Tương Ưng Sáu Xứ - Thiền Định Hiểu Rõ Sự Thật - Từ Bỏ Sẽ Hạnh Phúc An Vui
Kinh Nikāya Giảng Giải
Tương Ưng Sáu Xứ
Thiền Định Hiểu Rõ Sự Thật
Từ Bỏ Sẽ Hạnh Phúc An Vui
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Bài kinh Thiền định PAGEREF _Toc112246654 \h 1
II. Bài kinh Thiền tịnh PAGEREF _Toc112246655 \h 4
III. Bài kinh Không Phải Của Các Ông PAGEREF _Toc112246656 \h 9
I. Bài kinh Thiền định
Tâm thức của mình thật sự cần phải để ý nó rất nhiều, phải linh hoạt, nhạy bén trong sự học, sự tu, sự làm việc, hay là sự thích ứng đối với hoàn cảnh, những công việc mình cần phải xử lý. Hôm nay chúng ta tiếp tục nghe Tương Ưng Sáu Xứ, chương 1, đầu tiên là bài kinh “Thiền Định”
“Này các Tỳ-kheo, hãy tu tập Thiền định. Này các Tỳ-kheo, một Tỳ-kheo được Thiền định, hiểu rõ như thật.
Và hiểu rõ như thật cái gì?
Như thật hiểu rõ mắt là vô thường, như thật hiểu rõ các sắc là vô thường, như thật hiểu rõ nhãn thức là vô thường, như thật hiểu rõ nhãn xúc là vô thường. Phàm duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; như thật hiểu rõ cảm thọ ấy là vô thường... tai... mũi... lưỡi... thân...
Như thật hiểu rõ ý là vô thường, như thật hiểu rõ các pháp là vô thường, như thật hiểu rõ nhãn thức là vô thường, như thật hiểu rõ nhãn xúc là vô thường. Phàm duyên ý xúc, khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; như thật hiểu rõ cảm thọ ấy là vô thường.
Này các Tỳ-kheo, hãy tu tập Thiền định. Này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo được Thiền định, hiểu rõ như thật.”
(Tương Ưng Bộ kinh tập IV – bài kinh Thiền Định)
Như sáng nay con đến phòng trước khi đi kinh hành để mở bài hôm qua lên thì thấy nó bị không có tiếng ở đoạn đầu. Còn bài hôm trước thì nguyên một buổi bị không có tiếng, phải làm lại. Con sanh khởi lên những cảm thọ phiền não, nói: “Tại sao những cái việc bình thường, sinh hoạt hàng ngày rất là nhiệt tâm, phấn khởi, để tâm, mà tại sao có Thánh pháp không có chịu để tâm?” mà đã hướng dẫn, nói rất nhiều lần, không dưới 100 lần, thành ra cái pháp nó quan trọng, cố gắng để tâm vào. Khi chú làm phim chú về thì người trên núi từ trên xuống dưới lính quýnh hết, làm cho cái buổi học pháp nó không được trọn vẹn. Con sanh khởi lên cái phiền não, con mới nhìn lại tâm mình nói: “Thôi từ bỏ, nhân vậy, quả vậy, cái nghiệp nó vậy rồi. Có nói tram, lần ngàn lần cũng vậy, con từ bỏ cái cảm thọ đó” sau đó đi kinh hành nhẹ nhàng, mỉm cười thôi. Tại cái nhân quả, nghiệp nó vậy, cái bình thường thì để tâm, cái của phàm phu thì để tâm, mà cái Thánh hạnh thì không chịu để tâm thật là nhiều. Vô làm thì chỉ là làm không có lỗi thôi, chứ không có nói làm giỏi gì hết, sau đó con mới nhìn lại, con nói: “Thôi từ bỏ đi, từ bỏ suy nghĩ này, từ bỏ cảm thọ này, từ bỏ hình bóng này. Mình đã nói hết lòng rồi, nói bằng tất cả trái tim của mình mà không có để tâm. Phải từ bỏ cảm thọ, suy nghĩ, cái tưởng, cái nhận thức này, buông xả, từ bỏ”. Sau đó con đi thiền hành, trong cái tâm niệm từ bỏ, để nó lắng dịu, dễ chịu trở lại.
Nhà cửa, đất đai, tiền bạc, ruộng vườn, chùa chiền, sắc uẩn, sắc pháp, sắc tướng, sắc chất này đều là đi đến sự đổ nát, tan nát, tan hoại, hủy hoại, hoại diệt. Cái tâm mình yên tịnh rồi nhìn trở lại ở các sắc tướng trên cuộc đời này, ở sắc pháp, sắc uẩn, sắc chất, sắc đẹp trên thế gian này, mình sẽ thấy được tính chất, bản chất, bản tính của nó sẽ như thật hiển diện, hiện rõ trong khi tâm mình yên tĩnh. Nó chiếu sáng trí tuệ về sắc uẩn của mình, sự nguy hại của sắc nó là vô thường, đau khổ, biến đổi, táng hoại, hủy hoại, hoại diệt. Thì sự thật, bản chất, bản tính nó sẽ hiện rõ trong một cái tâm yên lặng và tĩnh sáng, thì cái biết đó nó rất sâu sắc. Cái biết đó là biết trong cái tâm yên tĩnh, trong cái tâm mà nhìn lại, soi chiếu trong ngoài các pháp. Cái biết đó là cái biết thẩm thấu, thâm sâu. Cái biết đó là biết của “tư huệ”, là trí tuệ do suy tư, nghiền ngẫm, quán chiếu. Khi tu tập là cái biết của “tu huệ”. Còn khi mình nghe đó là “văn huệ” thôi. Chúng ta nhớ “tam huệ” đó là văn huệ, tư huệ, tu huệ. Chúng ta nghe - hiểu đó là các bước thứ nhất: Trí tuệ do sự nghe.
Chúng ta bắt đầu trở về một mình trong căn phòng, ở nhà trống, dưới gốc cây, trên tảng đá, ở bên tịnh thất hay là ở trong Tăng xá, Ni xá, thiền đường, ngồi một mình, đi một mình. Nhìn lại những cái sắc, tưởng ở trong quá khứ. Nhìn lại những cảm thọ, những suy tư, các pháp trần, thọ, tưởng, hành ở bên trong mình. Nếu mình có tu tập thiền định thì khi nhìn, nhớ là nhìn bằng cái nhìn trong sáng, chúng ta nhớ kỹ, nếu chúng ta nhìn bằng cái nhìn của tham ái, của vô minh, của nghiệp là khác. Thành ra mới nói rằng: “Này các Tỳ-kheo, hãy tu tập thiền định. Này các Tỳ-kheo, một Tỳ-kheo được thiền định, hiểu rõ như thật”.
Chữ “thiền định” ở đây là nhìn bằng một cái tâm trong sáng, chứ không phải chỉ có ngồi yên mới có thiền định, đó là ở ngoài thân thôi, thân nó yên nhưng mà cái tâm nó có định không? Cái tâm định, cái tâm yên lặng đó, là im lặng ở trong cái si, cái không trần, trong cái thấy biết thông thường của phàm tình, phàm phu, hay là cái sự yên lặng mà quán xét. Như lý giác sát, tức là thiền định, thiền tuệ, chỉ quán, chữ “giác” là tĩnh giác, chữ sát là quán sát. Một con người ngồi yên, tĩnh giác quán sát các pháp nó sanh khởi, nó an trú, nó vận hành. Cho dù mình đang đi thiền hành, thì mình quay trở lại, mình coi những hình bóng trong những cảm giác, suy nghĩ. Thì như vậy là như lý giác sát, tĩnh giác, quan sát đúng sự thật của thân tâm, ngũ uẩn. Mình dùng danh từ khác là nhận diện ngũ uẩn, thiền định, như lý giác sát. Tất cả những danh từ đó đều là nó có điểm chung với nhau là một cái tâm yên tịnh quán sát lại ở bên trong.
Thành ra chữ “thiền định” này mình phải biết rằng, nhìn cái thân đó yên, cái tâm đó định, cái trí nó sáng, để nó nhìn trong một cái nhìn chính xác, trong sáng, Chánh kiến, nhìn đúng. Còn nếu như mình nhìn nó bằng cái vô minh, tham ái, chấp thủ, bản ngã của mình, thì mình sẽ không thấy được. Chúng ta thấy ngoài đời có biết bao nhiêu người ngồi yên, bao nhiêu người học thiền, biết bao nhiêu người ngồi thiền, nhưng mà họ không được chứng ngộ để ly tham ngũ uẩn, tại vì không có được Chánh kiến hướng dẫn. Nhìn với một cái nhìn trong sáng của tâm, không có bị “năm triền cái” che ngăn và trói cột. Cho nên là người tu chúng ta bước đầu là phải để tâm rất nhiều diệt năm triền cái.
Bây giờ mình ngồi thiền, mà trong tâm mình có ham muốn, thích, mong nhớ hay tơ tưởng cái gì đó, thì bị cái hình ảnh, cái tưởng, suy nghĩ, cảm giác đó ám ảnh nên cái tâm nó không trong sáng để nhìn thấy sự thật. Thí dụ bây giờ mình thương người nào đó, mà người đó bị người khác nói nặng hay la mắng, thì lúc đó ngay lập tức mình bênh người mình thương, mà mình không có bình tĩnh, sáng suốt để coi người mình thương làm cái gì, có sai hay không, nếu sai thì bị rầy là đúng. Mình bị cái thương đó nó che cái tâm, cho nên gọi lạc cái là sự che đậy. Khi ngồi thiền cũng vậy, mình bị cái thương mình đó nó che đậy, làm cho mình mờ tối đi, nên lời dạy của thầy, sư huynh, các bậc trưởng thượng cũng không chấp nhận, mà trái lại còn oán hận, chúng ta thấy cái này nó rất là sâu sắc. Tại vì mình bị tham ái, tự ngã, cái thương mình theo kiểu vô minh nó che đậy, nên mình không thấy được cái đó là cái tâm từ mà sanh khởi ra tâm sân hận, oán hận. Như vậy sao mình tu, sao mình tiến được. Cho nên thiền định ở đây là không có mặt năm triền cái, hoặc là sự lắng dịu rất nhiều của năm triền cái. Dục tham lắng dịu, sân lắng dịu, hôn trầm không có thì không có buồn ngủ, không có dao động thân tâm, không có hoài nghi đối với ngũ uẩn (tham, sân, hôn trầm, trảo cự, trạo hối với lại hoài nghi). Thì cái tâm nó trong sáng.
Cho nên “sáu căn vô thường, như thật”. Được hiểu rõ đúng sự thật. Sáu trần vô thường, hiểu rõ đúng sự thật. Sáu thức vô thường, thấy rõ đúng sự thật. Sáu xúc vô thường, thấy rõ đúng sự thật. Ba thọ (ba cảm giác), vô thường như thật, được thấu rõ. Mình thấy nó vô thường rồi thì mình nhàm chán, không ham thích nó nữa, thì mình từ bỏ, mình thoát ra được cái cảm thọ đó, cảm thọ buồn, giận hay cảm thọ nhớ nhung, thương yêu đó. Sau khi mình thấy nó rồi thoát ra, hoặc là dùng như lý tác ý. Sau khi như lý giác sát rồi mình dùng như lý tác ý. Nếu mà cái nào chưa giải quyết được thì mình phải tác ý thật mạnh, thật nhiều, thật là bền, thật là lâu, cho đến khi nào mình diệt tận được cái đó.
II. Bài kinh Thiền tịnh
Bây giờ chúng ta tới bài kinh “Thiền Tịnh”
“Này các Tỳ-kheo, hãy hành trì hạnh Thiền tịnh. Này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo Thiền tịnh, hiểu rõ như thật.
Và hiểu rõ gì như thật?
Như thật hiểu rõ mắt là vô thường, như thật hiểu rõ các sắc là vô thường, như thật hiểu rõ nhãn thức là vô thường, như thật hiểu rõ nhãn xúc là vô thường. Phàm duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; như thật hiểu rõ cảm thọ ấy là vô thường... tai... lưỡi... thân... ý...
Này các Tỳ-kheo, hãy hành trì hạnh Thiền tịnh. Này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo Thiền tịnh, hiểu rõ như thật.”
(Tương Ưng Bộ kinh tập IV – bài kinh Thiền Tịnh)
“Thiền” là thiền định, chữ “tịnh” là thanh tịnh, an định, an tịnh, tức là ở một chỗ an tịnh, hoặc là bất cứ mình ở chỗ nào mình thực tập sự an tịnh. Sự an tịnh là mình thực tập mà khi người ta hỏi mình phải nói liền, chứ không phải an tịnh là người ta hỏi mình ngồi im ru, đó không phải. Cái tâm mình hay dị hợm lắm, tâm nó cũng là cái bản ngã đó, những cái đó là mình phải nhìn thấy, nó sâu sắc lắm. Tới lúc người ta tịnh thì mình nói, người ta nói thì mình tịnh, làm cho lạ, cho quái vậy đó. Tới lúc người ta thức thì mình ngủ, người ta ngủ thì mình thức, mình tu, mình làm cho nó khác người vậy đó, thành ra những cái đó mình phải nhìn thấy được. Khi mình học xong, chính người dạy mình, rồi lấy mấy điều mình được học với người đó, mình lấy gậy ông đập lưng ông trở lại. Những cái tâm đó nó vi tế lắm, mình phải từ từ nhìn ra.
Ngồi yên rồi mình nhìn cái tâm mình, mình thấy thích thú, tuyệt vời lắm. Không có cái gì mà cao quý, ý nghĩa, quan trọng bằng việc làm này hết. Mình chạy ra ngoài chi cho nó mệt, mình chạy cả tram, cả ngàn cây số để mình ngắm được mấy cái đó chút, mình chụp hình, tốn tiền, tốn bạc, mất thời gian, mệt mỏi, có khi cự cãi, nguy hiểm, tai nạn nữa. Ở trên đây mấy vị đi theo con nhiều khi con bất ngờ lắm, không phải đi du lịch, nhưng mà trên đường đi trên đường như từ núi về Sài Gòn, hay mình đi giảng pháp, chia sẻ pháp ở đâu đó, mà chỗ nào có bờ sông, có gốc cây, chỗ nào có cảnh mát, là kêu bác tài đó dừng lại đây, đó là mình đang đi du lịch đó, xuống đây rồi nhận diện ngũ uẩn, xem giờ này bên trong nó như thế nào, đó chính là đi du lịch đó. Rồi nhiều khi ở Bảo Liên, sáng sớm khoảng 5 giờ mấy sáng đi kêu các chú đi bộ chung ra bờ sông, rồi dọc bờ sông đó, kêu trình pháp.
Con thưa các bậc hiền trí, Tăng Ni và quý Phật tử. Đời con giờ không có cái gì khác ngoài pháp hết, cho nên ai mà cái gì không phải pháp, thì đừng kiếm con nha, nó vô vị lắm. Ngoài pháp ra con không thấy cái gì liên quan tới cuộc đời này hết. Cho nên lại nói chuyện với con, nói người này, nói người kia, rồi sân si này nọ kia, tiền bạc, hơn thua, rồi con ngồi đó rồi thì ngồi chịu trận thôi, hoặc là ngồi đó quán chiếu thôi. Người tới mà chia sẻ pháp thì mới có cái cảm thọ mà nói chuyện. Thành ra các thầy, các cô, các vị mà không để tâm vô pháp, thì không có gặp con đâu, dầu cho đệ tử xuất gia cũng vậy. Cho nên không có để tâm vào việc pháp, thì sẽ không còn gặp con nữa. Con nhìn đi khắp vũ trụ, trái đất, hành tinh, cả địa cầu này là bọt với bong bóng thôi, chỉ có pháp mới là kim cương bất hoại. Nếu người không có quý khách thì dù có gặp con hay ở chung con cũng như không. Ở sát bên cạnh, nhưng mà cách xa ngàn dặm. Có người dù có ở xa nửa vòng trái đất, mà tương ứng với cái pháp, thì cũng gặp nhau mỗi ngày.
Tại sao mà con buồn, là vì các vị tu học không có để tâm vô pháp, mà trong khi con dùng sinh mạng để đánh đổi lấy cái pháp, hàng ngày không tiếc hơi, phải chiến đấu với những cái mệt mỏi, thậm chí là bệnh tật, để chia sẻ pháp. Nhưng mà kêu trình pháp thì không trình, hoặc trình cho có. Hễ làm những cái việc pháp thì không để tâm, không biết cái đó là thấy vô thượng, nghe vô thượng. Ta nói học thì học vậy đó, được chút cảm thọ ngay đó, rồi trở ra là rớt mất hết trơn. Tại vì sao mỗi ngày con phải chia sẻ pháp với chúng ta? Nếu mà không chia sẻ thì quý vị quên hết. Không có ai trú vào cái pháp, bị cái vô minh, tham ái, bản ngã, buông lung phóng dật.
Cho nên lấy cái sự chia sẻ pháp này làm cái thời khóa tu học cho chúng ta. Chúng ta thấy không? Ngồi đây nó an tịnh, lắng dịu, thấm thía vậy đó. Mà có khi đang ngồi nghe pháp vậy mà cái tâm có khi cũng chống đối, có khi buồn ngủ, có khi nó tầm tứ ở đâu đó, chứ đừng nói chi là không có ngồi nghe pháp, an trú vào pháp. Cho nên tối thiểu chúng ta ngồi cả buổi sáng, chúng ta lấy làm cái thời khóa để tập dần dần. Ngày mới của mình bắt đầu bằng Thánh triết, tuệ giác, thiền định, bằng sự như lý tác ý của bậc Thánh, trong những lời Thánh điển, để chúng ta tô đậm, khắc sâu mãi mãi không quên.
Con thưa đại chúng, chứ giờ con theo dự kiến là phải một chục năm thì mới có thể đứng vững trong pháp trợ lực này. Ngay cả tự thân con tu học xuyên suốt về vòng pháp Nikāya mà con vẫn luôn luôn trong lòng lo lắng, sợ hãi, bất an, không bao giờ dám tự tin và xem thường những lời dạy của Đức Phật. Tại sao con đọc từng chữ những bài kinh hết sức là đơn giản mà con phân tích, giải thích, mở rộng ra và chúng ta trào nước mắt, rút ra được những cái mà chúng ta chưa hiểu. Từng câu, từng chữ trong đây là con để tâm, đặt hết trái, đặt hết tấm lòng mình vào lời kinh của Đức Phật. Thậm chí những bài kinh như “Tương Ưng Sáu Xứ” này con nghe một bài như vậy mà nghe 100 lần, 300 lần, mà tại sao chúng ta không để tâm nhiều vào pháp, đó là tổn thất của chúng ta. Sau này không còn ai chia sẻ cho mình về những giáo pháp này nữa. Gần đây con cũng bắt đầu thâm nhập vào các phương pháp từ bỏ, lúc nào đó nếu không còn người tu học nhiệt tình, tha thiết nữa, có thể con sẽ ở ẩn. Khi đã biên tập kinh sách tạm ổn hết rồi, mà con không thấy người tha thiết, nhiệt huyết trong sự tu học, thì con sẽ làm cái phần của mình cho nó xong, chắc cũng không còn bao lâu nữa.
Trong thời buổi này, thật sự ngồi đây chia sẻ với chúng ta, chưa biết chiều nay con có còn sống hay không. Chúng ta thử nhìn ra thế giới (ai cũng có cái điện thoại cầm trên tay hết đó) bây giờ những biến chủng B4, B5 lợi hại hơn xưa, cực kỳ nguy hiểm. Dịch bệnh đậu mùa khỉ đã tràn qua bảy mươi mấy nước rồi, mấy chục ngàn người nhiễm, sốt xuất huyết ở thành phố này cũng chết mấy chục người, hàng trăm ngàn ca nhiễm. Chiến tranh, nghèo đói, dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn, sắp tới là sẽ đói kém, mất mùa. Bây giờ ở bên Trung Quốc nóng mà người ta đo dưới mặt đường là 70 mấy độ. Châu Âu chết hàng loạt người chưa từng có. Srilanka bây giờ 5 người là 4 người đói khát, Pakistan bây giờ cũng bắt đầu giống như srilanka, và nhiều nước nữa, khắp toàn cầu. Trong nước chúng ta, thì bây giờ chỉ cần chạy quẹt nhau một chút thôi là xuống đâm chết ngay tại chỗ, nhiều vụ án mấy ngày nay.
Thật sự là đại nạn, kiếp nạn, làm sao chúng ta có thể vô cảm, dửng dưng, có thể sống như kẻ mù lòa được. Đó là một cái chữ là “như thật”, “hiểu rõ các sắc là vô thường”, một cái câu đó thôi. Tuần sau con có thể ngồi đây, tháng sau con ngồi đây. Cho nên những vị không quý trọng phước, không để tâm vào pháp, thật sự con rất là đau lòng, xót xa. Hãy dùng sinh mạng của mình, dùng tất cả trong tâm lực, nghị lực, sinh lực, trí lực, nguyện lực, tận lực, thần lực của mình, ngày đêm chăm chăm niệm đạo, quán chiếu, thể nhập. Làm sao mà chúng ta có thể sống buông lơi, sống thả lỏng, sống buông lung phóng dật, cẩu thả, ẩu tả trong sự tu, sự học, việc làm để hoàn truyền Thánh pháp được.
Thật sự biết thương mình, hai chữ thương mình này, mình đọc lên mình phải thấm đẫm từng tế bào, từng thớ thịt, làn da, từng lỗ chân lông, từng huyết quản, mạch máu của mình. Thương mình thật nhiều, phải biết thương mình, thương cái sự vô minh, ngu dại, ngu si, hèn hạ, hạ liệt, phàm phu, ngu muội, mù lòa, điên loạn, vô minh, khát ái, tham ái, chấp thủ của mình. Thương cái sự cẩu thả, ẩu tả, qua loa, không có để tâm, không có chú tâm, không có quyết tâm, không có hết lòng đặt tâm đúng hướng trong những cái Thánh hạnh. Mình cứ ưa thích những chuyện phàm phu, hạ liệt, những cái chuyện nhỏ nhặt, nhỏ nhất, nhỏ mọn, nhỏ nhoi, nhỏ hẹp, thấp kém, phàm phu, tầm thường, hạ liệt để tạo nghiệp cho mình. Xót thương, đau khổ, ưu tư, ray rứt, thao thức cho mình. Phải làm cho mình sanh khởi ra sự bất an, sự lo sợ, dập đầu ở trước Phật “con thật là vô minh, con thật là ngu si, con thật là dại khờ, con thật là vô cảm trước Thánh pháp của Thế Tôn, con thật là kẻ mù lòa” dập đầu, quỳ lạy xuống, khóc cho chính mình, để giải phá những cái cảm thọ bản ngã, buông lung phóng dật, vô cảm, vô tri, vô giác, vô thức. Mở con mắt thật to ra để nhìn cuộc đời mình, những sự tàn khóc của thế gian này. Nhìn vòng luân hồi nghiệt ngã. Nhìn sự đau khổ bao trùm hết thế giới, hành tinh này, cho ước mắt đầy mặt đi, cho chấn động thân tâm hết đi. Phải cho xúc cảm thật nhiều đối với sự vô thường, đau khổ, vô ngã, bất an, hiểm họa này. Mình phải thấy xót xa cho cuộc đời, cho chính mình, cho những người thân thương mình, cho hữu tình, cho chúng sanh. Mình phải có tâm từ đối với mình, phải có lòng bi mẫn, xót thương đối với chính mình. Phải làm cho mình sanh khởi những cảm giác đó thường xuyên lên, để mình nỗ lực tu tập. Còn không là mình mang họa, bị hại, mình mất nạn ở trong cái thân này, tâm gặp nạn ở trong cái thân này.
III. Bài kinh Không Phải Của Các Ông
Tiếp theo chúng ta đến bài kinh “Không Phải Của Các Ông”
“Cái gì không phải của các Ông, này các Tỷ-kheo, hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó, sẽ đưa lại hạnh phúc an lạc cho các Ông.
Và này các Tỷ-kheo, cái gì không phải của các Ông?
Mắt, này các Tỷ-kheo, không phải của các Ông. Hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó, sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông. Các sắc không phải của các Ông. Hãy từ bỏ chúng. Từ bỏ chúng, sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông. Nhãn thức không phải của các Ông. Hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó, sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông. Nhãn xúc không phải của các Ông. Hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó, sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông. Phàm duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy không phải của các Ông. Hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó, sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông
… Tai … Mũi …… Lưỡi … Thân …Ý không phải của các Ông. Hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó, sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông. Các pháp không phải của các Ông. Hãy từ bỏ chúng. Từ bỏ chúng, sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông. Ý thức không phải của các Ông. Hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó, sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông. Ý xúc không phải của các Ông. Hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó, sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông. Phàm duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy không phải của các Ông. Hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó, sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông.”
(Tương Ưng Bộ kinh tập IV – bài kinh Không Phải Của Các Ông)
Cái thấy, cái nhìn này, từ bỏ nó. Nhìn cái gì mà nó sinh ra dục, ái, sân si, bản ngã, hơn thua thì từ bỏ, diệt tận cái nhìn đó luôn. Nghe cái gì mà nó hơn thua, sân si, phải quấy, thị phi, diệt luôn cái nghe đó. Đi nghe cái gì mà nó khởi ra từ tâm, khởi ra sự thăng tấn, tăng thượng trong tu học thì cho nó nghe, còn không thì từ bỏ đi.
“Nhãn thức thì không phải của các ông, từ bỏ nó sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông”
Cái thấy, cái nghe, cái ngửi, cái nếm, cái xúc, cái biết này không phải của chúng ta. Cái nào mà giúp cái thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc, biết nó tăng trưởng thiện pháp, tăng trưởng Thánh trí, thì mình cho nó xúc, cho nó thấy, cho nó nghe, cho nó tác ý. Còn cái nào mà sân si sanh khởi, bản ngã, hơn thua, thì diệt tận, từ bỏ nó luôn. Cho nên sáng này con đi thiền hành con niệm “từ bỏ, từ bỏ, từ bỏ. Thấy chi để mà phiền não mình, mù luôn đi, mình đừng có thấy nữa, đuôi luôn đi. Nghe chi để rồi hơn thua, điếc luôn đi, diệt tận luôn cái nhĩ thức này luôn đi.”
“Từ bỏ nó sẽ đưa lại hạnh phúc an lạc các Ông” Từ bỏ phiền não, đi kinh hành thấy hạnh phúc, nhẹ nhàng, an lạc, thảnh thơi liền. Ngay cả mình muốn tốt cho người ta, mà mình phiền não, dẹp luôn. Phiền não thì nó xấu rồi, không còn tốt nữa, giúp được thì giúp không giúp được thì thôi khỏi giúp nữa, từ bỏ. Nếu mình không khéo thì mình mất cả hai luôn, mình vừa không giúp người ta, mà chính sự tu học của mình nó cũng thoái thất, vậy giúp làm chi, tự mình lo tu cho mình thành tựu.
Đừng nói là cảm thọ khổ, ngay cả cảm thọ vui, từ bỏ, biết cảm thọ này là vô thường, nhưng mình sẽ bị dính mắc ở trong cảm thọ, cảm giác, cảm xúc này, từ bỏ. Khi dọn lên cái bàn ăn thiệt là ngon, đủ thứ món hết. Nó xúc nhãn xúc, mắt nó tiếp xúc thấy 15, 20 món đồ ăn ngon. Nó sẽ sanh thọ, tưởng, hành, thì mình tác ý “từ bỏ, cái cảm thọ này vô thường, ăn rồi nuốt cái ọt cũng vậy, không khéo cũng bệnh thêm” mình làm cho cái cảm thọ dâng lên ham, thích cái món ăn đó tan biến, rồi từ từ mình ăn. Cảm thọ nóng giận cũng vậy, mình nghe người ta chỉ trích thì sanh khởi âm thanh nóng giận, đừng có vội nói, mình quán sát, như lý giác sát cái cảm thọ đó, tác ý từ bỏ cái cảm thọ đó, chừng nào cảm thọ nó hết, rồi lúc đó hãy nói. Còn cái cảm thọ nó đang nóng, đang giận, đang bực mà mình nói cái là trật lắc, hư chuyện, cháy chùa hết, gặp chùa bằng lá nữa thì nó cháy mau hơn.
Cho nên con ở trên Linh Quy đó là 18 năm nay, nhờ sống với cái tâm từ, chứ còn không là đốt chùa không biết bao nhiêu lần. Những người xung quanh, giúp đỡ cho họ, mình giúp con họ đi bệnh viện, giúp vợ họ khi sắp chết, giúp gia đình họ, mình giúp rồi họ còn doạ đến đốt chùa. Mình phải trải tâm từ, chứ không thì mình đâu có ở đó tới giờ. Xóm làng chung quanh mình giúp đỡ cho họ, mà chẳng những vậy, mình giúp họ xong, họ còn lên họ phá nữa, gom dép của người ta đi xuống dưới chân núi bán, rất là xót xa, rất là tội nghiệp, rất là đáng thương. Nhưng mà mình không có cái tâm từ này, làm sao mà mình an ổn được, phiền não tối ngày hoài làm sao mình tu. Cây tùng mình trồng vậy đó, họ đem thuốc họ đổ lên làm chết cây, đặng người đi đường nhìn thấy quán của họ. Con thấy xong rồi con khởi phiên não lên rồi con diệt luôn, nói: “Mày chết đi mày, ngã xuống đây mày chết ngay tại chỗ, mày chôn ngay góc tùng này nè” rồi sau đó con từ bỏ luôn, không nói gì nữa. Nếu chỗ nào sân si, khó chịu khởi lên là hạ nguyệt chôn ngay tại chỗ đó.
Chúng ta thấy, sự tu của mình thật sự nó rất là vi tế, ở khắp mọi chỗ, mọi nơi, ở sát bên cạnh mình, nếu mà mình không tu thì chuyện gì xảy ra? Đây là chỉ nói có 1% thôi. Con thấy trong chúng có những cái chuyện hết sức đơn giản, hàng ngày tgeo thời khóa tu học thôi mà làm không được nữa, nên con thật sự rất là đau lòng. Quý thầy phải gánh vác bao nhiêu chuyện để cho mình có được cái sự an ổn để mình tu học, mà chỉ có thời khóa tu học thôi mà mình không làm được, thì thật sự là có lỗi rất là nhiều. Để có được sự an lạc cho đại chúng tu học, quý thầy và các vị hộ pháp phải hy sinh, lo lắng, bảo bọc, che chắn, biết bao nhiêu khó khan, làm sao mà chúng ta hiểu hết được. Cho nên mình niệm ơn đức Tam Bảo, Thầy Tổ là như vậy. Mình mới vừa vô tu, chưa gì hết, học được mấy cuốn kinh là bắt đầu mình lên bắt lỗi, chỉ trích, ngã mạng. Mình đâu có hiểu được cái khó khăn, bao nhiêu sóng gió và trong âm thầm, thầy tổ, các bậc hiền tri thức, các bậc hộ pháp người ta âm thầm, lặng lẽ, hộ trì, giữ gìn, bao bọc, che chắn, bảo vệ cho mình có được sự an lành, để mình tu học mỗi ngày. Đó là lý do tại sao con đề cái bảng “trang nghiêm, thanh tịnh, cung kính biết ơn” Vì vậy mình nói từ bỏ, ở đây là từ bỏ những cái chấp thủ, tham, sân, si, bản ngã. Chứ còn cái tâm biết ơn, từ bi, hỷ xả là không có từ bỏ, phát triển cho nó lớn lên, nhớ đừng có hiểu lầm nói từ bỏ là cái gì cũng bỏ hết, cái tâm biết ơn, cung kính thầy, thương huynh đệ mà bỏ luôn là không phải. Nhớ tu cái tâm xả, hôm trước chúng ta học rồi.
“Phàm duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì. Khổ vui hay không khổ không vui, cảm thọ ấy đều phải từ bỏ. Những cái cảm Thọ ấy không phải là của các ông hãy từ bỏ. Từ bỏ sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông”. Đây là nói những cái cảm thọ tham, sân, si, vô mình, bản ngã, hơn thua. Còn những cái cảm thọ hỷ lạc, phấn chấn, mạnh mẽ trong sự tu học là mình phải nuôi lớn, tưới tẩm, tăng trưởng, phát triển.
“Ví như, này các Tỷ-kheo, trong rừng Thắng Lâm này có người mang đi, hay mang đốt, hay làm theo những gì người ấy muốn, tất cả cỏ, củi, nhánh cây hay lá, thời các Ông có nghĩ như sau: “Người ấy mang chúng tôi đi, hay đốt chúng tôi, hay làm gì chúng tôi theo ý người ấy muốn”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Vì sao? Vì chúng không phải tự ngã hay không thuộc về tự ngã.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, mắt không phải của các Ông. Hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó, sẽ đưa đến hạnh phúc, an lạc cho các Ông. Các sắc không phải của các Ông … Nhãn thức không phải của các Ông … Nhãn xúc không phải của các Ông … Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy không phải của các Ông. Hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó, sẽ đưa đến hạnh phúc, an lạc cho các Ông.”
Chúng ta nghĩ đi, sự nhận diện ngũ uẫn này rất là thâm sâu, khi mà khởi lên cảm xúc đó, mình có kịp nhận diện nó hay không? Hay mình nhập cuộc với nó? Nếu mà mình không có một cái thiền định, định lực, định tĩnh, trầm tĩnh, an tịnh, lắng dịu sâu sắc thì khi nó sanh khởi một cái cơn giận lên, là mình nhập cuộc vô nó liền “phải không ạ?” Khi nó sanh khởi cái ham muốn lên, là nó dẫn mình, dắt mũi kéo mình đi liền. Khi nó sanh khởi cái bản ngã lên, là mình tranh đấu, thị phi liền. Đó là tại sao? Vì không có thiền định, không có định tịnh, trầm tĩnh. Tuy hiểu là hiểu vậy, học thì hiểu vậy, nhưng khi đụng chuyện rồi lúc đó là mèo hoàn mèo thôi, mới vừa nói một câu thôi là trả lời lại ba câu. Ý đó là ông thầy của mình đó, chứ đừng nói chi là người thấp kém hơn, thì làm sao tu.
Như con làm việc với mấy chú thợ vậy đó, mình nói một câu là không chịu, gạt ngang mình, ổng làm cho mình 7 câu lại. Đối với người trong nhà cũng vậy, hay là các Phật tử, mình mới vừa nói 1 câu thôi là nhảy vô làm 4 câu rồi. Thôi “Dạ mô Phật” rồi xong, từ bỏ. Chịu nghe thì mình mới nói được, mình vì lòng từ mẫn mình muốn giúp cho họ, để nhìn thấy được thân tâm của họ, những nguyên nhân làm cho họ khổ đau, mà mình trình ba bốn lần rồi không nghe thì thôi khỏi nói. Tại vì sao? Tại vì không có một tịnh tâm, không có tu tập với an tịnh lắng dịu, nói trong dục, trong sự thúc giục, trong vô minh, bản ngã, muốn hơn, muốn dành phần thắng, phần đúng, phần phải về mình, vậy làm sao mà tu, bảo vệ cái bản ngã tuyệt đối thì sao mà tu. Trong khi mình tu mình phải dập cái bản ngã mà giờ ai đụng tới cũng không được thì sao mà tu.
Tại sao chúng ta lạy sám hối diệt ngã thường xuyên? Đó là để mình nhớ hoài, để tới lúc đó mình mới, nhớ đó gọi là Chánh niệm. Còn không lúc đụng chuyện quên mất pháp hết trơn. Thành ra chúng ta thấy hững bài kinh này thực sự mình nó rất là vi tế, sâu sắc. Chúng ta nhìn nhận lại trong sinh hoạt thường nhật của mình thôi, tất cả cái này là nhận diện ngũ uẫn thì nó ra hết. Mình phải tập từ bỏ cái bào chữa, ngụy biện, quanh co, giấu lỗi lầm. Tập lắng nghe, tập nhận lỗi để biết sửa lỗi, để mình bớt lỗi, hết lầm, để mình hoàn thiện. Chứ nói tới là giận, nói tới là cãi, là bào chữa, nó không có quay trở lại. Khi mình nghe một người góp ý, hướng dẫn cho mình, thì mình phải lập tức xoay trở về nội tâm mình liền, và lúc đó là lúc mình thực tập thiền quán nhận lỗi, lắng nghe lời của những người góp ý đó, xoay ngược trở vào soi chiếu lại các hành vi, hành động. Lắng nghe cái câu chữ của người đó rồi xoay chiếu lại trở lại tự thân của mình, để mình đối chiếu lại coi đúng hay là sai, từ từ phản ứng.
Con thưa với đại chúng, chứ con làm 7,8 bài “Sư táng đạo sư” mà dùng hết tất cả tâm tư, những ngôn từ cao đẹp nhất để mình Sư táng bậc đạo sư. Thầy của con khi nghe không có trả lời một tiếng, con cảm nhận được là cái thọ thầy không có dao động, không có xảy ra lạc thọ khi mà nghe Sư táng như vậy. Thì chúng ta biết là công phu thâm hậu tới mức độ nào. Thành ra chúng ta tập cái tâm an tịnh, lắng dịu, trầm tĩnh, thiền định rất là quan trọng, để chúng ta nhìn thấy được các pháp, căn, trần thức, xúc, thọ đều là vô thường, khổ đau, bất an, không phải của mình, là cái thứ đáng từ bỏ, đáng buông xả. “Cảm thọ ấy không phải là của các Ông hãy từ bỏ nó sẽ đưa lại hạnh phúc an lạc cho các Ông” thuộc lòng cái câu đó, cảm thọ đó không phải là của mình, hãy từ bỏ nó, sẽ đem lại hạnh phúc, an lạc cho chúng ta.
Khi mình ngồi thiền mình có những cái hỷ lạc, khinh an, để nhận diện ngũ uẫn một cách rõ là mình đang có cái cảm thọ hỷ lạc, tham đắm, ưa thích, rồi mong muốn kéo dài cái cảm thọ đó ra, đó là cái tâm ái. Mình biết hỷ lạc, khinh an, nhưng mình vẫn biết cái đó là thọ, mình không có yêu thích, tham đắm, mà muốn kéo dài cái trạng thái đó ra, nó mất là mình tiếc nuối, thì đó là tham ái với cái thọ đó. Tuy rằng cái đó là tốt, nhưng mà mình có tham ái, dính mắc vô bên đó, thì nó trở thành không tốt.
(Phật tử trình pháp)
Còn cái vấn đề mà mình thấy tàm quý, hổ thẹn, cái đó là nên có, để nó đưa mình đến sự thanh tịnh, đưa mình đến cái tẩy sạch các cái cấu niệm. Như vậy, hai dòng cảm thọ song song mà chúng ta thường gặp trong sự tu, trong cái giai đoạn chúng ta là hỷ với ưu. Hỷ lạc trong ly dục, trong cái Thánh pháp, nhưng mà chúng ta ưu tư trong cái phiền não, cấu uế, lậu hoặc để chúng ta tiến lên. Có những lúc là chúng ta trú trong cái trạng thái an tịnh, lắng dịu, là ba cái thọ mà chúng ta thường tu. Ưu tư, khắc khoải, lo lắng, bất an vì các lậu hoặc, uế nhiễm còn quá nhiều, để mình làm cho nó thanh tịnh, thì cái đó cũng là thiện pháp. Rồi mình hỷ lạc, mình kinh an, mình ly dục, ly ác bất thiện pháp, vui thích, hạnh phúc, an lạc, đó cũng là thiện pháp, để cho mình làm cái sự thúc đẩy, động lực để mình tiến lên. Rồi cái thọ thứ ba là cái thọ an tĩnh, lắng dịu, không khổ, không lạc, để rồi mình quán chiếu thâm sâu vào tính chất vô thường, khổ, vô ngã của các cảm thọ, thì đó là ba cái thọ mà chúng ta thường an trú trong đó. Thọ hỷ tiến tu; thọ ưu cũng để tiến tu; thọ không hỷ, không ưu, không khổ, không lạc, chúng ta càng chìm sâu vào trong đó. Để không bị cái vô minh, tham ái trong cái thọ đó. Thấy rõ tính chất trống rỗng, vô ngã của nó, từ bỏ nó, nhìn nó chỉ là sắc, thọ, tưởng, hành, thức.
(Phật tử trình pháp)
“Tâm biết ơn này tỏa rộng, cùng khắp thế giới này. Tâm biết ơn này tỏa rộng, khắp trời đất bao la.”
Tương Ưng Sáu Xứ
Thiền Định Hiểu Rõ Sự Thật
Từ Bỏ Sẽ Hạnh Phúc An Vui
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Bài kinh Thiền định PAGEREF _Toc112246654 \h 1
II. Bài kinh Thiền tịnh PAGEREF _Toc112246655 \h 4
III. Bài kinh Không Phải Của Các Ông PAGEREF _Toc112246656 \h 9
I. Bài kinh Thiền định
Tâm thức của mình thật sự cần phải để ý nó rất nhiều, phải linh hoạt, nhạy bén trong sự học, sự tu, sự làm việc, hay là sự thích ứng đối với hoàn cảnh, những công việc mình cần phải xử lý. Hôm nay chúng ta tiếp tục nghe Tương Ưng Sáu Xứ, chương 1, đầu tiên là bài kinh “Thiền Định”
“Này các Tỳ-kheo, hãy tu tập Thiền định. Này các Tỳ-kheo, một Tỳ-kheo được Thiền định, hiểu rõ như thật.
Và hiểu rõ như thật cái gì?
Như thật hiểu rõ mắt là vô thường, như thật hiểu rõ các sắc là vô thường, như thật hiểu rõ nhãn thức là vô thường, như thật hiểu rõ nhãn xúc là vô thường. Phàm duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; như thật hiểu rõ cảm thọ ấy là vô thường... tai... mũi... lưỡi... thân...
Như thật hiểu rõ ý là vô thường, như thật hiểu rõ các pháp là vô thường, như thật hiểu rõ nhãn thức là vô thường, như thật hiểu rõ nhãn xúc là vô thường. Phàm duyên ý xúc, khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; như thật hiểu rõ cảm thọ ấy là vô thường.
Này các Tỳ-kheo, hãy tu tập Thiền định. Này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo được Thiền định, hiểu rõ như thật.”
(Tương Ưng Bộ kinh tập IV – bài kinh Thiền Định)
Như sáng nay con đến phòng trước khi đi kinh hành để mở bài hôm qua lên thì thấy nó bị không có tiếng ở đoạn đầu. Còn bài hôm trước thì nguyên một buổi bị không có tiếng, phải làm lại. Con sanh khởi lên những cảm thọ phiền não, nói: “Tại sao những cái việc bình thường, sinh hoạt hàng ngày rất là nhiệt tâm, phấn khởi, để tâm, mà tại sao có Thánh pháp không có chịu để tâm?” mà đã hướng dẫn, nói rất nhiều lần, không dưới 100 lần, thành ra cái pháp nó quan trọng, cố gắng để tâm vào. Khi chú làm phim chú về thì người trên núi từ trên xuống dưới lính quýnh hết, làm cho cái buổi học pháp nó không được trọn vẹn. Con sanh khởi lên cái phiền não, con mới nhìn lại tâm mình nói: “Thôi từ bỏ, nhân vậy, quả vậy, cái nghiệp nó vậy rồi. Có nói tram, lần ngàn lần cũng vậy, con từ bỏ cái cảm thọ đó” sau đó đi kinh hành nhẹ nhàng, mỉm cười thôi. Tại cái nhân quả, nghiệp nó vậy, cái bình thường thì để tâm, cái của phàm phu thì để tâm, mà cái Thánh hạnh thì không chịu để tâm thật là nhiều. Vô làm thì chỉ là làm không có lỗi thôi, chứ không có nói làm giỏi gì hết, sau đó con mới nhìn lại, con nói: “Thôi từ bỏ đi, từ bỏ suy nghĩ này, từ bỏ cảm thọ này, từ bỏ hình bóng này. Mình đã nói hết lòng rồi, nói bằng tất cả trái tim của mình mà không có để tâm. Phải từ bỏ cảm thọ, suy nghĩ, cái tưởng, cái nhận thức này, buông xả, từ bỏ”. Sau đó con đi thiền hành, trong cái tâm niệm từ bỏ, để nó lắng dịu, dễ chịu trở lại.
Nhà cửa, đất đai, tiền bạc, ruộng vườn, chùa chiền, sắc uẩn, sắc pháp, sắc tướng, sắc chất này đều là đi đến sự đổ nát, tan nát, tan hoại, hủy hoại, hoại diệt. Cái tâm mình yên tịnh rồi nhìn trở lại ở các sắc tướng trên cuộc đời này, ở sắc pháp, sắc uẩn, sắc chất, sắc đẹp trên thế gian này, mình sẽ thấy được tính chất, bản chất, bản tính của nó sẽ như thật hiển diện, hiện rõ trong khi tâm mình yên tĩnh. Nó chiếu sáng trí tuệ về sắc uẩn của mình, sự nguy hại của sắc nó là vô thường, đau khổ, biến đổi, táng hoại, hủy hoại, hoại diệt. Thì sự thật, bản chất, bản tính nó sẽ hiện rõ trong một cái tâm yên lặng và tĩnh sáng, thì cái biết đó nó rất sâu sắc. Cái biết đó là biết trong cái tâm yên tĩnh, trong cái tâm mà nhìn lại, soi chiếu trong ngoài các pháp. Cái biết đó là cái biết thẩm thấu, thâm sâu. Cái biết đó là biết của “tư huệ”, là trí tuệ do suy tư, nghiền ngẫm, quán chiếu. Khi tu tập là cái biết của “tu huệ”. Còn khi mình nghe đó là “văn huệ” thôi. Chúng ta nhớ “tam huệ” đó là văn huệ, tư huệ, tu huệ. Chúng ta nghe - hiểu đó là các bước thứ nhất: Trí tuệ do sự nghe.
Chúng ta bắt đầu trở về một mình trong căn phòng, ở nhà trống, dưới gốc cây, trên tảng đá, ở bên tịnh thất hay là ở trong Tăng xá, Ni xá, thiền đường, ngồi một mình, đi một mình. Nhìn lại những cái sắc, tưởng ở trong quá khứ. Nhìn lại những cảm thọ, những suy tư, các pháp trần, thọ, tưởng, hành ở bên trong mình. Nếu mình có tu tập thiền định thì khi nhìn, nhớ là nhìn bằng cái nhìn trong sáng, chúng ta nhớ kỹ, nếu chúng ta nhìn bằng cái nhìn của tham ái, của vô minh, của nghiệp là khác. Thành ra mới nói rằng: “Này các Tỳ-kheo, hãy tu tập thiền định. Này các Tỳ-kheo, một Tỳ-kheo được thiền định, hiểu rõ như thật”.
Chữ “thiền định” ở đây là nhìn bằng một cái tâm trong sáng, chứ không phải chỉ có ngồi yên mới có thiền định, đó là ở ngoài thân thôi, thân nó yên nhưng mà cái tâm nó có định không? Cái tâm định, cái tâm yên lặng đó, là im lặng ở trong cái si, cái không trần, trong cái thấy biết thông thường của phàm tình, phàm phu, hay là cái sự yên lặng mà quán xét. Như lý giác sát, tức là thiền định, thiền tuệ, chỉ quán, chữ “giác” là tĩnh giác, chữ sát là quán sát. Một con người ngồi yên, tĩnh giác quán sát các pháp nó sanh khởi, nó an trú, nó vận hành. Cho dù mình đang đi thiền hành, thì mình quay trở lại, mình coi những hình bóng trong những cảm giác, suy nghĩ. Thì như vậy là như lý giác sát, tĩnh giác, quan sát đúng sự thật của thân tâm, ngũ uẩn. Mình dùng danh từ khác là nhận diện ngũ uẩn, thiền định, như lý giác sát. Tất cả những danh từ đó đều là nó có điểm chung với nhau là một cái tâm yên tịnh quán sát lại ở bên trong.
Thành ra chữ “thiền định” này mình phải biết rằng, nhìn cái thân đó yên, cái tâm đó định, cái trí nó sáng, để nó nhìn trong một cái nhìn chính xác, trong sáng, Chánh kiến, nhìn đúng. Còn nếu như mình nhìn nó bằng cái vô minh, tham ái, chấp thủ, bản ngã của mình, thì mình sẽ không thấy được. Chúng ta thấy ngoài đời có biết bao nhiêu người ngồi yên, bao nhiêu người học thiền, biết bao nhiêu người ngồi thiền, nhưng mà họ không được chứng ngộ để ly tham ngũ uẩn, tại vì không có được Chánh kiến hướng dẫn. Nhìn với một cái nhìn trong sáng của tâm, không có bị “năm triền cái” che ngăn và trói cột. Cho nên là người tu chúng ta bước đầu là phải để tâm rất nhiều diệt năm triền cái.
Bây giờ mình ngồi thiền, mà trong tâm mình có ham muốn, thích, mong nhớ hay tơ tưởng cái gì đó, thì bị cái hình ảnh, cái tưởng, suy nghĩ, cảm giác đó ám ảnh nên cái tâm nó không trong sáng để nhìn thấy sự thật. Thí dụ bây giờ mình thương người nào đó, mà người đó bị người khác nói nặng hay la mắng, thì lúc đó ngay lập tức mình bênh người mình thương, mà mình không có bình tĩnh, sáng suốt để coi người mình thương làm cái gì, có sai hay không, nếu sai thì bị rầy là đúng. Mình bị cái thương đó nó che cái tâm, cho nên gọi lạc cái là sự che đậy. Khi ngồi thiền cũng vậy, mình bị cái thương mình đó nó che đậy, làm cho mình mờ tối đi, nên lời dạy của thầy, sư huynh, các bậc trưởng thượng cũng không chấp nhận, mà trái lại còn oán hận, chúng ta thấy cái này nó rất là sâu sắc. Tại vì mình bị tham ái, tự ngã, cái thương mình theo kiểu vô minh nó che đậy, nên mình không thấy được cái đó là cái tâm từ mà sanh khởi ra tâm sân hận, oán hận. Như vậy sao mình tu, sao mình tiến được. Cho nên thiền định ở đây là không có mặt năm triền cái, hoặc là sự lắng dịu rất nhiều của năm triền cái. Dục tham lắng dịu, sân lắng dịu, hôn trầm không có thì không có buồn ngủ, không có dao động thân tâm, không có hoài nghi đối với ngũ uẩn (tham, sân, hôn trầm, trảo cự, trạo hối với lại hoài nghi). Thì cái tâm nó trong sáng.
Cho nên “sáu căn vô thường, như thật”. Được hiểu rõ đúng sự thật. Sáu trần vô thường, hiểu rõ đúng sự thật. Sáu thức vô thường, thấy rõ đúng sự thật. Sáu xúc vô thường, thấy rõ đúng sự thật. Ba thọ (ba cảm giác), vô thường như thật, được thấu rõ. Mình thấy nó vô thường rồi thì mình nhàm chán, không ham thích nó nữa, thì mình từ bỏ, mình thoát ra được cái cảm thọ đó, cảm thọ buồn, giận hay cảm thọ nhớ nhung, thương yêu đó. Sau khi mình thấy nó rồi thoát ra, hoặc là dùng như lý tác ý. Sau khi như lý giác sát rồi mình dùng như lý tác ý. Nếu mà cái nào chưa giải quyết được thì mình phải tác ý thật mạnh, thật nhiều, thật là bền, thật là lâu, cho đến khi nào mình diệt tận được cái đó.
II. Bài kinh Thiền tịnh
Bây giờ chúng ta tới bài kinh “Thiền Tịnh”
“Này các Tỳ-kheo, hãy hành trì hạnh Thiền tịnh. Này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo Thiền tịnh, hiểu rõ như thật.
Và hiểu rõ gì như thật?
Như thật hiểu rõ mắt là vô thường, như thật hiểu rõ các sắc là vô thường, như thật hiểu rõ nhãn thức là vô thường, như thật hiểu rõ nhãn xúc là vô thường. Phàm duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; như thật hiểu rõ cảm thọ ấy là vô thường... tai... lưỡi... thân... ý...
Này các Tỳ-kheo, hãy hành trì hạnh Thiền tịnh. Này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo Thiền tịnh, hiểu rõ như thật.”
(Tương Ưng Bộ kinh tập IV – bài kinh Thiền Tịnh)
“Thiền” là thiền định, chữ “tịnh” là thanh tịnh, an định, an tịnh, tức là ở một chỗ an tịnh, hoặc là bất cứ mình ở chỗ nào mình thực tập sự an tịnh. Sự an tịnh là mình thực tập mà khi người ta hỏi mình phải nói liền, chứ không phải an tịnh là người ta hỏi mình ngồi im ru, đó không phải. Cái tâm mình hay dị hợm lắm, tâm nó cũng là cái bản ngã đó, những cái đó là mình phải nhìn thấy, nó sâu sắc lắm. Tới lúc người ta tịnh thì mình nói, người ta nói thì mình tịnh, làm cho lạ, cho quái vậy đó. Tới lúc người ta thức thì mình ngủ, người ta ngủ thì mình thức, mình tu, mình làm cho nó khác người vậy đó, thành ra những cái đó mình phải nhìn thấy được. Khi mình học xong, chính người dạy mình, rồi lấy mấy điều mình được học với người đó, mình lấy gậy ông đập lưng ông trở lại. Những cái tâm đó nó vi tế lắm, mình phải từ từ nhìn ra.
Ngồi yên rồi mình nhìn cái tâm mình, mình thấy thích thú, tuyệt vời lắm. Không có cái gì mà cao quý, ý nghĩa, quan trọng bằng việc làm này hết. Mình chạy ra ngoài chi cho nó mệt, mình chạy cả tram, cả ngàn cây số để mình ngắm được mấy cái đó chút, mình chụp hình, tốn tiền, tốn bạc, mất thời gian, mệt mỏi, có khi cự cãi, nguy hiểm, tai nạn nữa. Ở trên đây mấy vị đi theo con nhiều khi con bất ngờ lắm, không phải đi du lịch, nhưng mà trên đường đi trên đường như từ núi về Sài Gòn, hay mình đi giảng pháp, chia sẻ pháp ở đâu đó, mà chỗ nào có bờ sông, có gốc cây, chỗ nào có cảnh mát, là kêu bác tài đó dừng lại đây, đó là mình đang đi du lịch đó, xuống đây rồi nhận diện ngũ uẩn, xem giờ này bên trong nó như thế nào, đó chính là đi du lịch đó. Rồi nhiều khi ở Bảo Liên, sáng sớm khoảng 5 giờ mấy sáng đi kêu các chú đi bộ chung ra bờ sông, rồi dọc bờ sông đó, kêu trình pháp.
Con thưa các bậc hiền trí, Tăng Ni và quý Phật tử. Đời con giờ không có cái gì khác ngoài pháp hết, cho nên ai mà cái gì không phải pháp, thì đừng kiếm con nha, nó vô vị lắm. Ngoài pháp ra con không thấy cái gì liên quan tới cuộc đời này hết. Cho nên lại nói chuyện với con, nói người này, nói người kia, rồi sân si này nọ kia, tiền bạc, hơn thua, rồi con ngồi đó rồi thì ngồi chịu trận thôi, hoặc là ngồi đó quán chiếu thôi. Người tới mà chia sẻ pháp thì mới có cái cảm thọ mà nói chuyện. Thành ra các thầy, các cô, các vị mà không để tâm vô pháp, thì không có gặp con đâu, dầu cho đệ tử xuất gia cũng vậy. Cho nên không có để tâm vào việc pháp, thì sẽ không còn gặp con nữa. Con nhìn đi khắp vũ trụ, trái đất, hành tinh, cả địa cầu này là bọt với bong bóng thôi, chỉ có pháp mới là kim cương bất hoại. Nếu người không có quý khách thì dù có gặp con hay ở chung con cũng như không. Ở sát bên cạnh, nhưng mà cách xa ngàn dặm. Có người dù có ở xa nửa vòng trái đất, mà tương ứng với cái pháp, thì cũng gặp nhau mỗi ngày.
Tại sao mà con buồn, là vì các vị tu học không có để tâm vô pháp, mà trong khi con dùng sinh mạng để đánh đổi lấy cái pháp, hàng ngày không tiếc hơi, phải chiến đấu với những cái mệt mỏi, thậm chí là bệnh tật, để chia sẻ pháp. Nhưng mà kêu trình pháp thì không trình, hoặc trình cho có. Hễ làm những cái việc pháp thì không để tâm, không biết cái đó là thấy vô thượng, nghe vô thượng. Ta nói học thì học vậy đó, được chút cảm thọ ngay đó, rồi trở ra là rớt mất hết trơn. Tại vì sao mỗi ngày con phải chia sẻ pháp với chúng ta? Nếu mà không chia sẻ thì quý vị quên hết. Không có ai trú vào cái pháp, bị cái vô minh, tham ái, bản ngã, buông lung phóng dật.
Cho nên lấy cái sự chia sẻ pháp này làm cái thời khóa tu học cho chúng ta. Chúng ta thấy không? Ngồi đây nó an tịnh, lắng dịu, thấm thía vậy đó. Mà có khi đang ngồi nghe pháp vậy mà cái tâm có khi cũng chống đối, có khi buồn ngủ, có khi nó tầm tứ ở đâu đó, chứ đừng nói chi là không có ngồi nghe pháp, an trú vào pháp. Cho nên tối thiểu chúng ta ngồi cả buổi sáng, chúng ta lấy làm cái thời khóa để tập dần dần. Ngày mới của mình bắt đầu bằng Thánh triết, tuệ giác, thiền định, bằng sự như lý tác ý của bậc Thánh, trong những lời Thánh điển, để chúng ta tô đậm, khắc sâu mãi mãi không quên.
Con thưa đại chúng, chứ giờ con theo dự kiến là phải một chục năm thì mới có thể đứng vững trong pháp trợ lực này. Ngay cả tự thân con tu học xuyên suốt về vòng pháp Nikāya mà con vẫn luôn luôn trong lòng lo lắng, sợ hãi, bất an, không bao giờ dám tự tin và xem thường những lời dạy của Đức Phật. Tại sao con đọc từng chữ những bài kinh hết sức là đơn giản mà con phân tích, giải thích, mở rộng ra và chúng ta trào nước mắt, rút ra được những cái mà chúng ta chưa hiểu. Từng câu, từng chữ trong đây là con để tâm, đặt hết trái, đặt hết tấm lòng mình vào lời kinh của Đức Phật. Thậm chí những bài kinh như “Tương Ưng Sáu Xứ” này con nghe một bài như vậy mà nghe 100 lần, 300 lần, mà tại sao chúng ta không để tâm nhiều vào pháp, đó là tổn thất của chúng ta. Sau này không còn ai chia sẻ cho mình về những giáo pháp này nữa. Gần đây con cũng bắt đầu thâm nhập vào các phương pháp từ bỏ, lúc nào đó nếu không còn người tu học nhiệt tình, tha thiết nữa, có thể con sẽ ở ẩn. Khi đã biên tập kinh sách tạm ổn hết rồi, mà con không thấy người tha thiết, nhiệt huyết trong sự tu học, thì con sẽ làm cái phần của mình cho nó xong, chắc cũng không còn bao lâu nữa.
Trong thời buổi này, thật sự ngồi đây chia sẻ với chúng ta, chưa biết chiều nay con có còn sống hay không. Chúng ta thử nhìn ra thế giới (ai cũng có cái điện thoại cầm trên tay hết đó) bây giờ những biến chủng B4, B5 lợi hại hơn xưa, cực kỳ nguy hiểm. Dịch bệnh đậu mùa khỉ đã tràn qua bảy mươi mấy nước rồi, mấy chục ngàn người nhiễm, sốt xuất huyết ở thành phố này cũng chết mấy chục người, hàng trăm ngàn ca nhiễm. Chiến tranh, nghèo đói, dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn, sắp tới là sẽ đói kém, mất mùa. Bây giờ ở bên Trung Quốc nóng mà người ta đo dưới mặt đường là 70 mấy độ. Châu Âu chết hàng loạt người chưa từng có. Srilanka bây giờ 5 người là 4 người đói khát, Pakistan bây giờ cũng bắt đầu giống như srilanka, và nhiều nước nữa, khắp toàn cầu. Trong nước chúng ta, thì bây giờ chỉ cần chạy quẹt nhau một chút thôi là xuống đâm chết ngay tại chỗ, nhiều vụ án mấy ngày nay.
Thật sự là đại nạn, kiếp nạn, làm sao chúng ta có thể vô cảm, dửng dưng, có thể sống như kẻ mù lòa được. Đó là một cái chữ là “như thật”, “hiểu rõ các sắc là vô thường”, một cái câu đó thôi. Tuần sau con có thể ngồi đây, tháng sau con ngồi đây. Cho nên những vị không quý trọng phước, không để tâm vào pháp, thật sự con rất là đau lòng, xót xa. Hãy dùng sinh mạng của mình, dùng tất cả trong tâm lực, nghị lực, sinh lực, trí lực, nguyện lực, tận lực, thần lực của mình, ngày đêm chăm chăm niệm đạo, quán chiếu, thể nhập. Làm sao mà chúng ta có thể sống buông lơi, sống thả lỏng, sống buông lung phóng dật, cẩu thả, ẩu tả trong sự tu, sự học, việc làm để hoàn truyền Thánh pháp được.
Thật sự biết thương mình, hai chữ thương mình này, mình đọc lên mình phải thấm đẫm từng tế bào, từng thớ thịt, làn da, từng lỗ chân lông, từng huyết quản, mạch máu của mình. Thương mình thật nhiều, phải biết thương mình, thương cái sự vô minh, ngu dại, ngu si, hèn hạ, hạ liệt, phàm phu, ngu muội, mù lòa, điên loạn, vô minh, khát ái, tham ái, chấp thủ của mình. Thương cái sự cẩu thả, ẩu tả, qua loa, không có để tâm, không có chú tâm, không có quyết tâm, không có hết lòng đặt tâm đúng hướng trong những cái Thánh hạnh. Mình cứ ưa thích những chuyện phàm phu, hạ liệt, những cái chuyện nhỏ nhặt, nhỏ nhất, nhỏ mọn, nhỏ nhoi, nhỏ hẹp, thấp kém, phàm phu, tầm thường, hạ liệt để tạo nghiệp cho mình. Xót thương, đau khổ, ưu tư, ray rứt, thao thức cho mình. Phải làm cho mình sanh khởi ra sự bất an, sự lo sợ, dập đầu ở trước Phật “con thật là vô minh, con thật là ngu si, con thật là dại khờ, con thật là vô cảm trước Thánh pháp của Thế Tôn, con thật là kẻ mù lòa” dập đầu, quỳ lạy xuống, khóc cho chính mình, để giải phá những cái cảm thọ bản ngã, buông lung phóng dật, vô cảm, vô tri, vô giác, vô thức. Mở con mắt thật to ra để nhìn cuộc đời mình, những sự tàn khóc của thế gian này. Nhìn vòng luân hồi nghiệt ngã. Nhìn sự đau khổ bao trùm hết thế giới, hành tinh này, cho ước mắt đầy mặt đi, cho chấn động thân tâm hết đi. Phải cho xúc cảm thật nhiều đối với sự vô thường, đau khổ, vô ngã, bất an, hiểm họa này. Mình phải thấy xót xa cho cuộc đời, cho chính mình, cho những người thân thương mình, cho hữu tình, cho chúng sanh. Mình phải có tâm từ đối với mình, phải có lòng bi mẫn, xót thương đối với chính mình. Phải làm cho mình sanh khởi những cảm giác đó thường xuyên lên, để mình nỗ lực tu tập. Còn không là mình mang họa, bị hại, mình mất nạn ở trong cái thân này, tâm gặp nạn ở trong cái thân này.
III. Bài kinh Không Phải Của Các Ông
Tiếp theo chúng ta đến bài kinh “Không Phải Của Các Ông”
“Cái gì không phải của các Ông, này các Tỷ-kheo, hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó, sẽ đưa lại hạnh phúc an lạc cho các Ông.
Và này các Tỷ-kheo, cái gì không phải của các Ông?
Mắt, này các Tỷ-kheo, không phải của các Ông. Hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó, sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông. Các sắc không phải của các Ông. Hãy từ bỏ chúng. Từ bỏ chúng, sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông. Nhãn thức không phải của các Ông. Hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó, sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông. Nhãn xúc không phải của các Ông. Hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó, sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông. Phàm duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy không phải của các Ông. Hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó, sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông
… Tai … Mũi …… Lưỡi … Thân …Ý không phải của các Ông. Hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó, sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông. Các pháp không phải của các Ông. Hãy từ bỏ chúng. Từ bỏ chúng, sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông. Ý thức không phải của các Ông. Hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó, sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông. Ý xúc không phải của các Ông. Hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó, sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông. Phàm duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy không phải của các Ông. Hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó, sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông.”
(Tương Ưng Bộ kinh tập IV – bài kinh Không Phải Của Các Ông)
Cái thấy, cái nhìn này, từ bỏ nó. Nhìn cái gì mà nó sinh ra dục, ái, sân si, bản ngã, hơn thua thì từ bỏ, diệt tận cái nhìn đó luôn. Nghe cái gì mà nó hơn thua, sân si, phải quấy, thị phi, diệt luôn cái nghe đó. Đi nghe cái gì mà nó khởi ra từ tâm, khởi ra sự thăng tấn, tăng thượng trong tu học thì cho nó nghe, còn không thì từ bỏ đi.
“Nhãn thức thì không phải của các ông, từ bỏ nó sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông”
Cái thấy, cái nghe, cái ngửi, cái nếm, cái xúc, cái biết này không phải của chúng ta. Cái nào mà giúp cái thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc, biết nó tăng trưởng thiện pháp, tăng trưởng Thánh trí, thì mình cho nó xúc, cho nó thấy, cho nó nghe, cho nó tác ý. Còn cái nào mà sân si sanh khởi, bản ngã, hơn thua, thì diệt tận, từ bỏ nó luôn. Cho nên sáng này con đi thiền hành con niệm “từ bỏ, từ bỏ, từ bỏ. Thấy chi để mà phiền não mình, mù luôn đi, mình đừng có thấy nữa, đuôi luôn đi. Nghe chi để rồi hơn thua, điếc luôn đi, diệt tận luôn cái nhĩ thức này luôn đi.”
“Từ bỏ nó sẽ đưa lại hạnh phúc an lạc các Ông” Từ bỏ phiền não, đi kinh hành thấy hạnh phúc, nhẹ nhàng, an lạc, thảnh thơi liền. Ngay cả mình muốn tốt cho người ta, mà mình phiền não, dẹp luôn. Phiền não thì nó xấu rồi, không còn tốt nữa, giúp được thì giúp không giúp được thì thôi khỏi giúp nữa, từ bỏ. Nếu mình không khéo thì mình mất cả hai luôn, mình vừa không giúp người ta, mà chính sự tu học của mình nó cũng thoái thất, vậy giúp làm chi, tự mình lo tu cho mình thành tựu.
Đừng nói là cảm thọ khổ, ngay cả cảm thọ vui, từ bỏ, biết cảm thọ này là vô thường, nhưng mình sẽ bị dính mắc ở trong cảm thọ, cảm giác, cảm xúc này, từ bỏ. Khi dọn lên cái bàn ăn thiệt là ngon, đủ thứ món hết. Nó xúc nhãn xúc, mắt nó tiếp xúc thấy 15, 20 món đồ ăn ngon. Nó sẽ sanh thọ, tưởng, hành, thì mình tác ý “từ bỏ, cái cảm thọ này vô thường, ăn rồi nuốt cái ọt cũng vậy, không khéo cũng bệnh thêm” mình làm cho cái cảm thọ dâng lên ham, thích cái món ăn đó tan biến, rồi từ từ mình ăn. Cảm thọ nóng giận cũng vậy, mình nghe người ta chỉ trích thì sanh khởi âm thanh nóng giận, đừng có vội nói, mình quán sát, như lý giác sát cái cảm thọ đó, tác ý từ bỏ cái cảm thọ đó, chừng nào cảm thọ nó hết, rồi lúc đó hãy nói. Còn cái cảm thọ nó đang nóng, đang giận, đang bực mà mình nói cái là trật lắc, hư chuyện, cháy chùa hết, gặp chùa bằng lá nữa thì nó cháy mau hơn.
Cho nên con ở trên Linh Quy đó là 18 năm nay, nhờ sống với cái tâm từ, chứ còn không là đốt chùa không biết bao nhiêu lần. Những người xung quanh, giúp đỡ cho họ, mình giúp con họ đi bệnh viện, giúp vợ họ khi sắp chết, giúp gia đình họ, mình giúp rồi họ còn doạ đến đốt chùa. Mình phải trải tâm từ, chứ không thì mình đâu có ở đó tới giờ. Xóm làng chung quanh mình giúp đỡ cho họ, mà chẳng những vậy, mình giúp họ xong, họ còn lên họ phá nữa, gom dép của người ta đi xuống dưới chân núi bán, rất là xót xa, rất là tội nghiệp, rất là đáng thương. Nhưng mà mình không có cái tâm từ này, làm sao mà mình an ổn được, phiền não tối ngày hoài làm sao mình tu. Cây tùng mình trồng vậy đó, họ đem thuốc họ đổ lên làm chết cây, đặng người đi đường nhìn thấy quán của họ. Con thấy xong rồi con khởi phiên não lên rồi con diệt luôn, nói: “Mày chết đi mày, ngã xuống đây mày chết ngay tại chỗ, mày chôn ngay góc tùng này nè” rồi sau đó con từ bỏ luôn, không nói gì nữa. Nếu chỗ nào sân si, khó chịu khởi lên là hạ nguyệt chôn ngay tại chỗ đó.
Chúng ta thấy, sự tu của mình thật sự nó rất là vi tế, ở khắp mọi chỗ, mọi nơi, ở sát bên cạnh mình, nếu mà mình không tu thì chuyện gì xảy ra? Đây là chỉ nói có 1% thôi. Con thấy trong chúng có những cái chuyện hết sức đơn giản, hàng ngày tgeo thời khóa tu học thôi mà làm không được nữa, nên con thật sự rất là đau lòng. Quý thầy phải gánh vác bao nhiêu chuyện để cho mình có được cái sự an ổn để mình tu học, mà chỉ có thời khóa tu học thôi mà mình không làm được, thì thật sự là có lỗi rất là nhiều. Để có được sự an lạc cho đại chúng tu học, quý thầy và các vị hộ pháp phải hy sinh, lo lắng, bảo bọc, che chắn, biết bao nhiêu khó khan, làm sao mà chúng ta hiểu hết được. Cho nên mình niệm ơn đức Tam Bảo, Thầy Tổ là như vậy. Mình mới vừa vô tu, chưa gì hết, học được mấy cuốn kinh là bắt đầu mình lên bắt lỗi, chỉ trích, ngã mạng. Mình đâu có hiểu được cái khó khăn, bao nhiêu sóng gió và trong âm thầm, thầy tổ, các bậc hiền tri thức, các bậc hộ pháp người ta âm thầm, lặng lẽ, hộ trì, giữ gìn, bao bọc, che chắn, bảo vệ cho mình có được sự an lành, để mình tu học mỗi ngày. Đó là lý do tại sao con đề cái bảng “trang nghiêm, thanh tịnh, cung kính biết ơn” Vì vậy mình nói từ bỏ, ở đây là từ bỏ những cái chấp thủ, tham, sân, si, bản ngã. Chứ còn cái tâm biết ơn, từ bi, hỷ xả là không có từ bỏ, phát triển cho nó lớn lên, nhớ đừng có hiểu lầm nói từ bỏ là cái gì cũng bỏ hết, cái tâm biết ơn, cung kính thầy, thương huynh đệ mà bỏ luôn là không phải. Nhớ tu cái tâm xả, hôm trước chúng ta học rồi.
“Phàm duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì. Khổ vui hay không khổ không vui, cảm thọ ấy đều phải từ bỏ. Những cái cảm Thọ ấy không phải là của các ông hãy từ bỏ. Từ bỏ sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông”. Đây là nói những cái cảm thọ tham, sân, si, vô mình, bản ngã, hơn thua. Còn những cái cảm thọ hỷ lạc, phấn chấn, mạnh mẽ trong sự tu học là mình phải nuôi lớn, tưới tẩm, tăng trưởng, phát triển.
“Ví như, này các Tỷ-kheo, trong rừng Thắng Lâm này có người mang đi, hay mang đốt, hay làm theo những gì người ấy muốn, tất cả cỏ, củi, nhánh cây hay lá, thời các Ông có nghĩ như sau: “Người ấy mang chúng tôi đi, hay đốt chúng tôi, hay làm gì chúng tôi theo ý người ấy muốn”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Vì sao? Vì chúng không phải tự ngã hay không thuộc về tự ngã.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, mắt không phải của các Ông. Hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó, sẽ đưa đến hạnh phúc, an lạc cho các Ông. Các sắc không phải của các Ông … Nhãn thức không phải của các Ông … Nhãn xúc không phải của các Ông … Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy không phải của các Ông. Hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó, sẽ đưa đến hạnh phúc, an lạc cho các Ông.”
Chúng ta nghĩ đi, sự nhận diện ngũ uẫn này rất là thâm sâu, khi mà khởi lên cảm xúc đó, mình có kịp nhận diện nó hay không? Hay mình nhập cuộc với nó? Nếu mà mình không có một cái thiền định, định lực, định tĩnh, trầm tĩnh, an tịnh, lắng dịu sâu sắc thì khi nó sanh khởi một cái cơn giận lên, là mình nhập cuộc vô nó liền “phải không ạ?” Khi nó sanh khởi cái ham muốn lên, là nó dẫn mình, dắt mũi kéo mình đi liền. Khi nó sanh khởi cái bản ngã lên, là mình tranh đấu, thị phi liền. Đó là tại sao? Vì không có thiền định, không có định tịnh, trầm tĩnh. Tuy hiểu là hiểu vậy, học thì hiểu vậy, nhưng khi đụng chuyện rồi lúc đó là mèo hoàn mèo thôi, mới vừa nói một câu thôi là trả lời lại ba câu. Ý đó là ông thầy của mình đó, chứ đừng nói chi là người thấp kém hơn, thì làm sao tu.
Như con làm việc với mấy chú thợ vậy đó, mình nói một câu là không chịu, gạt ngang mình, ổng làm cho mình 7 câu lại. Đối với người trong nhà cũng vậy, hay là các Phật tử, mình mới vừa nói 1 câu thôi là nhảy vô làm 4 câu rồi. Thôi “Dạ mô Phật” rồi xong, từ bỏ. Chịu nghe thì mình mới nói được, mình vì lòng từ mẫn mình muốn giúp cho họ, để nhìn thấy được thân tâm của họ, những nguyên nhân làm cho họ khổ đau, mà mình trình ba bốn lần rồi không nghe thì thôi khỏi nói. Tại vì sao? Tại vì không có một tịnh tâm, không có tu tập với an tịnh lắng dịu, nói trong dục, trong sự thúc giục, trong vô minh, bản ngã, muốn hơn, muốn dành phần thắng, phần đúng, phần phải về mình, vậy làm sao mà tu, bảo vệ cái bản ngã tuyệt đối thì sao mà tu. Trong khi mình tu mình phải dập cái bản ngã mà giờ ai đụng tới cũng không được thì sao mà tu.
Tại sao chúng ta lạy sám hối diệt ngã thường xuyên? Đó là để mình nhớ hoài, để tới lúc đó mình mới, nhớ đó gọi là Chánh niệm. Còn không lúc đụng chuyện quên mất pháp hết trơn. Thành ra chúng ta thấy hững bài kinh này thực sự mình nó rất là vi tế, sâu sắc. Chúng ta nhìn nhận lại trong sinh hoạt thường nhật của mình thôi, tất cả cái này là nhận diện ngũ uẫn thì nó ra hết. Mình phải tập từ bỏ cái bào chữa, ngụy biện, quanh co, giấu lỗi lầm. Tập lắng nghe, tập nhận lỗi để biết sửa lỗi, để mình bớt lỗi, hết lầm, để mình hoàn thiện. Chứ nói tới là giận, nói tới là cãi, là bào chữa, nó không có quay trở lại. Khi mình nghe một người góp ý, hướng dẫn cho mình, thì mình phải lập tức xoay trở về nội tâm mình liền, và lúc đó là lúc mình thực tập thiền quán nhận lỗi, lắng nghe lời của những người góp ý đó, xoay ngược trở vào soi chiếu lại các hành vi, hành động. Lắng nghe cái câu chữ của người đó rồi xoay chiếu lại trở lại tự thân của mình, để mình đối chiếu lại coi đúng hay là sai, từ từ phản ứng.
Con thưa với đại chúng, chứ con làm 7,8 bài “Sư táng đạo sư” mà dùng hết tất cả tâm tư, những ngôn từ cao đẹp nhất để mình Sư táng bậc đạo sư. Thầy của con khi nghe không có trả lời một tiếng, con cảm nhận được là cái thọ thầy không có dao động, không có xảy ra lạc thọ khi mà nghe Sư táng như vậy. Thì chúng ta biết là công phu thâm hậu tới mức độ nào. Thành ra chúng ta tập cái tâm an tịnh, lắng dịu, trầm tĩnh, thiền định rất là quan trọng, để chúng ta nhìn thấy được các pháp, căn, trần thức, xúc, thọ đều là vô thường, khổ đau, bất an, không phải của mình, là cái thứ đáng từ bỏ, đáng buông xả. “Cảm thọ ấy không phải là của các Ông hãy từ bỏ nó sẽ đưa lại hạnh phúc an lạc cho các Ông” thuộc lòng cái câu đó, cảm thọ đó không phải là của mình, hãy từ bỏ nó, sẽ đem lại hạnh phúc, an lạc cho chúng ta.
Khi mình ngồi thiền mình có những cái hỷ lạc, khinh an, để nhận diện ngũ uẫn một cách rõ là mình đang có cái cảm thọ hỷ lạc, tham đắm, ưa thích, rồi mong muốn kéo dài cái cảm thọ đó ra, đó là cái tâm ái. Mình biết hỷ lạc, khinh an, nhưng mình vẫn biết cái đó là thọ, mình không có yêu thích, tham đắm, mà muốn kéo dài cái trạng thái đó ra, nó mất là mình tiếc nuối, thì đó là tham ái với cái thọ đó. Tuy rằng cái đó là tốt, nhưng mà mình có tham ái, dính mắc vô bên đó, thì nó trở thành không tốt.
(Phật tử trình pháp)
Còn cái vấn đề mà mình thấy tàm quý, hổ thẹn, cái đó là nên có, để nó đưa mình đến sự thanh tịnh, đưa mình đến cái tẩy sạch các cái cấu niệm. Như vậy, hai dòng cảm thọ song song mà chúng ta thường gặp trong sự tu, trong cái giai đoạn chúng ta là hỷ với ưu. Hỷ lạc trong ly dục, trong cái Thánh pháp, nhưng mà chúng ta ưu tư trong cái phiền não, cấu uế, lậu hoặc để chúng ta tiến lên. Có những lúc là chúng ta trú trong cái trạng thái an tịnh, lắng dịu, là ba cái thọ mà chúng ta thường tu. Ưu tư, khắc khoải, lo lắng, bất an vì các lậu hoặc, uế nhiễm còn quá nhiều, để mình làm cho nó thanh tịnh, thì cái đó cũng là thiện pháp. Rồi mình hỷ lạc, mình kinh an, mình ly dục, ly ác bất thiện pháp, vui thích, hạnh phúc, an lạc, đó cũng là thiện pháp, để cho mình làm cái sự thúc đẩy, động lực để mình tiến lên. Rồi cái thọ thứ ba là cái thọ an tĩnh, lắng dịu, không khổ, không lạc, để rồi mình quán chiếu thâm sâu vào tính chất vô thường, khổ, vô ngã của các cảm thọ, thì đó là ba cái thọ mà chúng ta thường an trú trong đó. Thọ hỷ tiến tu; thọ ưu cũng để tiến tu; thọ không hỷ, không ưu, không khổ, không lạc, chúng ta càng chìm sâu vào trong đó. Để không bị cái vô minh, tham ái trong cái thọ đó. Thấy rõ tính chất trống rỗng, vô ngã của nó, từ bỏ nó, nhìn nó chỉ là sắc, thọ, tưởng, hành, thức.
(Phật tử trình pháp)
“Tâm biết ơn này tỏa rộng, cùng khắp thế giới này. Tâm biết ơn này tỏa rộng, khắp trời đất bao la.”