Trí tuệ về sắc thân 1
TRÍ TUỆ VỀ SẮC THÂN 1
-Thích Minh Thành-
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Sự chứng ngộ của Đức Phật với Ngũ uẩn PAGEREF _Toc62032323 \h 1
II. Phân tích sắc uẩn PAGEREF _Toc62032324 \h 3
1. Bốn loại thức ăn PAGEREF _Toc62032325 \h 5
2. Ba Mươi Hai Thể Trược PAGEREF _Toc62032326 \h 6
3. Sự nguy hại của sắc PAGEREF _Toc62032327 \h 8
4. Vị ngọt của sắc PAGEREF _Toc62032328 \h 9
5. Các phép quán để thành tựu trí huệ về sắc uẩn PAGEREF _Toc62032329 \h 11
6. Thập thiện nghiệp PAGEREF _Toc62032330 \h 13
7. Thân vô chủ PAGEREF _Toc62032331 \h 15
8. Sự nguy hiểm của sắc 2 PAGEREF _Toc62032332 \h 18
I. Sự chứng ngộ của Đức Phật với Ngũ uẩn
Kính thưa quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng, hôm nay chúng ta tổng kết lại những lời dạy của Đức Phật, chúng ta xâu kết lại trong pháp học và pháp hành đối với trí tuệ năm uẩn. Minh Thành muốn chúng ta có một cái nhìn tổng quát về toàn bộ những lời dạy của Thế Tôn. Để mình biết được thật sự Đức Phật biết những gì, dạy những gì, thực hành như thế nào và chúng ta đang ở đâu trong những lời dạy đó, chúng ta hiểu như thế nào, hiểu chính xác những gì bậc chí chơn Chánh Đẳng Giác đã truyền trao.
Khi Bồ Tát Tất-đạt-đa vừa chứng ngộ trí huệ tối thượng dưới cội bồ đề Ngài thốt lên:
“153. Lang thang bao kiếp sống
Ta tìm nhưng chẳng gặp,
Người xây dựng nhà này,
Khổ thay, phải tái sanh.
154. Ôi! Người làm nhà kia
Nay ta đã thấy ngươi!
Ngươi không làm nhà nữa.
Đòn tay ngươi bị gãy,
Kèo cột ngươi bị tan
Tâm ta đạt tịch diệt,
Tham ái thảy tiêu vong.
(Kinh Pháp Cú – Phẩm Già)
Tức là, ta đã lang thang trong vòng luân hồi này, trải qua vô số kiếp, ta đi tìm mãi, tìm mãi mà không gặp được tác giả, người làm nên căn nhà này. Căn nhà là thân tâm, tác giả thật sự làm nên thân thể hình hải và tâm thức này, cứ lặp đi lặp lại trong đời sống sanh già, bệnh, chết, tham, sân, si. Quả thật là mệt mỏi, quả thật là phiền não. Này hỡi kẻ làm nhà kia, nay ta khám phá ra ngươi rồi, tác giả thật sự đã dựng lên căn nhà thân tâm này ta đã khám phá ra ngươi rồi, từ đây ngươi không còn cất nhà cho Như Lai được nữa. Tất cả sườn nhà đều gãy đổ, kèo cột bị phá tan hết, mỗi ái dục Như Lai đã đoạn trừ, Như Lai đã chứng quả vô sanh bất diệt.
Chúng ta thấy đây là một điều gì? Đây là lời cảm xúc khi vừa mới thành đạo, các câu nói này tuyệt đối quan trọng. Tác giả thật sự, thủ phạm thật sự, nguyên nhân thật sự để kết thành đời sống của tham, sân, si, sầu bị, khổ, ưu não. Ta lang thang bao kiếp sống, ta tìm hoài không gặp. Nên phải đau khổ, tái sanh mãi, sống rồi chết, chết rồi sống. Giờ Ngài đã tìm ra được, thấy được rồi, vì đã đập phá hết tất cả sườn nhà, kèo cột, đòn tay. Tham ái hãy tiêu vong, tâm Ngài đạt được tịch diệt, hoàn toàn vắng lạnh.
Giờ chúng ta nhìn lại chúng ta, tại sao chúng ta có mặt ở đây? Khi chúng ta nhắm mắt thì chúng ta đi đâu? Mục đích thật sự của cuộc sống này là gì? Chúng ta sanh ra để làm gì? Những câu hỏi này trừ bậc Chánh Đẳng Chánh Giác ngoài ra không một ai có thể trả lời một cách thấu đáu hoàn toàn triệt để.
Minh Thành mời đại chúng đọc Bốn Thánh trí về ngũ uẩn:
“Sự chấp thủ ngũ uẩn là phiền não và khổ đau.
Ngũ uẩn sanh khởi là do vô minh và khát ái,
Ngũ uẩn diệt tận là khi hết vô minh và hết khát ái,
Bát Chánh Đạo là phương pháp đúng đưa đến tẩy sạch vô minh và khát ái đối với ngũ uẩn.”
“Sự chấp thủ ngũ uẩn là phiền não và khổ đau.” Vậy chúng ta có đang chấp thủ không? Hay chúng ta có đang bị phiền não, khổ đau không? Ngũ uẩn sanh là do gì? Do vô minh và khát ái. Vô minh là không sáng, không thấy biết, không rõ biết đúng sự thật, mà chúng ta vô minh đối với gì? Dựa vào câu hỏi rất đơn giản: “Mình là cái gì?” Nếu mình chưa học ngũ uẩn thì người khác hỏi mình là cái gì thì mình trả lời ra sao? Hay mình chưa biết gì về Phật pháp, chưa học về ngũ uẩn thì người khác hỏi “Anh là ai? Anh là cái gì?” Thì mình chỉ trả lời: “Tôi là tôi! Tôi là thân mấy chục kí này!”
Nên vô minh làm mình không biết mình là gì. Nếu như các sư cô, các thầy không cạo đầu đi tu, không học pháp thì người ta hỏi “Thầy là gì?” thì mình nên trả lời sao? Có phải mình trả lời là “Mấy chục kí này là tôi không?” nhưng mình vẫn chưa biết đó là sắc, chúng ta thấy không?
II. Phân tích sắc uẩn
Minh Thành sẽ phân tích cho quý vị biết, giá trị của vô minh và khát ái, nó không bình thường khi đọc như vậy, đây là thành quả chứng ngộ của Đức Phật. Chúng ta không biết đó là sắc và nhận đó là mình nên việc chứng ngộ của Đức Phật là thấy biết, toàn vẹn, rõ ràng, rành rẽ tất cả mọi góc độ, khía cạnh về chính mình mà không phải thấy về một cái gì khác. Sự chứng ngộ của Đức Phật cho chúng ta thấy mình gồm năm tổ hợp, nhóm thứ nhất là sắc, nên chúng ta mới thấy được giá trị của hợp ngũ uẩn. Nếu không chúng ta cứ học sắc, thọ, tưởng, hành, thức mà mình không thấy được đó là sự đại triệt đại ngộ của Thế Tôn. Sắc này mình không biết mà mình cứ cho đó là mình, đó là lớp thứ nhất. Lớp thứ hai là mình không biết được sắc đó do cái gì tác thành hay kết hợp, thì Đức Phật cho mình biết sắc là do bốn đại. Đức Phật cho mình thấy tất cả khía cạnh, góc độ của thân xác này.
Minh Thành xin mời một vị đọc Bảy trí về sắc:
“Bốn đại chủng và sắc do bốn đại chủng tạo thành. Đây được gọi là sắc.
Sắc sanh: do thức ăn tập khởi nên sắc tập khởi.
Sắc diệt: do thức ăn đoạn diệt nên sắc đoạn diệt.
Sắc diệt đạo: con đường đưa đến sắc đoạn diệt là con đường Thánh đạo Tám ngành, tức là Chánh Tri Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm, Chánh Định.
Vị ngọt của sắc: do duyên sắc khởi nên lạc hỷ gì, lạc hỷ này là vị ngọt của sắc.
Sự nguy hại của sắc: sự vô thường, khổ, chịu sự biến hoại của sắc, đó là nguy hại của sắc.
Sự xuất ly của sắc: sự nhiếp phục dục và tham, sự đoạn tận dục và tham đối với sắc, đây là sự xuất ly của sắc.”
Lúc sáng chúng ta đã nói sơ lược về tứ đại, Đức Phật cho chúng ta biết, thể xác, hình hài, sắc thân, cơ thể này cái gì tạo thành nó và chúng ta nên nhớ là những cái này là trí tuệ chứng ngộ của Đức Phật, không phải là một tri thức, một kiến thức, một việc học chỉ để hiểu chơi chơi hay học để nói, học để nghiên cứu, không phải như vậy. Và đây chính là đề mục để cho mình quán chiếu.
Mỗi một sự thật này là mỗi đề mục, mỗi trí tuệ để mình thể nhập. Đến lúc nào chúng ta nhìn tất cả những điều này là đất, nước, gió, lửa và nếu mình nhìn được như vậy thì vô minh đã phá được và chỉ nhìn thấy vậy có còn khao khát, tham ái nữa không? Quý vị có dám tới ôm bộ xương không? Như vậy chỉ cần một trí huệ trong đây được chứng ngộ viên mãn là phá hết tham, sân, si, phá hết vô minh và khát ái. Chỉ cần mình nhìn tất cả là đất, nước, gió, lửa và thật sự chứng ngộ trí huệ đó thì vô minh, khát ái bị phá vỡ hết.
Nhưng nếu chúng ta nghe rồi để đó, không thể nhập, không thâm nhập hay chứng nhập hoặc là nghe là học, là nói, suy tưởng, suy diễn mà không để hết tấm lòng tư duy, thể nhập và chứng nhập nên học thì biết vậy nhưng vô thì nói được nhưng trở ra có nhìn thấy được tứ đại không?
Giờ nói về thức ăn, sắc sanh là sao và sắc diệt là sao? Là do thức ăn tập khởi nên sắc tập khởi và do thức ăn đoạn diệt nên sắc đoạn diệt. Tức là, thứ nhất Đức Phật đã nói cho mình tên gọi của cái mà mình cho là mình đó là sắc và nó không phải mình. Thứ hai là Đức Phật cho mình thấy yếu tố tạo thành sắc, đó là trí huệ thứ hai. Thứ ba Đức Phật nói cho mình biết tại sao nó sanh và tại sao nó diệt, nguyên nhân sanh diệt của cái mà mình đang mang.
Như Đức Phật đã nói, có thức ăn nên mình sống, không có thức ăn thì mình chết, đã qua hai ngàn sáu trăm năm rồi, quý vị có thấy có điều gì viễn vong không? Nãy giờ nói có việc nào ngoài tầm hiểu biết của mình không? Mình có thể hiểu, có thể thấy được hay có thể cảm nhận được không? Đức Phật không nói gì xa xôi viễn vong hay ở ngoài con người của mình, chỉ nói về thân xác này, Đức Phật là bậc tối tôn, tối thượng của các nhà khoa học.
1. Bốn loại thức ăn
Đức Phật cho ta biết có ăn thì sống, không ăn thì chết và cho ta biết có mấy loại thức ăn như: ăn múc, ăn gắp, ăn bốc của mình là thức ăn của vật chất, để nuôi thân xác, còn ba loại thức ăn kia…
Mời quý vị ai đứng lên đọc Bốn thức ăn:
“Đoàn thực: Các thức ăn, thức uống cứng mềm, ngon dở là thức ăn vật chất cho thân tứ đại này.
Xúc thực: Sự gặp gỡ nhau là thức ăn tinh thần cho thân ngũ uẩn.
Tư niệm thực: Những tư duy, suy nghĩ khoan khoái, vui thích là thức ăn tinh thần cho thân ngũ uẩn.
Thức thực: Sự biết, sự hay biết, sự rõ biết đưa đến những cảm giác vui thích là thức ăn tinh thần cho thân ngũ uẩn.”
Phải học thuộc bài, nên các vị Trưởng đạo tràng nên thấy rất quan trọng, nếu mình không có nền tảng căn bản, tự thân mình không tu được thì làm sao mình hướng dẫn cho người khác?
Vậy trong thân xác này bao nhiêu thành Phật bao nhiêu bộ phận? Đó là trí tuệ của Đức Phật cho mình thấy.
2. Ba Mươi Hai Thể Trược
Mời một Phật tử đọc quán Ba mươi hai thể trược.
“Lại nữa này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo quán sát thân này, dưới từ bàn chân trở lên, trên cho đến đảnh tóc, bao bọc bởi da và chứa đầy những vật bất tịnh sai biệt: “Trong thân này, đây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, thận, tủy, tim gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bụng, phân, mật, đàm (niệm dịch), mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, nước mủ, ở khớp xương, nước tiểu”.
Có Phật tử nào thuộc quán Chín giai đoạn tử thi không?
“Lại nữa này các Tỷ-kheo,
- Tỷ-kheo như thấy một “thi thể” quăng bỏ trong nghĩa địa một ngày, hai ngày, ba ngày, thi thể ấy trương phồng lên, xanh đen lại, nát thối ra. Tỷ-kheo quán thân ấy như sau: “Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy.” Như vậy, vị ấy sống quán thân trên nội thân… “Có thân đây”, vị ấy an trú chánh niệm như vậy…
- Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thấy một thi thể quăng bỏ trong nghĩa địa bị các loài quạ ăn, hay bị các loài diều hâu ăn, hay bị các chim kên ăn; hay bị các loài chó ăn; hay bị các loài giả can ăn, hay bị các loài côn trùng ăn. Tỷ-kheo quán thân ấy như sau: “Thân này tánh chất là như vậy, bản chất là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy”.
- Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa, với các xương còn liên kết với nhau, còn dính thịt và máu, còn được các đường gân cốt lại;
- ... với các xương còn liên kết với nhau, không còn dính thịt nhưng còn dính máu, còn được các đường gân cột lại,
- ... với các xương còn liên kết với nhau, không còn dính thịt và máu, còn được các đường gân cột lại;
- ... chỉ còn có xương không dính lại với nhau, rải rác chỗ này chỗ kia, ở đây là xương tay, ở đây là xương chân, ở đây là xương ống, ở đây là xương bắp vế, ở đây là xương mông, ở đây là xương sống, ở đây là xương đầu. Tỷ-kheo quán thân ấy như sau: “Thân này…”
- … chỉ còn toàn xương trắng màu vỏ ốc...
- ... chỉ còn một đống xương lâu hơn một năm...
... chỉ còn là xương thối trở thành bột. Tỷ-kheo quán thân ấy như sau: “Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy.”
(Kinh Đại Niệm Xứ – Trường Bộ Kinh)
Thưa đại chúng, chín giai đoạn đó là sự thật hay do Đức Phật đặt ra? Và khi mình ngồi nghiền ngẫm những giai đoạn của sự thật phân hủy tan rã, bại hoại của thi thể này thì lúc đó mình có còn yêu thích, khao khát hay say đắm không? Lúc đó vô minh và tham ái đã được phá ngay. Nãy giờ chúng ta đi sát sườn để phá vô minh và tham ái.
Đức Phật định nghĩa sắc là biến đổi. Tứ đại Đức Phật ví dụ là bốn con rắn độc. Vậy chúng ta thấy có sắc nào không biến đổi dù là quá khứ hiện tại hay vị lai, thắng liệt, thô tế, xa gần, tất cả các sắc đều phải biến đổi, tan hoại, hủy hoại, hoại diệt và tan nát hết, và những cái này đều là sự thật muôn đời không?
Và khi mình ngồi nghiền ngẫm, gặm nhấm, tư duy, quán chiếu chỗ đó thì lòng ham, lòng thích, của mình có được lắng dịu không? Và ánh sáng của sự thật có tỏa chiếu trong tâm mình lúc đó không? Bốn đại này Đức Phật nói giống như người đó bị người ta bắt là phải nuôi bốn con rắn độc: rắn nước, rắn đất, rắn gió và rắn lửa. Và mình phải nuôi nấng, bảo dưỡng, giữ gìn, nhưng bốn con này đánh nhau, chỉ cần nó mổ thôi thì từ chết cho đến gần như chết và người này cứ phải điều dưỡng bốn con rắn này mãi, đến khi điều không được nữa là chết.
Vậy hằng ngày chúng ta có điều dưỡng không? Nếu trong người mình lửa lên cao quá thì sao? Hỏa đại lên cao hay thủy đại lên cao thì sao? Như bị bệnh sốt hay cảm? Nếu trong người mình phong đại (gió) mạnh thì sao? Bị trúng gió, cảm? Cứ như vậy nên mình phải luôn điều hòa hoài, đến khi điều hòa không được nữa thì bệnh chết.
Về thức ăn cũng có bao nhiêu là phiền não, chỉ có nhà bếp thôi cũng rất mệt. Đức Phật đã dạy mình hãy nhờm tởm đối với thức ăn. Thức ăn mình thấy ngon lành, thơm tho như vậy, có sắc, hương, vị như vậy nhưng mình để một thời gian thì nó thành cái gì? Nó trở nên hôi thối, dơ bẩn và khi làm ra nó rồi cũng phiền não vì ăn vô không khéo cũng gây ra phiền não trong cả thân và tâm luôn. Do ăn vô không khéo thì bệnh, bệnh tùng khẩu nhập, hay trong vấn đề khen chê khi ăn, nấu ăn mệt hay quạo làm phiền não thêm nữa.
3. Sự nguy hại của sắc
Đức Phật đã dạy mình phải quán sự nguy hiểm của sắc, thật sự hết sức là nguy hiểm. Nhưng không ai nói cho mình biết thân xác này là nguy hiểm và tác hại. Như bài Sự nguy hại về sắc đã từng được giảng mấy bài thiền quán.
“Này các Tỳ-kheo, cô gái mỹ miều, tươi đẹp ngày xưa còn bây giờ tay chân lêu khêu, run rẩy, tóc bạc, da nhăn, vẻ đẹp mỹ miều trước kia nay đã biến mất và sự nguy hiểm hiện ra. Này các vị, ta nhìn thấy một ông cụ nằm bán thân bất toại, liệt giường, liệt chiếu và ba bốn mươi năm trước là một chàng trai lực lưỡng, cơ bắp, thể hình. Bây giờ là một tấm thân tàn ma dại, liệt giường, liệt chiếu, vẻ đẹp ngày xưa đã biến mất và sự nguy hiểm hiện ra. Khi ta nhìn thấy bà cụ nọ nằm trong đống phân và nước tiểu của chính mình, hôi thối, dơ bẩn và xú uế. Sự thơm tho, sự trẻ trung, sự tươi tắn của ngày xưa nay đã biến mất và sự nguy hiểm hiện ra.”
Khi ngồi lên nằm xuống phải có người đỡ dậy, làm cho con cháu bực bội và chán ghét, cảm thấy vô tích sự, ăn rồi báo hại.
“Này các vị, có phải vẻ đẹp mỹ miều ngày xưa của cô gái ấy nay đã biến mất và sự nguy hiểm hiện ra.
Còn nữa, này các vị, khi ta thấy ông cụ ấy tắt thở, bà cụ kia qua đời, thân thể qua một ngày, ba ngày, bảy ngày thân thể phình trương lên, xanh bầm lại, tím nát ra, xám xịt, nứt nẻ, máu mủ chảy ra, những chất dịch chảy ra. Có phải vẻ đẹp mỹ miều ngày xưa của cô gái, chàng trai kia đã biến mất và sự nguy hiểm hiện ra? Thịt phân hủy ra, dòi bắt đầu ăn và bò lúc nhúc, ăn hai hốc mắt, trong nội tạng, những con dòi bò lúc nhúc, từ từ khô kiệt cho đến còn bộ xương trắng màu vỏ ốc, có phải vẻ đẹp mỹ miều ngày xưa đã biến mất và sự nguy hiểm hiện ra? Bộ xương kia từ một năm, hai năm sụp xuống, vỡ ra, rải rác chỗ này chỗ kia là xương sọ, xương sườn vương vãi, xương ống chân, xương bàn chân, xương hông, một năm, hai năm ba năm nát ra, vụn vỡ ra và cuối cùng trở thành cát bụi, vẻ đẹp mỹ miều ngày xưa nay đã biến mất và sự nguy hiểm hiện ra.”
Đó là sự nguy hiểm của sắc. Chỉ mới có hai giai đoạn trôi qua, già và chết, còn bệnh thì làm sao kể cho hết và chưa nói về sự sống, trong một chuỗi sự sống là bao nhiêu sự tham, sân, si, bao nhiêu những ác nghiệp như: sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, say sưa, nghiện ngập…Đó là những chứng ngộ của Đức Phật về thân xác, thể xác này và chúng ta cần phải thâm nhập, thể nhập và chứng nhập.
4. Vị ngọt của sắc
Nãy giờ Minh Thành nói có gì ngoài sự thật của thân xác này không? Đó đều là lời của Đức Phật chứng ngộ về sắc uẩn. Nhưng chúng ta chỉ thấy được vị ngọt của sắc mà không thấy được sự nguy hiểm của sắc? Thế nào là vị ngọt của sắc?
Phật tử phát biểu:
Thưa sư phụ, vị ngọt của sắc là do duyên sắc khởi lên hỷ lạc gì, hỷ lạc ấy gọi là vị ngọt của sắc. Sự nguy hại của sắc là sự vô thường, khổ, chịu sự biến hoại của sắc đó gọi là sự nguy hại của sắc. Sự xuất ly của sắc là sự nhiếp phục dục và tham, sự đoạn diệt dục và tham đối với sắc chính là sự xuất ly của sắc.
Sư phụ giảng giải:
Nên mình phải thành tựu trí tuệ về sắc, tức là trí tuệ về thể xác này, về những vật chất này, nói đơn giản là trí huệ tự thân của mình. Tại sao thân xác này sanh ra? Tại sao nó phải chết? Vị ngọt của nó là cái gì? Sự nguy hiểm của nó là cái gì? Làm sao để mình thoát ra khỏi sự nguy hiểm đó?
Là do mình tiếp xúc với sắc và khởi lên hỷ lạc là mừng vui, yêu thích, khoan khoái thì đó là vị ngọt của sắc. Nhưng mình chỉ tưởng về vị ngọt mà không nhìn vào góc độ thứ hai hay góc độ khác của nó là sự nguy hiểm. Chính vì vậy mà con ruồi mới chết trong hũ mật, con thêu thân chết trong bóng đèn, cá chết do miếng mồi trong lưỡi câu, con chuột sập bẫy vì thấy vị ngọt trong bẫy đó. Do thấy miếng mồi ngon trong lưỡi câu nhưng không thấy lưỡi câu, chỉ thấy vị ngọt của miếng mồi hay mùi thơm trong bẫy đó hấp dẫn nó với sắc, hương, vị nên cuối cùng nó chết vì đó.
Chúng ta có bị chết trong hũ mật không? Bị chết mấy chục năm rồi hay vô lượng vô biên kiếp? Sắc này không phá nó thì thọ, tưởng, hành, thức không đi ra được. Vì cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức của mình chạy lòng vòng trong sắc này, nên nếu sắc chưa phá thì thọ, tưởng, hành, thức không phá được.
Chúng ta chết trong vị ngọt đó. Khi Minh Thành đi đường thì thấy hai bên đường đều là các quảng cáo đều là các vị ngọt, ngay cả trong đại tạng kinh mình lâu lâu mở cũng quảng cáo những gì, đều là vị ngọt thôi. Những hình ảnh, những màu sắc, âm thanh, quảng bá vị ngọt, giống như cho vay nóng, chỉ cần alo là có tiền ngay, sau đó là nguy hiểm hiện ra. Chúng ta phải thành tựu trí huệ này, phải đem nó ứng dụng vào khắp tất cả sinh hoạt hằng ngày của mình.
Vừa rồi khóa tu tại chùa Hoằng Pháp Minh Thành đọc bài kinh Xúc Chạm, tức ai nhìn thấy là an ổn, là thường còn, là vui sướng, thì người đó làm cho ái tăng trưởng, ai nhìn thấy đó là bất an, là vô thường, là đáng sợ hãi thì người đó đi đến chỗ chấm dứt ái, mà chấm dứt ái là chấm dứt khổ đau. Giờ nếu chúng ta chỉ nhìn thấy vị ngọt của sắc không thì ái tăng trưởng, dục tăng trưởng, tham tăng trưởng, lòng bám chấp, chấp thủ, nắm chặt càng kiên cố, thì làm sao chúng ta giải thoát, xuất ly, thoát ra khỏi sắc?
Có ai nghĩ rằng, trong nhà ngủ thức dậy là gia đình của mình mất một người thân? Có ai nghĩ rằng ngày mai mình không còn sống nữa? Như có tin tức hỏa hoạn làm chết năm người cháy trong nhà, hay như tin tức hai mươi mấy người về tết tây vừa rồi bị thương và chết. Làm sao người ta nghĩ là người ta sẽ chết? Họ chỉ thấy vị ngọt.
5. Các phép quán để thành tựu trí huệ về sắc uẩn
Nên để mình thành tựu được trí huệ về sắc, Đức Phật dạy mình sáu khía cạnh để tu tập: niệm hơi thở, niệm oai nghi, niệm hành động, niệm tứ đại, niệm ba mươi hai thể trượt, miện chín giai đoạn tử thi. Đây là sáu pháp mới có thể chinh phục được sắc, nếu không thì sắc sẽ chinh phục hết tất cả chúng sanh, trong cả dục giới và sắc giới.
Giờ nói rộng ra một chữ có thể bao hàm cả vũ trụ. Trong sắc này có sắc đẹp và sắc xấu, thù thắng và hạ liệt do ác nghiệp và thiện nghiệp biểu hiện ra sắc thân nên chúng ta ngồi ở đây, mặt ai cũng không giống ai. Do sắc mỗi người mỗi khác, cùng là tứ đại, cùng là do thức ăn, nhưng mỗi sắc biểu hiện ra khác nhau. Nhưng chúng ta nhìn thấy những sắc khác.
Như con muỗi đang bay lòng vòng chung quanh mình có phải là sắc không? Là sắc và nó cũng có thọ, tưởng, hành, thức, là một ngũ uẩn, bây giờ ác nghiệp của nó là phải đi hút máu người ta để sống. Đó là sắc hạ liệt, như con dòi, con kiến, con gián, con chuột cống, con mèo, con chó ghẻ. Có những con chó ở nước ngoài có khách sạn, bệnh viện, được cắt móng và được đi tắm, tính tiền là chục đô, trăm đô, và người ta nói chó ở nước ngoài sướng, sướng hơn cả người nghèo.
Nhưng chó thì vẫn là chó, làm sao nói chó sướng hơn người được? Dù cho sướng cỡ nào thì nó cũng là con chó thôi, có ai thấy con chó sướng rồi muốn làm giống nó không? Vậy mà ngày xưa đã có những người ngoại đạo tu hành con chó. Chúng ta thấy nghiệp thức chúng sanh đó có lạ lùng không? Họ tập đi bằng bốn chân, rồi tập sủa và ăn những thứ dơ bẩn mà ngay bây giờ, ở thời nay cũng có người làm giống như con chó vì họ thích hay muốn vậy.
Rồi chúng ta thấy đến loài rắn, có bao nhiêu loài rắn độc hay rắn không độc, đến loài gà, trâu, bò… có rất nhiều loài. Mình nói để các vị mới hiểu được vấn đề là mình chọn lựa sắc mình muốn và mình có quyền chọn lựa. Sắc màu đen toàn bộ là của địa ngục, hoàn toàn không có màu trắng, sắc này đau khổ, khủng khiếp. Sắc có pha đen nhiều hơn trắng là ngạ quỷ, cô hồn, đói khát, lang thang, vất vưởng, khổ sở, lúc nào cũng đói, rên, quằn quại, đau đớn.
Trong kinh có kể lại các câu chuyện của Ngài Mục-kiền-liên đi từ trên núi xuống Ngài thấy, trong Tương ưng Lakkhana.
“1) Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người đàn bà cằn cỗi, khô héo, dính đầy than mồ hóng, đang đi trên hư không... Người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
2) Người đàn bà ấy, này các Tỷ-kheo, là đệ nhất phu nhân của vua xứ Kalinga. Bà ta vì ghen tức nên đã đổ lò than hồng lên trên một vương nữ khác.”
(Tương ưng bộ kinh tập II. Thiên nhân duyên, Chương VIII. Tương ưng Lakkhana, I. Phẩm thứ nhất, Bài kinh Người Đàn Bà Khô Héo Đã Rải Than Đỏ trên Một Người Đàn Bà Khác)
Một bộ xương đi trong hư không, không trung kêu quằn quại, có những cục than đỏ đổ trên người nên nó kêu la thảm thiết, Ngài Mục-kiền-liên mới nhìn thấy đời trước của bộ xương đó là một đệ nhất phu nhân vì ghen đã đổ lửa than lên người thứ phi nên đời này sanh thành loại ngạ quỷ, cô hồn chịu cảnh khổ như vậy.
Còn rất nhiều người như tỳ kheo, tỳ kheo ni bị lửa cháy chung quanh y tăng-già-lê kêu la thảm thiết, từ thời Đức Phật Ca-diếp chúng ta thấy rất khủng khiếp và chúng ta không thể tưởng tượng nổi những ác nghiệp của chúng sanh. Hay như những người mổ heo, mổ bò xuống địa ngục sau đó mới lên làm loài ngạ quỷ, sau đó lên làm súc sanh, thú vật, rồi từ từ hết nghiệp mới lên làm người, khi làm người thì những dấu vết của thú vật vẫn còn, vẫn chưa hết. Chúng ta có nhìn thấy những người có cả một vết bớt lớn, cũng có những người mình nhìn thấy không giống con người, họ hung hăn, hung bạo, hung tàn, hung dữ. Những ác nghiệp sân khí sâu nặng của súc sanh còn, nhưng người này trở lại làm người nhưng không biết tu thiện, tích phước hay tu tập nên khi chết có thể rơi, thoái đọa vào chỗ âm u, tăm tối hơn nữa.
Vậy nên có những khi Minh Thành nghe tiếng chó sủa cảm thấy rất xót xa, từ tâm sân thành nên thân lông lá như vậy, tiếp tục với thân sân hận, thì đời sau cũng tiếp tục dài dài với thân như vậy, không biết khi nào ra. Chúng ta thấy sắc này rất đa dạng, không phải chỉ một chữ sắc mà Đức Phật chứng ngộ như vậy nhưng trùm hết Trái Đất này, trùm hết cả lục đạo chúng sanh ngũ thú, năm đường. Một chữ sắc nhưng chứa đựng sự chứng ngộ không hề bình thường của Thế Tôn.
Đó là đen pha trắng và nếu đen pha với trắng vừa vừa thì mới có thể làm người ngồi tại đây. Về con người thì chúng ta thấy bao nhiêu hạng người, bao nhiêu loại người và bao nhiêu những nghiệp khác nhau?
Có câu chuyện cậu con trai bị nghiện ma túy, cậu ấy về nhà lục tìm tiền của người mẹ nhưng người mẹ bị tai biến, nhưng bị nhẹ và đã qua khỏi được một lần. Người mẹ cất giữ được năm trăm đô Mỹ, cậu này lấy bước đi và người mẹ chạy theo, tức tối và la lối, cậu ta hất bà làm bà tức quá bị tai biến lần 2 nằm suốt 18 năm. Có người thì bị xiềng xích mấy chục năm, mặc đồ gì vào cũng xé hết. Đôi lúc chúng ta đi ngoài đường thấy có những người đầu bù tóc rối, mặt lem luốc, quần áo tả tơi, rồi lúc cười lúc chửi, chỉ chỏ một mình ngoài đường. Hay những trường hợp sanh ra bị bỏ hố gas, bị bỏ thùng rác, bỏ trước cổng chùa, hay thậm chí sanh ra rồi giết đi, lấy gối đè chết, dù đó chính là mẹ giết con, thậm chí chưa sanh đã chết… Vô lượng những ác nghiệp biểu hiện khắp thế gian này, đó là sự nguy hiểm và tác hại.
6. Thập thiện nghiệp
Nếu thuần trắng không là các cảnh giới của chư thiên, thiên là thiện, thiện rồi thập thiện, thân ba miệng bốn, ý ba.
Mời quý Phật tử nào nói về Thập thiện. Mình không đọc hết mà chỉ đọc phần chính thôi.
Phật tử phát biểu:
“Tự mình từ bỏ sát sanh, không khuyến khích người khác sát sanh, không tùy thuận sát sanh, không tán thán sát sanh.
Tự mình từ bỏ lấy của không cho, không khuyến khích người khác lấy của không cho, không tùy thuận lấy của không cho, không tán thán lấy của không cho.
Tự mình từ bỏ tà hạnh trong các dục, không khuyến khích người khác tà hạnh trong các dục, không tùy thuận tà hạnh trong các dục, không tán thán tà hạnh trong các dục.
Tự mình từ bỏ nói láo, không khuyến khích người khác nói láo, không tùy thuận nói láo, không tán thán nói láo.
Tự mình từ bỏ nói hai lưỡi, không khuyến khích người khác nói hai lưỡi, không tùy thuận nói hai lưỡi, không tán thán nói hai lưỡi.
Tự mình từ bỏ nói lời thô ác, không khuyến khích người khác nói lời thô ác, không tùy thuận nói lời thô ác, không tán thán nói lời thô ác.
Tự mình từ bỏ nói lời phù phiếm, không khuyến khích người khác nói lời phù phiếm, không tùy thuận nói lời phù phiếm, không tán thán nói lời phù phiếm.
Tự mình từ bỏ tham, không khuyến khích người khác tham, không tùy thuận tham, không tán thán tham.
Tự mình từ bỏ sân tâm, không khuyến khích người khác sân tâm, không tùy thuận sân tâm, không tán thán sân tâm.
Tự mình có chánh kiến, khuyến khích người khác có chánh kiến, tùy thuận có chánh kiến, tán thán có chánh kiến.
Thành tựu với Bốn mươi pháp này, này các Tỳ-kheo, như vậy đã sanh lên thiên giới.”
Sư phụ giảng giải:
Đó là hoàn toàn trắng. Chúng ta thấy dễ hay khó, muốn giữ được như vậy mới sanh được chư thiên thôi. Tại sao vậy? Vì quan trọng là chỗ mà tâm mình hướng về cái gì, có hướng viễn ly sắc, xuất ly sắc hay không?
Đối với nghiệp bất động, tức là các cảnh giới thiền định, các vị này ưa thích ở trong thiền định, không ưa thích sắc, dục, các vị này có nghiệp bất động. Tứ thiền bát định và trú trong đó, nên ác hạnh, thiện hạnh, bất động hạnh. Người không ưa thích sắc này nên nhàm chán, vượt ra khỏi, đó gọi là xuất ly khỏi sắc, các bậc Chánh đẳng chánh giác và các bậc A-la-hán cũng như các bậc dự lưu, bốn đôi tám chúng.
Chúng ta thấy được điều gì? Mình vô minh đối với sắc, tham ái đối với sắc, vì mình không biết mình là sắc và cũng không biết sắc đó từ những yếu tố gì kết hợp, mình cho sắc đó là mình. Tiếp theo là mình không biết sự sanh diệt của nó, vị ngọt, sự nguy hiểm, thoát ra khỏi nó, mình không biết sắc này là bao nhiêu thứ kết hợp lại thành ba mươi hai thể trượt, mình không biết cứu cánh bất tận của sắc, tức là cội nguồn tận cùng không sạch sẽ, mà mình chỉ nhìn bề ngoài, nhìn vào vị ngọt, dáng, biểu hiện, sự lòe loẹt trên sắc tướng. Như vậy là mình không thấy, không biết, không rõ, không hiểu, không thấu đáu về nó nên mình ưa thích nó và bị nó hại, mình đau khổ vì nó.
7. Thân vô chủ
Mời đại chúng đọc bài Thân vô chủ.
“Thân này là vô thường đi đến hoại diệt,
Thân này là vô khổ vô chủ,
Thân này là vô sở hữu, ra đi bỏ lại tất cả
Thân này là thiếu thốn, là khao khát, là nô lệ cho tham ái,”
Sư phụ giảng giải:
Thân là chữ sắc ở đây, biến đổi vô thường, không có gì bảo hộ, không có gì là chủ, lúc nào cũng thiếu thốn, lúc nào cũng khát khao, cũng thèm muốn, làm nô lệ cho sự ham thích. Khi mình nhìn thấy được bản chất, sự thật về sắc, thì mình mới bắt đầu có được sự đề phòng, thận trọng, dò xét, quán sát, nhiếp phục và chế ngự. Chúng ta thấy sắc làm đau khổ cho bao nhiêu người trên hành tinh này và mình có phải là nạn nhân của sắc không?
Hãy thực tập nhàm chán với sắc, nhất hướng nhàm chán, viễn ly, ly tham, đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Đại chúng có thấy xanh, vàng, đỏ, tím gì ở đây không? Nên phải giảm thiểu sắc, đừng cho tăng trưởng sắc. Người tu theo đường lối của Đức Phật là làm cho sắc giảm thiểu, không làm cho sắc tăng trưởng. Các cô nhìn đây xem có nhiều màu không? Đó là làm cho sắc giảm thiểu. Nhìn xem Linh Quy Pháp Ấn có giống với chùa bình thường không? Vì không có gì hết, mà chỉ có pháp thôi. Như Đức Phật đã dạy: “Ai thấy pháp thì người đó thấy ta. Ai thấy ta người ấy thấy pháp.”
“1) Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
2) Lúc bấy giờ, Tôn giả Vakkali trú tại nhà một thợ gốm, đang bị bệnh, đau đớn, trầm trọng.
3) Rồi Tôn giả Vakkali gọi những người thị giả:
- Đến đây, các Hiền giả! Hãy đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nhân danh ta cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và thưa: "Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Vakkali bị bệnh, đau đớn, trầm trọng; (Vakkali) cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và thưa: ‘Lành thay, bạch Thế Tôn, Thế Tôn vì lòng từ mẫn hãy đi đến Tỷ-kheo Vakkali."
4) Thưa vâng, Hiền giả.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Vakkali, đi đến Thế Tôn; sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
- Tỷ-kheo Vakkali, bạch Thế Tôn, bị bệnh, đau đớn trầm trọng. Vị ấy cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và có thưa như sau: "Lành thay, bạch Thế Tôn!Thế Tôn vì lòng từ mẫn hãy đi đến Tỷ-kheoVakkali ".
5) Thế Tôn im lặng nhận lời.
6) Rồi Thế Tôn đắp y, cầm y bát, đi đến Tỷ-kheo Vakkali.
7) Tôn giả Vakkali thấy Thế Tôn từ xa đi đến, thấy vậy liền cố gắng từ giường ngồi dậy.
8) Thế Tôn nói với Tôn giả Vakkali:
- Thôi Vakkali, Ông chớ có cố gắng từ giường ngồi dậy. Có chỗ ngồi đã soạn sẵn, Ta sẽ ngồi trên chỗ ngồi ấy. Rồi Thế Tôn ngồi xuống trên chỗ ngồi đã soạn sẵn.
9) Sau khi ngồi, Thế Tôn nói với Tôn giả Vakkali:
- Ông có kham nhẫn được không? Ông có chịu đựng được không? Có phải khổ thọ tổn giảm, không tăng trưởng? Có phải có những dấu hiệu tổn giảm, không phải tăng trưởng?
- Bạch Thế Tôn, con không có thể kham nhẫn! Con không có thể chịu đựng! Khổ thọ kịch liệt tăng trưởng nơi con, không có tổn giảm. Có những dấu hiệu tăng trưởng, không có tổn giảm.
10) Này Vakkali, Ông có gì phân vân, hối hận không?
- Bạch Thế Tôn, thật sự con có nhiều phân vân, có nhiều hối hận!
11) Này Vakkali, Ông có gì tự trách mình về giới luật không?
- Bạch Thế Tôn, con không có gì tự trách mình về giới luật.
12) Này Vakkali, nếu Ông không có gì tự trách mình về giới luật, vậy Ông có gì phân vân, có gì hối hận?
- Đã từ lâu, bạch Thế Tôn, con muốn đến để được thấy Thế Tôn. Nhưng thân con không đủ sức mạnh để được đến thấy Thế Tôn.
13) Thôi vừa rồi, này Vakkali, có gì đáng thấy đối với cái thân hôi hám này. Này Vakkali, ai thấy Pháp, người ấy thấy Ta. Ai thấy Ta, người ấy thấy Pháp. Này Vakkali, đang thấy Pháp, là thấy Ta. Đang thấy Ta, là thấy Pháp.”
(Tương ưng bộ kinh tập III. Thiên uẩn, Chương I. Tương ưng uẩn, Phần 22B. Năm mươi kinh ở giữa, IV. Phẩm trưởng lão, Bài kinh Vakkàli)
Đức Phật của chúng ta hết sức bình thường, bình dị, đơn giản nhưng vì lòng tôn kính, ái mộ của người sau này nên gắn cho Ngài rất nhiều hào quang, như trong kinh có lúc nào đề cập đến Ngài ngồi trên bông sen không? Mà Ngài ngồi trên cỏ.
Phải thấy được pháp, pháp chính là cục thịt mà mình đang mang, thấy được sự thật của nó là thấy pháp, thấy được tính chất nguy hiểm của nó. Sau này Minh Thành muốn làm cái bảng đeo, ghi rằng “Đầu sọ hai cục xương. Nguy hiểm chết người.” Sắc này là hiểm nguy, tai họa, giết người và thật sự là vậy. Chính vì sự đam mê ái luyến, tham đắm vô minh, tham ái trong đống này làm mình không đi ra được, suốt ngày mình không đi ra khỏi thân kiến, mình chỉ nghĩ lòng vòng hình bóng này trong tâm, khi mình học qua tới tưởng, hình bóng lờ mở gương mặt mốc của mình hiện ra trong tâm, to tướng bên trong đó.
8. Sự nguy hiểm của sắc 2
Nên phải thường xuyên nhớ đến sự nguy hiểm của thân xác này, đều là nguy hiểm, tai họa, sự đau khổ, sự bệnh hoạn, phiền não của thân này. Chiều hôm qua đang khát nước nên lấy trái nho ăn nên bị nấc cục, Minh Thành đi vòng vòng thiền hành cảm thấy ngao ngán rất nhiều suốt mấy tiếng đồng hồ, cảm thấy mệt mỏi với thân xác này, phiền phức, chán nản và không ưa thích thân này. Cứ phải mang vác gánh nặng, đói chút rồi cũng mệt, no chút cũng mệt, ăn no cũng mệt, rất nhiều chuyện, bày trò. Ngồi lâu một chút cũng mệt, nằm hoài cũng khó chịu, đi đứng thì mỏi, mỗi lần như vậy nên phát tâm nhàm chán, không ưa thích nữa.
Như bài mình đã học – Nuôi dưỡng tâm viễn ly, tâm xuất ly, cuối cùng là xuất ly thân kiến, không ưa thích thân xác như vậy nữa. Lòng vòng trong tham, sân, si mãi, trong bản ngã mãi, cứ lòng vòng mãi mà không biết chán, rồi hờn giận, phiền bực, hơn thua, móc méo, thị phi. Yên ổn không muốn mà muốn kiếm chuyện, có kiếm chuyện không? Sắc, thọ, tưởng, hành thức cứ kiếm chuyện, gây sự. Hãy tập nhàm chán nó, rời xa nó, đừng chỉ chạy lòng vòng cây cột mà phải rời khỏi, cắt sợi dây đó ra.
Minh Thành nói để chúng ra nhìn những người tu, người cư sĩ, như các sư cô cạo đầu vậy thì “Đầu sọ khô cài tram giắt ngọc” nữa không? Vua Trần Thái Tông đã sáng tác bài Rộng nói về sắc thân:
“Đầu sọ khô cài trâm giắt ngọc,
Túi da hôi ướp xạ xông hương,
Cắt lụa là che đậy máu tanh,
Dồi son phấn át thùng phân thối.”
Giờ đã cạo đầu thì cài trâm, giắt ngọc gì nữa? Đó là viễn ly sắc, như người tu chỉ mặc áo vàng hay áo nâu, đó là viễn ly sắc, hoại sắc. Nên mình tu cứ châm chước hoài cho chùa thì hãy xem chừng, có thể không đi đúng đường của Đức Phật. Tu là làm cho sắc đi đến chỗ giảm thiểu, cạn kiệt, xuất ly ra khỏi sắc.
Cô trưởng đạo tràng Nikāya ở Nha Trang có điện thoại và cách đây vài ngày Minh Thành nghe tin con của cô đã qua đời, Minh Thành rất bất ngờ, vì người đó còn rất trẻ, bị té xuống giết mất nhưng người nhà không hay, mấy ngày sau mới phát hiện thì thân xác đã phân hủy. Một điều đặc biệt là cô bình thản, chánh niệm, những người đi đến thăm trong đạo tràng hỏi sao cô bình thản quá. Thì cô trả lời là đúng vậy, hằng ngày cô quán chiếu về chín giai đoạn của một tử thi, mỗi ngày như vậy nên giờ đó là sự thật hiện ra trong người thân của mình. Và khi nói chuyện với Minh Thành cũng rất chánh niệm bình thản. Người con chỉ mới ba mươi mấy tuổi thôi.
Người cô đó nói “Thưa thầy mỗi ngày con đều có quán Chín giai đoạn của một tử thi, nên giờ này người thân thương nhất trong gia đình đã đi, đúng như những gì Đức Phật đã dạy. Điều đó chứng minh pháp, sự thật của Đức Phật!”
Khi Minh Thành nghe rất hoan hỷ, tuy là chuyện buồn, người ra đi đã ra đi nhưng mình hoan hỷ với sự tu tập có được thành tích thiết thực như vậy. Giống như bà Năm ở đây. Hằng ngày Minh Thành đã quán chiếu niệm tử trong mỗi giờ nên khi bà Năm ra đi thì Minh Thành đã niệm hằng ngày, hằng giờ chính vì vậy lúc đó Minh Thành chánh niệm. Và nếu mình không niệm tử thì người thân, mẹ của mình chết trên tay mình thì quý vị nghĩ sao? Mình có bình tĩnh được không? Chánh niệm được không?
Nên đó chính là điều chúng ta cần phải tu tập, rất rất cần thiết để thực tập vì khi hữu sự xảy ra thì chúng ta mới sử dụng được, trí tuệ đó, thấy biết đó, thực chứng, thực nghiệm, hiện thực đó xảy ra trên thân thể của chúng ta và những người thân yêu nhất của chúng ta. Chúng ta phải nhớ năm điều cần quán sát. Những người thân ái nhất của mình rồi cũng ra đi, sẽ từ bỏ, thân của chúng ta còn vậy nên huống hồ chi những người khác.
Nên hãy siêng năng, đệ tử Gotama luôn luôn tự tỉnh giác, bất kể ngày hay đêm, quán sắc thân thường niệm.
Minh Thành hỏi cô vậy khi cô ho có thấy khổ không?
Phật tử đáp: Dạ có.
Phải kiềm hãm lại, dù mình không muốn. Nhưng nó không cho, nó kêu phải ho nên mình ráng kiềm nhưng cũng phải ho. Đó là khổ, mang thân này sướng không? Mỗi lần nó bệnh, đau lên thì quán chiếu như vậy, tác ý, từ từ thì mình mới thể nhập trí huệ thân hình niệm. Hãy nhớ, mỗi ngày tác ý tám tiếng, nhiều hơn càng tốt, có cơ hội là nắm bắt tác ý liền.
Khi lên ăn cũng không ham thích hay khoái món ăn này làm chi, vì mình ưa thích món ăn này thì làm ra thân xác nữa, ăn gì và phải ăn để sống, đi đến chỗ chấm dứt hoàn toàn tất cả các thức ăn. Không phải ưa thích, đam mê các món ăn, thèm thuồng, khao khát món ăn mà ăn là vi ăn để giữ sinh mạng này để đi đến chỗ không còn ăn nữa, đoạn tận tất cả các thức ăn.
Sử dụng những sắc này không hoan hỷ, không an trú, không đắm trước, không khoan khoái, mà sử dụng những sắc này để đi đến chỗ đoạn tận tất cả các sắc, viễn ly sắc, xuất ly sắc, không đam mê, thích thú, khoan khoái, mong chờ, ao ước, không hy vọng trong sắc. Một ao ước, hy vọng xa rời khỏi sắc, thoát ra khỏi sắc, chấm dứt tất cả các sắc. Sanh lên tất cả cảm thọ không ưa thích, không khoan khoái, không ham muốn dù là cảm thọ sung sướng. Mong muốn đến chỗ lắng dịu hoàn toàn, tất cả các cảm thọ, hướng đến chỗ nhàm chán các cảm thọ, ly tham, chấm dứt, hướng đến từ bỏ tất cả các cảm thọ. Đây là chỗ thâm sâu của Đức Phật, xuất ly ngũ uẩn.
Chúng ta bị sắc áp đảo, xâm chiếm, chinh phục, hãm hại, đài đọa, làm nô lệ cho sắc, bị đè bẹp, bị thứ vô thường, bất tịnh, biến hoại, tan nát, làm cho sầu bi, khổ, ưu não vô lượng vô biên kiếp. Đừng ham thích, ưa thích, hãy nhàm chán nó.
Sống như lửa cháy đầu, cầu chứng cảnh bất động.
Xin đại chúng an trú trong cảm thọ này, duy trì cảm thọ này sâu sắc, liên tục giữ gìn. An trú vào cảm thọ này, nhìn sâu sắc vào bản chất của sắc thân này, thực tập, quán chiếu, chúng ta đi thiền hành trở về chỗ nghỉ của mình trong sự an trú và giữ vững cảm thọ này. Đó chính là hồi hướng cao thượng.
-Thích Minh Thành-
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Sự chứng ngộ của Đức Phật với Ngũ uẩn PAGEREF _Toc62032323 \h 1
II. Phân tích sắc uẩn PAGEREF _Toc62032324 \h 3
1. Bốn loại thức ăn PAGEREF _Toc62032325 \h 5
2. Ba Mươi Hai Thể Trược PAGEREF _Toc62032326 \h 6
3. Sự nguy hại của sắc PAGEREF _Toc62032327 \h 8
4. Vị ngọt của sắc PAGEREF _Toc62032328 \h 9
5. Các phép quán để thành tựu trí huệ về sắc uẩn PAGEREF _Toc62032329 \h 11
6. Thập thiện nghiệp PAGEREF _Toc62032330 \h 13
7. Thân vô chủ PAGEREF _Toc62032331 \h 15
8. Sự nguy hiểm của sắc 2 PAGEREF _Toc62032332 \h 18
I. Sự chứng ngộ của Đức Phật với Ngũ uẩn
Kính thưa quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng, hôm nay chúng ta tổng kết lại những lời dạy của Đức Phật, chúng ta xâu kết lại trong pháp học và pháp hành đối với trí tuệ năm uẩn. Minh Thành muốn chúng ta có một cái nhìn tổng quát về toàn bộ những lời dạy của Thế Tôn. Để mình biết được thật sự Đức Phật biết những gì, dạy những gì, thực hành như thế nào và chúng ta đang ở đâu trong những lời dạy đó, chúng ta hiểu như thế nào, hiểu chính xác những gì bậc chí chơn Chánh Đẳng Giác đã truyền trao.
Khi Bồ Tát Tất-đạt-đa vừa chứng ngộ trí huệ tối thượng dưới cội bồ đề Ngài thốt lên:
“153. Lang thang bao kiếp sống
Ta tìm nhưng chẳng gặp,
Người xây dựng nhà này,
Khổ thay, phải tái sanh.
154. Ôi! Người làm nhà kia
Nay ta đã thấy ngươi!
Ngươi không làm nhà nữa.
Đòn tay ngươi bị gãy,
Kèo cột ngươi bị tan
Tâm ta đạt tịch diệt,
Tham ái thảy tiêu vong.
(Kinh Pháp Cú – Phẩm Già)
Tức là, ta đã lang thang trong vòng luân hồi này, trải qua vô số kiếp, ta đi tìm mãi, tìm mãi mà không gặp được tác giả, người làm nên căn nhà này. Căn nhà là thân tâm, tác giả thật sự làm nên thân thể hình hải và tâm thức này, cứ lặp đi lặp lại trong đời sống sanh già, bệnh, chết, tham, sân, si. Quả thật là mệt mỏi, quả thật là phiền não. Này hỡi kẻ làm nhà kia, nay ta khám phá ra ngươi rồi, tác giả thật sự đã dựng lên căn nhà thân tâm này ta đã khám phá ra ngươi rồi, từ đây ngươi không còn cất nhà cho Như Lai được nữa. Tất cả sườn nhà đều gãy đổ, kèo cột bị phá tan hết, mỗi ái dục Như Lai đã đoạn trừ, Như Lai đã chứng quả vô sanh bất diệt.
Chúng ta thấy đây là một điều gì? Đây là lời cảm xúc khi vừa mới thành đạo, các câu nói này tuyệt đối quan trọng. Tác giả thật sự, thủ phạm thật sự, nguyên nhân thật sự để kết thành đời sống của tham, sân, si, sầu bị, khổ, ưu não. Ta lang thang bao kiếp sống, ta tìm hoài không gặp. Nên phải đau khổ, tái sanh mãi, sống rồi chết, chết rồi sống. Giờ Ngài đã tìm ra được, thấy được rồi, vì đã đập phá hết tất cả sườn nhà, kèo cột, đòn tay. Tham ái hãy tiêu vong, tâm Ngài đạt được tịch diệt, hoàn toàn vắng lạnh.
Giờ chúng ta nhìn lại chúng ta, tại sao chúng ta có mặt ở đây? Khi chúng ta nhắm mắt thì chúng ta đi đâu? Mục đích thật sự của cuộc sống này là gì? Chúng ta sanh ra để làm gì? Những câu hỏi này trừ bậc Chánh Đẳng Chánh Giác ngoài ra không một ai có thể trả lời một cách thấu đáu hoàn toàn triệt để.
Minh Thành mời đại chúng đọc Bốn Thánh trí về ngũ uẩn:
“Sự chấp thủ ngũ uẩn là phiền não và khổ đau.
Ngũ uẩn sanh khởi là do vô minh và khát ái,
Ngũ uẩn diệt tận là khi hết vô minh và hết khát ái,
Bát Chánh Đạo là phương pháp đúng đưa đến tẩy sạch vô minh và khát ái đối với ngũ uẩn.”
“Sự chấp thủ ngũ uẩn là phiền não và khổ đau.” Vậy chúng ta có đang chấp thủ không? Hay chúng ta có đang bị phiền não, khổ đau không? Ngũ uẩn sanh là do gì? Do vô minh và khát ái. Vô minh là không sáng, không thấy biết, không rõ biết đúng sự thật, mà chúng ta vô minh đối với gì? Dựa vào câu hỏi rất đơn giản: “Mình là cái gì?” Nếu mình chưa học ngũ uẩn thì người khác hỏi mình là cái gì thì mình trả lời ra sao? Hay mình chưa biết gì về Phật pháp, chưa học về ngũ uẩn thì người khác hỏi “Anh là ai? Anh là cái gì?” Thì mình chỉ trả lời: “Tôi là tôi! Tôi là thân mấy chục kí này!”
Nên vô minh làm mình không biết mình là gì. Nếu như các sư cô, các thầy không cạo đầu đi tu, không học pháp thì người ta hỏi “Thầy là gì?” thì mình nên trả lời sao? Có phải mình trả lời là “Mấy chục kí này là tôi không?” nhưng mình vẫn chưa biết đó là sắc, chúng ta thấy không?
II. Phân tích sắc uẩn
Minh Thành sẽ phân tích cho quý vị biết, giá trị của vô minh và khát ái, nó không bình thường khi đọc như vậy, đây là thành quả chứng ngộ của Đức Phật. Chúng ta không biết đó là sắc và nhận đó là mình nên việc chứng ngộ của Đức Phật là thấy biết, toàn vẹn, rõ ràng, rành rẽ tất cả mọi góc độ, khía cạnh về chính mình mà không phải thấy về một cái gì khác. Sự chứng ngộ của Đức Phật cho chúng ta thấy mình gồm năm tổ hợp, nhóm thứ nhất là sắc, nên chúng ta mới thấy được giá trị của hợp ngũ uẩn. Nếu không chúng ta cứ học sắc, thọ, tưởng, hành, thức mà mình không thấy được đó là sự đại triệt đại ngộ của Thế Tôn. Sắc này mình không biết mà mình cứ cho đó là mình, đó là lớp thứ nhất. Lớp thứ hai là mình không biết được sắc đó do cái gì tác thành hay kết hợp, thì Đức Phật cho mình biết sắc là do bốn đại. Đức Phật cho mình thấy tất cả khía cạnh, góc độ của thân xác này.
Minh Thành xin mời một vị đọc Bảy trí về sắc:
“Bốn đại chủng và sắc do bốn đại chủng tạo thành. Đây được gọi là sắc.
Sắc sanh: do thức ăn tập khởi nên sắc tập khởi.
Sắc diệt: do thức ăn đoạn diệt nên sắc đoạn diệt.
Sắc diệt đạo: con đường đưa đến sắc đoạn diệt là con đường Thánh đạo Tám ngành, tức là Chánh Tri Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm, Chánh Định.
Vị ngọt của sắc: do duyên sắc khởi nên lạc hỷ gì, lạc hỷ này là vị ngọt của sắc.
Sự nguy hại của sắc: sự vô thường, khổ, chịu sự biến hoại của sắc, đó là nguy hại của sắc.
Sự xuất ly của sắc: sự nhiếp phục dục và tham, sự đoạn tận dục và tham đối với sắc, đây là sự xuất ly của sắc.”
Lúc sáng chúng ta đã nói sơ lược về tứ đại, Đức Phật cho chúng ta biết, thể xác, hình hài, sắc thân, cơ thể này cái gì tạo thành nó và chúng ta nên nhớ là những cái này là trí tuệ chứng ngộ của Đức Phật, không phải là một tri thức, một kiến thức, một việc học chỉ để hiểu chơi chơi hay học để nói, học để nghiên cứu, không phải như vậy. Và đây chính là đề mục để cho mình quán chiếu.
Mỗi một sự thật này là mỗi đề mục, mỗi trí tuệ để mình thể nhập. Đến lúc nào chúng ta nhìn tất cả những điều này là đất, nước, gió, lửa và nếu mình nhìn được như vậy thì vô minh đã phá được và chỉ nhìn thấy vậy có còn khao khát, tham ái nữa không? Quý vị có dám tới ôm bộ xương không? Như vậy chỉ cần một trí huệ trong đây được chứng ngộ viên mãn là phá hết tham, sân, si, phá hết vô minh và khát ái. Chỉ cần mình nhìn tất cả là đất, nước, gió, lửa và thật sự chứng ngộ trí huệ đó thì vô minh, khát ái bị phá vỡ hết.
Nhưng nếu chúng ta nghe rồi để đó, không thể nhập, không thâm nhập hay chứng nhập hoặc là nghe là học, là nói, suy tưởng, suy diễn mà không để hết tấm lòng tư duy, thể nhập và chứng nhập nên học thì biết vậy nhưng vô thì nói được nhưng trở ra có nhìn thấy được tứ đại không?
Giờ nói về thức ăn, sắc sanh là sao và sắc diệt là sao? Là do thức ăn tập khởi nên sắc tập khởi và do thức ăn đoạn diệt nên sắc đoạn diệt. Tức là, thứ nhất Đức Phật đã nói cho mình tên gọi của cái mà mình cho là mình đó là sắc và nó không phải mình. Thứ hai là Đức Phật cho mình thấy yếu tố tạo thành sắc, đó là trí huệ thứ hai. Thứ ba Đức Phật nói cho mình biết tại sao nó sanh và tại sao nó diệt, nguyên nhân sanh diệt của cái mà mình đang mang.
Như Đức Phật đã nói, có thức ăn nên mình sống, không có thức ăn thì mình chết, đã qua hai ngàn sáu trăm năm rồi, quý vị có thấy có điều gì viễn vong không? Nãy giờ nói có việc nào ngoài tầm hiểu biết của mình không? Mình có thể hiểu, có thể thấy được hay có thể cảm nhận được không? Đức Phật không nói gì xa xôi viễn vong hay ở ngoài con người của mình, chỉ nói về thân xác này, Đức Phật là bậc tối tôn, tối thượng của các nhà khoa học.
1. Bốn loại thức ăn
Đức Phật cho ta biết có ăn thì sống, không ăn thì chết và cho ta biết có mấy loại thức ăn như: ăn múc, ăn gắp, ăn bốc của mình là thức ăn của vật chất, để nuôi thân xác, còn ba loại thức ăn kia…
Mời quý vị ai đứng lên đọc Bốn thức ăn:
“Đoàn thực: Các thức ăn, thức uống cứng mềm, ngon dở là thức ăn vật chất cho thân tứ đại này.
Xúc thực: Sự gặp gỡ nhau là thức ăn tinh thần cho thân ngũ uẩn.
Tư niệm thực: Những tư duy, suy nghĩ khoan khoái, vui thích là thức ăn tinh thần cho thân ngũ uẩn.
Thức thực: Sự biết, sự hay biết, sự rõ biết đưa đến những cảm giác vui thích là thức ăn tinh thần cho thân ngũ uẩn.”
Phải học thuộc bài, nên các vị Trưởng đạo tràng nên thấy rất quan trọng, nếu mình không có nền tảng căn bản, tự thân mình không tu được thì làm sao mình hướng dẫn cho người khác?
Vậy trong thân xác này bao nhiêu thành Phật bao nhiêu bộ phận? Đó là trí tuệ của Đức Phật cho mình thấy.
2. Ba Mươi Hai Thể Trược
Mời một Phật tử đọc quán Ba mươi hai thể trược.
“Lại nữa này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo quán sát thân này, dưới từ bàn chân trở lên, trên cho đến đảnh tóc, bao bọc bởi da và chứa đầy những vật bất tịnh sai biệt: “Trong thân này, đây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, thận, tủy, tim gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bụng, phân, mật, đàm (niệm dịch), mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, nước mủ, ở khớp xương, nước tiểu”.
Có Phật tử nào thuộc quán Chín giai đoạn tử thi không?
“Lại nữa này các Tỷ-kheo,
- Tỷ-kheo như thấy một “thi thể” quăng bỏ trong nghĩa địa một ngày, hai ngày, ba ngày, thi thể ấy trương phồng lên, xanh đen lại, nát thối ra. Tỷ-kheo quán thân ấy như sau: “Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy.” Như vậy, vị ấy sống quán thân trên nội thân… “Có thân đây”, vị ấy an trú chánh niệm như vậy…
- Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thấy một thi thể quăng bỏ trong nghĩa địa bị các loài quạ ăn, hay bị các loài diều hâu ăn, hay bị các chim kên ăn; hay bị các loài chó ăn; hay bị các loài giả can ăn, hay bị các loài côn trùng ăn. Tỷ-kheo quán thân ấy như sau: “Thân này tánh chất là như vậy, bản chất là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy”.
- Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa, với các xương còn liên kết với nhau, còn dính thịt và máu, còn được các đường gân cốt lại;
- ... với các xương còn liên kết với nhau, không còn dính thịt nhưng còn dính máu, còn được các đường gân cột lại,
- ... với các xương còn liên kết với nhau, không còn dính thịt và máu, còn được các đường gân cột lại;
- ... chỉ còn có xương không dính lại với nhau, rải rác chỗ này chỗ kia, ở đây là xương tay, ở đây là xương chân, ở đây là xương ống, ở đây là xương bắp vế, ở đây là xương mông, ở đây là xương sống, ở đây là xương đầu. Tỷ-kheo quán thân ấy như sau: “Thân này…”
- … chỉ còn toàn xương trắng màu vỏ ốc...
- ... chỉ còn một đống xương lâu hơn một năm...
... chỉ còn là xương thối trở thành bột. Tỷ-kheo quán thân ấy như sau: “Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy.”
(Kinh Đại Niệm Xứ – Trường Bộ Kinh)
Thưa đại chúng, chín giai đoạn đó là sự thật hay do Đức Phật đặt ra? Và khi mình ngồi nghiền ngẫm những giai đoạn của sự thật phân hủy tan rã, bại hoại của thi thể này thì lúc đó mình có còn yêu thích, khao khát hay say đắm không? Lúc đó vô minh và tham ái đã được phá ngay. Nãy giờ chúng ta đi sát sườn để phá vô minh và tham ái.
Đức Phật định nghĩa sắc là biến đổi. Tứ đại Đức Phật ví dụ là bốn con rắn độc. Vậy chúng ta thấy có sắc nào không biến đổi dù là quá khứ hiện tại hay vị lai, thắng liệt, thô tế, xa gần, tất cả các sắc đều phải biến đổi, tan hoại, hủy hoại, hoại diệt và tan nát hết, và những cái này đều là sự thật muôn đời không?
Và khi mình ngồi nghiền ngẫm, gặm nhấm, tư duy, quán chiếu chỗ đó thì lòng ham, lòng thích, của mình có được lắng dịu không? Và ánh sáng của sự thật có tỏa chiếu trong tâm mình lúc đó không? Bốn đại này Đức Phật nói giống như người đó bị người ta bắt là phải nuôi bốn con rắn độc: rắn nước, rắn đất, rắn gió và rắn lửa. Và mình phải nuôi nấng, bảo dưỡng, giữ gìn, nhưng bốn con này đánh nhau, chỉ cần nó mổ thôi thì từ chết cho đến gần như chết và người này cứ phải điều dưỡng bốn con rắn này mãi, đến khi điều không được nữa là chết.
Vậy hằng ngày chúng ta có điều dưỡng không? Nếu trong người mình lửa lên cao quá thì sao? Hỏa đại lên cao hay thủy đại lên cao thì sao? Như bị bệnh sốt hay cảm? Nếu trong người mình phong đại (gió) mạnh thì sao? Bị trúng gió, cảm? Cứ như vậy nên mình phải luôn điều hòa hoài, đến khi điều hòa không được nữa thì bệnh chết.
Về thức ăn cũng có bao nhiêu là phiền não, chỉ có nhà bếp thôi cũng rất mệt. Đức Phật đã dạy mình hãy nhờm tởm đối với thức ăn. Thức ăn mình thấy ngon lành, thơm tho như vậy, có sắc, hương, vị như vậy nhưng mình để một thời gian thì nó thành cái gì? Nó trở nên hôi thối, dơ bẩn và khi làm ra nó rồi cũng phiền não vì ăn vô không khéo cũng gây ra phiền não trong cả thân và tâm luôn. Do ăn vô không khéo thì bệnh, bệnh tùng khẩu nhập, hay trong vấn đề khen chê khi ăn, nấu ăn mệt hay quạo làm phiền não thêm nữa.
3. Sự nguy hại của sắc
Đức Phật đã dạy mình phải quán sự nguy hiểm của sắc, thật sự hết sức là nguy hiểm. Nhưng không ai nói cho mình biết thân xác này là nguy hiểm và tác hại. Như bài Sự nguy hại về sắc đã từng được giảng mấy bài thiền quán.
“Này các Tỳ-kheo, cô gái mỹ miều, tươi đẹp ngày xưa còn bây giờ tay chân lêu khêu, run rẩy, tóc bạc, da nhăn, vẻ đẹp mỹ miều trước kia nay đã biến mất và sự nguy hiểm hiện ra. Này các vị, ta nhìn thấy một ông cụ nằm bán thân bất toại, liệt giường, liệt chiếu và ba bốn mươi năm trước là một chàng trai lực lưỡng, cơ bắp, thể hình. Bây giờ là một tấm thân tàn ma dại, liệt giường, liệt chiếu, vẻ đẹp ngày xưa đã biến mất và sự nguy hiểm hiện ra. Khi ta nhìn thấy bà cụ nọ nằm trong đống phân và nước tiểu của chính mình, hôi thối, dơ bẩn và xú uế. Sự thơm tho, sự trẻ trung, sự tươi tắn của ngày xưa nay đã biến mất và sự nguy hiểm hiện ra.”
Khi ngồi lên nằm xuống phải có người đỡ dậy, làm cho con cháu bực bội và chán ghét, cảm thấy vô tích sự, ăn rồi báo hại.
“Này các vị, có phải vẻ đẹp mỹ miều ngày xưa của cô gái ấy nay đã biến mất và sự nguy hiểm hiện ra.
Còn nữa, này các vị, khi ta thấy ông cụ ấy tắt thở, bà cụ kia qua đời, thân thể qua một ngày, ba ngày, bảy ngày thân thể phình trương lên, xanh bầm lại, tím nát ra, xám xịt, nứt nẻ, máu mủ chảy ra, những chất dịch chảy ra. Có phải vẻ đẹp mỹ miều ngày xưa của cô gái, chàng trai kia đã biến mất và sự nguy hiểm hiện ra? Thịt phân hủy ra, dòi bắt đầu ăn và bò lúc nhúc, ăn hai hốc mắt, trong nội tạng, những con dòi bò lúc nhúc, từ từ khô kiệt cho đến còn bộ xương trắng màu vỏ ốc, có phải vẻ đẹp mỹ miều ngày xưa đã biến mất và sự nguy hiểm hiện ra? Bộ xương kia từ một năm, hai năm sụp xuống, vỡ ra, rải rác chỗ này chỗ kia là xương sọ, xương sườn vương vãi, xương ống chân, xương bàn chân, xương hông, một năm, hai năm ba năm nát ra, vụn vỡ ra và cuối cùng trở thành cát bụi, vẻ đẹp mỹ miều ngày xưa nay đã biến mất và sự nguy hiểm hiện ra.”
Đó là sự nguy hiểm của sắc. Chỉ mới có hai giai đoạn trôi qua, già và chết, còn bệnh thì làm sao kể cho hết và chưa nói về sự sống, trong một chuỗi sự sống là bao nhiêu sự tham, sân, si, bao nhiêu những ác nghiệp như: sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, say sưa, nghiện ngập…Đó là những chứng ngộ của Đức Phật về thân xác, thể xác này và chúng ta cần phải thâm nhập, thể nhập và chứng nhập.
4. Vị ngọt của sắc
Nãy giờ Minh Thành nói có gì ngoài sự thật của thân xác này không? Đó đều là lời của Đức Phật chứng ngộ về sắc uẩn. Nhưng chúng ta chỉ thấy được vị ngọt của sắc mà không thấy được sự nguy hiểm của sắc? Thế nào là vị ngọt của sắc?
Phật tử phát biểu:
Thưa sư phụ, vị ngọt của sắc là do duyên sắc khởi lên hỷ lạc gì, hỷ lạc ấy gọi là vị ngọt của sắc. Sự nguy hại của sắc là sự vô thường, khổ, chịu sự biến hoại của sắc đó gọi là sự nguy hại của sắc. Sự xuất ly của sắc là sự nhiếp phục dục và tham, sự đoạn diệt dục và tham đối với sắc chính là sự xuất ly của sắc.
Sư phụ giảng giải:
Nên mình phải thành tựu trí tuệ về sắc, tức là trí tuệ về thể xác này, về những vật chất này, nói đơn giản là trí huệ tự thân của mình. Tại sao thân xác này sanh ra? Tại sao nó phải chết? Vị ngọt của nó là cái gì? Sự nguy hiểm của nó là cái gì? Làm sao để mình thoát ra khỏi sự nguy hiểm đó?
Là do mình tiếp xúc với sắc và khởi lên hỷ lạc là mừng vui, yêu thích, khoan khoái thì đó là vị ngọt của sắc. Nhưng mình chỉ tưởng về vị ngọt mà không nhìn vào góc độ thứ hai hay góc độ khác của nó là sự nguy hiểm. Chính vì vậy mà con ruồi mới chết trong hũ mật, con thêu thân chết trong bóng đèn, cá chết do miếng mồi trong lưỡi câu, con chuột sập bẫy vì thấy vị ngọt trong bẫy đó. Do thấy miếng mồi ngon trong lưỡi câu nhưng không thấy lưỡi câu, chỉ thấy vị ngọt của miếng mồi hay mùi thơm trong bẫy đó hấp dẫn nó với sắc, hương, vị nên cuối cùng nó chết vì đó.
Chúng ta có bị chết trong hũ mật không? Bị chết mấy chục năm rồi hay vô lượng vô biên kiếp? Sắc này không phá nó thì thọ, tưởng, hành, thức không đi ra được. Vì cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức của mình chạy lòng vòng trong sắc này, nên nếu sắc chưa phá thì thọ, tưởng, hành, thức không phá được.
Chúng ta chết trong vị ngọt đó. Khi Minh Thành đi đường thì thấy hai bên đường đều là các quảng cáo đều là các vị ngọt, ngay cả trong đại tạng kinh mình lâu lâu mở cũng quảng cáo những gì, đều là vị ngọt thôi. Những hình ảnh, những màu sắc, âm thanh, quảng bá vị ngọt, giống như cho vay nóng, chỉ cần alo là có tiền ngay, sau đó là nguy hiểm hiện ra. Chúng ta phải thành tựu trí huệ này, phải đem nó ứng dụng vào khắp tất cả sinh hoạt hằng ngày của mình.
Vừa rồi khóa tu tại chùa Hoằng Pháp Minh Thành đọc bài kinh Xúc Chạm, tức ai nhìn thấy là an ổn, là thường còn, là vui sướng, thì người đó làm cho ái tăng trưởng, ai nhìn thấy đó là bất an, là vô thường, là đáng sợ hãi thì người đó đi đến chỗ chấm dứt ái, mà chấm dứt ái là chấm dứt khổ đau. Giờ nếu chúng ta chỉ nhìn thấy vị ngọt của sắc không thì ái tăng trưởng, dục tăng trưởng, tham tăng trưởng, lòng bám chấp, chấp thủ, nắm chặt càng kiên cố, thì làm sao chúng ta giải thoát, xuất ly, thoát ra khỏi sắc?
Có ai nghĩ rằng, trong nhà ngủ thức dậy là gia đình của mình mất một người thân? Có ai nghĩ rằng ngày mai mình không còn sống nữa? Như có tin tức hỏa hoạn làm chết năm người cháy trong nhà, hay như tin tức hai mươi mấy người về tết tây vừa rồi bị thương và chết. Làm sao người ta nghĩ là người ta sẽ chết? Họ chỉ thấy vị ngọt.
5. Các phép quán để thành tựu trí huệ về sắc uẩn
Nên để mình thành tựu được trí huệ về sắc, Đức Phật dạy mình sáu khía cạnh để tu tập: niệm hơi thở, niệm oai nghi, niệm hành động, niệm tứ đại, niệm ba mươi hai thể trượt, miện chín giai đoạn tử thi. Đây là sáu pháp mới có thể chinh phục được sắc, nếu không thì sắc sẽ chinh phục hết tất cả chúng sanh, trong cả dục giới và sắc giới.
Giờ nói rộng ra một chữ có thể bao hàm cả vũ trụ. Trong sắc này có sắc đẹp và sắc xấu, thù thắng và hạ liệt do ác nghiệp và thiện nghiệp biểu hiện ra sắc thân nên chúng ta ngồi ở đây, mặt ai cũng không giống ai. Do sắc mỗi người mỗi khác, cùng là tứ đại, cùng là do thức ăn, nhưng mỗi sắc biểu hiện ra khác nhau. Nhưng chúng ta nhìn thấy những sắc khác.
Như con muỗi đang bay lòng vòng chung quanh mình có phải là sắc không? Là sắc và nó cũng có thọ, tưởng, hành, thức, là một ngũ uẩn, bây giờ ác nghiệp của nó là phải đi hút máu người ta để sống. Đó là sắc hạ liệt, như con dòi, con kiến, con gián, con chuột cống, con mèo, con chó ghẻ. Có những con chó ở nước ngoài có khách sạn, bệnh viện, được cắt móng và được đi tắm, tính tiền là chục đô, trăm đô, và người ta nói chó ở nước ngoài sướng, sướng hơn cả người nghèo.
Nhưng chó thì vẫn là chó, làm sao nói chó sướng hơn người được? Dù cho sướng cỡ nào thì nó cũng là con chó thôi, có ai thấy con chó sướng rồi muốn làm giống nó không? Vậy mà ngày xưa đã có những người ngoại đạo tu hành con chó. Chúng ta thấy nghiệp thức chúng sanh đó có lạ lùng không? Họ tập đi bằng bốn chân, rồi tập sủa và ăn những thứ dơ bẩn mà ngay bây giờ, ở thời nay cũng có người làm giống như con chó vì họ thích hay muốn vậy.
Rồi chúng ta thấy đến loài rắn, có bao nhiêu loài rắn độc hay rắn không độc, đến loài gà, trâu, bò… có rất nhiều loài. Mình nói để các vị mới hiểu được vấn đề là mình chọn lựa sắc mình muốn và mình có quyền chọn lựa. Sắc màu đen toàn bộ là của địa ngục, hoàn toàn không có màu trắng, sắc này đau khổ, khủng khiếp. Sắc có pha đen nhiều hơn trắng là ngạ quỷ, cô hồn, đói khát, lang thang, vất vưởng, khổ sở, lúc nào cũng đói, rên, quằn quại, đau đớn.
Trong kinh có kể lại các câu chuyện của Ngài Mục-kiền-liên đi từ trên núi xuống Ngài thấy, trong Tương ưng Lakkhana.
“1) Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người đàn bà cằn cỗi, khô héo, dính đầy than mồ hóng, đang đi trên hư không... Người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
2) Người đàn bà ấy, này các Tỷ-kheo, là đệ nhất phu nhân của vua xứ Kalinga. Bà ta vì ghen tức nên đã đổ lò than hồng lên trên một vương nữ khác.”
(Tương ưng bộ kinh tập II. Thiên nhân duyên, Chương VIII. Tương ưng Lakkhana, I. Phẩm thứ nhất, Bài kinh Người Đàn Bà Khô Héo Đã Rải Than Đỏ trên Một Người Đàn Bà Khác)
Một bộ xương đi trong hư không, không trung kêu quằn quại, có những cục than đỏ đổ trên người nên nó kêu la thảm thiết, Ngài Mục-kiền-liên mới nhìn thấy đời trước của bộ xương đó là một đệ nhất phu nhân vì ghen đã đổ lửa than lên người thứ phi nên đời này sanh thành loại ngạ quỷ, cô hồn chịu cảnh khổ như vậy.
Còn rất nhiều người như tỳ kheo, tỳ kheo ni bị lửa cháy chung quanh y tăng-già-lê kêu la thảm thiết, từ thời Đức Phật Ca-diếp chúng ta thấy rất khủng khiếp và chúng ta không thể tưởng tượng nổi những ác nghiệp của chúng sanh. Hay như những người mổ heo, mổ bò xuống địa ngục sau đó mới lên làm loài ngạ quỷ, sau đó lên làm súc sanh, thú vật, rồi từ từ hết nghiệp mới lên làm người, khi làm người thì những dấu vết của thú vật vẫn còn, vẫn chưa hết. Chúng ta có nhìn thấy những người có cả một vết bớt lớn, cũng có những người mình nhìn thấy không giống con người, họ hung hăn, hung bạo, hung tàn, hung dữ. Những ác nghiệp sân khí sâu nặng của súc sanh còn, nhưng người này trở lại làm người nhưng không biết tu thiện, tích phước hay tu tập nên khi chết có thể rơi, thoái đọa vào chỗ âm u, tăm tối hơn nữa.
Vậy nên có những khi Minh Thành nghe tiếng chó sủa cảm thấy rất xót xa, từ tâm sân thành nên thân lông lá như vậy, tiếp tục với thân sân hận, thì đời sau cũng tiếp tục dài dài với thân như vậy, không biết khi nào ra. Chúng ta thấy sắc này rất đa dạng, không phải chỉ một chữ sắc mà Đức Phật chứng ngộ như vậy nhưng trùm hết Trái Đất này, trùm hết cả lục đạo chúng sanh ngũ thú, năm đường. Một chữ sắc nhưng chứa đựng sự chứng ngộ không hề bình thường của Thế Tôn.
Đó là đen pha trắng và nếu đen pha với trắng vừa vừa thì mới có thể làm người ngồi tại đây. Về con người thì chúng ta thấy bao nhiêu hạng người, bao nhiêu loại người và bao nhiêu những nghiệp khác nhau?
Có câu chuyện cậu con trai bị nghiện ma túy, cậu ấy về nhà lục tìm tiền của người mẹ nhưng người mẹ bị tai biến, nhưng bị nhẹ và đã qua khỏi được một lần. Người mẹ cất giữ được năm trăm đô Mỹ, cậu này lấy bước đi và người mẹ chạy theo, tức tối và la lối, cậu ta hất bà làm bà tức quá bị tai biến lần 2 nằm suốt 18 năm. Có người thì bị xiềng xích mấy chục năm, mặc đồ gì vào cũng xé hết. Đôi lúc chúng ta đi ngoài đường thấy có những người đầu bù tóc rối, mặt lem luốc, quần áo tả tơi, rồi lúc cười lúc chửi, chỉ chỏ một mình ngoài đường. Hay những trường hợp sanh ra bị bỏ hố gas, bị bỏ thùng rác, bỏ trước cổng chùa, hay thậm chí sanh ra rồi giết đi, lấy gối đè chết, dù đó chính là mẹ giết con, thậm chí chưa sanh đã chết… Vô lượng những ác nghiệp biểu hiện khắp thế gian này, đó là sự nguy hiểm và tác hại.
6. Thập thiện nghiệp
Nếu thuần trắng không là các cảnh giới của chư thiên, thiên là thiện, thiện rồi thập thiện, thân ba miệng bốn, ý ba.
Mời quý Phật tử nào nói về Thập thiện. Mình không đọc hết mà chỉ đọc phần chính thôi.
Phật tử phát biểu:
“Tự mình từ bỏ sát sanh, không khuyến khích người khác sát sanh, không tùy thuận sát sanh, không tán thán sát sanh.
Tự mình từ bỏ lấy của không cho, không khuyến khích người khác lấy của không cho, không tùy thuận lấy của không cho, không tán thán lấy của không cho.
Tự mình từ bỏ tà hạnh trong các dục, không khuyến khích người khác tà hạnh trong các dục, không tùy thuận tà hạnh trong các dục, không tán thán tà hạnh trong các dục.
Tự mình từ bỏ nói láo, không khuyến khích người khác nói láo, không tùy thuận nói láo, không tán thán nói láo.
Tự mình từ bỏ nói hai lưỡi, không khuyến khích người khác nói hai lưỡi, không tùy thuận nói hai lưỡi, không tán thán nói hai lưỡi.
Tự mình từ bỏ nói lời thô ác, không khuyến khích người khác nói lời thô ác, không tùy thuận nói lời thô ác, không tán thán nói lời thô ác.
Tự mình từ bỏ nói lời phù phiếm, không khuyến khích người khác nói lời phù phiếm, không tùy thuận nói lời phù phiếm, không tán thán nói lời phù phiếm.
Tự mình từ bỏ tham, không khuyến khích người khác tham, không tùy thuận tham, không tán thán tham.
Tự mình từ bỏ sân tâm, không khuyến khích người khác sân tâm, không tùy thuận sân tâm, không tán thán sân tâm.
Tự mình có chánh kiến, khuyến khích người khác có chánh kiến, tùy thuận có chánh kiến, tán thán có chánh kiến.
Thành tựu với Bốn mươi pháp này, này các Tỳ-kheo, như vậy đã sanh lên thiên giới.”
Sư phụ giảng giải:
Đó là hoàn toàn trắng. Chúng ta thấy dễ hay khó, muốn giữ được như vậy mới sanh được chư thiên thôi. Tại sao vậy? Vì quan trọng là chỗ mà tâm mình hướng về cái gì, có hướng viễn ly sắc, xuất ly sắc hay không?
Đối với nghiệp bất động, tức là các cảnh giới thiền định, các vị này ưa thích ở trong thiền định, không ưa thích sắc, dục, các vị này có nghiệp bất động. Tứ thiền bát định và trú trong đó, nên ác hạnh, thiện hạnh, bất động hạnh. Người không ưa thích sắc này nên nhàm chán, vượt ra khỏi, đó gọi là xuất ly khỏi sắc, các bậc Chánh đẳng chánh giác và các bậc A-la-hán cũng như các bậc dự lưu, bốn đôi tám chúng.
Chúng ta thấy được điều gì? Mình vô minh đối với sắc, tham ái đối với sắc, vì mình không biết mình là sắc và cũng không biết sắc đó từ những yếu tố gì kết hợp, mình cho sắc đó là mình. Tiếp theo là mình không biết sự sanh diệt của nó, vị ngọt, sự nguy hiểm, thoát ra khỏi nó, mình không biết sắc này là bao nhiêu thứ kết hợp lại thành ba mươi hai thể trượt, mình không biết cứu cánh bất tận của sắc, tức là cội nguồn tận cùng không sạch sẽ, mà mình chỉ nhìn bề ngoài, nhìn vào vị ngọt, dáng, biểu hiện, sự lòe loẹt trên sắc tướng. Như vậy là mình không thấy, không biết, không rõ, không hiểu, không thấu đáu về nó nên mình ưa thích nó và bị nó hại, mình đau khổ vì nó.
7. Thân vô chủ
Mời đại chúng đọc bài Thân vô chủ.
“Thân này là vô thường đi đến hoại diệt,
Thân này là vô khổ vô chủ,
Thân này là vô sở hữu, ra đi bỏ lại tất cả
Thân này là thiếu thốn, là khao khát, là nô lệ cho tham ái,”
Sư phụ giảng giải:
Thân là chữ sắc ở đây, biến đổi vô thường, không có gì bảo hộ, không có gì là chủ, lúc nào cũng thiếu thốn, lúc nào cũng khát khao, cũng thèm muốn, làm nô lệ cho sự ham thích. Khi mình nhìn thấy được bản chất, sự thật về sắc, thì mình mới bắt đầu có được sự đề phòng, thận trọng, dò xét, quán sát, nhiếp phục và chế ngự. Chúng ta thấy sắc làm đau khổ cho bao nhiêu người trên hành tinh này và mình có phải là nạn nhân của sắc không?
Hãy thực tập nhàm chán với sắc, nhất hướng nhàm chán, viễn ly, ly tham, đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Đại chúng có thấy xanh, vàng, đỏ, tím gì ở đây không? Nên phải giảm thiểu sắc, đừng cho tăng trưởng sắc. Người tu theo đường lối của Đức Phật là làm cho sắc giảm thiểu, không làm cho sắc tăng trưởng. Các cô nhìn đây xem có nhiều màu không? Đó là làm cho sắc giảm thiểu. Nhìn xem Linh Quy Pháp Ấn có giống với chùa bình thường không? Vì không có gì hết, mà chỉ có pháp thôi. Như Đức Phật đã dạy: “Ai thấy pháp thì người đó thấy ta. Ai thấy ta người ấy thấy pháp.”
“1) Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
2) Lúc bấy giờ, Tôn giả Vakkali trú tại nhà một thợ gốm, đang bị bệnh, đau đớn, trầm trọng.
3) Rồi Tôn giả Vakkali gọi những người thị giả:
- Đến đây, các Hiền giả! Hãy đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nhân danh ta cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và thưa: "Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Vakkali bị bệnh, đau đớn, trầm trọng; (Vakkali) cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và thưa: ‘Lành thay, bạch Thế Tôn, Thế Tôn vì lòng từ mẫn hãy đi đến Tỷ-kheo Vakkali."
4) Thưa vâng, Hiền giả.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Vakkali, đi đến Thế Tôn; sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
- Tỷ-kheo Vakkali, bạch Thế Tôn, bị bệnh, đau đớn trầm trọng. Vị ấy cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và có thưa như sau: "Lành thay, bạch Thế Tôn!Thế Tôn vì lòng từ mẫn hãy đi đến Tỷ-kheoVakkali ".
5) Thế Tôn im lặng nhận lời.
6) Rồi Thế Tôn đắp y, cầm y bát, đi đến Tỷ-kheo Vakkali.
7) Tôn giả Vakkali thấy Thế Tôn từ xa đi đến, thấy vậy liền cố gắng từ giường ngồi dậy.
8) Thế Tôn nói với Tôn giả Vakkali:
- Thôi Vakkali, Ông chớ có cố gắng từ giường ngồi dậy. Có chỗ ngồi đã soạn sẵn, Ta sẽ ngồi trên chỗ ngồi ấy. Rồi Thế Tôn ngồi xuống trên chỗ ngồi đã soạn sẵn.
9) Sau khi ngồi, Thế Tôn nói với Tôn giả Vakkali:
- Ông có kham nhẫn được không? Ông có chịu đựng được không? Có phải khổ thọ tổn giảm, không tăng trưởng? Có phải có những dấu hiệu tổn giảm, không phải tăng trưởng?
- Bạch Thế Tôn, con không có thể kham nhẫn! Con không có thể chịu đựng! Khổ thọ kịch liệt tăng trưởng nơi con, không có tổn giảm. Có những dấu hiệu tăng trưởng, không có tổn giảm.
10) Này Vakkali, Ông có gì phân vân, hối hận không?
- Bạch Thế Tôn, thật sự con có nhiều phân vân, có nhiều hối hận!
11) Này Vakkali, Ông có gì tự trách mình về giới luật không?
- Bạch Thế Tôn, con không có gì tự trách mình về giới luật.
12) Này Vakkali, nếu Ông không có gì tự trách mình về giới luật, vậy Ông có gì phân vân, có gì hối hận?
- Đã từ lâu, bạch Thế Tôn, con muốn đến để được thấy Thế Tôn. Nhưng thân con không đủ sức mạnh để được đến thấy Thế Tôn.
13) Thôi vừa rồi, này Vakkali, có gì đáng thấy đối với cái thân hôi hám này. Này Vakkali, ai thấy Pháp, người ấy thấy Ta. Ai thấy Ta, người ấy thấy Pháp. Này Vakkali, đang thấy Pháp, là thấy Ta. Đang thấy Ta, là thấy Pháp.”
(Tương ưng bộ kinh tập III. Thiên uẩn, Chương I. Tương ưng uẩn, Phần 22B. Năm mươi kinh ở giữa, IV. Phẩm trưởng lão, Bài kinh Vakkàli)
Đức Phật của chúng ta hết sức bình thường, bình dị, đơn giản nhưng vì lòng tôn kính, ái mộ của người sau này nên gắn cho Ngài rất nhiều hào quang, như trong kinh có lúc nào đề cập đến Ngài ngồi trên bông sen không? Mà Ngài ngồi trên cỏ.
Phải thấy được pháp, pháp chính là cục thịt mà mình đang mang, thấy được sự thật của nó là thấy pháp, thấy được tính chất nguy hiểm của nó. Sau này Minh Thành muốn làm cái bảng đeo, ghi rằng “Đầu sọ hai cục xương. Nguy hiểm chết người.” Sắc này là hiểm nguy, tai họa, giết người và thật sự là vậy. Chính vì sự đam mê ái luyến, tham đắm vô minh, tham ái trong đống này làm mình không đi ra được, suốt ngày mình không đi ra khỏi thân kiến, mình chỉ nghĩ lòng vòng hình bóng này trong tâm, khi mình học qua tới tưởng, hình bóng lờ mở gương mặt mốc của mình hiện ra trong tâm, to tướng bên trong đó.
8. Sự nguy hiểm của sắc 2
Nên phải thường xuyên nhớ đến sự nguy hiểm của thân xác này, đều là nguy hiểm, tai họa, sự đau khổ, sự bệnh hoạn, phiền não của thân này. Chiều hôm qua đang khát nước nên lấy trái nho ăn nên bị nấc cục, Minh Thành đi vòng vòng thiền hành cảm thấy ngao ngán rất nhiều suốt mấy tiếng đồng hồ, cảm thấy mệt mỏi với thân xác này, phiền phức, chán nản và không ưa thích thân này. Cứ phải mang vác gánh nặng, đói chút rồi cũng mệt, no chút cũng mệt, ăn no cũng mệt, rất nhiều chuyện, bày trò. Ngồi lâu một chút cũng mệt, nằm hoài cũng khó chịu, đi đứng thì mỏi, mỗi lần như vậy nên phát tâm nhàm chán, không ưa thích nữa.
Như bài mình đã học – Nuôi dưỡng tâm viễn ly, tâm xuất ly, cuối cùng là xuất ly thân kiến, không ưa thích thân xác như vậy nữa. Lòng vòng trong tham, sân, si mãi, trong bản ngã mãi, cứ lòng vòng mãi mà không biết chán, rồi hờn giận, phiền bực, hơn thua, móc méo, thị phi. Yên ổn không muốn mà muốn kiếm chuyện, có kiếm chuyện không? Sắc, thọ, tưởng, hành thức cứ kiếm chuyện, gây sự. Hãy tập nhàm chán nó, rời xa nó, đừng chỉ chạy lòng vòng cây cột mà phải rời khỏi, cắt sợi dây đó ra.
Minh Thành nói để chúng ra nhìn những người tu, người cư sĩ, như các sư cô cạo đầu vậy thì “Đầu sọ khô cài tram giắt ngọc” nữa không? Vua Trần Thái Tông đã sáng tác bài Rộng nói về sắc thân:
“Đầu sọ khô cài trâm giắt ngọc,
Túi da hôi ướp xạ xông hương,
Cắt lụa là che đậy máu tanh,
Dồi son phấn át thùng phân thối.”
Giờ đã cạo đầu thì cài trâm, giắt ngọc gì nữa? Đó là viễn ly sắc, như người tu chỉ mặc áo vàng hay áo nâu, đó là viễn ly sắc, hoại sắc. Nên mình tu cứ châm chước hoài cho chùa thì hãy xem chừng, có thể không đi đúng đường của Đức Phật. Tu là làm cho sắc đi đến chỗ giảm thiểu, cạn kiệt, xuất ly ra khỏi sắc.
Cô trưởng đạo tràng Nikāya ở Nha Trang có điện thoại và cách đây vài ngày Minh Thành nghe tin con của cô đã qua đời, Minh Thành rất bất ngờ, vì người đó còn rất trẻ, bị té xuống giết mất nhưng người nhà không hay, mấy ngày sau mới phát hiện thì thân xác đã phân hủy. Một điều đặc biệt là cô bình thản, chánh niệm, những người đi đến thăm trong đạo tràng hỏi sao cô bình thản quá. Thì cô trả lời là đúng vậy, hằng ngày cô quán chiếu về chín giai đoạn của một tử thi, mỗi ngày như vậy nên giờ đó là sự thật hiện ra trong người thân của mình. Và khi nói chuyện với Minh Thành cũng rất chánh niệm bình thản. Người con chỉ mới ba mươi mấy tuổi thôi.
Người cô đó nói “Thưa thầy mỗi ngày con đều có quán Chín giai đoạn của một tử thi, nên giờ này người thân thương nhất trong gia đình đã đi, đúng như những gì Đức Phật đã dạy. Điều đó chứng minh pháp, sự thật của Đức Phật!”
Khi Minh Thành nghe rất hoan hỷ, tuy là chuyện buồn, người ra đi đã ra đi nhưng mình hoan hỷ với sự tu tập có được thành tích thiết thực như vậy. Giống như bà Năm ở đây. Hằng ngày Minh Thành đã quán chiếu niệm tử trong mỗi giờ nên khi bà Năm ra đi thì Minh Thành đã niệm hằng ngày, hằng giờ chính vì vậy lúc đó Minh Thành chánh niệm. Và nếu mình không niệm tử thì người thân, mẹ của mình chết trên tay mình thì quý vị nghĩ sao? Mình có bình tĩnh được không? Chánh niệm được không?
Nên đó chính là điều chúng ta cần phải tu tập, rất rất cần thiết để thực tập vì khi hữu sự xảy ra thì chúng ta mới sử dụng được, trí tuệ đó, thấy biết đó, thực chứng, thực nghiệm, hiện thực đó xảy ra trên thân thể của chúng ta và những người thân yêu nhất của chúng ta. Chúng ta phải nhớ năm điều cần quán sát. Những người thân ái nhất của mình rồi cũng ra đi, sẽ từ bỏ, thân của chúng ta còn vậy nên huống hồ chi những người khác.
Nên hãy siêng năng, đệ tử Gotama luôn luôn tự tỉnh giác, bất kể ngày hay đêm, quán sắc thân thường niệm.
Minh Thành hỏi cô vậy khi cô ho có thấy khổ không?
Phật tử đáp: Dạ có.
Phải kiềm hãm lại, dù mình không muốn. Nhưng nó không cho, nó kêu phải ho nên mình ráng kiềm nhưng cũng phải ho. Đó là khổ, mang thân này sướng không? Mỗi lần nó bệnh, đau lên thì quán chiếu như vậy, tác ý, từ từ thì mình mới thể nhập trí huệ thân hình niệm. Hãy nhớ, mỗi ngày tác ý tám tiếng, nhiều hơn càng tốt, có cơ hội là nắm bắt tác ý liền.
Khi lên ăn cũng không ham thích hay khoái món ăn này làm chi, vì mình ưa thích món ăn này thì làm ra thân xác nữa, ăn gì và phải ăn để sống, đi đến chỗ chấm dứt hoàn toàn tất cả các thức ăn. Không phải ưa thích, đam mê các món ăn, thèm thuồng, khao khát món ăn mà ăn là vi ăn để giữ sinh mạng này để đi đến chỗ không còn ăn nữa, đoạn tận tất cả các thức ăn.
Sử dụng những sắc này không hoan hỷ, không an trú, không đắm trước, không khoan khoái, mà sử dụng những sắc này để đi đến chỗ đoạn tận tất cả các sắc, viễn ly sắc, xuất ly sắc, không đam mê, thích thú, khoan khoái, mong chờ, ao ước, không hy vọng trong sắc. Một ao ước, hy vọng xa rời khỏi sắc, thoát ra khỏi sắc, chấm dứt tất cả các sắc. Sanh lên tất cả cảm thọ không ưa thích, không khoan khoái, không ham muốn dù là cảm thọ sung sướng. Mong muốn đến chỗ lắng dịu hoàn toàn, tất cả các cảm thọ, hướng đến chỗ nhàm chán các cảm thọ, ly tham, chấm dứt, hướng đến từ bỏ tất cả các cảm thọ. Đây là chỗ thâm sâu của Đức Phật, xuất ly ngũ uẩn.
Chúng ta bị sắc áp đảo, xâm chiếm, chinh phục, hãm hại, đài đọa, làm nô lệ cho sắc, bị đè bẹp, bị thứ vô thường, bất tịnh, biến hoại, tan nát, làm cho sầu bi, khổ, ưu não vô lượng vô biên kiếp. Đừng ham thích, ưa thích, hãy nhàm chán nó.
Sống như lửa cháy đầu, cầu chứng cảnh bất động.
Xin đại chúng an trú trong cảm thọ này, duy trì cảm thọ này sâu sắc, liên tục giữ gìn. An trú vào cảm thọ này, nhìn sâu sắc vào bản chất của sắc thân này, thực tập, quán chiếu, chúng ta đi thiền hành trở về chỗ nghỉ của mình trong sự an trú và giữ vững cảm thọ này. Đó chính là hồi hướng cao thượng.