Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Tâm An Không Sợ Hãi 2

2026-03-03 00:55:11
TÂM AN KHÔNG SỢ HÃI 2

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Điều phục sợ hãi PAGEREF _Toc80948733 \h 1

II. Niệm Phật – Niệm Pháp – Niệm Tăng PAGEREF _Toc80948734 \h 5

III. Người trí – người ngu PAGEREF _Toc80948735 \h 9

IV. Sợ hãi – Không sợ hãi cái chết PAGEREF _Toc80948736 \h 11

I. Điều phục sợ hãi

Hôm nay chúng ta nghe những lời của Đức Thế Tôn dạy cho chúng ta phương pháp không sợ hãi. Trong thời điểm bất an hiện tại thì những lời kinh này rất quý giá, rất cần thiết, cấp thiết cho tất cả chư tăng ni cùng quý Phật tử thực tập để chúng ta được sự bình tâm trong đại dịch, tâm an không sợ hãi.

Chúng ta có rất nhiều bài kinh và chúng ta chỉ chọn ra một số bài kinh, tiêu đề không sợ hãi thì có khoảng mười bài kinh, những nội dung nói về không sợ hãi cũng rất nhiều.

Đầu tiên chúng ta sẽ nghe Đức Thế Tôn dạy mình phương pháp niệm Phật, niệm Pháp, niệm tăng để diệt trừ sự lo lắng và sợ hãi. Chúng ta sẽ xem được niệm Phật khi đó có giống với niệm Phật bây giờ không.

Bài kinh trong Tương Ưng Bộ tập 1, bài kinh Đầu lá cờ:

“1) (Thế Tôn) trú ở Sàvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anàthapindika.

2) Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: "-Này các Tỷ-kheo." "-Thưa vâng, bạch Thế Tôn." Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.

3) Thế Tôn nói như sau:

4) Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, một cuộc chiến dữ dội khởi lên giữa chư Thiên và các Asùra.

5) Rồi này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka gọi chư Thiên ở Tam thập tam thiên:

"- Này thân hữu, khi các Ông lâm chiến, nếu sợ hãi, hoảng hốt hay lông tóc dựng ngược có khởi lên; lúc ấy, các Ông hãy nhìn nơi đầu ngọn cờ của ta. Khi các Ông nhìn lên đầu ngọn cờ của ta, thời sợ hãi, hoảng hốt hay lông tóc dựng ngược sẽ tiêu diệt.”

Khi ra chiến trường, lâm trận, cuộc chiến giữa Chư Thiên và Thần A-tu-la, khi các ông sợ thì hãy nhìn lên đầu ngọn cờ của ta, khi đó các ông sẽ hết sợ hãi, hết hốt hoảng, sẽ không còn bị lông tóc dựng ngược nữa

“6) Nếu các Ông không ngó lên đầu ngọn cờ của ta, thời hãy ngó lên đầu ngọn cờ của Thiên vương Pajàpati. Khi các Ông ngó lên đầu ngọn cờ của Thiên vương Pajàpati, thời sợ hãi, hoảng hốt hay lông tóc dựng ngược có khởi lên, cũng sẽ tiêu diệt.

7) Nếu các Ông không ngó lên đầu ngọn cờ của Thiên vương Pajàpati, hãy ngó lên đầu ngọn cờ của Thiên vương Varuna. Khi các Ông ngó lên đầu ngọn cờ của Thiên vương Varuna, thời sợ hãi, hoảng hốt hay lông tóc dựng ngược có khởi lên cũng sẽ tiêu diệt.

8) Nếu các Ông không ngó lên đầu ngọn cờ của Thiên vương Varuna, hãy ngó lên đầu ngọn cờ của Thiên vương Isàna. Khi các Ông ngó lên đầu ngọn cờ của Thiên vương Isàna, thời sợ hãi, hoảng hốt hay lông tóc dựng ngược có khởi lên, cũng sẽ tiêu diệt."

9) Này các Tỷ-kheo, khi họ nhìn lên đầu ngọn cờ của Thiên chủ Sakka, hay khi họ nhìn lên đầu ngọn cờ của Thiên vương Pajàpati, hay khi họ nhìn lên đầu ngọn cờ của Thiên vương Varuna, hay khi họ nhìn lên đầu ngọn cờ của Thiên vương Isàna, thời sợ hãi, hoảng hốt hay lông tóc dựng ngược được khởi lên, có thể sẽ biến diệt và sẽ không biến diệt.

10) Vì cớ sao? Này các Tỷ-kheo, vì Thiên chủ Sakka chưa đoạn diệt tham, chưa đoạn diệt sân, chưa đoạn diệt si, còn nhát gan, hoảng hốt, hoảng sợ, hoảng chạy.

Tuy phước đức của Ngài rất lớn vì là vua trời, vua của tầng trời thứ ba mươi ba. Bình thường làm vua của thế gian thì phước đức đã lớn, đây là vua trời thì phước đức lớn hơn. Tại sao Ngài nói vậy mà Đức Thế Tôn nói vậy chưa hẳn là đúng? Khi làm theo lời của vua trời Sakka nói là nhìn lên đầu ngọn cờ thì có người hết sợ, có người không hết sợ. Vì “Thiên chủ Sakka chưa đoạn diệt tham, chưa đoạn diệt sân, chưa đoạn diệt si, còn nhát gan, hoảng hốt, hoảng sợ, hoảng chạy.” Tức là tham chưa hết, nóng giận chưa hết, si mê, trí tuệ về ngũ uẩn chưa thành tựu viên mãn, chưa thấy được thân tâm mình một cách trọn vẹn, đầy đủ tất cả mọi phương diện, khía cạnh nên còn si mê, vô minh nên “còn nhát gan, hoảng hốt, hoảng sợ, hoảng chạy”.

“11) Và này các Tỷ-kheo, Ta nói như sau: Này các Tỷ- kheo, khi các Ông đi vào rừng, đi đến gốc cây hay đi đến nhà trống, nếu run sợ, hoảng hốt, hay lông tóc dựng ngược có khởi lên, trong khi ấy hãy niệm nhớ đến Ta: "Ngài là Thế Tôn, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn".

12) Này các Tỷ-kheo, khi các Ông niệm nhớ đến Ta, thời sợ hãi, hoảng hốt hay lông tóc dựng ngược có khởi lên, sẽ được tiêu diệt.

13) Nếu các Ông không niệm nhớ đến Ta, hãy niệm nhớ đến Pháp: "Đây là Pháp do Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, có quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, do người trí tự mình giác hiểu."

14) Này các Tỷ-kheo, khi các Ông niệm nhớ đến Pháp, thời sợ hãi, hoảng hốt hay lông tóc dựng ngược có khởi lên sẽ tiêu diệt.

15) Nếu các Ông không niệm nhớ đến Pháp, hãy niệm nhớ đến chúng Tăng: "Chúng Tăng đệ tử Thế Tôn là bậc thiện hạnh; chúng Tăng đệ tử Thế Tôn là bậc trực hạnh; chúng Tăng đệ tử Thế Tôn là bậc chánh hạnh; chúng Tăng đệ tử Thế Tôn là bậc như pháp hành, tức là bốn đôi, tám chúng. Chúng Tăng đệ tử này của Thế Tôn đáng được cúng dường, đáng được hiến dâng, đáng được bố thí, đáng được chấp tay, là vô thượng phước điền ở trên đời."

16) Này các Tỷ-kheo, khi các Ông niệm nhớ đến chúng Tăng, thời sợ hãi, hoảng hốt, hay lông tóc dựng ngược có khởi lên sẽ tiêu diệt.

17) Vì sao? Này các Tỷ-kheo, Như Lai, bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri đã ly tham, ly sân, ly si, không nhát gan, không hoảng hốt, không hoảng sợ, không hoảng chạy.

18) Thế Tôn nói như vậy, Thiện Thệ nói vậy xong, bậc Đạo Sư nói tiếp:

Này các vị Tỷ-kheo,

Trong rừng hay gốc cây,

Hay tại căn nhà trống,

Hãy niệm bậc Chánh Giác.

Các Ông có sợ hãi,

Sợ hãi sẽ tiêu diệt.

Nếu không tư niệm Phật,

Tối thượng chủ ở đời,

Và cũng là Ngưu vương,

Trong thế giới loài Người,

Vậy hãy tư niệm Pháp,

Hướng thượng, khéo tuyên thuyết.

Nếu không tư niệm Pháp,

Hướng thượng, khéo tuyên thuyết,

Vậy hãy tư niệm Tăng,

Là phước điền vô thượng.

Vậy này các Tỷ-kheo,

Như vậy tư niệm Phật,

Tư niệm Pháp và Tăng,

Sợ hãi hay hoảng hốt,

Hay lông tóc dựng ngược,

Không bao giờ khởi lên.

(Bài kinh Đầu lá cờ, I. Phẩm thứ nhất, Chương XI. Tương Ưng Sakka,

Tương Ưng Bộ Kinh)

Đây là bài kinh thứ nhất Đức Phật dạy chúng ta về phương pháp điều phục sợ hãi, về phương pháp niệm Tam Bảo. Chúng ta thấy niệm Phật ở đây không giống như niệm Phật hiện nay, đó là niệm mười trí đức, đức hạnh, công đức, ân đức của Đức Phật. Chúng ta lễ trí đức Như Lai đó cũng là niệm Phật, để mình nhớ nghĩ về trí niệm, công đức của Đức Phật. Chữ niệm bên trên có chữ kim, kim là hiện tại, dưới là chữ tâm, tâm mình ngay lúc đó nhớ về điều gì đó nên niệm là nhớ nghĩ, không phải là đọc, đọc như vậy là khẩu niệm, không phải tâm niệm.

Chúng ta cần học kĩ bài Trí đức Như Lai, ai học thuộc được thì rất tốt, không thì hiểu từng chữ trong đây thì không thể giải thích từng chữ nhiều được.

II. Niệm Phật – Niệm Pháp – Niệm Tăng

“Ngài là Thế Tôn, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn”

Thế Tôn là bậc tôn kính trên đời, Ứng Cúng là đáng được cúng dường, Chánh Biến Tri là sự thấy biết một cách chân chánh, cùng khắp, Minh Hạnh Túc là đầy đủ tam minh gồm thiên nhãn minh, sanh tử minh, túc mạng minh. Nên nếu chúng ta không phải là Đa văn Thánh đệ tử, không học và không biết được thì không thể niệm. Mình cứ nghĩ là niệm rồi có bậc xuống độ cho mình thì đó là mê tín. Vậy nên phải biết đức, trí, hạnh của Đức Phật như thế nào, ân của Ngài đối với mình như thế nào thì lúc đó mình mới niệm được. Vì vậy phải hiểu được đức, trí tuệ, hạnh, ân của người đó.

Thiện Thệ là khéo vượt qua bốn bộc lưu, Thế Gian Giải là thông giải các pháp ở thế gian, tức là ngũ uẩn. Vô Thượng Sĩ là bậc không ai trên được. Điều Ngự Trượng Phu là bậc có khả năng điều phục, chế ngự người can cường, giỏi giang. Thiên Nhơn Sư là thầy của trời người, Phật là bậc giác ngộ.

Giải thích ngắn gọn là như trên, gồm mười danh hiệu, nhưng mình tóm gọn hơn nữa thì nhớ là “Đức Phật là bậc lìa tham, sân, si” đây là đơn giản nhất, dễ nhớ nhất, là bậc mà cả thế gian tôn kính vì Ngài đã lìa tham sân si, diệt tận tham, sân, si một cách hoàn toàn, thành tựu giới định huệ một cách viên mãn. Đó là niệm Phật.

Từ Thế Tôn là bậc tôn kính ở trên đời, tôn kính nhất đời vì Ngài lìa được tham, sân, si. Và từ đâu Ngài lìa được tham, sân, si? Đó là thành tựu giới định tuệ. Lúc đó mình niệm được. Nếu giờ mình tham dục đầy rẫy, tham muốn đủ thứ, tham ái đau khổ nhiều, còn Ngài là bậc đã lìa tất cả những thứ đó. Mình đau khổ, say đắm vào những thứ này mà Ngài đã hoàn toàn xa lìa những thứ này nên Ngài là bậc đáng được tôn kính, đáng được đảnh lễ, chắp tay, cúng dường, ruộng phước vô thượng ở trên đời, đó là niệm Phật, nhớ nghĩ về trí tuệ, đức hạnh của Ngài. Khi mình nhớ về đó thì mình giải tỏa những lo lắng, bất an, sợ hãi và khổ đau trong khi mình nhớ về Ngài. Vì Ngài đã ly tham sân si, mình thì đầy rẫy tham sân si.

Nên bài mọi khi chúng ta đọc khi mình vào lễ đó chính là niệm Phật niệm Pháp niệm Tăng: “Con chân thành đảnh lễ Phật Thích Ca Mâu Ni…” Bài đó là niệm Phật, niệm Tam Bảo.

Hoặc trong phần đầu tiên của quyển Cửa Vào Bất Tử cũng vậy:

“Con xin đảnh lễ Ngài

Bậc thế gian tôn kính

Bậc thầy của Trời, Người

Phật Thích Ca Mâu Ni

Bậc thoát ly phiền não

Bậc tẩy sạch vô minh

Ngài là Đức Thế Tôn

Bậc Chánh Đẳng Chánh Giác

Bậc tự mình thoát khỏi

Biển sanh tử khổ đau.”

(Bải Đảnh lễ Đức Phật, Quyển Cửa Vào Bất Tử)

Trên chính là đang niệm Phật, không chỉ tâm niệm mà khẩu niệm. “Con xin đảnh lễ Ngài, bậc đoạn tận tham ái, bậc đoạn tận sợ hãi, tâm Ngài không dao động, tâm không nhiễm thế gian” Đó là niệm, nhớ nghĩ về ân đức của Ngài, đức hạnh của Ngài, công đức của Ngài. Những điều mà Ngài làm được mà mình chưa làm được, mình hướng tới chỗ đó, mình ao ước, mong, hy vọng là mình sẽ đạt được đến đó, đi theo con đường của Ngài, đó gọi là hướng thượng.

Đến điều thứ hai, “Pháp do Thế Tôn khéo thuyết” là thiết thực ở hiện tại, đó là niệm Pháp. Niệm Pháp là mình niệm tiếp theo tùy thuộc vào mình nhớ nghĩ được về Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ý Túc, Ngũ Căn, Ngũ Lực, Thất Bồ Đề Phần, Bác Thánh Đạo Phần, Tứ Niệm Xứ, và đầy đủ Ba mươi bảy phẩm trợ đạo. Mình nhớ những gì, tu những gì, tâm đắc với những gì thì mình niệm Pháp đó. Ví dụ như những ngày qua mình niệm về tâm từ, tâm bi, tâm hỷ, tâm xả hay mình tâm đắc những câu nào trong bài thiền quán thì mình niệm câu đó lên, đó là niệm Pháp. Niệm lên và chiêm nghiệm những pháp đó thì tự nhiên những bất an, sợ hãi sẽ tan biến, chấm dứt.

Kế đến là niệm Tăng, niệm về các bậc tu hành đức độ, mình nghĩ nhớ về các bậc đó. Ví dụ như Ngài Xá-lợi-phất cũng là tăng, Ngài Mục-kiền-lyên, Ngài Ca-diếp, khi học mình đã biết về những đức hạnh của các Ngài tu như thế nào, mình nhớ nghĩ về những đức hạnh của các vị đó, đó là mình niệm Tăng. Hoặc niệm về các bậc thiện tri thức mà mình đã được gặp, được nghe được học như bậc tu hành chân chánh, đức độ. Mình cứ nhớ về những đức hạnh đó và mình niệm Tăng. Như vậy là mình sẽ tiêu trừ được sợ hãi.

Tiếp theo là bài kinh trong Tăng Chi Bộ Kinh tập một, bài kinh Người ngu:

“1. Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

- Này các Tỷ-kheo:

- Thưa vâng. Bạch Thế Tôn.

Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

 Phàm có sự sợ hãi nào khởi lên, này các Tỷ- kheo, tất cả sự sợ hãi ấy khởi lên từ người ngu, không phải từ người hiền trí.

 Phàm có những nguy hiểm nào khởi lên, tất cả những nguy hiểm ấy khởi lên từ người ngu, không phải từ người hiền trí.

 Phàm có những tai họa nào khởi lên, tất cả những tai họa ấy khởi lên từ người ngu, không phải từ người hiền trí.

Ví như, này các Tỷ-kheo, ngọn lửa từ nhà bằng cỏ lau, hay từ nhà bằng cỏ, thiêu đốt những ngôi nhà có nóc nhọn, các ngôi nhà có trét trong và trét ngoài, ngăn chận được gió, các ngôi nhà có chốt cửa đóng chặt, có các cửa đóng kín.

Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm có sự sợ hãi nào khởi lên, này các Tỷ-kheo, tất cả sự sợ hãi ấy khởi lên từ người ngu, không phải từ người hiền trí. Phàm có những nguy hiểm nào khởi lên, tất cả những nguy hiểm ấy khởi lên từ người ngu, không phải từ người hiền trí. Phàm có những tai họa nào khởi lên, tất cả những tai họa ấy khởi lên từ người ngu, không phải từ người hiền trí.

Như vậy, này các Tỷ-kheo, người ngu có sợ hãi, người trí không sợ hãi; người ngu có nguy hiểm, người trí không có nguy hiểm; người ngu có tai họa, người trí không có tai họa. Này các Tỷ-kheo, không có sợ hãi đến với người trí, không có nguy hiểm đến với người trí, không có tai họa đến với người trí.

Tại sao không có sợ hãi đến với người trí, không có nguy hiểm đến với người trí, không có tai họa đến với người trí? Người trí là người Chánh Kiến, thấy được ngũ uẩn là vô thường, khổ, vô ngã. Lúc nào cũng thấy sắc là vô thường, thân thể này là khổ đau, bệnh tật, là trống rỗng, là vô ngã thì mình có lo lắng, có sợ hãi không? Có thấy gì là nguy hiểm không? Có thấy gì là tai họa không? Vì mình không ở trong trí đó, mình cứ sống với những điều phàm tình như tôi, của tôi, con tôi, tài sản tôi. Mình luôn nghĩ vậy và “tự ta ta không có, con đâu, tài sản đâu!”

III. Người trí – người ngu

Những điều sâu sắc mình nói trước rồi tiếp theo Đức Thế Tôn nói cho mình nghe những điều căn bản. Do mình không trú trong trí tuệ đó, chánh kiến đó, không thấy đúng về ngũ uẩn đó thì mình mới có sợ hãi, có nguy hiểm và có tai họa. Mình thường tác ý, thường tư duy, thường quán chiếu, thường trú trong trí tuệ đó thì “Phàm có sự sợ hãi nào khởi lên thì này các Tỳ-kheo, tất cả sợ hãi khởi lên với người ngu, không phải từ người hiền trí!”

Mình sợ những vật chất vô thường, sợ bị hao, bị hư, sợ nhiều thứ thì đó là mình chưa phải người trí. Cứ lo lắng, suy nghĩ, cứ sợ hãi về những thứ vật chất vô thường này. Nên chúng ta hiểu thêm được về người ngu và người trí trong đạo Phật, còn rất nhiều bài kinh khác chúng ta cần phải học.

“Do vậy, ở đây, cần phải học tập như sau: Thành tựu với ba pháp nào, người ngu được biết là như vậy, hãy từ bỏ ba pháp ấy. Thành tựu với ba pháp nào, một người trí được biết là như vậy, hãy chấp nhận ba pháp ấy và thực hành chúng. Như vậy, này các Tỷ-kheo, cần phải học tập.”

Đức Thế Tôn luôn khuyên cần phải học tập, nhưng chúng ta thì chỉ nghĩ “học mấy bài kinh như vậy là đủ rồi!”? Luôn học tập và thực hành.

“2. Này các Tỷ-kheo, tướng của người ngu ở trong hành động (của mình); tướng của người trí ở trong hành động (của mình). Trí tuệ chói sáng trong nếp sống (của mình) Thành tựu với ba pháp, này các Tỷ-kheo, người ngu được biết đến.

Thế nào là ba? Thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác. Này các Tỷ-kheo, thành tựu với ba pháp này, này các Tỷ-kheo, người ngu được biết đến.”

Chúng ta thấy được trong kinh Nikāya căn bản là thân, miệng, ý, nghiệp. Chúng ta cần xem lại, chúng ta học bao nhiêu bài kinh trước giờ trong kinh Kosala, là luôn đặt nền tảng ở trên là thân hành, khẩu hành, ý hành, mình tu không ngoài ba điều đó.

“Thành tựu với ba pháp, này các Tỷ-kheo, người trí được biết đến. Thế nào là ba? Thân làm thiện, miệng nói thiện, ý nghĩ thiện. Này các Tỷ-kheo, thành tựu với ba pháp này, này các Tỷ-kheo, người trí được biết đến.”

… 4. Thành tựu với ba pháp này, này các Tỷ-kheo, người ngu được biết đến. Thế nào là ba? Phạm tội, không thấy là có phạm tội; phạm tội sau khi thấy là có phạm tội, không như pháp sám hối; được người khác phát lộ có tội, không như pháp chấp nhận. Thành tựu với ba pháp này, này các Tỷ-kheo, người ngu được biết đến.

Thành tựu với ba pháp này, này các Tỷ-kheo, người hiền trí được biết đến. Thế nào là ba? Phạm tội, thấy là có phạm tội; phạm tội, sau khi thấy là có phạm tội, như pháp sám hối; được người khác phát lộ có tội, như pháp chấp nhận. Thành tựu với ba pháp này, này các Tỷ-kheo, người hiền trí được biết đến.”

(Bài kinh Người ngu, Phẩm I. Người Ngu, Chương Ba Pháp, Tăng Chi Bộ Kinh)

Như vậy, những sự sợ hãi, bất an, lo lắng, nguy hiểm, tai họa là đến với người thân làm ác, ý nghĩ ác, miệng nói ác. Vậy chúng ta không phải sợ bên ngoài mà quan trọng là xem lại ý nghĩ, lời nói và hành động của mình. Nếu là thiện thì không phải sợ điều gì.

Vậy nên khi chúng ta suốt ngày ở nhà nghe pháp, hành thiền, cứ phụng sự công quả phục vụ trong gia đình hay chia sẻ với mọi người thì có điều gì phải sợ? Không có điều gì phải lo lắng sợ hãi. Nếu mình đi đến mà có bệnh, có phải ra đi thì mình mỉm cười thôi. Vì mình đã tận dụng thân, miệng, ý của mình hành thiện, làm ra chuyện phước báu, công đức thì có gì phải sợ hãi, bất an. Chết hay bệnh không đáng sợ mà sợ là không biết tu. Không có ý nghĩ thiện, miệng nói thiện, thân làm thiện. Sợ là miệng nói có tội, ý nghĩ có tội, thân làm việc có tội.

Bài kinh trên là cách thứ hai Đức Phật dạy chúng ta.

IV. Sợ hãi – Không sợ hãi cái chết

Tiếp theo là bài kinh Không sợ hãi trong Tăng Chi Bộ Kinh tập 2:

“1. Rồi Bà-la-môn Jànussoni đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm … Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Jànussoni bạch Thế Tôn:

- Thưa Tôn giả Gotama, tôi nói như sau, tôi thấy như sau: "Không có một ai bản tánh bị chết mà không sợ hãi, không rơi vào run sợ, khi nghĩ đến chết".

Ý Bà-la-môn Jànussoni nói: không có ai là không sợ chết, không ai mà không sợ khi nghĩ đến cái chết. Tức ông ấy thấy vậy, nghĩ vậy, quan điểm như vậy và nói như vậy thì hỏi Đức Phật có đúng như vậy không?

Có giống với như tình trạng của chúng ta hiện tại không? Bao nhiêu là cảnh người chết, một ngày chết mấy trăm người.

Sau đó Đức Thế Tôn nói tiếp:

“-Này Bà-la-môn, có người bản tánh bị chết, sợ hãi, rơi vào run sợ khi nghĩ đến chết. Nhưng này Bà-la-môn, có người bản tánh bị chết, không sợ hãi, không rơi vào run sợ khi nghĩ đến chết.”

Bà-la-môn Jànussoni nghĩ là tất cả ai nghĩ về cái chết đều sợ, Đức Phật thì nói là có người sợ và có người không sợ.

“Có người bản tánh bị chết” là khi ai sinh ra cũng phải chết, bản chất của cuộc đời là như vậy, bản tánh là như vậy. Đây là một sự việc không thể thay đổi được, trước sau cũng sẽ như vậy thì nó sẽ như câu “Có người bản tánh bị chết, sợ hãi, rơi vào run sợ khi nghĩ đến chết” tức là chắc chắn họ sẽ chết nhưng khi nghĩ về nó lại cảm thấy run sợ.

Minh Thành nhớ về lúc đưa Bà Năm xuống một người thầy thuốc ở Tây Ninh, thầy nói “Còn khoảng một tháng nữa, người nhà nên chuẩn bị!” có một số vị muốn giấu đi đừng nói với Bà Năm nhưng Minh Thành nói “Không, phải nói cho Bà Năm biết để có chuẩn bị!” Nhưng cũng có nhiều người con như vậy, thấy thương nhưng đó là không thương. Giấu là sự vô minh, người đương sự không thấy không biết nên họ không có sự chuẩn bị, sửa soạn tư lương, nếu như bất thình lình ập tới thì người ta sẽ hoảng loạn, rối loạn, hoảng hốt.

Vậy nên chúng ta thấy trí tuệ rất sâu sắc, không phải là đơn giản, thông thường như người đời suy nghĩ là cứ giấu. Như người thân bệnh ở giai đoạn cuối thì giấu, “đừng cho biết, tội nghiệp họ!” Không phải như vậy, chúng ta phải cho họ biết, để những gì mà họ chưa làm, họ muốn làm mà họ chưa làm được thì họ sẽ làm, những gì họ muốn nói thì họ sẽ nói, những gì họ chưa sắp đặt thì họ sẽ sắp đặt, để khi ra đi thì lòng họ được thanh thản, nhẹ nhàng. Nếu không biết mà để bất thình lình tới thì có nhiều vấn đề không? Sẽ có rất nhiều vấn đề phát sinh.

Chúng ta nghĩ là thông minh nhưng thật ra là vô minh, tưởng như là hiểu nhưng mình không hiểu hết, tưởng là thương nhưng mình lại làm hại người thương của mình.

Trường hợp thứ hai là chính tự thân người đó đã già, bệnh, bệnh nặng, bệnh nan y nhưng nói họ sắp chết thì họ không tin, họ còn nói “Tôi còn khỏe, tôi còn sống lâu, dễ gì tôi chết!” Như vậy vô minh khi nãy là vô minh nặng, giờ đến khi họ nghe rồi thì lại không tin. Chính những việc trên để cho chúng ta thấy được sự vô minh của hữu tình chúng sanh, của con người chúng ta. Chính bác sĩ nói mà họ vẫn không tin.

Hay trường hợp khác, mình biết cha mẹ như “đèn treo trước gió” rồi, biết rõ không còn bao lâu nữa nhưng cứ nghĩ “còn nước còn tác” vẫn đem họ vào bệnh viện, để rồi sau đó có thể chết trong bệnh viện. Khi chết không có một người thân bên cạnh, nằm trong phòng máy lạnh bên trong đó, người bệnh chỉ phủ một tấm vải lên, họ phải chịu đựng những cảm giác thống khổ, lạnh giá, cô độc, lẻ loi, đơn côi. Nhưng khi đó lại nói là mình thương.

Việc này để các Phật tử hiểu được vấn đề này. Khi mình thấy cha mẹ đã bảy mươi, tám mươi hay chín mươi rồi thì mình nên để cha mẹ mình nhẹ nhàng ra đi. Mình thương rồi cứ nghĩ là còn nước còn tác nên đẩy vào bệnh viện như vậy rồi để họ chịu khổ, chịu đau đớn. Như vậy rất tội, đó là sự không hiểu biết, si mê, vô minh của mình.

Có rất nhiều vấn đề nhưng ba việc chúng ta vừa nói thì rất thường gặp.

Thế Tôn còn nói “có người bản tánh bị chết, không sợ hãi, không rơi vào run sợ khi nghĩ đến chết.” Sau đó Ngài giải thích cụ thể:

“2. Và này Bà-la-môn, thế nào là người bản tánh bị chết, sợ hãi, rơi vào run sợ khi nghĩ đến chết? Ở đây, này Bà-la-môn, có người không ly tham đối với các dục, không ly ham muốn, không ly luyến ái, không ly khát ái, không ly nhiệt não, không ly tham ái. Rồi một chứng bệnh trầm trọng khởi lên cho người ấy. Người ấy bị cảm thọ chứng bệnh trầm trọng ấy, suy nghĩ như sau: "Thật sự các dục khả ái sẽ bỏ ta", hay "Ta sẽ từ bỏ các dục khả ái". Người ấy sầu muộn, than vãn, khóc lóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh. Này Bà-la-môn, đây là người bản tánh bị chết, sợ hãi, rơi vào run sợ khi nghĩ đến chết.”

Đoạn này như khi người ta nghĩ “Thật sự, chắc là người yêu thương, đồ đạc, tài sản yêu thương của mình sẽ bỏ mình!” qua câu "Thật sự các dục khả ái sẽ bỏ ta", hay "Ta sẽ từ bỏ các dục khả ái" như ý nghĩ “Mình sẽ từ bỏ tất cả những thứ đáng yêu này như tiền, đô-la, vàng, nhà, xe… Chắc mình từ bỏ quá!” Họ cứ suy nghĩ là những thứ họ yêu thương sẽ bỏ họ hoặc là họ sẽ bỏ đi những thứ yêu thương này. Khi họ nghĩ như vậy thì họ “sầu muộn, than vãn, khóc lóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh”.

Như ý nghĩ “Lần này thật rồi! Những món đồ, những đồ vật mình yêu thương chắc sẽ từ bỏ mình hay là mình rồi sẽ từ bỏ hết những thứ yêu thương này?” Những thứ mình yêu thương, thân ái, những thứ mình mến thích, quý trọng thì mình sẽ từ bỏ, khi họ nghĩ vậy thì họ lại “sầu muộn, than vãn, khóc lóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh”.

Chúng ta thấy có như vậy nhiều không? Họ nước mắt lưng tròng, hối hận, nuối tiếc, lưu luyến, rồi sầu muộn, than vãn, khóc lóc, đập ngực rồi rơi vào bất tỉnh. Ngày tái hiện cảnh nằm trên giường bệnh và lấy hơi lên, phải giành giật với tử thần từng hơi thở.

“3. Lại nữa, này Bà-la-môn, ở đây có người không ly tham đối với thân … Rồi một chứng bệnh trầm trọng khởi lên cho người ấy. Người ấy bị cảm thọ chứng bệnh trầm trọng ấy, suy nghĩ như sau: "Thật sự thân khả ái sẽ bỏ ta", hay "Ta sẽ từ bỏ thân khả ái". Người ấy sầu muộn, than vãn, khóc lóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh. Này Bà-la-môn, đây là người bản tánh bị chết, sợ hãi, rơi vào run sợ khi nghĩ đến chết.”

Khi nãy, điều thứ nhất là nói về món đồ, dục lạc bên ngoài, tài sản làm họ tiếc nuối, họ sẽ ra đi rồi họ bỏ lại. Thứ hai là con người, những người thân thương nhất như vợ chồng, cha con, anh em, bạn bè rồi đến tất cả thân quyến rồi lại nghĩ “Mình sẽ từ bỏ những người này!” hoặc “những người này sẽ từ bỏ mình!”

Vậy thứ nhất là tài sản, hai là người thân, thứ ba là tự thân, thân xác của họ qua câu "Thật sự thân khả ái sẽ bỏ ta", hay "Ta sẽ từ bỏ thân khả ái". Rồi sau đó "Người ấy sầu muộn, than vãn, khóc lóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh. Này Bà-la-môn, đây là người bản tánh bị chết, sợ hãi, rơi vào run sợ khi nghĩ đến chết.”

Thứ nhất là tài sản, thứ hai là người thân, thứ ba là thể xác của chính họ và hòa với những cảm giác đau đớn, trầm trọng, quằn quại khổ đau.

“4. Lại nữa, này Bà-la-môn, ở đây có hạng người không làm điều lành, không làm điều thiện, không che chở kẻ sợ hãi, làm điều ác, làm điều hung bạo, làm điều phạm pháp. Rồi một chứng bệnh trầm trọng khởi lên cho người ấy. Người ấy bị cảm thọ chứng bệnh trầm trọng ấy, suy nghĩ như sau: "Thật sự ta không làm điều lành, không làm điều thiện, không che chở kẻ sợ hãi, làm điều ác, làm điều hung bạo, làm điều phạm pháp". Tại sanh thú nào mà những người không làm điều lành, không làm điều thiện, không che chở kẻ sợ hãi, làm điều ác, làm điều hung bạo, làm điều phạm pháp, đi đến sau khi chết, ta đi đến sanh thú ấy. Người ấy sầu muộn, than vãn, khóc lóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh. Này Bà-la-môn, đây là người bản tánh bị chết, sợ hãi, rơi vào run sợ khi nghĩ đến chết.”

Chúng ta nhắc lại thứ nhất gồm bao nhiêu tài sản bên ngoài như vàng, đô la, hột xoàn, tiền, sổ tiết kiệm, sổ đỏ, sổ hồng, bao nhiêu miếng đất… Thứ hai là người thân, vợ chồng, cha mẹ, anh chị em và bà con quyến thuộc. Thứ ba là hình hài, thể xác này. Như vậy là làm họ sợ, than vãn, bứt tóc, đấm ngực thậm chí là bất tỉnh. Tiếp đến là cộng thêm ác nghiệp thọ tưởng hành, như chiếu lên một bộ phim dài trong bảy mươi năm, mỗi năm như một tập phim.

Trong những tập phim đó đều là ác như ý nghĩ ác, lời nói ác, hành động ác, họ không làm điều thiện, họ không biết che chở cho những người bị sợ hãi, họ làm điều ác, điều hung bạo, điều phạm pháp. Tất cả những bộ phim đó, tập phim đó, những hình ảnh, cảm giác, suy nghĩ quá khứ mà họ làm những ác bất thiện pháp, tội lỗi đó như lọc lừa, gian trá, quỷ quyệt, mưu sĩ, mưu mô, mưu hại đều hiển hiện ra lúc họ nằm trên giường bệnh đó.

Như có những người nằm mơ rồi nói mớ, đó là khi những tập phim được chiếu lại, rồi họ lại nghĩ tiếp “Thật sự ta không làm điều lành, không làm điều thiện, không che chở kẻ sợ hãi, làm điều ác, làm điều hung bạo, làm điều phạm pháp”. Điều này rất chính xác và công bằng, vì nếu gạt ai bên ngoài thì được nhưng trong tâm thì có gạt được không? Những hình bóng đó hiện ra vẫn giống như vậy, không khác được. Lúc đó lại hiện ra, những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ, hành động từng làm đó giày xéo, ray rứt, day dứt, đay nghiến làm người này có một cảm giác tội lỗi làm người này đau khổ với những hình bóng đó, hành vi đó, tội lỗi đó.

Vậy nên khi chúng ta nghĩ một câu nói, một hành động đó là xong, không phải vậy mà nó đi vào sâu trong cảm thọ bên trong, tưởng chất chứa trong đó, đến một lúc đủ nhân đủ duyên, quả dị thục thì lại hiện ra. Vậy nên có những người họ đã giết người nên họ không chịu nổi mà phải đi ra đầu thú hoặc họ điên loạn vì những thọ, tưởng, hành ám ảnh. Vì tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ nên chất chứa bên trong, ám ảnh trong cảm giác, suy nghĩ, hình bóng đó, cứ lẩn quẩn trong đó mãi không được nên nó đay nghiến, giày xéo, hành hạ, làm cho thao thức, day dứt, ray rứt lương tâm bởi tòa án lương tâm.

Rồi người đó suy nghĩ “Tại sanh thú nào mà những người không làm điều lành, không làm điều thiện, không che chở kẻ sợ hãi, làm điều ác, làm điều hung bạo, làm điều phạm pháp, đi đến sau khi chết, ta đi đến sanh thú ấy. Người ấy sầu muộn, than vãn, khóc lóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh. Này Bà-la-môn, đây là người bản tánh bị chết, sợ hãi, rơi vào run sợ khi nghĩ đến chết.”

Tức là họ sợ đi vào địa ngục, ngạ quỷ súc sanh. Những suy nghĩ, cảm giác, hình bóng đó, bộ phim với bao nhiêu tập đó hiện ra với bao nhiêu người thì họ nghĩ là “Chết rồi, người ta làm ác, phạm pháp, tội lỗi như vậy, thì ta sẽ đi vào những con đường đau khổ, những con đường đen tối!” Họ cứ suy nghĩ vậy rồi lại “sầu muộn, than vãn, khóc lóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh”.

Hãy nhớ có bốn việc: tài sản, người thân, thể xác và ác nghiệp. Thầy Pháp An học cũng nên nhớ thật kĩ bốn lớp này, ngài phải tác ý từ bỏ, xa lìa, buông bỏ, để đến khi chuẩn bị ra đi thì phá sập cả bốn điều trên, vượt qua chúng và tiến tới Thánh đệ tử thiên. Đừng để bốn điều này kéo xuống.

Điều này rất quan trọng đối với các vị ở hiện tại, chưa bệnh, đang bệnh hay đang bệnh nặng thì hãy nhớ bài kinh này.

“Này Bà-lamôn, đây là người bản tánh bị chết, sợ hãi, rơi vào run sợ khi nghĩ đến chết.”

“5. Lại nữa, này Bà-la-môn, ở đây có hạng người nghi ngờ do dự, không đi đến kết luận đối với diệu pháp. Rồi một chứng bệnh trầm trọng khởi lên cho người ấy. Người ấy bị cảm thọ chứng bệnh trầm trọng ấy, suy nghĩ như sau: "Thật sự ta có nghi ngờ do dự, không đi đến kết luận đối với diệu pháp". Người ấy sầu muộn, than vãn, khóc lóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh. Này Bà-lamôn, đây là người bản tánh bị chết, sợ hãi, rơi vào run sợ khi nghĩ đến chết.”

Tức người đó còn nghi ngờ pháp, ba mươi bảy phẩm trợ đạo, Thánh trí năm uẩn, bốn trí tuệ về lậu hoặc đối với dục ái, tham, sân si và vô minh, bản ngã sẽ nhiếp phục và đoạn tận nó để thành tựu tâm thanh tịnh, bất động. Nhưng còn nghi ngờ, còn do dự, chưa xác quyết một trăm phần trăm. “Không biết điều này là đúng hay không, có phải của Phật nói không, mình có làm được hay không? Khó quá thì làm sao làm được?” Đó là “có nghi ngờ do dự, không đi đến kết luận đối với diệu pháp” tức là không xác quyết, quả quyết, không quyết định.

“Rồi một chứng bệnh trầm trọng khởi lên cho người ấy. Người ấy bị cảm thọ chứng bệnh trầm trọng ấy, suy nghĩ như sau: "Thật sự ta có nghi ngờ do dự, không đi đến kết luận đối với diệu pháp” Là “Ta còn nghi ngờ, do dự, chưa thành tựu tịnh tính bất động, chưa xác quyết Thánh đạo của Đức Phật dạy” rồi “Người ấy sầu muộn, than vãn, khóc lóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh. Này Bà-lamôn, đây là người bản tánh bị chết, sợ hãi, rơi vào run sợ khi nghĩ đến chết.”

Đó là lý do tại sao hằng ngày phải nghe pháp lyên tục, thiền quán, tác ý lyên tục để mình xác quyết tri kiến. Nghe như vậy, quá như vậy nhưng buông ra lại mất, còn xác quyết là không mất, dù cho ở hoàn cảnh nào. Sự thấy biết về ngũ uẩn, về vô thường, khổ vô ngã này, thấy biết sanh tử oan nghiệt, đau khổ này, về dục ái tham, sân si, vô minh, bản ngã là nguyên nhân của tất cả mọi thống khổ, tham ái và chấp thủ trong cuộc đời này đối với ngũ uẩn này là nguồn gốc, căn nguyên của tất cả khổ đau.

Sự nhiếp phục dục tham, đoạn tận dục tham, sự xả lý, viễn ly, từ bỏ, buông bỏ, quăng bỏ, giải thoát đối với năm uẩn này là cứu cánh Niết bàn tối thượng an lạc, mình chưa xác quyết trọn vẹn tuyệt đối. Khi mình chết thì mình sẽ còn trong sự nghi ngờ, do dự, không đi đến quyết định đối với diệu pháp.

Vậy nên phải phát triển tín, thí, văn, giới, tàm quý và tuệ, Thất Thánh tài, lòng tin của mình, giữ giới, đa văn, tàm, quý, tinh tấn, trí tuệ. Đừng ngại về vấn đề đa văn, nghe nhiều, cũng đừng ngại về vấn đề thiền quán, tác ý, thiền định, tăng thượng, tăng học giới học và tuệ học. Cần phải phát huy thật nhiều để tâm mình quyết định đối với diệu pháp. Nếu mình chưa quyết định là mình chết trong do dự, trong nghi ngờ “"Thật sự ta có nghi ngờ do dự, không đi đến kết luận đối với diệu pháp". Người ấy sầu muộn, than vãn, khóc lóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh.” Có những người vào trạng thái hôn mê rất lâu, thậm chí có người chết vì hôn mê, si mê, không biết gì nữa. “Này Bà-lamôn, đây là người bản tánh bị chết, sợ hãi, rơi vào run sợ khi nghĩ đến chết.”

Tiếp theo là đến hạng người thứ hai:

“6. Và này Bà-la-môn, thế nào là người bản tánh bị chết, không sợ hãi, không rơi vào run sợ khi nghĩ đến chết?

Ở đây, này Bà-la-môn, có hạng người ly tham đối với các dục, ly ham muốn, ly luyến ái, ly khát ái, ly nhiệt não, ly tham ái.”

Đây là những câu cốt lõi của Đức Thế Tôn, con mắt của mười hai phần giáo, trái tim của Tam Tạng Thánh điển, lõi cây của tất cả kinh tạng Nikāya là những người ly ly tham đối với các dục, ly ham muốn, ly luyến ái, ly khát ái, ly sự nóng bức nhiệt não, ly tham ái. Ly tham đối với năm dục, ly ham muốn, ly luyến ái … không chỉ đơn thuần là luyến ái, khát ái với cô kia hay một món đồ nọ mà đối với cả năm uẩn.

Ví như giờ không yêu vợ, không nhớ con nữa nhưng lại nhớ cái khác, thích cái khác. Vậy nên những từ mình cần nối chúng với những trí tuệ.

Lìa các dục là lìa sắc, thanh, hương, vị, xúc, lìa ham muốn, lìa luyến ái, yêu thích, khao khát đối với năm uẩn, lìa nhiệt não là lìa sự nóng bức của dục tham và sân hận, bản ngã. Tất cả những sự đau khổ của mình đều bắt nguồn từ đó, tham ái không được cũng khổ và tham ái với ngũ uẩn. Nếu một ai nói về đau khổ thì nó nằm trong ngũ uẩn, không có gì là không nằm trong ngũ uẩn, là luyến ái, khát ái, nhiệt não đối với ngũ uẩn. Và nếu không biết thì làm sao biết được luyến ái, khát ái với ngũ uẩn? Chúng ta lại cần phải nhận diện ngũ uẩn. Nếu không biết ngũ uẩn là gì làm sao biết khát ái ngũ uẩn, sao lại biết được chấp thủ ngũ uẩn, si mê đối với ngũ uẩn? Vì vậy Đức Thế Tôn đã thành tựu Bốn Thánh trí về ngũ uẩn, là bốn Thánh trí về lậu hoặc.

Tu mà không thấy được ngũ uẩn giống như không thấy được cửa vào nhà, thấy ngũ uẩn là thấy cửa để bước vào nhà, sau khi thấy ngũ uẩn thì vào nhà sẽ thấy lậu hoặc, tức là thấy những chỗ dơ bẩn trong nhà để dọn dẹp, nếu không là chỉ đứng ngoài cửa, đứng ngoài cổng chùa thôi.

Một người đã tu tập ly tham đối với các dục, ly tham muốn, ly khát ái, ly nhiệt não như vậy thì:

“Rồi một chứng bệnh trầm trọng khởi lên cho người ấy. Người ấy bị cảm thọ chứng bệnh trầm trọng ấy, suy nghĩ như sau: "Thật sự các dục khả ái sẽ bỏ ta", hay "Ta sẽ từ bỏ các dục khả ái". Người ấy không sầu muộn, không than vãn, không khóc lóc, không đập ngực, không rơi vào bất tỉnh.”

Ở đây, từ không được lặp lại nhưng với ý nghĩa khác bên trên, bên trên là: “2. Và này Bà-la-môn, thế nào là người bản tánh bị chết, sợ hãi, rơi vào run sợ khi nghĩ đến chết? Ở đây, này Bà-la-môn, có người không ly tham đối với các dục, không ly ham muốn, không ly luyến ái, không ly khát ái, không ly nhiệt não, không ly tham ái.” Tức người sợ hãi là họ không lìa tham dục nên họ sợ hãi. Còn thứ hai là người không sợ hãi là người ly tham đối với các dục.

Thước đo của người tu là ly tham với năm dục, thì người đó “không sầu muộn, không than vãn, không khóc lóc, không đập ngực, không rơi vào bất tỉnh.”

“Này Bà-la-môn, đây là người bản tánh bị chết, không sợ hãi, không rơi vào run sợ khi nghĩ đến chết.”

Mấu chốt là ở chỗ ly tham và không ly tham, chính vì không ly tham là còn tham, còn dục ái. Người ly tham là không sợ hãi, “không sầu muộn, không than vãn, không khóc lóc, không đập ngực, không rơi vào bất tỉnh.”

Ly tham đối với những gì? Ly tham là không còn tham tài sản, tiền bạc, đất đai, ruộng vườn thì không còn sợ chúng mất vì đã ly tham rồi, “tự ta ta không có, con đâu tài sản đâu” Hằng ngày chúng ta tác ý “Từ bỏ những đồ dỏm này, đều là đất nước gió lửa thôi. Là bộ xương, cát bụi, hủ cốt, thân trống rỗng không ai trong đó” rồi lại chuẩn bị thực tập thiền quán “Tim, gan, máu thịt, xương, ở ngoài một lớp da trơn láng, che hết vô vàn thứ nhớp nhơ!” Chúng ta cứ tác ý Quán Bất Tịnh, Chính giai đoạn tử thi, Quán bộ xương mãi rồi đến khi từ bỏ được thân này thì còn luyến tiếc gì nữa không? Có còn tham ái “sắp phải bỏ đi thân thể yêu dấu này của tôi!” hay chỉ nghĩ là “bộ xương này bỏ thì khỏe thôi, không có gì quan trọng cả!” thì người đó “không sầu muộn, không than vãn, không khóc lóc, không đập ngực, không rơi vào bất tỉnh.”

Đó là đối với tài sản, với người thân thì niệm và tác ý không ai là người thân mà chỉ là nghiệp, vô minh và nhân quả. Bổn phận làm rất tròn nhưng không bị tham ái, xả bỏ dần dần thì rủ cũng không đi chung.

Đó là từ bỏ tham ái luyến ái đối với tài sản, vật chất, đối với người thân, đối với tự thân, thể xác này. Vậy nên chúng ta sẽ học được tại sao Đức Thế Tôn nói “thân hành niệm là bất tử”. Chúng ta niệm về hơi thở, oai nghi, hành động, tứ đại, Ba mươi hai thể trược, Chín giai đoạn của tử thi, khi niệm như vậy thì mình xả ly những điều vừa nói. Mình cứ xả ly hằng ngày, hằng giờ, hằng giây hằng phút như vậy đến cuối cùng sắp phải ra đi thì đã viên mãn, đó là thể nhập bất tử.

Đức Thế Tôn nói “thân hành niệm là đạt được bất tử giới” chứng đạt được thế giới của bất tử. Như khi đưa Bà Năm có đọc bài kinh về thân hành niệm là để đưa bà đến cánh cửa của bất tử. Chúng ta cần tuyệt đối quan trọng về thân hành niệm, không phải chỉ tu ba tháng, năm tháng rồi bỏ là không phải, mà phải làm hoài, lyên tục, hằng ngày, hằng giờ cho đến khi thể nhập vào đó, để khi mình chết thì không nghĩ đến tài sản, người thân, thể xác và những nghiệp.

“8. Lại nữa, này Bà-la-môn, ở đây có hạng người không làm ác, không làm điều hung bạo, không làm điều phạm pháp, làm điều lành, làm điều thiện, có che chở kẻ sợ hãi. Rồi một chứng bệnh trầm trọng khởi lên cho người ấy. Người ấy bị cảm thọ chứng bệnh trầm trọng ấy, suy nghĩ như sau: "Thật sư, ta không làm ác, không làm điều hung bạo, không làm điều phạm pháp, làm điều lành, làm điều thiện, có che chở kẻ sợ hãi. Tại sanh thú nào mà những người không làm ác, không làm điều hung bạo, không làm điều phạm pháp, làm điều lành, làm điều thiện, có che chở kẻ sợ hãi đi đến sau khi chết, ta đi đến sanh thú ấy".

Nếu người đó biết là họ sẽ đi vào cõi lành, đi đến cõi phước báo, phước lành thì họ sẽ không sợ hãi. Khi đó tâm họ an tịnh, lắng dịu, hoan hỷ đối với việc thiện mà mình đã làm. Như trong kinh Pháp cú có câu

“Nay vui, đời sau vui

Làm phước hai đời vui

Người ấy vui an vui

Thấy nghiệp thiện mình làm.”

(Kinh Pháp Cú)

Khi họ sắp phải ra đi thì họ vui, vì họ nhìn lại những điều họ đã làm là thiện, là phước báo, công đức, những tập phim hiện ra đều là phim hay, phim thiện như giúp người này, giúp người kia, chia sẻ với người nọ trong những hoàn cảnh siêng năng, tinh cần, tinh tấn, thiền định, giữ giới, trí tuệ, làm bao việc cúng dường, bố thí, chia sẻ người nghèo người bệnh, làm bao nhiêu công đức như vậy thì họ mỉm cười, không sợ hãi, không lo lắng, không bất an, tâm của họ bình an, hỷ lạc. Đó là cái chết cát tường, là hỷ lành, chết của sự bình an thì:

“Người ấy không sầu muộn, không than vãn, không khóc lóc, không đập ngực, không rơi vào bất tỉnh. Này Bà-la-môn, đây là người bản tánh bị chết, không sợ hãi, không rơi vào run sợ khi nghĩ đến chết.”

“9. Lại nữa, này Bà-la-môn, ở đây có hạng người không có nghi ngờ, không có do dự, đi đến kết luận đối với diệu pháp.”

Tức người đó đã xác quyết, quả quyết, lòng tin bất động đối với Bốn Thánh trí về ngũ uẩn, Bốn Thánh trí về lậu hoặc. Lòng tin không lay chuyển giống như cột trụ bằng đá, chôn sâu xuống tám, chín khủy tay, rất vững chắc, kiên trú, kiên định, bất động, kiên cố, không nghi ngờ, do dự, đi đến kết luận đối với diệu pháp.

“Rồi một chứng bệnh trầm trọng khởi lên cho người ấy. Người ấy bị cảm thọ chứng bệnh trầm trọng ấy, suy nghĩ như sau: "Thật sự ta không có nghi ngờ, không có do dự, đi đến kết luận đối với diệu pháp". Người ấy không có sầu muộn, không có than vãn, không có khóc lóc, không có đập ngực, không rơi vào bất tỉnh. Này Bà-la-môn, đây là người bản tánh bị chết, không sợ hãi, không rơi vào run sợ khi nghĩ đến chết.”

Điều này thật hoan hỷ khi tâm họ bình an, hoan hỷ, không lo lắng, sợ hãi điều gì.

“Này Bà-la-môn, có bốn hạng người bản tánh bị chết, không sợ hãi, không rơi vào run sợ khi nghĩ đến chết.

- Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama …”

Như người đã dựng đứng lên những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày những gì bị che kín, đem đèn sáng vào trong bóng tối, cho những người có mắt có thể thấy sắc được, chỉ đường cho người lạc hướng. Pháp được Thế Tôn trình bày một cách tuyệt vời như vậy.

“Mong Tôn giả Gotama chấp nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.”

(Bài kinh Không sợ hãi, Phẩm Chiến Sĩ, Chương Bốn Pháp, Tăng Chi Bộ Kinh tập 2)

Quý Phật tử đã cảm thấy an tâm, không sợ hãi không?

Chúng ta thấy chỉ cần lặp lại lời kinh, chúng ta thâu nhận được bao nhiêu cảm thọ giống như mình đang đối diện với Đức Phật, giống như Bà-la-môn Jànussoni đang ở trước mặt mình. Vậy nên từ giờ chúng ta hãy tập xả ly tài sản, người thân, nhất là đối với người xuất gia, người cư sĩ cũng vậy, xả ly những tham ái trong tâm, thân xác này, xả ly những ác nghiệp, an trú vào Thánh trí, trí tuệ thì tâm an không sợ hãi. Khi đó thật hạnh phúc, bình an, vô sở quý (không còn sợ điều gì).

Các Phật tử chia sẻ về những lời Đức Phật dạy: Từ 95:50-137:00

Mời quý Phật tử chúng ta cùng đọc bài kệ nhắc nhở chính mình tu học:

Mình nhớ niệm thầm trong tự tâm.

Niệm “Bỏ hết đi, cảnh vô thường!”

Niệm “Tâm lặng yên, tâm dễ chịu!”

Niệm “Ngũ uẩn này, không phải ta”

Kính chúc tất cả quý thầy cô, quý Phật tử có giấc ngủ an lành trong Chánh Pháp.