được.

Tham ái cư trú trong nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc, ý xúc, tức là cư trú trong sự tiếp xúc của lỗ tai, lỗ mũi, sự tiếp xúc của cái lưỡi, cái miệng, sự tiếp xúc của thân, sự tiếp xúc của ý trong ý xúc. Như vậy tham ái cư trú trong sáu trần, sáu căn, sáu thức, sáu xúc và sáu thọ. Cảm giác khi con mắt tiếp xúc sanh khởi ra sắc tưởng, sắc tư, hình bóng của sắc hiện trong tâm của mình. Thí dụ dễ hiểu như hình bóng trái bắp chuối hiện lên món gỏi, món xào hay canh chua thì đó là sắc tưởng, suy nghĩ làm cái này, cái kia là sắc tư. Đây là một bài học hết sức sâu sắc, từ một cái đó mình nhìn ra những cái khác, tương tự như cảm giác khi lỗ tai, lỗ mũi tiếp xúc cũng vậy. Mùi ở ngoài là hương trần, và cảm giác thích cái mùi đó là thọ do tỷ xúc sanh. Lỗ mũi, mùi hương, sự rõ biết mùi hương – sự giao thoa của ba thứ này sanh ra cảm giác và mình mới thích cảm giác đó. Đây là sự vận hành của tâm lý học tối thương của Đức Phật. Nó có từng chặn, khi thiền định, tâm mình định tĩnh thì mình mới thấy được tất cả các khâu, những mắt xích, hệ thống, chuỗi nối kết các pháp luôn luôn ở trong tâm thức của mình.

Đi sâu vào tất cả mỗi cái ái là hơn ba mươi pháp của cái ái đó rồi mới sanh ra quyết định sau cùng chứ không phải đến khi mình thích thì lúc đó mới là thích. Khi nói ra mình thích món đồ đó, con người đó, cảnh vật đó thì mình không thấy rằng đó là sau cùng, là đuôi của con trâu thôi, bên trong đó là sự vận hành của gần sáu mươi pháp: sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu thọ, sáu ái, sáu xúc, sáu tưởng, sáu tư, sáu tầm, sáu tứ. Hễ mình thiền định, quán chiếu nhiều, nhận diện năm uẩn càng sâu sắc thì các pháp sẽ hiện rõ ra. Mình càng thấy rõ thì vô minh sẽ bị giảm thiểu, càng bị phá bớt. Đức Phật nói tâm định tĩnh thì các pháp hiện rõ. Đầu tiên là hộ trì các căn, giữ giới, để được tâm định tĩnh thì là cả một chuỗi rất dài. Tâm định tĩnh thì hiện rõ các pháp mình đã nói, hiện rõ tâm lậu hoặc, hiện rõ ra chuỗi duyên sanh, sáu cảm giác, sáu thọ, sáu ái: sắc ái, thanh ái, hương ái, vị ái, xúc ái, pháp ái. Mình càng tu, càng quán và nhận diện các pháp thì mình sẽ càng thấy tâm mình kinh khủng, khủng khiếp.

Trí năm uẩn này là khoa học vĩ đại của tâm linh. Cơn sân cũng vậy, bản ngã vận hành cũng vậy, vô minh cũng vậy và sự tu của chúng ta là gỡ từng cái mắc đó ra. Cho nên pháp quán của mình là bứt tóc bỏ xuống, phá ái nơi tóc, ái an trú trong từng cọng tóc của mình. Người xuất gia cạo mảnh tóc xuống là hủy hình. Đầu tiên là phá cái ái về thân này, người ta nói “Cái răng, cái tóc là gốc con người”, mình phá cái đó trước. Phật giáo Nam tông là cạo luôn chân mày, chân mày là cái rất là quan trọng trên gương mặt của mình. Khi Minh Thành nhập hạ ở chùa Xá Lợi năm 1997, 4 giờ khuya công phu tụng chú Lăng Nghiêm, có ông thầy tu bên Miên, tới ngày đó là giữa tháng và cuối tháng cạo tóc sám hối, khi ông ấy lên đứng, mình dòm là hết hồn, không biết là ai. Ông ấy cạo hết trơn, hết trội, nhìn xấu xí lắm, nhưng thật sự là phải vậy, sau này con nghiên cứu cạo luôn. Ở bên Thái Lan, có mấy sư người phương Tây, vóc dáng rất thanh mảnh, đẹp đẽ nhưng người ta cạo luôn, đi chân không, quấn y, ôm bát đi khất thực mỗi ngày, đó mới là hủy hình.

Những cái nhỏ nhỏ đó là khởi động cho sự từ bỏ tham ái, bởi vì cái ái an trú trên mái tóc, an trú ở cái chân mày, an trú trên sống mũi, ở cái môi, cái lỗ tai, an trú ở màu da, từng cọng lông, từng sợi tóc. Thử có người lại bứt mấy sợi tóc mình thì sân sẽ sanh khởi tại vì ái an trú trong đó. Họ lại nắm giật lông mày, lông mi, mấy cọng thôi thì cũng sân lên vì ái an trú trong đó. Một người thân như vợ, chồng, cha, mẹ chết là trong này nát ruột gan hết, nước mắt tràn ra, nhiều khi muốn xỉu, đó chỉ là cái ái bên ngoài, là người thân thôi đó chứ đừng nói chi tới cái thân của mình đến lúc nó rã ra thì khủng khiếp lắm.

Cho nên đừng nói, đừng mơ diệt tận năm uẩn, thoát ra năm uẩn là chuyện đơn giản, đó là cả một chiến thuật tâm linh. Chiến đấu cho tới khi đi ra khỏi năm uẩn này, không thèm quay mặt lại dòm thì đó là bậc Bất động A-la-hán và bậc A-la-hán. Với sức công phu tu của mình, phải quán bất tịnh, quán 32 thể trược, quán 9 giai đoạn một tử thi tới chứng đạt, chứng đắc thì mới gỡ được tóc xuống. Khi quán bất tịnh, mình quán móc con ngươi này lột xuống, xẻo lỗ mũi này bỏ xuống, lột da hết để riêng da ra, lấy từng bộ phận bao tử, tim, gan, phèo, phổi, ruột để từng cái, từng cái. Trong pháp quán đó đã phá tham ái đối với sắc uẩn.

Nghe bài Đại Niệm Xứ để thấy rõ chứ đừng thấy mình tu được một chút mà tưởng mình từ bỏ được năm uẩn rồi, chưa đâu. Thâm sâu lắm, mình phải gỡ từ từ, gỡ từng trái bắp chuối, gỡ từng miếng tàu hũ chiên xả ớt, gỡ từng bát cơm, gỡ từng món canh chua. Gỡ từng cái nhỏ nhỏ, gỡ lần lần. Mỗi ngày, khi soi gương thấy hình bóng mình rọi vô gương mình phải gỡ từng cái xúc, cái thọ ở trong đó. Nếu mình không gỡ mà còn ưa thích thì chắc chắn đời sau sẽ tìm một lớp da chun vô nữa, nhưng không biết lớp da đó có lông, có sừng hay không. Bất tịnh quán không phải quán 5-7 ngày rồi bỏ mà phải quán 5 – 7 năm, 30 năm, quán mỗi ngày cho tới khi mình nhắm mắt ra đi.

Lúc Minh Thành nhập thất ở trong rừng, mấy chú cho đồ ăn: khoai tây, cà rốt, trên đó nhiều khi mình không để ý đồ ăn nên bỏ quên, củ cà rốt bị giòi ăn. Sau đó có mấy chú lên tính dọn dẹp, con nói cứ để củ cà rốt ở đó để con quán chiếu sự bất tịnh của thức ăn. Chúng ta phải tập nhìn ngoại tướng của các pháp. Thí dụ khi nhìn cái ly mình phải thấy nó bể vụn ra từng miếng nhỏ, đó là kết cuộc. Khi nhìn cái bàn mà thấy đẹp, lập tức quán chiếu một đốm lửa thiêu rụi nó thành một đống tro tàn ngay tại trước mặt mình. Khi nhìn một đối tượng mà sanh khởi lên dục, ái thì phải nhìn thấy xanh bầm, đen, tím, giòi lập tức ăn hết gương mặt đó, từng miếng da, miếng thịt rơi xuống, hiện lên cái đầu lâu. Đó là lấy tưởng diệt tưởng để phá dục, tham, ái trong sắc tướng đó. Điều này phải được thực tập thuần thục, thường trực, thường xuyên, thường luôn. Phá được cái ái về gương mặt, vóc hình. Bất cứ cái gì khi nhìn vô thì con mắt mình phải thấy được ngoại tướng, tướng đổ vỡ, tướng tan vỡ trên quán ly tham, quán từ bỏ, quán đoạn diệt, quán xả ly. Cái gì mà nó ưa, thích, ham thì lập tức quán ngoại tướng của nó ngay lập tức. Có một bài gần như là thần chú, khẩu huyết, bí huyết trong king Nikāya:

- Sắc là thường hay vô thường?

- Là vô thường.

- Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

- Là khổ.

- Khổ là ngã hãy vô ngã, có hợp lý chăng khi đắm đuối vô cái vô thường, cái khổ, nhận "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi"?

Ai ưa thích các sắc, người ấy ưa thích khổ. Ai ưa thích khổ, Ta nói người ấy không thoát khỏi khổ.

Ai hoan hỷ, hoan nghênh, an trú, đắm trước đối với hình hài, vóc dáng này thì người đó còn nhận thật nhiều hình hài, vóc dáng tiếp tục để sầu, bi, khổ, ưu não.

Ai không hoan hỷ, không hoan nghênh, không an trú, không đắm trước đối với hình hài, vóc dáng này thì người đó sẽ chấm dứt khổ đau.

Đây là bài kệ mỗi buổi sáng đọc lúc ngồi thiền, bài kệ này là tóm thâu, yếu chỉ ở trong kinh tạng Nikāya. Cho nên, một khi đi là không quay nhìn trở lại, đối với một người xuất gia khi lên đây tu nếu nhớ ngôi chùa mình ở, nhớ căn phòng của mình thì phải tác ý đánh dập tan luôn cái ái đó. Mình ở chỗ nào cũng giống như nhau, chỉ là mượn cái chỗ để diệt tận dục, tham, ái chứ không phải ở một thời gian rồi đây trở thành chùa của mình. Lỡ ai đụng làm gãy cành kiểng là bực, sân lên, cái này là tôi chăm sóc, ai lại phá. Làm thì làm hết tất cả bổn phận nhưng phải quay lại dập hết, phá hết ở trong, không có cái gì trong đó, trống rỗng.

Đó là dụng công Thánh tri kiến – tri kiến của bậc Thánh mới có thể phá được các lậu hoặc, thực hiện được giác ngộ viên mãn. Khi mình nhìn thấy các lậu hoặc là giác ngộ một phần và khi phá lậu hoặc là giác ngộ thêm những phần khác nữa. Khi nhìn thấy một cách đầy đủ, trọn vẹn tức là Chánh tri kiến của bậc Tu-đà-hoàn. Phá từng phần, từng phần, giảm thiểu xuống là Nhị quả, Tam quả. Phá cho đến sạch trội, sạch trơn, không còn gì nữa thì đó là đại giác ngộ viên mãn bậc A-la-hán lậu tận, tức là ra đi mà không thèm ngoáy lại nhìn năm uẩn, quăng nó giống như quăng cái nùi giẻ rách. Lúc mình chết, sắp sửa ra đi thì đó là các bậc từ Bất lai cho đến Bất động tâm giải thoát của bậc A-la-hán. Bất lai là không quay trở lại, nếu còn ưa thích bất cứ một chút gì ở đây thì không Bất lai được. Chúng ta nhìn thấy được các dục, tham, ái, sân, si, vô minh, bản ngã, những cấu bẩn, uế nhiễm trong tâm của mình càng kỹ, càng đầy đủ tất cả mọi khía cạnh, phương diện, góc độ thì đó là sự giác ngộ thâm sâu và viên mãn của mình.

Hỷ lạc trong Thánh pháp

Tu pháp này vui lắm, thích lắm, thú vị lắm! Mỗi ngày mình là chiến sĩ, dũng sĩ bước ra chiến trận, chiến trường.

Cũng như sư cô Hạnh Đức nói, khi nắng mình lấy tay che, tuy rất đơn giản nhưng mình nhìn ra được các lậu hoặc, các phản ứng, phản xạ tự nhiên của sự chấp thủ, của sự tham ái, của sự vô minh. Thật sự lúc đó mình không kiểm soát được hành động này, mình không chủ động lấy tay che, nhưng tự nhiên phản ứng ngay lập tức là che liền. Nhìn sâu trong đó là sự chấp thủ cái tôi, chấp thủ cái hình hài, vóc dáng cho nó trắng trẻo, đẹp đẽ, không có bị đen. Đó là Thánh trí lậu hoặc, nếu không học năm uẩn, không học nhìn thấy nhiếp phục bản ngã thì làm sao mình có thế thấy được. Hành động hết sức đơn giản này đối với kẻ vô văn phàm phu đó là bình thường, có gì đâu tội lỗi, nắng thì che thôi, nhưng đối với bậc Đa văn Thánh đệ tử thành tựu Chánh tri kiến thì nhìn thấy lậu hoặc. Phải vui thích, vui sướng đối với cái thấy biết đó, điều này thậm chí có khi tu suốt cuộc đời xuất gia ở trong chùa cũng không thấy nữa chứ đừng nói chi tới người cư sĩ và càng đừng nói chi tới người không phải cư sĩ. Một hành động hết sức đơn giản, bình thường, phản ứng, phản xạ tự nhiên nhưng có thể nhìn thấy được sự chấp thủ, nhìn thấy được bản ngã, nhìn thấy được dục, tham, ái đối với sắc uẩn này. Phải Như lý tác ý mãnh liệt đánh đổ, đánh gục, đánh cho nó tan, tu như vậy thì rất là tuyệt vời.

Cảm giác hiện tại của đại chúng cũng đang rất tuyệt vời, thành ra mình phải vui lên, hạnh phúc lên, sung sướng lên, tự tin, tự cường, tự tân, làm cho mình mới mẻ, mạnh mẽ, hùng tráng lên. Làm cho mình anh dũng và luôn luôn giữ lửa, châm củi, đổ thêm dầu sao cho ngọn lửa cầu giác ngộ bừng cháy, bốc cháy rừng rực, hừng hực, phừng phực, sáng lên tại ngọn núi linh thiêng này. Mỗi một người phải là một đống lửa của giác ngộ, phá tan màn đêm vô minh, si ám đối với sự không nhìn thấy năm uẩn, không nhìn thấy tham, sân, si, lậu hoặc. Đó là bóng đêm trùm phủ suốt cả cuộc đời này và bao nhiêu kiếp trước mình cũng trong vô minh như thế.

Trước kia, chúng ta không thấy năm uẩn, không thấy lậu hoặc, không nhìn thấy những thứ làm cho mình đau khổ, sầu, bi, ưu não và bây giờ mình bắt đầu nhìn thấy. Tác ý mãnh liệt, chưởi mắng như vậy nhưng sau đó là mình cười, tu cái này hay quá, đã quá, bằng trí huệ và mình đã nhìn thấy được. Tác ý mắng chưởi một trận cho nó tan hết và sau đó là mỉm cười cho mình sanh hỷ lạc, phải liên tục trú trong hỷ lạc xuyên suốt nhiều năm cho đến Nhị quả. Phải trú trong hỷ lạc thường trực, thường xuyên. Hoan hỷ, hạnh phúc khi mình thấy được những thứ phiền não này, thấy được những nguyên nhân làm cho mình thống khổ này. Chúng ta được giác ngộ mỗi lần nhìn thấy sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Chúng ta được giác ngộ mỗi lần nhìn thấy những cái thọ, ái, thủ, cấu bẩn, uế nhiễm. Thấy nó rồi mình tàm quý, hổ thẹn, khóc lóc, mình trừ diệt. Khi xong xuôi hết thì mình tác ý hỷ lạc, hân hoan, sung sướng, hạnh phúc vì trước giờ mình mù, bây giờ mình đã được sáng mắt; trước giờ mình không thấy, bây giờ mình thấy; trước giờ mình không hiểu, bây giờ mình hiểu; trước giờ mình không nghe, bây giờ mình được nghe. Đó là sự hạnh phúc, hỷ lạc, hân hoan, thấy biết, vui sướng trong giác ngộ và mình mỉm cười, đưa tay chào những lậu hoặc, bây giờ là tạm biệt, từ từ sẽ tới vĩnh biệt. Hướng của mình là hướng đi ra, không còn yêu thích dục, sân, bản ngã, những thứ cấu nhiễm.

Ở đây Minh Thành nhìn thấy quý thầy, quý sư cô, quý đại chúng đẹp lắm. Đẹp trong nét đẹp vi diệu, đẹp trong nét đẹp thiêng liêng, đẹp trong nét đẹp của viễn ly, của xuất ly, của thoát ly, đẹp trong nét đẹp tối thượng của Thánh pháp. Con rất là hân hoan, rất là hoan hỷ, rất là vui, không bao lâu nữa chúng ta sẽ đi đến chỗ nhiếp phục và đoạn tận các lậu hoặc. Bình an, tịnh lạc, hỷ lạc. Mai mốt chúng ta dời lên trên Vườn Thiền, sáng ôm bình bát xuống đây xin một vòng rồi về, vậy là xong!

Mời đại chúng trải tâm từ đến tất cả chúng sanh trong đau khổ trên toàn thế giới, đến hàng ngàn bác sĩ, điều dưỡng, y tá, đến hàng chục ngàn, hàng trăm ngàn những người đã mất cha, mất mẹ, sanh ly tử biệt giữa những người yêu thương, vợ chồng chia cắt. Nguyện cho các loài hữu tình thấy rõ được tham, sân, si là nguồn cội của khổ đau, nhiếp phục và giảm thiểu để có được sự bình an trong hiện tại và tương lai.

./.