Tóm Tắt Ngũ Uẩn Giảng Giải 8
TINH HOA NIKĀYA
TÓM TẮT NGŨ UẨN GIẢNG GIẢI 8
TÁM ĐÚNG CỦA BẬC THÁNH
BÁT CHÁNH ĐẠO
–Thích Minh Thành–
Con đường tu tập đưa đến tâm hết vô minh, thấy biết rõ ngũ uẩn và đoạn tận tham ái đối với ngũ uẩn chính là con đường Tám đúng mà bậc Chánh Đẳng Giác đã tự mình phát hiện, đã tự mình tìm thấy. Phương pháp Tám đúng đó là: Thấy biết đúng, suy nghĩ đúng, nói lời đúng, hành động đúng, nuôi mạng đúng, siêng đúng việc, quán đúng chỗ, định đúng cách. Đây gọi là phương pháp Tám đúng. Nhờ sự tu tập tám cái đúng này mà tâm mới đâm thủng được màn lưới dày đặc của vô minh và phá vỡ được vô minh, làm cho minh sanh khởi, làm cho trí tuệ chân chánh sanh khởi. Khi trí tuệ chân chánh sanh khởi thì ngũ uẩn được nhìn thấy, và tham sân si được nhìn thấy. Khi ngũ uẩn được nhìn thấy, tham sân si được nhìn thấy, thì sự tẩy rửa tâm được tiến hành, tham sân si được thanh lọc sạch và sự chấp trước, sự dính mắc, lòng tham ái đối với ngũ uẩn được tẩy sạch. Khi sự tham ái đối với ngũ uẩn được diệt tận thì tâm không còn dao động, không còn dính mắc, không còn chấp trước, tâm được an tịnh, được thật sự an tịnh, thật sự tịch tịnh, đó là Niết-bàn, đó là giải thoát - là sự thoát khỏi sanh tử, phiền não, khổ, buồn vui, thương ghét, được mất, có không, tham dục, tham ái, sân hận, si mê, thoát khỏi sanh, già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, thoát khỏi những tâm xấu ác, những tâm bất thiện như độc ác, ganh tỵ, gièm pha, đâm thọc, ích kỷ, hẹp hòi, hơn thua, đấu đá, lừa lọc, xảo trá, man trá, dối trá, ba hoa, khoác lác, nói dóc, nói xạo, nói khoét, nói nhảm, nghiệp, luân hồi, nhân quả, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, lậu hoặc.
Sự thoát khỏi tất cả những tâm xấu ác, thoát khỏi tất cả những phiền não, hệ luỵ khi có thân ngũ uẩn, thoát khỏi những ngũ uẩn quanh quẩn lùng nhùng trong những thứ luân hồi, vô thường, khổ, sanh tử, thoát khỏi tất cả những trạng thái tâm uế nhiễm về dục, uế nhiễm về hữu, uế nhiễm về vô minh, sự thoát khỏi tất cả những thứ này, đây gọi là giải thoát, là Niết-bàn, là tịch tịnh, là thể nhập vào bất tử.
GIẢI THÍCH BÁT CHÁNH ĐẠO:
- Chánh kiến: Trí về 5 thủ uẩn, Trí về Vô minh, Trí về Đoạn diệt vô minh, Trí về Tám Chánh đạo (trí về khổ, trí về Khổ tập, trí về Khổ diệt, trí về Khổ diệt đạo)
- Chánh tư duy: Tư duy về ly dục, Tư duy về ly sân, tư duy về bất hại.
- Chánh ngữ: Từ bỏ nói dối, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm.
- Chánh nghiệp: Từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục.
- Chánh mạng: Từ bỏ nghề bán vũ khí, bán rượu, bán thịt, bán người, bán thuốc độc (đối với cư sĩ).
- Chánh tinh tấn: Chế ngự sáu căn, đoạn tận tham sân, tu tập Tứ niệm xứ, hộ trì các thiện pháp đã có.
- Chánh niệm: Niệm thân, niệm thọ, niệm tâm, niệm pháp.
- Chánh định: Định tâm theo Tứ thiền.
GIẢI THÍCH PHƯƠNG PHÁP 8 ĐÚNG:
- Thấy đúng: Thấy năm uẩn – Thấy vô minh – Thấy vô minh đoạn diệt – Thấy Bát Chánh đạo.
- Nghĩ đúng: Suy nghĩ việc ly dục – Suy nghĩ việc ly sân – Suy nghĩ việc không hại mình và người.
- Nói đúng: Từ bỏ nói dối, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm.
- Làm đúng: Từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục.
- Sống đúng: Từ bỏ nghề bán vũ khí, bán rượu, bán thịt, bán người, bán thuốc độc (đối với cư sĩ).
- Siêng đúng: Chế ngự sáu căn, đoạn tận tham sân, tu tập Tứ niệm xứ, hộ trì các thiện pháp đã có.
- Quán đúng: Quán thân, quán thọ, quán tâm, quán pháp.
- Định đúng: Định tâm theo Tứ thiền.
Ở đây chúng ta chỉ giải thích một cách tổng quát, giới thiệu vì Bát Chánh Đạo trong Nikāya là cực kì thâm sâu và quảng đại, chúng ta đi được vào cánh cửa thứ nhất đã là Nhập Lưu Thánh quả thứ nhất chứ không phải chuyện đơn giản. Nếu chúng ta đi đến nghĩ đúng, nói đúng, làm đúng ở phía sau nữa thì từ từ đi lên các quả vị, còn đi đến định đúng là đi đến Thánh quả tối cao của bậc Thánh cho nên Bát Chánh Đạo trong Nikāya là tối thượng thừa, là giáo pháp chí cực của tất cả các bậc Chánh Đẳng Giác, là đạo lộ của tất cả Như Lai, Thế Tôn trong quá khứ, hiện tại và tương lai.
Đầu tiên chúng ta chỉ nói thấy đúng là thấy năm uẩn cho dễ hiểu, tức là khi thấy có một con người, có một cái tôi thì khi đó là thấy sai, còn khi nào mình thấy có sắc; thọ; tưởng; hành; thức đang vận hành, đang hoạt động thì lúc đó là thấy đúng. Ví dụ mình đang có cảm giác khó chịu, bực bội thì mình biết mình đang có thọ khổ, khó chịu, bực bội, nó chỉ là cảm thọ thôi thì đó là thấy đúng, còn khi mình thấy "tôi đang khó chịu, bực bội, đang nóng nực, lại gần là phựt" thì cái thấy đó là tà kiến, là thấy sai, vô minh, là cái thấy của bản ngã, cái thấy của chấp ngã, cái thấy của thân kiến, của ngu si. Qua đây nhìn lại từ đó giờ tu chúng ta đã nhìn thấy đúng chưa? Đây chỉ mới là bước một, là thấy đang có nhóm sắc, thấy có một hình hài, thấy một số cảm giác, thấy đang có những hình bóng trong tâm, một số những suy nghĩ, nhận thức thì mình biết năm uẩn đang có mặt, đang vận hành, đang sanh khởi, thấy như vậy là thấy đúng, là mình đang tu tập cái thấy của bậc Thánh, tri kiến của bậc Thánh, đó là cái thấy của các chư Phật, của những bậc giác ngộ. Ngược lại thấy tôi đang giận, tôi đang thích, tôi đang vui thì cái thấy đó là của phàm phu, là cái thấy của người không biết tu, dù cho cạo tóc đắp y nhưng mình và người đời không khác gì nhau. Nếu mình không có cái thấy biết về ngũ uẩn thì giữa mình và người đời không khác gì nhau, chỉ khác trên hình thức chứ không thành tựu được thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng, xứng đáng bậc Thánh, tức là trí tuệ về năm uẩn.
Những điều này rất khó nhưng nếu làm được thì mới là siêu phàm. Từ ngày mình đi tu đến giờ ý nghĩ về tôi này còn y nguyên, nhiều khi còn phát triển hơn nữa cho nên tu không có kết quả là như vậy, đó là do mình không loại bỏ ý nghĩ của phàm phu, của thân kiến, chấp ngã, thậm chí mình cũng không biết để loại bỏ vì không có người hướng dẫn, chỉ dạy. Bất cứ lúc nào chỉ ai là người đó phải nhận diện ngũ uẩn thì phải nói sắc; thọ; tưởng; hành; thức lúc này đang như thế nào, cái đó chính là thấy đúng. Một ngày mình nhận diện ngũ uẩn được mấy lần? Được mấy tiếng? Khi ăn mình có nhận diện ngũ uẩn không? Khi mình giận có nhận diện ngũ uẩn không? Khi mình vui sướng, thích thú, khoan khoái có nhận diện ngũ uẩn không? Khi mình bị chê, bị chỉ trích có nhận diện ngũ uẩn không, có thấy những cảm thọ bực bội đang khởi lên hoặc khi ăn ngon, được tán thưởng là có cảm thọ dễ chịu khởi lên? Khi bị sư phụ la rầy thì cảm thọ mình như thế nào? Mình có thấy một tự ngã, một cái tôi đang bị rầy không hay lúc đó đang thấy có bản ngã đang trương phình lên, nếu thấy "tôi đang bị thầy la, thầy cứ la tôi hoài" thì cái thấy đó là tà kiến, vô minh, ngu si, phàm phu. Đó chính là cái cửa thứ nhất của thấy đúng, chúng ta hãy thực tập nhận diện, quán chiếu, thấy đúng đi.
Bây giờ mình có thấy đang có một cái "mình" đang ngồi đây không? Mình có nhận diện sắc; thọ; tưởng; hành; thức lúc này đang thế nào không? Mình có loại bỏ suy nghĩ về tôi, về của tôi, về tự ngã của tôi ngay giờ phút này không? Thấy như vậy là thấy đúng, là chánh kiến, tri kiến của bậc Thánh, phải tập nhận diện như vậy trong ngày đêm, trong từng giây từng phút, tập hết ngày này qua ngày khác, hết tháng này qua tháng khác, hết năm này qua năm khác, tập cho đến khi nào nhập vào tri kiến bậc Thánh mới thôi, cho đến khi nào mình vĩnh viễn không còn quên cái thấy này nữa, nó chỉ là ngũ uẩn không có cái tôi nào ở đây thì mới thành tựu được cái thấy đúng, là Nhập Lưu vào Thánh quả thứ nhất, phá vỡ thân kiến, hoài nghi và giới cấm thủ. Phá vỡ thân kiến là không còn cái thấy về tôi, không còn hoài nghi về mình, lúc trước mình ra sao, bây giờ mình như thế nào, sau này mình ra sao, thật ra tất cả chỉ là ngũ uẩn không còn hoài nghi gì nữa. Mình không còn sợ tội nên mình mới giữ giới mà mình thấy được nhân quả, thấy được những cái khổ vui trong những hành động thiện ác nên tự động mình tránh né, tự động mình giữ gìn nên không còn giới cấm thủ nữa. Vậy nên phá được ba hạ phần kiết sử đó là Nhập Lưu Thánh quả thứ nhất, gọi là thấy pháp.
Lúc nào chúng ta không thấy ngũ uẩn thì lúc đó là vô minh, còn thấy được ngũ uẩn là có minh. Không thấy được sắc; thọ; tưởng; hành; thức là bóng tối, còn thấy được là có ánh sáng. Sau khi mình đã thấy đúng đây là năm nhóm sắc; thọ; tưởng; hành; thức, đây là năm nhóm về hình hài, những cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức thì mình có nghĩ đúng, suy nghĩ về việc ly dục, suy nghĩ là ly sân, suy nghĩ không làm hại người khác, đó là ly dục tư duy, ly sân tư duy và bất hại tư duy, đây gọi là nghĩ đúng, là suy nghĩ của bậc Thánh. Tức là nếu trong suy nghĩ có dục, tham, ái khởi lên thì mình phải suy nghĩ làm sao để lìa ra khỏi những cái đó thì cái đó gọi là nghĩ đúng, là chánh tư duy. Nếu đang ham muốn những ác bất thiện pháp, đang ham muốn ngũ dục thì phải suy nghĩ như thế nào để lìa ra khỏi những ham muốn thì đó gọi là suy nghĩ đó, còn nếu đang suy nghĩ mong muốn, thèm thuồng, mơ tưởng, đang trông mong, chờ đợi, ước ao mà mình nhập cuộc chung thì đó là tà tư duy, là suy nghĩ sai, suy nghĩ này sẽ đưa đến bất an, đau khổ cho mình và đau khổ cho người khác hoặc là đang suy nghĩ về bực bội, tức giận một người nào đó mà mình không tìm đủ mọi cách để lìa suy nghĩ đó mà nhập cuộc chung vào thì gọi là tà tư duy. Mình phải tìm đủ mọi cách để xa rời suy nghĩ đó đi, mình lìa bỏ cái sân này đi, mình ra khỏi những cảm giác, nghĩ tưởng đó, mình suy nghĩ để đi ra khỏi những sự bực bội, khó chịu này, mình thoát ra khỏi, mình từ bỏ thì suy nghĩ đó là suy nghĩ đúng, suy nghĩ của bậc Thánh.
Mình có thấy cơn giận đó là tai hại không? Cơn giận đó là đau khổ không? Có thấy cơn giận này là nóng bức, thiêu đốt, tàn hại, nhiệt não, nó đang tàn phá thân tâm mình? Mình có thấy sự nguy hiểm và tác hại của cơn giận không hay mình nhập cuộc với cơn giận, cho nó là mình? Đa phần sẽ nhập cuộc chung với nó cho nên là phàm phu, vô minh, khổ đau, nhập cuộc chung với nó rồi cho rằng "tôi đang giận", "tôi đang sân", "tôi đang khổ đau" là thất bại, từ cái thấy sai nên dẫn đến suy nghĩ sai, khi có một cái tôi mà người kia khinh khi tôi là tôi giận, còn nếu không có cái tôi thì làm gì có tôi nào để cho ai khinh khi.
Mình suy nghĩ không làm hại mình và không làm hại người khác, ý niệm muốn hại người, muốn làm cho người ta khó chịu, đau khổ thì phải từ bỏ, không chấp nhận những suy nghĩ đó. Khi nó sanh khởi trong tâm là mình gớm ghiếc, mình ngao ngán, sợ hãi, mình không để những suy nghĩ làm tổn hại mình tổn hại người khác sanh khởi, mình biết những suy nghĩ tổn hại này sẽ đưa đến đau khổ, bất an, đưa đến sầu, bi, ưu, não nên mình từ bỏ, mình không chấp nhận, không dung dưỡng, dung túng, không dung chứa nó mà phải đẩy nó ra, quăng nó ra, khạc nó ra, nhổ nó ra. Phải tác ý mạnh như vậy mới đủ sức mạnh đẩy lùi các ác và bất thiện pháp bên trong tâm của mình, khi có suy nghĩ "người đó đáng ghét nên gặp chuyện đó là đáng đời, cho họ khổ cho biết tay" sanh khởi lên thì lập tức diệt tận, đuổi nó đi, không cho nó sanh khởi, không cho nó cư trú, tồn tại bên trong con người mình, tác ý cho mạnh mẽ như vậy thì gọi là sức mạnh của tuệ lực, sức mạnh của bậc Thánh, là Thánh tư duy, đó là Thánh như lý tác ý, sự tác động tâm ý của bậc Thánh, mình đẩy lùi nó ra, mình quét nó ra, không chấp nhận những ý nghĩ đó, đó là sức mạnh, là tấn lực. Từ tấn căn biến thành tấn lực, từ gốc rễ của nỗ lực mình biến thành sức mạnh, là trong con người mình có sức mạnh mạnh mẽ để phá sập những ác và bất thiện pháp, những uế nhiễm, không cho nó tồn tại thâm căn cố đế, không cho nó làm hang, làm ổ, làm tổ, làm sào, làm huyệt trong tâm của mình, phải phá sập, phá vỡ, phá nát, phá tung hang ổ của tham, sân, si bằng sự như lý tác ý mạnh mẽ, thần lực của mình, bằng Thánh trí huệ mà bậc Chánh Đẳng Chánh Giác đã tuyền trao cho mình.
Nói đúng là từ bỏ nói dối, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm. Mình học trước nay là "không được" nói dối nhưng trong Nikāya không nói như vậy mà là "từ bỏ", hai cái này mang ý nghĩa khác nhau rất nhiều. Không được nghĩa là mình bị bắt buộc phải làm như vậy, còn cái này là từ bỏ nó, mình từ bỏ vì mình biết được nhân quả của nó là sầu, bi, khổ, ưu, não, là bất an, là đau khổ, là tác hại cho nên mình từ bỏ. Chúng ta phải nhớ kĩ điều này để sau này đi truyền giới đừng nói "không được sát sanh" mà hãy nói là "từ bỏ sát sanh", từ bỏ trộm cắp, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói dối, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm. Còn "không được" là thể hiện sự cấm đoán, con không được làm cái này, con không được làm cái kia thì nghe thấy sợ nhưng tại sao không được làm thì lại không biết, phải hiểu được sự nguy hiểm và tác hại của nó. Ví dụ nói dối làm mất lòng tin, đâm bị thóc thọc bị gạo, qua đây thì nói bên kia, qua bên kia thì nói bên đây, đây là những lời tổn hại đến mình và tổn hại đến người khác. Mình biết nó gây tổn hại, nó là ác bất thiện pháp cho nên mình từ bỏ những lời nói độc ác, cay nghiệt, ác độc, nó chỉ đem đến đau khổ cho mình và người thôi, cha mẹ, anh em, mẹ con, vợ chồng, chủ tớ có thể chỉ vì một lời nói có thể xảy ra án mạng, người làm công giết hết cả gia đình 5 mạng người chủ. Khi mình nhận thức được đây là nguy hiểm, tác hại, đây là khổ mình khổ người thì mình từ bỏ cái thứ đau khổ này, cái thứ ác độc này, mình ý thức được, nhận thức được, hiểu biết được sự nguy hiểm tác hại của nó đem lại nên mình buông bỏ, từ bỏ, xả bỏ, quăng bỏ.
Nói lời phù phiếm là nói nhưng không có ý nghĩa, giá trị gì cả, không có công năng tác dụng gì cả, cứ nói hết chuyện này đến chuyện kia, hết chuyện nọ đến chuyện khác mà không có lợi ích gì cả, chỉ làm cho thân tâm dao động, tâm bị rối loạn, làm hoang phí thời gian, hoang phí sức khỏe, hoang phí tuổi thanh xuân của mình vào những chuyện vô ích vô nghĩa. Những chuyện phù phiếm, vô ích, vô nghĩa không cần nói, hạn chế lời nói, giảm bớt lời nói, chỉ nói những lời cần nói, những lời nên nói, những lời đáng nói, nói lời sự thật, có ích, có từ tâm, nói đúng lúc, đúng thời chứ không phải gặp gì cũng nói, không có chuyện thì im lặng của bậc Thánh, còn khi nói ra là nói lời chánh pháp của bậc Thánh. Thế Tôn nói người xuất gia gặp nhau chỉ có hai chuyện thôi, một là sự im lặng của bậc Thánh chính là thiền định và hai là đàm luận về Thánh pháp.
"Này các Tỳ-kheo, lành thay khi Thiện nam tử các Người, vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, cùng nhau hội họp để luận bàn đạo pháp. Này các Tỳ-kheo, khi các Người hội họp với nhau, có hai việc cần phải làm: luận bàn đạo pháp hay giữ sự im lặng của bậc Thánh" (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu)
Nếu giữ được hai cái này thì trong chùa không bao giờ có chuyện gì xảy ra, do mình không nghe lời Phật nên có chuyện xảy ra, mình đến nói chuyện người này người kia rồi có chuyện, Đức Thế Tôn nói người xuất gia khi gặp nhau chỉ có duy nhất hai việc, một là im lặng của bậc Thánh chính là thiền định, thiền quán và hai là Thánh pháp, thuyết giảng chánh pháp hoặc pháp đàm về chánh pháp. Đức Phật dạy về hội chúng tinh ba và hội chúng cặn bã trong kinh rất hay.
"Này các Tỳ-kheo, có hai loại hội chúng này. Thế nào là hai? Hội chúng cặn bã và hội chúng tinh ba. Và này các Tỳ-kheo, thế nào là hội chúng cặn bã? Ở đây, này các Tỳ-kheo, tại hội chúng nào, các Tỳ-kheo đi đến con đường dục, đi đến con đường sân, đi đến con đường si, đi đến con đường sợ hãi, này các Tỳ-kheo, đây gọi là hội chúng cặn bã.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là hội chúng tinh ba? Ở đây, này các Tỳ-kheo, tại hội chúng nào, các Tỳ-kheo không đi đến con đường dục, không đi đến con đường sân, không đi đến con đường si, không đi đến con đường sợ hãi, này các Tỳ-kheo, đây gọi là hội chúng tinh ba.
Này các Tỳ-kheo, đây là hai hội chúng này. Hội chúng tối thắng trong hai hội chúng này, này các Tỳ-kheo, tức là hội chúng tinh ba" (Tăng Chi Bộ, Chương II - Hai Pháp, V. Phẩm Hội Chúng)
Khi các Tăng Ni hội tụ lại với nhau cứ xí xô xí xào, nói huyên thuyên là thất bại lớn, không phải là hội chúng tinh ba, phải im lặng hoặc là hỏi pháp chứ không phải gặp là nói chuyện phiếm, phải thu nhiếp sáu căn, cảm giác toàn thân, nhìn vào bên trong xem thọ; tưởng; hành lúc đó đang vận hành như thế nào, phải tưới tẩm những cảm giác ngọt ngào, dễ chịu, hiền thiện, từ tâm trong con người mình.
Làm đúng là từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục. Mình biết giết hại những sinh mạng sẽ đem lại kết quả đau khổ cho mình và cho người nên mình nguyện từ bỏ. Của cải của người ta là công sức mồ hôi nước mắt mà mình ăn cắp thì người ta sẽ đau khổ như thế nào, mình đặt mình vào vị trí của người đó cho nên mình từ bỏ việc lấy của không cho. Từ bỏ tà hạnh trong các dục nghĩa là tà dâm đối với người cư sĩ, nó đem đến sự trói buộc, hệ lụy, tâm sẽ bất an, không thiền định được, bị lún vào đầm lầy của các dục không giải thoát được nên mình từ bỏ.
Sống đúng là từ bỏ nghề bán vũ khí, bán rượu, bán thịt, bán người, bán thuốc độc (đối với cư sĩ). Trước nay nói đến chánh mạng chỉ nói chung chung nhưng trong kinh Nikāya phân định rất rõ, chánh mạng của người xuất gia được nói rất rõ, rất nhiều trong kinh Sa-môn quả. Còn cư sĩ không được hành năm nghề đã nói ở trên, bán vũ khí sẽ đưa đến sự sát hại gián tiếp, bán rượu sẽ đưa đến sự say mê điên đảo, cuồng si, bán thịt thì đưa đến sự sát sanh, bán người sẽ đem đến sự đau khổ suốt cuộc đời cho người ta, coi một con người như một món đồ chơi, làm cho họ sống trong nhục nhã, đau đớn, xấu hổ tột cùng, thậm chí là tự vẫn vì không chịu được sự nhục nhã bị bán vào các động chứa, nhà thổ. Bán người hay bán thuốc độc là gián tiếp trong việc giết người.
Siêng đúng là chế ngự sáu căn, đoạn tận tham sân, tu tập Tứ Niệm Xứ, hộ trì các thiện pháp đã có. Siêng đúng không phải là đi làm cảnh đẹp, không phải suốt ngày cứ lau quét cho bóng loáng, hoặc là hôm nay sửa cửa này, ngày mai gắn rồng phượng lên, mà Đức Phật dạy siêng đúng là chế ngự sáu căn mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, mình phải có sự nhiếp phục, bảo vệ, phòng hộ, không phải để cho muốn nhìn đâu là nhìn, muốn nghe đâu là nghe, muốn ngửi là ngửi, không phải muốn nếm, muốn ăn giờ nào là cứ ăn mà ăn phải có thời có khắc, có giờ có giấc, ngủ cũng phải như vậy, nhìn ngó, nói chuyện cũng phải vậy, tất cả đều phải thu nhiếp, phòng hộ, chế ngự, gọi là thu thúc lục căn thanh tịnh giới. Như vậy mới gọi là sự siêng năng của bậc Thánh, chánh tinh tấn, lúc nào cũng phải phòng hộ, thu nhiếp mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý của mình. Không phải vừa nghe tiếng trống tan giờ là nói chuyện ầm ĩ, bàn ghế kéo ầm ầm, những cái đó đều là buông lung phóng dật, người tu là phải thực tập an tịnh lắng dịu, Thế Tôn là bậc an an tịnh, lắng dịu, thuyết pháp cho tất cả chúng sanh đưa đến chỗ an tịnh, lắng dịu.
"Du sĩ ngoại đạo Potthapàda thấy Thế Tôn từ xa đến, liền khuyến cáo chúng của mình: 'Các Tôn giả hãy nhỏ tiếng, các Tôn giả hãy đừng làm ồn. Nay Sa-môn Gotama đang đến, Ngài ưa mến sự trầm lặng, vị Đại đức này tán thán sự trầm lặng. Nếu biết chúng này yên tịnh, Ngài có thể ghé đến đây'. Nghe nói vậy, các du sĩ ngoại đạo liền im lặng" (Trường Bộ Kinh, 9. Kinh Potthapada)
Hình bóng của chư Tăng Ni xuất hiện ở đâu thì lập tức phải có sự an tịnh, lắng dịu ở đó thì mới tương xứng, mới phù hợp với người tu, đây là bản sắc của người xuất gia thời Đức Phật còn tại thế và cho đến bây giờ cũng phải vậy, đó là sự an tịnh, lắng dịu, trầm mặc, tịch tịnh chứ không phải thấy mặt là lăng xăng, lao xao, rộn ràng, ồn ào. Trong kinh ghi lại Thế Tôn ra lệnh đuổi năm trăm vị Tỳ-kheo ồn ào, đó là những đệ tử của ngài Mục-kiền-liên và ngài Xá-lợi-phất, họ đi về Tinh Xá để chia đồ đạc tọa cụ, Thế Tôn ở phía trong Tinh Xá nghe tiếng ồn như đang họp chợ cá tranh giành cá nên ngài gọi Ananda ra đuổi hết năm trăm vị Tỳ-kheo đó.
"Lúc bấy giờ, khoảng năm trăm Tỳ-kheo, do Sariputta (Xá-lợi-phất) và Moggallana (Mục-kiền-liên) cầm đầu cùng đến Catuma để yết kiến Thế Tôn. Và các Tỳ-kheo mới đến chào đón các vị cựu trú Tỳ-kheo. Trong khi các sàng tọa được sửa soạn và y bát được cất dọn, nên các tiếng náo động ồn ào khởi lên. Rồi Thế Tôn bảo Tôn giả Ananda:
-- Này Ananda, các tiếng náo động ồn ào kia là các tiếng gì, thật giống như tiếng hàng đánh cá tranh giành cá với nhau.
-- "Bạch Thế Tôn, đó là khoảng năm trăm Tỳ-kheo, do Sariputta và Moggallama cầm đầu, đã đến Catuma để yết kiến Thế Tôn. Và các Tỳ-kheo mới đến chào đón các vị cựu trú Tỳ-kheo. Trong khi các sàng tọa được sửa soạn và y bát được cất dọn, các tiếng náo động ồn ào khởi lên.
"Vậy này Ananda, hãy nhân danh Ta bảo các Tỳ-kheo ấy: "Bậc Ðạo Sư cho gọi các Tôn giả".
Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tôn giả Ananda vâng đáp Thế Tôn, đi đến chỗ các Tỳ-kheo ấy, sau khi đến, nói với các Tỳ-kheo ấy như sau:
Bậc Ðạo Sư cho gọi các Tôn giả.
Thưa vâng, Hiền giả.
Các Tỳ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Ananda, đi đến chỗ Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo ấy đang ngồi một bên:
-- Này các Tỳ-kheo, các Ông có nghĩ chăng, các tiếng náo động ồn ào thật giống như tiếng hàng đánh cá tranh giành cá với nhau?
-- Bạch Thế Tôn, đó là khoảng năm trăm Tỳ-kheo, do Sariputta và Moggallana dẫn đầu, đã đến Catuma để yết kiến Thế Tôn và các Tỳ-kheo mới đến chào đón các vị cựu trú Tỳ-kheo. Trong khi các sàng tọa được sửa soạn và y bát được cất dọn, các tiếng náo động ồn ào khởi lên
-- Hãy đi đi này các Tỳ-kheo, Ta đuổi các Ông. Các Ông chớ có ở gần Ta" (Trung Bộ Kinh, 67. Kinh Càtumà)
Cho nên chúng ta đừng nghĩ học đạo Phật từ bi là lúc nào ngài cũng im lặng, ai làm gì làm ngài không nói gì cả, đó là sai lầm, ngài nghiêm nhưng từ bi. Ngoài ra có những lần Phạm thiên Sahampati phải xuống năn nỉ Thế Tôn chỉ dạy cho chúng Tỳ-kheo mới xuất gia thì ngài mới đồng ý.
"Trong khi Thế Tôn độc cư Thiền tịnh, tư tưởng như sau được khởi lên:
Chúng Tỳ-kheo đã được Ta làm cho vững mạnh. Nhưng ở đây có một số tân Tỳ-kheo, xuất gia không bao lâu, mới đến trong Pháp và Luật này. Nếu họ không thấy Ta, họ có thể đổi khác, biến đổi. Như con bê, nếu không thấy bò mẹ, có thể thay đổi, đổi khác.
Cũng vậy, ở đây có một số tân Tỳ-kheo, xuất gia không bao lâu, mới đến trong Pháp và Luật này. Nếu họ không thấy Ta, họ có thể đổi khác, biến đổi. Ví như những hột giống non, nếu không có nước, có thể đổi khác, biến đổi.
Cũng vậy, ở đây có một số tân Tỳ-kheo, xuất gia không được bao lâu, mới đến trong Pháp và Luật này. Nếu họ không thấy Ta, họ có thể đổi khác, biến đổi. Như trước đây chúng Tỳ-kheo đã được Ta giúp đỡ, cũng vậy, nay Ta hãy giúp đỡ cho chúng Tỳ-kheo!"
Rồi Phạm thiên Sahampati, với tâm của mình biết được tư niệm của Thế Tôn, như một người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại hay co lại cánh tay duỗi ra, cũng vậy, biến mất từ Phạm thiên giới, hiện ra trước mặt Thế Tôn.
Rồi Phạm thiên Sahampati, đắp thượng y vào một bên vai, chắp tay hướng đến Thế Tôn, và bạch Thế Tôn:
-- Như vậy là phải, bạch Thế Tôn! Như vậy là phải, bạch Thiện Thệ! Bạch Thế Tôn, chúng Tỳ-kheo đã được Thế Tôn làm cho vững mạnh.
Nhưng ở đây có một số tân Tỳ-kheo, xuất gia không bao lâu, mới đến trong Pháp và Luật này. Nếu họ không thấy Thế Tôn, họ có thể đổi khác, biến đổi. Như con bê, nếu không thấy bò mẹ, có thể đổi khác, biến đổi.
Cũng vậy, ở đây có một số tân Tỳ-kheo, xuất gia không bao lâu, mới đến trong Pháp và Luật này. Nếu họ không thấy Thế Tôn, họ có thể đổi khác, biến đổi. Ví như những hạt giống non, nếu không có nước, có thể đổi khác, biến đổi.
Cũng vậy, ở đây có một số tân Tỳ-kheo, xuất gia không bao lâu, mới đến trong Pháp và Luật này. Nếu họ không thấy Thế Tôn, họ có thể đổi khác, biến đổi.
Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy làm cho chúng Tỳ-kheo hoan hỷ. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết giảng cho chúng Tỳ-kheo như trước đây chúng Tỳ-kheo đã được Thế Tôn giúp đỡ, cũng vậy, nay Thế Tôn hãy giúp đỡ cho chúng Tỳ-kheo!
Thế Tôn im lặng nhận lời.
Rồi Phạm thiên Sahampati, sau khi biết Thế Tôn đã nhận lời, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi biến mất tại chỗ" (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm Những Gì Ðược Ăn, VIII. Người Khất Thực)
Một lần khác có những vị đại thí chủ giàu có, chức sắc cao quý đem đồ đến cúng dường toàn món ngon, họ nhóm họp ngoài Tinh Xá thì Đức Phật gọi ngài thị giả vào hỏi có tiếng gì ngoài kia mà ồn ào như bạn hàng giành tôm cá nên ngài ra lệnh đuổi họ đi, ngài không nhận sự cúng dường như phân.
"Các Bà-la-môn gia chủ ở Icchànangalam, sau khi đêm ấy đã mãn, cầm theo rất nhiều đồ ăn loại cứng và loại mềm, đi đến khóm rừng Icchànangalam, sau khi đến, đứng ở ngoài cổng vào, và lớn tiếng làm huyên náo.
Lúc bấy giờ, Tôn giả Nàgita là thị giả của Thế Tôn.
Rồi Thế Tôn bảo Tôn già Nàgita:
- Này Nàgita, những ai đã đến, và làm ồn ào như những hàng cá với đống cá lớn ?
- Các người ấy, bạch Thế Tôn, là các Ba-la-môn gia chủ ở Icchànangalam, đang đứng ở ngoài cổng vào, đem theo rất nhiều đồ ăn loại cứng và loại mềm cho Thế Tôn và chúng Tăng.
- Này Nàgita, Ta không có liên hệ gì với danh vọng và danh vọng không có liên hệ gì với Ta. Này Nàgita, những ai tìm được không có khó khăn, tìm được không có mệt nhọc, tìm được không có phí sức, tìm được an ổn, viễn ly lạc, an tịnh lạc, chánh giác lạc, mà Ta đã tìm được không có khó khăn, tìm được không có mệt nhọc, tìm được không có phí sức. Hãy để họ thọ hưởng lạc như phân ấy, thụy miên lạc, lợi dưỡng, cung kính, danh văn lạc" (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, II. Phẩm Sức Mạnh, (X). Tôn Giả Nàgita)
Thế Tôn thích yên lặng, trầm mặc, trong kinh nói ngài giống như sư tử, khó gần, phải là người yên tịnh, lắng dịu thì ngài rất hoan hỉ, còn người lăng xăng, lao xao, lanh chanh, trạo cử thì khó lại gần ngài.
"Rồi Bà-la-môn Sela, với ba trăm thanh niên đi đến Thế Tôn. Bà-la-môn bảo những thanh niên ấy:
-- Quý vị hãy đến một cách im lặng, đặt chân xuống từng bước một, các bậc Thế Tôn ấy như con sư tử sống một mình, rất khó đến gần (hay ưa thích an tịnh -- Durasada). Nếu ta có thảo luận với Sa-môn Gotama, chư Tôn giả chớ ngắt lời ta. Chư Tôn giả hãy chờ ta nói xong" (Trung Bộ Kinh, 92. Kinh Sela)
Khi vua Ba-tư-nặc vào thăm Thế Tôn được kinh điển ghi lại rất bất ngờ, nhà vua đi kiệu đến gần rồi phải đi bộ xuống Tinh Xá, vào gặp các ngài Tỳ-kheo hỏi Đức Phật đang ở chỗ nào, các vị Tỳ-kheo chỉ chỗ cho nhà vua và bảo khi đến gần Tinh Xá của Đức Phật thì hãy đằng hắng và gõ cửa thì Thế Tôn sẽ mở cửa.
"Rồi vua Pasenadi nước Kosala, leo lên một cỗ xe thù thắng, và cùng với các cỗ xe thù thắng khác, từ Nangaraka đi đến Medulampa, thị trấn của dân chúng Sakka, đến nơi đó nội trong ngày, rồi đi đến tịnh xá. Vua đi xe cho đến chỗ nào có thể đi xe được, rồi xuống xe đi bộ vào tịnh xá. Lúc bấy giờ một số đông Tỳ-kheo đang đi kinh hành ngoài trời. Vua Pasenadi nước Kosala đi đến các Tỳ-kheo ấy, sau khi đến, thưa với các Tỳ-kheo ấy:
-- Chư Tôn giả, nay Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ở đâu? Chúng tôi muốn yết kiến Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác.
-- Thưa Ðại vương, Thế Tôn ở trong ngôi nhà này với các cửa khép kín. Hãy im lặng đến gần, bước vào hành lang nhưng không vượt qua, sau khi đằng hắng, hãy gõ vào khóa cửa. Thế Tôn sẽ mở cửa cho Ðại vương.
Rồi vua Pasenadi nước Kosala, ngay tại chỗ ấy, trao kiếm và vành khăn cho Digha Karayana. Rồi Digha Karayana tự nghĩ: 'Nay vua muốn đi một mình. Ở đây, ta phải dừng lại'. Rồi vua Pasenadi nước Kosala im lặng đi đến căn nhà đóng cửa, sau khi đến, bước vào hành lang nhưng không vượt qua, đằng hắng và gõ vào khóa cửa. Thế Tôn mở cửa" (Trung Bộ Kinh, 89. Kinh Pháp trang nghiêm)
Đó là nhà vua nhưng phải xuống kiệu đi bộ vào, khi gặp Thế Tôn thì nhà vua lạy xuống, lấy đỉnh đầu của mình đặt dưới chân của Đức Phật và hôn vào chân Đức Phật, lúc đó nhà vua và Đức Phật cùng 80 tuổi. Nhà vua nói rằng những quan lính được nhà vua cho lương tháng, cung cấp đồ ăn, nuôi gia đình nhưng tối ngủ những người đó nghe Thế Tôn ở hướng nào thì để cái đầu vào hướng đó, đưa chân về hướng nhà vua.
"Rồi vua Pasenadi nước Kosala bước vào căn nhà, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, miệng hôn xung quanh chân Thế Tôn, tay xoa rờ xung quanh chân và tự xưng tên:
-- Bạch Thế Tôn, con là vua Pasenadi nước Kosala. Bạch Thế Tôn, con là vua Pasenadi nước Kosala.
-- Thưa Ðại vương, do thấy nguyên nhân gì, Ðại vương lại hạ mình tột bực như vậy đối với thân này và biểu lộ tình thân ái như vậy?
-- Bạch Thế Tôn, con có pháp truyền thống (Dhammanvaya) này đối với Thế Tôn. 'Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, chư Tăng đệ tử của Thế Tôn khéo tu tập hành trì'. Ở đây, bạch Thế Tôn, con thấy nhiều vị Sa-môn, Bà-la-môn hành trì Phạm hạnh có giới hạn trong mười năm, hai mươi năm, ba mươi năm, bốn mươi năm. Những vị này, sau một thời gian, khéo tắm, khéo phấn sáp, với râu tóc khéo chải chuốt, sống thụ hưởng một cách sung mãn, đầy đủ năm dục trưởng dưỡng. Ở đây, Bạch Thế Tôn, con thấy các Tỳ-kheo sống hành trì Phạm hạnh viên mãn, thanh tịnh cho đến trọn đời, cho đến hơi thở cuối cùng. Bạch Thế Tôn, con không thấy ngoài đây ra có một Phạm hạnh nào khác viên mãn, thanh tịnh như vậy. Bạch Thế Tôn, đây là pháp truyền thống của con đối với Thế Tôn. 'Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác. Pháp được Thế Tôn khéo giảng, chư Tăng đệ tử của Thế Tôn khéo tu tập, hành trì'.
Bạch Thế Tôn, Isidatta và Purana là hai quan giữ ngựa, ăn cơm của con, đi xe của con, sinh sống do con cho, và chính con đem danh vọng lại cho họ. Nhưng họ không hạ mình đối với con như họ hạ mình đối với Thế Tôn. Thuở xưa, bạch Thế Tôn, trong khi hành quân chống với đội quân đối nghịch, và muốn thử thách Isidatta và Purana, hai quan giữ ngựa, con đến ở tại một căn nhà chật hẹp. Rồi bạch Thế Tôn, hai quan giữ ngựa, Isidatta và Purana, sau khi cùng nhau đàm luận về chánh pháp hơn nửa đêm, rồi nằm xuống ngủ, với đầu của họ hướng về phía mà họ được nghe là chỗ Thế Tôn ở và với chân hướng về chỗ con. Bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: 'Thật vi diệu thay! Thật hy hữu thay! Hai quan giữ ngựa Isidatta và Purana này ăn cơm của ta, đi xe của ta, sinh sống do ta cho, và chính ta đem danh vọng lại cho họ. Nhưng họ không hạ mình đối với ta như họ hạ mình đối với Thế Tôn. Thật sự những vị này ý thức được một sự tối thắng thù diệu nào trong giáo lý Thế Tôn, một sự thành đạt tuần tự'. Bạch Thế Tôn, đây là pháp truyền thống của con đối với Thế Tôn: 'Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, đệ tử chúng Tăng của Thế Tôn khéo tu tập hành trì'". (Trung Bộ Kinh, 89. Kinh Pháp trang nghiêm)
Sự cung kính Thế Tôn lên tột cùng dù ngài không dùng gậy gộc, không dùng gươm đao, không dùng những lời ác ngữ nhưng tất cả Thánh chúng Tỳ-kheo từ trên xuống dưới đều hòa hợp thanh tịnh, trang nghiêm, cung kính. Khi hội chúng của Thế Tôn ngồi lại với nhau thì người bên này có thể nghe được tiếng thở của người kế bên, Đức Phật rất tuyệt diệu, đọc vào kinh Nikāya chúng ta sẽ thấy người thật việc thật, sự thật chứ không phải như tưởng tượng Đức Phật ngồi trên mây phóng hào quang, ngài là một người rất bình dị, rầy la, quở trách các vị Tỳ-kheo nếu làm sai, suy nghĩ sai. Có những vị Tỳ-kheo suy nghĩ dâm dục không phải là pháp chướng đạo thì bị Thế Tôn nói là đồ ngu si vì có tà kiến như vậy, Thế Tôn quở trách, rầy la rất nặng cho nên Đức Phật là một người thật, sự thật, việc thật trong kinh Nikāya.
"Lúc bấy giờ, Tỳ-kheo tên là Arittha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng, khởi lên ác tà kiến như sau: 'Theo như ta hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng, khi thọ dụng những pháp được Thế Tôn gọi là chướng ngại pháp, thật sự không có chướng ngại gì'.
Thế Tôn nói với Tỷ-kheo Arittha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng, đang ngồi xuống một bên:
-- Này Arittha, có thật chăng, Ông khởi lên ác tà kiến như sau: 'Theo như tôi hiểu... thật sự không có chướng ngại gì'?
-- Thật sự là vậy, bạch Thế Tôn. Theo như con hiểu, thật sự không có chướng ngại gì.
-- Này kẻ ngu si kia, sao Ông lại hiểu pháp Ta thuyết giảng như vậy? Này kẻ ngu si kia, có phải chăng, Ta đã dùng nhiều pháp môn thuyết chướng đạo pháp. Và những ai thọ dụng chúng tự đủ bị chướng ngại? Ta đã thuyết các dục vui ít, khổ nhiều, não nhiều, do vậy nguy hiểm càng nhiều hơn. Ta đã thuyết các dục được ví như khúc xương... Ta đã thuyết các dục được ví như miếng thịt... được ví như bó đuốc cỏ khô... được ví như hố than hừng... được ví như cơn mộng... được ví như vật dụng cho mượn... được ví như trái cây... được ví như lò thịt... được ví như gậy nhọn... Ta đã thuyết các dục được ví như đầu rắn, vui ít, khổ nhiều, não nhiều, và do vậy nguy hiểm càng nhiều hơn. Và này kẻ ngu si kia, không những Ông xuyên tạc Ta, vì Ông đã tự chấp thủ sai lạc, Ông tự phá hoại Ông và tạo nên nhiều tổn đức. Này kẻ ngu si kia, và như vậy sẽ đưa đến bất hạnh và đau khổ lâu dài cho Ông" (Trung Bộ Kinh, 22. Kinh Ví dụ con rắn)
Đọc kinh Nikāya rồi chúng ta sẽ tăng trưởng tịnh tín bất động đối với Đức Phật, đối với giáo pháp, đối với Thánh chúng, đối với chúng Tăng, đối với Thánh giới của Đức Phật.
Chế ngự sáu căn là điều rất quan trọng với người tu, vỏ ngoài của phạm hạnh là sự thâu nhiếp mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, không có cái này thì không tu gì cả, cái vỏ không có thì làm gì có ruột, sự phòng hộ, bảo vệ mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý chưa có, buông lung phóng dật, thả lỏng các căn, nói cười ồn ào, dao động thì làm sao thành tựu được phẩm chất, đạo đức của người xuất gia. Chúng ta có thể lên linhquyphapan.vn để nghe bài "Những pháp tác thành Sa-môn" rất quan trọng cho người xuất gia. Chúng ta phải luôn luôn để ý thân thể, cảm giác, nội tâm và những gì đang có mặt, sanh khởi bên trong chúng ta để nhiếp phục, chế ngự, những pháp lành đã có cần phải giữ gìn, không được để mất đi, nhiều khi mình tu ba năm, năm năm thì còn nhưng bảy năm, mười năm lại mất hết. Lúc mới tập sự cạo đầu thì dễ thương, hiền lành, cung kính nhưng tu một thời gian thì hết dễ thương, không còn hiền, bản ngã sanh khởi vậy là thiện pháp bị mất đi, càng tu càng rơi rớt hết những pháp lành, không giữ được gì cả, giống như người đi làm ăn bị đứt vốn, mang nợ, vào tù luôn. Mình không giữ được những thiện pháp của mình thì mình bị thất thoát, mất mát, trở thành kẻ mang nợ, vào tù tức là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, mình không giữ được sự hiền lành, tâm cung kính, trang nghiêm như lúc còn là Sa-di, học lên tới Cao cấp, Đại học không còn giống người tu nữa, đi bệ vệ, ưỡn ngực lên, mặt hết lên trời, tu vậy là thất bại, mình càng tu thì càng phải cúi thấp xuống.
Hòa Thượng chủ tịch của chúng ta khi xưa còn ở dưới quê, sáng sớm phải làm lễ sớm trong khi đường lại xa nên 2h khuya ngài đã đi đến nơi nhưng lại không gọi cửa chùa. Sáng ra các thầy nhìn thấy trên ghế đá có người nằm co ro, nhìn kĩ lại mới thấy Hòa Thượng nên sám hối rồi thỉnh vào ngài, đó là do ngài sợ mất giấc ngủ của đại chúng. Chính con chứng kiến chuông trống Bát Nhã, dù lọng làm lễ trang nghiêm nhưng Hòa Thượng đi vòng vô chứ không đi thẳng vào, điều đó thể hiện đức hạnh khiêm cung. Cố Hòa Thượng thượng Trí hạ Tịnh của chúng ta đi họp thì mang dép tổ ong, các thầy nhìn ai cũng bất ngờ, cái mền đắp gần 30 năm, các thầy thấy cũ quá nên đem đi cất, Hòa Thượng hỏi đâu rồi thì các thầy bảo hãy dùng cái mới nhưng Hòa Thượng bảo đừng bỏ mà hãy cắt thành miếng chùi chân. Còn mình tu không được bao nhiêu phước mà hoang phí, ăn to nói lớn, thế thì thành kẻ nợ ngay thôi.
Con đã từng nói "sông sâu chảy chậm, lúa chín cúi đầu", sông càng sâu thì càng tĩnh lặng, vào máy bay ngồi thấy chậm nhưng nó đang bay với tốc độ rất nhanh cho nên càng nhanh thì lại càng chậm. Khi tu hành lấy thước đo về bản ngã rất quan trọng, càng tu phải càng khiêm cung, khiêm hạ, càng cúi nhường, lấy cái đó làm thước đo, lấy sự diệt ngã làm thước đo trong sự tu học. Sự tu cũng vậy, mới vào tu rất hiền lành, dễ thương, cung kính, khiêm nhường, tu một thời gian không còn oai nghi gì nữa, hết sức là nguy hiểm vì không đúng chánh pháp. Trong kinh Nikāya nói rất rõ, tà ra tà, chánh ra chánh chứ không có mập mờ cho nên mình phải lấy giới luật, đức hạnh làm thước đo của người tu. Khi nhìn vào sáu căn, thân – khẩu – ý của họ sẽ biết đức hạnh, đạo hạnh của họ tới đâu.
Chúng ta phải quán xét thân này, quán xét những cảm thọ, các pháp đang có mặt, sanh khởi trong tâm mình. Mình phải giữ gìn những pháp lành, phải quán xét thân thể, cảm giác, nội tâm và những gì đang có trong tâm là ác hay thiện, tốt hay xấu, nếu là ác pháp phải nỗ lực trừ diệt, tẩy sạch, nếu là thiện pháp thì phát huy, tăng trưởng, làm cho lớn mạnh thì đó là quán đúng. Định tâm theo tứ thiền rất thâm sâu, sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền là bốn bậc thiền định. Nếu thành tựu được chánh kiến và tu tứ thiền thì gọi là Thánh chánh định, chánh định của bậc Thánh, còn nếu không thành tựu chánh kiến về ngũ uẩn mà tu tứ thiền và nếu tứ thiền này có tu thành công thì vẫn là phàm phu thiền cho nên chánh kiến rất quan trọng, có giải thoát được hay không là ở chỗ chánh kiến, không đi vào chánh kiến thì không có bất kì Thánh quả nào cả. Chánh kiến chính là thấy được ngũ uẩn, thấy được tham, sân, si rồi nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận cho đến khi nào hết thì lúc đó thành công.
Tâm thương này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm thương này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la.
./.
TÓM TẮT NGŨ UẨN GIẢNG GIẢI 8
TÁM ĐÚNG CỦA BẬC THÁNH
BÁT CHÁNH ĐẠO
–Thích Minh Thành–
Con đường tu tập đưa đến tâm hết vô minh, thấy biết rõ ngũ uẩn và đoạn tận tham ái đối với ngũ uẩn chính là con đường Tám đúng mà bậc Chánh Đẳng Giác đã tự mình phát hiện, đã tự mình tìm thấy. Phương pháp Tám đúng đó là: Thấy biết đúng, suy nghĩ đúng, nói lời đúng, hành động đúng, nuôi mạng đúng, siêng đúng việc, quán đúng chỗ, định đúng cách. Đây gọi là phương pháp Tám đúng. Nhờ sự tu tập tám cái đúng này mà tâm mới đâm thủng được màn lưới dày đặc của vô minh và phá vỡ được vô minh, làm cho minh sanh khởi, làm cho trí tuệ chân chánh sanh khởi. Khi trí tuệ chân chánh sanh khởi thì ngũ uẩn được nhìn thấy, và tham sân si được nhìn thấy. Khi ngũ uẩn được nhìn thấy, tham sân si được nhìn thấy, thì sự tẩy rửa tâm được tiến hành, tham sân si được thanh lọc sạch và sự chấp trước, sự dính mắc, lòng tham ái đối với ngũ uẩn được tẩy sạch. Khi sự tham ái đối với ngũ uẩn được diệt tận thì tâm không còn dao động, không còn dính mắc, không còn chấp trước, tâm được an tịnh, được thật sự an tịnh, thật sự tịch tịnh, đó là Niết-bàn, đó là giải thoát - là sự thoát khỏi sanh tử, phiền não, khổ, buồn vui, thương ghét, được mất, có không, tham dục, tham ái, sân hận, si mê, thoát khỏi sanh, già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, thoát khỏi những tâm xấu ác, những tâm bất thiện như độc ác, ganh tỵ, gièm pha, đâm thọc, ích kỷ, hẹp hòi, hơn thua, đấu đá, lừa lọc, xảo trá, man trá, dối trá, ba hoa, khoác lác, nói dóc, nói xạo, nói khoét, nói nhảm, nghiệp, luân hồi, nhân quả, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, lậu hoặc.
Sự thoát khỏi tất cả những tâm xấu ác, thoát khỏi tất cả những phiền não, hệ luỵ khi có thân ngũ uẩn, thoát khỏi những ngũ uẩn quanh quẩn lùng nhùng trong những thứ luân hồi, vô thường, khổ, sanh tử, thoát khỏi tất cả những trạng thái tâm uế nhiễm về dục, uế nhiễm về hữu, uế nhiễm về vô minh, sự thoát khỏi tất cả những thứ này, đây gọi là giải thoát, là Niết-bàn, là tịch tịnh, là thể nhập vào bất tử.
GIẢI THÍCH BÁT CHÁNH ĐẠO:
- Chánh kiến: Trí về 5 thủ uẩn, Trí về Vô minh, Trí về Đoạn diệt vô minh, Trí về Tám Chánh đạo (trí về khổ, trí về Khổ tập, trí về Khổ diệt, trí về Khổ diệt đạo)
- Chánh tư duy: Tư duy về ly dục, Tư duy về ly sân, tư duy về bất hại.
- Chánh ngữ: Từ bỏ nói dối, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm.
- Chánh nghiệp: Từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục.
- Chánh mạng: Từ bỏ nghề bán vũ khí, bán rượu, bán thịt, bán người, bán thuốc độc (đối với cư sĩ).
- Chánh tinh tấn: Chế ngự sáu căn, đoạn tận tham sân, tu tập Tứ niệm xứ, hộ trì các thiện pháp đã có.
- Chánh niệm: Niệm thân, niệm thọ, niệm tâm, niệm pháp.
- Chánh định: Định tâm theo Tứ thiền.
GIẢI THÍCH PHƯƠNG PHÁP 8 ĐÚNG:
- Thấy đúng: Thấy năm uẩn – Thấy vô minh – Thấy vô minh đoạn diệt – Thấy Bát Chánh đạo.
- Nghĩ đúng: Suy nghĩ việc ly dục – Suy nghĩ việc ly sân – Suy nghĩ việc không hại mình và người.
- Nói đúng: Từ bỏ nói dối, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm.
- Làm đúng: Từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục.
- Sống đúng: Từ bỏ nghề bán vũ khí, bán rượu, bán thịt, bán người, bán thuốc độc (đối với cư sĩ).
- Siêng đúng: Chế ngự sáu căn, đoạn tận tham sân, tu tập Tứ niệm xứ, hộ trì các thiện pháp đã có.
- Quán đúng: Quán thân, quán thọ, quán tâm, quán pháp.
- Định đúng: Định tâm theo Tứ thiền.
Ở đây chúng ta chỉ giải thích một cách tổng quát, giới thiệu vì Bát Chánh Đạo trong Nikāya là cực kì thâm sâu và quảng đại, chúng ta đi được vào cánh cửa thứ nhất đã là Nhập Lưu Thánh quả thứ nhất chứ không phải chuyện đơn giản. Nếu chúng ta đi đến nghĩ đúng, nói đúng, làm đúng ở phía sau nữa thì từ từ đi lên các quả vị, còn đi đến định đúng là đi đến Thánh quả tối cao của bậc Thánh cho nên Bát Chánh Đạo trong Nikāya là tối thượng thừa, là giáo pháp chí cực của tất cả các bậc Chánh Đẳng Giác, là đạo lộ của tất cả Như Lai, Thế Tôn trong quá khứ, hiện tại và tương lai.
Đầu tiên chúng ta chỉ nói thấy đúng là thấy năm uẩn cho dễ hiểu, tức là khi thấy có một con người, có một cái tôi thì khi đó là thấy sai, còn khi nào mình thấy có sắc; thọ; tưởng; hành; thức đang vận hành, đang hoạt động thì lúc đó là thấy đúng. Ví dụ mình đang có cảm giác khó chịu, bực bội thì mình biết mình đang có thọ khổ, khó chịu, bực bội, nó chỉ là cảm thọ thôi thì đó là thấy đúng, còn khi mình thấy "tôi đang khó chịu, bực bội, đang nóng nực, lại gần là phựt" thì cái thấy đó là tà kiến, là thấy sai, vô minh, là cái thấy của bản ngã, cái thấy của chấp ngã, cái thấy của thân kiến, của ngu si. Qua đây nhìn lại từ đó giờ tu chúng ta đã nhìn thấy đúng chưa? Đây chỉ mới là bước một, là thấy đang có nhóm sắc, thấy có một hình hài, thấy một số cảm giác, thấy đang có những hình bóng trong tâm, một số những suy nghĩ, nhận thức thì mình biết năm uẩn đang có mặt, đang vận hành, đang sanh khởi, thấy như vậy là thấy đúng, là mình đang tu tập cái thấy của bậc Thánh, tri kiến của bậc Thánh, đó là cái thấy của các chư Phật, của những bậc giác ngộ. Ngược lại thấy tôi đang giận, tôi đang thích, tôi đang vui thì cái thấy đó là của phàm phu, là cái thấy của người không biết tu, dù cho cạo tóc đắp y nhưng mình và người đời không khác gì nhau. Nếu mình không có cái thấy biết về ngũ uẩn thì giữa mình và người đời không khác gì nhau, chỉ khác trên hình thức chứ không thành tựu được thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng, xứng đáng bậc Thánh, tức là trí tuệ về năm uẩn.
Những điều này rất khó nhưng nếu làm được thì mới là siêu phàm. Từ ngày mình đi tu đến giờ ý nghĩ về tôi này còn y nguyên, nhiều khi còn phát triển hơn nữa cho nên tu không có kết quả là như vậy, đó là do mình không loại bỏ ý nghĩ của phàm phu, của thân kiến, chấp ngã, thậm chí mình cũng không biết để loại bỏ vì không có người hướng dẫn, chỉ dạy. Bất cứ lúc nào chỉ ai là người đó phải nhận diện ngũ uẩn thì phải nói sắc; thọ; tưởng; hành; thức lúc này đang như thế nào, cái đó chính là thấy đúng. Một ngày mình nhận diện ngũ uẩn được mấy lần? Được mấy tiếng? Khi ăn mình có nhận diện ngũ uẩn không? Khi mình giận có nhận diện ngũ uẩn không? Khi mình vui sướng, thích thú, khoan khoái có nhận diện ngũ uẩn không? Khi mình bị chê, bị chỉ trích có nhận diện ngũ uẩn không, có thấy những cảm thọ bực bội đang khởi lên hoặc khi ăn ngon, được tán thưởng là có cảm thọ dễ chịu khởi lên? Khi bị sư phụ la rầy thì cảm thọ mình như thế nào? Mình có thấy một tự ngã, một cái tôi đang bị rầy không hay lúc đó đang thấy có bản ngã đang trương phình lên, nếu thấy "tôi đang bị thầy la, thầy cứ la tôi hoài" thì cái thấy đó là tà kiến, vô minh, ngu si, phàm phu. Đó chính là cái cửa thứ nhất của thấy đúng, chúng ta hãy thực tập nhận diện, quán chiếu, thấy đúng đi.
Bây giờ mình có thấy đang có một cái "mình" đang ngồi đây không? Mình có nhận diện sắc; thọ; tưởng; hành; thức lúc này đang thế nào không? Mình có loại bỏ suy nghĩ về tôi, về của tôi, về tự ngã của tôi ngay giờ phút này không? Thấy như vậy là thấy đúng, là chánh kiến, tri kiến của bậc Thánh, phải tập nhận diện như vậy trong ngày đêm, trong từng giây từng phút, tập hết ngày này qua ngày khác, hết tháng này qua tháng khác, hết năm này qua năm khác, tập cho đến khi nào nhập vào tri kiến bậc Thánh mới thôi, cho đến khi nào mình vĩnh viễn không còn quên cái thấy này nữa, nó chỉ là ngũ uẩn không có cái tôi nào ở đây thì mới thành tựu được cái thấy đúng, là Nhập Lưu vào Thánh quả thứ nhất, phá vỡ thân kiến, hoài nghi và giới cấm thủ. Phá vỡ thân kiến là không còn cái thấy về tôi, không còn hoài nghi về mình, lúc trước mình ra sao, bây giờ mình như thế nào, sau này mình ra sao, thật ra tất cả chỉ là ngũ uẩn không còn hoài nghi gì nữa. Mình không còn sợ tội nên mình mới giữ giới mà mình thấy được nhân quả, thấy được những cái khổ vui trong những hành động thiện ác nên tự động mình tránh né, tự động mình giữ gìn nên không còn giới cấm thủ nữa. Vậy nên phá được ba hạ phần kiết sử đó là Nhập Lưu Thánh quả thứ nhất, gọi là thấy pháp.
Lúc nào chúng ta không thấy ngũ uẩn thì lúc đó là vô minh, còn thấy được ngũ uẩn là có minh. Không thấy được sắc; thọ; tưởng; hành; thức là bóng tối, còn thấy được là có ánh sáng. Sau khi mình đã thấy đúng đây là năm nhóm sắc; thọ; tưởng; hành; thức, đây là năm nhóm về hình hài, những cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức thì mình có nghĩ đúng, suy nghĩ về việc ly dục, suy nghĩ là ly sân, suy nghĩ không làm hại người khác, đó là ly dục tư duy, ly sân tư duy và bất hại tư duy, đây gọi là nghĩ đúng, là suy nghĩ của bậc Thánh. Tức là nếu trong suy nghĩ có dục, tham, ái khởi lên thì mình phải suy nghĩ làm sao để lìa ra khỏi những cái đó thì cái đó gọi là nghĩ đúng, là chánh tư duy. Nếu đang ham muốn những ác bất thiện pháp, đang ham muốn ngũ dục thì phải suy nghĩ như thế nào để lìa ra khỏi những ham muốn thì đó gọi là suy nghĩ đó, còn nếu đang suy nghĩ mong muốn, thèm thuồng, mơ tưởng, đang trông mong, chờ đợi, ước ao mà mình nhập cuộc chung thì đó là tà tư duy, là suy nghĩ sai, suy nghĩ này sẽ đưa đến bất an, đau khổ cho mình và đau khổ cho người khác hoặc là đang suy nghĩ về bực bội, tức giận một người nào đó mà mình không tìm đủ mọi cách để lìa suy nghĩ đó mà nhập cuộc chung vào thì gọi là tà tư duy. Mình phải tìm đủ mọi cách để xa rời suy nghĩ đó đi, mình lìa bỏ cái sân này đi, mình ra khỏi những cảm giác, nghĩ tưởng đó, mình suy nghĩ để đi ra khỏi những sự bực bội, khó chịu này, mình thoát ra khỏi, mình từ bỏ thì suy nghĩ đó là suy nghĩ đúng, suy nghĩ của bậc Thánh.
Mình có thấy cơn giận đó là tai hại không? Cơn giận đó là đau khổ không? Có thấy cơn giận này là nóng bức, thiêu đốt, tàn hại, nhiệt não, nó đang tàn phá thân tâm mình? Mình có thấy sự nguy hiểm và tác hại của cơn giận không hay mình nhập cuộc với cơn giận, cho nó là mình? Đa phần sẽ nhập cuộc chung với nó cho nên là phàm phu, vô minh, khổ đau, nhập cuộc chung với nó rồi cho rằng "tôi đang giận", "tôi đang sân", "tôi đang khổ đau" là thất bại, từ cái thấy sai nên dẫn đến suy nghĩ sai, khi có một cái tôi mà người kia khinh khi tôi là tôi giận, còn nếu không có cái tôi thì làm gì có tôi nào để cho ai khinh khi.
Mình suy nghĩ không làm hại mình và không làm hại người khác, ý niệm muốn hại người, muốn làm cho người ta khó chịu, đau khổ thì phải từ bỏ, không chấp nhận những suy nghĩ đó. Khi nó sanh khởi trong tâm là mình gớm ghiếc, mình ngao ngán, sợ hãi, mình không để những suy nghĩ làm tổn hại mình tổn hại người khác sanh khởi, mình biết những suy nghĩ tổn hại này sẽ đưa đến đau khổ, bất an, đưa đến sầu, bi, ưu, não nên mình từ bỏ, mình không chấp nhận, không dung dưỡng, dung túng, không dung chứa nó mà phải đẩy nó ra, quăng nó ra, khạc nó ra, nhổ nó ra. Phải tác ý mạnh như vậy mới đủ sức mạnh đẩy lùi các ác và bất thiện pháp bên trong tâm của mình, khi có suy nghĩ "người đó đáng ghét nên gặp chuyện đó là đáng đời, cho họ khổ cho biết tay" sanh khởi lên thì lập tức diệt tận, đuổi nó đi, không cho nó sanh khởi, không cho nó cư trú, tồn tại bên trong con người mình, tác ý cho mạnh mẽ như vậy thì gọi là sức mạnh của tuệ lực, sức mạnh của bậc Thánh, là Thánh tư duy, đó là Thánh như lý tác ý, sự tác động tâm ý của bậc Thánh, mình đẩy lùi nó ra, mình quét nó ra, không chấp nhận những ý nghĩ đó, đó là sức mạnh, là tấn lực. Từ tấn căn biến thành tấn lực, từ gốc rễ của nỗ lực mình biến thành sức mạnh, là trong con người mình có sức mạnh mạnh mẽ để phá sập những ác và bất thiện pháp, những uế nhiễm, không cho nó tồn tại thâm căn cố đế, không cho nó làm hang, làm ổ, làm tổ, làm sào, làm huyệt trong tâm của mình, phải phá sập, phá vỡ, phá nát, phá tung hang ổ của tham, sân, si bằng sự như lý tác ý mạnh mẽ, thần lực của mình, bằng Thánh trí huệ mà bậc Chánh Đẳng Chánh Giác đã tuyền trao cho mình.
Nói đúng là từ bỏ nói dối, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm. Mình học trước nay là "không được" nói dối nhưng trong Nikāya không nói như vậy mà là "từ bỏ", hai cái này mang ý nghĩa khác nhau rất nhiều. Không được nghĩa là mình bị bắt buộc phải làm như vậy, còn cái này là từ bỏ nó, mình từ bỏ vì mình biết được nhân quả của nó là sầu, bi, khổ, ưu, não, là bất an, là đau khổ, là tác hại cho nên mình từ bỏ. Chúng ta phải nhớ kĩ điều này để sau này đi truyền giới đừng nói "không được sát sanh" mà hãy nói là "từ bỏ sát sanh", từ bỏ trộm cắp, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói dối, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm. Còn "không được" là thể hiện sự cấm đoán, con không được làm cái này, con không được làm cái kia thì nghe thấy sợ nhưng tại sao không được làm thì lại không biết, phải hiểu được sự nguy hiểm và tác hại của nó. Ví dụ nói dối làm mất lòng tin, đâm bị thóc thọc bị gạo, qua đây thì nói bên kia, qua bên kia thì nói bên đây, đây là những lời tổn hại đến mình và tổn hại đến người khác. Mình biết nó gây tổn hại, nó là ác bất thiện pháp cho nên mình từ bỏ những lời nói độc ác, cay nghiệt, ác độc, nó chỉ đem đến đau khổ cho mình và người thôi, cha mẹ, anh em, mẹ con, vợ chồng, chủ tớ có thể chỉ vì một lời nói có thể xảy ra án mạng, người làm công giết hết cả gia đình 5 mạng người chủ. Khi mình nhận thức được đây là nguy hiểm, tác hại, đây là khổ mình khổ người thì mình từ bỏ cái thứ đau khổ này, cái thứ ác độc này, mình ý thức được, nhận thức được, hiểu biết được sự nguy hiểm tác hại của nó đem lại nên mình buông bỏ, từ bỏ, xả bỏ, quăng bỏ.
Nói lời phù phiếm là nói nhưng không có ý nghĩa, giá trị gì cả, không có công năng tác dụng gì cả, cứ nói hết chuyện này đến chuyện kia, hết chuyện nọ đến chuyện khác mà không có lợi ích gì cả, chỉ làm cho thân tâm dao động, tâm bị rối loạn, làm hoang phí thời gian, hoang phí sức khỏe, hoang phí tuổi thanh xuân của mình vào những chuyện vô ích vô nghĩa. Những chuyện phù phiếm, vô ích, vô nghĩa không cần nói, hạn chế lời nói, giảm bớt lời nói, chỉ nói những lời cần nói, những lời nên nói, những lời đáng nói, nói lời sự thật, có ích, có từ tâm, nói đúng lúc, đúng thời chứ không phải gặp gì cũng nói, không có chuyện thì im lặng của bậc Thánh, còn khi nói ra là nói lời chánh pháp của bậc Thánh. Thế Tôn nói người xuất gia gặp nhau chỉ có hai chuyện thôi, một là sự im lặng của bậc Thánh chính là thiền định và hai là đàm luận về Thánh pháp.
"Này các Tỳ-kheo, lành thay khi Thiện nam tử các Người, vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, cùng nhau hội họp để luận bàn đạo pháp. Này các Tỳ-kheo, khi các Người hội họp với nhau, có hai việc cần phải làm: luận bàn đạo pháp hay giữ sự im lặng của bậc Thánh" (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu)
Nếu giữ được hai cái này thì trong chùa không bao giờ có chuyện gì xảy ra, do mình không nghe lời Phật nên có chuyện xảy ra, mình đến nói chuyện người này người kia rồi có chuyện, Đức Thế Tôn nói người xuất gia khi gặp nhau chỉ có duy nhất hai việc, một là im lặng của bậc Thánh chính là thiền định, thiền quán và hai là Thánh pháp, thuyết giảng chánh pháp hoặc pháp đàm về chánh pháp. Đức Phật dạy về hội chúng tinh ba và hội chúng cặn bã trong kinh rất hay.
"Này các Tỳ-kheo, có hai loại hội chúng này. Thế nào là hai? Hội chúng cặn bã và hội chúng tinh ba. Và này các Tỳ-kheo, thế nào là hội chúng cặn bã? Ở đây, này các Tỳ-kheo, tại hội chúng nào, các Tỳ-kheo đi đến con đường dục, đi đến con đường sân, đi đến con đường si, đi đến con đường sợ hãi, này các Tỳ-kheo, đây gọi là hội chúng cặn bã.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là hội chúng tinh ba? Ở đây, này các Tỳ-kheo, tại hội chúng nào, các Tỳ-kheo không đi đến con đường dục, không đi đến con đường sân, không đi đến con đường si, không đi đến con đường sợ hãi, này các Tỳ-kheo, đây gọi là hội chúng tinh ba.
Này các Tỳ-kheo, đây là hai hội chúng này. Hội chúng tối thắng trong hai hội chúng này, này các Tỳ-kheo, tức là hội chúng tinh ba" (Tăng Chi Bộ, Chương II - Hai Pháp, V. Phẩm Hội Chúng)
Khi các Tăng Ni hội tụ lại với nhau cứ xí xô xí xào, nói huyên thuyên là thất bại lớn, không phải là hội chúng tinh ba, phải im lặng hoặc là hỏi pháp chứ không phải gặp là nói chuyện phiếm, phải thu nhiếp sáu căn, cảm giác toàn thân, nhìn vào bên trong xem thọ; tưởng; hành lúc đó đang vận hành như thế nào, phải tưới tẩm những cảm giác ngọt ngào, dễ chịu, hiền thiện, từ tâm trong con người mình.
Làm đúng là từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục. Mình biết giết hại những sinh mạng sẽ đem lại kết quả đau khổ cho mình và cho người nên mình nguyện từ bỏ. Của cải của người ta là công sức mồ hôi nước mắt mà mình ăn cắp thì người ta sẽ đau khổ như thế nào, mình đặt mình vào vị trí của người đó cho nên mình từ bỏ việc lấy của không cho. Từ bỏ tà hạnh trong các dục nghĩa là tà dâm đối với người cư sĩ, nó đem đến sự trói buộc, hệ lụy, tâm sẽ bất an, không thiền định được, bị lún vào đầm lầy của các dục không giải thoát được nên mình từ bỏ.
Sống đúng là từ bỏ nghề bán vũ khí, bán rượu, bán thịt, bán người, bán thuốc độc (đối với cư sĩ). Trước nay nói đến chánh mạng chỉ nói chung chung nhưng trong kinh Nikāya phân định rất rõ, chánh mạng của người xuất gia được nói rất rõ, rất nhiều trong kinh Sa-môn quả. Còn cư sĩ không được hành năm nghề đã nói ở trên, bán vũ khí sẽ đưa đến sự sát hại gián tiếp, bán rượu sẽ đưa đến sự say mê điên đảo, cuồng si, bán thịt thì đưa đến sự sát sanh, bán người sẽ đem đến sự đau khổ suốt cuộc đời cho người ta, coi một con người như một món đồ chơi, làm cho họ sống trong nhục nhã, đau đớn, xấu hổ tột cùng, thậm chí là tự vẫn vì không chịu được sự nhục nhã bị bán vào các động chứa, nhà thổ. Bán người hay bán thuốc độc là gián tiếp trong việc giết người.
Siêng đúng là chế ngự sáu căn, đoạn tận tham sân, tu tập Tứ Niệm Xứ, hộ trì các thiện pháp đã có. Siêng đúng không phải là đi làm cảnh đẹp, không phải suốt ngày cứ lau quét cho bóng loáng, hoặc là hôm nay sửa cửa này, ngày mai gắn rồng phượng lên, mà Đức Phật dạy siêng đúng là chế ngự sáu căn mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, mình phải có sự nhiếp phục, bảo vệ, phòng hộ, không phải để cho muốn nhìn đâu là nhìn, muốn nghe đâu là nghe, muốn ngửi là ngửi, không phải muốn nếm, muốn ăn giờ nào là cứ ăn mà ăn phải có thời có khắc, có giờ có giấc, ngủ cũng phải như vậy, nhìn ngó, nói chuyện cũng phải vậy, tất cả đều phải thu nhiếp, phòng hộ, chế ngự, gọi là thu thúc lục căn thanh tịnh giới. Như vậy mới gọi là sự siêng năng của bậc Thánh, chánh tinh tấn, lúc nào cũng phải phòng hộ, thu nhiếp mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý của mình. Không phải vừa nghe tiếng trống tan giờ là nói chuyện ầm ĩ, bàn ghế kéo ầm ầm, những cái đó đều là buông lung phóng dật, người tu là phải thực tập an tịnh lắng dịu, Thế Tôn là bậc an an tịnh, lắng dịu, thuyết pháp cho tất cả chúng sanh đưa đến chỗ an tịnh, lắng dịu.
"Du sĩ ngoại đạo Potthapàda thấy Thế Tôn từ xa đến, liền khuyến cáo chúng của mình: 'Các Tôn giả hãy nhỏ tiếng, các Tôn giả hãy đừng làm ồn. Nay Sa-môn Gotama đang đến, Ngài ưa mến sự trầm lặng, vị Đại đức này tán thán sự trầm lặng. Nếu biết chúng này yên tịnh, Ngài có thể ghé đến đây'. Nghe nói vậy, các du sĩ ngoại đạo liền im lặng" (Trường Bộ Kinh, 9. Kinh Potthapada)
Hình bóng của chư Tăng Ni xuất hiện ở đâu thì lập tức phải có sự an tịnh, lắng dịu ở đó thì mới tương xứng, mới phù hợp với người tu, đây là bản sắc của người xuất gia thời Đức Phật còn tại thế và cho đến bây giờ cũng phải vậy, đó là sự an tịnh, lắng dịu, trầm mặc, tịch tịnh chứ không phải thấy mặt là lăng xăng, lao xao, rộn ràng, ồn ào. Trong kinh ghi lại Thế Tôn ra lệnh đuổi năm trăm vị Tỳ-kheo ồn ào, đó là những đệ tử của ngài Mục-kiền-liên và ngài Xá-lợi-phất, họ đi về Tinh Xá để chia đồ đạc tọa cụ, Thế Tôn ở phía trong Tinh Xá nghe tiếng ồn như đang họp chợ cá tranh giành cá nên ngài gọi Ananda ra đuổi hết năm trăm vị Tỳ-kheo đó.
"Lúc bấy giờ, khoảng năm trăm Tỳ-kheo, do Sariputta (Xá-lợi-phất) và Moggallana (Mục-kiền-liên) cầm đầu cùng đến Catuma để yết kiến Thế Tôn. Và các Tỳ-kheo mới đến chào đón các vị cựu trú Tỳ-kheo. Trong khi các sàng tọa được sửa soạn và y bát được cất dọn, nên các tiếng náo động ồn ào khởi lên. Rồi Thế Tôn bảo Tôn giả Ananda:
-- Này Ananda, các tiếng náo động ồn ào kia là các tiếng gì, thật giống như tiếng hàng đánh cá tranh giành cá với nhau.
-- "Bạch Thế Tôn, đó là khoảng năm trăm Tỳ-kheo, do Sariputta và Moggallama cầm đầu, đã đến Catuma để yết kiến Thế Tôn. Và các Tỳ-kheo mới đến chào đón các vị cựu trú Tỳ-kheo. Trong khi các sàng tọa được sửa soạn và y bát được cất dọn, các tiếng náo động ồn ào khởi lên.
"Vậy này Ananda, hãy nhân danh Ta bảo các Tỳ-kheo ấy: "Bậc Ðạo Sư cho gọi các Tôn giả".
Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tôn giả Ananda vâng đáp Thế Tôn, đi đến chỗ các Tỳ-kheo ấy, sau khi đến, nói với các Tỳ-kheo ấy như sau:
Bậc Ðạo Sư cho gọi các Tôn giả.
Thưa vâng, Hiền giả.
Các Tỳ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Ananda, đi đến chỗ Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo ấy đang ngồi một bên:
-- Này các Tỳ-kheo, các Ông có nghĩ chăng, các tiếng náo động ồn ào thật giống như tiếng hàng đánh cá tranh giành cá với nhau?
-- Bạch Thế Tôn, đó là khoảng năm trăm Tỳ-kheo, do Sariputta và Moggallana dẫn đầu, đã đến Catuma để yết kiến Thế Tôn và các Tỳ-kheo mới đến chào đón các vị cựu trú Tỳ-kheo. Trong khi các sàng tọa được sửa soạn và y bát được cất dọn, các tiếng náo động ồn ào khởi lên
-- Hãy đi đi này các Tỳ-kheo, Ta đuổi các Ông. Các Ông chớ có ở gần Ta" (Trung Bộ Kinh, 67. Kinh Càtumà)
Cho nên chúng ta đừng nghĩ học đạo Phật từ bi là lúc nào ngài cũng im lặng, ai làm gì làm ngài không nói gì cả, đó là sai lầm, ngài nghiêm nhưng từ bi. Ngoài ra có những lần Phạm thiên Sahampati phải xuống năn nỉ Thế Tôn chỉ dạy cho chúng Tỳ-kheo mới xuất gia thì ngài mới đồng ý.
"Trong khi Thế Tôn độc cư Thiền tịnh, tư tưởng như sau được khởi lên:
Chúng Tỳ-kheo đã được Ta làm cho vững mạnh. Nhưng ở đây có một số tân Tỳ-kheo, xuất gia không bao lâu, mới đến trong Pháp và Luật này. Nếu họ không thấy Ta, họ có thể đổi khác, biến đổi. Như con bê, nếu không thấy bò mẹ, có thể thay đổi, đổi khác.
Cũng vậy, ở đây có một số tân Tỳ-kheo, xuất gia không bao lâu, mới đến trong Pháp và Luật này. Nếu họ không thấy Ta, họ có thể đổi khác, biến đổi. Ví như những hột giống non, nếu không có nước, có thể đổi khác, biến đổi.
Cũng vậy, ở đây có một số tân Tỳ-kheo, xuất gia không được bao lâu, mới đến trong Pháp và Luật này. Nếu họ không thấy Ta, họ có thể đổi khác, biến đổi. Như trước đây chúng Tỳ-kheo đã được Ta giúp đỡ, cũng vậy, nay Ta hãy giúp đỡ cho chúng Tỳ-kheo!"
Rồi Phạm thiên Sahampati, với tâm của mình biết được tư niệm của Thế Tôn, như một người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại hay co lại cánh tay duỗi ra, cũng vậy, biến mất từ Phạm thiên giới, hiện ra trước mặt Thế Tôn.
Rồi Phạm thiên Sahampati, đắp thượng y vào một bên vai, chắp tay hướng đến Thế Tôn, và bạch Thế Tôn:
-- Như vậy là phải, bạch Thế Tôn! Như vậy là phải, bạch Thiện Thệ! Bạch Thế Tôn, chúng Tỳ-kheo đã được Thế Tôn làm cho vững mạnh.
Nhưng ở đây có một số tân Tỳ-kheo, xuất gia không bao lâu, mới đến trong Pháp và Luật này. Nếu họ không thấy Thế Tôn, họ có thể đổi khác, biến đổi. Như con bê, nếu không thấy bò mẹ, có thể đổi khác, biến đổi.
Cũng vậy, ở đây có một số tân Tỳ-kheo, xuất gia không bao lâu, mới đến trong Pháp và Luật này. Nếu họ không thấy Thế Tôn, họ có thể đổi khác, biến đổi. Ví như những hạt giống non, nếu không có nước, có thể đổi khác, biến đổi.
Cũng vậy, ở đây có một số tân Tỳ-kheo, xuất gia không bao lâu, mới đến trong Pháp và Luật này. Nếu họ không thấy Thế Tôn, họ có thể đổi khác, biến đổi.
Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy làm cho chúng Tỳ-kheo hoan hỷ. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết giảng cho chúng Tỳ-kheo như trước đây chúng Tỳ-kheo đã được Thế Tôn giúp đỡ, cũng vậy, nay Thế Tôn hãy giúp đỡ cho chúng Tỳ-kheo!
Thế Tôn im lặng nhận lời.
Rồi Phạm thiên Sahampati, sau khi biết Thế Tôn đã nhận lời, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi biến mất tại chỗ" (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm Những Gì Ðược Ăn, VIII. Người Khất Thực)
Một lần khác có những vị đại thí chủ giàu có, chức sắc cao quý đem đồ đến cúng dường toàn món ngon, họ nhóm họp ngoài Tinh Xá thì Đức Phật gọi ngài thị giả vào hỏi có tiếng gì ngoài kia mà ồn ào như bạn hàng giành tôm cá nên ngài ra lệnh đuổi họ đi, ngài không nhận sự cúng dường như phân.
"Các Bà-la-môn gia chủ ở Icchànangalam, sau khi đêm ấy đã mãn, cầm theo rất nhiều đồ ăn loại cứng và loại mềm, đi đến khóm rừng Icchànangalam, sau khi đến, đứng ở ngoài cổng vào, và lớn tiếng làm huyên náo.
Lúc bấy giờ, Tôn giả Nàgita là thị giả của Thế Tôn.
Rồi Thế Tôn bảo Tôn già Nàgita:
- Này Nàgita, những ai đã đến, và làm ồn ào như những hàng cá với đống cá lớn ?
- Các người ấy, bạch Thế Tôn, là các Ba-la-môn gia chủ ở Icchànangalam, đang đứng ở ngoài cổng vào, đem theo rất nhiều đồ ăn loại cứng và loại mềm cho Thế Tôn và chúng Tăng.
- Này Nàgita, Ta không có liên hệ gì với danh vọng và danh vọng không có liên hệ gì với Ta. Này Nàgita, những ai tìm được không có khó khăn, tìm được không có mệt nhọc, tìm được không có phí sức, tìm được an ổn, viễn ly lạc, an tịnh lạc, chánh giác lạc, mà Ta đã tìm được không có khó khăn, tìm được không có mệt nhọc, tìm được không có phí sức. Hãy để họ thọ hưởng lạc như phân ấy, thụy miên lạc, lợi dưỡng, cung kính, danh văn lạc" (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, II. Phẩm Sức Mạnh, (X). Tôn Giả Nàgita)
Thế Tôn thích yên lặng, trầm mặc, trong kinh nói ngài giống như sư tử, khó gần, phải là người yên tịnh, lắng dịu thì ngài rất hoan hỉ, còn người lăng xăng, lao xao, lanh chanh, trạo cử thì khó lại gần ngài.
"Rồi Bà-la-môn Sela, với ba trăm thanh niên đi đến Thế Tôn. Bà-la-môn bảo những thanh niên ấy:
-- Quý vị hãy đến một cách im lặng, đặt chân xuống từng bước một, các bậc Thế Tôn ấy như con sư tử sống một mình, rất khó đến gần (hay ưa thích an tịnh -- Durasada). Nếu ta có thảo luận với Sa-môn Gotama, chư Tôn giả chớ ngắt lời ta. Chư Tôn giả hãy chờ ta nói xong" (Trung Bộ Kinh, 92. Kinh Sela)
Khi vua Ba-tư-nặc vào thăm Thế Tôn được kinh điển ghi lại rất bất ngờ, nhà vua đi kiệu đến gần rồi phải đi bộ xuống Tinh Xá, vào gặp các ngài Tỳ-kheo hỏi Đức Phật đang ở chỗ nào, các vị Tỳ-kheo chỉ chỗ cho nhà vua và bảo khi đến gần Tinh Xá của Đức Phật thì hãy đằng hắng và gõ cửa thì Thế Tôn sẽ mở cửa.
"Rồi vua Pasenadi nước Kosala, leo lên một cỗ xe thù thắng, và cùng với các cỗ xe thù thắng khác, từ Nangaraka đi đến Medulampa, thị trấn của dân chúng Sakka, đến nơi đó nội trong ngày, rồi đi đến tịnh xá. Vua đi xe cho đến chỗ nào có thể đi xe được, rồi xuống xe đi bộ vào tịnh xá. Lúc bấy giờ một số đông Tỳ-kheo đang đi kinh hành ngoài trời. Vua Pasenadi nước Kosala đi đến các Tỳ-kheo ấy, sau khi đến, thưa với các Tỳ-kheo ấy:
-- Chư Tôn giả, nay Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ở đâu? Chúng tôi muốn yết kiến Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác.
-- Thưa Ðại vương, Thế Tôn ở trong ngôi nhà này với các cửa khép kín. Hãy im lặng đến gần, bước vào hành lang nhưng không vượt qua, sau khi đằng hắng, hãy gõ vào khóa cửa. Thế Tôn sẽ mở cửa cho Ðại vương.
Rồi vua Pasenadi nước Kosala, ngay tại chỗ ấy, trao kiếm và vành khăn cho Digha Karayana. Rồi Digha Karayana tự nghĩ: 'Nay vua muốn đi một mình. Ở đây, ta phải dừng lại'. Rồi vua Pasenadi nước Kosala im lặng đi đến căn nhà đóng cửa, sau khi đến, bước vào hành lang nhưng không vượt qua, đằng hắng và gõ vào khóa cửa. Thế Tôn mở cửa" (Trung Bộ Kinh, 89. Kinh Pháp trang nghiêm)
Đó là nhà vua nhưng phải xuống kiệu đi bộ vào, khi gặp Thế Tôn thì nhà vua lạy xuống, lấy đỉnh đầu của mình đặt dưới chân của Đức Phật và hôn vào chân Đức Phật, lúc đó nhà vua và Đức Phật cùng 80 tuổi. Nhà vua nói rằng những quan lính được nhà vua cho lương tháng, cung cấp đồ ăn, nuôi gia đình nhưng tối ngủ những người đó nghe Thế Tôn ở hướng nào thì để cái đầu vào hướng đó, đưa chân về hướng nhà vua.
"Rồi vua Pasenadi nước Kosala bước vào căn nhà, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, miệng hôn xung quanh chân Thế Tôn, tay xoa rờ xung quanh chân và tự xưng tên:
-- Bạch Thế Tôn, con là vua Pasenadi nước Kosala. Bạch Thế Tôn, con là vua Pasenadi nước Kosala.
-- Thưa Ðại vương, do thấy nguyên nhân gì, Ðại vương lại hạ mình tột bực như vậy đối với thân này và biểu lộ tình thân ái như vậy?
-- Bạch Thế Tôn, con có pháp truyền thống (Dhammanvaya) này đối với Thế Tôn. 'Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, chư Tăng đệ tử của Thế Tôn khéo tu tập hành trì'. Ở đây, bạch Thế Tôn, con thấy nhiều vị Sa-môn, Bà-la-môn hành trì Phạm hạnh có giới hạn trong mười năm, hai mươi năm, ba mươi năm, bốn mươi năm. Những vị này, sau một thời gian, khéo tắm, khéo phấn sáp, với râu tóc khéo chải chuốt, sống thụ hưởng một cách sung mãn, đầy đủ năm dục trưởng dưỡng. Ở đây, Bạch Thế Tôn, con thấy các Tỳ-kheo sống hành trì Phạm hạnh viên mãn, thanh tịnh cho đến trọn đời, cho đến hơi thở cuối cùng. Bạch Thế Tôn, con không thấy ngoài đây ra có một Phạm hạnh nào khác viên mãn, thanh tịnh như vậy. Bạch Thế Tôn, đây là pháp truyền thống của con đối với Thế Tôn. 'Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác. Pháp được Thế Tôn khéo giảng, chư Tăng đệ tử của Thế Tôn khéo tu tập, hành trì'.
Bạch Thế Tôn, Isidatta và Purana là hai quan giữ ngựa, ăn cơm của con, đi xe của con, sinh sống do con cho, và chính con đem danh vọng lại cho họ. Nhưng họ không hạ mình đối với con như họ hạ mình đối với Thế Tôn. Thuở xưa, bạch Thế Tôn, trong khi hành quân chống với đội quân đối nghịch, và muốn thử thách Isidatta và Purana, hai quan giữ ngựa, con đến ở tại một căn nhà chật hẹp. Rồi bạch Thế Tôn, hai quan giữ ngựa, Isidatta và Purana, sau khi cùng nhau đàm luận về chánh pháp hơn nửa đêm, rồi nằm xuống ngủ, với đầu của họ hướng về phía mà họ được nghe là chỗ Thế Tôn ở và với chân hướng về chỗ con. Bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: 'Thật vi diệu thay! Thật hy hữu thay! Hai quan giữ ngựa Isidatta và Purana này ăn cơm của ta, đi xe của ta, sinh sống do ta cho, và chính ta đem danh vọng lại cho họ. Nhưng họ không hạ mình đối với ta như họ hạ mình đối với Thế Tôn. Thật sự những vị này ý thức được một sự tối thắng thù diệu nào trong giáo lý Thế Tôn, một sự thành đạt tuần tự'. Bạch Thế Tôn, đây là pháp truyền thống của con đối với Thế Tôn: 'Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, đệ tử chúng Tăng của Thế Tôn khéo tu tập hành trì'". (Trung Bộ Kinh, 89. Kinh Pháp trang nghiêm)
Sự cung kính Thế Tôn lên tột cùng dù ngài không dùng gậy gộc, không dùng gươm đao, không dùng những lời ác ngữ nhưng tất cả Thánh chúng Tỳ-kheo từ trên xuống dưới đều hòa hợp thanh tịnh, trang nghiêm, cung kính. Khi hội chúng của Thế Tôn ngồi lại với nhau thì người bên này có thể nghe được tiếng thở của người kế bên, Đức Phật rất tuyệt diệu, đọc vào kinh Nikāya chúng ta sẽ thấy người thật việc thật, sự thật chứ không phải như tưởng tượng Đức Phật ngồi trên mây phóng hào quang, ngài là một người rất bình dị, rầy la, quở trách các vị Tỳ-kheo nếu làm sai, suy nghĩ sai. Có những vị Tỳ-kheo suy nghĩ dâm dục không phải là pháp chướng đạo thì bị Thế Tôn nói là đồ ngu si vì có tà kiến như vậy, Thế Tôn quở trách, rầy la rất nặng cho nên Đức Phật là một người thật, sự thật, việc thật trong kinh Nikāya.
"Lúc bấy giờ, Tỳ-kheo tên là Arittha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng, khởi lên ác tà kiến như sau: 'Theo như ta hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng, khi thọ dụng những pháp được Thế Tôn gọi là chướng ngại pháp, thật sự không có chướng ngại gì'.
Thế Tôn nói với Tỷ-kheo Arittha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng, đang ngồi xuống một bên:
-- Này Arittha, có thật chăng, Ông khởi lên ác tà kiến như sau: 'Theo như tôi hiểu... thật sự không có chướng ngại gì'?
-- Thật sự là vậy, bạch Thế Tôn. Theo như con hiểu, thật sự không có chướng ngại gì.
-- Này kẻ ngu si kia, sao Ông lại hiểu pháp Ta thuyết giảng như vậy? Này kẻ ngu si kia, có phải chăng, Ta đã dùng nhiều pháp môn thuyết chướng đạo pháp. Và những ai thọ dụng chúng tự đủ bị chướng ngại? Ta đã thuyết các dục vui ít, khổ nhiều, não nhiều, do vậy nguy hiểm càng nhiều hơn. Ta đã thuyết các dục được ví như khúc xương... Ta đã thuyết các dục được ví như miếng thịt... được ví như bó đuốc cỏ khô... được ví như hố than hừng... được ví như cơn mộng... được ví như vật dụng cho mượn... được ví như trái cây... được ví như lò thịt... được ví như gậy nhọn... Ta đã thuyết các dục được ví như đầu rắn, vui ít, khổ nhiều, não nhiều, và do vậy nguy hiểm càng nhiều hơn. Và này kẻ ngu si kia, không những Ông xuyên tạc Ta, vì Ông đã tự chấp thủ sai lạc, Ông tự phá hoại Ông và tạo nên nhiều tổn đức. Này kẻ ngu si kia, và như vậy sẽ đưa đến bất hạnh và đau khổ lâu dài cho Ông" (Trung Bộ Kinh, 22. Kinh Ví dụ con rắn)
Đọc kinh Nikāya rồi chúng ta sẽ tăng trưởng tịnh tín bất động đối với Đức Phật, đối với giáo pháp, đối với Thánh chúng, đối với chúng Tăng, đối với Thánh giới của Đức Phật.
Chế ngự sáu căn là điều rất quan trọng với người tu, vỏ ngoài của phạm hạnh là sự thâu nhiếp mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, không có cái này thì không tu gì cả, cái vỏ không có thì làm gì có ruột, sự phòng hộ, bảo vệ mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý chưa có, buông lung phóng dật, thả lỏng các căn, nói cười ồn ào, dao động thì làm sao thành tựu được phẩm chất, đạo đức của người xuất gia. Chúng ta có thể lên linhquyphapan.vn để nghe bài "Những pháp tác thành Sa-môn" rất quan trọng cho người xuất gia. Chúng ta phải luôn luôn để ý thân thể, cảm giác, nội tâm và những gì đang có mặt, sanh khởi bên trong chúng ta để nhiếp phục, chế ngự, những pháp lành đã có cần phải giữ gìn, không được để mất đi, nhiều khi mình tu ba năm, năm năm thì còn nhưng bảy năm, mười năm lại mất hết. Lúc mới tập sự cạo đầu thì dễ thương, hiền lành, cung kính nhưng tu một thời gian thì hết dễ thương, không còn hiền, bản ngã sanh khởi vậy là thiện pháp bị mất đi, càng tu càng rơi rớt hết những pháp lành, không giữ được gì cả, giống như người đi làm ăn bị đứt vốn, mang nợ, vào tù luôn. Mình không giữ được những thiện pháp của mình thì mình bị thất thoát, mất mát, trở thành kẻ mang nợ, vào tù tức là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, mình không giữ được sự hiền lành, tâm cung kính, trang nghiêm như lúc còn là Sa-di, học lên tới Cao cấp, Đại học không còn giống người tu nữa, đi bệ vệ, ưỡn ngực lên, mặt hết lên trời, tu vậy là thất bại, mình càng tu thì càng phải cúi thấp xuống.
Hòa Thượng chủ tịch của chúng ta khi xưa còn ở dưới quê, sáng sớm phải làm lễ sớm trong khi đường lại xa nên 2h khuya ngài đã đi đến nơi nhưng lại không gọi cửa chùa. Sáng ra các thầy nhìn thấy trên ghế đá có người nằm co ro, nhìn kĩ lại mới thấy Hòa Thượng nên sám hối rồi thỉnh vào ngài, đó là do ngài sợ mất giấc ngủ của đại chúng. Chính con chứng kiến chuông trống Bát Nhã, dù lọng làm lễ trang nghiêm nhưng Hòa Thượng đi vòng vô chứ không đi thẳng vào, điều đó thể hiện đức hạnh khiêm cung. Cố Hòa Thượng thượng Trí hạ Tịnh của chúng ta đi họp thì mang dép tổ ong, các thầy nhìn ai cũng bất ngờ, cái mền đắp gần 30 năm, các thầy thấy cũ quá nên đem đi cất, Hòa Thượng hỏi đâu rồi thì các thầy bảo hãy dùng cái mới nhưng Hòa Thượng bảo đừng bỏ mà hãy cắt thành miếng chùi chân. Còn mình tu không được bao nhiêu phước mà hoang phí, ăn to nói lớn, thế thì thành kẻ nợ ngay thôi.
Con đã từng nói "sông sâu chảy chậm, lúa chín cúi đầu", sông càng sâu thì càng tĩnh lặng, vào máy bay ngồi thấy chậm nhưng nó đang bay với tốc độ rất nhanh cho nên càng nhanh thì lại càng chậm. Khi tu hành lấy thước đo về bản ngã rất quan trọng, càng tu phải càng khiêm cung, khiêm hạ, càng cúi nhường, lấy cái đó làm thước đo, lấy sự diệt ngã làm thước đo trong sự tu học. Sự tu cũng vậy, mới vào tu rất hiền lành, dễ thương, cung kính, khiêm nhường, tu một thời gian không còn oai nghi gì nữa, hết sức là nguy hiểm vì không đúng chánh pháp. Trong kinh Nikāya nói rất rõ, tà ra tà, chánh ra chánh chứ không có mập mờ cho nên mình phải lấy giới luật, đức hạnh làm thước đo của người tu. Khi nhìn vào sáu căn, thân – khẩu – ý của họ sẽ biết đức hạnh, đạo hạnh của họ tới đâu.
Chúng ta phải quán xét thân này, quán xét những cảm thọ, các pháp đang có mặt, sanh khởi trong tâm mình. Mình phải giữ gìn những pháp lành, phải quán xét thân thể, cảm giác, nội tâm và những gì đang có trong tâm là ác hay thiện, tốt hay xấu, nếu là ác pháp phải nỗ lực trừ diệt, tẩy sạch, nếu là thiện pháp thì phát huy, tăng trưởng, làm cho lớn mạnh thì đó là quán đúng. Định tâm theo tứ thiền rất thâm sâu, sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền là bốn bậc thiền định. Nếu thành tựu được chánh kiến và tu tứ thiền thì gọi là Thánh chánh định, chánh định của bậc Thánh, còn nếu không thành tựu chánh kiến về ngũ uẩn mà tu tứ thiền và nếu tứ thiền này có tu thành công thì vẫn là phàm phu thiền cho nên chánh kiến rất quan trọng, có giải thoát được hay không là ở chỗ chánh kiến, không đi vào chánh kiến thì không có bất kì Thánh quả nào cả. Chánh kiến chính là thấy được ngũ uẩn, thấy được tham, sân, si rồi nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận cho đến khi nào hết thì lúc đó thành công.
Tâm thương này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm thương này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la.
./.