Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Kinh NIKAYA Giảng Giải - Nhận Diện Sáu Pháp 2

2026-03-03 00:55:11
Mục Lục

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Chân thật nhận diện sáu pháp: PAGEREF _Toc47601442 \h 1

II. Nhìn nhận thọ do xúc sanh: (nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc, ý xúc). PAGEREF _Toc47601443 \h 4

III. Ý nghĩa của sự quán chiếu cảm thọ và xúc: PAGEREF _Toc47601444 \h 8

IV. Nhìn nhận lại sự tu học bấy lâu: PAGEREF _Toc47601445 \h 9

V. Thiền quán sáu pháp: PAGEREF _Toc47601446 \h 14

VI. Tất cả pháp lấy thọ làm chỗ tụ hội: PAGEREF _Toc47601447 \h 16

VII. Tái sanh? PAGEREF _Toc47601448 \h 22

KINH NIKAYA GIẢNG GIẢI

NHẬN DIỆN SÁU PHÁP 2

-Thích Minh Thành-

Rõ biết ở trước mặt, cảm nhận hơi thở, cảm nhận cơ thể, cảm nhận cảm giác của toàn bộ cơ thể, thở vào làm cho thân an tịnh, thở ra làm cho tâm lắng dịu. An tịnh, lắng dịu và dễ chịu.

I. Chân thật nhận diện sáu pháp:

Kính thưa đại chúng, hôm nay chúng ta tiếp tục nhận diện sáu pháp. Có thể chúng ta nghĩ rằng, sáu căn, sáu trần, sáu thức, mười tám giới, ta đã học rồi, đã biết rồi, đã hiểu rồi, nhưng thật sự mình chỉ biết ở trên từ ngữ, ngôn ngữ, chữ nghĩa. Chúng ta học ở đây là chúng ta học nhận diện, “nhận diện” là mình nhận dạng, nhận thức, nhận rõ được những thứ đó đang có mặt, sanh khởi, vận hành, hoạt động ở chung quanh mình, ở nơi thân thể mình, trong tâm mình. Cho nên, sự nhận diện sáu pháp này là điều hết sức căn cơ, gốc rễ, căn bản để sau này chúng ta có thể thực tập, hành trì ở trong sự nhìn nhận thân tâm một cách đúng đắn và chính xác. Tuy mình nói rằng “ ờ, sáu trần là sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp” đơn giản, nhưng chúng ta không biết, đó là nói trên miệng, trên sách chữ, trên vở. Chứ còn khi đối xúc, tiếp xúc với sắc thì lúc đó mình không biết đó là sắc, mình thấy đó là một chiếc xe đẹp, một con người dễ thương và một mùi vị hấp dẫn, chứ mình không thấy đó là sắc, đó chỉ là sắc pháp. Tức là mình không nhận diện nó một cách chính xác, mà lúc đó mình bị cái sắc đó xâm nhập, áp đảo, xâm chiếm nội tâm của mình, mình bị sắc chinh phục, bị sắc ám ảnh. Nên chúng ta học nhận diện ở đây, không chỉ đơn thuần là chữ nghĩa để hiểu, nhận diện tức là nhìn ra được bộ mặt thật của nó, giống như người đời người ta nói “A, bây giờ tôi mới biết bộ mặt thật của nhà mi” thì cũng vậy đó, mình đang học nhận diện, học nhìn thấy được bản chất.

Bài này nếu dạy cho sơ cấp Phật học là dạy khác, trung cấp Phật học năm thứ nhất mới vô là dạy khác, bây giờ trung cấp năm cuối là dạy khác, nếu cao đẳng là khác nữa.

Chúng ta đừng nghĩ đơn giản đấy chỉ là cái định nghĩa mình học cho biết, không phải. Mà mình học “ô, bây giờ ta mới biết được bản mặt thật của nhà mi đó, bộ mặt thiệt của ngươi, bản lai diện mục của mi”, đó gọi là nhận diện các pháp. Con nói thí dụ, mình đi qua một ngôi chùa chẳng hạn như đi qua Thái Lan ngôi chùa trắng, ở đó cái gì cũng trắng, hay mình đi qua Nhật mình thấy Kim Các Tự trên bảy trăm năm, dát vàng. Đi đến đó thì đương nhiên, mình thấy cái đẹp mình cũng có cái thọ chứ, thọ do nhãn xúc sanh, tức là khi con mắt của mình tiếp xúc với ngôi chùa đẹp thì phải có cảm giác thôi, ở đây nó sanh ra cái gì? Duyên sanh pháp mình học rồi, có ai nhớ không? Do duyên của con mắt, cái sắc là cái chùa đó, nó sanh khởi ra sự rõ biết cái sắc đó, rồi ba pháp này hội tụ, giao thoa với nhau tạo thành nhãn xúc, xúc sanh thọ, tức là cảm giác khi con mắt mình tiếp xúc, sau đó nó sanh ra sắc tưởng, sắc tư, hình bóng của ngôi chùa đó. Mình suy nghĩ “đẹp quá”, thì như vậy sau đó mình mới nhận diện về sắc pháp, rồi mình nói “cái này cũng là sắc uẩn thôi, cũng là đất nước gió lửa kết hợp thành, cũng chỉ là đống đất cát thôi, nó cũng là vô thường, biến động, biến hoại, tiêu tan, hoại diệt, hủy hoại, tại nó là sắc pháp”.

Khi mình nhận diện, tác ý, quán chiếu như vậy thì cái tâm mình nhả ra sự ưa thích, tham muốn đối với đối tượng đó, sắc pháp đó, là mình nhận diện được sắc pháp. Chứ còn đi tới đó, mình chỉ chụp hình, quay phim lại làm kỷ niệm, đem về thì mình sắc tưởng, sắc tư, tự ngẫm “Sau này mình có cái duyên mình làm được cái Kim Các Tự nhỏ nhỏ như vậy, mình không làm bự được thì mình làm nhỏ cỡ chừng bảy lần bảy bốn mươi chín ngày luôn vậy đó, bảy lần bảy thước vuông vậy đó”, sắc tưởng, sắc tư nó đang xâm chiếm thân tâm của mình đó, mà mình ấp ủ, nuôi dưỡng cái sắc tưởng, sắc tư đó thì mình bị xâm chiếm, say mê ở trong sắc pháp đó mà mình không biết nó đang là sắc uẩn. Mình nói ngôi chùa đó nó đẹp, còn những cái khác nó còn hơn cái đó, nó tệ hơn cái đó nhiều, thì lúc đó coi mình có nhận diện được sắc không, hay là lúc đó mình hoàn toàn bị sắc xâm chiếm.

II. Nhìn nhận thọ do xúc sanh: (nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc, ý xúc).

Cho nên “Này các Tỷ-kheo, thế nào là mara, thế nào là ma, sắc là ma”. Tại vì sắc xâm chiếm nội tâm mình, làm cho mình bất an, bất ổn, làm cho mình điên đảo, không ngồi thiền được, tâm không yên định, cái đó là ma, là chướng ngại pháp. Cho nên nhận thức là mình nhận thức cái đó, gọi là nhận diện sắc pháp, nhận diện sáu trần. Chỉ một lời nói thôi mà về làm cho mình bất an, bực bội, khó chịu, ăn không ngon, ngủ không yên sau khi nghe câu nói đó ở trên điện thoại hoặc khi tiếp xúc, lời nói đó là “thanh”, thì “thanh” này là ma. Những cảm thọ, cảm giác, bực bội này là ma “Này các Tỷ-kheo, thọ là mara, tưởng là mara, thanh là mara, thức là mara, này các Tỷ-kheo” cái suy nghĩ đó nó vận hành hoài ở trong này, làm cho mình đau khổ, làm cho mình sầu, bi, ưu, não, mình không thoát ra được, cái đó là ma. Khi thoát không ra được thì “thôi xuống núi hoặc là xin sư phụ cho con xuống núi, còn nếu không xin thì im re nửa đêm quải đãi đi”. Thì vậy là ma dẫn rồi, cho nên sắc, thọ, tưởng, hành, thức là ma.

Tất cả cái này nó đều ở trong ngũ uẩn hết, chúng ta học ngũ uẩn, đã học tổng cương lĩnh hết tất cả, phổ quát rồi. Còn cái này là những cái chi tiết, để cho mình thấy một cách cặn kẽ, sâu sắc, đầy đủ hơn nữa. Cái xúc này ghê lắm, bữa nay chúng ta tìm hiểu về xúc, thọ, tưởng, tư, tầm, tứ nữa. Hôm trước chúng ta có tìm hiểu rồi phải không? xúc sanh dục, sanh thọ, sanh nghiệp phải không? Có ghi bài đó chưa? Xúc sanh ra cảm giác, xúc sanh thọ, cái này phải ghi chú vô, mình sẽ có thi. Cũng là trong sự thực tập hàng ngày của mình đó, xúc sanh thọ, xúc sanh dục, xúc sanh nghiệp. Tại sao chúng ta tu mà khó tiến? tại vì bình thường chúng ta xúc với những cái, những nguyên nhân làm cho mình sanh khởi ra các kiết sử, thì làm sao tâm mình được bình an.

Các thầy nên về đọc “Tương Ưng bộ” thật nhiều, thật kỹ, “Tương Ưng bộ” nghĩa là vô biên thậm thâm pháp nghĩa, trái tim của Đức Phật, con mắt của mười hai phần giáo, lõi của Thánh pháp chính là tương ứng Bộ Kinh. Tổng cương lĩnh của toàn bộ giáo điểm nằm ở “Tương Ưng bộ” kinh. Đọc thì các thầy sẽ thấy.

“Có một vị Tỷ- kheo đến Bạch Đức Thế Tôn dạy cho con một bài pháp vắn tắt, sau khi con nghe Thế Tôn dạy con sẽ trở về sống một mình, độc cư thiền định. Thì Đức Phật nói một bài pháp ngắn, rồi sau đó Đức Phật kiểm tra lại, ông hiểu như thế nào, thì vị này giải thích ra trong năm uẩn hết.

- Thí dụ Đức Phật nói: vô thường, vô thường

- Thì vị Tỷ-kheo nói: Bạch thế tôn con hiểu

- Đức Phật hỏi: Ông hiểu như thế nào lời vắn tắt của ta nói?

- Vị Tỷ-kheo nói: Bạch Đức Thế Tôn: Sắc là vô thường, thọ là vô thường, tưởng là vô thường, hành là vô thường, thức là vô thường. Vô thường, bại hoại, tiêu tan, tan nát, hủy hoại, hoại diệt, ly tham, nhàm chán, từ bỏ, chấm dứt đối với ngũ uẩn.

- Đức thế tôn nói: Lành thay, lành thay, tốt lắm, ông về tu đi.

Thì vị này về tu một thời gian ngắn thôi, lậu tận, thành tựu cứu cánh Phạm hạnh, chứng quả A-La-Hán”

Rất nhiều những bài kinh như vậy, để chúng ta thấy được các ngài ở ngày xưa rất là quan trọng về xúc. Vì sao, vì “độc cư thiền tịnh”, nhớ chữ “thiền tịnh” ở đây không phải là thiền tâm từ độ tâm đâu. Chữ “tịnh” là yên tịnh, thanh tịnh, chữ “thiền” là để thiền tư mà quán chiếu, quán sát, gồm chỉ và quán. Thành ra mình học, mà mình không học tới nguồn, mình nghe từ nào đó là mình bị đóng khung trong cái từ đó, rồi mình tưởng là nó, nhưng không phải. Các vị này ở một mình, yên tĩnh, thiền quán, thiền định thì các vị này đoạn tận tất cả các lậu hoặc, thành tựu đời sống cứu cánh Phạm hạnh, mà rất nhiều bài kinh nói cho chúng ta biết, để tránh duyên xúc là độc cư, tại vì sao? tại vì xúc nó sanh thọ, tưởng, hành. Từ những gì mà mình tiếp xúc nó sẽ để lại hình bóng, cảm giác, nghĩ tưởng trong tâm. Nếu mình toàn xúc với những cái gọi là sáu ái, thì thôi chết. Mình xúc với sắc đẹp nó ra sắc ái; mình xúc với âm thanh dễ chịu, dễ nghe, dễ thương nó ra thanh ái; mình xúc với mùi, vị hấp dẫn, thơm tho là hương ái, vị ái; mình tiếp xúc với những cái nó trơn láng, mịn màng, xúc ái, thì chết rồi. Xúc xong, về pháp ái nó vận hành, những hình bóng cảm giác, nghĩ tưởng sanh khởi, nó xà quần trong này, sáu ái trong đây, làm sao mình đi ra được. Mà xúc vậy hoài, có lớp ở bên trong này, trong quá khứ của mình những cái tham dục, tham ái, dục lậu của vô lượng, vô biên kiếp, nó tích tụ trong này thành một cái kho khổng lồ, vĩ đại, siêu to. Mình chưa giải quyết được hàng tồn kho, rồi bây giờ lại đem cái mới vô, rồi mình tu đến chừng nào ái tận giải thoát. Không có ngày chấm dứt, hàng tồn kho của mình là siêu to khổng lồ, bây giờ cộng thêm hàng ngày sáu xúc của mình nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, sanh xúc, ý xúc. Mà cứ xúc những thứ ô nhiễm pháp, nó làm cho sanh khởi các kiết sử.

Giờ con hỏi đại chúng, khi mình đi chơi thì mình xúc với cái gì? Toàn là ô nhiễm pháp không, có những cái gọi là thiện pháp, nhưng hiếm lắm, cực kỳ hiếm. Thí dụ bây giờ con hỏi quý thầy, mình đi vô chỗ gọi là công viên hay những chỗ du lịch tâm linh, mình đi tới đó thì cái gì nó sanh? Tham nó sanh, dục nó sanh, ái nó sanh. Mà hàng ngày mình toàn xúc với những cấu nhiễm, những thứ sanh khởi ra ác bất thiện pháp, kiết sử, lậu hoặc thì làm sao có thể nhiếp phục và đoạn tận các lậu hoặc. Đây là chỗ mấu chốt.

Cho nên các thầy Tỷ-kheo thời Đức Phật xúc với bộ xương, ở trong nghĩa địa, xúc với tử thi. Vậy mà có khi còn khởi dục vọng, khủng khiếp chưa. Các ngài Xúc với bìa rừng, ven suối, căn nhà trống, tịnh thất rỗng, bãi tha ma, nghĩa địa, mảnh đất trống, ở ngoài trời, ở trong rừng. Xúc như vậy đó, thì mới cắt được cái duyên, cái cấu nhiễm để đi vào trong những trí quán thâm sâu, bất tịnh quán, cửu tưởng quán, chính giai đoạn của một tử thi, quán tính chất ba mươi hai thể trược của tứ đại. Quán như vậy hoài hoài mà cắt cái xúc, cái xúc nào mà nó sanh ô nhiễm pháp, cấu nhiễm pháp, kiết sử pháp, các ngài cắt. Đưa cái tâm mình trở về để mà xử lý hàng tồn kho, tức là không đưa hàng mới vô, hàng cấu nhiễm mới là không đưa, mà quay trở lại để giải quyết cái tồn đọng, tồn kho, cấu quế bên trong. Chính vì vậy, mà nó dần dần giảm thiểu, nó cạn lần lần rồi mới đưa đến cái kho trống rỗng. Thí dụ như lâu lâu mình chạy ngoài đường, mình thấy treo bảng “thanh lý hàng tồn kho” giảm giá bảy mươi phần trăm, thì những cái bảng đó mình phải “quát duyên đại ngộ”.

Bây giờ mình về thanh lý hàng tồn kho, lâu lâu mình phải vô mình đóng cửa lại, nhập thất, thanh lý hàng tồn kho, dọn dẹp, đem ra bớt, làm cho nó trống trải, sạch sẽ. Chứ bây giờ tối ngày mình cứ cuống cuồng ở bên trong những cái tiếp xúc hoài, mắt cứ tiếp xúc những cái thọ, cảm giác nó cứ sanh diệt, sanh diệt hoài, thì tới chừng nào mình làm việc được, để mình xử lý được hàng tồn kho bên trong.

Cho nên mình tu mà nhìn lại ở bên trong, cả đống những tham, sân, si, bản ngã, dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu. Mình còn chưa thấy được cái của mình nó ra sao, thì khi mình đối diện trở lại, mình vô thất ngồi là mình ngồi không được, ngồi thiền một tiếng ngồi không nổi, ngồi nửa tiếng ngồi cũng không nổi, vậy rồi làm sao. Hở cái là chạy ra bên ngoài, làm cái này, làm cái kia, làm cái nọ, cứ lập công ở trên cái sắc pháp, hữu vi, vô thường. Nên chúng ta thấy sự tu nó hay lắm, mình học được Chánh pháp, mình thực tập, mình mới thấy cái hay, cái vi diệu của nó.

III. Ý nghĩa của sự quán chiếu cảm thọ và xúc:

Cái thọ khi xúc như vậy, nó sanh ra rất nhiều cảm thọ, mà mỗi một lần nó sanh ra cảm thọ như vậy, thì các huynh đệ biết chữ “thọ” là gì không? là nhận, tức là mình đưa vô, như vậy thì thọ nó sẽ được tích tụ, tăng trưởng, phát triển, quảng đại, bành trướng ở trong thân tâm của mình. Và nó nuôi lớn ngũ uẩn, cho ngũ uẩn ăn, theo cách gọi ở trong tứ thực của mình gọi nó là xúc thực. Xúc là thức ăn làm cho lớn mạnh ngũ uẩn, làm cho vô minh, tham ái, được tăng trưởng, phát triển đó là xúc thực. Quý vị huynh đệ thấy không, tại sao mà thế giới không chặn đứng được đại dịch? Vì ở trong nhà nó chịu không nổi, nó phải xúc. Nếu mà nó chặn được xúc thực này, thì sẽ ngăn chặn được rất nhiều những ca nhiễm dịch bệnh. Cái xúc thực này không kiểm soát, không kiềm chế được, cái dục đối với xúc thực này. Nó thúc giục ở bên trong, nó muốn đi ra, muốn gặp người này, người kia, nói chuyện, muốn ăn uống ngoài đường phố, dạo phố, ngắm cảnh này nọ kia, rồi xong nó mắc dịch, mang dịch về. Huynh đệ thấy không, nó rất là rõ, thì sự tu của mình cũng vậy, mình tu không tiến là tại vì suốt ngày nó mắc dịch, nó mắc những cái tham, dục, ái. Rồi càng ngày cái dục, ái, tham càng phát triển quảng đại, bành trướng, xâm chiếm thân tâm, đời sống của mình, làm sao mình đi đến chỗ ly tham được. Vì bên trong này, dục, tham, ái, nó tăng trưởng, phát triển, bành trướng là do xúc với thọ, do căn, trần, thức nó xúc, nó sanh ra thọ. Mà mỗi lần thọ như vậy là nó đưa vô trong, nó nhận, rồi nó chất chứa trong này những cảm giác của ưa thích, say đắm, khao khát, đam mê, nóng bỏng, đốt cháy như vậy thì làm sao có thể gọi là an tịnh và lắng dịu được. Cho nên ngồi thiền không nổi, khi vô ngồi thiền là nó quậy, huynh đệ thấy không? Nó rõ lắm, rất là rõ, mình tu cái này mình sẽ nhận diện ra thân tâm của mình nó rõ ràng lắm. Những cái này ở bên trong, nó quậy mình, nó chạy rần rần ở trong này, thì làm sao mà ngồi yên. Chúng ta thấy không năm phút thôi mà ngồi không yên, bên trong nó quậy, không cho mình yên.

IV. Nhìn nhận lại sự tu học bấy lâu:

Vì vậy hằng này mình phải để ý, phải nhận diện được sáu loại cảm giác. Thật sự con xin thưa với quý thầy, chúng ta mà không học Chánh pháp, không có thực tập quán chiếu về ngũ uẩn, nhận diện năm uẩn đó, thì chúng ta sống trong vô minh và tham ái suốt ngày đêm, suốt năm tháng, suốt đời kiếp, suốt vô lượng, vô biên kiếp, mình cũng không biết làm sao mình có thể nhận diện được sáu loại cảm thọ. Nếu mình không học, tức là khi mắt mình tiếp xúc, nó sinh ra cảm giác, thì mình phải biết ngay chỗ đó liền. Khi lỗ tai mình tiếp xúc qua điện thoại hoặc qua lời nói mà nó sanh ra cảm giác sân, tham, ái hay si, mình phải biết liền, lập tức quán nó, tẩy nó. Chúng ta cảm giác từ nơi sự tiếp xúc của con mắt, cảm giác từ nên sự tiếp xúc của lỗ tai, mình phải nhận diện, phải để ý, phải quán thọ ở trên thọ, quán các cảm thọ.

Thức ăn mà mình ăn, theo khoa học nghiên cứu, bảy tám chục phần trăm là cái mùi nó hấp dẫn, còn cái thiệt mà lưỡi tiếp xúc còn có ba mươi phần trăm thôi. Cái chính của nó là cái mùi, mùi nó bốc ra là đây chảy nước miếng trước. Trong khi đó, chúng ta hoàn toàn ở trong vô minh, không nhận thức được lúc đó cái thiệt hay là cái tỷ nó xúc, mình không biết. Chỉ biết “ôi cha, nó ngon quá, hấp dẫn quá, vô ăn cho nó đã” mình không biết gì đâu, không biết nhận diện về ngũ uẩn gì đâu. Có thấy cái gì nó xúc, cái gì nó thọ, dục, tham trong đó đâu, không thấy gì hết, cứ vô ăn thôi. Mà bây giờ vô ăn, thí dụ cái món đó ngon, mà vô chia cho mấy người kia hết, phần mình còn có nửa tô, thì mình sân. Còn nếu mà cái món đó bình thường, không có ngon, cũng không có dở, thì nó si, không biết gì hết. Mình cứ nghĩ “ tới giờ ăn thì ăn, tới giờ tụng thì tụng, tới giờ tu thì tu, tới giờ làm thì làm, vậy là cũng ngon rồi” nhưng mà tham, sân, si trong đó mình không biết.

Cho nên người tu mà gọi là nghiêm chỉnh, sâu sắc thì sao? quý thầy có thời gian đón để nghe bài “Đức Phật ăn cơm như thế nào?” sắp sửa đem lên mạng để giảng cho lớp Ni buổi chiều, nói về cách ăn cơm của Đức Phật. Chúng ta sẽ giật mình, không thể ngờ được cách ăn cơm của Đức Phật và các bậc Thánh chúng, các vị tỳ-kheo ngày xưa, khiếp đảm lắm. Các ngài nhìn ra từ cảm giác trong khi ăn và kiểm soát cảm giác, tức là đối với các ngài, sự tu tập Tứ Niệm Xứ, quán ngũ uẩn, là từng giây, từng phút, để nhìn xem có dục, tham, ái ở trong ngũ uẩn hay không, có là các ngài nhiếp phục, tẩy sạch, thì như vậy mới đi đến chỗ lậu tận. Còn cái này, mình biết mà còn không biết, không thấy, thì làm sao mà mình nhiếp phục, làm sao mình đoạn tận, tẩy sạch. Mình không biết thân tâm mình có những gì, mình không biết gì hết, chỉ biết cái ở ngoài thôi “có ông kia làm cái gì, cái chùa này làm sao, ở đâu, chuyện này chuyện nọ đông tây” nhưng mà ở trong người mình thì không biết. Chúng ta học cái này là quay trở về nhận diện chính mình những cảm thọ, từ cái thân xúc chạm sanh khởi, mình phải nhận diện. Cái thân này là hang ổ của dục, ghê lắm. Chúng ta học là học để nhận diện thấy, để mọi người có ý chí nỗ lực từ từ, chứ xin thưa với đại chúng đây là hang ổ của dục vọng, dục mà từ trong cái cọng lông, chứ đừng nói cái khác, mỗi sợi lông ở trong cơ thể mình là dục ở trong đó. Nếu mà còn thời gian, chúng ta sẽ học kinh “Đại Niệm Xứ” khủng khiếp lắm, chứ mình đừng có tưởng đâu “ con bây giờ tu nhìn thấy cũng ngon lành rồi” chưa đâu, mỗi sợi lông trên cơ thể mình là dục, ái, tham ở trong đó, ghê gớm lắm. Không phải mình chỉ thương, dục, ái mấy cái đẹp đâu, mấy cái dơ bẩn, hôi thối nhất, mình cũng ái, dục, tham trong đó. Cái dơ bẩn nhất là cái mình ưa thích nhất, cái mình đau khổ nhất đó là xúc ái, sắc ái, đau khổ với cái đó, khao khát, khát ái, sống chết với cái đó, không có cái đó là chết, khiếp lắm.

Thưa với đại chúng, khi mình học cái này mình nhận diện ngũ uẩn đi, mình sẽ sốc toàn tập, mình không thể ngờ rằng trong một cái thân tâm nó như vậy, không có ngờ nó như vậy. Tất cả toàn bộ đời sống của mình là vô minh và khát ái kết thành. Từ cái ăn, uống, nhai, nếm, đi, đứng, cái mặc, cái nói, cái làm, của mình, tất cả vô minh, khát ái nó vận hành, điều khiển hết, mà mình không nhìn thấy. Đến khi mình nhìn thấy được thì thôi, hỡi ôi ngao ngán. Tức là chính tự thân của mình và tất cả chúng sanh đắm chìm trong biển dục, biển ái. Mình phải nhận diện ra được sắc ái, thanh ái, hương ái, vị ái, xúc ái, pháp ái, cho nên sự tu của chúng ta không phải đơn giản, thật sự không phải là đơn giản. Con xin thưa đại chúng là con chỉ mới giới thiệu thôi, giới thiệu cái pháp hành rồi chúng ta thực hành, chúng ta sẽ nhận diện, chúng ta sẽ cảm nhận được những điều đó.

Bây giờ con nói ví dụ đơn giản, cái pháp ái nó làm sao? Những cảm giác nghĩ tưởng ở trong lòng của mình, hình bóng mà mình ngồi lại, khi mình tiếp xúc ở đâu đó, rồi bây giờ nó hiện hình bóng đó trở lên, mà khi nó hiện lên thì mình ưa thích, ham muốn đó là pháp ái. Cảm giác mà mình đã cảm nhận rồi, ba năm, năm năm hay bảy năm trước, bây giờ nó khởi lại trong tâm của mình, thì mình thích, mình khoái, đó là pháp ái, hình bóng của cảm thọ, cái đó gọi là thọ quá khứ, thọ hiện tại, thọ tương lai. “Thô tế” “thắng liệt” “xa gần” tất cả cái cảm thọ đó, mình phải quán đó là vô thường, khổ vô ngã, trống rỗng, đó không phải là tôi, không phải của tôi, không phải là tự ngã của tôi.

Bây giờ những cái suy nghĩ của mình nó hiện lại, những lời nói thầm thầm mà cách đây mình đã nói một năm trước rồi, mình nói cái lời đó, mà bây giờ cái câu đó nói lại hay người nào đó họ nói một cái làm mình tức tối, thì mình nhớ lại câu đó mình có sân, có khó chịu không? Một năm, ba năm, thậm chí là năm năm rồi mà câu đó hiện lại, thanh tưởng, pháp tưởng. Thanh tưởng nó thuộc về thanh tưởng quá khứ, mình bị dính ở trong đó hết trơn hết trọi, nói chung chỗ nào nó cũng bị dính chấu hết. Coi như nó buộc hết, sáu mươi pháp, chỗ nào cũng bị dính, nó cột hết. Mà mình nhìn thấy được cái này, mình mới bắt đầu phát cái tâm xuất ly, muốn đi ra. Còn nếu mà không nhìn thấy cái này, thì sự tu tập của mình không có nổi. Mình không có quyết tâm tu đâu, mình thấy mình “bây giờ ngon rồi, tu cái gì nữa” phải không. Mình thấy cái này, mình thấy “mình không có ngon chút nào hết, mà quá tệ” thì mình mới nỗ lực, mới phát tâm mạnh mẽ lên, chỉ có Thánh trí năm uẩn này mới phơi bày hết tất cả những gì bị che kính, đem đèn sáng vô trong bóng tối, để những người có mắt nhìn thấy được, chỉ đường cho những người lạc hướng.

Vì mình lạc hướng là mình đi lạc vô năm uẩn, mình tưởng năm uẩn là hạnh phúc, mình cứ đầu tư vô sắc uẩn không à. Cố gắng cho cái thân này nó tươi tắn, nó đẹp đẽ, nó khỏe khoắn, cố gắng để cho ngôi chùa mình nó được đàng hoàng, trang trí đồ lên, cây kiểng đồ, này kia nọ, mô hình, phải không? Đầu tư vô sắc uẩn, rồi đi tìm những cảm giác nào đó cho êm ái, thích thú, thì đó là đầu tư vô năm uẩn, còn cái sự tu tập chơn chánh Thánh trí huệ là xuất ly năm uẩn, thì cái đó mới đoạn tận tử sanh. Nếu mình còn đầu tư vô đây, thì mình tiếp tục đời sau năm uẩn nó sanh nữa. Không cần nói đời sau, ngay đời này thôi, bây giờ mình thọ, ái thì tưởng, hành nó sanh rồi. Mình xúc thì thọ, tưởng, hành nó sanh, rồi ái, dục, tham nó sanh. Và tiếp tục thọ, tưởng, hành, những cảm giác bị tưởng nó sanh, rồi cứ tiếp tục nữa, những cảm giác nó sanh và cứ vậy hoài, thì ngũ uẩn nó sanh ra liên tục rồi nó chết. Khi chết chỉ cái sắc uẩn nó rã ra thôi, thọ, tưởng, hành, thức, nghiệp nó còn, thì tiếp tục nó tạo ra một ngũ uẩn mới, mà ngũ uẩn đó không biết là ngũ uẩn gì, có khi nó có sừng, có khi nó kêu “be be”, mà có khi nó ở dưới địa ngục, hoặc làm cô hồn vất vơ, vất vưởng. Nó hoại là chỉ có sắc uẩn hoại thôi, còn thọ, tưởng, hành thì còn, cái thức, rồi cái nghiệp nó lôi mấy cái đó đi, một đời sống tiếp tục, đó gọi là sanh tử.

Hiện tại mình tu mình không nhìn thấy được Thánh trí năm uẩn, không nhận diện được, thì đó là đầu tư cho ngũ uẩn. Vì mình luôn luôn đi tìm cảm giác mà, sáu thọ mà. Cứ thấy cái gì cho nó đẹp, cái gì cho nó dễ thương, mũi ngửi, nếm cái gì nó ngon, nó thơm, xúc cái gì cho nó êm ái. Thì những cảm giác đó nó sanh khởi ở bên trong nội tâm, mà mình đã dính hết trơn. Đây là mê hồn trận, bát quái trận, đào hoa trận, bát tà đạo trận chứ không phải Bát chánh. Bát chánh nó mới phá được cái bát tà này.

Cuối cùng chuẩn bị nghỉ, tốt nghiệp thì mình sẽ học Bát thánh đạo, lúc đó mới sự thấy khủng khiếp của Bát thánh đạo. Bây giờ mình thấy, cả những hình bóng trong tâm của mình Đức Phật phân loại nó ra làm sáu dạng hình bóng: hình bóng của sắc, hình bóng của âm thanh, hình bóng của mùi, hình bóng của vị, hình bóng của sự tiếp xúc và hình bóng của những cảm giác nghĩ tưởng ở trong tâm, nó gọi là sáu tưởng.

Tất cả những cảm giác được phân loại thành sáu loại cảm giác, theo ở đây nói là sáu pháp. Còn có chỗ Đức Phật nói là ba loại, thông thường sử dụng ba loại là: dễ chịu, khó chịu, không dễ chịu không khó chịu. Nhưng y cứ ở trên sáu căn, thì có sáu chỗ, thì phân ra sáu loại cảm giác. Tất cả suy nghĩ của mình thì suy nghĩ biết bao nhiêu cái, nhưng mà Đức Phật phân loại nó ra làm sáu dạng, sáu loại suy nghĩ: suy nghĩ về sắc, suy nghĩ về âm thanh, suy nghĩ về mùi, suy nghĩ về vị, suy nghĩ về sự tiếp xúc đụng chạm, suy nghĩ về những cảm giác, nghĩ tưởng ở trong tâm, đó gọi là pháp tư.

V. Thiền quán sáu pháp:

Quý vị thấy rõ không? Suy nghĩ về sắc, thanh, hương, vị, xúc là ở bên ngoài. Cái gọi là pháp tư, là cái suy nghĩ ở bên trong, nó rõ lắm. Mình học cái này rồi, mình ngồi thiền mình thấy nó đã vô cùng, cái nào cái nấy nó rõ ràng từng cái hết, không có lộn xộn, lẫn lộn, các pháp hiện rõ trong tâm. Chúng ta thấy Đức Phật, đây mới gọi là Chánh Đẳng Chánh Giác, tất cả những gì ở trong tâm này tường tận, minh bạch, rõ ràng ra hết. Nó không có gì gọi là lờ mờ, không có nói chung chung, không phải ngồi đó “cứ việc tu đi, kệ cứ tu đi rồi từ từ cũng được”, không phải. Dục ở đâu là thấy rõ, tham ở đâu, sân ở đâu, bản ngã ở đâu nhìn thấy rõ hết, nhiếp phục tới đâu, biết tới đó, nhập lưu là biết nhập lưu, nhất lai là biết nhất lai, bất lai là biết bất lai, vô sanh là biết vô sanh, vì tu cái này vậy đó, tự mình sẽ biết được.

Cho nên để chúng ta nhìn thấy được tâm thức, cái thân của mình, thấy được khi mình tu học cái này thì trí huệ của mình nó phổ quát tất cả góc độ, khía cạnh của các pháp. Chứ không phải ngồi thiền cứ vô chỉ hơi thở, cái bụng phồng xẹp, mình niệm niệm câu, hay là cái gì nó đơn giản, không phải. Mà phải nhìn thấy được mọi pháp trong ngoài, thí dụ như mình rõ biết trước mặt, thì mình thấy được mình rõ biết trần, mình cảm giác toàn thân của mình, tức là mình rõ biết được căn và thọ. Thọ, tưởng, hành là nội tâm tỉnh giác, mình biết được những cảm giác, nghĩ tưởng bên trong.

Như vậy thì căn, trần, thức, mười giới ngay lúc mình ngồi thiền mình thấy biết hết. Nó khác với chỗ mình ngồi, mình nhắm mắt, cứ thở vô thở ra cho nó yên tĩnh, không phải, cái đó nó không đầy đủ, không sáng tỏ, nó ở trong vô minh, ở trong si, trong tưởng, thì làm sao nó nhìn thấy các pháp. Cho nên, mình ngồi con mắt của mình mở lên nhìn thấy rõ mà không trú vào một điểm nào hết, cái đó là mình rõ về trần, toàn bộ cơ thể của mình ghi nhận rất rõ về căn. Ở trong tâm của mình, mọi cảm giác suy nghĩ hình bóng, mình đều thấy rõ hết, cái đó là thức, rõ biết. Như vậy căn, trần, thức, mười tám giới, là ngay lúc mình ngồi thiền đều hiện rõ hết rồi. Trong đó là những cảm thọ, những hình bóng, những suy nghĩ, những cái gì mà yêu thích bên trong có sanh khởi, là mình nhìn thấy liền, mình tác ý, tẩy sạch, đánh đuổi. Chúng ta thấy, một sự tu tập nó phổ quát, rộng lớn, sáng tỏ, mà nó kiểm soát hết tất cả mọi pháp như vậy, là cả một vấn đề, đây là thiền định chánh thống của đạo Phật.

Kiểm soát được hết tất cả căn, trần, thức, những cảm giác, nghĩ tưởng. Nhìn ra tất cả những lậu hoặc, tham, sân, si, bản ngã, thọ, tưởng, hành ở bên trong để mà đánh đuổi. Ngồi thiền như vậy là đại tướng xung trận, chứ không phải ngồi đó mà nhắm mắt lại, nguyên này làm mệt đã đời, ngồi bắt chân lên bồ đoàn ngồi, nhắm mắt thở vô thở ra, là xong. Một hồi ra nói “bữa nay ngồi thiền thấy nó êm” nó hôn trầm, không biết gì hết. Cứ nhắm mắt, đâu biết cái gì nữa đâu, trước mắt cái gì mình còn không biết, cái cảnh ở ngoài, cái thân có cảm giác gì, trong tâm có thọ, tưởng, hành gì mình cũng không biết, thì cái đó là ngồi trong vô minh, si ám. Chúng ta thấy “tại sao mình ngồi tu mà trí huệ không phát” thấy rõ vấn đề không? Hễ cứ ngồi là nhắm mắt lại, rồi phồng xẹp, thở vô, thở ra, hay là niệm cái gì đó, trì cái gì đó, rồi xong trở ra, thì tham, sân, si, bản ngã, vô minh, tất cả ngũ uẩn, chấp thủ ở trong vẫn còn y nguyên, nó đâu có động đậy gì tới đâu. Cây cổ thụ ngàn năm của vô minh, của tham ái, chấp thủ, bản ngã vẫn còn đó, con chưa chạm được cái rễ của nó nữa, chẳng qua là được lắng dịu, yên tịnh chút đỉnh vậy thôi, chứ còn chưa nhận diện được thân tâm, không thấy rõ được.

Ở sự tu này là “Này các Tỷ-kheo ta tuyên bố cho các thầy, ta chỉ nói cho người thấy, cho người biết. Ta không nói cho người không thấy, không biết” Thấy cái gì? biết cái gì? Thấy được mọi cảm thọ, nghĩ, tưởng, thấy được mọi lậu hoặc, dục, tham, ái nó sanh khởi, hoạt động như thế nào. Thấy được sân, si, bản ngã, vô minh, si ám, nó xâm chiếm thân tâm như thế nào. Thấy được các ái, các thọ, tất cả những dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu, nó đang vận hành, áp đảo, xâm chiếm, chế ngự trong thân tâm như thế nào “Ta nói cho người thấy, ta nói cho người biết", mà có thấy biết gì đâu. Cho mình học cái này nó tuyệt vời lắm, mình phải nhận diện các pháp.

VI. Tất cả pháp lấy thọ làm chỗ tụ hội:

“Xin mời các huynh đệ có câu hỏi gì không?”

Huynh đệ 1:

“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Con kính thưa giáo thọ, kính thưa toàn thể quý tăng. Con có một câu hỏi xuất phát từ lời nói của thầy. Hồi nãy con nghe thầy nói là cái sắc này mất thì thọ, tưởng, hành, thức là còn chứ không phải là mất. Thì thật sự con chưa rõ vấn đề này, nhưng mà trong tâm con có một suy nghĩ là khi sắc mất thì thọ, tưởng, hành nó mất theo, còn thức thì con nghĩ nó không mất, đó là một suy nghĩ trong con thôi, con mong rằng được thầy chia sẻ, giải đáp cho con rõ hơn.

Nam Mô a Di Đà Phật”

Tâm mình được cấu thành từ bốn uẩn ( thọ, tưởng, hành, thức). Nếu mà cái thọ nó mất thì cái tưởng, cái hành nó mất, thì nó không đủ để trở thành một tâm thức. Hơn nữa, Đức Phật nói “ tất cả pháp, lấy thọ làm chỗ hội tụ, quy tụ”. Chúng ta mới nhìn thấy là sự huân tập của các cảm thọ, cho nên mới có sự sai biệt ở trên thế giới này. Thí dụ như mấy đứa bé, trẻ thơ nó thích mấy thầy, bây giờ hỏi nó nói “mai mốt con đi tu”, nhưng mà có những đứa trẻ nó gặp mấy thầy nó khóc, nó nhìn cái đầu trọc nó sợ quá, nó thấy khác với người bình thường, nhưng có những đứa trẻ nó muốn vô chùa nó ở thôi, mẹ kêu nó về nó khóc, chỉ muốn ở đây với thầy. Có những đứa trẻ mới năm tuổi là thần đồng âm nhạc, mình thấy Việt Nam mình có những cậu bé bảy, tám tuổi nói bao nhiêu thứ tiếng, hiểu được rất nhiều những kiến thức, tri thức của thế giới, chứ không nói là ở trong nước. Rồi có những người họ sanh ra, từ nhỏ xíu họ đã thích về ca nhạc, thích đàn. Thì tất cả những cái đó là sự huân tập của cảm thọ quá khứ, cho nên cái thọ ở đây chính là kho tàng của tâm thức, được huân tập.

Cho nên tại sao mình lại thích vô chùa mình tu, mình cạo đầu, là do cái thọ ở trong nó thúc đẩy, cái cảm giác đó là một cảm giác quen thuộc, có những người vô chùa nói với mình “thầy ơi, con thấy cái cảnh này con thấy quen lắm, cái tiếng chuông này nghe quen lắm” đó chính là cái thọ. Cái thọ đó dẫn dắt người đó, tiếp tục của những cảm giác của đời trước, đời này họ sẽ tiếp tục, nên tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ. Chính vì vậy, có một số người khi người ta sanh ra họ muốn lên núi ở, mình thấy có ông nào ở trong rừng ba mươi mấy, bốn chục năm người ta rước ra mấy lần ông không chịu ra, cuối cùng bệnh mới đem ra được. Có nhiều người ở thành phố thôi, về quê ở không được, do cái thọ nó quân tập, thành thói quen. Địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh là do cảm thọ, mà các tầng Thánh quả cũng do cảm thọ. Tại sao chúng ta tu, chúng ta không được đào sâu cũng cái cảm thọ, tại vì chúng ta tu là chúng ta tu trên khẩu hành với ý hành. Tức là mình nói nói cái miệng vậy thôi, suy nghĩ thôi, nhưng mà mình không có cảm giác thật sự, chỗ này là chỗ quan trọng. Mà một người tu sâu hay không sâu thì mình quán chiếu thiền quán mà có thành tựu hay không thành tựu là do cái cảm thọ này. Người quán bất tịnh đến chỗ thâm sâu là cảm xúc trào dâng, nước mắt tràn ra, khóc tức tưởi. Còn người quán bất tịnh, ngồi nhìn trơ trơ, không phát sinh cảm giác gì, không cảm xúc gì, thì cái quán đó nó không có thâm sâu, không có thấm thía.

Bây giờ mình đi coi một bộ phim, mà mình ngồi coi từ đầu tới cuối mình ngồi trơ trơ, xong đi ra người ta hỏi “ờ, mình không có cảm xúc, không có cảm thọ gì”. Sở dĩ mà phim lấy tiền người ta nhiều, là coi xong nước mắt đầm đìa “xúc động quá, hay quá hay”, là cái thọ. Cho nên cái thọ nó là chúa trùm ở trong ngũ uẩn, đây là chỗ thâm sâu nhất ở trong ngũ uẩn.

Bây giờ con mới nói, các thầy để ý nè, cái sắc uẩn của mình chỉ là cục đất thôi, nó không biết gì hết, cái sắc uẩn của mình nó giống như con rối thôi, nó không biết. Bây giờ cái suy nghĩ của mình phớt qua thôi, có khi mình suy nghĩ rồi mình quên “lúc nãy suy nghĩ cái gì? để nhớ lại coi không biết suy nghĩ cái gì đó” phải không? suy nghĩ nó phớt qua, nó nhẹ lắm, rồi cái tưởng cũng vậy, cái hình bóng trong tâm mình nó lờ mờ, chập chờn, có khi thấy được, có khi mình không rõ. Rồi cái nhận thức cũng vậy, nó không có hình tướng, nó hoàn toàn về mặt tinh thần thôi. Tức là những cái tưởng, hình bóng, suy nghĩ, nhận thức, nó hoàn toàn về mặt tinh thần, nhưng mà cảm giác nó mới sanh khởi tinh thần.

Giờ con chỉ cho các thầy thấy, tham, sân, si, nó ở trên thân chỗ nào. Cái cảm thọ nó là gạch nối, nhịp cầu giữa thân và tâm. Chỉ có cảm thọ mới biểu hiện ra trên thân, còn mấy suy nghĩ nó ở trong tâm. Thí dụ bây giờ mình ngồi đối diện, mình không biết người đó đang suy nghĩ cái gì hay là trong tâm người đó có cái hình bóng gì, tưởng gì trong đó, mình không biết. Nhưng cái thọ người đó thì mình biết, thí dụ mình nói một câu người ta giận, mình biết không? mình nói một câu người đó thương mình, người ta thích thích mình,thì mình biết không? cái thọ nó biểu hiện trên thân. Cho nên cái thọ này là cái rất là khủng khiếp, mình tu là tu ngay chỗ cái thọ này, tại vì cái thọ này gắn kết giữa thân và tâm. Nên khi một người mà si mình nhìn vô mình biết liền, nhìn hai con mắt họ nhướng nhướng, chớp chớp, hay ngồi yên, nó si. Cái đầu nặng xuống, hai con mắt nó sập xuống, như vậy thì cái thọ này tập trung ở cái đầu và con mắt, nhìn thấy si nó biểu hiện. Sân thì dễ thấy rồi, đỏ mặt lên, lùng bùng lỗ tai lên, ta thấy được liền. Rồi, đó là si với sân. Còn dục, là ở ngay chỗ phát dục, đó là sào huyệt, hang ổ của nó. Cái chỗ đó nó nhấp nháy, cử động, rục rịch là đó. Nếu mà ngay lúc đó, mình tác ý thẳng vào ngay chỗ đó, mình tác ý “ ngươi hãy tan biến hoàn toàn đi, ngươi đừng có quậy phá ta nữa, để cho ta lẳng lặng, bình an, tu tập”. Tác ý mạnh là phải nói mấy câu nặng lắm, nói thật là nặng, dùng những từ nặng nhất tác ý ngay chỗ đó là nó sẽ lắng dịu ngay lập tức.

Cho nên cái thọ là nó có chỗ cư trú. Sân mình sẽ nhìn thấy lỗ tai đỏ lên, con mắt đỏ, cái mặt đỏ, nó biểu hiện ra hết cái thân tâm nó gắn với cái thọ. Còn si thì con mắt sụp xuống, cái đầu nó nặng, cái mặt nó muốn nhiễu ra, nó ngu ngu, ngáo ngáo, không dám nhìn, cái mặt thấy si nó biểu hiện lên. Còn cái dục, là nó ở ngay chỗ phát dục, khi mình như lý tác ý, chỗ nào mình phải tác ý ngay chỗ đó, thì chỗ đó tan biến ngay lập tức. Si là mình tác ý, mình phải mở hai con mắt lớn lên, mình cảm nhận cái trước mặt một cách trong sáng, rõ ràng, mạnh mẽ, mở mắt lớn lên, thì mình đánh tan cái ở trong hai con mắt, trong cái đầu. Còn sân, mình tác ý mạnh vô chỗ cái lồng ngực, mình hóa giải cảm giác nóng bứt, phừng phực, cho nó lắng dịu xuống, thì nó sẽ hết. Còn cái dục thì nó ngay chỗ nào, mình tác ý mạnh vô chỗ đó, thẳng vô chỗ đó, mà nó quậy mình quá, thì mình nói “súc sanh, thú vật, tối ngày mày xúi giục tao những cái thứ khốn khổ này, tao khổ với mày bao nhiêu đời, bao nhiêu kiếp rồi, mày quậy tao hoài vậy?” tác ý mạnh thật mạnh vô chỗ đó, lập tức nó sẽ lắng dịu xuống.

Thành ra cái chỗ cảm thọ này hết sức thâm sâu, mà chúng ta tu là tu ngay cái này mới có kết quả, còn cái mình suy nghĩ “chậc, bây giờ con quyết định con về chuyến này là tối nào con cũng phải ngồi thiền một tiếng hết, khuya con phải ngồi thiền một tiếng” nói cái miệng vậy đó, trong suy nghĩ cũng có nói, tức là ý hành với khẩu hành nói, nhưng nó đi mất tiêu. Chứ nó không có một cái cảm thọ mà rúng động sâu sắc là “từ đây trở về sau phải tu” mà cái cảm thọ nó dẫn dắt thì cái thọ nó mới thâm sau bền lâu được, còn mà nói trên miệng với suy nghĩ, thì nó phớt qua mất, nói nói vậy thôi, khi trở về rồi nó cũng y chang, chứng nào tật nấy, nhưng mà nếu rúng động trong cảm xúc, cảm thọ, thì người đó thay đổi, đổi đời.

Nên ta thấy có những người họ chứng kiến một cái cảnh gì đó, thí dụ như người thân bị tai nạn giao thông, bị phá sản, hay là bị cái gì đó chết. Tự nhiên họ về, họ bị chấn động thần kinh, tại cái thọ của họ làm cho họ thay đổi cuộc đời, hoặc là tốt hoặc là xấu, tiêu cực hoặc tích cực. Tại lúc đó cái cảm xúc của họ nó bị chấn động, rung chấn. Mà khi mình được chứng ngộ thì cũng vậy đó, khi mình chứng ngộ thì cảm thọ bên trong giống như địa chấn, nó sẽ rung chấn toàn bộ cơ thể. Giống như nó mở cửa thành lớn, sụp đổ tất cả si, mê, vô minh và tham ái, thì người đó sẽ đắt pháp nhãn tịnh, sơ quả hoặc là tới tận cùng lậu tận A-La-Hán. Lúc đó cái cảm thọ nó bị rung chấn, sụp đổ hết tất cả nhận thức vô minh và tham ái ngay chỗ cảm thọ, cho nên thọ không thể mất được, nếu mà mất thọ thì là bậc A-La Hán đi ra khỏi ngũ uẩn luôn, đồng thời sắc, thọ, tưởng, hành, thức phải được chấm dứt. Chỗ này là chỗ thâm sâu, tại sao chúng ta phải học thường trực, mà Minh Thành hay chia sẻ các huynh đệ là cảm giác toàn thân, là luôn luôn, bất cứ khi nào cũng để ý cảm giác của mình, đây là mấu chốt, cốt tủy của Pháp hành trong kinh tạng Nikāya. Chỉ cần mình muốn nhìn trong tâm mình có cái gì, thì mình nhìn vô cảm thọ là sẽ thấy ra hết, không có gì giấu được ở trong cảm thọ hết. Tất cả pháp hội tụ ở trong cảm thọ.

Thí dụ như bây giờ, mình gặp người đó thật sự không phải cái thô ( cái thô là nói ra lời nói suy nghĩ nhưng mà có cảm giác dễ chịu, êm ái, nhưng nó không có suy nghĩ về cái lời) tức là hành nó không có sanh khởi, tưởng nó không có sanh khởi, nhưng nó có một cái cảm thọ nhẹ nhẹ, dễ chịu, cái đó là ái với đối tượng đó hay món đồ đó, nó sâu sắc lắm. Còn cái mà nó phát ra cái suy nghĩ, hình bóng này kia nọ, nó nói ở trỏng rầm rầm, cái đó là thô rồi, mình phải trị cái thô trước. Nhưng mà xin thưa, là cái thọ nó nung ở dưới lên, rồi cái tưởng, cái hành nó mới sanh khởi, cái hình bóng và suy nghĩ nó đi theo. Mà thật sự từ ở phía dưới nó nung lên, do cái thọ của nhiều đời mình huân tập cái cảm giác đó. Cho nên tại sao có người mà chỉ cần nhìn thấy người kia thôi là coi như là sấm sét, tại vì nó quân tập cái thọ đối với người đó là nhiều kiếp, chỉ cần gặp một lần một thôi là thấy nó quen biết tự bao giờ. Tức là cái thọ trong quá khứ nó đã quân tập rất là nhiều rồi, cho nên quán cái thọ này nó tuyệt diệu lắm, mình phải thực tập quán cái cảm giác, để ý nó hoài, đi, đứng, nằm, ngồi, bất cứ lúc nào cũng phải để ý vô cái cảm giác của mình hết, có cái gì là nó hiện ra được liền. Phải thường trực nhìn lại cái lồng ngực, thường trực nhìn lại cảm giác của toàn bộ cơ thể, coi nó có biến động rục rịch ở chỗ nào hay là không, có là phải tác ý liền. Thấy chỗ này nó lâng lâng, ấm áp, lưu luyến, bịnh rịnh là chỗ đó mình biết rồi đó, là ái đó. Chỗ này nó hừng hừng, phựt phựt là sân tới rồi, bây giờ phải hóa giải. Mình thấy cái chỗ trên mặt này nó cứ sập xuống, mà cái đầu nó nặng, hai con mắt nó sập xuống là si, chuẩn bị đánh nó tan.

Nếu là một người tu tập, thì huynh đệ thấy phải thường trực, lúc nào cũng nội soi, cũng phải nhìn vô cảm thọ của mình hết. Cho nên mình ít có để ý cái bên ngoài, nên phiền não mình ít, ít có hướng ngoại. Còn tại sao mình tu mà mình không có thành công, là tại vì mình hướng ngoại, mình cứ nhìn cái cảnh này nè, nhìn người này, người nọ, người kia, nhìn cái này, cái nọ, tối ngày phân biệt ở ngoài, mà trong này không biết có cái thọ, tưởng, hành gì, có lậu hoặc không, không biết. Dục, tham, ái, sân, si, bản ngã có cái gì không, không biết gì hết. Có cái gì sanh khởi lên cũng nhập cuộc vô “tôi nghĩ, tôi giận, tôi muốn, tôi thích, tôi thấy khoái quá” rồi xong, có biết nhận diện năm uẩn gì đâu, có nhận diện các pháp gì đâu. Cho nên mình tu mà mình không thể nhập được Thánh trí tuệ, không thành tựu được cái trí về tự thân ngũ uẩn của mình, đây là cả đại một công trình.

Báo cáo cho các thầy, phải nắm cho được tấm cương lĩnh của Pháp hành Nikāya, để mình hành trì, rồi mình sẽ thấy phép màu nó xuất hiện. Cứ để ý cảm thọ mình hoài mình sẽ thấy, chỉ cần nó khó chịu mình thấy liền, nó dễ chịu, nó thích thích, mình thấy được liền. Nó phình phình, ưỡn ưỡn cái ngực, hất hất cái mặt nó lên, bản ngã nó sanh khởi lên, mình thấy được liền, tác ý liền, thì mình từ từ sẽ gột rửa thân tâm của mình, hay lắm. Trong sự tu hành của chúng ta là một sự gột rửa, tẩy sạch thân tâm.

VII. Tái sanh?

“Còn một câu hỏi nữa được, có huynh đệ nào hỏi không?”

Huynh đệ 2

“A Di Đà Phật

Con kính bạch thầy giáo thọ, kính thưa đại chúng. Vừa rồi, con có nghe qua có một sư huynh cũng phát biểu theo lời thầy dạy là sau khi thân hoại mạng chung thì chỉ có sắc diệt, còn lại thọ, tưởng, hành, thức nó không có diệt, mà nó tiếp nối từ đời này với đời khác. Thì theo con nghĩ, nếu mình nói như vậy thì mình nói đó là thường còn, chứ không phải mình cũng chấp vào một bên, mà mình nói nó diệt thì cũng gọi là đoạn kiến, nó cũng không đúng. Theo con được biết trong bài kinh Đức Phật nói với một vị Tỷ-kheo mang tà kiến, vị ấy cho rằng ý thức là thường còn, bởi vì khi vị ấy nghe Đức Phật nói về Túc sanh truyền của ngài, thì vị ấy liên tưởng đến thức của Đức Phật, từ kiếp quá khứ đến khi ngài thành Chánh Đẳng Giác đó là một, không phải là khác. Do đó ngài mới khởi lên tà kiến như vậy, chính vì thế các vị Tỷ-kheo đã chứng đạt được các pháp nhãn có khuyên vị ấy không nên có suy nghĩ, tà kiến như vậy mà vị Tỷ-kheo này vẫn giữ tà kiến như thế, thì các vị kia không khuyên được mới bạch lên Đức Thế Tôn. Đức Thế tôn sau đó cho gọi vị Tỷ-kheo Sa-Tí này đến để hỏi, thì ngài mới nói là “ai dạy cho ông cái điều này, từ trước đến nay ta có dạy cho ai như thế hay không” và ngài hỏi Tỷ-kheo Sa-tí “tại sao lại khởi lên cái tà kiến như vậy?”. Vị Tỷ-kheo mới kể lại khi nghe Túc sanh truyền của Đức Phật, thì ngài mới nhận thức được rằng từ cái thức của quá khứ đến cái thức hiện tại của đức Phật đó là một, chứ không phải khác. Thì Đức Phật nói “không phải như vậy, mà cái thức là nó do duyên mà sanh khởi, chứ không phải là nó tiếp nối giống như mình nghĩ nó thường còn. Như vậy thì chẳng khác gì mình chấp một cái linh hồn thường còn từ cái đời này sang đời khác”.

Và con cũng thấy rằng trong bài kinh “Vô ngã tướng” sau khi Đức Phật dạy cho năm anh em Kiều trần như, ngài cũng nói rõ về tất cả năm uẩn này, nó cũng là vô thường, khổ và vô ngã từ cái sắc, thọ, tưởng, hành, thức của quá khứ, hiện tại, vị lai, thô hay là vi tế. Tất cả đều là vô thường, không phải là ta, không phải là của ta, không phải là tự ngã của ta. Thì con không hiểu, làm sao có thể sau khi thân hoại mạng chung, thì cái thức lại là bốn uẩn còn lại, tiếp nối cho đời sau? Mà con nghĩ nó giống như một vòng sanh diệt, tùy theo duyên mà nó phát khởi mới đúng. 

A Di Đà Phật, con cảm ơn thầy”

“Câu hỏi của thầy con hiểu rồi”

Khi mà mình nói tiếp nối đời sau, không có nghĩa là mình nói nó thường còn. Tại sao nó tiếp nối đời sau? cái nhân duyên của nó là do vô minh, khát ái đối với ngũ uẩn. Nó nhận cái thọ là nó, là của nó. Nó nhận cái tưởng đó là nó, là của nó. Nó nhận cái hành đó là nó, là của nó. Nó nhận cái thức đó là nó, là của nó, là tôi, là của tôi. Cho nên nó mới tiếp tục đời sau, và nó nhận cái sắc đó là nó, là của nó, cho nên đời sau nó cũng tiếp tục cái sắc tương ứng theo nghiệp. Nên bốn Thánh trí về ngũ uẩn là sự chấp thủ ngũ uẩn, là phiền não, khổ đau. Ngũ uẩn sanh khởi do vô minh và khát ái, ngũ uẩn đoạn diệt, diệt tận là khi hết vô minh và khát ái đối với ngũ uẩn. Bát chánh đạo là phương pháp đúng để đưa đến tẩy sạch vô minh và khát ái đối với ngũ uẩn. Tại sao mình nói rằng chết rồi thì thọ, tưởng, hành, thức cộng với nghiệp nó đẩy mình đi theo đời sau? Cái duyên sanh của nó là do nó vô minh, không biết ngũ uẩn là vô thường, khổ, vô ngã, biến hoại, mà nó cho những cái đó là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, nên nó đi ra không được. Cho nên sự tu tập của chúng ta là sự chứng ngộ được ngũ uẩn này không phải tôi, không phải của tôi, để chúng ta giải thoát đi ra khỏi ngũ uẩn. Ngày nào sự chấp thủ đối với sắc, thọ, tưởng, hành, thức này nó còn, thì ngày đó ngũ uẩn tiếp tục tái sanh, tiếp tục luân hồi. Ngày nào phá được vô minh, làm cho minh nó sanh, ái nó diệt, thì ngày đó ngũ uẩn đoạn tận chấm dứt. Chứ không phải mình nói chung chung vậy, nói còn cũng không được, nói không còn cũng không được, cuối cùng nó là cái gì. Mình nói kiểu đó thì mình học mà mình không có chỗ y cứ và trí tuệ không được minh bạch, giản trạch. Nói kiểu lửng lửng vậy đó, mình hay bị cái kiểu ba phải lắm, tức là cái nào cũng không được, nói vầy không được, nói vậy cũng không được, rồi cuối cùng nói cái gì.

Thí dụ bây giờ tu mà nói “tham, sân, si cũng là giả thôi, chứ không có thiệt” vậy sao đoạn tham, sân, si? tu tu, chứng chứng, vậy tu làm chi? Cho nên mình phải giản trạch, một cách Minh đạt, Minh kiến về Chánh pháp, do sự vô minh ở trong năm uẩn, sự khao khát bám chặt vào đời sống ngũ uẩn này, cho nên mới thọ, tưởng, hành, thức tiếp diễn. Đến ngày nào mình thấy đây là vô thường, khổ não, vô ngã, bất tịnh, đây là cái thứ đáng quăng bỏ, từ bỏ, chấm dứt, đoạn tận, đoạn diệt, không đi theo nó nữa, nó là gốc của khổ, thì ngày đó chấm dứt ra khỏi luân hồi.