Kinh Chánh Tri Kiến 4 - Bốn Loại Thức Ăn Từ Nơi Ái 1
KINH NIKĀYA GIẢNG GIẢI
BỐN LOẠI THỨC ĂN TỪ NƠI ÁI 1
KINH CHÁNH TRI KIẾN 4
–Thích Minh Thành–
Chúng ta bước qua lãnh vực thứ hai là thức ăn, chúng ta phải nhớ rằng kinh Nikāya rất cần học thuộc lòng cho nên lâu lâu chúng ta phải đọc lại để ôn nhắc lời kinh của Đức Phật.
"Các Tỳ-kheo ấy, sau khi hoan hỉ, tín thọ lời nói Tôn giả Sariputta và hỏi thêm Tôn giả Sariputta câu hỏi như sau:
- Này Hiền giả, có thể có pháp môn nào khác, nhờ pháp môn này vị Thánh đệ tử có chánh tri kiến, có tri kiến chánh trực, có lòng tin Pháp tuyệt đối và thành tựu diệu pháp này?
-- Chư Hiền, có thể có. Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri thức ăn, tuệ tri tập khởi của thức ăn, tuệ tri đoạn diệt của thức ăn, và tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của thức ăn, chư Hiền, khi ấy Thánh đệ tử có chánh tri kiến, có tri kiến chánh trực, có lòng tin Pháp tuyệt đối và thành tựu diệu pháp này.
Chư Hiền, thế nào là thức ăn, thế nào là tập khởi của thức ăn, thế nào là đoạn diệt của thức ăn, thế nào là con đường đưa đến đoạn diệt của thức ăn? Chư Hiền, có bốn loại thức ăn này, khiến các loài chúng sanh đã sanh được an trú hay các loài hữu tình sẽ sanh được hỗ trợ cho sanh. Thế nào là bốn? Ðoàn thực, loại thô hay loại tế, xúc thực là thứ hai, tư niệm thực là thứ ba, thức thực là thứ tư. Từ tập khởi của ái có tập khởi của thức ăn, từ đoạn diệt của ái có đoạn diệt của thức ăn. Thánh Ðạo Tám Ngành này là con đường đưa đến đoạn diệt của thức ăn, tức là: Chánh Tri kiến, Chánh Tư duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, Chánh Tinh tấn, Chánh Niệm, Chánh Ðịnh.
Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri thức ăn như vậy, tuệ tri tập khởi của thức ăn như vậy, tuệ tri đoạn diệt của thức ăn như vậy, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của thức ăn như vậy, khi ấy, vị ấy đoạn trừ tất cả tham tùy miên, tẩy sạch sân tùy miên, nhổ tận gốc kiến mạn tùy miên 'Tôi là', đoạn trừ vô minh, khiến minh khởi lên, diệt tận khổ đau ngay trong hiện tại. Chư Hiền, như vậy Thánh đệ tử có chánh tri kiến, có tri kiến chánh trực, có lòng tin Pháp tuyệt đối và thành tựu diệu pháp này". (Trung Bộ Kinh, 9. Kinh Chánh tri kiến)
Thưa đại chúng, chúng ta bắt đầu qua bốn loại thức ăn, đây là một chủ đề rất quan trọng trong kinh tạng Nikāya và cũng là vấn đề rất thực tế hằng ngày chúng ta đều phải đối diện, chúng ta đều tiếp xúc và chúng ta kiểm tra xem khi ăn phải tu tập như thế nào. Ngài Xá-lợi-phất trả lời cho vị Tỳ-kheo hỏi rằng ngoài cái pháp thiện và bất thiện ở trên thì có pháp môn nào khác mà nhờ pháp môn đó có được cái thấy biết chân chánh, có lòng tin pháp tuyệt đối để thành tựu diệu pháp này. Ngài Xá-lợi-phất nói rằng có thể có, khi nào vị Thánh đệ tử biết bằng trí tuệ thức ăn là gì, biết bằng trí tuệ sự tụ tập, nhóm họp, sự sanh khởi ra thức ăn, tại sao có ra thức ăn, biết bằng trí tuệ sự chấm dứt của thức ăn và biết bằng trí tuệ con đường đưa đến sự chấm dứt thức ăn, khi đó vị Thánh đệ tử có tri kiến. Biết thức ăn, biết thức ăn sanh, biết thức ăn diệt và biết con đường đưa đến sự chấm dứt tất cả thức ăn, sau đó ngài giải thích có bốn loại thức ăn: Đoàn thực thô hay tế, xúc thực, tư niệm thực và thức thực.
Bây giờ chúng ta giải thích bốn loại thức ăn, những loại thức ăn, thức uống cứng mềm, ngon dở, các thức ăn vật chất cho thân tứ đại này là đoàn thực, là thức ăn chúng ta ăn mỗi ngày. Thức ăn thứ hai là xúc thực, tức là sự tiếp xúc, gặp gỡ nhau, đó là thức ăn tinh thần cho thân ngũ uẩn, ở đây chúng ta thấy được rằng thức ăn không có nghĩa chỉ là cơm, hủ tiếu, phở, bánh mì… mà sự tiếp xúc, gặp gỡ cũng là thức ăn, cái này thuộc về thức ăn tinh thần, nếu bắt mình ở trong phòng một mình thì mình không thể chịu nổi trừ những vị tự nguyện nhập thất vì thiếu thức ăn, cần phải gặp người này gặp người kia, tiếp xúc cảnh này cảnh kia thì đó gọi là xúc thực, thức ăn của sự tiếp xúc còn ở trên là thức ăn, thức uống vật chất bình thường. Nếu ở trong chùa một mình không đi đâu, không gặp ai thì mình thấy buồn tẻ vì thiếu xúc thực, nhiều khi lâu lâu được cho đi chỗ này chỗ kia là phấn khởi, hồ hởi giống như hoa được tưới nước, đó là xúc thực.
Thức ăn thứ ba là tư niệm thực, tư là suy tư, niệm là ghi nhớ, tư niệm thực là thức ăn của sự nhớ nghĩ. Cái nhớ và nghĩ cũng là thức ăn, là những sự suy tư, suy nghĩ khoan khoái, vui thích, là thức ăn tinh thần cho thân ngũ uẩn, mình thích suy nghĩ cái gì mình thích chứ mình để yên, trống vắng là không chịu được. Những cái này dùng để nuôi tâm thức thọ; tưởng; hành; thức, còn các bậc Thánh dừng các thức ăn này lại, không còn cái gì để nuôi thân ngũ uẩn thì đi đến chỗ chấm dứt, không còn tái sanh, còn chúng ta cho ăn nên mới lớn lên, mập ra cho thân ngũ uẩn này, nó luôn được tưới tẩm, luôn được tiếp tế lương thực. Thức thực là sự rõ biết, nhận thức, cái này cũng là thức ăn, sự hay biết đưa đến những cảm giác vui thích là thức ăn tinh thần cho thân ngũ uẩn. Có những người cả ngày không gặp ai, chỉ nhốt mình trong phòng đọc sách rồi họ thích thú, khoái chí trong đó thì đó là thức thực, họ sống bằng tri thức, bằng kiến thức, bằng nhận thức, bằng sự hiểu biết, họ lấy cái đó làm chính nhưng cũng có người nặng về đoàn thực, suốt ngày đi tìm đồ ăn hoặc cũng có người suốt ngày đi tìm tư niệm thực, cứ suy nghĩ, suy tư, hoặc có người nặng về sự tiếp xúc, phải đi đây đi đó để gặp gỡ người này người kia, bây giờ có ra danh từ "đi phượt", những người đó là phượt thủ, đó chính là xúc thực, họ lấy cái đó làm thức ăn, mắt phải tiếp xúc với hình sắc, lỗ tai phải tiếp xúc với âm thanh, mũi lưỡi phải tiếp xúc với mùi vị, thân đụng chạm, cái đó là bốn loại thức ăn để duy trì thân tứ đại ngũ uẩn này. Đoàn thực thuộc về thức ăn vật chất, còn ba loại thức ăn kia là thức ăn cho tinh thần, thức ăn cho vô minh, thức ăn cho thọ; tưởng; hành; thức trong tâm mê được sung mãn để tái tạo, tái sanh những thân ngũ uẩn vô thường và phiền não này.
Tại sao có thức ăn? Do ái tập khởi nên bốn loại thức ăn tập khởi, do sự yêu thích nên phải ăn. Chúng ta có thích ăn cơm không? Có thích uống café sữa không? Đó là ái tập khởi lên thức ăn tập khởi, những người thích tiếp xúc mà được gặp bạn bè, gặp người này người kia nói chuyện, chat chít, những phượt thủ được đi cảnh này cảnh kia thì họ khoan khoái, có ái trong đó và đây chính là sự chứng ngộ của Đức Phật. Có những người cứ nhớ những chuyện tình cảm, ho bị thất tình nên cứ nhớ những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ đã từng ngọt ngào, êm ái với nhau, họ cứ suy tư mãi rồi họ thích thú trong đó gọi là tương tư, vì thế ái tập khởi nên tư niệm thực tập khởi. Tại sao người nam với người nữ cứ nhớ nhau hoài, cứ suy nghĩ về nhau hoài? Do ái tập khởi nên những suy nghĩ nhớ thương đó sanh khởi liên tục, đó là ái tập khởi nên thức ăn tập khởi. Khi họ đã suy nghĩ như vậy thì họ muốn tiếp xúc, muốn gặp gỡ, còn nếu không gặp được thì họ đau khổ, ái tập khởi nên xúc thực tập khởi, nó đòi hỏi sự tiếp xúc, sự gặp gỡ, muốn biết người kia đang làm gì, đang ở đâu thì đó là ái tập khởi nên thức thực tập khởi.
Qua ví dụ tình cảm để chúng ta thấy rằng ái tập khởi là tứ thực tập khởi, những thức ăn đó nuôi vô minh, nuôi những cảm giác, nghĩ tưởng, nuôi tâm mê này cho sung mãn để tái tạo ra, tái sanh liên tục những tấm thân ngũ uẩn vô thường, phiền não và khổ đau. Bây giờ mình nghĩ yêu thương thì mới ái, nhưng khi ghét một ai đó thì lúc đó mình có nhớ nghĩ về người đó không? Cái ghét đó là sự lật ngược lại một bàn tay thôi, tức là cái sân là từ tham ái cho nên ngày xưa là người yêu nhưng bây giờ là kẻ thù, tức là mặt phải mặt trái của một bàn tay cho nên càng yêu thì càng hận, càng thương thì càng ghét, càng thân thì càng sơ, thuận theo chiều thì ái mà nghịch chiều thì sân. Sự sân đó là mặt khác của tham ái cho nên khi tức giận một ai đó sẽ nhớ nghĩ về người đó, muốn gặp người mình giận, muốn làm hành động cho thỏa mãn, cho hả dạ cơn giận, muốn biết người đó đang làm gì với mình thì đó là ái tập khởi nên thức thực tập khởi. Những câu này đều là khẩu quyết nên cần học thuộc lòng, nó là định lý giác ngộ giải thoát, là bí kíp của chánh pháp. Do ái đoạn diệt nên tứ thực đoạn diệt, không yêu thương nữa là không nhớ nghĩ nữa, không muốn gặp gỡ nữa, không muốn tiếp xúc nữa, không còn muốn biết gì về người đó nữa, sống chết mặc kệ.
"Này các Tỳ-kheo, có bốn loại đồ ăn này đưa đến sự tồn tại, hay sự chấp thủ tái sanh cho các loài hữu tình hay chúng sanh.
Thế nào là bốn? Ðoàn thực hoặc thô, hoặc tế; thứ hai là xúc thực; thứ ba là tư niệm thực; thứ tư là thức thực.
Này các Tỳ-kheo, bốn loại đồ ăn này đưa đến sự tồn tại, hay sự chấp thủ tái sanh cho các loài hữu tình hay các loài chúng sanh.
Và này các Tỳ-kheo, đoàn thực cần phải nhận xét như thế nào?
Ví như, này các Tỳ-kheo, hai vợ chồng đem theo một ít lương thực đi qua một quãng đường hoang dã, với một đứa con khả ái, thương mến.
Rồi này các Tỳ-kheo, trong khi hai vợ chồng ấy đang đi trên con đường hoang vu, số lương thực ít ỏi ấy đi đến hao mòn, khánh tận. Và một vùng hoang vu còn lại chưa được họ vượt qua.
Rồi này các Tỳ-kheo, hai vợ chồng người ấy suy nghĩ: 'Ðồ lương thực ít ỏi của chúng ta đã bị hao mòn, khánh tận; còn lại vùng hoang vu này chưa được vượt qua; vậy chúng ta hãy giết đứa con một, khả ái, dễ thương này, làm thành thịt khô và thịt ướp, ăn thịt đứa con và vượt qua vùng hoang vu còn lại này, chớ để tất cả ba chúng ta đều bị chết hại'.
Rồi hai vợ chồng ấy giết đứa con một, khả ái, dễ thương ấy, làm thịt khô và thịt ướp, ăn thịt người con và vượt qua vùng hoang vu còn lại ấy. Họ vừa ăn thịt con, vừa đập ngực, than khóc: 'Ðứa con một ở đâu? Ðứa con một ở đâu?'
Này các Tỳ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Họ ăn món ăn có phải để vui chơi? Hay họ ăn món ăn để tham đắm? Hay họ ăn món ăn để trang sức? Hay họ ăn món ăn để béo tốt?
-- Thưa không phải vậy, bạch Thế Tôn.
-- Có phải họ ăn các món ăn chỉ với mục đích vượt qua vùng hoang vu?
-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
-- Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, Ta nói đoàn thực cần phải nhận xét như vậy. Này các Tỳ-kheo, khi đoàn thực được hiểu biết, thời lòng tham đối với năm dục trưởng dưỡng được hiểu biết. Khi lòng tham đối với năm dục trưởng dưỡng được hiểu biết, thời không còn kiết sử, do kiết sử này, một vị Thánh đệ tử bị trói buộc để phải sanh lại đời này" (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Ðại Phẩm Thứ Bảy, III. Thịt Đứa Con)
Trên đây Đức Phật dạy mình cách quán chiếu khi ăn cơm, thật sự khi nghe bài kinh này rồi là muốn rã rời, mình không còn ưa thích đối với món ăn, không còn tham đắm đối với món ăn nữa. Các thầy Tỳ-kheo thời Đức Phật ôm bát đi khất thực có khi được người ta cho thịt là chuyện bình thường, người ta ăn cái gì thì cho cái đó, trong Tương Ưng Vô Thỉ Đức Phật đã nói:
"Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỳ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.
Này các Tỳ-kheo, thật không dễ gì tìm được một chúng sanh, trong thời gian dài này, lại không một lần đã làm mẹ..." (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, IV. Mẹ)
Thật khó để tìm ra một người chưa từng làm cha, làm mẹ, làm ông, làm bà, làm cô chú, vợ chồng với nhau, như vậy mình ăn những miếng thịt đó không khác gì mình ăn con mình trong dòng luân hồi sanh tử, tại vì thông thường khi ăn là ăn với tâm tham, dục, ái, thích thú, yêu thích, khoan khoái, nếu mình còn yêu thích món ăn thì chắc chắn đời sau mình sẽ sanh ra để ăn, không giải thoát được. Chúng ta phải nhớ điều này, hễ còn yêu thích, khoan khoái, thèm thuồng, khao khát với bất cứ cái gì thì đời sau còn tiếp tục đi tìm cái đó nữa, đây là lý do tại sao mình không giải thoát, mình còn sanh tử luân hồi, mình còn yêu thích món ăn này thì mình còn sống chết dài dài để mình đi kiếm ăn, mình đi tìm ăn. Sự quán chiếu này là ăn thịt đứa con thương yêu duy nhất để không còn thích thú, không còn khoan khoái, ăn chỉ để vượt qua hoang mạc hoang vu, tức là ăn để thân này tồn tại để thành tựu đời sống cứu cánh phạm hạnh chứ không phải ăn để vui đùa, ăn để ưa thích, ăn để đam mê, ăn để tốt béo mập mạp. Nếu ăn mà nghĩ như vậy thì ăn không ngon nữa, ăn không thích thú nữa, ăn trong nước mắt, ăn trong sự xót xa vì ăn thịt đứa con mình. Mình ăn chay vẫn tước đoạt sự sống vì trong rau nhiều khi có sâu, rau đang mọc mình ra nhổ lên ăn nhưng nó vẫn chưa chết, chẳng qua nó không có tình thức nhưng vẫn là tước đoạt sự sống, tuy nhiên quan trọng là lòng khao khát, ưa thích, khoan khoái trong cái ăn dẫn mình đi vào trong sanh tử, trong sống chết vì thế toàn bộ giáo lý của Đức Phật là nhiếp phục dục tham và đoạn tận dục tham đối với ngũ uẩn, đó là cốt lõi của Thánh giáo, là trái tim của Đức Thế Tôn. Lúc đó chúng ta hoàn toàn không còn ưa thích, không còn thèm muốn gì nữa, chỉ muốn nhàm chán, chấm dứt, từ bỏ thì chúng ta mới chấm dứt sanh tử, thể nhập thế giới bất tử, đây là tinh thần nguyên chất trong kinh tạng Nikāya. Cứ hễ còn ham, còn thích, còn muốn thì còn sống chết dài dài để thực hành những cái ưa thích, ham muốn đó. Đây là những vấn đề rất quan trọng trong pháp học và pháp hành của chúng ta.
./.
BỐN LOẠI THỨC ĂN TỪ NƠI ÁI 1
KINH CHÁNH TRI KIẾN 4
–Thích Minh Thành–
Chúng ta bước qua lãnh vực thứ hai là thức ăn, chúng ta phải nhớ rằng kinh Nikāya rất cần học thuộc lòng cho nên lâu lâu chúng ta phải đọc lại để ôn nhắc lời kinh của Đức Phật.
"Các Tỳ-kheo ấy, sau khi hoan hỉ, tín thọ lời nói Tôn giả Sariputta và hỏi thêm Tôn giả Sariputta câu hỏi như sau:
- Này Hiền giả, có thể có pháp môn nào khác, nhờ pháp môn này vị Thánh đệ tử có chánh tri kiến, có tri kiến chánh trực, có lòng tin Pháp tuyệt đối và thành tựu diệu pháp này?
-- Chư Hiền, có thể có. Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri thức ăn, tuệ tri tập khởi của thức ăn, tuệ tri đoạn diệt của thức ăn, và tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của thức ăn, chư Hiền, khi ấy Thánh đệ tử có chánh tri kiến, có tri kiến chánh trực, có lòng tin Pháp tuyệt đối và thành tựu diệu pháp này.
Chư Hiền, thế nào là thức ăn, thế nào là tập khởi của thức ăn, thế nào là đoạn diệt của thức ăn, thế nào là con đường đưa đến đoạn diệt của thức ăn? Chư Hiền, có bốn loại thức ăn này, khiến các loài chúng sanh đã sanh được an trú hay các loài hữu tình sẽ sanh được hỗ trợ cho sanh. Thế nào là bốn? Ðoàn thực, loại thô hay loại tế, xúc thực là thứ hai, tư niệm thực là thứ ba, thức thực là thứ tư. Từ tập khởi của ái có tập khởi của thức ăn, từ đoạn diệt của ái có đoạn diệt của thức ăn. Thánh Ðạo Tám Ngành này là con đường đưa đến đoạn diệt của thức ăn, tức là: Chánh Tri kiến, Chánh Tư duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, Chánh Tinh tấn, Chánh Niệm, Chánh Ðịnh.
Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri thức ăn như vậy, tuệ tri tập khởi của thức ăn như vậy, tuệ tri đoạn diệt của thức ăn như vậy, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của thức ăn như vậy, khi ấy, vị ấy đoạn trừ tất cả tham tùy miên, tẩy sạch sân tùy miên, nhổ tận gốc kiến mạn tùy miên 'Tôi là', đoạn trừ vô minh, khiến minh khởi lên, diệt tận khổ đau ngay trong hiện tại. Chư Hiền, như vậy Thánh đệ tử có chánh tri kiến, có tri kiến chánh trực, có lòng tin Pháp tuyệt đối và thành tựu diệu pháp này". (Trung Bộ Kinh, 9. Kinh Chánh tri kiến)
Thưa đại chúng, chúng ta bắt đầu qua bốn loại thức ăn, đây là một chủ đề rất quan trọng trong kinh tạng Nikāya và cũng là vấn đề rất thực tế hằng ngày chúng ta đều phải đối diện, chúng ta đều tiếp xúc và chúng ta kiểm tra xem khi ăn phải tu tập như thế nào. Ngài Xá-lợi-phất trả lời cho vị Tỳ-kheo hỏi rằng ngoài cái pháp thiện và bất thiện ở trên thì có pháp môn nào khác mà nhờ pháp môn đó có được cái thấy biết chân chánh, có lòng tin pháp tuyệt đối để thành tựu diệu pháp này. Ngài Xá-lợi-phất nói rằng có thể có, khi nào vị Thánh đệ tử biết bằng trí tuệ thức ăn là gì, biết bằng trí tuệ sự tụ tập, nhóm họp, sự sanh khởi ra thức ăn, tại sao có ra thức ăn, biết bằng trí tuệ sự chấm dứt của thức ăn và biết bằng trí tuệ con đường đưa đến sự chấm dứt thức ăn, khi đó vị Thánh đệ tử có tri kiến. Biết thức ăn, biết thức ăn sanh, biết thức ăn diệt và biết con đường đưa đến sự chấm dứt tất cả thức ăn, sau đó ngài giải thích có bốn loại thức ăn: Đoàn thực thô hay tế, xúc thực, tư niệm thực và thức thực.
Bây giờ chúng ta giải thích bốn loại thức ăn, những loại thức ăn, thức uống cứng mềm, ngon dở, các thức ăn vật chất cho thân tứ đại này là đoàn thực, là thức ăn chúng ta ăn mỗi ngày. Thức ăn thứ hai là xúc thực, tức là sự tiếp xúc, gặp gỡ nhau, đó là thức ăn tinh thần cho thân ngũ uẩn, ở đây chúng ta thấy được rằng thức ăn không có nghĩa chỉ là cơm, hủ tiếu, phở, bánh mì… mà sự tiếp xúc, gặp gỡ cũng là thức ăn, cái này thuộc về thức ăn tinh thần, nếu bắt mình ở trong phòng một mình thì mình không thể chịu nổi trừ những vị tự nguyện nhập thất vì thiếu thức ăn, cần phải gặp người này gặp người kia, tiếp xúc cảnh này cảnh kia thì đó gọi là xúc thực, thức ăn của sự tiếp xúc còn ở trên là thức ăn, thức uống vật chất bình thường. Nếu ở trong chùa một mình không đi đâu, không gặp ai thì mình thấy buồn tẻ vì thiếu xúc thực, nhiều khi lâu lâu được cho đi chỗ này chỗ kia là phấn khởi, hồ hởi giống như hoa được tưới nước, đó là xúc thực.
Thức ăn thứ ba là tư niệm thực, tư là suy tư, niệm là ghi nhớ, tư niệm thực là thức ăn của sự nhớ nghĩ. Cái nhớ và nghĩ cũng là thức ăn, là những sự suy tư, suy nghĩ khoan khoái, vui thích, là thức ăn tinh thần cho thân ngũ uẩn, mình thích suy nghĩ cái gì mình thích chứ mình để yên, trống vắng là không chịu được. Những cái này dùng để nuôi tâm thức thọ; tưởng; hành; thức, còn các bậc Thánh dừng các thức ăn này lại, không còn cái gì để nuôi thân ngũ uẩn thì đi đến chỗ chấm dứt, không còn tái sanh, còn chúng ta cho ăn nên mới lớn lên, mập ra cho thân ngũ uẩn này, nó luôn được tưới tẩm, luôn được tiếp tế lương thực. Thức thực là sự rõ biết, nhận thức, cái này cũng là thức ăn, sự hay biết đưa đến những cảm giác vui thích là thức ăn tinh thần cho thân ngũ uẩn. Có những người cả ngày không gặp ai, chỉ nhốt mình trong phòng đọc sách rồi họ thích thú, khoái chí trong đó thì đó là thức thực, họ sống bằng tri thức, bằng kiến thức, bằng nhận thức, bằng sự hiểu biết, họ lấy cái đó làm chính nhưng cũng có người nặng về đoàn thực, suốt ngày đi tìm đồ ăn hoặc cũng có người suốt ngày đi tìm tư niệm thực, cứ suy nghĩ, suy tư, hoặc có người nặng về sự tiếp xúc, phải đi đây đi đó để gặp gỡ người này người kia, bây giờ có ra danh từ "đi phượt", những người đó là phượt thủ, đó chính là xúc thực, họ lấy cái đó làm thức ăn, mắt phải tiếp xúc với hình sắc, lỗ tai phải tiếp xúc với âm thanh, mũi lưỡi phải tiếp xúc với mùi vị, thân đụng chạm, cái đó là bốn loại thức ăn để duy trì thân tứ đại ngũ uẩn này. Đoàn thực thuộc về thức ăn vật chất, còn ba loại thức ăn kia là thức ăn cho tinh thần, thức ăn cho vô minh, thức ăn cho thọ; tưởng; hành; thức trong tâm mê được sung mãn để tái tạo, tái sanh những thân ngũ uẩn vô thường và phiền não này.
Tại sao có thức ăn? Do ái tập khởi nên bốn loại thức ăn tập khởi, do sự yêu thích nên phải ăn. Chúng ta có thích ăn cơm không? Có thích uống café sữa không? Đó là ái tập khởi lên thức ăn tập khởi, những người thích tiếp xúc mà được gặp bạn bè, gặp người này người kia nói chuyện, chat chít, những phượt thủ được đi cảnh này cảnh kia thì họ khoan khoái, có ái trong đó và đây chính là sự chứng ngộ của Đức Phật. Có những người cứ nhớ những chuyện tình cảm, ho bị thất tình nên cứ nhớ những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ đã từng ngọt ngào, êm ái với nhau, họ cứ suy tư mãi rồi họ thích thú trong đó gọi là tương tư, vì thế ái tập khởi nên tư niệm thực tập khởi. Tại sao người nam với người nữ cứ nhớ nhau hoài, cứ suy nghĩ về nhau hoài? Do ái tập khởi nên những suy nghĩ nhớ thương đó sanh khởi liên tục, đó là ái tập khởi nên thức ăn tập khởi. Khi họ đã suy nghĩ như vậy thì họ muốn tiếp xúc, muốn gặp gỡ, còn nếu không gặp được thì họ đau khổ, ái tập khởi nên xúc thực tập khởi, nó đòi hỏi sự tiếp xúc, sự gặp gỡ, muốn biết người kia đang làm gì, đang ở đâu thì đó là ái tập khởi nên thức thực tập khởi.
Qua ví dụ tình cảm để chúng ta thấy rằng ái tập khởi là tứ thực tập khởi, những thức ăn đó nuôi vô minh, nuôi những cảm giác, nghĩ tưởng, nuôi tâm mê này cho sung mãn để tái tạo ra, tái sanh liên tục những tấm thân ngũ uẩn vô thường, phiền não và khổ đau. Bây giờ mình nghĩ yêu thương thì mới ái, nhưng khi ghét một ai đó thì lúc đó mình có nhớ nghĩ về người đó không? Cái ghét đó là sự lật ngược lại một bàn tay thôi, tức là cái sân là từ tham ái cho nên ngày xưa là người yêu nhưng bây giờ là kẻ thù, tức là mặt phải mặt trái của một bàn tay cho nên càng yêu thì càng hận, càng thương thì càng ghét, càng thân thì càng sơ, thuận theo chiều thì ái mà nghịch chiều thì sân. Sự sân đó là mặt khác của tham ái cho nên khi tức giận một ai đó sẽ nhớ nghĩ về người đó, muốn gặp người mình giận, muốn làm hành động cho thỏa mãn, cho hả dạ cơn giận, muốn biết người đó đang làm gì với mình thì đó là ái tập khởi nên thức thực tập khởi. Những câu này đều là khẩu quyết nên cần học thuộc lòng, nó là định lý giác ngộ giải thoát, là bí kíp của chánh pháp. Do ái đoạn diệt nên tứ thực đoạn diệt, không yêu thương nữa là không nhớ nghĩ nữa, không muốn gặp gỡ nữa, không muốn tiếp xúc nữa, không còn muốn biết gì về người đó nữa, sống chết mặc kệ.
"Này các Tỳ-kheo, có bốn loại đồ ăn này đưa đến sự tồn tại, hay sự chấp thủ tái sanh cho các loài hữu tình hay chúng sanh.
Thế nào là bốn? Ðoàn thực hoặc thô, hoặc tế; thứ hai là xúc thực; thứ ba là tư niệm thực; thứ tư là thức thực.
Này các Tỳ-kheo, bốn loại đồ ăn này đưa đến sự tồn tại, hay sự chấp thủ tái sanh cho các loài hữu tình hay các loài chúng sanh.
Và này các Tỳ-kheo, đoàn thực cần phải nhận xét như thế nào?
Ví như, này các Tỳ-kheo, hai vợ chồng đem theo một ít lương thực đi qua một quãng đường hoang dã, với một đứa con khả ái, thương mến.
Rồi này các Tỳ-kheo, trong khi hai vợ chồng ấy đang đi trên con đường hoang vu, số lương thực ít ỏi ấy đi đến hao mòn, khánh tận. Và một vùng hoang vu còn lại chưa được họ vượt qua.
Rồi này các Tỳ-kheo, hai vợ chồng người ấy suy nghĩ: 'Ðồ lương thực ít ỏi của chúng ta đã bị hao mòn, khánh tận; còn lại vùng hoang vu này chưa được vượt qua; vậy chúng ta hãy giết đứa con một, khả ái, dễ thương này, làm thành thịt khô và thịt ướp, ăn thịt đứa con và vượt qua vùng hoang vu còn lại này, chớ để tất cả ba chúng ta đều bị chết hại'.
Rồi hai vợ chồng ấy giết đứa con một, khả ái, dễ thương ấy, làm thịt khô và thịt ướp, ăn thịt người con và vượt qua vùng hoang vu còn lại ấy. Họ vừa ăn thịt con, vừa đập ngực, than khóc: 'Ðứa con một ở đâu? Ðứa con một ở đâu?'
Này các Tỳ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Họ ăn món ăn có phải để vui chơi? Hay họ ăn món ăn để tham đắm? Hay họ ăn món ăn để trang sức? Hay họ ăn món ăn để béo tốt?
-- Thưa không phải vậy, bạch Thế Tôn.
-- Có phải họ ăn các món ăn chỉ với mục đích vượt qua vùng hoang vu?
-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
-- Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, Ta nói đoàn thực cần phải nhận xét như vậy. Này các Tỳ-kheo, khi đoàn thực được hiểu biết, thời lòng tham đối với năm dục trưởng dưỡng được hiểu biết. Khi lòng tham đối với năm dục trưởng dưỡng được hiểu biết, thời không còn kiết sử, do kiết sử này, một vị Thánh đệ tử bị trói buộc để phải sanh lại đời này" (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Ðại Phẩm Thứ Bảy, III. Thịt Đứa Con)
Trên đây Đức Phật dạy mình cách quán chiếu khi ăn cơm, thật sự khi nghe bài kinh này rồi là muốn rã rời, mình không còn ưa thích đối với món ăn, không còn tham đắm đối với món ăn nữa. Các thầy Tỳ-kheo thời Đức Phật ôm bát đi khất thực có khi được người ta cho thịt là chuyện bình thường, người ta ăn cái gì thì cho cái đó, trong Tương Ưng Vô Thỉ Đức Phật đã nói:
"Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỳ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.
Này các Tỳ-kheo, thật không dễ gì tìm được một chúng sanh, trong thời gian dài này, lại không một lần đã làm mẹ..." (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, IV. Mẹ)
Thật khó để tìm ra một người chưa từng làm cha, làm mẹ, làm ông, làm bà, làm cô chú, vợ chồng với nhau, như vậy mình ăn những miếng thịt đó không khác gì mình ăn con mình trong dòng luân hồi sanh tử, tại vì thông thường khi ăn là ăn với tâm tham, dục, ái, thích thú, yêu thích, khoan khoái, nếu mình còn yêu thích món ăn thì chắc chắn đời sau mình sẽ sanh ra để ăn, không giải thoát được. Chúng ta phải nhớ điều này, hễ còn yêu thích, khoan khoái, thèm thuồng, khao khát với bất cứ cái gì thì đời sau còn tiếp tục đi tìm cái đó nữa, đây là lý do tại sao mình không giải thoát, mình còn sanh tử luân hồi, mình còn yêu thích món ăn này thì mình còn sống chết dài dài để mình đi kiếm ăn, mình đi tìm ăn. Sự quán chiếu này là ăn thịt đứa con thương yêu duy nhất để không còn thích thú, không còn khoan khoái, ăn chỉ để vượt qua hoang mạc hoang vu, tức là ăn để thân này tồn tại để thành tựu đời sống cứu cánh phạm hạnh chứ không phải ăn để vui đùa, ăn để ưa thích, ăn để đam mê, ăn để tốt béo mập mạp. Nếu ăn mà nghĩ như vậy thì ăn không ngon nữa, ăn không thích thú nữa, ăn trong nước mắt, ăn trong sự xót xa vì ăn thịt đứa con mình. Mình ăn chay vẫn tước đoạt sự sống vì trong rau nhiều khi có sâu, rau đang mọc mình ra nhổ lên ăn nhưng nó vẫn chưa chết, chẳng qua nó không có tình thức nhưng vẫn là tước đoạt sự sống, tuy nhiên quan trọng là lòng khao khát, ưa thích, khoan khoái trong cái ăn dẫn mình đi vào trong sanh tử, trong sống chết vì thế toàn bộ giáo lý của Đức Phật là nhiếp phục dục tham và đoạn tận dục tham đối với ngũ uẩn, đó là cốt lõi của Thánh giáo, là trái tim của Đức Thế Tôn. Lúc đó chúng ta hoàn toàn không còn ưa thích, không còn thèm muốn gì nữa, chỉ muốn nhàm chán, chấm dứt, từ bỏ thì chúng ta mới chấm dứt sanh tử, thể nhập thế giới bất tử, đây là tinh thần nguyên chất trong kinh tạng Nikāya. Cứ hễ còn ham, còn thích, còn muốn thì còn sống chết dài dài để thực hành những cái ưa thích, ham muốn đó. Đây là những vấn đề rất quan trọng trong pháp học và pháp hành của chúng ta.
./.