Tương Ưng Sáu Xứ - Chớ Nghĩ Là Của Tôi - Nhàm Chán Từ Bỏ
22-12-2020 Kinh NIKĀYA Giảng Giải - Tương Ưng Sáu Xứ - Chớ Nghĩ Là Của Tôi - Nhàm Chán Từ Bỏ
Thích Minh Thành
Kính thưa quý thầy, quý sư cô và đại chúng. Chúng ta tu học sẽ càng ngày được sáng tỏ chánh kiến nhiều hơn. Mình sẽ rất bất ngờ nếu tu học không đúng thì không bao giờ giải thoát được, con càng hiểu thì càng kính Đức Phật, càng kính Đức Phật thì càng hiểu Đức Phật. Con càng nghe, càng nghiệm và quán chiếu trong Tương Ưng Sáu Xứ thì càng ngày phấn chấn, càng tỏ sáng chánh kiến, càng thấy rõ đạo lộ. Tại sao mình tu muốn bỏ mà bỏ không được? Rất muốn bỏ dục, tham, ái nhưng bỏ không được hoặc rất muốn bỏ sân hận mà vẫn không làm được, mình cũng tha thiết, chân thành muốn bỏ bản ngã mà có khi nó lại ngấm ngầm tăng trưởng, phát triển lớn mạnh. Vì do cách bỏ của mình chưa đúng phương pháp, trong Tương Ưng Sáu Xứ dạy chúng ta tất cả mọi phương diện, khía cạnh, góc độ để đưa đến sự nhàm chán, ly tham, từ bỏ rất đầy đủ. Cho nên càng nghe, càng chiêm nghiệm, càng nhìn lại thân tâm thì càng phải dập đầu lạy Đức Phật, mình không thể nhìn thấy đỉnh đầu của Đức Phật ở đâu, trí huệ của Đức Phật cao đến cỡ nào, sự chứng ngộ của Đức Phật rộng đến mức độ nào, đó gọi là vô kiến đảnh tướng. Ví dụ mình nói muốn bỏ cái bàn vậy mà nghĩ tới nghĩ lui lại thấy tiếc, nghĩ qua nghĩ lại cuối cùng quyết định đem bỏ nhưng có khi lại đổi ý đi ra đem nó về lại để dùng. Còn cái bỏ của Đức Phật dạy mình là mở ra từng lớp, chặt từng thanh gỗ thành đống cây vụn chứ không phải lấy búa đập vài cái rồi bỏ thì cái đó vẫn có thể sửa lại để dùng, mà phải mở ra từng cái nẹp, chặt nó, thả xuống sông hoặc cho gió thổi bay đi hết, đó gọi là diệt tận, đoạn tận. Cuốn vở này muốn bỏ thì phải xé nát từng trang, sau đó đốt thành tro rồi đổ xuống sông, xuống biển hoặc cho gió thổi bay trong hư không, đó là cách diệt tận của Đức Phật dạy người tu.
Này Ananda, ví như một cây lớn, rồi có người đi đến, cầm cái cuốc và cái giỏ. Người ấy chặt đứt rễ cây ấy. Sau khi chặt đứt rễ, người ấy đào một cái mương. Sau khi đào mương, người ấy nhổ lên các rễ lớn cho đến các rễ con, rễ phụ.
Người ấy chặt cây ấy ra từng khúc. Sau khi chặt ra từng khúc, người ấy bửa. Sau khi bửa, người ấy chẻ ra từng miếng nhỏ. Sau khi chẻ ra từng miếng nhỏ, người ấy phơi giữa gió và nắng. Sau khi phơi giữa gió và nắng, người ấy lấy lửa đốt. Sau khi lấy lửa đốt, người ấy vun lại thành đống tro. Sau khi vun lại thành đống tro, hoặc người ấy sàng trong gió lớn hay đổ vào dòng nước chảy mạnh để nước cuốn đi. Như vậy, này Ananda, cây lớn ấy sẽ bị chặt đứt, làm thành như cây ta-la, không thể nào tái sanh, không thể sanh khởi lại trong tương lai. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (b), VI. Phẩm Cây, X. Nhân)
Làm theo cách này thì không còn gì có thể sanh khởi trở lại được nữa vì nếu đã bỏ mà chưa diệt tận thì nó vẫn có khả năng trỗi dậy, cái bỏ của mình chỉ là bỏ trên ý nghĩ nên nó không đủ sức mạnh chống cự lại khi nó sanh khởi trở lại. Ví dụ muốn bỏ chiếc xe thì phải tháo gỡ từng bộ phận từ con ốc, bình xăng, căm xe, bánh xe… rồi đập cho tan nát, đốt cháy rồi đổ xuống sông xuống biển thì mới gọi là diệt tận. Đức Phật dạy mình sáu ái, sáu tầm, sáu tứ, sáu xúc, sáu thọ, sáu trần, sáu thức, sáu căn, sáu tưởng, sáu tư tức là Đức Phật đang dạy mình tháo mở ra từng bộ phận, chi tiết của cây tre, chiếc xe… và mỗi một cái là ái trong đó và phải diệt nó. Chúng ta thấy trí huệ của Đức Phật khủng khiếp không? Khi chúng ta không liễu tri, thắng tri, tuệ tri, không thấu suốt tất cả bộ phận, thành phần, cấu tạo, hoạt động của nó thì làm sao mình có thể diệt được nó hoàn toàn triệt để? Mình không biết sắc tập khởi, sắc đoạn diệt, mình không biết thọ; tưởng; hành; thức tại sao sanh ra, nó gồm những thứ gì kết hợp thành, nó vận hành thế nào, tham dục ái trong đó ra sao, sân vi, bản ngã, vô minh chế ngự, hành hạ ra sao, sự nguy hiểm tác hại thế nào mình đều không thấy không biết thì làm sao mình bỏ được? Tại sao chương Tương Ưng Sáu Xứ đến mấy trăm bài kinh? Mình phải hiểu cái gì quan trọng thì Đức Phật sẽ nói rất nhiều khía cạnh, chỉ khổ luyện một bộ Tương Ưng Bộ này thôi là thành tựu, đạt đến Thánh quả thứ tư, thâm nhập đầy đủ chỉ riêng bộ kinh này thôi là trở thành Thánh quả A-la-hán, diệt tận tất cả tham sân si, vô minh, bản ngã. Ngày xưa mình vô minh, bản ngã mà không biết, đọc kinh chỉ thấy sao có nhiều thứ quá, thân mình lại chia ra ba mươi hai thể trược thì thứ gì trong đó cũng ái được hết, nếu không phá được ái thì làm sao xuất ly được? Tức là đưa đến sự chấm dứt hoàn toàn, không còn yêu thích bất kì cái gì trong ba mươi hai thể trược đó thì vĩnh viễn đời sau không còn mang cái thân bất tịnh, đau ốm, bệnh tật nữa thì mới đi đến chỗ diệt tận, chấm dứt không còn sanh khởi trở lại trong tương lai. Chỗ này cực kì thâm thúy, dù cho tu đến chết mà không được học, không có người hướng dẫn, chia sẻ thì trong tỷ kiếp nữa vẫn không thể giải thoát. Trong ba mươi hai thể trược đó bộ phận nào mình cũng ái, cũng tham dục.
Ái nhiễm, này các Tỳ-kheo, là bệnh tật; ái nhiễm là mụt nhọt; ái nhiễm là mũi tên. Do vậy, này các Tỳ-kheo, Như Lai sống không ái nhiễm, không bị mũi tên làm bị thương.
Do vậy, này các Tỳ-kheo, nếu Tỳ-kheo có ước vọng gì, hãy ước sống không ái nhiễm, không bị mũi tên làm bị thương.
Chớ có nghĩ đến mắt, chớ có nghĩ đến trong mắt, chớ có nghĩ đến từ mắt, chớ có nghĩ đến: "Mắt là của tôi". Chớ có nghĩ đến các sắc, chớ có nghĩ đến trong các sắc, chớ có nghĩ đến từ các sắc, chớ có nghĩ đến: "Các sắc là của tôi". Chớ có nghĩ đến nhãn thức, chớ có nghĩ đến trong nhãn thức, chớ có nghĩ đến từ nhãn thức, chớ có nghĩ đến: "Nhãn thức là của tôi". Chớ có nghĩ đến nhãn xúc, chớ có nghĩ đến trong nhãn xúc, chớ có nghĩ đến từ nhãn xúc, chớ có nghĩ đến: "Nhãn xúc là của tôi". Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; chớ có nghĩ đến cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến trong cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến từ cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến: "Cảm thọ ấy là tôi". (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (b), Phần Hai - Năm Mươi Kinh Thứ Hai, IV. Phẩm Channa, VII. Ái Nhiễm)
Những điều này như gỡ ra từng bộ phận chiếc xe như chiếc xe thì gỡ từng cọng căm, niềng xe, bánh xe, vỏ xe. Tháo gỡ suy nghĩ con mắt này là tôi, là của tôi, khi nhìn vào gương thấy con mắt thì chớ dính mắc, tham ái, chấp thủ vào con mắt đó, phải tác ý "Mắt này do đất, nước, gió, lửa hợp thành. Máu này là máu, gân nên nó bất tịnh, bệnh hoạn", tác ý nhàm chán con mắt, không tham muốn đối với con mắt, không muốn tiếp tục mà từ bỏ đối với con mắt, đó là đem từng chi tiết ra đập nát còn nếu chỉ nói đơn giản "nhàm chán thân do thân vô thường" thì không đủ sức, không đầy đủ trí tuệ, không đầy đủ khía cạnh góc độ của dục tham ái trong thân xác này. Chớ có nghĩ đến con mắt này là của tôi, con mắt này là cục thịt, cục máu, cục gân dơ bẩn, bệnh hoạn, khổ đau, luyến ái, bám chấp, ràng buộc. Quán nhàm chán, quán không tham muốn, quán từ bỏ đối với con mắt này, quán con mắt này không phải là của tôi, đau khổ khi có con mắt này. Sự sanh khởi, chỉ trướng, xuất hiện của con mắt này là sự sanh khởi, chỉ trướng, xuất hiện của khổ đau. Tật bệnh sanh khởi, già chết sanh khởi, tai họa sanh khởi, sầu; bi; khổ; ưu; não sanh khởi là đồng nghĩa với sự sanh khởi của con mắt này. Hãy nhàm chán, ly tham, chấm dứt, từ bỏ mỗi khi suy nghĩ về con mắt, đừng suy nghĩ yêu thích, hài lòng, thỏa mãn trong đó. Sự an trú, sanh khởi của con mắt này là sự an trú, sanh khởi của khổ đau, tật bệnh, già chết, nước mắt, sầu bi. Chớ có tham đắm, yêu thích, mê muội, si ám, hài lòng, tự mãn, ái luyến trong con mắt này mà hãy ghê sợ, ly tham, chấm dứt trong suy nghĩ để hướng đến sự từ bỏ. Con mắt này không phải là tôi, không phải của tôi. Chớ có nghĩ đến các sắc, chớ có nghĩ đến trong các sắc, chớ có nghĩ đến từ các sắc, chớ có nghĩ đến: "Các sắc là của tôi". Chớ có suy nghĩ đến tài sản, đồ vật mình đang sở hữu, nó là ung nhọt, vô thường, tan hoại, các sắc pháp, vật chất này là bệnh tật, là mũi tên tẩm độc, là hố than hừng, là ghẻ lở, nó là tên sát nhân. Tất cả mọi sắc Pháp trên đời này là ung hạch, ung thu, là người lạ, bệnh hoạn, đau khổ, cùi hủi… Tháo gỡ ra để đi đến chỗ hoàn toàn diệt tận, để đi đến chỗ ly tham tất cả sắc. Chớ có nghĩ đến nhãn thức, chớ có nghĩ đến trong nhãn thức, chớ có nghĩ đến từ nhãn thức, chớ có nghĩ đến: "Nhãn thức là của tôi". Chớ có nghĩ đến sự rõ biết các sắc này, mở ra từng bộ phận để phá hủy hoàn toàn lòng dục, lòng tham, lòng khao khát, chấp thủ. Chớ có nghĩ đến nhãn xúc, chớ có nghĩ đến trong nhãn xúc, chớ có nghĩ đến từ nhãn xúc, chớ có nghĩ đến: "Nhãn xúc là của tôi". Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; chớ có nghĩ đến cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến trong cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến từ cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến: "Cảm thọ ấy là tôi". Khi con mắt tiếp xúc mà sanh khởi ra cảm giác vui, khổ hay thường thường thì đừng nghĩ những cảm giác đó là mình, dù cho cảm giác vui sanh khởi thì quán chiếu nó là vô thường, nhàm chán, mình muốn từ bỏ để thoát ra, suy nghĩ hướng đến sự xuất ly. Suy nghĩ lạc thọ này vô thường, không đáng để hoan hỉ, chấp trước với ý niệm thoát ly, dù cho có cảm thọ gì đi nữa cũng phải nhớ đến ý niệm nhàm chán, ly tham đối với cảm thọ đó, muốn chấm dứt, từ bỏ để thoát ra. Đó là mình đang tháo gỡ từng bộ phận trong hệ thống máy để tạo thành động cơ, do dục ái tham, hỷ ái trong thọ nên mới khởi động ra dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu. Khi cảm thọ đến tận cùng sức chịu đựng thì quán chiếu cảm thọ này đi đến chỗ chấm dứt hoàn toàn và quán từ bỏ tất cả các cảm thọ.
Khi vị ấy cảm thọ một cảm thọ cùng tận sức chịu đựng của thân, vị ấy tuệ tri: "Ta đang cảm thọ một cảm thọ cùng tận đến sức chịu đựng của thân". Khi vị ấy cảm thọ một cảm thọ cùng tận chịu đựng của sinh mạng, vị ấy tuệ tri: "Ta đang cảm thọ một cảm thọ cùng tận đến sức chịu đựng của sinh mạng". Vị ấy tuệ tri rằng: "Sau khi thân hoại mạng chung, ở đây, một cảm thọ cảm giác không có gì đáng hoan hỉ, sẽ đi đến lắng dịu". (Tương Ưng Bộ, Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một – Phẩm Có Kệ, VII. Tật Bệnh)
Chưa từng thấy, chưa từng nghe, chưa từng hiểu trí huệ vượt tầm thế giới, pháp giới như vầy, chưa từng có người thứ hai được như vậy. Làm sao chúng sanh vô văn phàm phu có thể nhìn ra được cái này?
Chớ có nghĩ đến cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến trong cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến từ cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến: "Cảm thọ ấy là của ta". (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (b), Phần Hai - Năm Mươi Kinh Thứ Hai, IV. Phẩm Channa, VII. Ái Nhiễm)
Thọ này do duyên tiếp xúc mà sanh khởi ra, nếu không tiếp xúc thì không sanh khởi ra cảm thọ này. Chấm dứt, tan biến thành hư không đi, hoàn toàn lắng dịu và tịch tịnh đi, trở về trạng thái trầm mặc.
Chớ có nghĩ đến tai... Chớ có nghĩ đến mũi...
Chớ có nghĩ đến lưỡi... Chớ có nghĩ đến thân... (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (b), Phần Hai - Năm Mươi Kinh Thứ Hai, IV. Phẩm Channa, VII. Ái Nhiễm)
Chớ có nghĩ đến mũi, chớ có nghĩ đến trong lỗ mũi ấy, chớ có nghĩ đến từ mũi ấy, chớ có nghĩ đến: "Lỗ mũi này là của tôi". Mũi này là máu, da, thịt, là tứ đại bất tịnh, dơ bẩn, là vô thường, phiền não, khổ đau. Hãy nhàm chán đối với nó, nhàm chán cơ sở, căn cứ để làm ra dục tham ái, thân này là nơi trú ẩn của dục tham ái, là nơi chấp thủ, chấp ngã hình thành. Hãy phá vỡ hang ổ này trong ý nghĩa, phá vỡ hoàn toàn sự tham đắm và chấp thủ trong sào huyệt này.
Chớ có nghĩ đến các mùi, chớ có nghĩ đến trong các mùi, chớ có nghĩ đến từ nơi các mùi, chớ có nghĩ đến: "Mùi đó là của tôi". Chớ có nghĩ đến sự rõ biết các mùi, chớ có nghĩ đến trong sự rõ biết các mùi, chớ có nghĩ từ nơi rõ biết các mùi, chớ có nghĩ đến: "Sự rõ biết các mùi đó là tôi, là của tôi". Hãy nhàm chán nó, ly tham đối với nó, nghĩ đến chấm dứt nó để hướng đến từ bỏ.
Khi mũi tiếp xúc sanh ra cảm thọ gì, những cảm giác thích, không thích, không thích cũng không ghét đối với cảm thọ đó thì hãy nhàm chán, không tham muốn, chỉ muốn đi đến sự chấm dứt, đi đến sự từ bỏ.
Chớ có nghĩ đến lưỡi, chớ có nghĩ đến trong cái lưỡi này, chớ có nghĩ đến từ cái lưỡi có gì trong đây để rồi say mê, tham thích, chớ có nghĩ đến: "Lưỡi này là của tôi". Lưỡi này mà miếng thịt, là bệnh tật, ung nhọt, mũi tên. Cái lưỡi này tạo ra biết bao sự ác nghiệp, nói dối, nói thiêu dệt, nói lời hung ác, nói thêm thắt, phù phiếm vô nghĩa, vô ích. Đừng nghĩ cái lưỡi này là của tôi. Chớ có nghĩ đến các vị, chớ có nghĩ đến trong các vị ấy, chớ có nghĩ đến từ nơi các vị ấy, chớ có nghĩ đến: "Các vị này là của tôi". Chớ có nghĩ đến sự rõ biết các vị, khi lưỡi này tiếp xúc sanh ra cảm giác ưa, ghét, không ưa không ghét thì hãy nhàm chán những cảm giác đó, không tham muốn cảm giác đó, muốn chấm dứt, muốn đi đến sự từ bỏ. Thánh trí huệ của Đức Phật phá tan tất cả những cơ cấu vận hành, hoạt động của sáu căn, sáu trần, sáu ái, sáu thức, sáu thọ, sáu xúc. Từ trong những cái nhỏ nhiệm nhất đều được Thánh trí huệ soi sáng và phá vỡ tất cả, như vậy mới đi đến chỗ ly tham giải thoát chứ không phải chỉ nói trên miệng rồi tu ngàn kiếp vẫn ở trong vô minh và tham ái. Hãy nhìn thấy khi các Pháp vận hành, sanh khởi, an trú, xâm chiếm, áp đảo thân tâm rồi hãy nhàm chán nó.
Chớ có nghĩ đến thân, chớ có nghĩ đến trong thân này, chớ có nghĩ đến từ nơi thân này, chớ có nghĩ đến: "Thân này là của tôi". Đống thịt mấy chục kí lô này là sào huyệt của dục vọng, khát ái, của sự thèm muốn, khao khát, thiếu thốn và nô lệ. Đống thịt này lúc nào cũng khao khát, thèm muốn, tìm kiếm rồi bệnh hoạn, phiền não. Thấp kém và hèn hạ là thân xác này mà mình tham đắm, ái nhiễm trong này thì đó là tật bệnh, ung nhọt, mũi tên. Đừng nghĩ về nó, đừng nghĩ từ nơi nó, đừng nghĩ nó là mình, tác ý nhàm chán, ly tham, chấm dứt và từ bỏ. Chúng ta dùng Như lý tác ý để sanh khởi cảm giác nhàm chán, chúng ta có những pháp quán chiếu về ba mươi hai thể trược, chín giai đoạn tử thi thì sự tu tập đều vận dụng năm uẩn nhất tề tấn công vào dục ái đối với sáu căn này, còn lúc trước chúng ta chỉ suy nghĩ một chút về ý hành, nói trên miệng và có thêm một chút thân hành chứ chúng ta không có cảm giác nhàm chán, từ bỏ, chấm dứt cho nên chúng ta không thể từ bỏ triệt để, không đi đến kết quả thực sự, chán một chút rồi cũng khoái, cũng mê lại còn cái này đưa đến nhất hướng nhàm chán, ly tham. Chúng ta nghĩ rằng những Pháp tu như vầy, trí huệ như vầy, những lời dạy như vầy thì ngoài Đức Phật ra thì ai có thể dạy cho chúng ta được? Có thể có một người thứ hai trên Trái Đất này không? Chúng ta đang thực tập nuôi dưỡng sự nhàm chán, từ bỏ. Nếu không tu tập, quán chiếu, không tăng trưởng những cảm thọ, suy nghĩ, nhận thức này thì làm sao chúng ta có thể ly tham được? Làm sao chúng ta có thể đi đến từ bỏ một cách rốt ráo, triệt để được?
Chớ có nghĩ đến sự xúc chạm, chớ có nghĩ đến trong sự xúc chạm ấy, chớ có nghĩ đến từ sự xúc chạm ấy, chớ có nghĩ đến: "Sự xúc chạm này là của tôi". Chớ có nghĩ đến sự rõ biết sự đụng chạm đó, khi thân tiếp xúc sanh ra cảm thọ thích thú, ghét bỏ, không thích không ghét thì đừng nghĩ đến những cảm thọ đó là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Chớ có nghĩ đến cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến ở trong cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến từ nơi cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến cảm thọ ấy là tôi. Hãy nhàm chán, bao nhiêu ngàn lần cái dục cũng không thỏa mãn, vô lượng vô biên kiếp mình đã phục vụ cho cái ái dục, dâm dục, tham ái này. Nó bắt mình phải cung phụng cho nó, làm đầy tớ, nô lệ cho nó cho nên hãy nhàm chán những cảm giác đòi hỏi, thèm thuồng, khát khao, những cảm giác thiếu thốn, tìm kiếm. Phải có sự ly tham, muốn chấm dứt, hướng đến sự từ bỏ, làm cho cảm giác đó lắng dịu tịch tịnh.
Chớ có nghĩ đến ý, chớ có nghĩ đến trong ý, chớ có nghĩ đến từ ý, chớ có nghĩ đến: "Ý là của ta". Chớ có nghĩ đến các pháp, chớ có nghĩ đến trong các pháp, chớ có nghĩ đến từ các pháp, chớ có nghĩ đến: "Các pháp là của ta". Chớ có nghĩ đến ý thức, chớ có nghĩ đến trong ý thức, chớ có nghĩ đến từ ý thức, chớ có nghĩ đến: "Ý thức là của ta". (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (b), Phần Hai - Năm Mươi Kinh Thứ Hai, IV. Phẩm Channa, VII. Ái Nhiễm)
Mình để ý lại trong tâm mình những cảm giác, suy nghĩ sanh khởi lên những cảm thọ khổ, vui, không khổ không vui thì đừng nghĩ cảm thọ ấy là tôi, là của tôi
Chớ có nghĩ đến tất cả, chớ có nghĩ đến trong tất cả, chớ có nghĩ đến từ tất cả, chớ có nghĩ đến: "Tất cả là của tôi". (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (b), Phần Hai - Năm Mươi Kinh Thứ Hai, IV. Phẩm Channa, VII. Ái Nhiễm)
Có phải Chớ có nghĩ đến tất cả là không suy nghĩ gì hết phải không? Là tất cả những gì suy nghĩ sanh khởi lên thì mình đều từ bỏ, không ưa thích nó. Khi nó suy nghĩ về sáu căn, về thân xác thì mình không ưa thích trong suy nghĩ, không hoan hỉ, an trú trong suy nghĩ đó mà tác ý vô thường, khổ, vô ngã trong suy nghĩ đó. Khi có cảm giác sanh khởi lên thì không ưa thích, không chấp nhận, không an trú trong cảm giác đó mà mình hướng đến sự thoát ra. Còn không đọc kinh sẽ không hiểu, hiểu theo nghĩa không nghĩ gì hết là không phải mà phải hiểu là những suy nghĩ theo chiều dục tham ái, vô minh, nghĩ theo chiều tôi và của tôi thì mình đều từ bỏ nó, tác ý ly tham để thoát ra. Tất cả những suy nghĩ gì sanh khởi lên về ta, ngã sở, của ta, tự ngã của ta thì tất cả suy nghĩ đó đều từ bỏ, không chấp nhận nó, mình viễn ly, ly tham, chấm dứt, diệt tận nó như vậy gọi là Chớ có nghĩ đến tất cả. Ví dụ các sư cô bị mất cái đãi, lúc đó suy nghĩ thế nào? "Chớ có suy nghĩ túi đãi đó là của tôi. Nó là thứ vô thường, duyên sanh, tan hoại, bây giờ nó hết duyên với mình thì nó đi thôi", sau khi đã nghĩ thông suốt, từ bỏ suy nghĩ món đồ đó của mình thì lúc đó mình không còn sân, không còn tham tiếc. Chớ có nghĩ đến tất cả có ý nghĩa như vậy đó, đó là sự Như lý tác ý, chứ còn không nghĩ gì hết thì làm sao được? Đừng suy nghĩ là của tôi tức là phải hiểu ngược lại đó là suy nghĩ không phải của tôi, hãy thường xuyên tác ý "Những cái đó không phải là tôi, không phải của tôi". Mình ở bên Ni xá được 3 tháng, hôm nay có người mới đến lớn tuổi hạ hơn nên mình phải nhường chỗ thì tâm mình lúc đó ra sao? Mình có suy nghĩ chỗ đó là chỗ của tôi không? Phải nhớ lời dạy "Chớ có suy nghĩ đến chỗ ấy. Chớ có suy nghĩ ở trong chỗ ấy, chớ có suy nghĩ đến từ chỗ ấy, chớ có suy nghĩ đến chỗ ấy là của tôi", nếu làm được như vậy thì đâu còn phiền não. Khi mình làm sai bị thầy, bị sư huynh, các cô nhắc nhở thì mình nghĩ "Chớ có suy nghĩ đến sự la mình, chớ có suy nghĩ trong sự la mình, chớ có suy nghĩ ở nơi la mình, chớ có nghĩ cái la mắng đó là la mắng tôi", như vậy gọi là chớ có nghĩ đến: "Tất cả là của tôi", thì mình mới từ bỏ được tham sân si, bản ngã, còn nếu vẫn giữ suy nghĩ đó thì còn sân, còn bản ngã, hơn thua, đúng sai, nó cứ dằn co, chất chứa trong nội tâm lâu ngày sẽ có ngày bùng phát, đó gọi là chánh tư duy trong Bát Chánh Đạo. Ví dụ hôm nay nghe Pháp có người lạ đến ngồi chỗ của mình làm mình phải ngồi ở sau cùng trong khi mình là người lớn nhất thì lúc đó mình suy nghĩ gì? "Chớ có suy nghĩ đến chỗ ấy, chớ có nghĩ trong chỗ ấy, chớ có suy nghĩ từ nơi chỗ ấy, chớ có nghĩ chỗ ấy là của tôi". Như vậy Đức Phật dạy mình cách Như lý tác ý, ở đây mình diễn ngược lại "Mình còn không có thì làm gì có chỗ của mình", tác ý tiếp tục như vậy để loại bỏ suy nghĩ "người đó chiếm chỗ của mình", một khi trong tâm còn suy nghĩ "chỗ này là chỗ của mình, mình bị chiếm chỗ", mình chấp nhận và để nó trong tâm thì còn phiền não, chừng nào suy nghĩ này được loại trừ, đào thải, bứng hết gốc rễ thì lúc đó mới hết phiền não. Vì thế Như lý tác ý có tác dụng rất hiệu nghiệm, nên thường xuyên tác ý.
Vị ấy do không nghĩ đến nên không chấp thủ một vật gì ở đời. Do không chấp thủ, vị ấy không có dao động (paritassati). Do không dao động, vị ấy tự mình tịch tịnh một cách hoàn toàn. Vị ấy biết rõ: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa". (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (b), Phần Hai - Năm Mươi Kinh Thứ Hai, IV. Phẩm Channa, VII. Ái Nhiễm)
Do vị ấy nghĩ không có cái gì là của mình nên vị ấy không bị dính mắc, chấp thủ, nắm chặt vào bất cứ vật gì trên đời, đó cũng là nội dung bài kinh Niệm Xứ.
Như vậy, vị ấy sống quán thân trên nội thân hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên cả nội thân, ngoại thân; hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. "Có thân đây", vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy không nương tựa, không chấp trước vật gì trên đời. (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm xứ)
Khi Liên Trụ đau bệnh, nhức mỏi thì tác ý "Thân này không phải là tôi, không phải của tôi", "những cảm giác này không phải là tôi, không phải của tôi" để tách mình ra khỏi cảm thọ, còn không tác ý, tư duy, quán chiếu thì mình hướng đủ tất cả cảm thọ khổ ngoài ra còn những cái tưởng làm tưởng tượng nhiều thêm nữa nên bệnh nhẹ thành bệnh nặng, bệnh nặng lại còn nặng thêm, phải chịu những cảm giác rất đau khổ. Mỗi lần con bệnh là con quán vô thường, khổ, vô ngã và niệm tử, mỗi lần như vậy là năng lực tu hành của con được nâng cấp, vì thế đừng nghĩ cái bệnh làm chướng ngại cho việc tu mà hãy nghĩ rằng cái bệnh này thuận lợi để mình nhàm chán, ly tham, từ bỏ, xuất ly, có vậy thì người bệnh trở thành lợi thế hơn người không bệnh vì người không bệnh cảm thấy thoải mái, cảm thọ đều đều nên tham dục ái rất dễ sanh khởi, còn người cứ có cảm giác đau khổ, bệnh hoạn hoài thì lấy điều đó làm cơ hội, đề mục, quán chiếu để thâm nhập Khổ Thánh Đế, chứng nhập Khổ Thánh Trí, cảm nhận trọn vẹn về ung nhọt chín lỗ này, về sự nhàm chán, bất tịnh, khổ đau, hướng đến từ bỏ. Tịch tịnh một cách hoàn toàn tức là Diệt Thánh Đế, sự tiêu diệt hoàn toàn mầm móng của tham sân si, vô minh và bản ngã, thoát ra năm thủ uẩn một cách triệt để và trọn vẹn, chứng nhập Thánh quả tối cao và tâm bất động giải thoát, vĩnh viễn ca khúc khải hoàn bất tận, giải thoát ca, xuất ly ca. Còn mình không quán chiếu theo những gì Đức Phật dạy nãy giờ thì mình còn đau khổ dài dài, thưa gửi hoài, mình tác ý thường xuyên sẽ bớt nhiều tham sân si, bản ngã, cũng không cần kiềm sân lại mà mỗi lần nó khởi là nhàm chán, không dám nhìn gương vì thấy nhục. Phải cố gắng tha thiết trong sự học hỏi hành trì, mỗi ngày phải nghe Pháp, chiêm nghiệm và quán chiếu Pháp chứ đừng làm biếng. Đức Phật đã hỏi các vị Tỳ-kheo trong bài kinh Có pháp môn nào, Tương Ưng Bộ.
Có pháp môn nào, do pháp môn ấy, Tỳ-kheo ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài lắng nghe, ngoài suy tư về phương pháp (àkàra-paritakkà), ngoài kham nhẫn, thích thú biện luận (ditthini shànakhanti), có thể xác chứng chánh trí; vị ấy biết rõ: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa"?
Bạch Thế Tôn, đối với chúng con, Pháp lấy Thế Tôn làm căn bản...
Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo khi mắt thấy sắc, hoặc nội tâm có tham, sân, si, biết rõ: "Nội tâm ta có tham, sân, si"; hoặc nội tâm không có tham, sân, si, biết rõ: "Nội tâm ta không có tham, sân, si". Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo khi mắt thấy sắc, hoặc nội tâm có tham, sân, si biết rõ: "Nội tâm ta có tham, sân, si"; hoặc nội tâm không có tham, sân, si biết rõ: "Nội tâm ta không có tham, sân, si". Này các Tỳ-kheo, biết rõ chúng có mặt hay không có mặt trong tâm vị ấy, có phải chúng là những pháp do lòng tin được hiểu biết, hay do ưa thích được hiểu biết, hay do lắng nghe được hiểu biết, hay do suy tư về phương pháp được hiểu biết, hay do kham nhẫn, thích thú biện luận được hiểu biết?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn. (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (e), V. Mới Và Cũ, VIII. Có Pháp Môn Nào?)
Khi mắt thấy sắc, mũi ngửi mùi, tai nghe tiếng, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm mà mình có khởi tham sân si trong tâm thì mình có biết không? Khi tâm không khởi tham sân si mình có biết không? Như vậy cái biết có khởi hay không khởi tham sân si thì có phải do lòng tin mình mới biết hay tự nhiên sẽ biết? Ở đây Đức Phật nói Pháp trực tiếp, trực chỉ vào nội tâm. Mình có tham thì biết có tham chứ không phải đợi tin mới biết có tham, có sân thì biết có sân, có si thì biết có si chứ không phải đợi đến ưa thích cái gì mới biết được điều này. Khi có cảm thọ sân thì mình biết có cảm thọ sân, khi mình biết có cảm thọ tham, ham thích thì mình biết, không cần phải đợi có điều kiện nào đó mới biết được điều này.
-- Có phải các pháp này, do thấy chúng với trí tuệ nên được hiểu biết?
-- Thưa phải, bạch Thế Tôn. (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (e), V. Mới Và Cũ, VIII. Có Pháp Môn Nào?)
Do có trí tuệ nhìn thấy nên mình biết có tham sân si hay không có tham sân si, chỉ cần có trí tuệ nhìn thấy mình sẽ biết. Như vậy Đức Phật muốn nói điều gì? Không phải trên sự tin tưởng, đặt lòng tin vào ai ở bên ngoài, không phải ở chỗ biện luận, lý lẽ, cũng không phải ở chỗ suy tư, tìm kiếm cách thức nào đó mà là do thấy với trí tuệ nên được hiểu biết. Khi ăn cơm có tham dục thì mình có biết không? Khi ăn cơm không có tham dục thì có biết không? Khi ngủ mà chuông báo thức reng lên nếu mình thức ngay thì mình có biết không? Nếu nó reng rồi mà mình muốn nằm thêm thì mình có biết không? Đó là cái biết bằng trí tuệ, sau khi biết bằng trí tuệ thì đoạn trừ những cái cần đoạn trừ. Ác bất thiện pháp, tham sân si, vô minh và bản ngã cần phải được đoạn trừ, những thiện pháp cần được phát huy, những sự tác ý "không phải là tôi", "không phải của tôi" cần phải được tác ý liên tục, hễ nghĩ cái nào là tôi, là của tôi thì dẹp suy nghĩ đó ngay lập tức, hằng ngày cần dọn dẹp những suy nghĩ đó liên tục như quét rác, làm cho đến khi nào nó không còn khống chế nội tâm mình nữa. Điều này dễ hay khó? Hằng ngày cần nhìn tham sân si để nhiếp phục, đoạn tận nó, nhất là tham ái đối với cuộc đời, thân xác, hoàn cảnh này cần phải nhàm chán, xuất ly. Hình ảnh các sư cô ngồi một mình chỗ bãi đất trống là con gái cưng của Đức Phật, lấy sự viễn ly, từ bỏ, nhiếp phục dục tham làm hạnh phúc, lấy sự diệt tận sân si, bản ngã làm hạnh phúc, làm sự chiến thắng, thành công. Đó là sự oai hùng của người xuất gia, ngồi một mình ở bãi đất trống, trong ngôi nhà trống, trong tịnh thất, đỉnh núi mà có thể tự mình nhìn thấy các lậu hoặc, nhiếp phục nó trên con đường đi đến sự đoạn tận. Đó là phước lành, đó là công đức, đó là hy hữu, hiếm có khó tìm, thù thắng tối thượng.
Sau khi ngồi xuống, Tỳ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
-- "Vị thuyết pháp, vị thuyết pháp", bạch Thế Tôn, như vậy được nói đến. Cho đến như thế nào, được gọi là vị thuyết pháp?
-- Nếu Tỳ-kheo thuyết pháp về sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với sắc; như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỳ-kheo thuyết pháp. Nếu Tỳ-kheo đi vào thực hành sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với sắc; như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỳ-kheo thực hành pháp tùy pháp. Nếu Tỳ-kheo do nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với sắc, được giải thoát, không có chấp thủ; như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỳ-kheo đã đạt được Niết-bàn ngay trong hiện tại.
Nếu Tỳ-kheo đối với thọ... Nếu Tỳ-kheo đối với tưởng... Nếu Tỳ-kheo đối với các hành...
Nếu Tỳ-kheo thuyết pháp về sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với thức; như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỳ-kheo thuyết pháp. Nếu Tỳ-kheo đi vào thực hành sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với thức; như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỳ-kheo thực hành pháp tùy pháp. Nếu Tỳ-kheo do nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với thức, được giải thoát không có chấp thủ; như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỳ-kheo đã đạt được Niết-bàn ngay trong hiện tại. (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (g), C. Năm Mươi Kinh Sau, II. Phẩm Thuyết Pháp, III. Vị Thuyết Pháp)
Bây giờ đi đâu để tìm ra được cái Pháp này để nghe? Mình đang thực tập nhàm chán, ly tham đối với mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, đối với sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp, đối với đời sống, cảm giác, nghĩ tưởng trong tâm. Trong bất kì lúc nào cũng tác ý nhàm chán, bất tịnh, ly tham, từ bỏ, tác ý hoài thì chắc chắn sẽ dọn sạch được rác bẩn trong nội tâm. Nếu không tu tập theo dòng Pháp này thì đi đâu dính đó, làm gì chấp nấy, thấy nghe cái gì là bắt chụp cái đó. Ví dụ khi xây cất nhà mới được người ta khen kiến trúc đẹp quá, đặc biệt quá thì thọ trong lòng mình hoan hỉ, an trú, đắm trước. Con làm xong thì nghĩ bàn thờ của mình nằm trong nhà đó nên không có gì hoan hỉ, thích thú, chẳng qua làm thì làm để chia sẻ Pháp. Trước khi làm cũng phải đầu tư, suy nghĩ nên làm xong được khen như thế nào mình biết thế nấy nhưng trong lòng không để tham ái, dính mắc, tác ý theo bài học "Chớ có nghĩ đến căn nhà đó, chớ có nghĩ trong căn nhà đó, chớ có nghĩ ở nơi căn nhà đó, chớ có nghĩ căn nhà đó là của tôi" mà chấm dứt, xuất ly, khi tác ý như vậy mà lỡ căn nhà đó có gì thì mình cũng không đau khổ. Con có suy nghĩ lỡ như ngọn lửa phựt lên thì tất cả thành đống tro tàn nên không có gì để hân hoan, thích thú trong đó, không có gì để thỏa mãn, tự mãn trong đó. Trong đống hữu vi này có gì trong này để lạc thú trong đây? Không có một cái gì trong năm uẩn này thật sự có lạc, có hạnh phúc trong đó cho nên mình tu để xuất ly khỏi năm uẩn chứ nếu có hạnh phúc thật sự thì đi ra khỏi nó làm gì? Tất cả các hành là khổ, tất cả sự vận hành của năm uẩn đều là khổ đau, vì thế nếu người tu an trú được trong Pháp sẽ thấy không còn cảm giác sôi nổi, hân hoan, thích thú, an trú trong năm uẩn, đối với tất cả mọi chuyện đều tập như thế như Đức Phật đã nói do không nghĩ đến nên không chấp thủ một vật gì ở đời. Do không chấp thủ, vị ấy không có dao động (paritassati). Do không dao động, vị ấy tự mình tịch tịnh một cách hoàn toàn.
Tại sao không nghĩ đến vật gì không có nghĩa là yên lặng, không suy nghĩ? Mà là khi nghĩ đến bất kì cái gì là của mình thì lập tức tác ý đuổi trừ nó, dùng vô thường, khổ, vô ngã tác ý ngược trở lại. Đại chúng cần sẵn sàng lúc nào mình cũng có thể ra đi, nhất là những người lớn tuổi và bệnh nặng, khi đó cần phải an trú vào phép quán từ bỏ, xả ly ngũ uẩn lập tức "Cái đồ nhàm chán, bất tịnh này. Chiếc xe chạy gần 80 năm rồi nên cần từ bỏ, chấm dứt", không có bất cứ thứ gì trong mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý cần đáng để lưu luyến, cần tác ý câu này liên tục "các cảm giác này sẽ đi đến lắng dịu tịch tịnh hoàn toàn". Thật chất con phải ở một mình trên đỉnh cô phong, hoặc ly trần đảo mới thỏa chí bình sinh nhưng cũng không còn lâu, đại chúng hãy cố gắng tinh tấn tu học vì con đang ở trong trạng thái viễn ly, từ bỏ rất sung mãn, con trú trong trạng thái này rất lâu, những điều mình làm ra chỉ là sân si, bản ngã nên thấy rất mệt, không muốn làm nữa. Công việc quan trọng của bản thân vẫn chưa hoàn thành, công việc chính yếu lại không lo nhiều, không để ý nhiều, mình không biết rằng tai nạn, hiểm họa đang rình rập từng giờ từng phút. Hôm nay chúng ta học tác ý sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu xúc, sáu thọ, tác ý không có tôi và của tôi, hướng đến sự nhàm chán, ly tham, chấm dứt, từ bỏ.
Sư Phụ: Thầy Pháp Nghĩa có cảm nhận gì trong lời Đức Phật dạy ngày hôm nay?
Thầy Pháp Nghĩa: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Kính bạch sư phụ, kính thưa thầy Pháp An, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng. Cảm nhận của con về bài Pháp hôm nay khi sư phụ chia sẻ, con thấy có sự chấp trước của mình với sáu căn này rất lớn, con nhìn nhận lại trong quá trình tu học và làm việc còn chấp vào cái của mình, mình làm được và người khác không làm được. Khi trong công việc mình làm mà người khác không theo ý muốn của mình là cảm thọ khó chịu khởi lên, không an trú vào Pháp mà chạy theo cảnh trần bên ngoài, bám chấp vào công việc nên không tu tập nhàm chán, ly tham, từ bỏ. Ngay cả khi mình làm sai được người khác chỉ bảo thì cũng khởi lên tâm khó chịu, điều đó cho thấy sự tu tập nhận diện nơi tự thân còn yếu kém, luôn nghĩ mình đúng, mình là tất cả. Qua những lời chia sẻ của sư phụ con mới thấm thế nào là không phải là tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi. Những chữ rất đơn giản nhưng hàm ý rất sâu sắc, nó đánh vào tất cả mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý của chính mình, nếu không có sự xuất ly mà bám chấp vào đó thì e rằng sự tu sẽ uổng phí, mục tiêu đề ra không có kết quả. Mặc dù nghe sư phụ giảng Tương Ưng Sáu Xứ rất nhiều nhưng mỗi lần nghe đều có cảm nhận khác nhau, nếu không có sự chỉ dẫn của sư phụ không thể cảm nhận được hết ý nghĩa Đức Phật gửi gắm trong đó. Những ngày qua con nói sư cô chiêm nghiệm, nhìn nhận lại tự thân trong khi đi, đứng, nằm, ngồi, những khi an trú vào Pháp rất an lạc còn mỗi khi chạy theo cảnh sắc bên ngoài thì nhìn lại thật xấu hổ, chỉ những cái nhiếp phục nhỏ nơi tự thân khi có Pháp thật hoan hỉ còn không hôm đó mình chưa làm được hoặc bị nó dẫn dắt thì con thấy hôm đó mình đã lừa dối, làm mất thời gian tu học. Đó là cảm nhận của con trong bài Pháp hôm nay. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư Phụ: Cô Hạnh Trí có chia sẻ gì không?
Cô Hạnh Trí: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch trên sư phụ, con kính thưa quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng. Bài Pháp hôm nay thật là sâu sắc, thật là tuyệt vời, con vô cùng tri ân sư phụ đã có những lời giảng dạy rất rõ ràng, chỉ ra những cái nếu không có chánh tri kiến để giảng giải thì khi đọc đại tạng kinh sẽ không hiểu hết ý Đức Phật chỉ dạy, chính vì vậy mà cho dù mỗi ngày có quán nhàm chán vẫn không đủ mạnh để từ bỏ như sư phụ ví dụ lúc đầu, khi muốn bỏ cái bàn thì nhiều lúc chỉ bỏ trên tưởng và hành hoặc lời nói nhưng chưa đập nhỏ, đốt nó nên cái ái còn dính mắc. Trong ba mươi hai thể trược này khi sư phụ nói đến đâu thì con tác ý đến đó, khi nhàm chán mắt, nhàm chán trong con mắt, nhàm chán máu thịt trong con mắt… từng phần như vậy tác ý đến đâu thì con mới thấy rõ, lâu nay con còn thiếu sót rất nhiều chưa tác ý nhàm chán hoàn toàn tâm tứ đại, vô thường, tạm bợ này. Trong con có cảm giác nhàm chán nhưng cũng có cảm giác hoan hỉ vì nghe được lời Thánh pháp của bậc thiện tri thức, của Đức Phật giảng dạy. Khi tác ý thì những cái tưởng con mắt, ghèn, máu mủ, gân, từng bộ phận hiện lên và thật là nhàm chán và ý hành khởi lên phải làm sao chuyên chú được trong ý hành này, không được để mất, tác ý liên tục thì mới đủ sức nhàm chán và từ bỏ nó được. Trong thân xác tứ đại và trong cuộc sống này khi sáu căn tiếp xúc sáu trần sinh ra sáu thức, nếu không an trú và không tác ý nhàm chán thì khi có xúc sẽ bị dính mắc. Khi sư phụ đang hướng dẫn thì có con muỗi đậu trên mặt, nhờ sự xúc chạm thực tế con mới thấy do có xúc và phản xạ đuổi muỗi nhưng khi có tác ý thì rất màu nhiệm, thấy sự diễn biến của duyên sanh, do sự xúc chạm của con muỗi vào da, nó bò lên tai, chui vào tai làm nhột, con nhìn cảm giác đang diễn ra và con tác ý nhàm chán "đây là cảm giác do duyên sanh và từ bỏ cảm giác này", một ví dụ đơn giản nhưng con thấy rất hay, khi nhàm chán và từ bỏ cảm thọ đó thì trở nên mát lạnh, rõ ràng cảm giác rất vô thường nhưng sao lâu nay mình lại dính mắc vào nó, khi đau thì sợ hãi mà khi vui thì lại dính mắc. Thật là vi diệu! Một thánh Pháp rất thực tế, không cần lý luận, suy nghĩ mà nhìn thẳng vào cảm giác sẽ thấy rõ sự diễn biến của tham sân si, nếu liên tục an trú trong Pháp, liên tiếp thấy nhàm chán thì chắc chắn khi bỏ thân xác tứ đại này sẽ không trở lại để dính mắc hay tái sanh một đời nào nữa. Vì rõ ràng thân xác ngũ uẩn tứ đại này là vô thường, là duyên sanh, tạm bợ, bệnh hoạn, ốm đau, bại hại, vô ngã, không có gì để dính mắc vào thân xác hay cuộc đời này. Con xin thành tâm phát nguyện sẽ an trú trong Pháp hành vi diệu và tuyệt vời này, con vô cùng tri ân sư phụ và đại chúng, mong sư phụ, quý thầy, quý sư cô và đại chúng yểm trợ cho con để con có thêm sức mạnh từ bỏ thân xác này, không còn dính mắc bất cứ thứ gì trên cuộc đời này. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư Phụ: Nguyên Luận.
Sư cô Nguyên Luận: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Kính bạch trên sư phụ, kính thưa quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng. Trong bài Pháp thoại của sư phụ hôm nay là cơ hội để con vừa nghe vừa thực tập, kiểm soát, thấy rõ sư phụ chỉ điểm các vấn đề tu học, nhìn lại rất rõ trí tuệ nhìn thẳng vào tưởng, hành, làm sao thọ sanh khởi để nhàm chán, ly tham đối với thân bất tịnh này. Thứ hai khi sư phụ nhắc đến hình ảnh các sư cô ở bãi đất trống, mặc dù con là người chụp hình nhưng khi sư phụ nhắc lại con vẫn có sự xúc động trong cảm thọ vì hình ảnh đó rất đẹp khi các vị yên tĩnh tiến tu và rất hiếm để thấy được hình ảnh đó. Trong suốt thời gian gần gũi các huynh đệ và Ni xá thì con thấy ai cũng tinh tấn tu tập, ai cũng hoan hỉ, hình ảnh các Phật tử học bài, các vị ngồi thiền ở mỏm đá và những hình ảnh khi các vị vừa nghe Pháp có cảm thọ là đi ngồi thiền không ăn sáng, khi sư phụ nhắc lại những hình ảnh đó thì tưởng, hành con hiện khởi lại, có sự xúc động, hình ảnh rất đẹp ở rừng thiền Linh Quy. Nhìn lại con thấy mình chưa nỗ lực hết mình như quay phim, khi thức dậy vẫn còn ái luyến trong việc ngủ, vẫn còn lưỡng lự nên đứng dậy hay không, khi sinh hoạt vẫn còn nhiều lậu hoặc. Thứ ba khi con nhìn sư phụ lúc nào cũng thấy người mãnh liệt và hạnh phúc trong tu tập, dù mặc Phật sự của sư phục rất nhiều, sư phụ vừa đi dạy vừa giảng Pháp trực tuyến cho đại chúng, kể cả bây giờ sư phụ vẫn có niềm hạnh phúc trong Chánh pháp, ngày càng thăng tiến thì đó là động lực cho con và đại chúng, thật sự mỗi ngày được tu tập, được tiếp xúc với thiện Pháp thì chúng con rất hạnh phúc và cần nỗ lực hơn nữa. Con còn nhiều tập khí tham ăn, tham ngủ, ham chơi nên mong sư phụ và đại chúng hoan hỉ chỉ dạy, nhắc nhở cho con để thăng tiến trên con đường tu học. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con thành kính tri ân sư phụ, quý thầy, quý sư cô và đại chúng.
./.
Thích Minh Thành
Kính thưa quý thầy, quý sư cô và đại chúng. Chúng ta tu học sẽ càng ngày được sáng tỏ chánh kiến nhiều hơn. Mình sẽ rất bất ngờ nếu tu học không đúng thì không bao giờ giải thoát được, con càng hiểu thì càng kính Đức Phật, càng kính Đức Phật thì càng hiểu Đức Phật. Con càng nghe, càng nghiệm và quán chiếu trong Tương Ưng Sáu Xứ thì càng ngày phấn chấn, càng tỏ sáng chánh kiến, càng thấy rõ đạo lộ. Tại sao mình tu muốn bỏ mà bỏ không được? Rất muốn bỏ dục, tham, ái nhưng bỏ không được hoặc rất muốn bỏ sân hận mà vẫn không làm được, mình cũng tha thiết, chân thành muốn bỏ bản ngã mà có khi nó lại ngấm ngầm tăng trưởng, phát triển lớn mạnh. Vì do cách bỏ của mình chưa đúng phương pháp, trong Tương Ưng Sáu Xứ dạy chúng ta tất cả mọi phương diện, khía cạnh, góc độ để đưa đến sự nhàm chán, ly tham, từ bỏ rất đầy đủ. Cho nên càng nghe, càng chiêm nghiệm, càng nhìn lại thân tâm thì càng phải dập đầu lạy Đức Phật, mình không thể nhìn thấy đỉnh đầu của Đức Phật ở đâu, trí huệ của Đức Phật cao đến cỡ nào, sự chứng ngộ của Đức Phật rộng đến mức độ nào, đó gọi là vô kiến đảnh tướng. Ví dụ mình nói muốn bỏ cái bàn vậy mà nghĩ tới nghĩ lui lại thấy tiếc, nghĩ qua nghĩ lại cuối cùng quyết định đem bỏ nhưng có khi lại đổi ý đi ra đem nó về lại để dùng. Còn cái bỏ của Đức Phật dạy mình là mở ra từng lớp, chặt từng thanh gỗ thành đống cây vụn chứ không phải lấy búa đập vài cái rồi bỏ thì cái đó vẫn có thể sửa lại để dùng, mà phải mở ra từng cái nẹp, chặt nó, thả xuống sông hoặc cho gió thổi bay đi hết, đó gọi là diệt tận, đoạn tận. Cuốn vở này muốn bỏ thì phải xé nát từng trang, sau đó đốt thành tro rồi đổ xuống sông, xuống biển hoặc cho gió thổi bay trong hư không, đó là cách diệt tận của Đức Phật dạy người tu.
Này Ananda, ví như một cây lớn, rồi có người đi đến, cầm cái cuốc và cái giỏ. Người ấy chặt đứt rễ cây ấy. Sau khi chặt đứt rễ, người ấy đào một cái mương. Sau khi đào mương, người ấy nhổ lên các rễ lớn cho đến các rễ con, rễ phụ.
Người ấy chặt cây ấy ra từng khúc. Sau khi chặt ra từng khúc, người ấy bửa. Sau khi bửa, người ấy chẻ ra từng miếng nhỏ. Sau khi chẻ ra từng miếng nhỏ, người ấy phơi giữa gió và nắng. Sau khi phơi giữa gió và nắng, người ấy lấy lửa đốt. Sau khi lấy lửa đốt, người ấy vun lại thành đống tro. Sau khi vun lại thành đống tro, hoặc người ấy sàng trong gió lớn hay đổ vào dòng nước chảy mạnh để nước cuốn đi. Như vậy, này Ananda, cây lớn ấy sẽ bị chặt đứt, làm thành như cây ta-la, không thể nào tái sanh, không thể sanh khởi lại trong tương lai. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (b), VI. Phẩm Cây, X. Nhân)
Làm theo cách này thì không còn gì có thể sanh khởi trở lại được nữa vì nếu đã bỏ mà chưa diệt tận thì nó vẫn có khả năng trỗi dậy, cái bỏ của mình chỉ là bỏ trên ý nghĩ nên nó không đủ sức mạnh chống cự lại khi nó sanh khởi trở lại. Ví dụ muốn bỏ chiếc xe thì phải tháo gỡ từng bộ phận từ con ốc, bình xăng, căm xe, bánh xe… rồi đập cho tan nát, đốt cháy rồi đổ xuống sông xuống biển thì mới gọi là diệt tận. Đức Phật dạy mình sáu ái, sáu tầm, sáu tứ, sáu xúc, sáu thọ, sáu trần, sáu thức, sáu căn, sáu tưởng, sáu tư tức là Đức Phật đang dạy mình tháo mở ra từng bộ phận, chi tiết của cây tre, chiếc xe… và mỗi một cái là ái trong đó và phải diệt nó. Chúng ta thấy trí huệ của Đức Phật khủng khiếp không? Khi chúng ta không liễu tri, thắng tri, tuệ tri, không thấu suốt tất cả bộ phận, thành phần, cấu tạo, hoạt động của nó thì làm sao mình có thể diệt được nó hoàn toàn triệt để? Mình không biết sắc tập khởi, sắc đoạn diệt, mình không biết thọ; tưởng; hành; thức tại sao sanh ra, nó gồm những thứ gì kết hợp thành, nó vận hành thế nào, tham dục ái trong đó ra sao, sân vi, bản ngã, vô minh chế ngự, hành hạ ra sao, sự nguy hiểm tác hại thế nào mình đều không thấy không biết thì làm sao mình bỏ được? Tại sao chương Tương Ưng Sáu Xứ đến mấy trăm bài kinh? Mình phải hiểu cái gì quan trọng thì Đức Phật sẽ nói rất nhiều khía cạnh, chỉ khổ luyện một bộ Tương Ưng Bộ này thôi là thành tựu, đạt đến Thánh quả thứ tư, thâm nhập đầy đủ chỉ riêng bộ kinh này thôi là trở thành Thánh quả A-la-hán, diệt tận tất cả tham sân si, vô minh, bản ngã. Ngày xưa mình vô minh, bản ngã mà không biết, đọc kinh chỉ thấy sao có nhiều thứ quá, thân mình lại chia ra ba mươi hai thể trược thì thứ gì trong đó cũng ái được hết, nếu không phá được ái thì làm sao xuất ly được? Tức là đưa đến sự chấm dứt hoàn toàn, không còn yêu thích bất kì cái gì trong ba mươi hai thể trược đó thì vĩnh viễn đời sau không còn mang cái thân bất tịnh, đau ốm, bệnh tật nữa thì mới đi đến chỗ diệt tận, chấm dứt không còn sanh khởi trở lại trong tương lai. Chỗ này cực kì thâm thúy, dù cho tu đến chết mà không được học, không có người hướng dẫn, chia sẻ thì trong tỷ kiếp nữa vẫn không thể giải thoát. Trong ba mươi hai thể trược đó bộ phận nào mình cũng ái, cũng tham dục.
Ái nhiễm, này các Tỳ-kheo, là bệnh tật; ái nhiễm là mụt nhọt; ái nhiễm là mũi tên. Do vậy, này các Tỳ-kheo, Như Lai sống không ái nhiễm, không bị mũi tên làm bị thương.
Do vậy, này các Tỳ-kheo, nếu Tỳ-kheo có ước vọng gì, hãy ước sống không ái nhiễm, không bị mũi tên làm bị thương.
Chớ có nghĩ đến mắt, chớ có nghĩ đến trong mắt, chớ có nghĩ đến từ mắt, chớ có nghĩ đến: "Mắt là của tôi". Chớ có nghĩ đến các sắc, chớ có nghĩ đến trong các sắc, chớ có nghĩ đến từ các sắc, chớ có nghĩ đến: "Các sắc là của tôi". Chớ có nghĩ đến nhãn thức, chớ có nghĩ đến trong nhãn thức, chớ có nghĩ đến từ nhãn thức, chớ có nghĩ đến: "Nhãn thức là của tôi". Chớ có nghĩ đến nhãn xúc, chớ có nghĩ đến trong nhãn xúc, chớ có nghĩ đến từ nhãn xúc, chớ có nghĩ đến: "Nhãn xúc là của tôi". Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; chớ có nghĩ đến cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến trong cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến từ cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến: "Cảm thọ ấy là tôi". (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (b), Phần Hai - Năm Mươi Kinh Thứ Hai, IV. Phẩm Channa, VII. Ái Nhiễm)
Những điều này như gỡ ra từng bộ phận chiếc xe như chiếc xe thì gỡ từng cọng căm, niềng xe, bánh xe, vỏ xe. Tháo gỡ suy nghĩ con mắt này là tôi, là của tôi, khi nhìn vào gương thấy con mắt thì chớ dính mắc, tham ái, chấp thủ vào con mắt đó, phải tác ý "Mắt này do đất, nước, gió, lửa hợp thành. Máu này là máu, gân nên nó bất tịnh, bệnh hoạn", tác ý nhàm chán con mắt, không tham muốn đối với con mắt, không muốn tiếp tục mà từ bỏ đối với con mắt, đó là đem từng chi tiết ra đập nát còn nếu chỉ nói đơn giản "nhàm chán thân do thân vô thường" thì không đủ sức, không đầy đủ trí tuệ, không đầy đủ khía cạnh góc độ của dục tham ái trong thân xác này. Chớ có nghĩ đến con mắt này là của tôi, con mắt này là cục thịt, cục máu, cục gân dơ bẩn, bệnh hoạn, khổ đau, luyến ái, bám chấp, ràng buộc. Quán nhàm chán, quán không tham muốn, quán từ bỏ đối với con mắt này, quán con mắt này không phải là của tôi, đau khổ khi có con mắt này. Sự sanh khởi, chỉ trướng, xuất hiện của con mắt này là sự sanh khởi, chỉ trướng, xuất hiện của khổ đau. Tật bệnh sanh khởi, già chết sanh khởi, tai họa sanh khởi, sầu; bi; khổ; ưu; não sanh khởi là đồng nghĩa với sự sanh khởi của con mắt này. Hãy nhàm chán, ly tham, chấm dứt, từ bỏ mỗi khi suy nghĩ về con mắt, đừng suy nghĩ yêu thích, hài lòng, thỏa mãn trong đó. Sự an trú, sanh khởi của con mắt này là sự an trú, sanh khởi của khổ đau, tật bệnh, già chết, nước mắt, sầu bi. Chớ có tham đắm, yêu thích, mê muội, si ám, hài lòng, tự mãn, ái luyến trong con mắt này mà hãy ghê sợ, ly tham, chấm dứt trong suy nghĩ để hướng đến sự từ bỏ. Con mắt này không phải là tôi, không phải của tôi. Chớ có nghĩ đến các sắc, chớ có nghĩ đến trong các sắc, chớ có nghĩ đến từ các sắc, chớ có nghĩ đến: "Các sắc là của tôi". Chớ có suy nghĩ đến tài sản, đồ vật mình đang sở hữu, nó là ung nhọt, vô thường, tan hoại, các sắc pháp, vật chất này là bệnh tật, là mũi tên tẩm độc, là hố than hừng, là ghẻ lở, nó là tên sát nhân. Tất cả mọi sắc Pháp trên đời này là ung hạch, ung thu, là người lạ, bệnh hoạn, đau khổ, cùi hủi… Tháo gỡ ra để đi đến chỗ hoàn toàn diệt tận, để đi đến chỗ ly tham tất cả sắc. Chớ có nghĩ đến nhãn thức, chớ có nghĩ đến trong nhãn thức, chớ có nghĩ đến từ nhãn thức, chớ có nghĩ đến: "Nhãn thức là của tôi". Chớ có nghĩ đến sự rõ biết các sắc này, mở ra từng bộ phận để phá hủy hoàn toàn lòng dục, lòng tham, lòng khao khát, chấp thủ. Chớ có nghĩ đến nhãn xúc, chớ có nghĩ đến trong nhãn xúc, chớ có nghĩ đến từ nhãn xúc, chớ có nghĩ đến: "Nhãn xúc là của tôi". Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; chớ có nghĩ đến cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến trong cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến từ cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến: "Cảm thọ ấy là tôi". Khi con mắt tiếp xúc mà sanh khởi ra cảm giác vui, khổ hay thường thường thì đừng nghĩ những cảm giác đó là mình, dù cho cảm giác vui sanh khởi thì quán chiếu nó là vô thường, nhàm chán, mình muốn từ bỏ để thoát ra, suy nghĩ hướng đến sự xuất ly. Suy nghĩ lạc thọ này vô thường, không đáng để hoan hỉ, chấp trước với ý niệm thoát ly, dù cho có cảm thọ gì đi nữa cũng phải nhớ đến ý niệm nhàm chán, ly tham đối với cảm thọ đó, muốn chấm dứt, từ bỏ để thoát ra. Đó là mình đang tháo gỡ từng bộ phận trong hệ thống máy để tạo thành động cơ, do dục ái tham, hỷ ái trong thọ nên mới khởi động ra dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu. Khi cảm thọ đến tận cùng sức chịu đựng thì quán chiếu cảm thọ này đi đến chỗ chấm dứt hoàn toàn và quán từ bỏ tất cả các cảm thọ.
Khi vị ấy cảm thọ một cảm thọ cùng tận sức chịu đựng của thân, vị ấy tuệ tri: "Ta đang cảm thọ một cảm thọ cùng tận đến sức chịu đựng của thân". Khi vị ấy cảm thọ một cảm thọ cùng tận chịu đựng của sinh mạng, vị ấy tuệ tri: "Ta đang cảm thọ một cảm thọ cùng tận đến sức chịu đựng của sinh mạng". Vị ấy tuệ tri rằng: "Sau khi thân hoại mạng chung, ở đây, một cảm thọ cảm giác không có gì đáng hoan hỉ, sẽ đi đến lắng dịu". (Tương Ưng Bộ, Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một – Phẩm Có Kệ, VII. Tật Bệnh)
Chưa từng thấy, chưa từng nghe, chưa từng hiểu trí huệ vượt tầm thế giới, pháp giới như vầy, chưa từng có người thứ hai được như vậy. Làm sao chúng sanh vô văn phàm phu có thể nhìn ra được cái này?
Chớ có nghĩ đến cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến trong cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến từ cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến: "Cảm thọ ấy là của ta". (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (b), Phần Hai - Năm Mươi Kinh Thứ Hai, IV. Phẩm Channa, VII. Ái Nhiễm)
Thọ này do duyên tiếp xúc mà sanh khởi ra, nếu không tiếp xúc thì không sanh khởi ra cảm thọ này. Chấm dứt, tan biến thành hư không đi, hoàn toàn lắng dịu và tịch tịnh đi, trở về trạng thái trầm mặc.
Chớ có nghĩ đến tai... Chớ có nghĩ đến mũi...
Chớ có nghĩ đến lưỡi... Chớ có nghĩ đến thân... (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (b), Phần Hai - Năm Mươi Kinh Thứ Hai, IV. Phẩm Channa, VII. Ái Nhiễm)
Chớ có nghĩ đến mũi, chớ có nghĩ đến trong lỗ mũi ấy, chớ có nghĩ đến từ mũi ấy, chớ có nghĩ đến: "Lỗ mũi này là của tôi". Mũi này là máu, da, thịt, là tứ đại bất tịnh, dơ bẩn, là vô thường, phiền não, khổ đau. Hãy nhàm chán đối với nó, nhàm chán cơ sở, căn cứ để làm ra dục tham ái, thân này là nơi trú ẩn của dục tham ái, là nơi chấp thủ, chấp ngã hình thành. Hãy phá vỡ hang ổ này trong ý nghĩa, phá vỡ hoàn toàn sự tham đắm và chấp thủ trong sào huyệt này.
Chớ có nghĩ đến các mùi, chớ có nghĩ đến trong các mùi, chớ có nghĩ đến từ nơi các mùi, chớ có nghĩ đến: "Mùi đó là của tôi". Chớ có nghĩ đến sự rõ biết các mùi, chớ có nghĩ đến trong sự rõ biết các mùi, chớ có nghĩ từ nơi rõ biết các mùi, chớ có nghĩ đến: "Sự rõ biết các mùi đó là tôi, là của tôi". Hãy nhàm chán nó, ly tham đối với nó, nghĩ đến chấm dứt nó để hướng đến từ bỏ.
Khi mũi tiếp xúc sanh ra cảm thọ gì, những cảm giác thích, không thích, không thích cũng không ghét đối với cảm thọ đó thì hãy nhàm chán, không tham muốn, chỉ muốn đi đến sự chấm dứt, đi đến sự từ bỏ.
Chớ có nghĩ đến lưỡi, chớ có nghĩ đến trong cái lưỡi này, chớ có nghĩ đến từ cái lưỡi có gì trong đây để rồi say mê, tham thích, chớ có nghĩ đến: "Lưỡi này là của tôi". Lưỡi này mà miếng thịt, là bệnh tật, ung nhọt, mũi tên. Cái lưỡi này tạo ra biết bao sự ác nghiệp, nói dối, nói thiêu dệt, nói lời hung ác, nói thêm thắt, phù phiếm vô nghĩa, vô ích. Đừng nghĩ cái lưỡi này là của tôi. Chớ có nghĩ đến các vị, chớ có nghĩ đến trong các vị ấy, chớ có nghĩ đến từ nơi các vị ấy, chớ có nghĩ đến: "Các vị này là của tôi". Chớ có nghĩ đến sự rõ biết các vị, khi lưỡi này tiếp xúc sanh ra cảm giác ưa, ghét, không ưa không ghét thì hãy nhàm chán những cảm giác đó, không tham muốn cảm giác đó, muốn chấm dứt, muốn đi đến sự từ bỏ. Thánh trí huệ của Đức Phật phá tan tất cả những cơ cấu vận hành, hoạt động của sáu căn, sáu trần, sáu ái, sáu thức, sáu thọ, sáu xúc. Từ trong những cái nhỏ nhiệm nhất đều được Thánh trí huệ soi sáng và phá vỡ tất cả, như vậy mới đi đến chỗ ly tham giải thoát chứ không phải chỉ nói trên miệng rồi tu ngàn kiếp vẫn ở trong vô minh và tham ái. Hãy nhìn thấy khi các Pháp vận hành, sanh khởi, an trú, xâm chiếm, áp đảo thân tâm rồi hãy nhàm chán nó.
Chớ có nghĩ đến thân, chớ có nghĩ đến trong thân này, chớ có nghĩ đến từ nơi thân này, chớ có nghĩ đến: "Thân này là của tôi". Đống thịt mấy chục kí lô này là sào huyệt của dục vọng, khát ái, của sự thèm muốn, khao khát, thiếu thốn và nô lệ. Đống thịt này lúc nào cũng khao khát, thèm muốn, tìm kiếm rồi bệnh hoạn, phiền não. Thấp kém và hèn hạ là thân xác này mà mình tham đắm, ái nhiễm trong này thì đó là tật bệnh, ung nhọt, mũi tên. Đừng nghĩ về nó, đừng nghĩ từ nơi nó, đừng nghĩ nó là mình, tác ý nhàm chán, ly tham, chấm dứt và từ bỏ. Chúng ta dùng Như lý tác ý để sanh khởi cảm giác nhàm chán, chúng ta có những pháp quán chiếu về ba mươi hai thể trược, chín giai đoạn tử thi thì sự tu tập đều vận dụng năm uẩn nhất tề tấn công vào dục ái đối với sáu căn này, còn lúc trước chúng ta chỉ suy nghĩ một chút về ý hành, nói trên miệng và có thêm một chút thân hành chứ chúng ta không có cảm giác nhàm chán, từ bỏ, chấm dứt cho nên chúng ta không thể từ bỏ triệt để, không đi đến kết quả thực sự, chán một chút rồi cũng khoái, cũng mê lại còn cái này đưa đến nhất hướng nhàm chán, ly tham. Chúng ta nghĩ rằng những Pháp tu như vầy, trí huệ như vầy, những lời dạy như vầy thì ngoài Đức Phật ra thì ai có thể dạy cho chúng ta được? Có thể có một người thứ hai trên Trái Đất này không? Chúng ta đang thực tập nuôi dưỡng sự nhàm chán, từ bỏ. Nếu không tu tập, quán chiếu, không tăng trưởng những cảm thọ, suy nghĩ, nhận thức này thì làm sao chúng ta có thể ly tham được? Làm sao chúng ta có thể đi đến từ bỏ một cách rốt ráo, triệt để được?
Chớ có nghĩ đến sự xúc chạm, chớ có nghĩ đến trong sự xúc chạm ấy, chớ có nghĩ đến từ sự xúc chạm ấy, chớ có nghĩ đến: "Sự xúc chạm này là của tôi". Chớ có nghĩ đến sự rõ biết sự đụng chạm đó, khi thân tiếp xúc sanh ra cảm thọ thích thú, ghét bỏ, không thích không ghét thì đừng nghĩ đến những cảm thọ đó là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Chớ có nghĩ đến cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến ở trong cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến từ nơi cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến cảm thọ ấy là tôi. Hãy nhàm chán, bao nhiêu ngàn lần cái dục cũng không thỏa mãn, vô lượng vô biên kiếp mình đã phục vụ cho cái ái dục, dâm dục, tham ái này. Nó bắt mình phải cung phụng cho nó, làm đầy tớ, nô lệ cho nó cho nên hãy nhàm chán những cảm giác đòi hỏi, thèm thuồng, khát khao, những cảm giác thiếu thốn, tìm kiếm. Phải có sự ly tham, muốn chấm dứt, hướng đến sự từ bỏ, làm cho cảm giác đó lắng dịu tịch tịnh.
Chớ có nghĩ đến ý, chớ có nghĩ đến trong ý, chớ có nghĩ đến từ ý, chớ có nghĩ đến: "Ý là của ta". Chớ có nghĩ đến các pháp, chớ có nghĩ đến trong các pháp, chớ có nghĩ đến từ các pháp, chớ có nghĩ đến: "Các pháp là của ta". Chớ có nghĩ đến ý thức, chớ có nghĩ đến trong ý thức, chớ có nghĩ đến từ ý thức, chớ có nghĩ đến: "Ý thức là của ta". (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (b), Phần Hai - Năm Mươi Kinh Thứ Hai, IV. Phẩm Channa, VII. Ái Nhiễm)
Mình để ý lại trong tâm mình những cảm giác, suy nghĩ sanh khởi lên những cảm thọ khổ, vui, không khổ không vui thì đừng nghĩ cảm thọ ấy là tôi, là của tôi
Chớ có nghĩ đến tất cả, chớ có nghĩ đến trong tất cả, chớ có nghĩ đến từ tất cả, chớ có nghĩ đến: "Tất cả là của tôi". (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (b), Phần Hai - Năm Mươi Kinh Thứ Hai, IV. Phẩm Channa, VII. Ái Nhiễm)
Có phải Chớ có nghĩ đến tất cả là không suy nghĩ gì hết phải không? Là tất cả những gì suy nghĩ sanh khởi lên thì mình đều từ bỏ, không ưa thích nó. Khi nó suy nghĩ về sáu căn, về thân xác thì mình không ưa thích trong suy nghĩ, không hoan hỉ, an trú trong suy nghĩ đó mà tác ý vô thường, khổ, vô ngã trong suy nghĩ đó. Khi có cảm giác sanh khởi lên thì không ưa thích, không chấp nhận, không an trú trong cảm giác đó mà mình hướng đến sự thoát ra. Còn không đọc kinh sẽ không hiểu, hiểu theo nghĩa không nghĩ gì hết là không phải mà phải hiểu là những suy nghĩ theo chiều dục tham ái, vô minh, nghĩ theo chiều tôi và của tôi thì mình đều từ bỏ nó, tác ý ly tham để thoát ra. Tất cả những suy nghĩ gì sanh khởi lên về ta, ngã sở, của ta, tự ngã của ta thì tất cả suy nghĩ đó đều từ bỏ, không chấp nhận nó, mình viễn ly, ly tham, chấm dứt, diệt tận nó như vậy gọi là Chớ có nghĩ đến tất cả. Ví dụ các sư cô bị mất cái đãi, lúc đó suy nghĩ thế nào? "Chớ có suy nghĩ túi đãi đó là của tôi. Nó là thứ vô thường, duyên sanh, tan hoại, bây giờ nó hết duyên với mình thì nó đi thôi", sau khi đã nghĩ thông suốt, từ bỏ suy nghĩ món đồ đó của mình thì lúc đó mình không còn sân, không còn tham tiếc. Chớ có nghĩ đến tất cả có ý nghĩa như vậy đó, đó là sự Như lý tác ý, chứ còn không nghĩ gì hết thì làm sao được? Đừng suy nghĩ là của tôi tức là phải hiểu ngược lại đó là suy nghĩ không phải của tôi, hãy thường xuyên tác ý "Những cái đó không phải là tôi, không phải của tôi". Mình ở bên Ni xá được 3 tháng, hôm nay có người mới đến lớn tuổi hạ hơn nên mình phải nhường chỗ thì tâm mình lúc đó ra sao? Mình có suy nghĩ chỗ đó là chỗ của tôi không? Phải nhớ lời dạy "Chớ có suy nghĩ đến chỗ ấy. Chớ có suy nghĩ ở trong chỗ ấy, chớ có suy nghĩ đến từ chỗ ấy, chớ có suy nghĩ đến chỗ ấy là của tôi", nếu làm được như vậy thì đâu còn phiền não. Khi mình làm sai bị thầy, bị sư huynh, các cô nhắc nhở thì mình nghĩ "Chớ có suy nghĩ đến sự la mình, chớ có suy nghĩ trong sự la mình, chớ có suy nghĩ ở nơi la mình, chớ có nghĩ cái la mắng đó là la mắng tôi", như vậy gọi là chớ có nghĩ đến: "Tất cả là của tôi", thì mình mới từ bỏ được tham sân si, bản ngã, còn nếu vẫn giữ suy nghĩ đó thì còn sân, còn bản ngã, hơn thua, đúng sai, nó cứ dằn co, chất chứa trong nội tâm lâu ngày sẽ có ngày bùng phát, đó gọi là chánh tư duy trong Bát Chánh Đạo. Ví dụ hôm nay nghe Pháp có người lạ đến ngồi chỗ của mình làm mình phải ngồi ở sau cùng trong khi mình là người lớn nhất thì lúc đó mình suy nghĩ gì? "Chớ có suy nghĩ đến chỗ ấy, chớ có nghĩ trong chỗ ấy, chớ có suy nghĩ từ nơi chỗ ấy, chớ có nghĩ chỗ ấy là của tôi". Như vậy Đức Phật dạy mình cách Như lý tác ý, ở đây mình diễn ngược lại "Mình còn không có thì làm gì có chỗ của mình", tác ý tiếp tục như vậy để loại bỏ suy nghĩ "người đó chiếm chỗ của mình", một khi trong tâm còn suy nghĩ "chỗ này là chỗ của mình, mình bị chiếm chỗ", mình chấp nhận và để nó trong tâm thì còn phiền não, chừng nào suy nghĩ này được loại trừ, đào thải, bứng hết gốc rễ thì lúc đó mới hết phiền não. Vì thế Như lý tác ý có tác dụng rất hiệu nghiệm, nên thường xuyên tác ý.
Vị ấy do không nghĩ đến nên không chấp thủ một vật gì ở đời. Do không chấp thủ, vị ấy không có dao động (paritassati). Do không dao động, vị ấy tự mình tịch tịnh một cách hoàn toàn. Vị ấy biết rõ: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa". (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (b), Phần Hai - Năm Mươi Kinh Thứ Hai, IV. Phẩm Channa, VII. Ái Nhiễm)
Do vị ấy nghĩ không có cái gì là của mình nên vị ấy không bị dính mắc, chấp thủ, nắm chặt vào bất cứ vật gì trên đời, đó cũng là nội dung bài kinh Niệm Xứ.
Như vậy, vị ấy sống quán thân trên nội thân hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên cả nội thân, ngoại thân; hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. "Có thân đây", vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy không nương tựa, không chấp trước vật gì trên đời. (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm xứ)
Khi Liên Trụ đau bệnh, nhức mỏi thì tác ý "Thân này không phải là tôi, không phải của tôi", "những cảm giác này không phải là tôi, không phải của tôi" để tách mình ra khỏi cảm thọ, còn không tác ý, tư duy, quán chiếu thì mình hướng đủ tất cả cảm thọ khổ ngoài ra còn những cái tưởng làm tưởng tượng nhiều thêm nữa nên bệnh nhẹ thành bệnh nặng, bệnh nặng lại còn nặng thêm, phải chịu những cảm giác rất đau khổ. Mỗi lần con bệnh là con quán vô thường, khổ, vô ngã và niệm tử, mỗi lần như vậy là năng lực tu hành của con được nâng cấp, vì thế đừng nghĩ cái bệnh làm chướng ngại cho việc tu mà hãy nghĩ rằng cái bệnh này thuận lợi để mình nhàm chán, ly tham, từ bỏ, xuất ly, có vậy thì người bệnh trở thành lợi thế hơn người không bệnh vì người không bệnh cảm thấy thoải mái, cảm thọ đều đều nên tham dục ái rất dễ sanh khởi, còn người cứ có cảm giác đau khổ, bệnh hoạn hoài thì lấy điều đó làm cơ hội, đề mục, quán chiếu để thâm nhập Khổ Thánh Đế, chứng nhập Khổ Thánh Trí, cảm nhận trọn vẹn về ung nhọt chín lỗ này, về sự nhàm chán, bất tịnh, khổ đau, hướng đến từ bỏ. Tịch tịnh một cách hoàn toàn tức là Diệt Thánh Đế, sự tiêu diệt hoàn toàn mầm móng của tham sân si, vô minh và bản ngã, thoát ra năm thủ uẩn một cách triệt để và trọn vẹn, chứng nhập Thánh quả tối cao và tâm bất động giải thoát, vĩnh viễn ca khúc khải hoàn bất tận, giải thoát ca, xuất ly ca. Còn mình không quán chiếu theo những gì Đức Phật dạy nãy giờ thì mình còn đau khổ dài dài, thưa gửi hoài, mình tác ý thường xuyên sẽ bớt nhiều tham sân si, bản ngã, cũng không cần kiềm sân lại mà mỗi lần nó khởi là nhàm chán, không dám nhìn gương vì thấy nhục. Phải cố gắng tha thiết trong sự học hỏi hành trì, mỗi ngày phải nghe Pháp, chiêm nghiệm và quán chiếu Pháp chứ đừng làm biếng. Đức Phật đã hỏi các vị Tỳ-kheo trong bài kinh Có pháp môn nào, Tương Ưng Bộ.
Có pháp môn nào, do pháp môn ấy, Tỳ-kheo ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài lắng nghe, ngoài suy tư về phương pháp (àkàra-paritakkà), ngoài kham nhẫn, thích thú biện luận (ditthini shànakhanti), có thể xác chứng chánh trí; vị ấy biết rõ: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa"?
Bạch Thế Tôn, đối với chúng con, Pháp lấy Thế Tôn làm căn bản...
Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo khi mắt thấy sắc, hoặc nội tâm có tham, sân, si, biết rõ: "Nội tâm ta có tham, sân, si"; hoặc nội tâm không có tham, sân, si, biết rõ: "Nội tâm ta không có tham, sân, si". Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo khi mắt thấy sắc, hoặc nội tâm có tham, sân, si biết rõ: "Nội tâm ta có tham, sân, si"; hoặc nội tâm không có tham, sân, si biết rõ: "Nội tâm ta không có tham, sân, si". Này các Tỳ-kheo, biết rõ chúng có mặt hay không có mặt trong tâm vị ấy, có phải chúng là những pháp do lòng tin được hiểu biết, hay do ưa thích được hiểu biết, hay do lắng nghe được hiểu biết, hay do suy tư về phương pháp được hiểu biết, hay do kham nhẫn, thích thú biện luận được hiểu biết?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn. (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (e), V. Mới Và Cũ, VIII. Có Pháp Môn Nào?)
Khi mắt thấy sắc, mũi ngửi mùi, tai nghe tiếng, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm mà mình có khởi tham sân si trong tâm thì mình có biết không? Khi tâm không khởi tham sân si mình có biết không? Như vậy cái biết có khởi hay không khởi tham sân si thì có phải do lòng tin mình mới biết hay tự nhiên sẽ biết? Ở đây Đức Phật nói Pháp trực tiếp, trực chỉ vào nội tâm. Mình có tham thì biết có tham chứ không phải đợi tin mới biết có tham, có sân thì biết có sân, có si thì biết có si chứ không phải đợi đến ưa thích cái gì mới biết được điều này. Khi có cảm thọ sân thì mình biết có cảm thọ sân, khi mình biết có cảm thọ tham, ham thích thì mình biết, không cần phải đợi có điều kiện nào đó mới biết được điều này.
-- Có phải các pháp này, do thấy chúng với trí tuệ nên được hiểu biết?
-- Thưa phải, bạch Thế Tôn. (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (e), V. Mới Và Cũ, VIII. Có Pháp Môn Nào?)
Do có trí tuệ nhìn thấy nên mình biết có tham sân si hay không có tham sân si, chỉ cần có trí tuệ nhìn thấy mình sẽ biết. Như vậy Đức Phật muốn nói điều gì? Không phải trên sự tin tưởng, đặt lòng tin vào ai ở bên ngoài, không phải ở chỗ biện luận, lý lẽ, cũng không phải ở chỗ suy tư, tìm kiếm cách thức nào đó mà là do thấy với trí tuệ nên được hiểu biết. Khi ăn cơm có tham dục thì mình có biết không? Khi ăn cơm không có tham dục thì có biết không? Khi ngủ mà chuông báo thức reng lên nếu mình thức ngay thì mình có biết không? Nếu nó reng rồi mà mình muốn nằm thêm thì mình có biết không? Đó là cái biết bằng trí tuệ, sau khi biết bằng trí tuệ thì đoạn trừ những cái cần đoạn trừ. Ác bất thiện pháp, tham sân si, vô minh và bản ngã cần phải được đoạn trừ, những thiện pháp cần được phát huy, những sự tác ý "không phải là tôi", "không phải của tôi" cần phải được tác ý liên tục, hễ nghĩ cái nào là tôi, là của tôi thì dẹp suy nghĩ đó ngay lập tức, hằng ngày cần dọn dẹp những suy nghĩ đó liên tục như quét rác, làm cho đến khi nào nó không còn khống chế nội tâm mình nữa. Điều này dễ hay khó? Hằng ngày cần nhìn tham sân si để nhiếp phục, đoạn tận nó, nhất là tham ái đối với cuộc đời, thân xác, hoàn cảnh này cần phải nhàm chán, xuất ly. Hình ảnh các sư cô ngồi một mình chỗ bãi đất trống là con gái cưng của Đức Phật, lấy sự viễn ly, từ bỏ, nhiếp phục dục tham làm hạnh phúc, lấy sự diệt tận sân si, bản ngã làm hạnh phúc, làm sự chiến thắng, thành công. Đó là sự oai hùng của người xuất gia, ngồi một mình ở bãi đất trống, trong ngôi nhà trống, trong tịnh thất, đỉnh núi mà có thể tự mình nhìn thấy các lậu hoặc, nhiếp phục nó trên con đường đi đến sự đoạn tận. Đó là phước lành, đó là công đức, đó là hy hữu, hiếm có khó tìm, thù thắng tối thượng.
Sau khi ngồi xuống, Tỳ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
-- "Vị thuyết pháp, vị thuyết pháp", bạch Thế Tôn, như vậy được nói đến. Cho đến như thế nào, được gọi là vị thuyết pháp?
-- Nếu Tỳ-kheo thuyết pháp về sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với sắc; như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỳ-kheo thuyết pháp. Nếu Tỳ-kheo đi vào thực hành sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với sắc; như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỳ-kheo thực hành pháp tùy pháp. Nếu Tỳ-kheo do nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với sắc, được giải thoát, không có chấp thủ; như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỳ-kheo đã đạt được Niết-bàn ngay trong hiện tại.
Nếu Tỳ-kheo đối với thọ... Nếu Tỳ-kheo đối với tưởng... Nếu Tỳ-kheo đối với các hành...
Nếu Tỳ-kheo thuyết pháp về sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với thức; như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỳ-kheo thuyết pháp. Nếu Tỳ-kheo đi vào thực hành sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với thức; như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỳ-kheo thực hành pháp tùy pháp. Nếu Tỳ-kheo do nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với thức, được giải thoát không có chấp thủ; như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỳ-kheo đã đạt được Niết-bàn ngay trong hiện tại. (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (g), C. Năm Mươi Kinh Sau, II. Phẩm Thuyết Pháp, III. Vị Thuyết Pháp)
Bây giờ đi đâu để tìm ra được cái Pháp này để nghe? Mình đang thực tập nhàm chán, ly tham đối với mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, đối với sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp, đối với đời sống, cảm giác, nghĩ tưởng trong tâm. Trong bất kì lúc nào cũng tác ý nhàm chán, bất tịnh, ly tham, từ bỏ, tác ý hoài thì chắc chắn sẽ dọn sạch được rác bẩn trong nội tâm. Nếu không tu tập theo dòng Pháp này thì đi đâu dính đó, làm gì chấp nấy, thấy nghe cái gì là bắt chụp cái đó. Ví dụ khi xây cất nhà mới được người ta khen kiến trúc đẹp quá, đặc biệt quá thì thọ trong lòng mình hoan hỉ, an trú, đắm trước. Con làm xong thì nghĩ bàn thờ của mình nằm trong nhà đó nên không có gì hoan hỉ, thích thú, chẳng qua làm thì làm để chia sẻ Pháp. Trước khi làm cũng phải đầu tư, suy nghĩ nên làm xong được khen như thế nào mình biết thế nấy nhưng trong lòng không để tham ái, dính mắc, tác ý theo bài học "Chớ có nghĩ đến căn nhà đó, chớ có nghĩ trong căn nhà đó, chớ có nghĩ ở nơi căn nhà đó, chớ có nghĩ căn nhà đó là của tôi" mà chấm dứt, xuất ly, khi tác ý như vậy mà lỡ căn nhà đó có gì thì mình cũng không đau khổ. Con có suy nghĩ lỡ như ngọn lửa phựt lên thì tất cả thành đống tro tàn nên không có gì để hân hoan, thích thú trong đó, không có gì để thỏa mãn, tự mãn trong đó. Trong đống hữu vi này có gì trong này để lạc thú trong đây? Không có một cái gì trong năm uẩn này thật sự có lạc, có hạnh phúc trong đó cho nên mình tu để xuất ly khỏi năm uẩn chứ nếu có hạnh phúc thật sự thì đi ra khỏi nó làm gì? Tất cả các hành là khổ, tất cả sự vận hành của năm uẩn đều là khổ đau, vì thế nếu người tu an trú được trong Pháp sẽ thấy không còn cảm giác sôi nổi, hân hoan, thích thú, an trú trong năm uẩn, đối với tất cả mọi chuyện đều tập như thế như Đức Phật đã nói do không nghĩ đến nên không chấp thủ một vật gì ở đời. Do không chấp thủ, vị ấy không có dao động (paritassati). Do không dao động, vị ấy tự mình tịch tịnh một cách hoàn toàn.
Tại sao không nghĩ đến vật gì không có nghĩa là yên lặng, không suy nghĩ? Mà là khi nghĩ đến bất kì cái gì là của mình thì lập tức tác ý đuổi trừ nó, dùng vô thường, khổ, vô ngã tác ý ngược trở lại. Đại chúng cần sẵn sàng lúc nào mình cũng có thể ra đi, nhất là những người lớn tuổi và bệnh nặng, khi đó cần phải an trú vào phép quán từ bỏ, xả ly ngũ uẩn lập tức "Cái đồ nhàm chán, bất tịnh này. Chiếc xe chạy gần 80 năm rồi nên cần từ bỏ, chấm dứt", không có bất cứ thứ gì trong mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý cần đáng để lưu luyến, cần tác ý câu này liên tục "các cảm giác này sẽ đi đến lắng dịu tịch tịnh hoàn toàn". Thật chất con phải ở một mình trên đỉnh cô phong, hoặc ly trần đảo mới thỏa chí bình sinh nhưng cũng không còn lâu, đại chúng hãy cố gắng tinh tấn tu học vì con đang ở trong trạng thái viễn ly, từ bỏ rất sung mãn, con trú trong trạng thái này rất lâu, những điều mình làm ra chỉ là sân si, bản ngã nên thấy rất mệt, không muốn làm nữa. Công việc quan trọng của bản thân vẫn chưa hoàn thành, công việc chính yếu lại không lo nhiều, không để ý nhiều, mình không biết rằng tai nạn, hiểm họa đang rình rập từng giờ từng phút. Hôm nay chúng ta học tác ý sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu xúc, sáu thọ, tác ý không có tôi và của tôi, hướng đến sự nhàm chán, ly tham, chấm dứt, từ bỏ.
Sư Phụ: Thầy Pháp Nghĩa có cảm nhận gì trong lời Đức Phật dạy ngày hôm nay?
Thầy Pháp Nghĩa: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Kính bạch sư phụ, kính thưa thầy Pháp An, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng. Cảm nhận của con về bài Pháp hôm nay khi sư phụ chia sẻ, con thấy có sự chấp trước của mình với sáu căn này rất lớn, con nhìn nhận lại trong quá trình tu học và làm việc còn chấp vào cái của mình, mình làm được và người khác không làm được. Khi trong công việc mình làm mà người khác không theo ý muốn của mình là cảm thọ khó chịu khởi lên, không an trú vào Pháp mà chạy theo cảnh trần bên ngoài, bám chấp vào công việc nên không tu tập nhàm chán, ly tham, từ bỏ. Ngay cả khi mình làm sai được người khác chỉ bảo thì cũng khởi lên tâm khó chịu, điều đó cho thấy sự tu tập nhận diện nơi tự thân còn yếu kém, luôn nghĩ mình đúng, mình là tất cả. Qua những lời chia sẻ của sư phụ con mới thấm thế nào là không phải là tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi. Những chữ rất đơn giản nhưng hàm ý rất sâu sắc, nó đánh vào tất cả mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý của chính mình, nếu không có sự xuất ly mà bám chấp vào đó thì e rằng sự tu sẽ uổng phí, mục tiêu đề ra không có kết quả. Mặc dù nghe sư phụ giảng Tương Ưng Sáu Xứ rất nhiều nhưng mỗi lần nghe đều có cảm nhận khác nhau, nếu không có sự chỉ dẫn của sư phụ không thể cảm nhận được hết ý nghĩa Đức Phật gửi gắm trong đó. Những ngày qua con nói sư cô chiêm nghiệm, nhìn nhận lại tự thân trong khi đi, đứng, nằm, ngồi, những khi an trú vào Pháp rất an lạc còn mỗi khi chạy theo cảnh sắc bên ngoài thì nhìn lại thật xấu hổ, chỉ những cái nhiếp phục nhỏ nơi tự thân khi có Pháp thật hoan hỉ còn không hôm đó mình chưa làm được hoặc bị nó dẫn dắt thì con thấy hôm đó mình đã lừa dối, làm mất thời gian tu học. Đó là cảm nhận của con trong bài Pháp hôm nay. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư Phụ: Cô Hạnh Trí có chia sẻ gì không?
Cô Hạnh Trí: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch trên sư phụ, con kính thưa quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng. Bài Pháp hôm nay thật là sâu sắc, thật là tuyệt vời, con vô cùng tri ân sư phụ đã có những lời giảng dạy rất rõ ràng, chỉ ra những cái nếu không có chánh tri kiến để giảng giải thì khi đọc đại tạng kinh sẽ không hiểu hết ý Đức Phật chỉ dạy, chính vì vậy mà cho dù mỗi ngày có quán nhàm chán vẫn không đủ mạnh để từ bỏ như sư phụ ví dụ lúc đầu, khi muốn bỏ cái bàn thì nhiều lúc chỉ bỏ trên tưởng và hành hoặc lời nói nhưng chưa đập nhỏ, đốt nó nên cái ái còn dính mắc. Trong ba mươi hai thể trược này khi sư phụ nói đến đâu thì con tác ý đến đó, khi nhàm chán mắt, nhàm chán trong con mắt, nhàm chán máu thịt trong con mắt… từng phần như vậy tác ý đến đâu thì con mới thấy rõ, lâu nay con còn thiếu sót rất nhiều chưa tác ý nhàm chán hoàn toàn tâm tứ đại, vô thường, tạm bợ này. Trong con có cảm giác nhàm chán nhưng cũng có cảm giác hoan hỉ vì nghe được lời Thánh pháp của bậc thiện tri thức, của Đức Phật giảng dạy. Khi tác ý thì những cái tưởng con mắt, ghèn, máu mủ, gân, từng bộ phận hiện lên và thật là nhàm chán và ý hành khởi lên phải làm sao chuyên chú được trong ý hành này, không được để mất, tác ý liên tục thì mới đủ sức nhàm chán và từ bỏ nó được. Trong thân xác tứ đại và trong cuộc sống này khi sáu căn tiếp xúc sáu trần sinh ra sáu thức, nếu không an trú và không tác ý nhàm chán thì khi có xúc sẽ bị dính mắc. Khi sư phụ đang hướng dẫn thì có con muỗi đậu trên mặt, nhờ sự xúc chạm thực tế con mới thấy do có xúc và phản xạ đuổi muỗi nhưng khi có tác ý thì rất màu nhiệm, thấy sự diễn biến của duyên sanh, do sự xúc chạm của con muỗi vào da, nó bò lên tai, chui vào tai làm nhột, con nhìn cảm giác đang diễn ra và con tác ý nhàm chán "đây là cảm giác do duyên sanh và từ bỏ cảm giác này", một ví dụ đơn giản nhưng con thấy rất hay, khi nhàm chán và từ bỏ cảm thọ đó thì trở nên mát lạnh, rõ ràng cảm giác rất vô thường nhưng sao lâu nay mình lại dính mắc vào nó, khi đau thì sợ hãi mà khi vui thì lại dính mắc. Thật là vi diệu! Một thánh Pháp rất thực tế, không cần lý luận, suy nghĩ mà nhìn thẳng vào cảm giác sẽ thấy rõ sự diễn biến của tham sân si, nếu liên tục an trú trong Pháp, liên tiếp thấy nhàm chán thì chắc chắn khi bỏ thân xác tứ đại này sẽ không trở lại để dính mắc hay tái sanh một đời nào nữa. Vì rõ ràng thân xác ngũ uẩn tứ đại này là vô thường, là duyên sanh, tạm bợ, bệnh hoạn, ốm đau, bại hại, vô ngã, không có gì để dính mắc vào thân xác hay cuộc đời này. Con xin thành tâm phát nguyện sẽ an trú trong Pháp hành vi diệu và tuyệt vời này, con vô cùng tri ân sư phụ và đại chúng, mong sư phụ, quý thầy, quý sư cô và đại chúng yểm trợ cho con để con có thêm sức mạnh từ bỏ thân xác này, không còn dính mắc bất cứ thứ gì trên cuộc đời này. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư Phụ: Nguyên Luận.
Sư cô Nguyên Luận: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Kính bạch trên sư phụ, kính thưa quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng. Trong bài Pháp thoại của sư phụ hôm nay là cơ hội để con vừa nghe vừa thực tập, kiểm soát, thấy rõ sư phụ chỉ điểm các vấn đề tu học, nhìn lại rất rõ trí tuệ nhìn thẳng vào tưởng, hành, làm sao thọ sanh khởi để nhàm chán, ly tham đối với thân bất tịnh này. Thứ hai khi sư phụ nhắc đến hình ảnh các sư cô ở bãi đất trống, mặc dù con là người chụp hình nhưng khi sư phụ nhắc lại con vẫn có sự xúc động trong cảm thọ vì hình ảnh đó rất đẹp khi các vị yên tĩnh tiến tu và rất hiếm để thấy được hình ảnh đó. Trong suốt thời gian gần gũi các huynh đệ và Ni xá thì con thấy ai cũng tinh tấn tu tập, ai cũng hoan hỉ, hình ảnh các Phật tử học bài, các vị ngồi thiền ở mỏm đá và những hình ảnh khi các vị vừa nghe Pháp có cảm thọ là đi ngồi thiền không ăn sáng, khi sư phụ nhắc lại những hình ảnh đó thì tưởng, hành con hiện khởi lại, có sự xúc động, hình ảnh rất đẹp ở rừng thiền Linh Quy. Nhìn lại con thấy mình chưa nỗ lực hết mình như quay phim, khi thức dậy vẫn còn ái luyến trong việc ngủ, vẫn còn lưỡng lự nên đứng dậy hay không, khi sinh hoạt vẫn còn nhiều lậu hoặc. Thứ ba khi con nhìn sư phụ lúc nào cũng thấy người mãnh liệt và hạnh phúc trong tu tập, dù mặc Phật sự của sư phục rất nhiều, sư phụ vừa đi dạy vừa giảng Pháp trực tuyến cho đại chúng, kể cả bây giờ sư phụ vẫn có niềm hạnh phúc trong Chánh pháp, ngày càng thăng tiến thì đó là động lực cho con và đại chúng, thật sự mỗi ngày được tu tập, được tiếp xúc với thiện Pháp thì chúng con rất hạnh phúc và cần nỗ lực hơn nữa. Con còn nhiều tập khí tham ăn, tham ngủ, ham chơi nên mong sư phụ và đại chúng hoan hỉ chỉ dạy, nhắc nhở cho con để thăng tiến trên con đường tu học. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con thành kính tri ân sư phụ, quý thầy, quý sư cô và đại chúng.
./.