Làm Sao Để Nhập Lưu 2.
Kinh Nikāya Giảng Giải - Làm Sao Để Nhập Lưu 2
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Đặt tâm sai hướng PAGEREF _Toc67765729 \h 1
II. Xả thân vì Chánh Pháp PAGEREF _Toc67765730 \h 1
III. Lòng tin bất động PAGEREF _Toc67765731 \h 3
IV. Đường ác PAGEREF _Toc67765732 \h 5
V. Bậc nhập lưu PAGEREF _Toc67765733 \h 6
VI. Đạo tràng Nikāya PAGEREF _Toc67765734 \h 9
I. Đặt tâm sai hướng
Có những bài kinh Đức Phật dạy tu đúng mới có kết quả. Ví dụ: như mình muốn đánh chuông nhưng mình lại đánh vào cái cây thì đâu có tiếng chuông. Cho nên Đức Phật nói là đặt tâm sai hướng là không bao giờ phá thủng được vô minh uẩn hết, đống vô minh không bao giờ phá được. Đặt tâm sai hướng là không thể nào có sự chứng ngộ, không có sự diệt tận được tham sân si.
Tại vì sao? Vì tâm mình không hướng vào chỗ để diệt mà hướng đi cầu xin, xin đặng mình được mạnh khoẻ, giàu có, bình an hết trơn. Đặt tâm sai hướng cho nên cái khổ của mình đâu hết, đâu giải quyết được vấn đề đâu, đâu giải quyết được vấn đề. Rất nhiều bài kinh rất sống động nhưng Minh Thành đưa ví dụ này để quý vị dễ hiểu hơn, đó là ví dụ thực tế cho quý vị thấy.
Mình đặt tâm hoàn toàn sai hướng, mình tu một tỉ năm nữa thì cũng không diệt tận được tham, sân, si, vô minh và chứng đắc thánh trí hết. Bây giờ mấy chục năm, mình có biết trong cảm giác có tham, sân, si không? Mình đâu có biết, chứ đừng nói chi là cái tưởng, cái hành và cái thức. Rồi chưa kể là trí tuệ mình phải biết do cái gì mà sanh ra cảm giác nữa. Đức Phật dạy cho mình hết, ở đâu sanh ra cảm giác và làm như thế nào thì cảm giác sẽ chấm dứt, siêu xuất như vậy. Từ đâu mà nó phát sanh ra cái tưởng và làm sao cái tưởng chấm dứt, có hết. Từ đâu phát sanh ra sự suy nghĩ và làm sao cho suy nghĩ chấm dứt, Phật dạy hết, có trong tạng kinh Nikāya.
II. Xả thân vì Chánh Pháp
Tuyệt vời như vậy đó, tuyệt vời như vậy đó cho nên mới bỏ cha bỏ mẹ để đi tu chứ, vì vậy mới bỏ hết tất cả để đi tu chứ. Đi tu mà tham, sân, si không bớt gì hết, đi tu mà thầy ơi con khổ quá, rồi thầy cũng khổ như con rồi cả hai cũng khổ. Đến khóc như vậy với sư cô, rồi sư bà cũng mệt lắm con ơi. Vậy là xong rồi, có khác gì đâu.
Đặc thù giữa người tu và người không tu khác nhau ở chỗ nào? Không có gì khác, chỉ có chỗ là khác hình thức và công việc chút đỉnh vậy thôi, chứ trong nội tâm còn y chang, không thành tựu được trí huệ, không thấy được Năm Uẩn. Không thấy được tham từ đâu nó sanh khởi, từ đâu sân sanh khởi, từ đâu mà si nó sanh khởi, tại sao vô minh nó hình thành. Bằng cách nào để dập tắt nó, diệt tận nó, không có phương pháp, không có cách, không hiểu biết gì hết.
Cho nên Đức Phật gọi là một ông thầy mù dẫn một đám mù, ôm lưng với nhau rồi cùng xuống vực sâu. Bởi vì họ không thấy, không biết gì hết, tham sân si họ không thấy, Năm Uẩn họ không thấy, rồi họ dạy cái gì, dạy cho người ta cái gì? Chỉ cho người ta đi đâu, mù rồi chỉ người ta đi đâu. Trong Nikāya Đức Phật có nói rõ: mù rồi kéo nhau xuống vực sâu, cho nên cái sự gặp được Bậc Thánh Tri Kiến, bậc thấy được đúng Chánh Pháp là thiên nan, vạn nan, tỉ nan.
Có khi một trăm ngàn tỉ kiếm mình chưa gặp người thấy được Chánh Pháp không phải chuyện giỡn. Không ai chỉ cho mình mấy cái này hết, cho nên một niềm hạnh phúc mà Minh Thành vô cùng hạnh phúc là sau ba mươi năm Minh Thành tìm ra được Chánh Pháp, thấy được con đường, đạo lộ thực sự của Đức Như Lai. Vì Minh Thành muốn chuyên sâu vào, rồi vững chắc, rồi hướng dẫn cho mấy chú ở đây, rồi sau này đi ra, là thực sự đem Chánh Pháp của Phật, mới có thể làm cho giọt nước mắt của người khác nó bắt đầu cạn kiệt.
Quý vị nhìn thấy không? Hồng Kông khóc, Đài Loan khóc, Mỹ khóc, trong nước khóc, ngoài nước khóc. Tất cả những cái đau khổ, những sầu bi ưu não chất đống, chất đống lên mà người ta không biết đường nào thoát ra, người ta không biết đường nào hết. Mà mình cũng không biết luôn thì làm sao, làm sao quý vị. Tu như vậy là cay đắng không, tu như vậy có cay đắng không?
Mình đã bỏ hết cuộc đời, cha mẹ vô mình tu trong cái mù, mê tín, tà kiến, hướng ngoại. Cho nên chính những chỗ này Minh Thành hết sức nhiệt thành, nhiệt tâm trong công cuộc hoằng pháp, đem Chánh Pháp này ra. Bây giờ quý vị nhìn thấy đó, biết bao nhiêu người tu, quý vị thấy không, quý vị nhìn thấy không?
Đau lòng lắm, thương vô cùng, thương vô cùng. Cho nên bây giờ Minh Thành nói có ngồi trên pháp toà nói mà đứt hơi chết cũng mãn nguyện nữa. Đặng cho người ta hiểu thực sự giáo pháp Đức Phật là cái gì. Bây giờ những thời khoá tu, những thời khoá tu, quý vị coi đó, không chịu quay trở lại để nhìn cảm giác của mình, những nghĩ tưởng của mình, tham sân si vận hành làm sao, rồi phương pháp để mà chấm dứt. Suốt ngày đi nhìn người nhìn người này, nhìn người kia, nhìn người nọ, rồi vô chùa không có sự an lạc, vô mà nhiều khi còn khổ hơn nữa.
Cho nên nhiều Phật tử nói con vô con mệt lắm, con không muốn đi, con vô con phiền não lắm. Như vậy thì mình nghe một câu đó thì thiệt tình là xót xa lắm. Tại sao lại như vậy? Cho nên chúng ta ở đây Minh Thành mong nhất là những vị huynh trưởng trong đạo tràng, các cô các chú, hãy cố gắng nghe pháp thực tập và hãy đem trí huệ này cùng chung với quý thầy, cùng đưa Chánh Pháp này ra giúp cho những người này có duyên. Phải cùng chung làm việc này, việc này là việc đáng làm nhất trên đời sống này, không có việc nào quan trọng hơn việc này nữa. Nếu không là mình cùng nhau tu mù.
III. Lòng tin bất động
Cho nên Đức Phật dạy rằng:
“Này Ànanda, với ai, Thầy có lòng từ mẫn, và với những ai, Thầy nghĩ là nên nghe theo, các bạn bè, thân hữu, bà con hay cùng một huyết thống, Với những người ấy, này Ànanda, Thầy cần phải khích lệ, cần phải hướng dẫn, cần phải an trú trong ba điểm. Thế nào là ba?
Hãy khích lệ, hướng dẫn và an trú vào tịnh tín bất động đối với Đức Phật: "Đây là Thế Tôn, bậc A-lahán, Chánh Đẳng Giác, Minh Mạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn".
Hãy khích lệ, hướng dẫn và an trú vào tịnh tín bất động đối với pháp: "Pháp được Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu".
Hãy khích lệ, hướng dẫn và an trú vào tịnh tín bất động đối với chúng Tăng: "Diệu hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, Trực hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, Ứng lý hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, Chơn chánh hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám chúng. Chúng đệ tử của Thế Tôn là đáng cung kính, đáng cúng dường, đáng tôn trọng, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng ở đời".”
(Kinh Cần Phải Khích Lệ - VIII. Phẩm Ànanda – Tăng Chi Bộ Kinh tập I)
Này Ananda với ai mà thầy có lòng từ mẫn và với những ai mà thầy nghĩ rằng nên nghe theo các bạn bè thân hữu bà con hay cùng một huyết thống với những người ấy thầy cần phải khích lệ, cần phải hướng dẫn, cần phải an trú ở trong ba điểm. Phải hướng dẫn họ, phải đặt để họ vô ba điều này.
Hãy khích lệ và hướng dẫn họ an trú vào lòng tin bất động đối với Đức Phật.
Làm cho họ có một lòng tin không giao động, không lay chuyển đối với Đức Thế Tôn. Những người là bà con, bạn bè, thân hữu, huyết thống mình phải khuyến khích họ, giúp đỡ họ, đặt để họ, phải áp đặt họ. Tức là dùng đủ mọi cách để họ thành tựu lòng tin mới Đức Như Lai. Đó là mình báo ơn đó, báo ơn một cách tuyệt vời.
Hãy khích lệ họ, đặt để họ, hướng dẫn họ thành tựu lòng tin bất động đối với Pháp. Giáo Pháp: Tức là những lời Đức Phật giảng dạy mà những lời đó là Đức Phật chứng ngộ.
Đối với cha mẹ, anh chị em, bạn bè thân tín với mình, cùng huyết thống với mình, những người cùng ân nghĩa với mình, mình hãy cố gắng giúp cho họ làm sao khích lệ hướng dẫn, đặt để họ làm sao thành tựu niềm tin không lay chuyển đối với Đức Phật. Đó là mình cứu giúp vĩ đại còn hơn quý vị đem tất cả gia tài cho họ nữa. Gia tài này mai mốt nhắm mắt rồi còn cái gì, nhưng mà họ thành tựu được lòng tin bất động thì họ sẽ thâm nhập vào Thánh Trí của Đức Phật để họ đoạn tận, giảm thiểu được tham, sân, si họ bớt khổ, họ không còn đoạ lạc ngạ quỷ, súc sanh. Họ không còn vô những cảnh ác nghiệp. Quý vị nghĩ đi mình nhìn thấy những cảnh ác nghiệp mình chịu không nổi, mình nổi da gà hết trơn rồi cả người mình run bần bật mà nếu mình vô đó thì làm sao mình chịu nổi quý vị.
IV. Đường ác
Làm sao mình chịu nổi những cảnh đó. Làm sao chịu nổi mà đó là những cảnh người thôi đó quý vị, cảnh người thôi đó, chưa nói đến cảnh súc sanh. Quý vị không biết chứ có những con vật nó ăn nhau, hay là nó quan hệ rồi nó ăn thịt con đó luôn, khủng khiếp như vậy đó. Những loài vật khủng khiếp như vậy, còn chưa kể những ngoài ngạ quỷ vất vơ vất vưởng, không đầu thai được, ngàn năm, mấy ngàn năm, mấy chục ngàn năm.
Đừng nói đâu xa ngay trong gia đình Minh Thành người chú thứ bảy. Tự nhiên bữa đó ổng gặp Minh Thành chú nói “Thầy ơi cứu con”. Tự nhiên con bị bệnh hoài mà đi khám không ra bệnh gì hết, mà cứ bênh hoài, rồi đứa con cũng bị như vậy. Thì bữa đó ổng nói, đi coi mấy thầy bói, thì nói rằng là :ông chỉ có ông thầy mới giúp được ông thôi, thầy tu mới giúp được ông. Ông đến nói với Minh Thành như vậy thì Minh Thành mới xuống nhà coi thì ổng đặt bốn năm cái lò sấy nhãn trên một dàn mả, trên đất đó là nghĩa trang cũ hồi xưa. Thì trong đó có một cái mã, mà cái bia là họ đời thanh chữ hán, chữ tàu Minh Thành đọc chữ đó là gần một trăm năm. Thì lúc đó Minh Thành chỉ đọc bài kinh, rồi trải tâm từ, hồi hướng thì bữa sau là chú báo cho hay là chú và con chú bớt bệnh rồi cuối cùng hết bệnh. Rồi Minh Thành nói đời cái lò đi chỗ khác.
Thì quý vị biết cái mả 100 năm, hàng trăm năm, từ đời Thanh đến bây giờ. Thành ra quý vị mới thấy là những cảnh khổ của chúng sanh mình không tưởng tượng nổi, mình sống ở đây là mình thực sự là mình mù loà. Bài kinh Đức Phật nói là mình mù loà, mình đâu có thấy cái gì đâu, mình chỉ thấy cái gì trước mắt thôi, còn là mình không thấy, ngay những cái có thiệt, mà mình mở ra mình coi mình còn bật ngửa, mà huống chi những cảnh giới mình không thấy được.
Cho nên thật sự đó, xin thưa quý vị rất sợ, người thành tựu trí huệ là họ rất sợ, rất cẩn thận với cái nghiệp của mình, những suy nghĩ lời nói hành động mình sơ xuất một chút thôi là mình rơi rớt, đoạ lạc.
Cũng trong bài kinh Đức Phật nói đó. Ông làm đồ tể giết heo, giết bò là sanh trong cảnh giới khủng khiếp kinh hoàng luôn, kinh khủng luôn. Mà cho tới Mục Kiền Liên bậc Thánh Tăng A-La-Hán mà ngài thấy ngài giật mình. Mới bữa trước còn sống mà bây giờ chết rồi ra một cái thân như vầy cho nên một trong những cái điều bất khả tư nghị mà ai dùng đầu óc mà suy nghĩ thì người đó, Đức Thế Tôn nói người đó có thể điên loạn đến chết luôn không nghĩ được tức là “quả dị thục của nghiệp”. Tức là những cái nghiệp mình làm tới khi nó trổ ra cái quả lúc nó chín mùi thì mình có dùng đầu óc thông thường, mình suy nghĩ thì mình điên loạn, cái quả của nghiệp khủng khiếp như vậy đó.
Cái ác nghiệp cùng khủng khiếp mà cái ác nghiệp cũng vô lượng vô biên. Cái phước mà mình cúng dường mà từ bậc Hướng Dự Lưu, Nhập Lưu đó. Phước đó Đức Phật nói như biển thái bình dương mà mình có thể lấy cái gáo mình múc. Mình đảnh lễ, cúng dường mà đúng bậc bốn đôi tám chúng của Phật thì phước đức của nó là khủng, khủng vô lượng vô biên không tính được.
V. Bậc nhập lưu
Trong bài phân biệt cúng dường Minh Thành có giảng rồi. Quý phật tử nghe trong bài đáp từ trai tăng. Đức Phật nói rằng có hai mươi mấy bậc cúng dường, phước đức tương xứng ở mức độ nào. Cho người ác giới, phàm phu mà người đó làm ác, người xấu ác thì quả báo.Ví dụ mình cho người giữ giới thì lên được 1000 phần. Nếu mà người phàm phu mà ly dục, chưa phải là Thánh Nhân mà người này lìa được dục thì trăm ngàn phần phước, mình cho một thì nâng lên một trăm ngàn lần.
Còn nếu như đã tới bậc hướng dự lưu mình bắt đầu đầu vào bậc bốn đôi tám chúng. Hướng dự lưu là như thế nào? Lưu là pháp lưu, là dòng chảy của Chánh Pháp, là dòng trí huệ. Nhập lưu là mình bước vào dòng đó. Đức Phật nói: một khi mà bước vào dòng đó ta bảo chứng cho các ông thẳng tiến tới chánh giác không còn thói đoạ. Tức là người đó an toàn 100%, sớm hay muộn là chứng tới Thánh Quả A La Hán thôi chứ không có lùi lại. Đó là thánh quả thứ nhất của thánh quả tu đà hoàn mà muốn được thánh quả này là phá ba loại phiền não, ba biết sử. Thứ nhất là phá thân kiến. Thứ hai là hoài nghi. Thứ ba là giới cấm thủ.
Thân kiến là cái gì? Lúc nãy Minh Thành chỉ cho quý vị nhận diện được Năm Uẩn đó, mà quý vị thường trực nhận diện mà không thấy đây là tôi, không thấy đây là tự ngã của tôi. Mà năm thứ nó kết hợp thì đó là phá thân kiến. Lúc đó thân kiến là kiến chấp về thân, tức là mình nhìn sai, mình tưởng đâu những cảm giác nghĩ tưởng đó, nhận thức đó là tôi, là của tôi. Giờ mình nhìn thấy đó là năm thứ nhóm họp Đức Phật nói rõ như vậy. Sắc ra sắc, cảm giác ra cảm giác, nghĩ tưởng ra nghĩ tưởng mình thấy rõ ràng năm cái như vậy đó, mình không thấy có một cái cứng chắc, trọng vẹn. Như vậy mình thấy đó là thật xác quyết, thì mình phá được thân kiến.
Cho nên Minh Thành nói trao cho quý vị món quà tinh thần là cái này, quý vị sẽ liên tục nhìn lại và quán chiếu rồi đi đến chỗ đó. Mà khi mình nghe được pháp ngũ uẩn rồi từ từ mình sẽ thấy chứ không phải thấy liền. Từ từ mình sẽ thấy sự sanh diệt ở trong đó, nó phiền phức hoài, nó đòi hỏi hoài, nó đòi hỏi tham sân si hoài. Mình thấy từ từ rồi bắt đầu mình có trí huệ rồi, bắt đầu mình tách tách ra khỏi nó.
Hồi xưa là mình chúi nhủi xuống luôn là phàm phu. Giờ hướng dự lưu là từ tử bẻ lên, rồi từ từ đi lên. Bắt đầu hướng dự lưu là không hướng xuống dưới phàm nữa mà hướng lên của thánh, bắt đầu chuyển qua hướng trí huệ, chuyển qua hướng dự lưu, đến chắc chắn là nhập lưu.
Bậc hướng dự lưu là cũng liệt vào bốn đôi tám bậc. Phá thứ nhất là phá thân kiến. Phá thứ hai phá hoài nghi, hoài nghi giáo pháp sự chứng ngộ của Đức Phật. Phá hết những hoài nghi mình tin xác quyết vào những lời Phật dạy trong kinh Nikāya là đúng 100% mình làm cái gì mình cũng xác quyết và thành tựu.
Cái thứ 3 ba là giới cấm thủ là: những cái giữ gìn không đúng. Ví dụ: Như không được mặc đồ trắng. Ngày tam nương mấy ngài đó, rồi cầu cúng, rồi giữ những điều không có đúng theo Chánh Pháp. Giống như mình cầu lạy, van xin nhưng không thấy được lý nhân quả, không thấy được ngũ uẩn. Cho nên mình giữ những điều không đúng với nhân quả, không đúng với Chánh Pháp. Mình phá được hết những cái đó mà quan trọng nhất là phá thân kiến, muốn phá thân kiến là phải thấy năm uẩn, muốn thấy được năm uẩn phải gặp được chân nhân nói cho mình cái pháp đó, mình nghe mình tin rồi mình thực tập từ từ rồi mình sẽ thấy. Hồi xưa mình mê, tham, phàm trần không thấy, bây giờ bắt đầu nó chuyển hướng qua như vậy là gọi hướng dự lưu. Là hướng tới Thánh Trí, hướng tới sự thật.
Giống có nhiều cô nói nghe tới cái chết là sợ lắm, đó là chưa hướng dự lưu. Đó là đúng sự thật là mình chối bỏ, mình trốn tránh giờ mình đi theo sự thật, chấp nhận sự thật, xác quyết với sự thật là mình hướng dự lưu.
Xác quyết theo đường Nikāya này là hướng dự lưu, nó không có khó gì đâu, quyết tâm là không khó. Bước vô hướng dự lưu này là vào bốn đôi tám bậc tức là chánh thống là đệ tử của Đức Phật. Những người hướng dự lưu như vậy là những người đáng được chắp tay, đáng được cung kính, đáng được đảnh lễ, đáng được cúng dường, là ruộng phước vô thượng trên đời này. Là ruộng phước cho người và trời, những vị đó là những bậc chư thiên cũng xuống cúng dường và đảnh lễ và cũng nghe pháp.
Thành ra bốn đôi tám bậc là đôi thấp nhất đó, là hướng dự lưu và nhập lưu. Còn những bậc cao Minh Thành chưa nói. Quý vị thấy là công đức phước báu là ngoài sức tưởng tượng, mà tội lỗi nghiệp ác cũng khủng khiếp. Cho nên Kinh Pháp Cú, Đức Phật nói là xa thật là xa giống như từ bờ biển này tới bờ biển bên kia, còn xa hơn nữa, xa nhiều hơn thế nữa là ác và thiện. Xa thật là xa, xa giống như mặt trời mọc và hướng của mặt trời lặn, rất là xa, rất là xa mà xa nhiều hơn nữa cũng giống như là giữa người tạo nghiệp bất thiện và người tạo nghiệp thiện. Nhiều hình ảnh Đức Phật ví dụ lắm, xa giống như là bờ biển bên này tới bờ biển bên kia, xa như hai thái cực của nghiệp ác và nghiệp thiện.
Cho nên thấy như vậy mà mình tu được, mình học được cái này là quý lắm, quý lắm, hi hữu, hiếm có trên cuộc đời. Mình chấp nhận, lắng nghe, thực tập pháp này là tuyệt diệu lắm, tuyệt vời lắm, kì diệu lắm. Cho nên ráng cố gắng vui lên, và niềm tin của mình mạnh mẽ lên. Mình cố gắng mình đặt để, mình khuyến khích, mình giúp đỡ người thân của mình an trú vô lòng tin bất động đối với các bậc Tăng mà tu theo con đường này. Phật, Pháp, Tăng và Giới gọi là bốn dự lưu phần, tức là người nào đạt được bốn cái này là người đó nhập lưu, đây bốn điều kiện của dự lưu là niềm tin không có dao động đối với Phật, đối Pháp, đối với Tăng, Đối với Thánh Giới. Thì người nào mà đủ bốn cái này là từ hướng dự lưu cho đến nhập lưu. Như vậy thì quý vị nghĩ rằng cuộc đời mong manh, vô thường, tạm bợ, chóng vánh như thế này, chỉ cần nghe cái rầm là xong rồi có cái gì đâu. Ăn vô rồi trúng dịch lợn tả châu phi, hay là trúng cái gì đó là xong.
Có những đứa nhỏ ở quê mà nghèo lắm, thấy cái gì cũng bốc ăn hết, mà cái đó là cái là bột thông hầm cầu, để ở chỗ cấy cột, tụi nhỏ tưởng là bánh bột lại bốc ăn như vậy, rồi đứa đưa vào bệnh viện cấp cứu, có đứa chết. Thì quý vị thấy đó mạng sống con người có cái gì đâu, mà giờ tại sao mình gặp một cái tuyệt diệu như vậy. Tại sao mình không nỗ lực, tinh tấn, dấn thân, thì xứng đáng trong dòng luân hồi sanh tử này biết là bao nhiêu.
VI. Đạo tràng Nikāya
Cho nên hôm nay là Minh Thành thực sự muốn nói điều gì? Đây là Minh Thành đang cầm trên tay nghi thức tu học của kinh Nikāya, sắp tới đây do nhu cầu của miền trung, miền bắc, miền tây, ở Sài Gòn có những nhóm phật tử tha thiết muốn tu hành theo kinh Nikāya này nên Minh Thành cũng mời cô Chơn Tín Toàn để mà soạn ra những nghi thức nội quy để tu học, nhưng nội quy này, những nghi thức này quý vị không nhất thiết là có thầy, có cô. Mà chỉ cần có thầy có cô chỉ dẫn lúc đầu là mình quen tự tu được, cứ làm theo đúng nghi thức này ra rất là đơn giản.
Trong đây có nội quy, nghi tức tu, cách thực tập, là trong đây có đầy đủ hết. Thanh Quy Đạo Tràng. Tinh thần chung của Đạo Tràng.
“Đạo tràng Nikāya
Tâm hiền hoà lắng dịu
Tụ họp trong hoà ái
Tạm biệt trong an vui
Chân chánh thân khẩu ý
Tám chánh là đường đi
Nhìn đời bằng Thánh Trí
Giới Định Tuệ thực thi.”
2. Thân Hành. Mọi hành động của thân. Đều nhẹ nhàng không có thô thiển. Tập chánh niệm trong oai nghi hành động. Ví dụ: Mình quăng tấm nệm mạnh xuống ra tiếng, nhưng không sao, đó là chưa quen mình phải học từ từ mới quen. Quý vị mà học được cái này rồi, ai mà bước chỗ quý vị tu người ta đều bất ngờ hết. Như lúc mình mới vô vậy, Minh Thành cho quý vị thấy sự thiêng liêng, màu nhiệm. Dễ lắm, mình làm được, làm được, chứ không có không làm được.
3. Khẩu hành. Trước 8h có thể nói chuyện thăm hỏi, từ 8h đến 17h là giữ sự an tịnh trong quá trình học, chỉ nói trong quá trình trình pháp và hỏi pháp. Vậy nó mới xứng đáng ngày tu, lâu lâu tu một ngày, mình nhịn nói tám tiếng thôi, đâu có chết đâu mà như vậy mình mới thanh tịnh mới nhìn được năm uẩn. Còn vô mình nói hết cái này qua cái kia, cái kia qua cái nọ rồi vô ngồi thiền đố mà yên được.
4. Ý hành. Ý hành là an trú trong tâm hiền, tâm an tịnh, hoặc là như lý tác ý về pháp, hoặc duy trì định tướng trong suốt ngày tu. Tu tập tâm hiền là dễ thương lắm, tu cái tâm hiền sẽ hướng dẫn cho mình thực tập, tâm hiền khi mình thiền quán. Mình tu, cái mặt mình khi bước vô là hiền và phúc hậu vô cùng. Mình tu riết là nó dễ thương, dễ thương, dễ sống, dễ trong mọi hoàn cảnh lúc đó mới là chân tu.
5. Giờ cơm trưa. Chuẩn bị giờ cơm trưa trong yên lặng, cần thiết thì ra dấu, tránh tối đa việc động khẩu. Dọn cơm, sắp xếp bàn ghế chén đũa muỗng thanh tịnh nhẹ nhàng không có gây ta tiếng động, ăn trong chánh niệm. Khi ăn có chánh quán trong bài thọ thực.
Bất hoà thì mọi người đang cùng tu học trong sự nhiếp phục thân tâm. Cho nên chắc chắn có những lỗi lầm, có những bất đồng ý kiến cho nên chưa dễ nói, chưa hiền thuận, chưa nhu hoà trong sinh hoạt, trong hành vi ứng xử, trong thân hành, khẩu hành, vì vậy khi có chuyện không hài lòng xảy ra, nên xét mình trước, xem lỗi của mình trước, sau đó nên thông cảm với lỗi lầm của bạn đồng tu.
Nếu cảm thấy cần phải góp ý, trước khi góp ý phải an trú nội tâm năm pháp. Một là nói đúng thời, hai là nói đúng sự thật, nói với tâm từ, bốn là nói lời lợi ích, năm là nói với lòng từ. Nói lời từ ái, nói bằng tâm từ ái, nói đúng thời, nói đúng sự thật và quan trọng nhất là nói với tâm từ. Chứ dù mình nói đúng mà nói với tấm sân người ta sẽ không nghe. Tâm mình đang sân mình nói ra là người ta không chịu.
6. Đạo hữu trong đạo tràng. Trong đạo tràng Nikāya là trong tinh thần tương thân, tương ái hoà đồng, hoà nhã hiền lành, từ ái với nhau không to tiếng, không cãi vã, tôn trọng với nhau. Chúng ta hãy là hội chúng tinh ba, chứ không phải là hội chúng cặn bã.
“Chúng ta hãy là hội chúng tinh ba, chứ không phải là hội chúng cặn bã”
Đây là lời kinh Nikāya, lời của Đức Phật đó. Nó ghê gớm như vậy đó, quý vị thấy đó. Người mới thì trưởng lớp hướng dẫn cho cách ăn và sinh hoạt cho người mới, rồi cẩn thận khi giới thiệu người mới vào lớp. Người giới thiệu phải chịu trách nhiệm về người giới thiệu. Nếu người không có lòng hướng về con đường này, dù mình đã giới thiệu nghe bài giảng rồi, cũng không nên cố chấp, gượng ép mời vào lớp để tránh rắc rối cho sinh hoạt của lớp về sau.
Mình giới thiệu, mà người họ lại họ kiếm chuyện, họ làm là banh cái đạo tràng luôn. Chứ đừng có ham, gặp ai cũng dẫn vào ham cho đông, cho vui rồi cuối cùng vô là tan nát, Minh Thành chứng kiến nhiều lắm. Mình phải cẩn thận giới thiệu, ai mình phải biết người đó, đó là cái bảo vệ cho đạo tràng mình. Mình ai cũng dẫn vô, rồi không nhìn kỹ rồi cuối cùng hư chuyện. Cái này hết sức là quan trọng.
Chân chánh và chân thành, pháp hành này là một đường lối tu hành chân chánh với tám sự chân chánh cho nên chỉ có người chân chánh mới có thể tu tập được pháp chân chánh, chỉ có người chân thành mới tu tập được pháp chân thật. Vì vậy nếu hành giả xét trong mình không có chân chánh, không có chân thật thì nên pháp lồ sám hối, quyết chí từ bỏ, thì mới có thể tu tập sâu vào dòng pháp này. Nếu không dòng pháp tám chánh sẽ đào thải những người bất chánh ra khỏi dòng pháp chân chánh, xin hãy nhớ kỹ điều này. Đây khuyến tấn đạo tràng.
“Đạo tràng Nikāya
Tâm thật là lắng dịu
Gặp nhau trong hoà ái
Tạm biệt trong an vui.
Đạo tràng Nikāya
Thấy tập thấy biết đúng
Nghĩ tập suy nghĩ đúng
Nói tập nói lời đúng
Làm tập hành động đúng
Mạng tập nuôi mạng đúng
Siêng tập siêng đúng việc
Quán tập quán đúng chỗ
Định tập định đúng cách,
Đạo tràng Nikāya
Tập sống đời chân chánh
Tập sống đời sống thiện
Giữa đời sống hôn mê.
Đạo tràng Nikāya
Chọn lối tu chân chánh
Chọn pháp hành thiết thực
Để dẫn dắt thân tâm.
Đạo tràng Nikāya
Chọn con đường tám chánh
Làm chỗ mình nương tựa
Để định hướng thân tâm.
Đạo tràng Nikāya
Đang bước vào thánh đạo
Đang xa lìa phiền não
Đang thoát khỏi khổ đau.
Đạo tràng Nikāya
Không gian tà xảo luận
Không mập mờ bất chánh
Không che dấu bất minh.
Đạo tràng Nikāya
Không lạc vào tà đạo
Không lạc vào tà kiến
Không lạc lối tà nhân.
Đạo tràng Nikāya
Không xa rời thánh đạo
Không xa rời thánh trí
Không xa pháp thành nhân.
Đạo tràng Nikāya
Thân tâm thường chánh niệm
Nội tâm thường tỉnh giác
Thường quán sát thân tâm
Tâm từ thường toả rộng
Tâm hiền thường an trú
Giới Định Tuệ thực hành
Không rộn ràng giao động
Nhẹ nhàng trong hành xử
Không nuôi dưỡng hận sân
Tâm hiền hoà trí huệ
Nhìn đời bằng thánh trí
Bậc chánh giác truyền trao.
Đạo tràng Nikāya
Tâm hiền hoà lắng dịu
Tâm thật là hoan hỉ
Trong pháp Đức Thế Tôn
Tâm thật là hạnh phúc
Theo con đường thánh thiện
Bậc chánh giác từng tu.
Tâm thật là dễ chịu
Chịu học điều chân chánh
Chịu học hạnh thánh nhân
Tâm thật là mát dịu
Tâm hiền ngoan dễ chịu
Tâm ngọt ngào dễ thương.
Tâm thật là lắng dịu
Tâm thọ vui dễ chịu
Tâm lắng dịu hiền vui.
Đạo tràng Nikāya
Tự trọng và tôn trọng
Tu tập trong hoà ái
Tạm biệt trong an vui.”
Thời gian qua mình đã mất nhiều thời gian quá rồi, mình mất nhiều công sức quá rồi mà mình không được kết quả bao nhiêu. Bây giờ mình gặp được Thánh Pháp mình tinh tấn tu học. Minh Thành chúc cho quý vị được lợi lạc thiết thực hiện tại trong sự tu học đúng theo chánh pháp của Đức Như Lai.
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Đặt tâm sai hướng PAGEREF _Toc67765729 \h 1
II. Xả thân vì Chánh Pháp PAGEREF _Toc67765730 \h 1
III. Lòng tin bất động PAGEREF _Toc67765731 \h 3
IV. Đường ác PAGEREF _Toc67765732 \h 5
V. Bậc nhập lưu PAGEREF _Toc67765733 \h 6
VI. Đạo tràng Nikāya PAGEREF _Toc67765734 \h 9
I. Đặt tâm sai hướng
Có những bài kinh Đức Phật dạy tu đúng mới có kết quả. Ví dụ: như mình muốn đánh chuông nhưng mình lại đánh vào cái cây thì đâu có tiếng chuông. Cho nên Đức Phật nói là đặt tâm sai hướng là không bao giờ phá thủng được vô minh uẩn hết, đống vô minh không bao giờ phá được. Đặt tâm sai hướng là không thể nào có sự chứng ngộ, không có sự diệt tận được tham sân si.
Tại vì sao? Vì tâm mình không hướng vào chỗ để diệt mà hướng đi cầu xin, xin đặng mình được mạnh khoẻ, giàu có, bình an hết trơn. Đặt tâm sai hướng cho nên cái khổ của mình đâu hết, đâu giải quyết được vấn đề đâu, đâu giải quyết được vấn đề. Rất nhiều bài kinh rất sống động nhưng Minh Thành đưa ví dụ này để quý vị dễ hiểu hơn, đó là ví dụ thực tế cho quý vị thấy.
Mình đặt tâm hoàn toàn sai hướng, mình tu một tỉ năm nữa thì cũng không diệt tận được tham, sân, si, vô minh và chứng đắc thánh trí hết. Bây giờ mấy chục năm, mình có biết trong cảm giác có tham, sân, si không? Mình đâu có biết, chứ đừng nói chi là cái tưởng, cái hành và cái thức. Rồi chưa kể là trí tuệ mình phải biết do cái gì mà sanh ra cảm giác nữa. Đức Phật dạy cho mình hết, ở đâu sanh ra cảm giác và làm như thế nào thì cảm giác sẽ chấm dứt, siêu xuất như vậy. Từ đâu mà nó phát sanh ra cái tưởng và làm sao cái tưởng chấm dứt, có hết. Từ đâu phát sanh ra sự suy nghĩ và làm sao cho suy nghĩ chấm dứt, Phật dạy hết, có trong tạng kinh Nikāya.
II. Xả thân vì Chánh Pháp
Tuyệt vời như vậy đó, tuyệt vời như vậy đó cho nên mới bỏ cha bỏ mẹ để đi tu chứ, vì vậy mới bỏ hết tất cả để đi tu chứ. Đi tu mà tham, sân, si không bớt gì hết, đi tu mà thầy ơi con khổ quá, rồi thầy cũng khổ như con rồi cả hai cũng khổ. Đến khóc như vậy với sư cô, rồi sư bà cũng mệt lắm con ơi. Vậy là xong rồi, có khác gì đâu.
Đặc thù giữa người tu và người không tu khác nhau ở chỗ nào? Không có gì khác, chỉ có chỗ là khác hình thức và công việc chút đỉnh vậy thôi, chứ trong nội tâm còn y chang, không thành tựu được trí huệ, không thấy được Năm Uẩn. Không thấy được tham từ đâu nó sanh khởi, từ đâu sân sanh khởi, từ đâu mà si nó sanh khởi, tại sao vô minh nó hình thành. Bằng cách nào để dập tắt nó, diệt tận nó, không có phương pháp, không có cách, không hiểu biết gì hết.
Cho nên Đức Phật gọi là một ông thầy mù dẫn một đám mù, ôm lưng với nhau rồi cùng xuống vực sâu. Bởi vì họ không thấy, không biết gì hết, tham sân si họ không thấy, Năm Uẩn họ không thấy, rồi họ dạy cái gì, dạy cho người ta cái gì? Chỉ cho người ta đi đâu, mù rồi chỉ người ta đi đâu. Trong Nikāya Đức Phật có nói rõ: mù rồi kéo nhau xuống vực sâu, cho nên cái sự gặp được Bậc Thánh Tri Kiến, bậc thấy được đúng Chánh Pháp là thiên nan, vạn nan, tỉ nan.
Có khi một trăm ngàn tỉ kiếm mình chưa gặp người thấy được Chánh Pháp không phải chuyện giỡn. Không ai chỉ cho mình mấy cái này hết, cho nên một niềm hạnh phúc mà Minh Thành vô cùng hạnh phúc là sau ba mươi năm Minh Thành tìm ra được Chánh Pháp, thấy được con đường, đạo lộ thực sự của Đức Như Lai. Vì Minh Thành muốn chuyên sâu vào, rồi vững chắc, rồi hướng dẫn cho mấy chú ở đây, rồi sau này đi ra, là thực sự đem Chánh Pháp của Phật, mới có thể làm cho giọt nước mắt của người khác nó bắt đầu cạn kiệt.
Quý vị nhìn thấy không? Hồng Kông khóc, Đài Loan khóc, Mỹ khóc, trong nước khóc, ngoài nước khóc. Tất cả những cái đau khổ, những sầu bi ưu não chất đống, chất đống lên mà người ta không biết đường nào thoát ra, người ta không biết đường nào hết. Mà mình cũng không biết luôn thì làm sao, làm sao quý vị. Tu như vậy là cay đắng không, tu như vậy có cay đắng không?
Mình đã bỏ hết cuộc đời, cha mẹ vô mình tu trong cái mù, mê tín, tà kiến, hướng ngoại. Cho nên chính những chỗ này Minh Thành hết sức nhiệt thành, nhiệt tâm trong công cuộc hoằng pháp, đem Chánh Pháp này ra. Bây giờ quý vị nhìn thấy đó, biết bao nhiêu người tu, quý vị thấy không, quý vị nhìn thấy không?
Đau lòng lắm, thương vô cùng, thương vô cùng. Cho nên bây giờ Minh Thành nói có ngồi trên pháp toà nói mà đứt hơi chết cũng mãn nguyện nữa. Đặng cho người ta hiểu thực sự giáo pháp Đức Phật là cái gì. Bây giờ những thời khoá tu, những thời khoá tu, quý vị coi đó, không chịu quay trở lại để nhìn cảm giác của mình, những nghĩ tưởng của mình, tham sân si vận hành làm sao, rồi phương pháp để mà chấm dứt. Suốt ngày đi nhìn người nhìn người này, nhìn người kia, nhìn người nọ, rồi vô chùa không có sự an lạc, vô mà nhiều khi còn khổ hơn nữa.
Cho nên nhiều Phật tử nói con vô con mệt lắm, con không muốn đi, con vô con phiền não lắm. Như vậy thì mình nghe một câu đó thì thiệt tình là xót xa lắm. Tại sao lại như vậy? Cho nên chúng ta ở đây Minh Thành mong nhất là những vị huynh trưởng trong đạo tràng, các cô các chú, hãy cố gắng nghe pháp thực tập và hãy đem trí huệ này cùng chung với quý thầy, cùng đưa Chánh Pháp này ra giúp cho những người này có duyên. Phải cùng chung làm việc này, việc này là việc đáng làm nhất trên đời sống này, không có việc nào quan trọng hơn việc này nữa. Nếu không là mình cùng nhau tu mù.
III. Lòng tin bất động
Cho nên Đức Phật dạy rằng:
“Này Ànanda, với ai, Thầy có lòng từ mẫn, và với những ai, Thầy nghĩ là nên nghe theo, các bạn bè, thân hữu, bà con hay cùng một huyết thống, Với những người ấy, này Ànanda, Thầy cần phải khích lệ, cần phải hướng dẫn, cần phải an trú trong ba điểm. Thế nào là ba?
Hãy khích lệ, hướng dẫn và an trú vào tịnh tín bất động đối với Đức Phật: "Đây là Thế Tôn, bậc A-lahán, Chánh Đẳng Giác, Minh Mạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn".
Hãy khích lệ, hướng dẫn và an trú vào tịnh tín bất động đối với pháp: "Pháp được Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu".
Hãy khích lệ, hướng dẫn và an trú vào tịnh tín bất động đối với chúng Tăng: "Diệu hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, Trực hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, Ứng lý hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, Chơn chánh hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám chúng. Chúng đệ tử của Thế Tôn là đáng cung kính, đáng cúng dường, đáng tôn trọng, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng ở đời".”
(Kinh Cần Phải Khích Lệ - VIII. Phẩm Ànanda – Tăng Chi Bộ Kinh tập I)
Này Ananda với ai mà thầy có lòng từ mẫn và với những ai mà thầy nghĩ rằng nên nghe theo các bạn bè thân hữu bà con hay cùng một huyết thống với những người ấy thầy cần phải khích lệ, cần phải hướng dẫn, cần phải an trú ở trong ba điểm. Phải hướng dẫn họ, phải đặt để họ vô ba điều này.
Hãy khích lệ và hướng dẫn họ an trú vào lòng tin bất động đối với Đức Phật.
Làm cho họ có một lòng tin không giao động, không lay chuyển đối với Đức Thế Tôn. Những người là bà con, bạn bè, thân hữu, huyết thống mình phải khuyến khích họ, giúp đỡ họ, đặt để họ, phải áp đặt họ. Tức là dùng đủ mọi cách để họ thành tựu lòng tin mới Đức Như Lai. Đó là mình báo ơn đó, báo ơn một cách tuyệt vời.
Hãy khích lệ họ, đặt để họ, hướng dẫn họ thành tựu lòng tin bất động đối với Pháp. Giáo Pháp: Tức là những lời Đức Phật giảng dạy mà những lời đó là Đức Phật chứng ngộ.
Đối với cha mẹ, anh chị em, bạn bè thân tín với mình, cùng huyết thống với mình, những người cùng ân nghĩa với mình, mình hãy cố gắng giúp cho họ làm sao khích lệ hướng dẫn, đặt để họ làm sao thành tựu niềm tin không lay chuyển đối với Đức Phật. Đó là mình cứu giúp vĩ đại còn hơn quý vị đem tất cả gia tài cho họ nữa. Gia tài này mai mốt nhắm mắt rồi còn cái gì, nhưng mà họ thành tựu được lòng tin bất động thì họ sẽ thâm nhập vào Thánh Trí của Đức Phật để họ đoạn tận, giảm thiểu được tham, sân, si họ bớt khổ, họ không còn đoạ lạc ngạ quỷ, súc sanh. Họ không còn vô những cảnh ác nghiệp. Quý vị nghĩ đi mình nhìn thấy những cảnh ác nghiệp mình chịu không nổi, mình nổi da gà hết trơn rồi cả người mình run bần bật mà nếu mình vô đó thì làm sao mình chịu nổi quý vị.
IV. Đường ác
Làm sao mình chịu nổi những cảnh đó. Làm sao chịu nổi mà đó là những cảnh người thôi đó quý vị, cảnh người thôi đó, chưa nói đến cảnh súc sanh. Quý vị không biết chứ có những con vật nó ăn nhau, hay là nó quan hệ rồi nó ăn thịt con đó luôn, khủng khiếp như vậy đó. Những loài vật khủng khiếp như vậy, còn chưa kể những ngoài ngạ quỷ vất vơ vất vưởng, không đầu thai được, ngàn năm, mấy ngàn năm, mấy chục ngàn năm.
Đừng nói đâu xa ngay trong gia đình Minh Thành người chú thứ bảy. Tự nhiên bữa đó ổng gặp Minh Thành chú nói “Thầy ơi cứu con”. Tự nhiên con bị bệnh hoài mà đi khám không ra bệnh gì hết, mà cứ bênh hoài, rồi đứa con cũng bị như vậy. Thì bữa đó ổng nói, đi coi mấy thầy bói, thì nói rằng là :ông chỉ có ông thầy mới giúp được ông thôi, thầy tu mới giúp được ông. Ông đến nói với Minh Thành như vậy thì Minh Thành mới xuống nhà coi thì ổng đặt bốn năm cái lò sấy nhãn trên một dàn mả, trên đất đó là nghĩa trang cũ hồi xưa. Thì trong đó có một cái mã, mà cái bia là họ đời thanh chữ hán, chữ tàu Minh Thành đọc chữ đó là gần một trăm năm. Thì lúc đó Minh Thành chỉ đọc bài kinh, rồi trải tâm từ, hồi hướng thì bữa sau là chú báo cho hay là chú và con chú bớt bệnh rồi cuối cùng hết bệnh. Rồi Minh Thành nói đời cái lò đi chỗ khác.
Thì quý vị biết cái mả 100 năm, hàng trăm năm, từ đời Thanh đến bây giờ. Thành ra quý vị mới thấy là những cảnh khổ của chúng sanh mình không tưởng tượng nổi, mình sống ở đây là mình thực sự là mình mù loà. Bài kinh Đức Phật nói là mình mù loà, mình đâu có thấy cái gì đâu, mình chỉ thấy cái gì trước mắt thôi, còn là mình không thấy, ngay những cái có thiệt, mà mình mở ra mình coi mình còn bật ngửa, mà huống chi những cảnh giới mình không thấy được.
Cho nên thật sự đó, xin thưa quý vị rất sợ, người thành tựu trí huệ là họ rất sợ, rất cẩn thận với cái nghiệp của mình, những suy nghĩ lời nói hành động mình sơ xuất một chút thôi là mình rơi rớt, đoạ lạc.
Cũng trong bài kinh Đức Phật nói đó. Ông làm đồ tể giết heo, giết bò là sanh trong cảnh giới khủng khiếp kinh hoàng luôn, kinh khủng luôn. Mà cho tới Mục Kiền Liên bậc Thánh Tăng A-La-Hán mà ngài thấy ngài giật mình. Mới bữa trước còn sống mà bây giờ chết rồi ra một cái thân như vầy cho nên một trong những cái điều bất khả tư nghị mà ai dùng đầu óc mà suy nghĩ thì người đó, Đức Thế Tôn nói người đó có thể điên loạn đến chết luôn không nghĩ được tức là “quả dị thục của nghiệp”. Tức là những cái nghiệp mình làm tới khi nó trổ ra cái quả lúc nó chín mùi thì mình có dùng đầu óc thông thường, mình suy nghĩ thì mình điên loạn, cái quả của nghiệp khủng khiếp như vậy đó.
Cái ác nghiệp cùng khủng khiếp mà cái ác nghiệp cũng vô lượng vô biên. Cái phước mà mình cúng dường mà từ bậc Hướng Dự Lưu, Nhập Lưu đó. Phước đó Đức Phật nói như biển thái bình dương mà mình có thể lấy cái gáo mình múc. Mình đảnh lễ, cúng dường mà đúng bậc bốn đôi tám chúng của Phật thì phước đức của nó là khủng, khủng vô lượng vô biên không tính được.
V. Bậc nhập lưu
Trong bài phân biệt cúng dường Minh Thành có giảng rồi. Quý phật tử nghe trong bài đáp từ trai tăng. Đức Phật nói rằng có hai mươi mấy bậc cúng dường, phước đức tương xứng ở mức độ nào. Cho người ác giới, phàm phu mà người đó làm ác, người xấu ác thì quả báo.Ví dụ mình cho người giữ giới thì lên được 1000 phần. Nếu mà người phàm phu mà ly dục, chưa phải là Thánh Nhân mà người này lìa được dục thì trăm ngàn phần phước, mình cho một thì nâng lên một trăm ngàn lần.
Còn nếu như đã tới bậc hướng dự lưu mình bắt đầu đầu vào bậc bốn đôi tám chúng. Hướng dự lưu là như thế nào? Lưu là pháp lưu, là dòng chảy của Chánh Pháp, là dòng trí huệ. Nhập lưu là mình bước vào dòng đó. Đức Phật nói: một khi mà bước vào dòng đó ta bảo chứng cho các ông thẳng tiến tới chánh giác không còn thói đoạ. Tức là người đó an toàn 100%, sớm hay muộn là chứng tới Thánh Quả A La Hán thôi chứ không có lùi lại. Đó là thánh quả thứ nhất của thánh quả tu đà hoàn mà muốn được thánh quả này là phá ba loại phiền não, ba biết sử. Thứ nhất là phá thân kiến. Thứ hai là hoài nghi. Thứ ba là giới cấm thủ.
Thân kiến là cái gì? Lúc nãy Minh Thành chỉ cho quý vị nhận diện được Năm Uẩn đó, mà quý vị thường trực nhận diện mà không thấy đây là tôi, không thấy đây là tự ngã của tôi. Mà năm thứ nó kết hợp thì đó là phá thân kiến. Lúc đó thân kiến là kiến chấp về thân, tức là mình nhìn sai, mình tưởng đâu những cảm giác nghĩ tưởng đó, nhận thức đó là tôi, là của tôi. Giờ mình nhìn thấy đó là năm thứ nhóm họp Đức Phật nói rõ như vậy. Sắc ra sắc, cảm giác ra cảm giác, nghĩ tưởng ra nghĩ tưởng mình thấy rõ ràng năm cái như vậy đó, mình không thấy có một cái cứng chắc, trọng vẹn. Như vậy mình thấy đó là thật xác quyết, thì mình phá được thân kiến.
Cho nên Minh Thành nói trao cho quý vị món quà tinh thần là cái này, quý vị sẽ liên tục nhìn lại và quán chiếu rồi đi đến chỗ đó. Mà khi mình nghe được pháp ngũ uẩn rồi từ từ mình sẽ thấy chứ không phải thấy liền. Từ từ mình sẽ thấy sự sanh diệt ở trong đó, nó phiền phức hoài, nó đòi hỏi hoài, nó đòi hỏi tham sân si hoài. Mình thấy từ từ rồi bắt đầu mình có trí huệ rồi, bắt đầu mình tách tách ra khỏi nó.
Hồi xưa là mình chúi nhủi xuống luôn là phàm phu. Giờ hướng dự lưu là từ tử bẻ lên, rồi từ từ đi lên. Bắt đầu hướng dự lưu là không hướng xuống dưới phàm nữa mà hướng lên của thánh, bắt đầu chuyển qua hướng trí huệ, chuyển qua hướng dự lưu, đến chắc chắn là nhập lưu.
Bậc hướng dự lưu là cũng liệt vào bốn đôi tám bậc. Phá thứ nhất là phá thân kiến. Phá thứ hai phá hoài nghi, hoài nghi giáo pháp sự chứng ngộ của Đức Phật. Phá hết những hoài nghi mình tin xác quyết vào những lời Phật dạy trong kinh Nikāya là đúng 100% mình làm cái gì mình cũng xác quyết và thành tựu.
Cái thứ 3 ba là giới cấm thủ là: những cái giữ gìn không đúng. Ví dụ: Như không được mặc đồ trắng. Ngày tam nương mấy ngài đó, rồi cầu cúng, rồi giữ những điều không có đúng theo Chánh Pháp. Giống như mình cầu lạy, van xin nhưng không thấy được lý nhân quả, không thấy được ngũ uẩn. Cho nên mình giữ những điều không đúng với nhân quả, không đúng với Chánh Pháp. Mình phá được hết những cái đó mà quan trọng nhất là phá thân kiến, muốn phá thân kiến là phải thấy năm uẩn, muốn thấy được năm uẩn phải gặp được chân nhân nói cho mình cái pháp đó, mình nghe mình tin rồi mình thực tập từ từ rồi mình sẽ thấy. Hồi xưa mình mê, tham, phàm trần không thấy, bây giờ bắt đầu nó chuyển hướng qua như vậy là gọi hướng dự lưu. Là hướng tới Thánh Trí, hướng tới sự thật.
Giống có nhiều cô nói nghe tới cái chết là sợ lắm, đó là chưa hướng dự lưu. Đó là đúng sự thật là mình chối bỏ, mình trốn tránh giờ mình đi theo sự thật, chấp nhận sự thật, xác quyết với sự thật là mình hướng dự lưu.
Xác quyết theo đường Nikāya này là hướng dự lưu, nó không có khó gì đâu, quyết tâm là không khó. Bước vô hướng dự lưu này là vào bốn đôi tám bậc tức là chánh thống là đệ tử của Đức Phật. Những người hướng dự lưu như vậy là những người đáng được chắp tay, đáng được cung kính, đáng được đảnh lễ, đáng được cúng dường, là ruộng phước vô thượng trên đời này. Là ruộng phước cho người và trời, những vị đó là những bậc chư thiên cũng xuống cúng dường và đảnh lễ và cũng nghe pháp.
Thành ra bốn đôi tám bậc là đôi thấp nhất đó, là hướng dự lưu và nhập lưu. Còn những bậc cao Minh Thành chưa nói. Quý vị thấy là công đức phước báu là ngoài sức tưởng tượng, mà tội lỗi nghiệp ác cũng khủng khiếp. Cho nên Kinh Pháp Cú, Đức Phật nói là xa thật là xa giống như từ bờ biển này tới bờ biển bên kia, còn xa hơn nữa, xa nhiều hơn thế nữa là ác và thiện. Xa thật là xa, xa giống như mặt trời mọc và hướng của mặt trời lặn, rất là xa, rất là xa mà xa nhiều hơn nữa cũng giống như là giữa người tạo nghiệp bất thiện và người tạo nghiệp thiện. Nhiều hình ảnh Đức Phật ví dụ lắm, xa giống như là bờ biển bên này tới bờ biển bên kia, xa như hai thái cực của nghiệp ác và nghiệp thiện.
Cho nên thấy như vậy mà mình tu được, mình học được cái này là quý lắm, quý lắm, hi hữu, hiếm có trên cuộc đời. Mình chấp nhận, lắng nghe, thực tập pháp này là tuyệt diệu lắm, tuyệt vời lắm, kì diệu lắm. Cho nên ráng cố gắng vui lên, và niềm tin của mình mạnh mẽ lên. Mình cố gắng mình đặt để, mình khuyến khích, mình giúp đỡ người thân của mình an trú vô lòng tin bất động đối với các bậc Tăng mà tu theo con đường này. Phật, Pháp, Tăng và Giới gọi là bốn dự lưu phần, tức là người nào đạt được bốn cái này là người đó nhập lưu, đây bốn điều kiện của dự lưu là niềm tin không có dao động đối với Phật, đối Pháp, đối với Tăng, Đối với Thánh Giới. Thì người nào mà đủ bốn cái này là từ hướng dự lưu cho đến nhập lưu. Như vậy thì quý vị nghĩ rằng cuộc đời mong manh, vô thường, tạm bợ, chóng vánh như thế này, chỉ cần nghe cái rầm là xong rồi có cái gì đâu. Ăn vô rồi trúng dịch lợn tả châu phi, hay là trúng cái gì đó là xong.
Có những đứa nhỏ ở quê mà nghèo lắm, thấy cái gì cũng bốc ăn hết, mà cái đó là cái là bột thông hầm cầu, để ở chỗ cấy cột, tụi nhỏ tưởng là bánh bột lại bốc ăn như vậy, rồi đứa đưa vào bệnh viện cấp cứu, có đứa chết. Thì quý vị thấy đó mạng sống con người có cái gì đâu, mà giờ tại sao mình gặp một cái tuyệt diệu như vậy. Tại sao mình không nỗ lực, tinh tấn, dấn thân, thì xứng đáng trong dòng luân hồi sanh tử này biết là bao nhiêu.
VI. Đạo tràng Nikāya
Cho nên hôm nay là Minh Thành thực sự muốn nói điều gì? Đây là Minh Thành đang cầm trên tay nghi thức tu học của kinh Nikāya, sắp tới đây do nhu cầu của miền trung, miền bắc, miền tây, ở Sài Gòn có những nhóm phật tử tha thiết muốn tu hành theo kinh Nikāya này nên Minh Thành cũng mời cô Chơn Tín Toàn để mà soạn ra những nghi thức nội quy để tu học, nhưng nội quy này, những nghi thức này quý vị không nhất thiết là có thầy, có cô. Mà chỉ cần có thầy có cô chỉ dẫn lúc đầu là mình quen tự tu được, cứ làm theo đúng nghi thức này ra rất là đơn giản.
Trong đây có nội quy, nghi tức tu, cách thực tập, là trong đây có đầy đủ hết. Thanh Quy Đạo Tràng. Tinh thần chung của Đạo Tràng.
“Đạo tràng Nikāya
Tâm hiền hoà lắng dịu
Tụ họp trong hoà ái
Tạm biệt trong an vui
Chân chánh thân khẩu ý
Tám chánh là đường đi
Nhìn đời bằng Thánh Trí
Giới Định Tuệ thực thi.”
2. Thân Hành. Mọi hành động của thân. Đều nhẹ nhàng không có thô thiển. Tập chánh niệm trong oai nghi hành động. Ví dụ: Mình quăng tấm nệm mạnh xuống ra tiếng, nhưng không sao, đó là chưa quen mình phải học từ từ mới quen. Quý vị mà học được cái này rồi, ai mà bước chỗ quý vị tu người ta đều bất ngờ hết. Như lúc mình mới vô vậy, Minh Thành cho quý vị thấy sự thiêng liêng, màu nhiệm. Dễ lắm, mình làm được, làm được, chứ không có không làm được.
3. Khẩu hành. Trước 8h có thể nói chuyện thăm hỏi, từ 8h đến 17h là giữ sự an tịnh trong quá trình học, chỉ nói trong quá trình trình pháp và hỏi pháp. Vậy nó mới xứng đáng ngày tu, lâu lâu tu một ngày, mình nhịn nói tám tiếng thôi, đâu có chết đâu mà như vậy mình mới thanh tịnh mới nhìn được năm uẩn. Còn vô mình nói hết cái này qua cái kia, cái kia qua cái nọ rồi vô ngồi thiền đố mà yên được.
4. Ý hành. Ý hành là an trú trong tâm hiền, tâm an tịnh, hoặc là như lý tác ý về pháp, hoặc duy trì định tướng trong suốt ngày tu. Tu tập tâm hiền là dễ thương lắm, tu cái tâm hiền sẽ hướng dẫn cho mình thực tập, tâm hiền khi mình thiền quán. Mình tu, cái mặt mình khi bước vô là hiền và phúc hậu vô cùng. Mình tu riết là nó dễ thương, dễ thương, dễ sống, dễ trong mọi hoàn cảnh lúc đó mới là chân tu.
5. Giờ cơm trưa. Chuẩn bị giờ cơm trưa trong yên lặng, cần thiết thì ra dấu, tránh tối đa việc động khẩu. Dọn cơm, sắp xếp bàn ghế chén đũa muỗng thanh tịnh nhẹ nhàng không có gây ta tiếng động, ăn trong chánh niệm. Khi ăn có chánh quán trong bài thọ thực.
Bất hoà thì mọi người đang cùng tu học trong sự nhiếp phục thân tâm. Cho nên chắc chắn có những lỗi lầm, có những bất đồng ý kiến cho nên chưa dễ nói, chưa hiền thuận, chưa nhu hoà trong sinh hoạt, trong hành vi ứng xử, trong thân hành, khẩu hành, vì vậy khi có chuyện không hài lòng xảy ra, nên xét mình trước, xem lỗi của mình trước, sau đó nên thông cảm với lỗi lầm của bạn đồng tu.
Nếu cảm thấy cần phải góp ý, trước khi góp ý phải an trú nội tâm năm pháp. Một là nói đúng thời, hai là nói đúng sự thật, nói với tâm từ, bốn là nói lời lợi ích, năm là nói với lòng từ. Nói lời từ ái, nói bằng tâm từ ái, nói đúng thời, nói đúng sự thật và quan trọng nhất là nói với tâm từ. Chứ dù mình nói đúng mà nói với tấm sân người ta sẽ không nghe. Tâm mình đang sân mình nói ra là người ta không chịu.
6. Đạo hữu trong đạo tràng. Trong đạo tràng Nikāya là trong tinh thần tương thân, tương ái hoà đồng, hoà nhã hiền lành, từ ái với nhau không to tiếng, không cãi vã, tôn trọng với nhau. Chúng ta hãy là hội chúng tinh ba, chứ không phải là hội chúng cặn bã.
“Chúng ta hãy là hội chúng tinh ba, chứ không phải là hội chúng cặn bã”
Đây là lời kinh Nikāya, lời của Đức Phật đó. Nó ghê gớm như vậy đó, quý vị thấy đó. Người mới thì trưởng lớp hướng dẫn cho cách ăn và sinh hoạt cho người mới, rồi cẩn thận khi giới thiệu người mới vào lớp. Người giới thiệu phải chịu trách nhiệm về người giới thiệu. Nếu người không có lòng hướng về con đường này, dù mình đã giới thiệu nghe bài giảng rồi, cũng không nên cố chấp, gượng ép mời vào lớp để tránh rắc rối cho sinh hoạt của lớp về sau.
Mình giới thiệu, mà người họ lại họ kiếm chuyện, họ làm là banh cái đạo tràng luôn. Chứ đừng có ham, gặp ai cũng dẫn vào ham cho đông, cho vui rồi cuối cùng vô là tan nát, Minh Thành chứng kiến nhiều lắm. Mình phải cẩn thận giới thiệu, ai mình phải biết người đó, đó là cái bảo vệ cho đạo tràng mình. Mình ai cũng dẫn vô, rồi không nhìn kỹ rồi cuối cùng hư chuyện. Cái này hết sức là quan trọng.
Chân chánh và chân thành, pháp hành này là một đường lối tu hành chân chánh với tám sự chân chánh cho nên chỉ có người chân chánh mới có thể tu tập được pháp chân chánh, chỉ có người chân thành mới tu tập được pháp chân thật. Vì vậy nếu hành giả xét trong mình không có chân chánh, không có chân thật thì nên pháp lồ sám hối, quyết chí từ bỏ, thì mới có thể tu tập sâu vào dòng pháp này. Nếu không dòng pháp tám chánh sẽ đào thải những người bất chánh ra khỏi dòng pháp chân chánh, xin hãy nhớ kỹ điều này. Đây khuyến tấn đạo tràng.
“Đạo tràng Nikāya
Tâm thật là lắng dịu
Gặp nhau trong hoà ái
Tạm biệt trong an vui.
Đạo tràng Nikāya
Thấy tập thấy biết đúng
Nghĩ tập suy nghĩ đúng
Nói tập nói lời đúng
Làm tập hành động đúng
Mạng tập nuôi mạng đúng
Siêng tập siêng đúng việc
Quán tập quán đúng chỗ
Định tập định đúng cách,
Đạo tràng Nikāya
Tập sống đời chân chánh
Tập sống đời sống thiện
Giữa đời sống hôn mê.
Đạo tràng Nikāya
Chọn lối tu chân chánh
Chọn pháp hành thiết thực
Để dẫn dắt thân tâm.
Đạo tràng Nikāya
Chọn con đường tám chánh
Làm chỗ mình nương tựa
Để định hướng thân tâm.
Đạo tràng Nikāya
Đang bước vào thánh đạo
Đang xa lìa phiền não
Đang thoát khỏi khổ đau.
Đạo tràng Nikāya
Không gian tà xảo luận
Không mập mờ bất chánh
Không che dấu bất minh.
Đạo tràng Nikāya
Không lạc vào tà đạo
Không lạc vào tà kiến
Không lạc lối tà nhân.
Đạo tràng Nikāya
Không xa rời thánh đạo
Không xa rời thánh trí
Không xa pháp thành nhân.
Đạo tràng Nikāya
Thân tâm thường chánh niệm
Nội tâm thường tỉnh giác
Thường quán sát thân tâm
Tâm từ thường toả rộng
Tâm hiền thường an trú
Giới Định Tuệ thực hành
Không rộn ràng giao động
Nhẹ nhàng trong hành xử
Không nuôi dưỡng hận sân
Tâm hiền hoà trí huệ
Nhìn đời bằng thánh trí
Bậc chánh giác truyền trao.
Đạo tràng Nikāya
Tâm hiền hoà lắng dịu
Tâm thật là hoan hỉ
Trong pháp Đức Thế Tôn
Tâm thật là hạnh phúc
Theo con đường thánh thiện
Bậc chánh giác từng tu.
Tâm thật là dễ chịu
Chịu học điều chân chánh
Chịu học hạnh thánh nhân
Tâm thật là mát dịu
Tâm hiền ngoan dễ chịu
Tâm ngọt ngào dễ thương.
Tâm thật là lắng dịu
Tâm thọ vui dễ chịu
Tâm lắng dịu hiền vui.
Đạo tràng Nikāya
Tự trọng và tôn trọng
Tu tập trong hoà ái
Tạm biệt trong an vui.”
Thời gian qua mình đã mất nhiều thời gian quá rồi, mình mất nhiều công sức quá rồi mà mình không được kết quả bao nhiêu. Bây giờ mình gặp được Thánh Pháp mình tinh tấn tu học. Minh Thành chúc cho quý vị được lợi lạc thiết thực hiện tại trong sự tu học đúng theo chánh pháp của Đức Như Lai.