Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Nhập Thất - Dẹp Cảnh Hay Chuyển Tâm - Tu Với Tiếng Ồn - Tham Ái Muôn Màu - Nhiếp Hộ 6 Căn

2026-03-03 00:55:12
Trình Pháp Nikāya Nhập Thất

Dẹp Cảnh Hay Chuyển Tâm?

Tu Với Tiếng Ồn

Tham Ái Muôn Màu

Nhiếp Hộ 6 Căn

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Như Lý Tác Ý PAGEREF _Toc174198905 \h 1

II. Tham ái vi tế PAGEREF _Toc174198906 \h 3

III. Phóng dật và không phóng dật PAGEREF _Toc174198907 \h 7

I. Như Lý Tác Ý

Lành thay! Lành thay! Lành thay! Mình có được cơ hội độc cư ở một mình để soi rọi lại tự thân, đó là thời gian quý báu trong cuộc đời tu. Trong thời Đức Thế Tôn còn tại thế thì các thầy Tỳ-kheo thường xuyên độc cư, ở yên tịnh để nhìn lại thân thể, cảm giác, nội tâm, nhìn lại các pháp vận hành bên trong để thấy rõ bản thân nhiều hơn, có sự nhìn nhận chân chánh, đúng đắn về tự thân rồi lau chùi, tẩy rửa, quét dọn căn nhà nội tâm của mình.

Trong sự thực tập thì người ngu chỉ lo dẹp cảnh, còn người trí thì lo chuyển tâm, mình cứ hướng ra ngoài thì cái thấy, cái nghe, cảm xúc, nhận thức dễ bị phiền não, dễ tham ái, sân hận, dễ khởi bản ngã, còn khi quay về nội tâm lo nhiếp phục những cái đó thì đó mới là sống cho mình, đó mới là việc cần làm, việc nên làm, việc đáng làm, đó mới thật sự là công việc của người tu.

Khi nghe tiếng xe cộ thì tác ý đó là tiếng chuông giúp mình thức tỉnh rồi sẽ thấy cảm thọ khác ngay, "đây là tiếng nhắc nhở mình phải tiến lên, vượt lên" chứ không phải nghe tiếng xe rồi bực mình "chỗ tôi đang tu sao cứ đến làm ồn", khi vừa khởi ý nghĩ này thì có cảm thọ, hình bóng của chiếc xe đó khởi lên theo, vận hành theo sự cấu nhiễm. Lúc đầu tác ý chưa quen nhưng sau này quen rồi thì xe chạy cứ chạy, đối với tiếng nhạc cũng vậy "đó là những tiếng rên rỉ, sầu bi, khóc than, tham ái", sau khi tác ý thì thực tập thiền quán.

Còn nếu không tác ý mà cứ ngồi chịu trận sẽ rất mệt mỏi, cả một thời thiền mở những bài nhạc tình tứ, rên rỉ nỉ non, khóc than, điều này giống như bị hành tội, là một hình phạt cho nên học xong thì phải thực hành, còn học xong mà trả lại Phật, trả lại kinh sách thì rất uổng phí. Đức Phật nói tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi thì tại sao mình không vận dụng lợi thế đó? Mình phải học nhiều vì mình chưa đủ khả năng tự tác ý, chưa đủ khả năng an trú trong các tầng thiền cho nên giờ này chính là giờ tác ý. Khi nghe các thầy, các cô, các Phật tử trình pháp thì Minh Thành cũng ngồi cố gắng tác ý vì đó là thiện pháp, là an trú trong pháp cho nên toàn bộ sự tu hành của mình là sự thấy đúng và như lý tác ý, hai cái này làm sanh khởi ra chánh kiến.

Gặp được bậc chân nhân, nghe được diệu pháp và như lý tác ý, tùy pháp, hành pháp, những cái này là những điều kiện, yếu tố giúp mình thể nhập vào dòng Thánh trí tuệ thượng nhân pháp cho nên cần thường xuyên như lý tác ý. Người nào thường sử dụng như lý tác ý thì người đó phải nhìn ra nội tâm mới tác ý được, người có nhìn là người có nhận diện, người có nhận diện là người có nội soi, nội quán, là người có tu tập tâm.

Vì thế chúng ta cần nhớ vận dụng như lý tác ý thật nhiều, đừng thụ động trong tu tập, đừng tu trong trạng thái ù lì, không phấn khởi, không hân hoan. Mỗi lần ra vườn tre phải tác ý "nhớ Đức Thế Tôn, nhớ các vị Thánh chúng. Nếu giờ này trở về 2600 năm trước ở Trúc Lâm có khi sẽ được gặp họ", khi nãy Minh Thành cũng tác ý như vậy là tự nhiên sẽ vui vẻ, phấn khởi, còn ra vườn tre ngồi mà mặt buồn thì tội quá tội, đó là sự khéo léo trong tu tập của mỗi người.

Không phải dễ có được môi trường suốt ngày được nghe pháp, suốt ngày được học đạo, được hành trì. Thật sự rất hiếm có, vừa được nghe chánh pháp vừa vạch tội tham ái, bản ngã, được chỉ tội sân hận, những cấu uế, rác bẩn nội tâm được phơi bày, được trình bày, được sám hối, được thấy xấu hổ, tàm quý. Đều là an trú trong Thánh pháp, trong thiện pháp, nếu muốn nhập thất là được nhập thất, tùy vào mỗi người muốn nhập thất bao nhiêu lâu nhưng không phải ai cũng được nhập thất.

Vì vậy chúng ta cần nhớ người ngu thì dẹp cảnh, người trí thì chuyển tâm, đó là hai câu trong thiền tông nhưng cũng được lấy từ Phật ra, từ trong kinh Nikāya, tất cả những sách vở sau này đều lấy từ trong Nikāya ra cho nên chúng ta học kinh Nikāya là chúng ta trở về cội gốc. Những tiếng động phát ra mà không biết tác ý thì nó làm chướng ngại trong tu tập, còn khi biết tác ý thì đó lại là trợ đạo, trợ pháp, trợ trí, trợ tuệ, trợ tinh tấn lực cho mình.

Nghe những tiếng động đó phải tác ý thẳng tiến về phía trước hoặc là an trú tâm tác ý "an tịnh, lắng dịu", có rất nhiều cách tác ý để giữ tâm không chạy theo ngoại cảnh, đối với tiếng nhạc, tiếng khen chê cũng vậy. Cứ tác ý liên tục rồi sẽ quen, sau này không cần tác ý nữa mà tự động nó sẽ an trú trong cảm thọ, các bậc Thánh khi đạt đến tâm bất động không cần tác ý nữa, nó đã ở trong xương tủy, còn mình bây giờ phải tác ý đến khi nào thấm vào thì tự động thấy. Tâm sẽ xuôi về viễn ly, nghiêng về viễn ly, nhập về viễn ly, hướng về viễn ly, tâm xuôi về Niết-bàn, nghiêng về Niết-bàn, nhập về Niết-bàn. Niết-bàn là sự an tịnh hoàn toàn những sự thúc giục, ham muốn, đòi hỏi, thèm thuồng, khát khao, hoàn toàn an tịnh khỏi những cảm xúc bức xúc, bực bội, hơn thua, hoàn toàn an tịnh khỏi những cảm xúc ta đây, tự ngã, bản ngã.

II. Tham ái vi tế

Nếu không học đúng chánh pháp thì không thể thấy được những cái này, đi kinh hành mà sanh khởi ra một tự thể ái. Lâu lâu khởi ra một suy nghĩ hoặc một cảm giác thấy mình có vẻ luyến ái với tự thân, đó chính là tham ái, không phải đợi thấy ai hay nghe ai mà tự trong thân sanh khởi ra cảm giác, hình bóng tự thân mình, cái tâm đó sẽ dẫn mình đi tái sanh, đó chính là sanh y, chỗ dựa của tái sanh, chỗ dựa của đời sống kế tiếp.

Tinh thần tu học trong kinh Nikāya thâm sâu đến như vậy chứ không phải chỉ là thấy đối tượng rồi chạy theo vì thế mình phải nhớ, phải nhìn, phải dò xét tâm mình, phải quán sát tâm mình, phải tư sát tâm mình, phải quán chiếu, theo dõi tâm mình. Phải theo dõi những gì đang sanh khởi, đang vận hành, đang an trú trong tâm, phải canh chừng, đề phòng, đó là con mắt pháp. Tu cái này hay ở chỗ mình không có nhìn người ta, chỉ lo nhìn lại mình, phải chịu khó nhận diện, chịu khó quay vào trong nội tâm tư sát, quán sát, chịu khó bám sát, theo sát, dò xét thân tâm thì sẽ thấy lý thú.

Người xuất gia chúng ta xin được cha mẹ cho đi tu phải trải qua rất nhiều quan ải, vừa ở bên ngoài vừa ở bên trong cho nên chữ ái rất ghê gớm. Trong tâm niệm muốn xuất gia thì nội tâm nhen nhóm sự chống đối, tranh đấu đi hay không đi, đi thì phải bỏ những người mình yêu thương, bỏ công việc, cha mẹ, bạn bè, bà con, trong tâm là một sự mâu thuẫn, giằng co với nhau cho đến khi quyết định xuất gia là quật ngã được tham ái thì mới thành công bước một.

Đến bước hai thì đại đa số thất bại, tức là sanh ra một cái ái khác, một hình thức khác của ái là ái sư phụ, ái sư huynh, sư muội, ái Phật tử, những người thân cận, hộ pháp, giúp đỡ hộ trì cho mình hoặc cho chùa, nhất là cá nhân, người nào càng thân cận chừng nào thì lại càng sanh khởi những dị dạng của ái với họ mà mình không nhìn ra. Mình chỉ lo trừ ái nam nữ, còn những cái ái khác lại xem thường nên bị nó qua mặt.

Những cái ái khác là một hình thức khác của tham ái, lâu lâu về thăm nhà thì sanh khởi tham ái, luyến ái với người thân. Phải ngồi thiền quán chiếu điều này là nguy hiểm, nguy hại, do ở trên núi đã được học, được tu, được nhắc nhở, rèn luyện nên mình và ái này có một khoảng cách và mình có sự đề phòng với nó, còn nếu không biết mặt mũi, tên tuổi, tánh tình, sự vận hành, sự gian trá, xảo ngụy của ái thì mình chết với nó ngay.

Bản thân Minh Thành đã tu mấy chục năm nên khi về nhà rất cẩn thận, tại sao khi mẹ nằm trên tay Minh Thành qua đời mà Minh Thành vẫn giữ được chánh niệm hay các cô ruột khóc ràng rụa nước mắt trước cảnh khổ nhưng con vẫn nhiếp niệm vì con rất cẩn thận khi về nhà hoặc là khi nghe điện thoại, khi tiếp xúc cũng vậy. Khi tiếp xúc phải lấy cái chính là pháp, tình cũng có nhưng ở trong phạm vi nhỏ cho phép chứ không để cho cái thường tình tức là cái ái của thế gian làm mất đi pháp, mất đi trí, mất đi tuệ là thất bại, điều này sư tổ nói giống như bỏ nhà này qua nhà khác chứ không hề xuất gia gì cả, chữ Hán gọi là "xuất nhất gia, nhập nhất gia" nghĩa là bỏ nhà này vào nhà khác, vào cái nhà lớn hơn vì ở nhà chỉ có vài người nhưng vào chùa có khi đến vài chục người.

Nếu không có chánh niệm và tỉnh giác, không có sự nhìn ra được trọng tâm của sự tu là nhiếp phục và đoạn tận tham ái thì không chết chìm cũng chết cháy với cái ái đó, cái ái sẽ biến ra những hình thức khác nhau rất ghê gớm. Khi con bị dị ứng phải từ thiền viện Trúc Lâm trở về thì lúc ra khỏi bến xe miền Đông nghe tiếng chuông chùa Bửu Liên vang lên là trong ngực dâng lên cảm giác thân thuộc, thân thương, mình thấy rõ ràng có cảm giác lạ lùng như vậy nhưng lúc đó không biết cái đó là ái. Phải nhận diện ra những sắc pháp đó, khi đi xa sẽ có những sắc tưởng về những hình bóng đó cho nên chúng ta phải cực kì cẩn thận, phía trước là gai, phía sau là gai, đẳng sau cũng có gai, chỗ nào cũng là gai.

"Với người ưa thích viễn ly, ưa thích hội chúng là cây gai. Với người chuyên chú tu tập tướng bất tịnh, tu tập tịnh tướng là cây gai. Với người phòng hộ các căn, đi xem văn nghệ trình diễn là cây gai. Với người sống Phạm hạnh, thân cận với phụ nữ là cây gai. Với người chứng Thiền thứ nhất, tiếng ồn là cây gai. Với người chứng Thiền thứ hai, tầm tứ là cây gai. Với người chứng Thiền thứ ba, hỷ là cây gai. Với người chứng Thiền thứ tư, hơi thở là cây gai. Với người đã đạt được Diệt thọ tưởng định, tưởng và thọ là cây gai. Tham là cây gai. Sân là cây gai. Si là cây gai.

Này các Tỳ-kheo, hãy sống không phải là cây gai. Này các Tỳ-kheo, hãy sống rời khỏi cây gai. Này các Tỳ-kheo, hãy sống không phải là cây gai và rời khỏi cây gai. Này các Tỳ-kheo, không có cây gai là bậc A-la-hán. Này các Tỳ-kheo, rời khỏi cây gai là bậc A-la-hán. Này các Tỳ-kheo, vị không có gai và rời khỏi cây gai là bậc A-la-hán".

(Tăng Chi Bộ, Chương X - Mười Pháp, VII. Phẩm Ước Nguyện, (II) Cây Gai)

Nếu mình không cẩn thận là sẽ có muôn hình vạn trạng bộ mặt của tham ái chứ không phải chỉ có vấn đề nam nữ không. Như vậy gọi là xuất gia sau khi xuất gia, cuộc đời Minh Thành xuất gia rất nhiều lần chứ không phải chỉ có lần cạo đầu đầu tiên xuất gia là xong. Khi quyết định lên thiền viện Trúc Lâm tu là lần xuất gia thứ hai, sau đó quyết định bỏ Sài Gòn lên núi này tu là lần thứ ba, gặp được Thánh pháp này là lần xuất gia thứ tư, chỉ còn một lần xuất gia nữa là xuất ly luôn.

Chúng ta bị ngôn từ, bị hình thức, bị lối mòn, người ta sao là mình phải vậy, còn mình có những ý nghĩ khác là do căn cứ vào trong Thánh pháp chứ không căn cứ trên hình thức. Bây giờ lên núi được biết bao người khen Cổng Trời, báo viết rất nhiều bài thì đúng ra phải khoan khoái, thích thú, lo tạo cảnh đẹp, người ta ở mấy chục năm không ai biết trong khi mình mới về đây chưa được bao lâu mà ai cũng biết, ai cũng thích, vậy là mình dục, mình ái, mình khoái rồi suốt ngày trồng cây, tạo cảnh, vậy là chết với tham ái này, chết dài dài với nó, chết một cách ngọt ngào với nó, phải nhìn bằng con mắt Thánh nhãn, pháp nhãn, trí nhãn, tuệ nhãn, minh nhãn, thiên nhãn chứ không nhìn bằng con mắt thịt được vì nhìn bằng con mắt thịt là nhìn không ra, vì thế sau khi xuất gia là phải xuất gia nữa, sau một thời gian phải xuất gia nữa, xuất gia cho đến khi nào xuất ly khỏi ngũ uẩn thì đó mới là viên mãn xuất gia, cứu cánh phạm hạnh.

Ngày đầu tiên lên núi chúng ta học bài tàm quý cho nên cần cực kì cẩn thận với cái ái. Đi tu rồi chia nhóm với nhau, hợp với nhóm nào là chơi với nhóm đó, nhóm kia không chơi, đó là trong một chùa, sau đó là phân chia tông phái, rõ ràng là Đức Thế Tôn dạy rằng ngài chỉ nói về khổ và sự diệt khổ.

"Chư Tỳ-kheo, xưa cũng như nay, Ta chỉ nói lên sự khổ và sự diệt khổ". (Trung Bộ Kinh, 22. Kinh Ví dụ con rắn)

Kinh sách ghi lại rõ ràng như vậy nhưng bây giờ mình làm ngược lại hết. Khi nãy có người chia sẻ quán cái gì cũng thấy khổ trong đó là đúng, bất cứ cái gì cũng có khổ trong đó vì tất cả những gì mình học đều nhằm thấy khổ, còn thấy vui thì làm sao nhàm chán, ly tham, từ bỏ, xuất ly được. Chúng ta vui với thiện pháp thì được, còn vui mà bỏ giờ tu, giờ học là không được hoặc là mình thức rồi cố gắng làm việc không ngủ đến khi lên tu lại thấy uể oải, mệt mỏi cho nên phải nhìn ra mọi việc mình làm bằng tâm gì, từ con người đến sự việc, cảnh vật, đồ vật, đó là nhận diện sắc uẩn, sự nhận diện này càng thâm sâu, sâu sắc. Khi nhìn những lá vàng úa này thật sự ngao ngán, các hành là biến hoại, Minh Thành rất tâm đắc với hai chữ "biến hoại" vì nó rất hay, nó có nghĩa là biến đổi và tan hoại.

Bây giờ chỉ có nương tựa vào pháp thôi, chỉ có pháp mới đưa mình ra khỏi sanh tử, chấm dứt khổ đau, cho nên tu cái gì cũng thấy khổ là đúng đạo lộ vì cái tu này là cái tu xuất ly, nhàm chán, từ bỏ, thoát ra. Trong ba mươi bảy phẩm trợ đạo pháp tu nào cũng giúp cho mình thấy khổ, tinh tấn tiến lên để đi ra khỏi khổ chứ không phải tiến vào khổ, chánh niệm để thấy khổ trong sắc này, chánh niệm để thấy những cảm thọ thúc giục, bức xúc đó.

Ngày chúng ta ra thất có cảm giác rạo rực dâng lên, cũng là cảnh vật đó, không gian đó nhưng khi ra khỏi thất nhìn thấy giống như một bầu trời mới, gặp ai cũng nở nụ cười tươi vì được tiếp xúc, đó chính là xúc thực. Lâu ngày được về chùa hoặc về nhà thì cảm giác xuống xe chuẩn bị bước vào rất mới mẻ, hứng khởi. Chúng ta cần phân biệt sự khác nhau giữa lạc và hỷ, dục và ái, buông lung phóng dật lại khác nữa vì nếu giống nhau thì Đức Phật đâu có dùng từ khác nhau để diễn tả những thứ đó. Lạc là niềm vui nhẹ nhàng, hỷ là cái vui hơi dao động của thân, ái là lưu luyến, bịn rịn không nỡ rời xa, người ta hay gọi là lưu luyến, ái luyến, lâu ngày được xuống núi hoặc về thăm chùa thì biết bao pháp vận hành trong tâm lúc đó.

III. Phóng dật và không phóng dật

"Nhân duyên ở Sàvatthi...

-- Này các Tỳ-kheo, Ta sẽ thuyết cho các Ông về trú phóng dật và trú không phóng dật. Hãy lắng nghe.

Và này các Tỳ-kheo, thế nào là trú phóng dật?

Ai sống không nhiếp hộ nhãn căn, này các Tỳ-kheo, thời tâm người ấy bị nhiễm ô (vyàsincati) đối với các sắc do mắt nhận biết".

(Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (c), V. Phẩm Từ Bỏ, IV. Sống Phóng Dật)

Lâu ngày được về thăm chùa mà không có chánh niệm trước mặt, cảm giác toàn thân là sẽ có cảm giác ái luyến, mình chỉ có chánh niệm khi vào thiền đường tu tập chứ không đưa nó vào đời sống hằng ngày, còn nếu đã thực tập quen rồi thì đến lúc đó vẫn có chánh niệm trước mặt, vẫn có cảm giác toàn thân. Đối với người không thâu nhiếp, hộ trì, thu thúc con mắt thì tâm họ bị ô nhiễm với các sắc, đối với chữ "thâu nhiếp và hộ trì" này là cả một công phu, cả một sự cẩn thận, cả một sự để tâm, giữ gìn, nhắc tâm, nhớ nghĩ. Tâm người đó bị dính bụi trần do họ không biết giữ gìn con mắt khi nhìn thấy sắc.

"Với người tâm bị nhiễm ô thời không có hân hoan. Do không có hân hoan nên không có hỷ. Do không có hỷ nên không có khinh an. Do không khinh an nên khổ an trú"

(Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (c), V. Phẩm Từ Bỏ, IV. Sống Phóng Dật)

Tâm bị ô nhiễm, bị cảnh vật, hình bóng con người, món đồ đó ám ảnh trong tâm thì làm sao hân hoan được. Do không vui nên tâm không được nhẹ nhàng, tâm không nhẹ nhàng nên thấy nặng nề vì bị sắc ám ảnh, khi có tâm nặng nề thì khổ có mặt, an trú trong đó.

"Với người đau khổ, tâm không có thể định tĩnh. Do tâm không định tĩnh, các pháp không hiển lộ. Do các pháp không hiển lộ, người ấy được gọi là người an trú phóng dật... nhĩ căn... tỷ căn...

... thiệt căn... thân căn..."

(Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (c), V. Phẩm Từ Bỏ, IV. Sống Phóng Dật)

"Với người đau khổ, tâm không có thể định tĩnh", câu này là khẩu quyết, ngày xưa Minh Thành nghe mười năm là không hiểu bài kinh này, đến khi hiểu ra thì thấy thật sự tuyệt vời, vi diệu, cả một định lý giải thoát trong này. Do tâm không định tĩnh nên các pháp không hiển lộ, giống như hồ nước bị khuấy đục, nước dao động, bùn, cặn, sình dơ bị khuấy lên không yên lặng, trong sạch để nhìn xuống đáy hồ thì làm sao những gì ở đáy làm sao hiện ra được. Những lời kinh của Đức Phật rất sâu sắc, phải tha thiết tu và nhận diện mới nhìn ra được.

Đối với tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng vậy. Do sống không thâu nhiếp, không bảo hộ nên khi sáu căn tiếp xúc sáu trần, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm, ý nhận thức các pháp thọ; tưởng; hành, những cảm giác, nghĩ tưởng bên trong thì người này bị ô nhiễm với sáu đối tượng đó. Do tâm bị ô nhiễm nên không hân hoan, do không hân hoan nên không vui, không vui thì tâm không nhẹ nhàng, với tâm nặng nề như vậy thì cái khổ có mặt, khi khổ có mặt thì tâm không thể yên tĩnh được, người không có tâm định tĩnh thì các pháp không hiển lộ, vì các pháp không hiển lộ nên đó là người ở trong chỗ buông lung phóng dật.

"Và như thế nào, này các Tỳ-kheo, là an trú không phóng dật?

Ai sống nhiếp hộ nhãn căn, tâm không bị nhiễm ô đối với các sắc do mắt nhận biết. Với người tâm không bị nhiễm ô thời hân hoan sanh. Do có hân hoan nên hỷ sanh. Do có hỷ sanh nên thân được khinh an. Do thân khinh an nên cảm lạc thọ. Với người an lạc, tâm được định tĩnh. Do tâm định tĩnh, các pháp được hiển lộ. Do các pháp được hiển lộ, người ấy được gọi là người trú không phóng dật... nhĩ căn... tỷ căn..."

(Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (c), V. Phẩm Từ Bỏ, IV. Sống Phóng Dật)

Do có sự bảo hộ, giữ gìn đối với mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý nên khi tiếp xúc người này không bị ô nhiễm, tâm không ô nhiễm nên có hân hoan, có vui nên thân nhẹ nhàng, tâm an vui, với người an lạc thì tâm định tĩnh, do tâm định tĩnh nên các pháp được hiển lộ, đó là người sống không phóng dật.

Những cái này phá vỡ hiểu biết thông thường của chúng ta, đây chính là lộ trình của tâm cũng chính là sự chứng ngộ của Đức Thế Tôn. Nếu bây giờ thả lỏng hoàn toàn các căn thì tâm sẽ bị ô nhiễm, mà tâm bị ô nhiễm thì sẽ không hân hoan vì bị hình đó ám ảnh trong tâm. Bây giờ nhớ thầy, nhớ sư phụ không tu được, lên núi muốn nhập thất mà nhớ thầy, nhớ huynh đệ thì làm sao tu? Đó là tâm bị ô nhiễm, ở một mình không hân hoan, ở trên núi buồn vì hình bóng những người mình thương yêu dính mắc ám ảnh.

Khi không hân hoan thì làm sao có vui được, lên nghe pháp hoặc ngồi thiền như xác không hồn, không thấy hỷ gì cả, tâm ô nhiễm không hân hoan với pháp, đến giờ tu thấy buồn hiu hắt, không thì lên học chỉ thấy khổ. Khi đi sâu vào nội tâm mới thấy các pháp hiển lộ ra cho nên khi ở trong thất mà thấy có chuyện thật sự cần thiết mới đi ra, còn bỗng nhiên không có gì mà lại muốn ra thì phải thấy đó là một sự thúc giục. Không phải muốn đi là đi mà phải xét lại điều đó có cần không, không phải muốn làm là làm mà phải xem lại cái làm đó là thiện pháp hay bất thiện pháp, nên hay không nên, làm lúc nào, làm ở thời điểm nào.

Người tu đúng chánh pháp, có công phu, có sự thực tập thành tựu thì nhìn lúc nào trên mặt người ta cũng rạng rỡ, hỷ lạc, như hoa sen nở tươi thắm, còn tu không có hỷ lạc như hoa sen bị héo úa, đó là do tâm bị ô nhiễm nên không hân hoan với pháp, không có vui mừng nên tâm nặng nề, buồn rầu. Tâm buồn bực rất dễ nổi giận, tức giận, dễ kiếm chuyện, dễ gây sự. Tâm nặng nề thì khổ có mặt, cái khổ này rất vi tế chứ không phải chỉ là bị tai nạn, có người thân mất mà cái khổ này còn có nghĩa là nội tâm bị nhuốm màu sáu trần.

Ví dụ bị cách ly hoặc ở trong khu phong tỏa thì tâm lúc đó ra sao? Không thể nào mà hân hoan, hỷ hay nhẹ nhàng được, còn người nào ở trong khu cách ly, phong tỏa mà tâm vẫn hân hoan, hoan hỉ, nhẹ nhàng, khinh an thì người này không những có tu mà còn phải tu một cách sâu sắc thì mới không bị cái khổ an trú, dù ở trong hoàn cảnh nào tâm cũng nhẹ nhàng, hoan hỉ với sự nhận diện ngũ uẩn, với sự nhìn nhận trong Tứ Niệm Xứ.

"Người luôn luôn chánh niệm,

Sự sanh diệt các uẩn,

Ðược hoan hỉ, hân hoan,

Chỉ bậc bất tử biết"

(Kinh Pháp Cú 25 – Phẩm Tỳ-kheo, kệ 374)

Đây là sự hoan hỉ với chánh kiến, hoan hỉ với Thánh trí, hoan hỉ với tuệ minh, với sự thật, hoan hỉ với chân lý, với pháp. Do tâm không định tĩnh nên các pháp không hiển lộ, các pháp ở đây rất nhiều nghĩa thâm sâu nhưng nói gần cái mình học duyên sanh pháp là thọ; tưởng; hành, đi sâu vào thì trong thọ; tưởng; hành có thêm một lớp tham, sân, si, bản ngã mà mình không thấy, do các pháp không hiển lộ nên mình thấy không rõ cho nên lúc đó hỏi có tham không thì trả lời bản thân không có tham, hỏi có bản ngã không thì nói không có nhưng thật ra là có, là do mình không thấy, tâm bị nhuộm màu giống như mang mắt kính màu nâu vào là nhìn cái gì cũng mờ mờ, tâm lúc đó không có sự định tĩnh và không có trong sáng cho nên các pháp không hiện rõ, thọ; tưởng; hành không thấy rõ, tham, sân, si, bản ngã không thấy rõ và tiến sâu hơn nữa nếu có hỷ do ly dục sanh hay có niệm hoặc có những giác chi trong Thất Giác Chi cũng không hay biết, tức là có ác pháp hay bất thiện pháp đều không biết nhưng thường là ác pháp nhiều hơn thiện pháp vì tâm bị ô nhiễm.

Trong phần quán pháp trên pháp của Tứ Niệm Xứ có rất nhiều phần, từ năm triền cái, ngũ uẩn, Tứ Thánh Đế cho đến Thất Giác Chi, đó chính là quán pháp trên các pháp cho nên chữ "pháp" này có rất nhiều phạm trù. Khi nói chữ pháp trong duyên sanh pháp là thọ; tưởng; hành, khi nói sâu vào thì trong thọ; tưởng; hành có tham, sân, si, vô minh và bản ngã, những lậu hoặc, còn nếu nói chữ pháp trong phương diện thiện pháp thì đó là ba mươi bảy phẩm trợ đạo, kiểm tra xem những cái đó có sanh khởi trong tâm mình không.

Ngược lại các pháp hiển lộ chính là thọ; tưởng; hành hiển lộ, những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ hiển lộ và người ấy được gọi là người trú không phóng dật vì lúc này người này thấy rõ đang có cảm giác gì, hình bóng gì, suy nghĩ gì. Người này có sự thâu nhiếp, bảo hộ, không để cho những cảm giác, nghĩ tưởng này đi theo chiều ác bất thiện pháp nên người này trú không phóng dật. Người này có sự nhiếp hộ đối với thọ; tưởng; hành bên trong và sắc; thanh; hương; vị; xúc bên ngoài thì người đó trú không buông lung phóng dật.

Tất cả thời gian ở đây đều dành để tu học, nếu mình ra làm những công việc bên ngoài thì làm sao tu được, đó là lý do vì sao Đức Thế Tôn và các bậc Thánh chúng ngày xưa thường hay độc cư thiền định, Phật giáo nguyên thủy giữ được truyền thống cao đẹp đó vì các ngài làm theo lời dạy của Đức Phật, vô cùng quý trọng pháp, nếu không thì dù ở hình thức nào cũng bị khả lạc, khả hỷ, khả ái, khả ý liên hệ đến dục hấp dẫn lôi kéo.

Mình không vào được bốn tầng thiền do tâm bị ô nhiễm, vì ô nhiễm nên không hân hoan, vì không hân hoan nên không có khinh an, vì không khinh an nên không có lạc, không có lạc nên tâm không định tĩnh, vì không định tĩnh nên pháp không hiện rõ, vì các pháp không hiện rõ nên không tự nhìn thấy thân tâm một cách chính xác, vì thế tâm bị ô nhiễm mà không biết nó bị ô nhiễm. Cũng như một người bị mù thì làm sao thấy được nhà dơ bẩn hay sạch sẽ hoặc là người làm biếng, làm qua loa cho xong việc thì bao nhiêu dơ bẩn, cấu uế trong hốc kẹt làm sao thấy được, người này không để ý quán sát, kiểm tra trong căn nhà nội tâm chính họ cho nên bài kinh này nói về sự vận hành tâm, nói về tâm cấu nhiễm, tâm không thanh tịnh hay tâm thanh tịnh.

Với một cái tâm khổ đau thì không thể định tĩnh được, cứ nhớ nhung người này người kia, lo việc này việc kia thì rất nặng nề, biết bao áp lực, ngồi vào là biết bao dự tính, dự định nên các pháp không thể hiển lộ rõ được. Người ta cứ nghĩ khổ mới chứng pháp nhưng không phải vậy, chỉ có lạc mới chứng được pháp.

"Vô thỉ, này các Tỳ-kheo, là sự luân chuyển, khởi điểm không thể nêu rõ, đối với (những đau khổ) do bị thương đâm, do bị kiếm chém, do bị búa chặt. Dầu vậy đi chăng nữa, này các Tỳ-kheo, Ta cũng không tuyên bố rằng nhờ khổ và ưu mà bốn Thánh đế được chứng ngộ. Nhưng này các Tỳ-kheo, Ta tuyên bố rằng nhờ lạc và hỷ mà bốn Thánh đế được chứng ngộ".

(Tương Ưng Bộ, Tập V – Thiên Ðại Phẩm, Chương XII – Tương Ưng Sự Thật (a), IV. Phẩm Rừng Simsapà, V. Một Trăm Cây Thương)

Người ta nghĩ khổ mới đi vào thiền định nhưng thật sự an lạc mới vào thiền định được, tâm phải hỷ lạc, nhẹ nhàng thì mới định tĩnh được. Chữ "khổ" trong đạo Phật rất khủng khiếp và sâu thẳm chứ không hề đơn giản, những người giàu có, nổi tiếng có cái khổ của họ, trong kinh Đức Phật hỏi các vị vua, quan lại có thể ngồi bất động một chỗ bảy ngày bảy đêm mà có thể an lạc được không thì mọi người trả lời không được nhưng Thế Tôn nói ngài có thể ngồi bất động bảy ngày bảy đêm mà vẫn thấy an lạc.

--"Chư Hiền Nigantha, nay Ta sẽ hỏi các Ngươi một câu, cũng vấn đề này. Nếu các Ngươi vui lòng, hãy trả lời câu hỏi ấy. Chư Hiền Nigantha, các Ngươi nghĩ thế nào? Vua Magadha Seniya Bimbisara có thể không di động thân thể, không nói lên một tiếng, sống cảm giác thuần túy lạc thọ luôn bảy ngày bảy đêm có được không?

--"Này Hiền giả, không thể được.

-- Chư Hiền Nigantha, các Ngươi nghĩ thế nào? Vua Magadha Seniya Bimbisara có thể không di động thân thể, không nói lên một tiếng, sống cảm giác thuần túy lạc thọ luôn sáu ngày sáu đêm, luôn năm ngày năm đêm, luôn bốn ngày bốn đêm, luôn ba ngày ba đêm, luôn hai ngày hai đêm, luôn một ngày một đêm không?

-- Này Hiền giả, không thể được.

-- Chư Hiền Nigantha, Ta có thể không di động thân thể, không nói lên một lời, sống cảm giác thuần túy lạc thọ luôn trong một ngày một đêm. Chư Hiền Nigantha, Ta có thể không di động thân thể, không nói lên một lời, sống cảm giác thuần túy lạc thọ luôn trong hai ngày hai đêm, luôn trong ba ngày ba đêm, luôn trong bốn ngày bốn đêm, luôn trong năm ngày năm đêm, luôn trong sáu ngày sáu đêm, luôn trong bảy ngày bảy đêm. Chư Hiền Nigantha, các Ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy, ai sống hạnh phúc hơn, vua Magadha Seniya Bimbisara hay Ta?

-- Sự kiện là như vậy, Tôn giả Gotama sống hạnh phúc hơn vua Magadha Seniya Bimbisara

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Mahànàma thuộc giòng họ Sakka hoan hỉ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn".

(Trung Bộ Kinh, 14. Tiểu kinh Khổ uẩn)

Những vị vua đó tâm bị ô nhiễm, dù có quyền uy, chức tước, giàu sang nhưng tâm bị ô nhiễm, vì tâm đã ô nhiễm nên không hân hoan, không hân hoan nên không có hỷ, vì không hỷ nên không có lạc thọ, không có lạc thọ nên tâm không định tĩnh. Cho đến khi nào ở một mình mà tâm an lạc, hân hoan, nhẹ nhàng, định tĩnh, các pháp bên trong tâm hiện rõ thì lúc đó chuẩn bị đại thành công, không còn những cảm giác bức xúc, đòi hỏi, tìm kiếm gì nữa. Chữ "khổ" ở đây có nghĩa là tâm bị ô nhiễm đối với sáu trần, chỉ riêng thanh tưởng thôi đã làm mình khổ rồi, cứ hồi tưởng lại câu nói của người nào đó, hoặc là sắc tưởng cứ ám ảnh trong tâm hoặc là một cảm thọ, một sự nhận thức cũng làm mình khổ. Ngay chỗ thấy, chỗ nghe, chỗ cảm giác, nhận thức nếu không phòng hộ, bảo vệ là tâm sẽ bị ô nhiễm, khi đã ô nhiễm thì không hân hoan với pháp, không hỷ, bị các đối tượng bên ngoài ám ảnh, xâm chiếm, áp đảo, chế ngự. Khi không bị đối tượng nào ám ảnh thì đương nhiên sẽ hân hoan, định tĩnh, thấy rõ các pháp vì thế sự nhiếp hộ sáu căn rất quan trọng.

Cảm nhận hơi thở, cảm nhận cơ thể, cảm giác toàn thân, an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, hân hoan và hỷ lạc trong giờ phút này, trong sự an tịnh này. Dễ chịu và ngọt ngào trong không gian thanh lương, mát mẻ này, bình an và lắng dịu trong trúc lâm này. An lành, an yên, an ổn, an lạc ngay bây giờ, ở đây.

Nguyện đem tâm an lành này, cảm thọ an ổn, an lạc, an tịnh này lan tỏa đến cùng khắp chúng sanh đang bệnh khổ, lan tỏa cùng khắp những hữu tình đang sầu khổ trong tai nạn. Nguyện cảm thọ bình an, thanh tịnh này được lan tỏa khắp toàn cầu.

./.

Trình Pháp NIKAYA Nhập Thất-Dẹp Cảnh Hay Chuyển Tâm?Tu Với Tiếng Ồn-Tham Ái Muôn Màu-Nhiếp Hộ 6 Căn - YouTube

Tuong Ung - Tap 4 - Chuong 35c (budsas.org)