Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Kinh Di Giáo Giảng Giải 20 - Lời Khích Lệ Sau Cùng

2026-03-03 00:55:11
Kinh Di Giáo Giảng Giải 20

LỜI KHÍCH LỆ SAU CÙNG

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Lúc Đức Phật sắp Niết Bàn PAGEREF _Toc112763845 \h 1

II. Tinh cần chế ngự PAGEREF _Toc112763846 \h 8

III. Tinh cần đoạn tận PAGEREF _Toc112763847 \h 11

IV. Tinh cần tu tập PAGEREF _Toc112763848 \h 13

V. Bất tịnh quán PAGEREF _Toc112763849 \h 15

VI. Tinh cần hộ trì PAGEREF _Toc112763850 \h 18

I. Lúc Đức Phật sắp Niết Bàn

Lúc bấy giờ trong chúng, hàng đệ tử hữu học phải đối diện sự kiện Đức Phật vô dư Niết-bàn đều bi cảm, xót xa. Hàng đệ tử mới vào đạo nghe những lời dạy cuối cùng đều được hoá độ. Như trong đêm tối nhờ có ánh sáng nên thấy đường đi, các hàng đệ tử vô học đã dứt sạch các phiền não, vượt qua khỏi sanh tử. Nhưng lại nghĩ rằng, tại sao Đức Thế Tôn vô dư Niết-bàn quá sớm. Lúc đó Đức Phật vì thương bốn chúng nên dạy thêm rằng: Này các đệ tử chớ có thảm sầu đau xót, dẫu Như Lai sống một kiếp nữa rồi cũng đến ngày Niết-bàn, hội ngộ mà không chia ly, kết hợp là không tan rã là điều không thể có.

Những kinh nghiệm và pháp thức lợi mình, lợi người Như Lai đều đã tuyên bố, thật chẳng có ích lợi gì khi Như Lai sống lâu đời mà các vị không thực hành chánh pháp. Những chúng sinh đáng độ, Như Lai đã độ hết. Những chúng sinh chưa được độ Như Lai cũng tạo nhân duyên để họ được quá độ. Từ nay trở đi, đệ tử của Như Lai hãy noi theo truyền thống chánh pháp mà thực hành. Đó là cách làm cho pháp thân thường còn và mãi mãi bất diệt ở thế gian. Như Lai vô dư Niết-bàn hay không, việc đó không quan trọng.

Này các vị đệ tử: Các vị nên nhận thức rằng mọi vật thể hiện tưởng trên thế gian này đều là chuyển biến vô thường, có kết hợp là phải có tan rã, chẳng có gì phải quyến luyến thương tâm. Cuộc đời là như thế, các vị phải nỗ lực, tinh tấn để tự giải thoát. Dùng ánh sáng trí tuệ để tiêu diệt bóng tối si mê, đời là sự vận hành không kiên định. Như Lai vô dư Niết-bàn như là bỏ đi một căn bệnh dữ. Đó là năm uẩn mang tính tội lỗi, tạm gọi là thân. Vì thế nó chịu sự chi phối không thương tiếc của già bệnh và chết. Bậc trí huệ khi thoát khỏi nó có cảm tưởng như là dẹp xong bọn cướp. Như vậy chết không đáng được hoan hỉ và an lạc hay sao.

Này các đệ tử các vị phải tha thiết tìm kiếm con đường giải thoát, toàn thể thế giới từ vật đang vật động cho đến sự vật không vận động cũng đều vô thường, không có thật, rồi cũng phải đến lúc hoại diệt. Thôi các vị hãy yên lặng đừng nói thêm lời nào nữa. Đã đến lúc Như Lai vô dư Niết-bàn đó là lời dạy cuối cùng của Như Lai.

Chúng ta phải bám sát theo trong kinh văn. Đừng có hiểu theo cách nghĩ, hay cách tưởng của mình, để mình chiêm nghiệm ở trong đó, để mình thấy được cái pháp trọng yếu để Đức Phật muốn nhắn gởi. Trong đây có hai từ là hàng đệ tử hữu học và hàng đệ tử vô học. Hàng đệ tử hữu học thì đối diện với sự kiện Đức Phật nhập Niết-bàn thì rất là bi cảm và đau xót. Ở trong kinh Trường Bộ diễn tả là có vị nghe xỉu, có vị nghe là lăng dưới đất gào khóc lên. Có vị nghe thì dơ hai tay lên trời kêu lên, nói tại sao Đức Thế Tôn nhập Niết-bàn quá sớm. Chúng con biết nương tựa vào ai. Có nhiều vị lăng ở dưới đất, kêu khóc, gào lên. Đó là trong kinh diễn tả lúc mà Đức Phật nhập Niết-bàn.

Thì như vậy các vị hữu học là như thế nào? Các vị hữu học là còn đang thực hành về tứ niệm xứ. Đây là Đức Phật nói trong tương ưng bộ kinh và tăng chi bộ. Thế nào là bậc vô học? Là bậc đã thực hành tứ niệm xứ trọn vẹn, hoàn toàn rồi, cái đó là vô học. Thực hành tứ niệm xứ trọn vẹn rồi tức là bậc Alahan. Thực hành chưa trọn vẹn có thể là từ sơ quả, nhị quả, tam quả, gọi là chưa trọn vẹn. Những vị dứt sạch phiền não, đạt đến vô học rồi thì nghĩ rằng, sao Đức Thế Tôn vô di Niết-bàn sớm quá. Không có xúc động mạnh, không có kêu gào, khóc thảm như các vị hữu học. Tại vì các vị Alahan dứt sạch tham ái rồi. Cũng là tiết nuối, nhưng tâm của các ngài là tâm bất động, tâm giải thoát. Tâm ngài không có còn cái ái nữa. Tuy rằng là quý kính Đức Phật nhưng mà đối với hạng phàm phu là còn cái ái. Còn các bậc thánh, Alahan là bất động tâm giải thoát.

Còn hàng đệ tử mới vào đạo thì nghe lời Đức Phật nhắn nhủ dạy bảo thì giống như ánh sáng chớp lên ở trong đêm tối, để thấy đường đi. Đức Phật nói rằng: Chớ có thảm sầu, đau xót. Dù cho Như Lai sống thêm một kiếp nữa cũng đến ngài Niết-bàn thôi, cũng đến ngày phải ra đi. Một kiếp ở đây quý huynh đệ đừng nghĩ là một trăm năm nha, một kiếp là sự thành hoại của trái đất đó, gọi là một kiếp. Mình nói vậy cho dễ hiểu, chứ nó còn dài hơn cái đó nữa, đây là đại kiếp. Dù cho trước khi nhập Niết-bàn Đức Phật có gợi ý cho ngài Anan.

Đức Phật nói: những bậc chánh đẳng giác đã viên mãn hết tất cả các công đức ba la mật rồi đó. Thì nếu muốn sống một kiếp cũng được nữa. Đức Phật gợi ý nói như vậy, là nói ba lần. Mà lúc đó ngài Anan gọi là trí huệ không tỏ rạng, mà cũng là cái nhân duyên của chúng sanh của thế giới này. Ngài Anan không có nói gì hết, sau đó là không có thưa thinh, cầu thỉnh Đức Phật ở lại, thì sau đó Đức Phật chấm dứt thọ mạng. Thì cũng là nhân duyên của chúng sanh trong cõi dục này. Chứ còn nếu Đức Phật muốn, Đức Phật có thể ở luôn một kiếp.

Đức Phật nói: Ta có sống thêm đi nữa rồi cũng phải qua đời thôi, cũng phải vô thường thôi. Tại sao vậy? Hội ngộ mà không chia ly, kết hợp mà không tan rã thì điều đó không thể nào có được hết. Đã biết bao nhiêu lần lớp học này hợp rồi tan, biết bao nhiêu lần chúng ta đã về hội tụ với mẹ cha gia đình rồi cũng trở lại chùa, đã biết bao nhiêu lần chúng ta họp mặt với huynh đệ rồi xong cũng tan. Rồi cũng biết bao nhiêu lần mình họp mặt với thầy hay là với phật tử rồi tan. Rồi xét sâu hơn nữa trong luân hồi này, mình hợp tan, tan hợp vô cùng vô tận trong dòng luân hồi, sanh tử này.

Mà mình không có thấy được quy luật chân tướng của các pháp, mình nghĩ chuyện đó là chuyện đương nhiên phải vậy, chứ mình không để tâm vô đó mình quán chiếu. Mình để tâm mình quán chiếu thì mới phát sanh trí huệ, trí tuệ của vô thường, trí tuệ của duyên hợp, trí huệ của sự tan rã kết hợp rồi sẽ tan ra, hội ngộ rồi sẽ chia ly. Cũng như thân tứ đại của mình hợp rồi sẽ rã rờ. Biết bao nhiêu người lễ là về, tết là về rồi cũng chia ly.

Cho nên mình quán chiếu sâu sắc mình mới phát sanh trí huệ, mình nghe xong để đó là không phát sanh trí tuệ. Rồi cuối cùng là giây phút tan hợp với những người thân thương nhất của mình. Phải nhìn trước chứ không phải đến đó mới thấy. Đến lúc đó mới thấy là kêu gào, khóc lóc, thở than, cái đó là nết sống của vô văn phàm phu. Mình là đa văn thánh đệ tử, phải chiêm nghiệm điều đó.

Mà ở đây chúng ta thấy Đức Thế Tôn nói để chúng ta thấy rằng không phải riêng bản thân của ngài, mà tất cả mọi người đang ở trong pháp hội đó cũng phải tan rã. Cả những người không ở trong pháp hội đó, mà sau pháp hội đó tới bây giờ, tất cả mọi người rồi cũng tan hợp, mãi mãi là như vậy. Khi mình thấy được như vậy thì trong lúc hợp mình không bị luyến ái.

Trong khi tan mình không có tiếc nuối, mình giữ được tâm bất động trong hợp tan, ở trong cái thành hoại. Những kinh nghiệm và pháp thức lợi mình, lợi người, Đức Phật đã tuyên bố hết rồi. Lợi ích gì mà nếu như, Như Lai ở nơi đời mà các vị không có thực hành chánh pháp. Thực hành chánh pháp mới quan trọng, thực hành chánh pháp thì pháp thân Như Lai mới thường còn bất diệt ở thế gian. Thực hành chánh pháp là gì? Là thực hành tứ niệm xứ.

Thực hành tứ niệm xứ là gì? Là quán xét thân tâm. Luôn luôn lúc nào mình nhìn trở lại mình coi cái thân đang như thế nào. Luôn luôn mình nhìn lại mình coi cảm giác của mình, hiện tại ra làm sao. Coi trong tư tưởng của mình, suy nghĩ và sự rõ biết nhận thức trong nội tâm của mình, mình coi năm uẩn ngay giờ phút này đang như thế nào, trạng thái nó ra làm sao? Để mình nhìn thấy tính chất biến đổi, tính chất vô thường, tính chất trống rỗng, tính chất không có cốt lõi. Cảm giác luôn luôn thay đổi, tư tưởng luôn luôn vận hành, những suy nghĩ, những hình bóng trong nội tâm của mình liên tục sanh diệt mà mình không thấy, tại vì mình không thực hành tứ niệm xứ.

Tại vì mình không quán xét lại thân tâm, mình phóng ra mình nhìn cái bên ngoài, rồi đúng sai, hơn thua, tích luỹ thêm cái nghiệp, càng đi xa với mục đích của người xuất gia. Cho nên dù cho Như Lai có ở đời thật lâu mà đệ tử không thực hành chánh pháp thì cũng không có lợi ích gì hết. Mà nếu như các ông thực hành chánh pháp thì pháp thân Như Lai còn hoài, gọi là pháp thân thường trụ ở thế gian.

Tại vì có một vị Tỷ kheo này bệnh năng lắm thì Tỷ kheo này mới nhờ một vị Tỷ kheo nói, xin tôn giả hãy đi đến bạch với Thế Tôn, bây giờ tôi bệnh là nặng mà tôi rất mong muốn được thấy thân tướng của Đức Thế Tôn. Nếu như mà Đức Thế Tôn từ bi, thương xót thì xin Đức Thế Tôn đến để cho con nhìn thấy được cái sắc tướng hảo của Đức Thế Tôn. Thì vị Tỷ kheo này đến đảnh lễ, tỉnh thưa như vậy thì Đức Thế Tôn đến, đến thì Phật mới hỏi rằng: Ông có thấy điều gì hối hận trong giới định tuệ không?

Vị này nói: Dạ. Bạch Thế Tôn con không hối hận điều gì hết. Trong sự tu tập con chỉ hối hận một điều là con bệnh nặng, rồi con không được đi đến và chiêm ngưỡng cái thân tướng trang nghiêm của Đức Thế Tôn.

Lúc đó Đức Phật mới quở: Ông chớ có mê muội, cái sắc thân bất tịnh, hôi hám, vô thường này, có cái gì để mà đáng chiêm ngưỡng. Ai thấy pháp là người đó thấy ta, ai thấy ta là người đó thấy pháp. Như vậy gọi là thấy được Như Lai. Thì lúc đó Đức Phật khai thị, khích lệ, sách tấn cho vị Tỷ kheo này, thì vị Tỷ kheo này đốt cháy hết tất cả phiền não, tham ái và chứng quả Alahan, ngay chỗ gường bệnh, bệnh nặng.

Tức là tất cả bỏ qua hết, mà sau cùng là kính mến, ái cái sắc thân, vi diệu tướng hảo của Đức Phật. Đức Phật dùng câu mạnh quở rồi đập tan cái ái còn sót lại. Chỉ cho thấy cái thực tướng, bất tịnh, vô thường của cái thân. Cái đãi da bất tịnh này có cái gì mà đáng xem, đáng nhìn. Thì lúc đó vị Tỷ kheo này thành tựu thánh quả tối cao.

Cho nên Đức Phật luôn luôn nhắc mình phải thấy được pháp, thì lúc đó mới thực sự thấy Đức Phật. Cho nên bây giờ cái biểu tượng rất là hay, mà mình không khéo là mình chỉ chạy theo những cái hình tướng, biểu tượng. Tối ngày cứ Phật gỗ, Phật vàng, Phật ngọc, rồi mê mẩn tìm hoài, rồi đi tìm tòi cái tượng Phật. Thì cái đó chạy theo cái bên tướng sanh diệt, tướng ở bên ngoài thôi. Đức Phật khai thị cho mình rất rõ là ai thấy pháp là người đó thấy ta, ai thấy ta là người đó thấy pháp.

Thấy pháp là thấy cái gì? Thấy rõ cái thân năm uẩn của mình đang vận hành, tham sân si, vô minh, chấp chủ, ái dục trong nội tâm mình như thế nào mình phải thấy rõ nó. Chỗ đó mới là chỗ thấy Phật thật, chỗ này là người xuất gia cần phải nắm vững, chứ không thôi là mình dạy cho Phật tử cũng vậy. Tối ngày đi tìm tượng Phật. Những chúng sanh mà đáng độ thì Đức Phật đã độ hết rồi. Mà chúng sanh mà chưa được độ thì ngài đã tạo nhân duyên để họ được độ.

Thì quý huynh đệ hiểu câu này như thế nào? Những chúng sanh đáng độ thì ta đã độ hết rồi. Mỗi hừng sáng mà Đức Thế Tôn nhập vô chánh định để mà quán chiếu, coi người nào, nhân duyên tuệ quán chín muồi là Đức Phật sẽ tới đó để mà khai thị, điểm hoá cho người đó. Cho nên Đức Phật không điểm, điểm là chứng ngộ là vậy đó. Chứ không phải Phật là ai, Phật nói người đó là chưng đạo quả. Bất cứ người nào gặp Phật cũng giúp người đó chứng ngộ là không phải.

Sáng nào cũng nhập đại định, Đức Phật coi trong vùng này, người nào mà nhân duyên đã chín mùi. Thì Đức Phật tới, Đức Phật điểm thì sẽ thành tựu. Giống trái đã chín mà một cơn gió thổi hơi mạnh chút thôi là nó rụng. Chứ không phải bất cứ ai gặp Phật cũng chứng quả. Có một vị Tỷ kheo đi theo Đức Phật gần hai mươi năm, thuộc kinh, đào thông mà đoạ địa ngục, chứ không phải là thường đâu.

Ngay ở thời Đức Phật các vị Tỷ kheo giữa kinh sư với lược sư, tranh cãi cái vụ mà để cái bồn nước ở trong nhà vệ sinh. Mà lúc đó Đức Thế Tôn nói mà có vị nói bạch thế tôn chuyện này để tự chúng con giải quyết. Thì quý huynh đệ thấy ngay thời Đức Phật là như vậy. Cho nên phải biết rằng sự tu là tự do mình nỗ lực, không phải là ước rằng bây giờ có Phật, mình ra đời gặp Đức Phật là Đức điểm là chứng Alahan, như vậy là không có. Cái đó không phải là người có chánh kiến, không phải. Mình phải tu tập tuệ quán sâu sắc, quán chiếu về năm uẩn. Thấy được vô thường, vô ngã, tính chất của nó thật là sâu. Tới lúc duyên chín mùi rồi đó mới thành tựu. Chứ tu chứng không có dụ cầu may, hên xui là không có. Thời, nhân duyên phải chín mùi.

Vậy thế nào là những chúng sanh đáng được độ, Như Lai đã độ hết? Là tất cả những người có duyên với Phật và tu tập tới mức đó, Đức Phật đã độ hết rồi. Cho đến cái ông tu Đạt-đà-la phải không? Ông một trăm hai chục tuổi, ông là người cuối cùng. Thì Đức Phật nói đây là đệ tử cuối cùng chứng A-la-hán.

Rồi những chúng sanh chưa được độ, ta đã tạo nhân duyên được độ. Như vậy là sao? Là Đức Phật đã giáo hoá rất nhiều những vị chứng thánh quả Alahan. Sạch hết phiền não, lậu tận rồi, thấy rõ con đường tứ niệm xứ, bát chánh đạo, tứ thánh đế rồi. Thì những người này sẽ độ cho những người sau, những vị có duyên với những người này. Như vậy gọi là những người chưa được độ ta đã toạ nhân duyên để cho họ được độ là như vậy.

Chứ mình đừng nghĩ chúng sanh vô biên thề nguyện độ. Mình độ hết chúng sanh rồi lúc đó mình mới thành Phật, hiểu cái đó là trật, không có trúng. Chừng nào hết trơn chúng sanh thì là chừng nào. Vậy vĩnh viễn mình không đi đến chánh giác vô thượng, phải không? Phải hiểu được câu đó.

II. Tinh cần chế ngự

Từ này trở đi các đệ tử hãy noi theo truyền thống chánh pháp mà thực hành. Vậy truyền thống chánh pháp là gì? Là tứ niệm xứ, là tứ thánh đế, là bát chánh đạo. Tất cả pháp đều quy tụ trong đó, đi lệt ra đó là không có thánh quả, không có sự giác ngộ, thực sự ở trong giáo của Như Lai. Tứ niệm xứ, tứ thánh đế và bát chánh đạo là bao trùm giáo pháp của Phật ở trong đó. Đi lệch cái đó là tà đạo.

Quý huynh đệ về nghiên cứu kỹ lại tứ niệm xứ, tứ thánh đế và bát chánh đạo trong tạng kinh Nikaya. Ba pháp đó là bao trùm hết ba mươi bảy phẩm trà đạo. Mà trong tuổi này chúng ta đang học phải nhuần nhuyễn hết ba mươi bảy phẩm trà đạo, cũng giống như chú đại bi, chú vãng sanh vậy đó. Thuộc ba mươi bảy phẩm trà đạo giống như thuộc câu Nam Mô A Di Đà Phật vậy đó. Còn không là mình khó thể nhập cái chân chánh trí huệ của Phật muốn dạy mình.

Các vị nên nhận thức mọi vật thể hiện tượng trên thế gian này, đều chuyển biến vô thường. Có kết hợp thì phải có tan rã, chẳng có gì phải quyến luyến thương tâm. Chỗ mà cần phải nỗ lực, tin tấn để tự giải thoát, chỗ này rất là quan trọng. Hồi xưa nay mình hiểu chữ tinh tấn là gì? Mình hiểu là siêng làm việc, siêng nghe pháp, siêng niệm Phật, cái đó là tinh tấn phải không? Đó là chưa chính xác.

 Này các Tỳ-kheo, có bốn tinh cần này. Thế nào là bốn? Tinh cần chế ngự, tinh cần đoạn tận, tinh cần tu tập, tinh cần hộ trì.

Và này các Tỳ-kheo, thế nào là tinh cần chế ngự? Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo với mắt thấy sắc, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên gì, vì nhãn căn không được chế ngự, khiến tham ái ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, Tỳ-kheo chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì nhãn căn, thật hành sự hộ trì nhãn căn. Khi tai nghe tiếng ... mũi ngửi hương ... lưỡi nếm vị ... thâm cảm xúc ... ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì ý căn không được chế ngự, khiến tham ái ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, Tỳ-kheo chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thật hành sự hộ trì ý căn. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là tinh cần chế ngự.

(Tăng Chi Bộ Kinh tập I, Chương IV. Bốn Pháp, II. Phẩm Hành, bài kinh Chế Ngự)

Như vậy thì đầu tiên thì quý huynh đệ thấy tin cần thứ nhất là tinh cần chế ngự. Chế ngự là gì? Khi mắt mình tiếp xúc với sắc, lúc đó mình không năm giữ tướng chung và không nắm giữ tướng riêng. Các huynh đệ sẽ thấy định nghĩ tinh tấn của Đức Phật sâu sắc lắm, mà phải tu tập nhiều lắm, không có đơn giản đâu. Mình nhìn một người, mình nhìn cái tổng quát của người đó. Người đó nhìn tướng thấy sang hay là thấy đẹp thì cái đó tướng chung. Tướng riêng là sao? Là con mắt đẹp ra làm sao, lỗ mũi đẹp, hay có cái thể hình, cái vai hay gì đó, từng bộ phận thì cái đó là tướng riêng.

Nếu như mình nhìn mà nắm giữ vô tướng chung, tướng riêng thì mình rơi vô cái không có tinh cần chế ngự. Không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng.

Rồi sao nữa? Những nguyên nhân gì, vì nguyên nhân có con mắt của mình không được chế ngự, kiến tham ái, ưu bi, hay là các pháp bất thiện khởi lên là phải chế ngự nguyên nhân đó.

Ví dụ: Như nhìn người đó mà khởi lên tâm tham ái, thích. Thì lúc đó mình phải chế ngự liền, không nhìn nữa, không để cho tiếp tục nuôi dưỡng tâm tham ái để tâm này có thể sanh khởi lên nữa. Mà quay trở về hộ trì căn, hộ trì con mắt của mình và tiếp tục tẩy sạch nó.

Rồi tai nghe tiếng cũng vậy nữa. Không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Ví dụ: Mình nghe câu đó, mà người ta chỉ trích mình. Nghe xong rồi thì sao? Nếu mà mình nắm giữ tướng chung là mình nghĩ câu đó là câu khinh khi mình là cái thứ nhất. Cái thứ hai là phân tích ra nói mình ở khía cạnh nào. Là cái đó là gì? Là cái tướng riêng. Thì chỗ đó là chỗ chết, chỗ đó là mình không tinh cần chế ngự. Đây là định nghĩa của Đức Phật đó. Khi nó có khởi cái đó ra liền, là mình dùng mọi pháp dập tắt cái đó liền, mình không có để cho nó khởi lên nữa thì cái đó gọi là tinh cần chế ngự.

Mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm. Thành ra quý huynh đệ thấy ngay cả cái ăn của mình, nếu mà mình không chế ngự là bị dục, bị tham trong đó rất là nhiều ngay lúc mình đang ăn. Mà mình không thấy, mình tưởng nó chỉ bình thường là không phải. Cái lưỡi với cái vị nó dính. Cái thiệt thức nó biết rõ cái vị, nó biết ngon biết dỡ là bình thường, mà phía sau ngon dỡ đó là nó có tham. Ngon thì nó muốn nữa, muốn gắp thêm, muốn người mà chăm là chăm thêm hoặc là ăn xong rồi là nghĩ ngày mai có món này nữa là được. Cái đó là tham, là dục ngay lúc mình ăn, mình không chế ngự tướng chung và tướng riêng. Cho nên tu theo Đức Phật tu như vậy mới chứng quả, kiểu tu bình thường cũng chứng Alahan mà ngoài chợ lớn, muốn mu mấy ký cũng được. Mấy huynh đệ thấy sâu sắc lắm.

Rồi cái thân của mình xúc chạm, cái này ghê gớm lắm. Mình coi nó có nắm giữ tướng chung, nó nắm giữ tướng riêng hay không? Ví dụ mình đi xe bus, hay là mình đi chỗ đông vậy đó, buổi lễ hội chẳng hạn. Thì mình đi đụng vô nhau thì không sao hết, lúc đó đông người không thấy. Mà người đó mà quẹt ngang mà mình nhìn thấy, nó vừa có cảm giác thân xúc, nó vừa bốn nhìn nhau là nó húc. Thì lúc đó mình có nắm giữ tướng chung, tướng riêng, mà lúc đó không chỉ tướng chung, tướng riêng không, mà mùi hương trong đó nó tỏ ra nữa. Rồi cái thân xúc nữa, nói chung là đồn hết bát diện mai phục, thập phương du kích. Nó đánh cái gục ngã liền, tối về ngồi thiền không thấy hình Phật, không thấy sắc, thọ, tưởng, hành, thức của nội tâm nữa, mà thấy cái sắc kia chiếm ngự tinh thần.

III. Tinh cần đoạn tận

Cho nên cái tinh tấn thứ hai là tinh cần đoạn tận.

Và này các Tỳ-kheo, thế nào là tinh cần đoạn tận? Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo không có chấp nhận dục tầm khởi lên, từ bỏ, tẩy sạch, chấm dứt, khiến cho không hiện hữu lại; không có chấp nhận sân tầm khởi lên ... không có chấp nhận hại tầm khởi lên, từ bỏ, tẩy sạch, chấm dứt, khiến cho không hiện hữu lại, không có chấp nhận các ác bất thiện khởi lên, từ bỏ, tẩy sạch, chấm dứt, khiến cho không hiện hữu lại. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là tinh cần đoạn tận.

(Tăng Chi Bộ, Chương IV - Bốn Pháp, II. Phẩm Hành, (IV) Chế Ngự)

Tất cả những ác bất thiện pháp khởi lên thì mình phải làm sao? Thì mình phải từ bỏ nó, tẩy sạch nó, chấm dứt nó, khiến cho nó không còn hiện hữu lại nữa, thì như vậy mới gọi là tinh tấn. Mình nghĩ trong một ngày, những cái dục, những cái sân, những cái hại, những cái ác bất thiện pháp khởi lên bao nhiêu lần. Mình có thấy được không? Mình có biết nó hay không? Mình có tẩy rửa nó không? Mình nó đạo tận nó không? Mình có trừ diệt nó không? Hay là mình nuôi dưỡng nó, mình để cho nó tiếp tục. Chỗ này mới là chỗ quan trọng đó.

Cho nên trong một bài kinh khác Đức Phật nói này các Tỷ kheo. Nếu vị Tỷ kheo khi đi khi đứng, khi ngồi, khi nằm mà trong nội tâm mà sanh khởi lên tưởng dục, tham dục, sân hận, những tư tưởng ác bất thiện pháp mà mình không trừ diệt, không đoạn tận thì đó là kẻ lười biếng, dãi đãi ở trong giáo pháp của Như Lai. Đây mới gọi là tinh tấn thực sự, tinh tấn của Đức Phật dạy, tinh cần của Đức Phật dạy.

Đôi khi dáng đang ngồi thiền mà trong đó chưa chắc là trong ngồi thiền đó. Nếu mà bất thiện pháp thì một là hôn trần, hai là vọng tưởng, ba là nuôi dưỡng ác pháp trong đó. Mình ngồi trong đó mình khởi lên các ác bất thiện pháp, những cái dục, những cái sân, mình cứ để cho nó tiếp tục nghĩ luôn thì cái đó đau phải là thiện.

Nhìn thấy vậy mà không phải vậy, thấy như vậy mà không phải vậy. Thành ra nhìn ở ngoài là lầm. Cho nên sau này này Minh Thành sẽ chia sẽ như lý tác ý để quý huynh đệ thấy cách tu sâu sắc theo Đức Phật dạy.

Như lý tác ý là khi nó khởi lên ý tưởng về dục là mình dùng chánh pháp mình dập nó liền. Mình nói đây là sự nhục nhã. Đây là sự xấu hổ, đây là thứ bất thiện pháp, nhơ nhớp bất tịnh, không xứng đáng với thánh hạnh. Đây là nguyên nhân lôi đầu mình vô trong vòng luân hồi sanh tử, chìm đắm trong vô lượng kiếp. Mình phải dùng những câu mạnh để mình đánh nó, đó là như lý tác ý. Nếu như những tư tưởng này mà những người khác, những phật tử người ta thấy được thì mình có ngẫn mặt lên nhìn người ta được không? Nếu những tư tưởng này mà huynh đệ mình thấy được thì úp mặt ở đâu. Mình phải dùng những câu đó để trị mình.

Trong kinh Pháp Cú Đức Phật dạy mình là tự mình chỉ trích mình, tự mình dò xét mình, cái đó gọi là như lý tác ý. Mình không thể để cho nó tự tung tự tác, mình tiếp nối nó, mình tiếp dường nó, mình nuôi dưỡng nó, mình để nó tăng trưởng quảng đại, thì cái đó đâu có tu tập vậy đó. Mình kiểm tra lại trước giờ mình có tu tập vậy không? Tại vì mình đâu có biết.

Phải trừ diệt nó, phải đoạn tận nó. Tức là diệt cho nó không còn một manh giáp, đánh cho nó tan tác, tơi tả, tơi bời hoa lá hết, dập cho nó không còn một cái gì hết. Cho nó không còn cái gì hết, tan thành mây khói luôn. Đó là sức mạnh của người tu, gọi là tinh cần đoạn tận.

IV. Tinh cần tu tập

Và này các Tỳ-kheo, thế nào là tinh cần tu tập? Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo tu tập niệm giác chi, y chỉ viễn ly, y chỉ ly tham, y chỉ đoạn diệt, đưa đến xả ly; tu tập trạch pháp giác chi ... tu tập tinh tấn giác chi ... tu tập hỷ giác chi ... tu tập khinh an giác chi ... tu tập định giác chi ... tu tập xả giác chi, y chỉ viễn ly, y chỉ ly tham, y chỉ đoạn diệt, đưa đến xả ly. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là tinh cần tu tập.

(Tăng Chi Bộ, Chương IV - Bốn Pháp, II. Phẩm Hành, (IV) Chế Ngự)

Cái thứ ba là tinh cần tu tập, ở đây nói là thất giác chi. Tỷ kheo tu tập niệm giác chi, y chỉ viễn ly, y chỉ ly tham, y chỉ đoạn diệt đưa đến xả ly. Tu tập trạch pháp giác chi, tinh tấn giác chi, hỷ giác chi, kinh an giác chi, định giác chi, xả giác chi. Ở đây Minh Thành nói gọn thôi, niệm giác chi là gì? Là tứ niệm xứ. Nói gọn hơn nữa là thân hành niệm, là niệm thân. Nếu mà người xuất gia không biết phương pháp này thì giống như thợ mộc không biết cần bào, bào gỗ vậy.

Quý huynh đệ phải chú ý cái thân hành niệm này. Một phần trong tứ niệm xứ niệm xứ là niệm thân, tổng cộng có sáu phần trong phần niệm thân. Minh Thành mong rằng quý huynh đệ đọc thật kỹ kinh tứ niệm xứ, đọc tới đọc lui nghiền ngẫm và hành trì trong đó. Rồi huynh đệ sẽ thấy bốn thành quả của người tu là tứ thánh quả. Bốn thành quả của người tu có thể đạt được trong sớm chiều nếu thực hiện theo kinh tứ niệm xứ.

Trong phần niệm thân là sáu phần thì thứ nhất là niệm hơi thở, thứ hai là niệm quai nghi, thứ ba là niệm hành động, thứ tư là niệm tứ đại, thứ năm là niệm bất tịnh, thứ sáu là niệm tử thi. Sáu phần này mình thực hiện đủ là thực hành thân, hành, niệm. Niệm hơi thở là huynh đệ là biết rồi, mà thực hành được bao nhiêu thì mình không biết. Niệm hơi thở là mình nhớ thở vô, thở ra để nhiếp cai tâm. Nhiệm quai nghi là đi biết đi, đứng biết đứng, ngồi biết ngồi, nằm biết nằm.

Cho nên có người lấy một pháp nhỏ trong đây làm pháp tu, là lấy một phần nhỏ trong đây chưa có đủ. Mình tưởng đâu thiền là đi biết đi, đứng biết đứng, ngồi biết ngồi, nằm biết nằm, cái đó là không phải. Cái đó chưa có đủ, chỉ có một phần chút xíu thôi, một phần như cánh của một hoa sen vậy. Cho nên mình tu hoài mà không chứng quả là vậy đó. Tại vì hoa này có sáu cánh. Riêng pháp niệm thân mà thực hành sâu sắc có thể chứng quả Alahan. Tuy nói vậy mà phải đủ thọ, tâm, pháp. Nếu chỉ lấy một pháp mình tu là không thành tựu viên mãn được.

Quý huynh đệ nhớ là niệm quai nghi là đi, đứng, ngồi, nằm là mình phải biết, rõ biết. Niệm hành động là làm cái gì biết mình đang làm cái nấy, gọi là niệm hành động. Niệm tứ đại là mình quán chiếu về tứ đại. Quan trọng Minh Thành muốn nói ở đây là quán bất tịnh và quán xác chết, đây là chỗ rất quan trọng và nói chung người xuất gia mình thiếu cái này.

Thiếu trầm trọng về cái này cho nên mình không nhiếp phục được tham dục. Tuy mình tu là mình đau khổ và khố khổ với cái dục dữ lắm và thậm chí mình là nạn nhân của dục. Rất nhiều huynh đệ tuổi trẻ lại tâm sự với Minh Thành, nói giờ con khó sử quá, con muốn tha thiết tu hành mà cái dục nó mạnh vậy đó, giờ con trị không được. Thì lúc trước Minh Thành cũng rất khốn khổ về cái này, bây giờ không phải hết khốn khổ mà nó đỡ. Tại vì sao? Tại vì mình thực hành theo tứ niệm xứ là rất là hay. Tại mình thiếu cái phần này, các huynh đệ phải quán chia yếu về ba mươi hai thể trượt, đây là pháp của bậc chánh đẳng giác.

Quý huynh đệ nghĩ một phương pháp nào để cho mình thế tham dục, ngoài mình thấy được bản chất của nó là nhơ nhớp, là gớm, là hôi thúi, là vô thường. Cho nên đây là những pháp và tất cả bậc chánh đẳng giác trong quá khứ, hiện tại và tương lai phải đi qua. Nếu mình không thấy được thực tướng này thì vĩnh viễn tâm dục về sắc không trừ được. Mà bây giờ khoan nói chứng Alahan, khoan nói chứng sạch phiền não, khoan nói cái đó. Mình nhiếp phục nó được, nó bớt quành hành mình, bớt làm cho mình khốn đốn, khổ sở là mình đã tu rồi.

V. Bất tịnh quán

Huống chi là mục đích của người tu mình là ly dục. Là đoạn tận dục, mà cái dục mà dứt sạch hết không còn gì tức là A-la-hán. Cái dục mà nó thôi thóp, nó hấp hối, nó gần chết thì cái đó là quả nhị của bất hoàn, quả vị thứ ba. Thành ra quý huynh đệ biết sự tu tập này của chúng ta, cái thân hành niệm rất quan trọng, là sự quán chiếu về thân. Quán chiếu chín giai đoạn của một tử thi khi chết nằm đó, bất động như khúc cây.

Chín giai đoạn là nó phình lên, trương phình lên, rồi xong nó sanh bầm, rồi nứt nẻ ra, chảy nước ra, những cái dịch trong đó chảy ra, chảy mủ, chảy máu ra, chảy những nước hôi hám ra. Rồi sau đó dòi nó ăn trừ trong bộ đồ lòng, nó ăn rồi dòi ra hai con mắt, hai lỗ tai dòi ra, ăn hết, ăn luôn bộ phận phía dưới, dòi nó trào ra, đầy người hết, dòi không hết. Mình quán cho tới lúc mình rùng rợn luôn, phải quán vậy đó. Rồi sau đó nó còn vương vấn lại thịt, mỡ, máu xương, rồi sau đó các con vật nó ăn. Nó ăn xác, nó rỉa ra từng miếng thịt, nó ăn hết còn lại bộ xương, bộ xương còn dính máu.

Đây là ấn tượng lúc mà Minh Thành quán, rùng rợn luôn, là lúc Minh Thành mới lên chùa Bửu Liên. Lúc đó là phóng lộ thì ở phía trước chùa là cái tháp của Hoà Thượng Thượng Chánh Hạ Quang là hoà thượng khai sơn chùa Bửu Liên. Thì lúc đó là mất ba mươi mấy năm rồi mà lúc khai quật lên để mà lấy cái di dài để đi thiêu, để để vô hủ cốt để lập tháp thờ, thì lúc đó Minh Thành chứng kiến. Bây giờ hai mươi mấy quên bây giờ quán bất tịnh thì chợt nhớ lại. Lúc đó mở ra thì xương nó còn nguyên, thịt gân nó còn dính lại mà nó rã rời ra.

Ba mươi mấy năm mà nó rớt xuống từng miếng như vậy, mà nó bốc lên cái mùi không thể chịu nỗi. Mà mấy ông đó vuốt xuống cho nó rớt xuống thịt da, rớt xuống mấy sợi gân. Mà mình quán chiếu cho rợn người hết, cho nước mắt ràn rụa hết. Mình nghe mùi mình thấy kinh khiếp luôn, mình quán tự thân của mình chứ không phải quán đối tượng mà mình tham ái. Bộ xương đó nằm rồi hai ba năm thì xương rã rời ra mỗi xương nằm một chỗ. Rồi cuối cùng theo theo thời gian từ từ thì nó mòn từ từ nó hoại diệt, nó trở thành tro bụi. Mình phải quán sâu sắc như vậy thì thứ nhất nó trị tham dục, thứ hai là nó phá cái tôi, thứ ba nó dẹp đi cái chấp thủ. Luôn luôn bám chặt vô cái tôi thì từ từ nó làm cho mờ, nó làm cho nhạt, nó làm cho tan, nó vỡ từ từ cái khối vô minh, chấp ngã, si mê, tham ái, chấp thủ của mình. Nhất định người tu Phật phải quán cái này, không thể thiếu.

Rồi ba mươi hai thể trượt nữa, đại phẫu, lấy dao mỗ rạch ra hết, máu chảy ra hết, lấy từng bộ phận ra, lấy tim ra, lấy phèo ra, lấy phổi ra, lấy ruột. Lấy từng bộ phận để trên bàn để mình thấy thực chất của tấm thân này. Quán chiếu như vậy thì lúc đó mình từ từ mới bớt tham ái, chấp thủ vô thân. Nước mũi, nước tiểu, phân để đó nhìn, những cái đó là mình đó.

Ruột non, ruột da, lá lách, dạ dày, tim, gan, phèo, phổi, óc, bộ não, mỡ, máu, mủ, nước miếng. Tất cả những cái đó là mình đó, tất cả những cái đó là cái mình cho là mình, ai đụng tới là mình sân hận lên, ai chạm tới là nổi giận lên, mà mê tấm thân này và mê tấm thân của người. Lúc mình ngồi mình quán chiếu thì tất cả cái mê đó bắt đầu vỡ ra từ từ, nó vỡ từ từ. Tại cái này các huynh đệ tỷ kheo tuổi trẻ, người xuất gia tuổi trẻ rất quan trọng. Đây là cái pháp của Đức Phật dạy nhưng mình bỏ quên.

Quán bất tịnh chính là đại phẫu cơ thể mình, lúc Minh Thành đi qua Úc, đi tới chùa lớn lắm thì tới thăm Thượng Toạ. Thượng Toạ làm cái tháp theo mẫu hình của vị vĩnh nghiêm, thì tới đó Thượng Toạ làm mình hết hồn. Mới tới Thượng Toạ mở áo ra, vạch ngực ra cho mình coi, mới đi đại phẫu về mổ tim. Vạch một đường dài từ trên xuống. Thượng Toạ nói lúc đó là mổ gấp, không mổ là chết. Là mổ cũng không biết được bao nhiêu phần trăm mà phải làm. Mới cất chùa, cái tháp không là hơn sáu triệu đô la. Mở ra Minh Thành hết hồn, mình thấy mạng người nó vô thường. Lúc quán mình quán hình ảnh đó, rạch một đường lấy ra từng bộ phận, thì lúc đó Minh Thành ràn rụa nước mắt hết. Tại mình thấy khối vô minh của mình từ trước giờ. Mình thấy tuy mình tu mà mình không làm đúng theo lời Phật dạy sâu sắc, mình thấy mình mới thấy cái ái dục của mình trong này.

Thì quý huynh đệ sẽ thấy đặc biệt lắm, mầu nhiệm lắm. Mình thực hành cái đó rồi thì đối với cái dục mình nhẹ nhàng lắm. Rồi mình sẽ cảm nhận được trạng thái ly dục của người xuất gia. Không phải là nó thành tựu Alahan quả, nó dứt hết liền đâu, mà mình sẽ thấy nhẹ lắm. Phải thực tập quán bất tịnh, quán cho sâu sắc, quán cho đúng theo trong kinh Tứ Niệm Xứ. Muốn cái này là phải học thuộc ba mươi hai thể trượt và chín cái cửu tưởng mình phải học thuộc. Mình học thuộc vô đó mình quán mới được, mình không học thuộc là lộn hết trơn. Cho nên văn, tư, tu là phải có.

Như vậy là mình đang nói về tinh cần tu tập, là niệm thân. Rồi bây giờ cái cuối cùng là tinh cần hộ trì. Ở đây này các Tỷ kheo hộ trị định tướng hiền thiện đã sanh, tưởng bộ xương, tưởng trùng ăn, tưởng bầm sanh, tưởng đầy ứ, tưởng mủ nồng, tưởng nứt nẻ, tưởng phồng trương. Này các Tỷ kheo đây gọi là tinh cần hộ trì. Thấy chưa? Những lời Đức Phật dạy mình không học, không thực hành theo cho nên mình không thành tựu cái quả vị. Và những kết các bậc đã thành tựu, các bậc Alahan đã thành tựu.

VI. Tinh cần hộ trì

Thế nào là tinh cần hộ trì? Là giữ gìn cái định tướng hiền thiện đã sanh. Tức là trong khi mình tu, mình quán chiếu, mình quán tưởng mình đã thành tựu những định tướng thì mình phải giữ không cho nó mất. Mình phát huy được cái gì mà tương ưng với giới, tương ưng với định, tương ưng với tuệ mình phải giữ nó. Mình không để cho nó mất, thì như vậy gọi là tinh cần hộ trì. Ở đây Đức Phật nêu ra một pháp thôi mà cái pháp này là cái quan trọng mình đang nói, là cái tướng bộ xương, trùng ăn tưc là dòi ăn, tất cả những cái đó là chín giai đoạn huỷ hoại của một tử thi. Mình giữ những cái thiện pháp đó, mình không cho nó mất.

Ví dụ: Mình tập nhìn những người xung quanh là bộ xương. Mình gặp ai đi qua cười, mình quán đây là bộ xương đang cười.

Tất cả những đối tượng tham dục mình đem cái quán cái mình trong thiền định được, mình mở ra để cho mình nhìn thấy thì từ từ cái dục nó sẽ giảm, nó nhạt, nó phai dần dần. Cho đến lúc mình thấy nhờm gớm, yểm ly rồi mình không muốn nữa. Thì tới lúc tận cùng là Alahan. Ít nhất cũng nhất lai, nhị quả hoặc là tam quả.

Giờ không quán gì hết mà đòi chứng quả. Thì cái này là không có chánh kiến. Cứ ngồi đó yên lặng hoài, mong cho bữa nào mình chứng quả, cái đó có ngu si không? Mê muội không? Mình không có thấy, cái đó là cái suy định, không phải thiền định, không phải chánh định. Cho nên cái chánh định của Phật là gì? Là phải chánh kiến và cuộc đời này không có gì chắc chắn hết tại vì nó vô thường. Minh Thành không biết mình còn sống được bao lâu nữa. Cái này là nói thật, nói thật bằng cái vô thường tưởng, bằng cái tuệ quán. Ngày nào Minh Thành đi cũng thấy tai nạn giao thông hết, mà mình đi lên đi xuống một lần là năm trăm cây số mỗi một tuần thì làm sao chắc ăn.

Trong cái thân của mình, bệnh gì làm sao mình biết. Bao nhiêu những cái đẩy tới mình, bất cứ lúc nào mình cũng có thể ra đi. Rồi trong sự tu học, huynh đệ có tinh tấn không? Có muốn học ham học không? Hay là nghe rồi chán. Thì tất cả cái duyên mà trái thì lúc đó nó không có thành tựu. Thì Minh Thành cũng mong rằng trong khoá học cũng thành tựu những gì mình mong muốn. Minh Thành cũng mong huynh đệ xác lập được cái chánh kiến, các lập đúng theo tinh thần Đức Phật dạy. Chỗ này là chỗ quan trọng, luôn luôn lúc nào cũng nhớ vô thường, đừng nghĩ cái mạng này chắc chắn.

Quý huynh đệ thấy không? Tám tháng tuổi chết, mười tháng tuổi chết, mười mấy tuổi chết, không có tuổi nào là cái tuổi không chết hết. Thì làm sao nói rằng mình sẽ ở đây tham dự tới hết khoá học. Phải luôn luôn thấy điều đó, luôn quán chiếu về vô thường. Không phải học là nói suông, hoặc ghi bài chấm điểm, cái đó không phải. Phải thực thấy, thực thấy pháp và cái pháp đó phải in đậm trong nội tâm của mình, nó ở trong mắt của mình, nó ở trong mũi, trong thân, trong ý của mình. Nó trong từng hơi thở, từ trong sự quán chiếu của mình. Cái đó mới là sự tu tập chân thật của một người xuất gia, mà sự tu tập đó huynh đệ mới nếm được lợi lích thực sự. Đúng với lời mà Đức Thế Tôn truyền dạy mình trong kinh Di Giáo. Cho nên cuộc đời là như thế các huynh đệ phải nỗ lực, tinh tấn để tự giải thoát. Phải dùng ánh sáng trí huệ để tiêu diệt bóng tối si mê. Đời là sự vận hành không có kiên định.

Dùng ánh sáng trí huệ để diệt bóng tối si mê. Minh Thành đọc trong Tương Ưng Bộ đến câu: tất cả chúng sanh từ vô thuỷ cho đến nay bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc. Đọc tới câu đó Minh Thành nổi da gà xúc cảm, muốn rơi lệ. Thật sự tất cả chúng ta bị vô minh che đậy hết và tham ái trói buộc. Lúc nào mình cũng tưởng mình thông minh lắm, mình giỏi lắm, mình hay lắm. Mà không ngờ chính cái tưởng của mình nó hại mình. Khi mình ngồi, mình tu tập, mình nhìn lại nội tâm rồi mình mới thấy thực sự mình bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc bất cứ lúc nào. Mình phải có sự chánh niệm, có sự tỉnh giác, có sự quay lại nhìn quán xét thân tâm mình, mình mới thấy được cái tham ái trói buộc mình, không có lúc nào không trói. Phải nhìn lại.

Cho nên đó là cái bóng tối của si mê. Cho nên năm uẩn mang tính tội lỗi được gọi là thân. Năm cái này nó hành hạ mình, mình học xong năm uẩn này, mình học xong là Alahan chứ không phải là chuyện bình thường. Mình học và thực tập cho nó xong là Alahan quả. Chấm dứt hết tất cả mọi khổ đau, diệt tận hết mọi tham ái.

Già, bệnh, chết không thương tiếc mà. Nó giống như bọn giặc cướp vậy đó, mà tất cả chúng sanh bị năm uẩn này cướp hết tất cả. Cái nguy hiểm của dục ghê gớm vô cùng tận, mà mình không thấy được thì mình cũng bị gục ngã với nó không biết bao nhiêu lần. Cho nên Đức Phật dạy mình tinh tấn để đoạn tận, tinh tấn để nhìn thấy rõ quán chiếu nó, để xuất li khỏi khó, vượt qua khỏi nó. Ngày hôm nay mình đọc trên tin tức mình thấy ghê gớm, khủng khiếp, không thể tưởng tượng ra nổi những sự việc này có thể xảy ra trên cuộc đời này. Mà đó là gì? Là dục, tất cả là vì dục hết. Đức Phật có nói trong bộ kinh Tiểu Khổ Uẩn và Đại Khổ Uẩn. Là cha con, vợ chồng, anh chị em vì dục mà có thể giết hại lẫn nhau.

Cho nên năm uẩn này là mang tính tội lỗi tạm gọi là thân. Mình có tu, có tỉnh thức, có chánh niệm mình mới thấu triệt được nó, còn nếu không là mình chết với nó. Cho nên phải tha thiết tìm kiếm con đường giải thoát, đừng có đam mê những thú vui mà nó tạm bợ, vô thường mà ảo mộng mà bỏ mất sự nghiệp đạo hạnh vĩ đại của người xuất gia. Đó là lời di chúc của Đức Phật, rất là tha thiết, rất là chân thành. Tất cả các pháp đều vô thường tan hoại. Phải tinh tấn nỗ lực để tự cầu giải thoát. Thôi các vị hãy yên lặng, để đến lúc Như Lai vô dư Niết-bàn, đó là lời dạy cuối cùng của Đức Như Lai.

./.