Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Đại Kinh Mãn Nguyệt 2 - Dục Tham Là Gốc Rễ Của Ngũ Uẩn

2026-03-03 00:55:10
Kinh Nikāya Giảng Giải

DỤC THAM LÀ GỐC RỄ CỦA NGŨ UẨN

ĐẠI KINH MÃN NGUYỆT 2

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Dục tham là gốc rễ của năm thủ uẩn PAGEREF _Toc83802567 \h 1

II.Nhiếp phục dục tham đối với năm thủ uẩn PAGEREF _Toc83802568 \h 2

Dục tham là gốc rễ của năm thủ uẩn

Chúng ta đã tìm hiểu về năm thủ uẩn trong Đại Kinh Mãn Nguyệt. Bài kinh này rất quan trọng, nó là chìa khóa để mở pháp học và pháp hành của kinh tạng Nikāya, cần học thuộc những phần trọng yếu trong đó, nếu không khi đi sâu vào sẽ không có căn bản.

"-- Bạch Thế Tôn, năm thủ uẩn này, lấy gì làm căn bản?

-- Này Tỳ-kheo, năm thủ uẩn này lấy dục làm căn bản". (Trung Bộ Kinh, 109. Ðại kinh Mãn nguyệt)

Chỉ cần hiểu một câu này thôi chúng ta sẽ thành tựu chánh tri kiến sơ quả Tu-đà-hoàn chứ không phải chuyện đơn giản. Tại sao cứ bám chấp vào trong những hình hài, trong những cảm giác, hình bóng trong tâm, vào những suy nghĩ, sự rõ biết lấy dục làm gốc rễ này? Khi nhìn vào gương thấy bóng gương mặt mình hiện ra thì có cảm giác ưa thích, nhìn vào tấm hình mình chụp thì mình thích thú, vui thích, cảm thấy hài lòng với tấm ảnh đó, đó là dục ái với hình bóng của sắc thân. Đó là hình bóng trong gương, trong bức ảnh nhưng giờ đến hình hài thật sự của mình, vóc dáng, thân thể này mình cũng yêu thích, hoan hỉ đối với nó, đó là dục.

Đại chúng hãy lắng tâm sâu sắc vì chúng ta đang học trí tuệ của bậc Thánh chứ không phải sự hiểu biết thông thường của thế gian. Tại sao mình lại yêu thích gương mặt, con mắt, đôi môi, bờ vai, cánh tay, ngón tay này, tại sao lại say đắm, tham ái trong đó? Chính vì yêu thích, tham đắm, tham ái trong thân xác xương da, máu mủ này cho nên khi chết đi tùy theo nghiệp lại tái sanh thành thân xương da, máu mủ như vậy, đó là sắc thủ uẩn lấy dục làm căn bản. Điều này rất sâu sắc, có khi tu suốt đời cũng không hiểu ra được điều này, đó là chúng ta nói sâu thẳm trong tâm, còn giờ đến bên ngoài, tại sao có mặt mình xuất hiện trên cuộc đời này? Chính từ từ dục của cha mẹ, trong kinh Nikāya dùng từ "hương ấm".

"Này các Tỳ-kheo, có ba sự hòa hợp mà một bào thai thành hình: ở đây, cha mẹ có giao hợp và người mẹ không trong thời có thể thụ thai, và hương ấm (gandhabba) không hiện tiền, như vậy bào thai không thể thành hình. Ở đây, cha và mẹ có giao hợp, và người mẹ trong thời có thể thụ thai, nhưng hương ấm (gandhabba) không hiện tiền, như vậy bào thai không thể thành hình. Và này các Tỳ-kheo, khi nào cha mẹ có giao hợp, và người mẹ trong thời có thể thụ thai, và hương ấm có hiện tiền; có ba sự hòa hợp như vậy, thì bào thai mới thành hình". (Trung Bộ Kinh, 38. Đại kinh Đoạn tận ái)

Mình từ dục mà sanh ra, hình hài này, sắc thân này, dáng vóc này, cơ thể này, con người này có ra từ dục, như vậy là sắc thủ uẩn lấy dục làm gốc rễ. Lúc đó cái dục của cha mẹ tương ưng với cái dục của bản thân mình thì sanh ra hình hài này, sắc chất này, cho nên mình mới học trong giới, trong luật "sanh tử căn bản, dục vi đệ nhất". Gốc rễ của sự sống chết này lấy dục làm cội nguồn, dục là số một, là bậc nhất, là gốc rễ của những đời sống sống chết này, từ dục sanh ra rồi sau đó lớn lên đi tìm dục, nếu tìm không được có thể tự vẫn chết vì dục, đó là sắc thủ uẩn lấy dục làm căn bản. Chữ "dục" này bao trùm cả Trái Đất, một sức mạnh vô hình điều khiển Trái Đất này, điều khiển hành tinh này, điều khiển hữu tình nhân loại chúng sanh, đó chính là dục, người ta lấy dục làm nguồn sống cho nên sự thật này rất phũ phàng. Vì vậy có ra hình hài, sắc chất này là từ tham dục, tham ái, dâm dục và chúng sanh đầy rẫy nước mắt ràng rụa, bứt tóc, đấm ngực khổ gần như chết cũng vì dục.

Như vậy, tổng cương lĩnh toàn bộ cốt lõi của sự tu hành là nhiếp phục và đoạn tận dục tham, cho nên tầng thiền thứ nhất là ly dục sanh hỷ lạc, nghĩa là lìa dục sanh ra hỷ lạc thì mới vào được trạng thái của sơ thiền. Cái tham, cái dục, cái ái rất khủng khiếp, tham ái từ con mắt, lỗ tai, lỗ mũi, miệng, gương mặt cho đến từng sợi lông trên thân thể này, không có chỗ nào không có tham ái, chấp thủ, dính mắc. Đừng nói gì người ta chạm vào mà chỉ cần đứng xa lườm, liếc, háy một cái thôi cũng đã có chuyện xảy ra, về nhà là ăn không ngon ngủ không yên. Đó là chưa xúc chạm gì cả mà chỉ cần đứng xa nguýt một cái thôi đã thấy mệt rồi, chấp thủ đến mức như vậy. Vì thế, tu mà nói giải thoát là cả một công trình hành trì thâm sâu.

Nhiếp phục dục tham đối với năm thủ uẩn

Làm sao để phá được dục, tham, ái trong sắc uẩn? Đức Phật dạy quán tứ đại, quán ba mươi hai thể trược và chín giai đoạn của một tử thi, kinh Tứ Niệm Xứ Đức Phật dạy quán thân trên thân.

Muốn nhiếp phục lòng dục, lòng tham ái đối với sắc uẩn này thì phải quán tứ đại. Tất cả răng, tóc, lông, móng, xương, tim, gan, hoành cách mô, phèo, phổi… đều thuộc về địa đại (đất); tất cả những chất lỏng trong cơ thể mình như máu, mủ, nước tiểu, nước bọt, đàm giải… thuộc về thủy đại (nước); tất cả sự động chuyển trong cơ thể thuộc về phong đại (gió); hơi ấm, nhiệt độ cơ thể là hỏa đại (lửa). Khi ngồi quán chiếu đến hình ảnh nào thì phải hiện ra trước mặt hình ảnh đó, quán chiếu đến tim thì hiện ra trái tim, quán chiếu đến ruột thì hiện ra một đống ruột, bẻ gãy ba mươi hai cái răng để riêng ra, chảy một đống máu, nhổ hết lông trên người ra để xuống, rút hết móng hai bàn tay và hai bàn chân để riêng ra, lột hết da trên người xuống. Chúng ta để riêng từng bộ phận để nhìn thấy rồi phân tích bản chất của thân xác này thì mới nhiếp phục được dục. Không có cách nào khác ngoài cách này có thể ly dục vì đây là cách Đức Phật chứng ngộ, ngoài cách này không có cách nào khác để diệt tận cái dục, cái ái, chấp thủ trong tổ hợp sắc chất này.

Nếu không quán chiếu chúng ta sẽ thấy có một con người đang đi, đó là vô văn phàm phu, còn người thực hành phép quán là thấy đất, nước, gió, lửa đang vận hành; một khối thịt đất, nước, gió, lửa đang vận hành, không có một cái tôi và cái của tôi trong đây thì mới là quán tứ đại. Khi co tay, duỗi chân, làm việc mà thấy đó là gió vận hành, sức vận hành của phong đại chứ không có tôi đang làm việc, tôi đang co tay thì mới đi đúng đường. Người sắp chết, tắt hơi là gió đi trước, vậy là cứng đơ, người đang khỏe mạnh bỗng nhiên bị liệt nửa người thì phong đại không đủ nữa, chấm dứt thì người này không hoạt động được.

Vì chúng ta vô minh, tham ái, chấp thủ trong tứ đại này cho nên cái tôi và của tôi rất cứng chắc trong vô lượng kiếp, gỡ không ra, cho nên sức trí quán là để phá cái phàm tình, vô minh, si mê, chấp thủ trong sắc. Cơ thể có hỏa đại thì ăn vào mới tiêu hóa được, không có thì không tiêu hóa được thức ăn nhưng mình không thấy đất, nước, gió, lửa mà mình chỉ thấy một cái tôi to tướng, một bản ngã, cái ta, sự chấp ngã to lớn, đó là sắc thủ uẩn. Chính vì mình thấy một cái tôi, một cái của tôi cho nên ai chạm vào mình là bực tức, phừng phựt lên, sân si lên chứ không thấy đây chỉ là đống đất, nước, gió, lửa.

Vào ban đêm khi vào mùng nằm ngủ phải quán mình đang chui vào hòm vì cái mùng giống cái hòm, phải chiêm nghiệm, quán chiếu, nếu không mình chỉ sống với vô minh, tham ái và nghĩ là mình tu giỏi lắm. Cái tu trong kinh Nikāya là phá vỡ nhận thức sai lầm về tự thân, việc tu hành của Đức Phật dạy trong giáo pháp nguyên chất là để nhìn thấy thấu hiểu sự thật bản chất, bản tánh của thân xác này, của thể xác này, của con người này. Trong vô lượng vô biên kiếp chúng ta bị che giấu bởi lớp da bên ngoài, nó che giấu một sự thật phũ phàng, kinh hãi và khiếp đảm, khi lớp da này rách ra thì bên trong tuôn trào ra những thứ ghê sợ, tất cả chúng sanh đều bị lớp da che đậy.

"Thân trống rỗng không ai trong đó,

Chỉ có tim, gan, máu, thịt, xương,

Phủ ngoài một lớp da trơn láng,

Che hết vô vàng thứ nhớp nhơ".

Chúng ta bị lớp da này che đậy, bao phủ nên không thấy được sự thật. Trí tuệ của Đức Phật là:

"Dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc hướng, hay đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc". (Tương Ưng Bộ, tập I. Thiên Có Kệ, chương VII. Tương Ưng Bà La Môn, I. Phẩm A-la-hán Thứ Nhất, I. Dhananjàni).

Đức Phật chỉ cho chúng ta thấy sự thật về cái mà mình cho là tôi và của tôi chỉ là một đống phèo, phổi, gan, ruột, xương, da, mủ, máu, phân và nước tiểu. Vào lúc sắp chết, thở mạnh ra là gió đi mất thì tiếp theo thân thể trương phình lên, những chất dịch bên trong chảy ra, thủy đại bắt đầu phân hủy. Khi tắt thở là cơ thể lạnh ngắt, không còn phong đại thì hỏa đại cũng mất, thủy đại tuôn trào, sau đó đến địa đại sình trương lên, xám xịt, hôi thối, trong thân thể tự sinh ra giòi bò lúc nhúc, trong khóe mắt tuôn giòi ra, trong bụng giòi bò đầy cơ thể. Đó là cái thân mà mình yêu dấu, say đắm, chấp thủ và kết quả cuối cùng đi đến đó, từ từ máu thịt khô hết sẽ lộ ra bộ xương trắng, theo năm tháng bộ xương cũng rời rạc, chỗ này là xương sọ, chỗ kia là xương chân, chỗ nọ là xương sườn, dần dần theo thời gian xương rệu rã, mục nát thành bụi bị gió thổi vào hư không. Mỗi ngày phải quán chiếu những phép quán này, tư duy, nghiền ngẫm để phá vỡ sự nắm chặt, buộc chặt vào trong thân xác này, sự chấp thủ, siết chặt vào thân xác này phải được phá vỡ, triệt hạ. Đó là sự tu tập thời Đức Phật còn tại thế.

Thọ thủ uẩn là những cảm giác cũng lấy dục, tham, ái làm gốc rễ. Khi được cúng áo đi đường thật đẹp thì mình ham thích, khi ăn món ngon thì vui mừng, trong cảm giác thúc giục, khoan khoái, ưa thích, thích thú cũng lấy dục làm căn bản. Chỉ cần có lạc thọ là mình dễ dàng chết trong đó, dễ dàng bị dính mắc.

Những hình bóng hiện khởi trong tâm cũng ưa thích. Trong tâm hiện ra hình bóng món đồ khả lạc, khả ý, khả ái liên hệ đến dục hấp dẫn thì mình khoan khoái, thích thú, khi tiếp xúc rồi trở về nhà thì hình bóng món đồ đó ẩn ẩn hiện hiện trong tâm, như vậy gọi là tưởng thủ uẩn lấy dục tham làm căn bản. Do mình ưa thích cho nên hình bóng đó mới tồn tại, cư trú trong tâm mình. Bỗng một hôm ngồi thiền thì hình bóng cố nhân hiện ra trong tâm, những kỉ niệm ngày xưa ùa về làm mình ái, đó là lấy dục, tham, ái làm căn bản cho nên hình bóng đó mới ám ảnh trong tâm, lâu lâu hiện lên hình bóng đó. Đối với người yêu thương sẽ có cảm giác tham đắm, trìu mến, nhưng đối với hình ảnh phản diện nó cũng xâm chiếm tâm vì người đó làm trái ngược mình nên mình ghét, nó vẫn thuộc dục ái, mặt trái của dục ái là sân hận. Đừng nghĩ sân là cái gì xa xôi, thực chất sân là mặt trái của ái. Người đời hay nói "càng yêu lại càng hận" chính là hai mặt của một bàn tay, yêu không được thì hận cũng là bắt nguồn từ dục ái, muốn mà không được là tức giận, hận thù, vì thế tâm thức mình rất ghê gớm, tất cả đều bị dục điều khiển. Phải có sự thiền quán, nhận diện năm uẩn mới biết được những điều này, nếu không thì sống trong bóng tối, không thấy biết gì cả.

Hành là những suy nghĩ, chúng ta tu là thường xuyên nhìn lại những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ trong tâm, đó là nhận diện năm uẩn. Tất cả những phép quán đều nhằm nhận diện năm uẩn, tức là nhìn thấy bản chất của thân xác này, suy nghĩ của chúng ta vẫn lấy dục, tham, ái làm căn bản. Tại sao mình cứ suy nghĩ về một người đó hoài? Vì chúng ta có tham ái, tham dục trong đó cho nên suy nghĩ về điều đó cứ lặp tới lặp lui. Ví dụ mình ra Đà Lạt đến chợ hoa bán rất nhiều loại hoa khác nhau, mình thích hoa lan nên khi về chùa thì hình bóng chậu hoa lan mà mình thích hiện ra, có cảm giác dễ chịu rồi có suy nghĩ "sao hôm đó mình không mua chậu đó ta, giá cũng được mà sao không mua", những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ về chậu hoa đó lâu lâu hiện ra vì mình có sự tham muốn chậu hoa đó. Đó là chậu hoa còn đối với con người cũng vậy nhưng nguy hiểm hơn rất nhiều. Thức thủ uẩn là sự nắm chặt vào trong sự nhận thức, rõ biết, cũng từ dục, tham, ái làm căn bản.

"-- Này Tỳ-kheo, phàm sắc gì, quá khứ, vị lai hay hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, như vậy là sắc uẩn". (Trung Bộ Kinh, 109. Ðại kinh Mãn nguyệt)

Chỉ một câu này thôi nhưng tóm thâu toàn bộ hành tinh, Trái Đất này, thế giới này và vô lượng thế giới khác. Những điều này cần thuộc lòng chứ không có cách nào khác, không thể nói rằng đó là "ý con nghĩ", vì là ý con nghĩ nên đó là phàm phu pháp chứ không phải Thánh Pháp. Sắc hiện tại là thân xác mình đang ở đây. Ngồi nhớ lại hình bóng lúc còn nhỏ là sắc quá khứ. Khi ngồi nhớ lại như vậy thì hình bóng của mình lúc còn nhỏ hiện ra trong tâm là sắc tưởng, hình bóng của sắc thân mình khi xưa thời quá khứ gọi là sắc tưởng. Mình nghĩ vài năm sau mình sẽ lên Ni sư, Ni trưởng, sư bà thì đó là sắc vị lai, sắc tưởng tương lai, sắc tưởng vị lai vì hình bóng đó thuộc về sau này, và đó chỉ là hình bóng trong tâm nên gọi là sắc tưởng.

Cho nên sắc và sắc tưởng khác nhau, sắc là tấm thân trong hiện tại nhưng sắc của ngày xưa là sắc tưởng, còn sắc vị lai là thân xác của mình sau này, chỉ là những hình bóng do mình tưởng tượng ra sau này, còn thân thể hiện tại gọi là sắc hiện tại. Ví dụ khi trồng cây xoài còn nhỏ mới được bảy tấc nhưng mình nghĩ mai đây nó lớn lên sẽ có trái thì hình bóng nó lớn lên có trái là sắc tưởng vị lai, chúng ta nhớ lại mình có trồng cây trúc nhưng nó chết rồi thì việc nhớ lại khi nó còn sống xanh tươi thì đó là sắc tưởng quá khứ.

Nội là sắc bên trong, ngoại là sắc bên ngoài, bao tử, lá lách, dạ dày là sắc trong, còn cái chuông, cái ly, chùa, nhà là sắc bên ngoài. Dù là sắc thô kệch hay vi tế thì cũng thuộc về sắc, một con người xấu xí, nghèo nàn, ốm o gầy mòn, khổ sở ở ngoài vỉa hè, không cơm ăn áo mặc hay một người giàu sang, quyền uy, nổi tiếng cũng chỉ là người nhưng người này là thô, người kia là liệt, người nọ là thắng. Liệt là thấp kém, thắng là thù thắng, là cao đẹp. Ví dụ bàn tay cầm cuốc chai sạn, đen nhám là thô và bàn tay búp măng, trắng mịn là tế nhưng đều là sắc. Minh Thành dẫn mọi người đi thiền hành bên bờ sông, ra đó thấy vài con chó bị bệnh rụng lông, ghẻ lở khắp người, nhìn dơ bẩn, xấu xí, mình nhớ lại bên nước ngoài có những con chó ở trong khách sạn, được tắm rửa hầu hạ, cắt móng, được cưng chiều cho ăn ngon. Thế nhưng, chó nào cũng là chó, dù cho là chó ghẻ hay chó ở khách sạn cũng là chó, cũng là kiếp súc sanh, của bàng sanh, đó là sắc thô, sắc tế, thắng liệt và tất cả các sắc đó đều là sắc uẩn, là một tổ hợp của sắc chất. Chúng ta hiểu được điều này để bớt tâm tham đắm đối với sắc, dù là trong ngoài, thắng liệt, xa gần, thô tế thì cũng chỉ là sắc, gọi là nam thần hay nữ thần thì cũng chỉ là con người chứ thần thánh gì đâu, cũng là sắc pháp mà sắc pháp là do tứ đại tạo thành.

"-- Do nhân gì, bạch Thế Tôn, do duyên gì được chấp nhận gọi là sắc uẩn?

-- Bốn đại là nhân, này Tỳ-kheo, bốn đại là duyên được chấp nhận gọi là sắc uẩn". (Trung Bộ Kinh, 109. Đại kinh Mãn nguyệt)

Như vậy dù cho có đẹp cỡ nào đi nữa hay xấu đến mức độ nào thì cũng là sắc thôi, không có gì khác mà sắc là cát bụi, nước, gió, sức nóng kết hợp lại. Học cái này để khi ngồi vào bàn có ba mươi món ăn với khi đi học về chỉ còn nước tương, rau luộc thì cũng là sắc, có gì để mừng với buồn "cũng chỉ là sắc uẩn thôi nên ăn gì cũng được, ăn để bụng đừng kêu vì đói nữa". Một chữ sắc của Đức Phật thôi đã bao trùm cả Trái Đất này, vì thế khi hiểu được điều này thì tâm rất nhẹ nhàng, còn không hiểu, không nhận diện thường xuyên là cái gì cũng mê, cũng thích. Phải tập nhìn tất cả mọi thứ chỉ là tứ đại, không hơn không kém.

"Phàm cảm thọ gì, quá khứ, vị lai hay hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, như vậy là thọ uẩn". (Trung Bộ Kinh, 109. Đại kinh Mãn nguyệt)

Đây chỉ là một tổ hợp của cảm giác, cảm giác vui hay buồn hay không vui không buồn cũng chỉ là cảm giác nhưng tại sao phải khổ với nó, phải nhớ thương nó hoài để làm gì? Tại sao phải sầu, bi, ưu, não với nó để làm cái gì? Cảm giác đó vô thường.

"-- Do nhân gì, duyên gì được chấp nhận gọi là thọ uẩn? 

-- Xúc là nhân, xúc là duyên được chấp nhận gọi là thọ uẩn". (Trung Bộ Kinh, 109. Đại kinh Mãn nguyệt)

Những câu này chỉ toàn là khẩu quyết nên cần học thuộc lòng, phải học rồi sau này mới thấy giá trị vĩ đại của nó. Cảm giác không tự sanh ra được mà phải do tiếp xúc mới có cảm giác, ví dụ khi mình uống ly nước thì do duyên có lưỡi (thiệt căn), do duyên có ly nước (vị trần) tiếp xúc với lưỡi khởi nên sự rõ biết vị (thiệt thức). Ba pháp này hội tụ, giao thoa sanh khởi ra thiệt xúc là tự tiếp xúc của lưỡi, từ sự tiếp xúc này sanh ra cảm giác thích hoặc không thích. Như vậy cảm giác này do có tiếp xúc mới sanh khởi, xúc sanh thọ, đây là những định lý Thánh trí huệ của Đức Phật phát kiến chứng ngộ nên cần học thuộc lòng. Những nhà tâm lý học thượng thừa trên thế giới cũng phải ngả mũ cúi đầu trước điều này.

Do có xúc mới sanh ra thọ; tưởng; hành, do tiếp xúc mới sanh ra những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ trong tâm, cho nên cảm thọ có là do tiếp xúc. Chữ "xúc" này bao gồm cả ba pháp: lưỡi, thức ăn, khởi ra sự rõ biết vị, ba pháp này giao thoa sanh ra cảm giác, cảm giác đó là sự lắp ráp, vô thường, duyên sanh, do tạo ra nên nó tan nát, hoại diệt, tan biến rất mau chóng cho nên tại sao phải dính mắc, sầu khổ vì những cảm xúc này?

Khi đi học về mà bị la thì hãy quán chiếu "có gì đâu, do duyên có lỗ tai, có âm thanh khởi lên sự rõ biết âm thanh. Ba pháp này giao thoa tạo nên sự tiếp xúc của lỗ tai thì sanh ra cảm giác, cảm giác này vô thường, duyên sanh nên hãy an tịnh, lắng dịu, dễ chịu đi. Lỡ mình điếc thì mình đâu có nghe được, nếu mình không nghe được tiếng la này thì mình không có cảm thọ này". Nghe mà sân si, bực bội, phiền não thì hãy điếc đi đừng nghe, "tại sao mình lại tự hành hạ, hủy hoại bản thân vậy? Tại sao mình lại thiêu đốt cho mình khổ vậy? An tịnh đi, lắng dịu đi, buông xả đi, chấm dứt đi, tan biến hoàn toàn cảm giác sân hận, bực bội đi". Dùng Như lý tác ý đánh đuổi hoàn toàn cảm giác bực bội, sân hận.

Đây là định lý vận hành của tâm thức chúng sanh, do tiếp xúc mới có cảm giác còn không tiếp xúc thì không có cảm giác, vì vậy phải luốn tác ý "hãy tan biến hoàn toàn cảm giác buồn giận, thương mến này đi".

./.