Phước - Đức - Trí - Dục lậu - Vô minh lậu
Soi Sáng Nikāya
PHƯỚC – ĐỨC - TRÍ – DỤC LẬU – VÔ MINH LẬU
-Thích Minh Thành-
Ngày 19 tháng 01 năm 2021
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Những câu hỏi PAGEREF _Toc63407505 \h 2
II. Sư phụ trả lời PAGEREF _Toc63407506 \h 3
1. Chịu khó PAGEREF _Toc63407507 \h 3
2. Tích lũy đức PAGEREF _Toc63407508 \h 4
3. Tích lũy trí tuệ PAGEREF _Toc63407509 \h 5
4. Năm triền cái PAGEREF _Toc63407510 \h 7
III. Chia sẻ PAGEREF _Toc63407511 \h 9
IV. Cảm thọ Tham – Sân - Si PAGEREF _Toc63407512 \h 10
V. Dục lậu PAGEREF _Toc63407513 \h 12
VI. Hữu lậu PAGEREF _Toc63407514 \h 14
VII. Vô minh lậu PAGEREF _Toc63407515 \h 18
I. Những câu hỏi
Đảnh lễ Đức Thế Tôn
Bậc A-la-hán Cháng Đẳng Giác
Kính thưa đại chúng, hôm nay là buổi trình pháp. Mời các vị chia sẻ những gì khó khăn, trở ngại, chưa được thuận lợi thực tập tu học trong thời gian vừa qua. Bên các Phật tử nam chia sẻ trước những khó khăn trở ngại, những sự vướng mắc trong sự tu, sự học cũng như khi sinh hoạt, làm việc với đại chúng. Chú đứng tại chỗ đi.
Phật tử: Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, con cung kính trên sư phụ, quý thầy và quý sư cô cùng toàn thể đại chúng. Con xin trình pháp, lúc này cảm thọ con có những dòng cảm thọ rất hoan hỷ. Buổi chiều hôm nay sư phụ có buổi giảng pháp, khi sư phụ hỏi về những vấn đề tu học trong thời gian qua, con cũng sanh những cảm thọ xấu hổ vì thời gian qua con có nhìn lại tự thân. Con thấy sự tu học của mình chưa thật sự để tâm, vẫn còn buông lung phóng giật, sư phụ vì lòng từ bi đưa ra những câu hỏi, đưa ra lời khuyến khích có những sự khó khăn gì trong tu học. Con thấy tự thân mình trong những giờ tu học vẫn còn những khuyết điểm, trong lúc hành thiền vẫn bị vọng tưởng, bị rơi vào trạng thái đau đớn, tâm tán loạn, không thật sự an tịnh, hỷ lạc hoàn toàn. Có những ngày con ngồi rất an lạc, dễ chịu và muốn ngồi thêm.
Khi tiếng chuông vẫn tiếc giờ thiền đó nhưng có những ngày chưa kịp đánh chuông con đã mong đợi, thấy sao lâu tới giờ quá. Nó có sự dao động, hôn trầm, sự Như Lý Tác Ý của con không đủ lửa, đủ mạnh khi có những rút xúc trong thân thì tâm dao động, lăng xăng, không chuyên chú vào đề mục, nhớ chuyện này nghĩ chuyện kia, học bài dễ quên, con phải xếp lại. Tự thân mình cũng vì nghiệp trong quá khứ trước đây mà mình đã gieo tạo mà giờ này trí tuệ mình không sáng suốt, làm cản trở con được học pháp. Kính mong sư phụ từ bi chỉ dạy để con được khai sáng thêm, mong cho con bước ngụ lại. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Sư phụ: Mấy huynh đệ mới.
Phật tử: Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính thưa sư phụ, quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng. Trong thời gian tu học hiện tại của con, con đang cảm thấy khó khăn về lúc ngồi thiền, con chỉ bị khó khăn chỗ đó, mong sư phụ chỉ dạy con thêm.
Sư phụ: Khó khăn về cái gì lúc ngồi thiền?
Phật tử: Dạ thưa sư phụ, nó bị đau.
Sư phụ: Đau cái gì, nói cho rõ ràng ra.
Phật tử: Dạ thưa sư phụ, bị đau chân ạ.
Sư phụ: Mời các huynh đệ khác.
Phật tử: Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, con kính bạch trên sư phụ, quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng. Con có một câu hỏi muốn hỏi trước giờ con vẫn thắc mắc: như thế nào là thiền định, thiền chỉ và thiền quán. Những lúc như thế nào mình thực hành những pháp thiền chỉ, thiền quán và thiền định. Trong thiền định, thiền chỉ, thiền quán có những khác biệt như thế nào? Con mong sư phụ hoan hỷ, từ bi chỉ dạy cho con. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
II. Sư phụ trả lời
1. Chịu khó
Sư phụ: Chúng ta chia sẻ mấy câu hỏi này trước, sợ chút xíu nhiều câu hỏi thì lại quên. Chúng ta làm cái gì trên đời này cũng phải có sự thực tập từ từ mới quen, không ai vô làm việc gì trong một thời gian hết sức ngắn mà được nhuần nhuyễn, được thuần thục mà lại được điêu luyện hết, phải thực tập thường xuyên. Mình ngồi thiền đau chân mình phải chịu đau, lúc nào chịu không được nữa thì đổi chân, sau đó nâng lên năm phút, mười phút, tiếp tục nâng lên chịu đau cho đến một lúc nào đó sẽ vượt qua cơn đau. Trong sự tu học của chúng ta, mình phải thường xuyên tác động tâm ý để mình phấn đấu nỗ lực.
Hôm qua chú tài xế chở con từ Đà Lạt về đây, chú kể chuyện đi học nghề lái xe rất gian khổ. Mười ba tuổi chú tự để ý, thích thú, thích lái xe, chú đi xin một ông thầy dạy chú, mà thầy chưa kịp dạy chú đã lén lén lái, chú thấy không có ai mà xe để trống là chú lén lái tập, rất thích thú, rất khoái, muốn làm tài xế. Và chú học, chú kể rất gian khổ, ăn bồ lon con tán, mà bồ lon rún, liệng lên đầu là đổ máu. Ông thầy dạy đánh đập, mỗi lần ngủ gục là bầm chân hết, bị đánh, bị ngắt, bị đập, hút thuốc cũng vậy, bị đập túi bụi tả tơi, đầu đổ máu. Mà chú nói chú rất cảm ơn ông thầy, nhờ vậy mà giờ chú thành một tài xế lái bốn mươi năm. Hai vợ chồng đi hốt phân bò, chở trâu bò, ăn ngủ trên chiếc xe chở phân bò đó, đánh đầu đổ máu, bầm mình bầm mẩy để học được nghề lái xe thôi.
Cho nên trong sự tu mà chúng ta không biết tác ý, làm cho mình phấn khởi, hân hoan, làm cho mình nhiệt tâm, nhiệt huyết, nhiệt tình thì sự tu của chúng ta là thả trôi, không đến đâu hết. Trong sự tu chúng ta phải để ý, tích lũy phước, đức, trí. Tích lũy phước là làm những công việc bên ngoài cho đại chúng, cho đạo tràng, từ sự quét sân, lau chùa lau tượng Phật, nấu nướng, giặt giũ, tất cả những công việc trong chùa. Đó là tích lũy phước, đừng làm biếng làm nhác, lánh nặng tìm nhẹ, đừng nghĩ rằng đi tu là mình được rảnh rang ở không, nghĩ rằng tôi vô đây tu chứ đâu phải đi làm. Cái suy nghĩ đó làm cho mình nghèo cùng, không có phước huệ, nó thật sự là mình trọn vẹn trong tâm để mình quán chiếu tu học không hay là suy nghĩ đó để cho mình làm biếng. Nên bước đầu tiên phải tích lũy phước, siêng năng công quả. Có những cái tự mình phải làm trong bổn phận trách nhiệm và có những cái không đợi người khác nói, tự mình nhìn để ý làm.
2. Tích lũy đức
Thứ hai là tích lũy đức. Đức là sự khiêm nhường, khiêm cung, khiêm tốn, khiêm nhã. Tuy mình làm nhưng không tỏ vẻ mình là người làm nhiều, là người giỏi giang, có công. Luôn luôn khiêm hạ, khiêm nhường, không tỏ vẻ vênh váo ta đây, có công trạng công tích, ta là trụ trì, ta là tri sự, quản chúng, trưởng nhóm, trưởng bếp. Mình dẹp được cái đó mới sanh ra cái đức. Tâm mình dễ lắm, mình làm gì được một chút là nó bám vô đó thể hiện bản ngã. Nếu mình không để ý, không có sự quán chiếu thì đức không sanh, có phước nhưng không có đức, người ta không ưa, không thích, chán ghét mình vì mình tỏ ra mình có công lao, quyền uy, tỏ vẻ người lớn.
Cho nên cái đức là sự tu tập tâm hiền, sự không tranh, hòa kính. Mình luôn luôn hướng tới sự hòa hợp, hòa ái, hòa kính đối với mọi người, không có ý niệm thị phi, hơn thua, tranh cãi, tranh luận, tranh đấu, tranh hơn với ai. Mình tu được tâm hòa kính đó là đức của mình, đức hạnh của người tu, luôn luôn giữ vị trí mình là người học trò, dù mình có tu bao lâu đi nữa, thọ giới gì đi nữa, giữ tâm mình là người học trò. Vĩnh cư học địa – tức vĩnh viễn cư trú ở địa vị của người học, đừng nghĩ trong bụng mình là sư cô, là thầy, hơn người ta. Đừng nghĩ mình ở đây lâu, xem thường mấy người mới tới hay tỏ vẻ ra. Những điều đó làm mình tăng trưởng lên đức hạnh, phước báu là cái làm ở bên ngoài.
3. Tích lũy trí tuệ
Điều thứ ba là mình tích tụ trí tuệ, trí tuệ ở đây là Thánh trí huệ, không phải hiểu biết bình thường của đúng sai, tốt xấu mà là trí huệ của bậc Thánh. Đọc những bài kinh, học tụng kinh, lễ lạy, quán chiếu để mình tu tập. Liên hệ đến câu chỉ và quán, là chúng ta tu tập trí huệ, chỉ nói đơn giản theo sự tu tập đường lối tức thực hành ba pháp. Chú có nắm vững ba pháp chưa? Ba pháp đó không chỉ thực hành khi ngồi thiền, mà thường xuyên, thường trực, bất cứ mọi lúc mọi nơi mình đều thực hành ba pháp, không phải đợi ngồi thiền mới thực hành ba pháp. Thường thường an trú cảm giác toàn thân để tâm mình định tâm trên thân, không chạy lăng xăng theo sắc, thanh, hương, vị, xúc bên ngoài. Chỉ là đình chỉ, dừng lại.
Khi mình trở về an trú cảm giác toàn thân tâm mình dừng lại trên thân. Nếu mình không an trú cảm giác toàn thân thì mắt mình chạy theo sắc, tai chạy theo âm thanh, mũi lưỡi chạy theo mùi vị, thân chạy theo xúc cảm. Giờ mình an trú cảm giác toàn thân thì tất cả sự an trú đó y cứ ở nơi cảm giác, nó vững mạnh, vững trú, an định. Mình an trú cảm giác toàn thân thuần thục, mình ngồi xuống giống như một ngọn núi, rất vững chắc, bên ngoài rất khó tác động được mình. Thêm mình phải tập từ từ cho nhuần nhuyễn, tức đình chỉ những sự hướng ngoại của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý mà trú trên cảm giác toàn thân.
Khi mình không để ý vô cảm giác, lúc đó không thấy được cảm giác, mà khi không thấy được cảm giác thì không biết được cảm giác đó là loại gì. Mình không phân loại được cảm giác. Mà mình không phân loại được cảm giác thì không cảm nhận rõ được lậu hoặc, tham, sân, si trong cảm giác. Cho nên khi mình yên tịnh để trú trong cảm giác toàn thân, lúc đó thọ hiện ra, các pháp trong thọ uẩn hiện ra các loại cảm thọ. Trong cảm thọ có gì nó sẽ hiện rõ các pháp ra, và sau khi mình thấy rõ nó, mình dùng Như Lý Tác Ý, tác động và quán chiếu mà mình trừ diệt thì đó là tuệ.
Giống như mặt hồ yên tĩnh, trong, lặng, yên, lắng, mình nhìn xuống mới thấy được dưới đáy hồ có một con cóc, con nhái bị chết. Nếu như hồ lao xao, lăng xăng, gợn sóng hay bị phủ bèo, đục ngầu, bị khuấy động thì mình không thấy được con ếch nhái chết dưới đó. Mình thấy được ếch nhái chết là nhờ nước trong, lắng, lặng, mình nhìn thấy, lúc đó mới vớt nó ra. Việc vớt, nhặt cái dơ, cấu uế, xác chết dơ hôi lấy bỏ ra, đó gọi là tuệ. Tức mình thấy trong tâm có tham dục, có những hình bóng, những suy nghĩ, cảm giác của tham dục, mình thấy được như vậy là có định, có chỉ. Nếu không có chỉ mình không thấy, bắt chạy theo đối tượng này.
Ví dụ giờ mình đang hái trà, quét trên vườn trúc, bỗng nhiên có một bóng người đẹp đi qua. Đương nhiên có mắt mình phải nhìn thấy, đâu thể không thấy được, là nam hay nữ, một người đẹp đi ngang qua. Nếu mình có chỉ, có an trú cảm giác toàn thân, lúc đó mình sẽ thấy được có cảm giác ái, muốn nhìn tức đã là ái, là dục, chứ đừng nói chi mà tới cái sâu, chỉ muốn nhìn thôi. Khi mình quét như vậy, đang chú tâm quét cảm giác toàn thân, đang làm việc nhưng có một cái bóng đi qua, mình thấy phớt nhẹ nhưng trong này muốn nhìn, thì cái muốn nhìn đó là dục. Nó sâu sắc lắm, trong cái ý có sự muốn nhìn, lúc đó là tầm, dục tầm sanh khởi, tức muốn nhìn.
Nếu mình không nhìn kỹ cảm giác toàn thân, mình không biết lúc đó có dục tầm, mình sẽ đi theo nó luôn, chẳng những mình nhìn kỹ, có khi còn tiến lại nói chuyện. Nói chuyện rất bình thường nhưng mình nhìn sâu vô trong, các pháp vận hành trong đó, có ái bên trong, thấy thích. Khi mình phát hiện ra có sự muốn nhìn, muốn nói chuyện, muốn tiếp xúc, muốn làm quen, có ý ái trong đó, lúc đó mình Như Lý Tác Ý, tác động tâm ý rồi đánh đuổi suy nghĩ, ý tưởng đó. Mình đứng yên trở lại, trú vô cảm thọ của mình, tẩy sạch các cảm thọ, những ý tưởng đó. Lúc đó đồng thời có chỉ quán, có định huệ chứ không phải chỉ lúc ngồi thiền mới có chỉ quán, ngay lúc quét rác cũng có chỉ quán, ngay lúc mình tiếp viên xúc cảnh ở ngoài cũng có chỉ quán, nếu mình biết vận dụng.
Ví dụ mình đang ngồi đây, bỗng nhiên có một người nào đó vô nói chuyện lớn, la lối; lúc đó mình muốn nhìn xem người đó là ai, mặt mũi ra sao. Mình sẽ quên cảm giác đang diễn ra ở đây, mất cảm giác toàn thân, mất sự định chỉ ngay tại chỗ này mà bị âm thanh đó chi phối, lúc đó sân tầm sanh khởi. Tâm mình hướng về sự tức giận, bực bội. Lúc đó nếu mình cảm giác toàn thân, mình có tu chỉ, thực hành ba pháp cảm giác toàn thân, ngay lúc sanh khởi mình biết, nhiếp phục trở lại, không nhìn ra ngoài, rõ biết ở trước mặt, trở về cảm giác toàn thân. Nội tâm của mình tỉnh giác là mình biết mình đang có sân tầm sanh khởi, mình phải tác ý, đuổi ý nghĩ khó chịu, bực bội cảm giác đó ra. Đó gọi là Chánh Niệm tỉnh giác, định nghĩa đó tuyệt đối quan trọng, chứ không phải học để mà tụng. Nó là pháp hành tối thượng của Đức Phật, Chánh Niệm tỉnh giác.
Dục tầm, sân tầm, hại tầm khởi lên. Nó an trú, chấm dứt, sanh khởi như thế nào, nó vận hành, hoạt động rồi tan biến như thế nào mình phải nhìn thấy. Nó sanh khởi lên, mình biết, tức mình có chỉ; mà khi mình dùng tác ý đuổi nó ra lúc đó là quán. Mặt hồ lắng lặng, trong như vậy là chỉ, nhìn xuống dưới thấy một con cóc nhái chết là quán, sau đó mình nhặt nó quăng ra ngoài, bỏ ra ngoài. Nếu mình không có chỉ, không có sự an định, mình sẽ không thấy rõ, nếu mình không thấy rõ, mình sẽ không phát giác, phát hiện ra sự cấu uế, cấu nhiễm của tâm. Nếu mình không phát giác, phát hiện ra sự cấu uế, cấu nhiễm của tâm, làm sao mình đi đến chỗ tẩy sạch, thanh tịnh.
Ở đây nói cho các chú thấy những thứ thực tế trước mắt để mình tu chứ thầy không nói sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, cái đó mình chưa làm được. Mình đang ngồi nghe pháp mà bỗng nhiên có một cảm giác đơ đơ, buồn ngủ mà mình vẫn buông trôi, buông xuôi, buông thả cho cảm giác đó muốn làm gì thì làm, nó xâm chiếm, áp đảo mình. Tức mình không chỉ, không quán, hoàn toàn bị dẫn dắt, còn nếu mình có chỉ, an trú cảm giác toàn thân thì xuất hiện một cảm giác lạ trên đôi mắt, trên đầu, mình biết liền, phải không?
Khi mình có chỉ như vậy, mình an trú cảm giác toàn thân, nó xuất hiện một cái lạ lên, mình biết, sau đó dùng Như Lý Tác Ý đánh đuổi cảm giác đó ra khỏi. Mình trở về trạng thái trong sáng, tỏa sáng, đó là đang sử dụng chỉ quán trong khi ngồi nghe pháp, khi ngồi thiền cũng vậy. Mình đang nói chuyện mà có bản ngã chen vô, mình không phát giác, phát hiện tức không chỉ, không quán gì cả, hoàn toàn bị bản ngã xâm chiếm. Ví dụ mình đang làm gì đó mà bị dao động, trạo cử, có khi nhắc nhở mình cũng không biết, mình không nhận lỗi thì nó chồng thêm nhiều cái nữa.
4. Năm triền cái
Thành ra các pháp diễn ra trong suốt ngày sinh hoạt của mình, Năm triền cái lúc nào nó cũng xâm chiếm, áp đảo. Sự tu của chúng ta đặt trọng tâm, tất cả mũi dùi chĩa vào Năm triền cái: dục tham, sân, trạo cử, trạo hối, hôn trầm, hoài nghi. Bây giờ tập trung tất cả vào Năm triền cái đó, phải hạ gục nó được mới thành công ở bước thứ nhất mới có thể đi vào các tầng thiền. Không hạ gục năm cái đó thì không vô thiền được, không trú được ở thiền thứ nhất, thiền thứ hai, thiền thứ ba, thiền thứ tư.
Khi chú thấy chú ngồi yên tịnh mà không muốn xả, an lạc, tỉnh táo, sáng tỏ, an lạc thì lúc đó không có Năm triền cái. Mà lúc ngồi trông cho mau hết giờ, tức là dục, thì Năm triền cái lúc đó đang xâm chiếm, mình ngồi thiền mình không hoan hỷ, an lạc, mình mệt mỏi, khó chịu, bứt rứt mà khi nào mình ngồi yên tĩnh, an lạc, nhẹ nhàng, an tịnh, không muốn xả thiền thì lúc đó không có Năm triền cái. Còn ngồi mà người ta đánh chuông mình không hay, cái đó là khác, đó là hôn trầm. Còn ở đây mình biết hết, nhưng nó yên tĩnh, tỏa sáng, an lạc phải không có Năm triền cái.
Cho nên tất cả hiện giờ chúng ta ngồi đây tu phải chĩa mũi dùi thẳng vô Năm triền cái, giờ giờ, phút phút. Nhiều khi con chỉ cho mấy thầy, mấy chú, mấy cô mà không để ý, có người để ý còn có người không. Chúng ta thấy rất rõ khi mình thiền quán, nếu không có Năm triền cái, lúc đó cảm thọ của mình gần như trọn vẹn trong pháp. Pháp nói tới đâu tương ứng tới đó. Còn lúc nào có triền cái, nó mới được phân nửa thôi hoặc một phần ba, hoặc có khi đơ luôn cả một thời pháp như vậy thì quá nặng nề.
Bữa nào mình thiền quán mà thấy cảm xúc dạt dào, trào dâng là tâm mình không có Năm triền cái, hoặc bữa đó rất ít. Cho nên ngài A Nan, tại sao ghi nhớ hết tất cả lời dạy của Đức Phật khi ngài nghe pháp? Vì không có Năm triền cái nên tâm ngài trong sáng, không bị gì che nên tất cả lời dạy của Đức Phật ngài đều ghi nhớ. Sau này Đức Phật nhập diệt ngài đọc lại hết những bài kinh. Một người như vậy thường ở trong trạng thái của sơ thiền. Còn mình nhiều khi rất khổ sở, dục xâm chiếm, sân lấn vô, trấn áp mà mình khổ, một hồi nó lăng xăng, lóc chóc, lao xao, hối tiếc những cái đã làm sai, trạo hối. Xong một hồi lại hôn trầm, ngủ gục, rồi lại nghi nghi ngờ ngờ, hoặc hoặc.
Năm cái đó cứ đắp đổi với nhau làm cho tâm mình không trong sáng nên phải tập trung tâm ý vào sự đánh phá Năm triền cái ngày đêm, buông lung phóng dật của mình liên hệ đến trạo cử, hai pháp đó. Mình thấy không, rất khó, chỉ cần hết thời thiền, hết thời nghe pháp, hết thời tu, mình bước ra, nhiều khi còn chưa bước ra thiền đường nữa, bắt đầu trở về hoạt động buông lung phóng dật của nó. Mà nó rất khoan khoái, thích thú, dục ái, hỷ trong đó là hỷ ái. Còn lúc ngồi rất khổ, mình thấy không, buông ra rồi tươi tắn, nói chuyện vui vẻ, tươi thắm, còn ngồi giống như bị héo. Vì nó không được tưới nước ái, không được thỏa mãn chuyện buông lung của nó. Nhìn ngó, cười nói, ăn chép chép miệng, đã lắm, đó là trạng thái của nó, còn trạng thái đi vô chỉ quán phải có một công phu.
Đó là những câu hỏi nãy giờ thầy chia sẻ xong, mời mấy vị tiếp theo, mấy chú mới. Hết nghi rồi hả, cho nên mình thực tập ba pháp rất quan trọng, mà lúc nào mình thực tập ba pháp là lúc đó đang chỉ, đang định, gần gần tới bước mình thực tập quen rồi, chỉ cần nhìn thôi là biết người đó có thực hành hay không thực hành trong lúc đó. Cho nên sự tu đòi hỏi mình nhiều cố gắng, không đơn giản như mình nghĩ. Thôi bên nam xong rồi phải không, mấy chú này còn ai hỏi gì nữa không? Bên mấy cô, nhất là mấy cô, mấy vị mới tới.
III. Chia sẻ
Phật tử: Con xin đảnh lễ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, con xin đảnh lễ sư phụ và các thầy, các cô và đại chúng. Con được đến đây là rất cảm ơn con gái con, được chỉ dẫn cho con được lên đây, được lên Linh Quy Pháp Ấn. Lời đầu tiên con rất cảm ơn thầy đã giảng giải pháp để con hiểu được cảm thọ, Năm ngũ uẩn và con cũng hiểu được pháp này. Trước đây con định nhưng tâm bị rối, không định được. Từ ngày lên đây, các sư cô, sư thầy chỉ dạy nên trong lúc ngồi thiền con cũng thấy đỡ rồi. Lần đầu tiên con gái con chỉ dẫn ở nhà nghe pháp trên máy, con cũng ao ước được lên Linh Quy Pháp Ấn gặp, và hôm nay con rất vinh dự được nghe thầy giảng pháp. Con rất cảm ơn con gái đã dẫn dắt con lên đây tu hành, con xin cảm ơn thầy, quý sư thầy, sư cô và đại chúng. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Phật tử: Con xin đảnh lễ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, con xin đảnh lễ sư phụ và các thầy, các cô và đại chúng. Con vừa mới ghé thiền đường hôm qua, con được các quý thầy, quý cô cho phép con ở lại đây để cùng tá túc và tu học với các quý thầy, quý cô và đại chúng. Hôm qua là ngày đầu tiên con được ngồi thiền bốn mươi lăm phút cùng với các sư thầy, sư cô và đại chúng. Thực ra ở nhà mỗi ngày con cũng đều ngồi thiền mười lăm phút, mà hôm qua con được ngồi thiền và được hướng dẫn, được ngồi trong cộng đồng của mình như vầy để hưởng được các năng lượng từ quý thầy quý cô. Con rất hoan hỷ vì có thể ngồi được bốn mươi lăm phút mà con chỉ ngồi bán già, mình có duyên thì không bị đau chân. Chỉ là trong quá trình thiền, có những lúc con buồn ngủ, nhưng tác ý để mình tỉnh dậy, sau đó tập trung lại vào hơi thở. May mắn hôm nay con được ngồi để thiền một lần nữa, con chỉ có một chút khó khăn, là kể cả ngồi thiền ở nhà hay ở đây tâm con cũng chưa an được, cũng nghĩ chuyện này chuyện kia. Rồi mình lại kéo mình về để tập trung lại vào hơi thở. Con cũng xin ở lại đây để cùng với các sư thầy, sư cô thiền thêm một số buổi nữa, để con có thể có sự tiến bộ trong lúc ngồi thiền để quán tâm của mình. Con xin cảm ơn. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
IV. Cảm thọ Tham – Sân - Si
Phật tử: Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính bạch trên sư phụ, quý thầy, quý sư cô, và đại chúng. Trong quá trình tu học vừa qua, con có một số thắc mắc, kính trình lên sư phụ, mong sư phụ từ bi hoan hỷ chỉ dạy cho con. Xin sư phụ chỉ dạy thêm mối liên kết giữa lậu hoặc và tham, sân, si, con còn phân vân khúc mắc và khi nhận diện cảm giác, lúc cảm giác trơ trơ, không dễ chịu cũng không khó chịu, khi mình nhận ra được cảm giác đó, lúc đó mình có si không? Hoặc bình thường lúc cảm giác không dễ chịu cũng không khó chịu, tâm không vui cũng không buồn thì lúc đó mình có si không ạ? Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Sư phụ: Cô chịu khó nghe kỹ năm, sáu bài quán chiếu thâm sâu về cảm thọ, nghe kỹ phần đó. Trong đó nói rất kỹ, cảm thọ không khổ không vui, trơ trơ là lúc nào cũng có si trong đó: si tùy miên, vô minh tùy miên. Mình phải tác ý các đề mục, quán chiếu trong cảm thọ đó, quán tính vô thường, quán sự không đáng tham muốn, sự tàn hoại, sự từ bỏ hoặc mình quán diệt dục, diệt chấp ngã. Ngay lúc trơ trơ đó mình phải khởi quán lên, hoặc chỉ thực hành ba pháp để mình nhìn thấy, hoặc lúc đó mình khởi tác ý để nó đi ra khỏi trạng thái trơ trơ đó.
Ví dụ như mình cùng với quý thầy đi dự một buổi lễ, trong một công ty rất lớn, đi ra, mấy thầy mấy huynh đệ nói họ làm kỹ chỗ này chỗ kia, tốt. Sau khi thầy đó nói hết rồi con mới nói: thấy vậy trong đó khổ, lo lắng, bất an, áp lực, sợ hãi, không sướng đâu. Khi một câu đó con nói ra, tất cả những cái mà nãy giờ mọi người nói là sướng, là vui, là giàu bị sụp đổ hết. Sự tác ý của mình tác ý ra có thể đánh vỡ sự ưa thích trong cái giàu có.
Cũng vậy, trong một cảm giác thường thường, đều đều, mình phải tác ý: đây không phải là bình an, ngay giờ phút này bất an ở toàn cầu. Hôm nay có bao nhiêu ca nhiễm? Trên chín mươi sáu triệu ca, gần tới một trăm triệu rồi, và trên hai triệu người chết. Những người đang nhiễm bệnh đó có cảm giác thường thường đều đều không? Hàng trăm, mấy trăm chiếc xe đông lạnh chứa xác người chết, mấy trăm chiếc nối dài như vậy. Khi mình tác ý như vậy, cảm giác thường thường đều đều của mình còn không? Nó mất rồi, vậy mới phá được vô minh, tùy miên, si tùy miên, si mê trong đó.
Tức phải quán về sự nguy hiểm và tác hại của đời sống này, của ngũ thủ uẩn này, thường xuyên quán như vậy, dù cho người mới tu cho đến bậc Thánh quả A-la-hán, luôn luôn quán thân này là vô thường, là ung nhọt, là mũi tên, là kẻ giết người, là cục bướu, là đau khổ, bệnh hoạn. thường thường quán như vậy, suy nghĩ như vậy, tác ý như vậy. Khi đang có cảm giác trơ trơ, mình tác ý lên, nó mất cái trơ trơ đó, tác ý lên liền. Em bé ba, bốn tuổi mà đột quỵ chết, một đứa nhỏ mới sanh ra có vài tháng thôi mà bà mẹ khi đi vào khám bệnh rồi phải mổ não, ung thư. Vài tháng, có đứa mấy tuổi gửi nhà trẻ, sau đó ở nhà trẻ người ta phát hiện, đem vô bệnh viện, bác sĩ nói phải mổ ngay lập tức. Và mổ ra rồi đứa bé này chết, ung thư não, mới có mấy tuổi, gửi nhà trẻ.
Bây giờ sanh ra rồi vứt đứa con trong thùng rác, xe người ta chạy qua cán đứa con mới văng ra. Hổm rày liên tục có những vụ việc sanh con ra rồi bỏ, bỏ trước cổng chùa, bỏ thùng rác, bỏ hố ga rồi chôn sống, rất nhiều người bỏ con. Thậm chí ghi tờ giấy bỏ con, có ai giúp giùm rồi bỏ như vậy. Khi mình quán chiếu những cái đó rồi, từ nhiên cảm giác trơ trơ, đều đều, thường thường của mình còn không? Làm cho mình sanh khởi sự lo lắng, bất an, tai họa, hiểm họa, đau khổ cuộc đời này. Từ đó mình sanh ra sự nhàm chán, không tham muốn mới đi đến chỗ giải thoát, cho nên trong sự tu của mình là liên tục suy nghĩ và tác động tâm ý để cho nó nhàm chán.
Thánh trí tuệ là gì? Là nhìn hết tất cả mọi góc độ, phương diện của ngũ uẩn, không có một khía cạnh nào của nó mà mình không còn thông đạt. Mình phải thông đạt hết, thấy biết hết tất cả những sự đau khổ, những sự biến động vô thường, bất trắc, bất an, bất ổn, bất thường, bất toại nguyện của nó. Mình phải nhìn ra hết những cái vô thường, vô ngã, những cái trống rỗng, những nguy hiểm và tác hại của nó. Những điều đó mình phải khai thác hết, đừng để cho vị ngọt đó làm chìm đắm mình, khai thác nguy hiểm và tác hại của nó càng nhiều càng tốt. Vì đó là sự thật, tất cả những điều mình nói nãy giờ là sự thật đang diễn ra, không nói thêm gì cả.
V. Dục lậu
Vì mình ngủ mê trong dục, tham, ái, trong sự vui sướng, mình chết chìm trong đó. Con ruồi chết trong tô mật, chết trong vị ngọt, cũng vậy, mình chết trong vị ngọt của sắc dục, của ái mà mình không thấy được góc độ nguy hiểm và tác hại của đời sống này. Một tiếng nhạc đó có thể xảy ra án mạng, người hàng xóm đi nhậu về, qua cãi nhau đánh nhau rồi chém nhau. Một tiếng nhạc Karaoke đó có thể nhìn thấy được một mạng người chết, đó là cái thấy của trí tuệ. Còn nghe cái đó rồi chân giật giật, nhịp theo, một hồi miệng nhép nhép theo, rồi xong. Thấy chưa, sự khác biệt giữa tu và không tu, sợ quá nó tắt luôn.
Như vậy mới đi vào được trí tuệ của bậc Thánh, phải nhìn ra được cái phản diện của đời sống này. Những cái bị che lấp, bị phủ kín, bị gói chặt lại, mình phải phanh phui, mở nó ra, giải phẫu cơ thể này hằng ngày khi thiền định. Ngày nào cũng giải phẫu nó, ngày nào cũng nhàm chán cái tham dục sanh khởi lên, mệt mỏi quá, sân hận sanh khởi lên, mệt mỏi quá; bản ngã sanh khởi lên, mệt mỏi, nhàm chán quá. Trong những lúc đó, mình phải tác ý, như vậy pháp mới sanh
“Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi”.
Kinh Cội rễ của sự vật – IX Phẩm niệm – Chương Tám pháp – Kinh Tăng chi bộ tập 4
Không tác ý làm sao pháp sanh? Tác ý. Cũng như giờ này ở dưới mạnh ai muốn làm gì làm thì nó không có những cảm thọ, những suy tưởng giống như bây giờ. Nhưng lên đây ngồi nói vậy, nó có những cảm thọ, tưởng, con ngồi đây con tác ý giùm cho đại chúng rồi, tác ý, tác động tâm ý suy nghĩ, nghiền ngẫm, suy ngẫm, suy tư. Bằng không mình sống say chết mộng, sống giống như người say xỉn, chết cũng giống như mộng mơ, không biết gì hết. Lúc nào cũng mơ mơ, ngơ ngơ. Thật sự con thưa đại chúng, mình nhìn ra được tham, sân, si và lậu hoặc này mình sẽ nhàm chán lắm, ghê sợ lắm.
Bây giờ phân biệt giữa tham, sân, si và lậu hoặc. Tham, sân, si khi mình nói, nó có một ý nghĩa rõ ràng, tham ra tham, sân ra sân, si ra si. Cảm giác tham ái làm cho tâm mình co thắt lại, quyến luyến, bịn rịn, lưu luyến. Cảm giác sân nó thiêu đốt, bừng bực, phừng phực, rực cháy lên, bực bội, bức bối. Còn cảm giác si làm mình ngơ ngơ, dại dại, đơ đơ hay ngu mê, si ám, nó thấy rõ nên gọi là tham ra tham, sân ra sân, si ra si. Mình nhận diện cảm thọ mình thấy rõ nhưng lậu hoặc nó sâu hơn, mình không thấy, là hang ổ, là nguồn phát ra tham, sân, si. Vì nếu mình thấy được thì không kêu bằng lậu, nó âm thầm, ngấm ngầm hoạt động, nó ngầm cho nên mình mới gọi là Thánh trí tuệ, gọi là Đức Thế Tôn, bậc Toàn giác.
Đức Thế Tôn không chỉ thấy những cái thấy được mà ngài còn thấy những cái mà chúng sanh không thể thấy. Ngài thấy tại sao có tham, những ham muốn này tại sao có, từ đâu có, căn nguyên nguồn cội, những thức ăn và làm sao cho nó chấm dứt cho nên dục lậu là một trạng thái hoạt động ngấm ngầm, âm thầm, sâu kín, nhỏ nhiệm mà nó luôn luôn làm cho chúng ta mắt thấy tai nghe, đụng chạm, mũi ngửi, suy nghĩ, cảm giác, toan tính, nhận thức gì cũng ở trong dục, chúng sanh không biết. Chúng ta học trong bài kinh Đại Niệm Xứ: ở đời cái gì là thân ái? Con mắt là sắc thân ái, sắc khả ái, lỗ tai này là sắc thân ái, sắc khả ái; mũi này, miệng này, khuôn mặt này là sắc thân ái, sắc khả ái.
Tấm hình mình chụp, mình nhìn vô có ái không? Cái bóng thôi, nó ghê gớm như vậy đó. Thành ra thật sự con thưa đại chúng, mình tu mà muốn lậu tận là không phải chuyện bình thường. Mình phải đem cả sinh mạng ra đánh đổi. Sự tu của mình phải miên miên, mật mật, liên tục, khít khao, từng giây từng phút, từng khoảnh khắc trú trong pháp, không được đi chệch ra khỏi đường ray, nếu chệch là chết ngay lập tức. Giống như xe lửa chạy trên đường ray, không được lệch ra, lệch ra là xảy ra tai nạn.
Khi nào tâm mình hoàn toàn an trú theo đường rày của pháp mới gọi là nhập lưu. Một ngày mình chạy ra khỏi đường rày bao nhiêu lần? Cho nên lúc nào mình không trú trong pháp, lúc đó thành ngoại đạo, lúc nào tâm mình trú trong pháp lúc đó mới gọi là hành giả. Tâm trong pháp ngoại đạo nó ở ngoài đạo, lúc nào nó cũng nhớ vô thường, khổ, vô ngã. Lúc nào nó cũng thấy thân này bất tịnh, lúc nào cũng thấy rằng tham, sân, si này đáng nhờm tởm, ngao ngán, chán chường. Lúc nào nó cũng thấy Ba mươi bảy phẩm trợ đạo vận hành, Tứ Như Ý Túc, Ngũ căn ngũ lực, Thất Bồ Đề phần, Bát Chánh Đạo Phật. Lúc nào nó cũng thấy được ngũ uẩn. Đó là Chánh Kiến, an trú trong Chánh Kiến.
Chúng ta biết rằng dục lậu khủng khiếp lắm, thế giới ngầm của tâm linh. Thật ra tất cả chúng sanh chỉ sống trên bề ngoài, biểu diện bề nổi, thô phù của nghiệp, của tham, sân, si. Bậc Đa văn Thánh đệ tử mới bắt đầu nhìn ra được những nguyên nhân nào dẫn tới đời sống đó. Chỉ có bậc Thánh mới có thể chận đứng được những nguyên nhân đó và diệt tận. Cho nên mình lên trình pháp, nói rằng mình tàm quý, thấy xấu hổ, thấy sợ hãi những cấu uế này là tốt. Hãy trú trong tàm quý đó hoài, chứ còn lúc nào mình hết tàm quý thì lúc đó mệt, lúc đó phải là bậc A-la-hán, hay các bậc Thánh, mà phải là Thánh tối cao mới hết tàm quý. Còn những hữu học vị vẫn còn tàm quý, tàm quý mới đi đến chỗ thanh tịnh.
VI. Hữu lậu
Cho nên mình đang trú trong sự xấu hổ, tu không ra gì, mình có dám lên mặt với ai không? Mình có dám ta đây với ai không? Cho nên trú trong tàm quý thì thiện pháp sanh. Mình tu càng nhiều càng xấu hổ, đi không dám nhìn ai hết, cúi cúi không dám nhìn ai. Thấy một nội tâm đầy rác bẩn, xú uế, lậu hoặc, thấy một thân thể bất tịnh, nhơ nhớp, đáng nhàm đáng chán, đáng ghê đáng tởm, thấy cả một thế giới đầy dẫy những dục tham, sân hận, si mê, không ưa, không thích, không ham, không muốn, hướng tới sự từ bỏ, viễn ly.
Chúng ta thấy tu để cho tâm mình tới đó phải đầu tư rất nhiều cho nên gọi là lậu hoặc là ghê gớm lắm. Hữu lậu là một trạng thái hoạt động rì rào, âm thầm, ngấm ngầm, cực kỳ nhỏ nhiệm và vi tế. Làm cho chúng ta, nói về phần thô là hoạt động hoài không yên, muốn làm này làm kia, không có chuyện cũng kiếm chuyện đặng làm, không để cho mình yên. Còn cái thâm sâu vô hữu lậu là ưa thích sự hiện hữu. Đây là một trong bốn ách nạn, đánh một cái là karaoke chạy luôn, nói như vậy đừng cho là hay, nhiều khi nó mở lên lại.
Trong bốn ách này đè nặng chúng ta, hữu ách, hữu là một cái ách, hữu ở đây là sự hiện hữu. Cái này sâu lắm, có khi chúng ta tu, ăn chay rát ruột, cạo đầu rát da, ở trong chùa từ bảy tuổi tới bảy mươi tuổi chết còn không biết được điều này chứ không phải dễ. Ưa thích sự hiện hữu, ưa thích mình hiện hữu trong sách, trong cảm giác, trong sự nghĩ tưởng, sự rõ biết, ưa thích năm uẩn này, say đắm năm uẩn này. Đức Phật dùng từ: “Ở đây này các Tỳ-kheo, hạng người không như thật, quán chiếu, nhận thức, biết rõ về sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt và sự nguy hại, sự xuất ly của hữu. Do không như thật, biết bằng trí tuệ như vậy nên ham thích hiện hữu, hoan hỷ, ái luyến, đam mê, khát khao, phiền não, chấp thủ đối với hiện hữu. Hữu ái trong các hữu, chiếm đóng và tồn tại”. (bạn ơi, chỗ này không tìm ra tựa bài kinh)
Sự yêu thích các hữu này chiếm đóng và tồn tại trong tâm. Con nói ví dụ cho đại chúng dễ thấy: bây giờ con thích chỗ này, pháp toàn này, cách trang trí, con tự tay trang trí, thiết kế, thích cái này. Bỗng nhiên con đi đâu về, có người dọn hết cái này không còn gì hết, bực bội, khổ, phiền não. Vì mình muốn cái này nó có ở đây, ưa thích cái này, đó là hữu ái. Mà nếu bây giờ con không thích cái này, không khoái cái này, không muốn, không ưa, nhàm chán đối với cái này, thì bây giờ có ai dọn đi lúc đó con có đau khổ không, nói ví dụ ở ngoài cho dễ hiểu. Còn cái sâu xa là mình ưa thích cái sắc. Dù đó là hình dáng gì, con dòi hay con kiến, chuột, mèo, rắn độc, bản thân của những chúng sanh đó cũng ưa thích hình dáng đó. Vì nghiệp sanh ra cái đó phải ưa thôi chứ không ưa thì ưa cái gì? Vì hình dáng nó vậy rồi, nó phải ưa, đó là hữu ái.
Điều này hết sức thâm sâu, chúng sanh bình thường không thể hiểu nổi Thánh Trí của Đức Phật, vì nó ưa thích những hình thể như vậy, những hình thù, hình dáng, hình sắc, những hình tướng như vậy cho nên phải sanh ra những hình tướng đó. Những hình tướng đó sẽ tiếp tục sanh khởi, sanh khởi nữa, chúng nó sanh khởi nên gọi là chúng sanh. Mình có ưa thích cảm giác không? Có, mình ưa thích, tìm tòi, mong muốn, khao khát. Như vậy, mình ưa thích cảm giác làm sao cảm giác này mất được, nên nó chết cũng phải kiếm cảm giác khác. Cái nào cũng thủ, sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, cho nên hữu ái là vậy.
Mình phân tích để thấy là mình ưa thích, khoan khoái, tham đắm, ái luyến, khao khát, thèm muốn được những cảm giác như vậy, nhất định mình sẽ còn ở trong những cảm giác đó, không thể đi ra khỏi cảm giác đó. Chỗ này là chỗ thâm sâu của Thánh trí huệ, những hình bóng, những suy nghĩ mình cũng ưa thích, cái rõ biết, nhận thức này mình cũng ưa thích. Tóm lại mình ưa thích năm thủ uẩn, ái cho nên mình thủ cho nên hữu ưa thích thì mình nắm giữ, có ra hình dáng như vậy tương xứng với cái mình ưa thích, với nghiệp. Thành ra chữ hữu ở đây là sự hiện hữu của năm uẩn.
Chữ hữu ái là ưa thích sự hiện hữu của năm uẩn ở hình thái đó. Mình thấy ba cõi có dục ái, hữu ái và vô hữu ái, tức do mình ưa thích dục, sự hiện hữu mới có dục, còn chư thiên, cái dục của họ rất nhẹ, không thô giống như mình, không có sự quan hệ như mình. Khi mình ưa thích cái dục giống vậy nên mình phải ở thế giới giống vậy, tương thích. Rồi các vị chư thiên ưa thích hình tướng, sắc như vậy nên mới có cõi sắc. Do những tâm ưa thích trạng thái đó, chiêu cảm đồng nghiệp cộng lại biểu hiện trong thế giới đó.
Như người Mỹ người ta có tâm như vậy, ưa thích như vậy nên có đất nước như vậy. Người châu Phi ưa thích như vậy, họ muốn vậy mới có như vậy, từ tâm, từ ái, từ nghiệp biểu hiện ra cộng đồng, đồng nghiệp biểu hiện. Bây giờ thích, không có nữa, vô hữu ái, thích mình không có, vì thích mình không có mà nếu có Thánh trí huệ mới đi tới Niết-bàn, còn cái này thích mình không có mà vẫn có mình. Chỗ này là chỗ độc đáo, thích mình không có hình tướng, không có dục như cõi dục, không giống sắc, màu sắc của chư thiên bị vô thường như vậy, thích mình không có hình tướng gì, thích cái không có nên thành ra thế giới không có gọi là vô sắc giới. Chúng ta thấy khủng khiếp không? Sống bằng tâm tưởng.
Như vậy đó là ba hữu: dục hữu, sắc hữu và vô sắc hữu. Và chữ hữu ái này, cái gọi là hữu lậu này là một trạng thái ngấm ngầm hoạt động tinh vi, nhỏ nhiệm để làm ra các sự hiện hữu trong ba cõi. Chúng ta thấy dễ thấy hay khó? Nên mới gọi là lậu hoặc, mà Đức Phật nhìn thấy, mình thấy trí huệ Đức Phật khủng khiếp không? Nên chúng ta lạy Phật. Tức một trạng thái ngấm ngầm, nhỏ nhiệm, tinh vi, ưa thích hoạt động, vận hành để nó biểu hiện ra tam giới. Tất cả các hình thái của chúng sanh, của ngũ uẩn. Nặng về dục thì nó ra thân như vậy, máu, mỡ, mủ, phân, nước tiểu, tinh huyết như vậy để nó thực hiện những hành động đó, cho nó thỏa mãn cái dục đó để ra thế giới dục.
Sanh ra từ dục, sống cũng vì lòng dục, chết cũng vì dục. Những đời sau tiếp tục sanh ra cũng dục lôi đầu mình đi. Mình đau khổ, phiền não, sợ hãi, bất an vì nó, đó là dục giới. Dục lậu, ở trong đó là sự ngấm ngầm hoạt động, ưa thích để nó biểu hiện ra, dẫn dắt tâm mình. Sắc giới và vô sắc giới cũng vậy, chúng ta thấy dễ sợ không? Cho đến những bậc tu hành còn có một cái vô sở hữu, một cái tưởng không có gì hết, trống không hết, cả thế giới này là trống không, trống rỗng hết, mênh mông, bao la, vô tận không có gì hết, tâm lúc nào cũng thấy vậy. Trú trong trạng thái đó thì vô sở hữu xứ, định vô sở hữu.
Những người này tâm lúc nào cũng trống rỗng, trống không, trống trơn, bao la, vô tận, mênh mông, không có gì, trú trong định đó thì người này sau khi chết sanh lên cõi trời, cõi trời vô sắc giới, chỉ có một cái tâm tưởng là trống rỗng, trống không, vô sở hữu, trú trong thiền định đó. Mà những thiền định, những cảnh trời này mà sống, ôi thôi lâu, khủng khiếp lắm, tỷ tỷ tỷ năm trú trong định đó. Nhưng hết định đó rồi cũng lọt xuống, làm người rất ít, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh rất nhiều.
Tại vì sao? Không thành tựu Chánh Kiến thì làm sao biết nguồn cơn để phá được năm uẩn. Tức động cơ, nguyên nhân mà nó hình thành ra các dạng thức, hình thể, trạng thái của ngũ uẩn người này không biết nhưng Chánh Tri Kiến của Đức Phật là thấy được nguồn cơn, nguyên nhân vì sao sanh ra các hình thể này. Thế giới của dục, của sắc, của vô sắc, Đức Phật chỉ nguồn cơn đó thì Đa văn Thánh đệ tử thành tựu Chánh Kiến mới phá nguồn cơn đó thì không còn đi trong các cõi nữa, đó là hữu lậu cho nên bây giờ mới tiến tới vô minh lậu. Có một trạng thái ngấm ngầm hoạt động tinh vi, nhỏ nhiệm, thâm sâu, vi tế cực kỳ, nó không biết ngũ uẩn, không biết khổ trong tất cả các hình thái.
“Đây là khổ” thì đây là tất cả các hình thái, trạng thái hình thể biểu hiện của ngũ uẩn. Dù cho hình thể nào của ngũ uẩn cũng khổ nên nói đây là khổ, là một sự thật cần phải nỗ lực cố gắng để rõ biết. Bất cứ hình thể nào, dù cho là hình thể hay không hình thể, vô sắc giới. Tại vì sao? Vì chấp thủ, chấp ngã của nó bên trong nó còn, gốc còn, thân kiến còn thì làm sao phá vỡ được khối vô minh đó. Mà hãy còn vô minh thì sẽ còn các lậu hoặc, còn vô minh là còn hiện hữu trong ngũ uẩn. Vì trạng thái trống trơn, yên lặng, mênh mông, thênh thang, không có gì hết đó là mình, của mình, là tôi.
Chúng ta mường tượng được cái này không? Bát định, “Không vô biên xứ, thức vô biên xứ”, cái biết của mình trùm khắp hết, cái biết của mình rõ ràng, thường biết, trống không, thênh thang, mênh mông trong trời đất, trùm phủ hư không, bao la. Đó là thức vô biên xứ. Người tu cái này mà xuyên suốt, chứng đắc được định này thì lên thức vô biên xứ tưởng, là vô sắc giới. Tại vì sao? Người này nhận trạng thái đó là mình, của mình, tự ngã của mình. Chúng ta thấy nó nhỏ nhiệm, vi tế không? Cho nên chữ lậu hoặc khác với chữ tham, sân, si là gì? Là nguồn cội thâm sâu để nó phát khởi cho tham, sân, si.
Chính vì có cái này bên trong nên tham không bao giờ dứt được, nó không hoạt động hình thái này thì nó hoạt động hình thái khác. Cho nên mình thấy không, ở ngoài đời nó sân si theo ở ngoài đời, vô chùa sân si theo kiểu ở trong chùa, phải không? Ngoài đời có bản ngã của ngoài đời, mà vô đạo có bản ngã của người tu, ngoài đời có những cái tham của ngoài đời, mà vô tu thì tham những chức vụ, những giáo phẩm: Đại Đức, Thượng Tọa, Hòa Thượng, Trưởng lão Hòa Thượng, ví dụ chẳng hạn vậy. Chẳng qua là hình thái khác, chúng ta thấy không? Chính vì lậu hoặc bên trong này mình không nhìn thấy được. Vì vậy những bài quán của chúng ta trong sáu xứ là những bài đó trí huệ khủng khiếp.
VII. Vô minh lậu
Chúng ta phải quán cái đó rất nhiều, quán sáu căn, từ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý rồi quán sáu trần, những cái đó gọi là nội xứ, sáu xứ, sáu nội xứ, sáu ngoại xứ: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, sáu xúc xứ, rồi sáu căn, sáu trần, sáu xúc, sáu thọ, sáu ái, sáu tưởng, sáu tươi, sáu tầm, sáu tứ. Như vậy cái nào Đức Phật bẻ ra, mở ra hết, tháo ra hết cho mình nhìn thấy từng cái rồi Đức Phật phân tích hết những nguyên tố cấu thành nó rồi những cái ngũ nghĩa là lắp ráp, hoạt động, trống không, vô ngã, vô thường của nó, phiền não của nó để cho mình thấy hết, không còn gì nữa, lúc đó mới phá được vô minh. Tức mình rành rõ hết trơn hết trọi, những cái cấu thành thân tâm của mình, không còn cái nào mình không biết, tính chất, đặc điểm, sự vận hành của nó, nguyên nhân sanh thành và hoại diệt của nó, sự tồn tại của nó, rồi tại sao mình đam mê trong này, là vị ngọt, rồi tai hại, tác hại nó như thế nào, sự nguy hiểm, mình muốn thoát ra phải đi ra sao. Đức Phật chỉ từng cái hết, khủng khiếp không?
Khi mình thấy biết hoàn toàn hết, lúc đó mình nhàm chán, minh sạch, vô minh bị phá. Khi vô minh sanh lên, nhìn thấy cái này chỉ là đồ gốm thôi, cái này chỉ có một cái hột quẹt nó quẹt lên thôi, không có gì hết, cái này chỉ có một cái rầm thôi, cái này chỉ cần bưng, làm cái rổn rớt xuống thôi. Khi mình thấy hết tất cả những khía cạnh hình thành, hoại diệt, cấu tạo, hoạt động, sự đam mê trong đó, sự nguy hiểm tác hại trong đó. Đức Phật chỉ mình con đường thoát ra khỏi cái đó trong tất cả sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu thọ, sáu ái, sáu tưởng, sáu tư, sáu tầm, sáu tứ trong tất cả sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn.
Trong tất cả những sự có mặt, hiện hữu trên cuộc đời này, khi mình thấy biết hết như vậy, minh sanh, vô minh hoặc bị phá. Và khi vô minh hoặc bị phá thì hữu lậu bị phá, dục lậu sập. Chính vì vậy, mình tu là để vô minh bị phá cho minh sanh. Muốn phá vô minh mình phải tu tuệ, mà muốn tu tuệ phải nghe pháp, phải nghiền ngẫm tư duy phải quán chiếu, phải thường xuyên và liên tục. Như vậy lúc đầu mình nghe vô thường, và thấy đúng rồi, cuộc đời vô thường. Nhưng khi trở ra rồi mình không có suy nghĩ vô thường. Bây giờ trở ra mình nghĩ vô thường, mình thường thường nhắc thường, vô thường.
Cái này đau khổ, phiền não, thứ bất tịnh, thứ tanh hôi, nhơ nhớp, bẩn thỉu, tham dục tối ngày, suốt đời, thứ ác độc khốn nạn này làm cho mình khốn khổ, mình cứ nhắc hoài như vậy. Mỗi lần nó sanh khởi lên mình nhắc, mà nó không sanh mình cũng nhắc, nhắc hoài, nhắc riết như vậy cái vô thường nó nhập vô trong nhận thức, trong cảm thọ, suy tưởng của mình, không cần nhắc nữa thì lúc đó là chánh tánh thành tựu, quyết định tánh thành tựu, nhập lưu. Sau khi nhập lưu rồi thì tự động sẽ thấy, mà muốn nhập lưu thì nhắc hoài: khổ. Khi mình thấy, mình nghe, mình cảm nhận một điều gì đó là lập tức mình nắm bắt cơ hội đó liền cho nó sanh khởi cảm thọ. Mình tác ý cho suy nghĩ đó sâu sắc hơn, đậm hơn, thâm sâu hơn, mình quán tưởng ra những hình ảnh đau khổ liên hệ đó, mình diễn cho nó rộng ra, sâu ra, tận cùng ra để mình lưu giữ cảm thọ khổ, cất vô một chút, để dành một miếng rồi bỏ ống đó.
Khi thấy cảnh khổ đó mình suy xét nữa, đau khổ, cha mẹ bệnh hoạn, nằm liệt giường liệt chiếu một chỗ, về thăm, khổ không? Mình quán chiếu thêm, mình ngồi thiền mà làm biếng, buồn ngủ, mở cha mày bệnh gần chết, mẹ mày nằm bệnh hấp hối, mình tác ý, nhắc nhở, rầy, quở trách, cứ làm tới làm lui hoài như vậy riết rồi nó nhớ luôn không quên nữa. Như vậy là quyết định tánh thành tựu, Chánh Trí thành tựu, nó không còn quên, không còn muốn quẹo qua hướng vui nữa. Cho nên bây giờ mình tu, vẫn biết điều đó là khổ, nhưng vẫn còn thích thích; vẫn biết sân là không tốt nhưng vẫn còn giữ cái sân đó; biết bản ngã đó là không hay nhưng cũng còn giữ một chút. Vì cái mình thấy, mình biết chưa đủ, tập khí của quá khứ còn trớn nên mình muốn quật ngược lại, chống lại phải có cả một sự nỗ lực, thả dốc đèo xuống vậy.
Kỳ đó đi qua bên Úc, tới chỗ đó tự nhiên mình hết hồn, xuống một cái vèo rồi lên lại mà không báo cho mình biết trước. Người ta để bảng có camera quay vậy thôi nhưng tới nó xuống như vậy thót tim, xong mới đưa lên. Nếu cho mình hay trước mình cũng mệt lắm, khi mình xuống dốc như vậy mà mình đạp thắng là cả một sự nỗ lực, quyết tâm chứ không phải chuyện đơn giản. Cái dốc đó dữ dằn lắm, dốc của vô minh, tham ái, dục vọng, của tham, sân, si, bản ngã. Tuy mình hiểu nhưng cái thế, cái dốc, cái xích của nó còn mạnh. Chính vì vậy sự tác ý của mình phải mạnh mẽ, nhắc nhở thường xuyên, quán chiếu, nghiền ngẫm, cầm chổi quét quét chứ không phải quét không.
Mình phải quán chiếu, quét tham dục, sân hận, vô minh, bản ngã, ngu si, mê muội của mình. Tác ý, quét như vậy nó sẽ thiền quán chứ không phải chỉ quét mấy lá đa, lá tre . Lúc nấu nướng cũng vậy, thường thường tác ý, nhất là thấy nghe, tiếp xúc chỗ nào mà nó sanh khởi lên là chụp liền, làm bài thiền quán liền, quán nguy hiểm và tác hại của cuộc đời này để nó phát sanh sự nhàm chán, không ưa thích, sự viễn ly, xả ly, xuất ly. Mỗi một lần nó tác ý, sanh khởi lên như vậy là mỗi một lần mình bỏ ống, tích tụ, đây là tích tụ trí huệ, Thánh Trí, chất chứa Thánh trí.
Như vậy, tới lúc nào đó nó nhiều, to lớn, nó đầy đủ, thành tựu Thánh tuệ uẩn giống như ở ngoài đời người ta để dành đủ để cất căn nhà vậy. Những trí huệ của mình phải được tích tụ, tích tập, tích tụ phước, tích tụ đức, tích tụ trí huệ. Mình đừng hài lòng với những cái nhỏ nhiệm, nhỏ bé, nhỏ mọn ở trước mắt, phải tập nhìn xa. Nếu mình hài lòng với những thứ nhỏ nhiệm trước mắt thì mình làm một chút đã thấy được rồi, cho phép mình thả rông, không đến được đại nghiệp – sự nghiệp vĩ đại của người tu. Nhớ tích tụ phước, những công việc ở bên ngoài, siêng năng làm khi có cơ hội, tích tụ đức, sự khiêm cung, sự hòa ái, luôn luôn bắt tâm mình phải sống như vậy. Tích tụ trí huệ trong sự nghe pháp, tư duy, nghiền ngẫm, tác ý, thiền quán, học kinh, học những lời dạy của Đức Phật. Như vậy mình tích tụ phước, đức, trí, siêng năng hơn.
PHƯỚC – ĐỨC - TRÍ – DỤC LẬU – VÔ MINH LẬU
-Thích Minh Thành-
Ngày 19 tháng 01 năm 2021
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Những câu hỏi PAGEREF _Toc63407505 \h 2
II. Sư phụ trả lời PAGEREF _Toc63407506 \h 3
1. Chịu khó PAGEREF _Toc63407507 \h 3
2. Tích lũy đức PAGEREF _Toc63407508 \h 4
3. Tích lũy trí tuệ PAGEREF _Toc63407509 \h 5
4. Năm triền cái PAGEREF _Toc63407510 \h 7
III. Chia sẻ PAGEREF _Toc63407511 \h 9
IV. Cảm thọ Tham – Sân - Si PAGEREF _Toc63407512 \h 10
V. Dục lậu PAGEREF _Toc63407513 \h 12
VI. Hữu lậu PAGEREF _Toc63407514 \h 14
VII. Vô minh lậu PAGEREF _Toc63407515 \h 18
I. Những câu hỏi
Đảnh lễ Đức Thế Tôn
Bậc A-la-hán Cháng Đẳng Giác
Kính thưa đại chúng, hôm nay là buổi trình pháp. Mời các vị chia sẻ những gì khó khăn, trở ngại, chưa được thuận lợi thực tập tu học trong thời gian vừa qua. Bên các Phật tử nam chia sẻ trước những khó khăn trở ngại, những sự vướng mắc trong sự tu, sự học cũng như khi sinh hoạt, làm việc với đại chúng. Chú đứng tại chỗ đi.
Phật tử: Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, con cung kính trên sư phụ, quý thầy và quý sư cô cùng toàn thể đại chúng. Con xin trình pháp, lúc này cảm thọ con có những dòng cảm thọ rất hoan hỷ. Buổi chiều hôm nay sư phụ có buổi giảng pháp, khi sư phụ hỏi về những vấn đề tu học trong thời gian qua, con cũng sanh những cảm thọ xấu hổ vì thời gian qua con có nhìn lại tự thân. Con thấy sự tu học của mình chưa thật sự để tâm, vẫn còn buông lung phóng giật, sư phụ vì lòng từ bi đưa ra những câu hỏi, đưa ra lời khuyến khích có những sự khó khăn gì trong tu học. Con thấy tự thân mình trong những giờ tu học vẫn còn những khuyết điểm, trong lúc hành thiền vẫn bị vọng tưởng, bị rơi vào trạng thái đau đớn, tâm tán loạn, không thật sự an tịnh, hỷ lạc hoàn toàn. Có những ngày con ngồi rất an lạc, dễ chịu và muốn ngồi thêm.
Khi tiếng chuông vẫn tiếc giờ thiền đó nhưng có những ngày chưa kịp đánh chuông con đã mong đợi, thấy sao lâu tới giờ quá. Nó có sự dao động, hôn trầm, sự Như Lý Tác Ý của con không đủ lửa, đủ mạnh khi có những rút xúc trong thân thì tâm dao động, lăng xăng, không chuyên chú vào đề mục, nhớ chuyện này nghĩ chuyện kia, học bài dễ quên, con phải xếp lại. Tự thân mình cũng vì nghiệp trong quá khứ trước đây mà mình đã gieo tạo mà giờ này trí tuệ mình không sáng suốt, làm cản trở con được học pháp. Kính mong sư phụ từ bi chỉ dạy để con được khai sáng thêm, mong cho con bước ngụ lại. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Sư phụ: Mấy huynh đệ mới.
Phật tử: Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính thưa sư phụ, quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng. Trong thời gian tu học hiện tại của con, con đang cảm thấy khó khăn về lúc ngồi thiền, con chỉ bị khó khăn chỗ đó, mong sư phụ chỉ dạy con thêm.
Sư phụ: Khó khăn về cái gì lúc ngồi thiền?
Phật tử: Dạ thưa sư phụ, nó bị đau.
Sư phụ: Đau cái gì, nói cho rõ ràng ra.
Phật tử: Dạ thưa sư phụ, bị đau chân ạ.
Sư phụ: Mời các huynh đệ khác.
Phật tử: Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, con kính bạch trên sư phụ, quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng. Con có một câu hỏi muốn hỏi trước giờ con vẫn thắc mắc: như thế nào là thiền định, thiền chỉ và thiền quán. Những lúc như thế nào mình thực hành những pháp thiền chỉ, thiền quán và thiền định. Trong thiền định, thiền chỉ, thiền quán có những khác biệt như thế nào? Con mong sư phụ hoan hỷ, từ bi chỉ dạy cho con. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
II. Sư phụ trả lời
1. Chịu khó
Sư phụ: Chúng ta chia sẻ mấy câu hỏi này trước, sợ chút xíu nhiều câu hỏi thì lại quên. Chúng ta làm cái gì trên đời này cũng phải có sự thực tập từ từ mới quen, không ai vô làm việc gì trong một thời gian hết sức ngắn mà được nhuần nhuyễn, được thuần thục mà lại được điêu luyện hết, phải thực tập thường xuyên. Mình ngồi thiền đau chân mình phải chịu đau, lúc nào chịu không được nữa thì đổi chân, sau đó nâng lên năm phút, mười phút, tiếp tục nâng lên chịu đau cho đến một lúc nào đó sẽ vượt qua cơn đau. Trong sự tu học của chúng ta, mình phải thường xuyên tác động tâm ý để mình phấn đấu nỗ lực.
Hôm qua chú tài xế chở con từ Đà Lạt về đây, chú kể chuyện đi học nghề lái xe rất gian khổ. Mười ba tuổi chú tự để ý, thích thú, thích lái xe, chú đi xin một ông thầy dạy chú, mà thầy chưa kịp dạy chú đã lén lén lái, chú thấy không có ai mà xe để trống là chú lén lái tập, rất thích thú, rất khoái, muốn làm tài xế. Và chú học, chú kể rất gian khổ, ăn bồ lon con tán, mà bồ lon rún, liệng lên đầu là đổ máu. Ông thầy dạy đánh đập, mỗi lần ngủ gục là bầm chân hết, bị đánh, bị ngắt, bị đập, hút thuốc cũng vậy, bị đập túi bụi tả tơi, đầu đổ máu. Mà chú nói chú rất cảm ơn ông thầy, nhờ vậy mà giờ chú thành một tài xế lái bốn mươi năm. Hai vợ chồng đi hốt phân bò, chở trâu bò, ăn ngủ trên chiếc xe chở phân bò đó, đánh đầu đổ máu, bầm mình bầm mẩy để học được nghề lái xe thôi.
Cho nên trong sự tu mà chúng ta không biết tác ý, làm cho mình phấn khởi, hân hoan, làm cho mình nhiệt tâm, nhiệt huyết, nhiệt tình thì sự tu của chúng ta là thả trôi, không đến đâu hết. Trong sự tu chúng ta phải để ý, tích lũy phước, đức, trí. Tích lũy phước là làm những công việc bên ngoài cho đại chúng, cho đạo tràng, từ sự quét sân, lau chùa lau tượng Phật, nấu nướng, giặt giũ, tất cả những công việc trong chùa. Đó là tích lũy phước, đừng làm biếng làm nhác, lánh nặng tìm nhẹ, đừng nghĩ rằng đi tu là mình được rảnh rang ở không, nghĩ rằng tôi vô đây tu chứ đâu phải đi làm. Cái suy nghĩ đó làm cho mình nghèo cùng, không có phước huệ, nó thật sự là mình trọn vẹn trong tâm để mình quán chiếu tu học không hay là suy nghĩ đó để cho mình làm biếng. Nên bước đầu tiên phải tích lũy phước, siêng năng công quả. Có những cái tự mình phải làm trong bổn phận trách nhiệm và có những cái không đợi người khác nói, tự mình nhìn để ý làm.
2. Tích lũy đức
Thứ hai là tích lũy đức. Đức là sự khiêm nhường, khiêm cung, khiêm tốn, khiêm nhã. Tuy mình làm nhưng không tỏ vẻ mình là người làm nhiều, là người giỏi giang, có công. Luôn luôn khiêm hạ, khiêm nhường, không tỏ vẻ vênh váo ta đây, có công trạng công tích, ta là trụ trì, ta là tri sự, quản chúng, trưởng nhóm, trưởng bếp. Mình dẹp được cái đó mới sanh ra cái đức. Tâm mình dễ lắm, mình làm gì được một chút là nó bám vô đó thể hiện bản ngã. Nếu mình không để ý, không có sự quán chiếu thì đức không sanh, có phước nhưng không có đức, người ta không ưa, không thích, chán ghét mình vì mình tỏ ra mình có công lao, quyền uy, tỏ vẻ người lớn.
Cho nên cái đức là sự tu tập tâm hiền, sự không tranh, hòa kính. Mình luôn luôn hướng tới sự hòa hợp, hòa ái, hòa kính đối với mọi người, không có ý niệm thị phi, hơn thua, tranh cãi, tranh luận, tranh đấu, tranh hơn với ai. Mình tu được tâm hòa kính đó là đức của mình, đức hạnh của người tu, luôn luôn giữ vị trí mình là người học trò, dù mình có tu bao lâu đi nữa, thọ giới gì đi nữa, giữ tâm mình là người học trò. Vĩnh cư học địa – tức vĩnh viễn cư trú ở địa vị của người học, đừng nghĩ trong bụng mình là sư cô, là thầy, hơn người ta. Đừng nghĩ mình ở đây lâu, xem thường mấy người mới tới hay tỏ vẻ ra. Những điều đó làm mình tăng trưởng lên đức hạnh, phước báu là cái làm ở bên ngoài.
3. Tích lũy trí tuệ
Điều thứ ba là mình tích tụ trí tuệ, trí tuệ ở đây là Thánh trí huệ, không phải hiểu biết bình thường của đúng sai, tốt xấu mà là trí huệ của bậc Thánh. Đọc những bài kinh, học tụng kinh, lễ lạy, quán chiếu để mình tu tập. Liên hệ đến câu chỉ và quán, là chúng ta tu tập trí huệ, chỉ nói đơn giản theo sự tu tập đường lối tức thực hành ba pháp. Chú có nắm vững ba pháp chưa? Ba pháp đó không chỉ thực hành khi ngồi thiền, mà thường xuyên, thường trực, bất cứ mọi lúc mọi nơi mình đều thực hành ba pháp, không phải đợi ngồi thiền mới thực hành ba pháp. Thường thường an trú cảm giác toàn thân để tâm mình định tâm trên thân, không chạy lăng xăng theo sắc, thanh, hương, vị, xúc bên ngoài. Chỉ là đình chỉ, dừng lại.
Khi mình trở về an trú cảm giác toàn thân tâm mình dừng lại trên thân. Nếu mình không an trú cảm giác toàn thân thì mắt mình chạy theo sắc, tai chạy theo âm thanh, mũi lưỡi chạy theo mùi vị, thân chạy theo xúc cảm. Giờ mình an trú cảm giác toàn thân thì tất cả sự an trú đó y cứ ở nơi cảm giác, nó vững mạnh, vững trú, an định. Mình an trú cảm giác toàn thân thuần thục, mình ngồi xuống giống như một ngọn núi, rất vững chắc, bên ngoài rất khó tác động được mình. Thêm mình phải tập từ từ cho nhuần nhuyễn, tức đình chỉ những sự hướng ngoại của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý mà trú trên cảm giác toàn thân.
Khi mình không để ý vô cảm giác, lúc đó không thấy được cảm giác, mà khi không thấy được cảm giác thì không biết được cảm giác đó là loại gì. Mình không phân loại được cảm giác. Mà mình không phân loại được cảm giác thì không cảm nhận rõ được lậu hoặc, tham, sân, si trong cảm giác. Cho nên khi mình yên tịnh để trú trong cảm giác toàn thân, lúc đó thọ hiện ra, các pháp trong thọ uẩn hiện ra các loại cảm thọ. Trong cảm thọ có gì nó sẽ hiện rõ các pháp ra, và sau khi mình thấy rõ nó, mình dùng Như Lý Tác Ý, tác động và quán chiếu mà mình trừ diệt thì đó là tuệ.
Giống như mặt hồ yên tĩnh, trong, lặng, yên, lắng, mình nhìn xuống mới thấy được dưới đáy hồ có một con cóc, con nhái bị chết. Nếu như hồ lao xao, lăng xăng, gợn sóng hay bị phủ bèo, đục ngầu, bị khuấy động thì mình không thấy được con ếch nhái chết dưới đó. Mình thấy được ếch nhái chết là nhờ nước trong, lắng, lặng, mình nhìn thấy, lúc đó mới vớt nó ra. Việc vớt, nhặt cái dơ, cấu uế, xác chết dơ hôi lấy bỏ ra, đó gọi là tuệ. Tức mình thấy trong tâm có tham dục, có những hình bóng, những suy nghĩ, cảm giác của tham dục, mình thấy được như vậy là có định, có chỉ. Nếu không có chỉ mình không thấy, bắt chạy theo đối tượng này.
Ví dụ giờ mình đang hái trà, quét trên vườn trúc, bỗng nhiên có một bóng người đẹp đi qua. Đương nhiên có mắt mình phải nhìn thấy, đâu thể không thấy được, là nam hay nữ, một người đẹp đi ngang qua. Nếu mình có chỉ, có an trú cảm giác toàn thân, lúc đó mình sẽ thấy được có cảm giác ái, muốn nhìn tức đã là ái, là dục, chứ đừng nói chi mà tới cái sâu, chỉ muốn nhìn thôi. Khi mình quét như vậy, đang chú tâm quét cảm giác toàn thân, đang làm việc nhưng có một cái bóng đi qua, mình thấy phớt nhẹ nhưng trong này muốn nhìn, thì cái muốn nhìn đó là dục. Nó sâu sắc lắm, trong cái ý có sự muốn nhìn, lúc đó là tầm, dục tầm sanh khởi, tức muốn nhìn.
Nếu mình không nhìn kỹ cảm giác toàn thân, mình không biết lúc đó có dục tầm, mình sẽ đi theo nó luôn, chẳng những mình nhìn kỹ, có khi còn tiến lại nói chuyện. Nói chuyện rất bình thường nhưng mình nhìn sâu vô trong, các pháp vận hành trong đó, có ái bên trong, thấy thích. Khi mình phát hiện ra có sự muốn nhìn, muốn nói chuyện, muốn tiếp xúc, muốn làm quen, có ý ái trong đó, lúc đó mình Như Lý Tác Ý, tác động tâm ý rồi đánh đuổi suy nghĩ, ý tưởng đó. Mình đứng yên trở lại, trú vô cảm thọ của mình, tẩy sạch các cảm thọ, những ý tưởng đó. Lúc đó đồng thời có chỉ quán, có định huệ chứ không phải chỉ lúc ngồi thiền mới có chỉ quán, ngay lúc quét rác cũng có chỉ quán, ngay lúc mình tiếp viên xúc cảnh ở ngoài cũng có chỉ quán, nếu mình biết vận dụng.
Ví dụ mình đang ngồi đây, bỗng nhiên có một người nào đó vô nói chuyện lớn, la lối; lúc đó mình muốn nhìn xem người đó là ai, mặt mũi ra sao. Mình sẽ quên cảm giác đang diễn ra ở đây, mất cảm giác toàn thân, mất sự định chỉ ngay tại chỗ này mà bị âm thanh đó chi phối, lúc đó sân tầm sanh khởi. Tâm mình hướng về sự tức giận, bực bội. Lúc đó nếu mình cảm giác toàn thân, mình có tu chỉ, thực hành ba pháp cảm giác toàn thân, ngay lúc sanh khởi mình biết, nhiếp phục trở lại, không nhìn ra ngoài, rõ biết ở trước mặt, trở về cảm giác toàn thân. Nội tâm của mình tỉnh giác là mình biết mình đang có sân tầm sanh khởi, mình phải tác ý, đuổi ý nghĩ khó chịu, bực bội cảm giác đó ra. Đó gọi là Chánh Niệm tỉnh giác, định nghĩa đó tuyệt đối quan trọng, chứ không phải học để mà tụng. Nó là pháp hành tối thượng của Đức Phật, Chánh Niệm tỉnh giác.
Dục tầm, sân tầm, hại tầm khởi lên. Nó an trú, chấm dứt, sanh khởi như thế nào, nó vận hành, hoạt động rồi tan biến như thế nào mình phải nhìn thấy. Nó sanh khởi lên, mình biết, tức mình có chỉ; mà khi mình dùng tác ý đuổi nó ra lúc đó là quán. Mặt hồ lắng lặng, trong như vậy là chỉ, nhìn xuống dưới thấy một con cóc nhái chết là quán, sau đó mình nhặt nó quăng ra ngoài, bỏ ra ngoài. Nếu mình không có chỉ, không có sự an định, mình sẽ không thấy rõ, nếu mình không thấy rõ, mình sẽ không phát giác, phát hiện ra sự cấu uế, cấu nhiễm của tâm. Nếu mình không phát giác, phát hiện ra sự cấu uế, cấu nhiễm của tâm, làm sao mình đi đến chỗ tẩy sạch, thanh tịnh.
Ở đây nói cho các chú thấy những thứ thực tế trước mắt để mình tu chứ thầy không nói sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, cái đó mình chưa làm được. Mình đang ngồi nghe pháp mà bỗng nhiên có một cảm giác đơ đơ, buồn ngủ mà mình vẫn buông trôi, buông xuôi, buông thả cho cảm giác đó muốn làm gì thì làm, nó xâm chiếm, áp đảo mình. Tức mình không chỉ, không quán, hoàn toàn bị dẫn dắt, còn nếu mình có chỉ, an trú cảm giác toàn thân thì xuất hiện một cảm giác lạ trên đôi mắt, trên đầu, mình biết liền, phải không?
Khi mình có chỉ như vậy, mình an trú cảm giác toàn thân, nó xuất hiện một cái lạ lên, mình biết, sau đó dùng Như Lý Tác Ý đánh đuổi cảm giác đó ra khỏi. Mình trở về trạng thái trong sáng, tỏa sáng, đó là đang sử dụng chỉ quán trong khi ngồi nghe pháp, khi ngồi thiền cũng vậy. Mình đang nói chuyện mà có bản ngã chen vô, mình không phát giác, phát hiện tức không chỉ, không quán gì cả, hoàn toàn bị bản ngã xâm chiếm. Ví dụ mình đang làm gì đó mà bị dao động, trạo cử, có khi nhắc nhở mình cũng không biết, mình không nhận lỗi thì nó chồng thêm nhiều cái nữa.
4. Năm triền cái
Thành ra các pháp diễn ra trong suốt ngày sinh hoạt của mình, Năm triền cái lúc nào nó cũng xâm chiếm, áp đảo. Sự tu của chúng ta đặt trọng tâm, tất cả mũi dùi chĩa vào Năm triền cái: dục tham, sân, trạo cử, trạo hối, hôn trầm, hoài nghi. Bây giờ tập trung tất cả vào Năm triền cái đó, phải hạ gục nó được mới thành công ở bước thứ nhất mới có thể đi vào các tầng thiền. Không hạ gục năm cái đó thì không vô thiền được, không trú được ở thiền thứ nhất, thiền thứ hai, thiền thứ ba, thiền thứ tư.
Khi chú thấy chú ngồi yên tịnh mà không muốn xả, an lạc, tỉnh táo, sáng tỏ, an lạc thì lúc đó không có Năm triền cái. Mà lúc ngồi trông cho mau hết giờ, tức là dục, thì Năm triền cái lúc đó đang xâm chiếm, mình ngồi thiền mình không hoan hỷ, an lạc, mình mệt mỏi, khó chịu, bứt rứt mà khi nào mình ngồi yên tĩnh, an lạc, nhẹ nhàng, an tịnh, không muốn xả thiền thì lúc đó không có Năm triền cái. Còn ngồi mà người ta đánh chuông mình không hay, cái đó là khác, đó là hôn trầm. Còn ở đây mình biết hết, nhưng nó yên tĩnh, tỏa sáng, an lạc phải không có Năm triền cái.
Cho nên tất cả hiện giờ chúng ta ngồi đây tu phải chĩa mũi dùi thẳng vô Năm triền cái, giờ giờ, phút phút. Nhiều khi con chỉ cho mấy thầy, mấy chú, mấy cô mà không để ý, có người để ý còn có người không. Chúng ta thấy rất rõ khi mình thiền quán, nếu không có Năm triền cái, lúc đó cảm thọ của mình gần như trọn vẹn trong pháp. Pháp nói tới đâu tương ứng tới đó. Còn lúc nào có triền cái, nó mới được phân nửa thôi hoặc một phần ba, hoặc có khi đơ luôn cả một thời pháp như vậy thì quá nặng nề.
Bữa nào mình thiền quán mà thấy cảm xúc dạt dào, trào dâng là tâm mình không có Năm triền cái, hoặc bữa đó rất ít. Cho nên ngài A Nan, tại sao ghi nhớ hết tất cả lời dạy của Đức Phật khi ngài nghe pháp? Vì không có Năm triền cái nên tâm ngài trong sáng, không bị gì che nên tất cả lời dạy của Đức Phật ngài đều ghi nhớ. Sau này Đức Phật nhập diệt ngài đọc lại hết những bài kinh. Một người như vậy thường ở trong trạng thái của sơ thiền. Còn mình nhiều khi rất khổ sở, dục xâm chiếm, sân lấn vô, trấn áp mà mình khổ, một hồi nó lăng xăng, lóc chóc, lao xao, hối tiếc những cái đã làm sai, trạo hối. Xong một hồi lại hôn trầm, ngủ gục, rồi lại nghi nghi ngờ ngờ, hoặc hoặc.
Năm cái đó cứ đắp đổi với nhau làm cho tâm mình không trong sáng nên phải tập trung tâm ý vào sự đánh phá Năm triền cái ngày đêm, buông lung phóng dật của mình liên hệ đến trạo cử, hai pháp đó. Mình thấy không, rất khó, chỉ cần hết thời thiền, hết thời nghe pháp, hết thời tu, mình bước ra, nhiều khi còn chưa bước ra thiền đường nữa, bắt đầu trở về hoạt động buông lung phóng dật của nó. Mà nó rất khoan khoái, thích thú, dục ái, hỷ trong đó là hỷ ái. Còn lúc ngồi rất khổ, mình thấy không, buông ra rồi tươi tắn, nói chuyện vui vẻ, tươi thắm, còn ngồi giống như bị héo. Vì nó không được tưới nước ái, không được thỏa mãn chuyện buông lung của nó. Nhìn ngó, cười nói, ăn chép chép miệng, đã lắm, đó là trạng thái của nó, còn trạng thái đi vô chỉ quán phải có một công phu.
Đó là những câu hỏi nãy giờ thầy chia sẻ xong, mời mấy vị tiếp theo, mấy chú mới. Hết nghi rồi hả, cho nên mình thực tập ba pháp rất quan trọng, mà lúc nào mình thực tập ba pháp là lúc đó đang chỉ, đang định, gần gần tới bước mình thực tập quen rồi, chỉ cần nhìn thôi là biết người đó có thực hành hay không thực hành trong lúc đó. Cho nên sự tu đòi hỏi mình nhiều cố gắng, không đơn giản như mình nghĩ. Thôi bên nam xong rồi phải không, mấy chú này còn ai hỏi gì nữa không? Bên mấy cô, nhất là mấy cô, mấy vị mới tới.
III. Chia sẻ
Phật tử: Con xin đảnh lễ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, con xin đảnh lễ sư phụ và các thầy, các cô và đại chúng. Con được đến đây là rất cảm ơn con gái con, được chỉ dẫn cho con được lên đây, được lên Linh Quy Pháp Ấn. Lời đầu tiên con rất cảm ơn thầy đã giảng giải pháp để con hiểu được cảm thọ, Năm ngũ uẩn và con cũng hiểu được pháp này. Trước đây con định nhưng tâm bị rối, không định được. Từ ngày lên đây, các sư cô, sư thầy chỉ dạy nên trong lúc ngồi thiền con cũng thấy đỡ rồi. Lần đầu tiên con gái con chỉ dẫn ở nhà nghe pháp trên máy, con cũng ao ước được lên Linh Quy Pháp Ấn gặp, và hôm nay con rất vinh dự được nghe thầy giảng pháp. Con rất cảm ơn con gái đã dẫn dắt con lên đây tu hành, con xin cảm ơn thầy, quý sư thầy, sư cô và đại chúng. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Phật tử: Con xin đảnh lễ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, con xin đảnh lễ sư phụ và các thầy, các cô và đại chúng. Con vừa mới ghé thiền đường hôm qua, con được các quý thầy, quý cô cho phép con ở lại đây để cùng tá túc và tu học với các quý thầy, quý cô và đại chúng. Hôm qua là ngày đầu tiên con được ngồi thiền bốn mươi lăm phút cùng với các sư thầy, sư cô và đại chúng. Thực ra ở nhà mỗi ngày con cũng đều ngồi thiền mười lăm phút, mà hôm qua con được ngồi thiền và được hướng dẫn, được ngồi trong cộng đồng của mình như vầy để hưởng được các năng lượng từ quý thầy quý cô. Con rất hoan hỷ vì có thể ngồi được bốn mươi lăm phút mà con chỉ ngồi bán già, mình có duyên thì không bị đau chân. Chỉ là trong quá trình thiền, có những lúc con buồn ngủ, nhưng tác ý để mình tỉnh dậy, sau đó tập trung lại vào hơi thở. May mắn hôm nay con được ngồi để thiền một lần nữa, con chỉ có một chút khó khăn, là kể cả ngồi thiền ở nhà hay ở đây tâm con cũng chưa an được, cũng nghĩ chuyện này chuyện kia. Rồi mình lại kéo mình về để tập trung lại vào hơi thở. Con cũng xin ở lại đây để cùng với các sư thầy, sư cô thiền thêm một số buổi nữa, để con có thể có sự tiến bộ trong lúc ngồi thiền để quán tâm của mình. Con xin cảm ơn. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
IV. Cảm thọ Tham – Sân - Si
Phật tử: Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính bạch trên sư phụ, quý thầy, quý sư cô, và đại chúng. Trong quá trình tu học vừa qua, con có một số thắc mắc, kính trình lên sư phụ, mong sư phụ từ bi hoan hỷ chỉ dạy cho con. Xin sư phụ chỉ dạy thêm mối liên kết giữa lậu hoặc và tham, sân, si, con còn phân vân khúc mắc và khi nhận diện cảm giác, lúc cảm giác trơ trơ, không dễ chịu cũng không khó chịu, khi mình nhận ra được cảm giác đó, lúc đó mình có si không? Hoặc bình thường lúc cảm giác không dễ chịu cũng không khó chịu, tâm không vui cũng không buồn thì lúc đó mình có si không ạ? Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Sư phụ: Cô chịu khó nghe kỹ năm, sáu bài quán chiếu thâm sâu về cảm thọ, nghe kỹ phần đó. Trong đó nói rất kỹ, cảm thọ không khổ không vui, trơ trơ là lúc nào cũng có si trong đó: si tùy miên, vô minh tùy miên. Mình phải tác ý các đề mục, quán chiếu trong cảm thọ đó, quán tính vô thường, quán sự không đáng tham muốn, sự tàn hoại, sự từ bỏ hoặc mình quán diệt dục, diệt chấp ngã. Ngay lúc trơ trơ đó mình phải khởi quán lên, hoặc chỉ thực hành ba pháp để mình nhìn thấy, hoặc lúc đó mình khởi tác ý để nó đi ra khỏi trạng thái trơ trơ đó.
Ví dụ như mình cùng với quý thầy đi dự một buổi lễ, trong một công ty rất lớn, đi ra, mấy thầy mấy huynh đệ nói họ làm kỹ chỗ này chỗ kia, tốt. Sau khi thầy đó nói hết rồi con mới nói: thấy vậy trong đó khổ, lo lắng, bất an, áp lực, sợ hãi, không sướng đâu. Khi một câu đó con nói ra, tất cả những cái mà nãy giờ mọi người nói là sướng, là vui, là giàu bị sụp đổ hết. Sự tác ý của mình tác ý ra có thể đánh vỡ sự ưa thích trong cái giàu có.
Cũng vậy, trong một cảm giác thường thường, đều đều, mình phải tác ý: đây không phải là bình an, ngay giờ phút này bất an ở toàn cầu. Hôm nay có bao nhiêu ca nhiễm? Trên chín mươi sáu triệu ca, gần tới một trăm triệu rồi, và trên hai triệu người chết. Những người đang nhiễm bệnh đó có cảm giác thường thường đều đều không? Hàng trăm, mấy trăm chiếc xe đông lạnh chứa xác người chết, mấy trăm chiếc nối dài như vậy. Khi mình tác ý như vậy, cảm giác thường thường đều đều của mình còn không? Nó mất rồi, vậy mới phá được vô minh, tùy miên, si tùy miên, si mê trong đó.
Tức phải quán về sự nguy hiểm và tác hại của đời sống này, của ngũ thủ uẩn này, thường xuyên quán như vậy, dù cho người mới tu cho đến bậc Thánh quả A-la-hán, luôn luôn quán thân này là vô thường, là ung nhọt, là mũi tên, là kẻ giết người, là cục bướu, là đau khổ, bệnh hoạn. thường thường quán như vậy, suy nghĩ như vậy, tác ý như vậy. Khi đang có cảm giác trơ trơ, mình tác ý lên, nó mất cái trơ trơ đó, tác ý lên liền. Em bé ba, bốn tuổi mà đột quỵ chết, một đứa nhỏ mới sanh ra có vài tháng thôi mà bà mẹ khi đi vào khám bệnh rồi phải mổ não, ung thư. Vài tháng, có đứa mấy tuổi gửi nhà trẻ, sau đó ở nhà trẻ người ta phát hiện, đem vô bệnh viện, bác sĩ nói phải mổ ngay lập tức. Và mổ ra rồi đứa bé này chết, ung thư não, mới có mấy tuổi, gửi nhà trẻ.
Bây giờ sanh ra rồi vứt đứa con trong thùng rác, xe người ta chạy qua cán đứa con mới văng ra. Hổm rày liên tục có những vụ việc sanh con ra rồi bỏ, bỏ trước cổng chùa, bỏ thùng rác, bỏ hố ga rồi chôn sống, rất nhiều người bỏ con. Thậm chí ghi tờ giấy bỏ con, có ai giúp giùm rồi bỏ như vậy. Khi mình quán chiếu những cái đó rồi, từ nhiên cảm giác trơ trơ, đều đều, thường thường của mình còn không? Làm cho mình sanh khởi sự lo lắng, bất an, tai họa, hiểm họa, đau khổ cuộc đời này. Từ đó mình sanh ra sự nhàm chán, không tham muốn mới đi đến chỗ giải thoát, cho nên trong sự tu của mình là liên tục suy nghĩ và tác động tâm ý để cho nó nhàm chán.
Thánh trí tuệ là gì? Là nhìn hết tất cả mọi góc độ, phương diện của ngũ uẩn, không có một khía cạnh nào của nó mà mình không còn thông đạt. Mình phải thông đạt hết, thấy biết hết tất cả những sự đau khổ, những sự biến động vô thường, bất trắc, bất an, bất ổn, bất thường, bất toại nguyện của nó. Mình phải nhìn ra hết những cái vô thường, vô ngã, những cái trống rỗng, những nguy hiểm và tác hại của nó. Những điều đó mình phải khai thác hết, đừng để cho vị ngọt đó làm chìm đắm mình, khai thác nguy hiểm và tác hại của nó càng nhiều càng tốt. Vì đó là sự thật, tất cả những điều mình nói nãy giờ là sự thật đang diễn ra, không nói thêm gì cả.
V. Dục lậu
Vì mình ngủ mê trong dục, tham, ái, trong sự vui sướng, mình chết chìm trong đó. Con ruồi chết trong tô mật, chết trong vị ngọt, cũng vậy, mình chết trong vị ngọt của sắc dục, của ái mà mình không thấy được góc độ nguy hiểm và tác hại của đời sống này. Một tiếng nhạc đó có thể xảy ra án mạng, người hàng xóm đi nhậu về, qua cãi nhau đánh nhau rồi chém nhau. Một tiếng nhạc Karaoke đó có thể nhìn thấy được một mạng người chết, đó là cái thấy của trí tuệ. Còn nghe cái đó rồi chân giật giật, nhịp theo, một hồi miệng nhép nhép theo, rồi xong. Thấy chưa, sự khác biệt giữa tu và không tu, sợ quá nó tắt luôn.
Như vậy mới đi vào được trí tuệ của bậc Thánh, phải nhìn ra được cái phản diện của đời sống này. Những cái bị che lấp, bị phủ kín, bị gói chặt lại, mình phải phanh phui, mở nó ra, giải phẫu cơ thể này hằng ngày khi thiền định. Ngày nào cũng giải phẫu nó, ngày nào cũng nhàm chán cái tham dục sanh khởi lên, mệt mỏi quá, sân hận sanh khởi lên, mệt mỏi quá; bản ngã sanh khởi lên, mệt mỏi, nhàm chán quá. Trong những lúc đó, mình phải tác ý, như vậy pháp mới sanh
“Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi”.
Kinh Cội rễ của sự vật – IX Phẩm niệm – Chương Tám pháp – Kinh Tăng chi bộ tập 4
Không tác ý làm sao pháp sanh? Tác ý. Cũng như giờ này ở dưới mạnh ai muốn làm gì làm thì nó không có những cảm thọ, những suy tưởng giống như bây giờ. Nhưng lên đây ngồi nói vậy, nó có những cảm thọ, tưởng, con ngồi đây con tác ý giùm cho đại chúng rồi, tác ý, tác động tâm ý suy nghĩ, nghiền ngẫm, suy ngẫm, suy tư. Bằng không mình sống say chết mộng, sống giống như người say xỉn, chết cũng giống như mộng mơ, không biết gì hết. Lúc nào cũng mơ mơ, ngơ ngơ. Thật sự con thưa đại chúng, mình nhìn ra được tham, sân, si và lậu hoặc này mình sẽ nhàm chán lắm, ghê sợ lắm.
Bây giờ phân biệt giữa tham, sân, si và lậu hoặc. Tham, sân, si khi mình nói, nó có một ý nghĩa rõ ràng, tham ra tham, sân ra sân, si ra si. Cảm giác tham ái làm cho tâm mình co thắt lại, quyến luyến, bịn rịn, lưu luyến. Cảm giác sân nó thiêu đốt, bừng bực, phừng phực, rực cháy lên, bực bội, bức bối. Còn cảm giác si làm mình ngơ ngơ, dại dại, đơ đơ hay ngu mê, si ám, nó thấy rõ nên gọi là tham ra tham, sân ra sân, si ra si. Mình nhận diện cảm thọ mình thấy rõ nhưng lậu hoặc nó sâu hơn, mình không thấy, là hang ổ, là nguồn phát ra tham, sân, si. Vì nếu mình thấy được thì không kêu bằng lậu, nó âm thầm, ngấm ngầm hoạt động, nó ngầm cho nên mình mới gọi là Thánh trí tuệ, gọi là Đức Thế Tôn, bậc Toàn giác.
Đức Thế Tôn không chỉ thấy những cái thấy được mà ngài còn thấy những cái mà chúng sanh không thể thấy. Ngài thấy tại sao có tham, những ham muốn này tại sao có, từ đâu có, căn nguyên nguồn cội, những thức ăn và làm sao cho nó chấm dứt cho nên dục lậu là một trạng thái hoạt động ngấm ngầm, âm thầm, sâu kín, nhỏ nhiệm mà nó luôn luôn làm cho chúng ta mắt thấy tai nghe, đụng chạm, mũi ngửi, suy nghĩ, cảm giác, toan tính, nhận thức gì cũng ở trong dục, chúng sanh không biết. Chúng ta học trong bài kinh Đại Niệm Xứ: ở đời cái gì là thân ái? Con mắt là sắc thân ái, sắc khả ái, lỗ tai này là sắc thân ái, sắc khả ái; mũi này, miệng này, khuôn mặt này là sắc thân ái, sắc khả ái.
Tấm hình mình chụp, mình nhìn vô có ái không? Cái bóng thôi, nó ghê gớm như vậy đó. Thành ra thật sự con thưa đại chúng, mình tu mà muốn lậu tận là không phải chuyện bình thường. Mình phải đem cả sinh mạng ra đánh đổi. Sự tu của mình phải miên miên, mật mật, liên tục, khít khao, từng giây từng phút, từng khoảnh khắc trú trong pháp, không được đi chệch ra khỏi đường ray, nếu chệch là chết ngay lập tức. Giống như xe lửa chạy trên đường ray, không được lệch ra, lệch ra là xảy ra tai nạn.
Khi nào tâm mình hoàn toàn an trú theo đường rày của pháp mới gọi là nhập lưu. Một ngày mình chạy ra khỏi đường rày bao nhiêu lần? Cho nên lúc nào mình không trú trong pháp, lúc đó thành ngoại đạo, lúc nào tâm mình trú trong pháp lúc đó mới gọi là hành giả. Tâm trong pháp ngoại đạo nó ở ngoài đạo, lúc nào nó cũng nhớ vô thường, khổ, vô ngã. Lúc nào nó cũng thấy thân này bất tịnh, lúc nào cũng thấy rằng tham, sân, si này đáng nhờm tởm, ngao ngán, chán chường. Lúc nào nó cũng thấy Ba mươi bảy phẩm trợ đạo vận hành, Tứ Như Ý Túc, Ngũ căn ngũ lực, Thất Bồ Đề phần, Bát Chánh Đạo Phật. Lúc nào nó cũng thấy được ngũ uẩn. Đó là Chánh Kiến, an trú trong Chánh Kiến.
Chúng ta biết rằng dục lậu khủng khiếp lắm, thế giới ngầm của tâm linh. Thật ra tất cả chúng sanh chỉ sống trên bề ngoài, biểu diện bề nổi, thô phù của nghiệp, của tham, sân, si. Bậc Đa văn Thánh đệ tử mới bắt đầu nhìn ra được những nguyên nhân nào dẫn tới đời sống đó. Chỉ có bậc Thánh mới có thể chận đứng được những nguyên nhân đó và diệt tận. Cho nên mình lên trình pháp, nói rằng mình tàm quý, thấy xấu hổ, thấy sợ hãi những cấu uế này là tốt. Hãy trú trong tàm quý đó hoài, chứ còn lúc nào mình hết tàm quý thì lúc đó mệt, lúc đó phải là bậc A-la-hán, hay các bậc Thánh, mà phải là Thánh tối cao mới hết tàm quý. Còn những hữu học vị vẫn còn tàm quý, tàm quý mới đi đến chỗ thanh tịnh.
VI. Hữu lậu
Cho nên mình đang trú trong sự xấu hổ, tu không ra gì, mình có dám lên mặt với ai không? Mình có dám ta đây với ai không? Cho nên trú trong tàm quý thì thiện pháp sanh. Mình tu càng nhiều càng xấu hổ, đi không dám nhìn ai hết, cúi cúi không dám nhìn ai. Thấy một nội tâm đầy rác bẩn, xú uế, lậu hoặc, thấy một thân thể bất tịnh, nhơ nhớp, đáng nhàm đáng chán, đáng ghê đáng tởm, thấy cả một thế giới đầy dẫy những dục tham, sân hận, si mê, không ưa, không thích, không ham, không muốn, hướng tới sự từ bỏ, viễn ly.
Chúng ta thấy tu để cho tâm mình tới đó phải đầu tư rất nhiều cho nên gọi là lậu hoặc là ghê gớm lắm. Hữu lậu là một trạng thái hoạt động rì rào, âm thầm, ngấm ngầm, cực kỳ nhỏ nhiệm và vi tế. Làm cho chúng ta, nói về phần thô là hoạt động hoài không yên, muốn làm này làm kia, không có chuyện cũng kiếm chuyện đặng làm, không để cho mình yên. Còn cái thâm sâu vô hữu lậu là ưa thích sự hiện hữu. Đây là một trong bốn ách nạn, đánh một cái là karaoke chạy luôn, nói như vậy đừng cho là hay, nhiều khi nó mở lên lại.
Trong bốn ách này đè nặng chúng ta, hữu ách, hữu là một cái ách, hữu ở đây là sự hiện hữu. Cái này sâu lắm, có khi chúng ta tu, ăn chay rát ruột, cạo đầu rát da, ở trong chùa từ bảy tuổi tới bảy mươi tuổi chết còn không biết được điều này chứ không phải dễ. Ưa thích sự hiện hữu, ưa thích mình hiện hữu trong sách, trong cảm giác, trong sự nghĩ tưởng, sự rõ biết, ưa thích năm uẩn này, say đắm năm uẩn này. Đức Phật dùng từ: “Ở đây này các Tỳ-kheo, hạng người không như thật, quán chiếu, nhận thức, biết rõ về sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt và sự nguy hại, sự xuất ly của hữu. Do không như thật, biết bằng trí tuệ như vậy nên ham thích hiện hữu, hoan hỷ, ái luyến, đam mê, khát khao, phiền não, chấp thủ đối với hiện hữu. Hữu ái trong các hữu, chiếm đóng và tồn tại”. (bạn ơi, chỗ này không tìm ra tựa bài kinh)
Sự yêu thích các hữu này chiếm đóng và tồn tại trong tâm. Con nói ví dụ cho đại chúng dễ thấy: bây giờ con thích chỗ này, pháp toàn này, cách trang trí, con tự tay trang trí, thiết kế, thích cái này. Bỗng nhiên con đi đâu về, có người dọn hết cái này không còn gì hết, bực bội, khổ, phiền não. Vì mình muốn cái này nó có ở đây, ưa thích cái này, đó là hữu ái. Mà nếu bây giờ con không thích cái này, không khoái cái này, không muốn, không ưa, nhàm chán đối với cái này, thì bây giờ có ai dọn đi lúc đó con có đau khổ không, nói ví dụ ở ngoài cho dễ hiểu. Còn cái sâu xa là mình ưa thích cái sắc. Dù đó là hình dáng gì, con dòi hay con kiến, chuột, mèo, rắn độc, bản thân của những chúng sanh đó cũng ưa thích hình dáng đó. Vì nghiệp sanh ra cái đó phải ưa thôi chứ không ưa thì ưa cái gì? Vì hình dáng nó vậy rồi, nó phải ưa, đó là hữu ái.
Điều này hết sức thâm sâu, chúng sanh bình thường không thể hiểu nổi Thánh Trí của Đức Phật, vì nó ưa thích những hình thể như vậy, những hình thù, hình dáng, hình sắc, những hình tướng như vậy cho nên phải sanh ra những hình tướng đó. Những hình tướng đó sẽ tiếp tục sanh khởi, sanh khởi nữa, chúng nó sanh khởi nên gọi là chúng sanh. Mình có ưa thích cảm giác không? Có, mình ưa thích, tìm tòi, mong muốn, khao khát. Như vậy, mình ưa thích cảm giác làm sao cảm giác này mất được, nên nó chết cũng phải kiếm cảm giác khác. Cái nào cũng thủ, sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, cho nên hữu ái là vậy.
Mình phân tích để thấy là mình ưa thích, khoan khoái, tham đắm, ái luyến, khao khát, thèm muốn được những cảm giác như vậy, nhất định mình sẽ còn ở trong những cảm giác đó, không thể đi ra khỏi cảm giác đó. Chỗ này là chỗ thâm sâu của Thánh trí huệ, những hình bóng, những suy nghĩ mình cũng ưa thích, cái rõ biết, nhận thức này mình cũng ưa thích. Tóm lại mình ưa thích năm thủ uẩn, ái cho nên mình thủ cho nên hữu ưa thích thì mình nắm giữ, có ra hình dáng như vậy tương xứng với cái mình ưa thích, với nghiệp. Thành ra chữ hữu ở đây là sự hiện hữu của năm uẩn.
Chữ hữu ái là ưa thích sự hiện hữu của năm uẩn ở hình thái đó. Mình thấy ba cõi có dục ái, hữu ái và vô hữu ái, tức do mình ưa thích dục, sự hiện hữu mới có dục, còn chư thiên, cái dục của họ rất nhẹ, không thô giống như mình, không có sự quan hệ như mình. Khi mình ưa thích cái dục giống vậy nên mình phải ở thế giới giống vậy, tương thích. Rồi các vị chư thiên ưa thích hình tướng, sắc như vậy nên mới có cõi sắc. Do những tâm ưa thích trạng thái đó, chiêu cảm đồng nghiệp cộng lại biểu hiện trong thế giới đó.
Như người Mỹ người ta có tâm như vậy, ưa thích như vậy nên có đất nước như vậy. Người châu Phi ưa thích như vậy, họ muốn vậy mới có như vậy, từ tâm, từ ái, từ nghiệp biểu hiện ra cộng đồng, đồng nghiệp biểu hiện. Bây giờ thích, không có nữa, vô hữu ái, thích mình không có, vì thích mình không có mà nếu có Thánh trí huệ mới đi tới Niết-bàn, còn cái này thích mình không có mà vẫn có mình. Chỗ này là chỗ độc đáo, thích mình không có hình tướng, không có dục như cõi dục, không giống sắc, màu sắc của chư thiên bị vô thường như vậy, thích mình không có hình tướng gì, thích cái không có nên thành ra thế giới không có gọi là vô sắc giới. Chúng ta thấy khủng khiếp không? Sống bằng tâm tưởng.
Như vậy đó là ba hữu: dục hữu, sắc hữu và vô sắc hữu. Và chữ hữu ái này, cái gọi là hữu lậu này là một trạng thái ngấm ngầm hoạt động tinh vi, nhỏ nhiệm để làm ra các sự hiện hữu trong ba cõi. Chúng ta thấy dễ thấy hay khó? Nên mới gọi là lậu hoặc, mà Đức Phật nhìn thấy, mình thấy trí huệ Đức Phật khủng khiếp không? Nên chúng ta lạy Phật. Tức một trạng thái ngấm ngầm, nhỏ nhiệm, tinh vi, ưa thích hoạt động, vận hành để nó biểu hiện ra tam giới. Tất cả các hình thái của chúng sanh, của ngũ uẩn. Nặng về dục thì nó ra thân như vậy, máu, mỡ, mủ, phân, nước tiểu, tinh huyết như vậy để nó thực hiện những hành động đó, cho nó thỏa mãn cái dục đó để ra thế giới dục.
Sanh ra từ dục, sống cũng vì lòng dục, chết cũng vì dục. Những đời sau tiếp tục sanh ra cũng dục lôi đầu mình đi. Mình đau khổ, phiền não, sợ hãi, bất an vì nó, đó là dục giới. Dục lậu, ở trong đó là sự ngấm ngầm hoạt động, ưa thích để nó biểu hiện ra, dẫn dắt tâm mình. Sắc giới và vô sắc giới cũng vậy, chúng ta thấy dễ sợ không? Cho đến những bậc tu hành còn có một cái vô sở hữu, một cái tưởng không có gì hết, trống không hết, cả thế giới này là trống không, trống rỗng hết, mênh mông, bao la, vô tận không có gì hết, tâm lúc nào cũng thấy vậy. Trú trong trạng thái đó thì vô sở hữu xứ, định vô sở hữu.
Những người này tâm lúc nào cũng trống rỗng, trống không, trống trơn, bao la, vô tận, mênh mông, không có gì, trú trong định đó thì người này sau khi chết sanh lên cõi trời, cõi trời vô sắc giới, chỉ có một cái tâm tưởng là trống rỗng, trống không, vô sở hữu, trú trong thiền định đó. Mà những thiền định, những cảnh trời này mà sống, ôi thôi lâu, khủng khiếp lắm, tỷ tỷ tỷ năm trú trong định đó. Nhưng hết định đó rồi cũng lọt xuống, làm người rất ít, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh rất nhiều.
Tại vì sao? Không thành tựu Chánh Kiến thì làm sao biết nguồn cơn để phá được năm uẩn. Tức động cơ, nguyên nhân mà nó hình thành ra các dạng thức, hình thể, trạng thái của ngũ uẩn người này không biết nhưng Chánh Tri Kiến của Đức Phật là thấy được nguồn cơn, nguyên nhân vì sao sanh ra các hình thể này. Thế giới của dục, của sắc, của vô sắc, Đức Phật chỉ nguồn cơn đó thì Đa văn Thánh đệ tử thành tựu Chánh Kiến mới phá nguồn cơn đó thì không còn đi trong các cõi nữa, đó là hữu lậu cho nên bây giờ mới tiến tới vô minh lậu. Có một trạng thái ngấm ngầm hoạt động tinh vi, nhỏ nhiệm, thâm sâu, vi tế cực kỳ, nó không biết ngũ uẩn, không biết khổ trong tất cả các hình thái.
“Đây là khổ” thì đây là tất cả các hình thái, trạng thái hình thể biểu hiện của ngũ uẩn. Dù cho hình thể nào của ngũ uẩn cũng khổ nên nói đây là khổ, là một sự thật cần phải nỗ lực cố gắng để rõ biết. Bất cứ hình thể nào, dù cho là hình thể hay không hình thể, vô sắc giới. Tại vì sao? Vì chấp thủ, chấp ngã của nó bên trong nó còn, gốc còn, thân kiến còn thì làm sao phá vỡ được khối vô minh đó. Mà hãy còn vô minh thì sẽ còn các lậu hoặc, còn vô minh là còn hiện hữu trong ngũ uẩn. Vì trạng thái trống trơn, yên lặng, mênh mông, thênh thang, không có gì hết đó là mình, của mình, là tôi.
Chúng ta mường tượng được cái này không? Bát định, “Không vô biên xứ, thức vô biên xứ”, cái biết của mình trùm khắp hết, cái biết của mình rõ ràng, thường biết, trống không, thênh thang, mênh mông trong trời đất, trùm phủ hư không, bao la. Đó là thức vô biên xứ. Người tu cái này mà xuyên suốt, chứng đắc được định này thì lên thức vô biên xứ tưởng, là vô sắc giới. Tại vì sao? Người này nhận trạng thái đó là mình, của mình, tự ngã của mình. Chúng ta thấy nó nhỏ nhiệm, vi tế không? Cho nên chữ lậu hoặc khác với chữ tham, sân, si là gì? Là nguồn cội thâm sâu để nó phát khởi cho tham, sân, si.
Chính vì có cái này bên trong nên tham không bao giờ dứt được, nó không hoạt động hình thái này thì nó hoạt động hình thái khác. Cho nên mình thấy không, ở ngoài đời nó sân si theo ở ngoài đời, vô chùa sân si theo kiểu ở trong chùa, phải không? Ngoài đời có bản ngã của ngoài đời, mà vô đạo có bản ngã của người tu, ngoài đời có những cái tham của ngoài đời, mà vô tu thì tham những chức vụ, những giáo phẩm: Đại Đức, Thượng Tọa, Hòa Thượng, Trưởng lão Hòa Thượng, ví dụ chẳng hạn vậy. Chẳng qua là hình thái khác, chúng ta thấy không? Chính vì lậu hoặc bên trong này mình không nhìn thấy được. Vì vậy những bài quán của chúng ta trong sáu xứ là những bài đó trí huệ khủng khiếp.
VII. Vô minh lậu
Chúng ta phải quán cái đó rất nhiều, quán sáu căn, từ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý rồi quán sáu trần, những cái đó gọi là nội xứ, sáu xứ, sáu nội xứ, sáu ngoại xứ: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, sáu xúc xứ, rồi sáu căn, sáu trần, sáu xúc, sáu thọ, sáu ái, sáu tưởng, sáu tươi, sáu tầm, sáu tứ. Như vậy cái nào Đức Phật bẻ ra, mở ra hết, tháo ra hết cho mình nhìn thấy từng cái rồi Đức Phật phân tích hết những nguyên tố cấu thành nó rồi những cái ngũ nghĩa là lắp ráp, hoạt động, trống không, vô ngã, vô thường của nó, phiền não của nó để cho mình thấy hết, không còn gì nữa, lúc đó mới phá được vô minh. Tức mình rành rõ hết trơn hết trọi, những cái cấu thành thân tâm của mình, không còn cái nào mình không biết, tính chất, đặc điểm, sự vận hành của nó, nguyên nhân sanh thành và hoại diệt của nó, sự tồn tại của nó, rồi tại sao mình đam mê trong này, là vị ngọt, rồi tai hại, tác hại nó như thế nào, sự nguy hiểm, mình muốn thoát ra phải đi ra sao. Đức Phật chỉ từng cái hết, khủng khiếp không?
Khi mình thấy biết hoàn toàn hết, lúc đó mình nhàm chán, minh sạch, vô minh bị phá. Khi vô minh sanh lên, nhìn thấy cái này chỉ là đồ gốm thôi, cái này chỉ có một cái hột quẹt nó quẹt lên thôi, không có gì hết, cái này chỉ có một cái rầm thôi, cái này chỉ cần bưng, làm cái rổn rớt xuống thôi. Khi mình thấy hết tất cả những khía cạnh hình thành, hoại diệt, cấu tạo, hoạt động, sự đam mê trong đó, sự nguy hiểm tác hại trong đó. Đức Phật chỉ mình con đường thoát ra khỏi cái đó trong tất cả sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu thọ, sáu ái, sáu tưởng, sáu tư, sáu tầm, sáu tứ trong tất cả sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn.
Trong tất cả những sự có mặt, hiện hữu trên cuộc đời này, khi mình thấy biết hết như vậy, minh sanh, vô minh hoặc bị phá. Và khi vô minh hoặc bị phá thì hữu lậu bị phá, dục lậu sập. Chính vì vậy, mình tu là để vô minh bị phá cho minh sanh. Muốn phá vô minh mình phải tu tuệ, mà muốn tu tuệ phải nghe pháp, phải nghiền ngẫm tư duy phải quán chiếu, phải thường xuyên và liên tục. Như vậy lúc đầu mình nghe vô thường, và thấy đúng rồi, cuộc đời vô thường. Nhưng khi trở ra rồi mình không có suy nghĩ vô thường. Bây giờ trở ra mình nghĩ vô thường, mình thường thường nhắc thường, vô thường.
Cái này đau khổ, phiền não, thứ bất tịnh, thứ tanh hôi, nhơ nhớp, bẩn thỉu, tham dục tối ngày, suốt đời, thứ ác độc khốn nạn này làm cho mình khốn khổ, mình cứ nhắc hoài như vậy. Mỗi lần nó sanh khởi lên mình nhắc, mà nó không sanh mình cũng nhắc, nhắc hoài, nhắc riết như vậy cái vô thường nó nhập vô trong nhận thức, trong cảm thọ, suy tưởng của mình, không cần nhắc nữa thì lúc đó là chánh tánh thành tựu, quyết định tánh thành tựu, nhập lưu. Sau khi nhập lưu rồi thì tự động sẽ thấy, mà muốn nhập lưu thì nhắc hoài: khổ. Khi mình thấy, mình nghe, mình cảm nhận một điều gì đó là lập tức mình nắm bắt cơ hội đó liền cho nó sanh khởi cảm thọ. Mình tác ý cho suy nghĩ đó sâu sắc hơn, đậm hơn, thâm sâu hơn, mình quán tưởng ra những hình ảnh đau khổ liên hệ đó, mình diễn cho nó rộng ra, sâu ra, tận cùng ra để mình lưu giữ cảm thọ khổ, cất vô một chút, để dành một miếng rồi bỏ ống đó.
Khi thấy cảnh khổ đó mình suy xét nữa, đau khổ, cha mẹ bệnh hoạn, nằm liệt giường liệt chiếu một chỗ, về thăm, khổ không? Mình quán chiếu thêm, mình ngồi thiền mà làm biếng, buồn ngủ, mở cha mày bệnh gần chết, mẹ mày nằm bệnh hấp hối, mình tác ý, nhắc nhở, rầy, quở trách, cứ làm tới làm lui hoài như vậy riết rồi nó nhớ luôn không quên nữa. Như vậy là quyết định tánh thành tựu, Chánh Trí thành tựu, nó không còn quên, không còn muốn quẹo qua hướng vui nữa. Cho nên bây giờ mình tu, vẫn biết điều đó là khổ, nhưng vẫn còn thích thích; vẫn biết sân là không tốt nhưng vẫn còn giữ cái sân đó; biết bản ngã đó là không hay nhưng cũng còn giữ một chút. Vì cái mình thấy, mình biết chưa đủ, tập khí của quá khứ còn trớn nên mình muốn quật ngược lại, chống lại phải có cả một sự nỗ lực, thả dốc đèo xuống vậy.
Kỳ đó đi qua bên Úc, tới chỗ đó tự nhiên mình hết hồn, xuống một cái vèo rồi lên lại mà không báo cho mình biết trước. Người ta để bảng có camera quay vậy thôi nhưng tới nó xuống như vậy thót tim, xong mới đưa lên. Nếu cho mình hay trước mình cũng mệt lắm, khi mình xuống dốc như vậy mà mình đạp thắng là cả một sự nỗ lực, quyết tâm chứ không phải chuyện đơn giản. Cái dốc đó dữ dằn lắm, dốc của vô minh, tham ái, dục vọng, của tham, sân, si, bản ngã. Tuy mình hiểu nhưng cái thế, cái dốc, cái xích của nó còn mạnh. Chính vì vậy sự tác ý của mình phải mạnh mẽ, nhắc nhở thường xuyên, quán chiếu, nghiền ngẫm, cầm chổi quét quét chứ không phải quét không.
Mình phải quán chiếu, quét tham dục, sân hận, vô minh, bản ngã, ngu si, mê muội của mình. Tác ý, quét như vậy nó sẽ thiền quán chứ không phải chỉ quét mấy lá đa, lá tre . Lúc nấu nướng cũng vậy, thường thường tác ý, nhất là thấy nghe, tiếp xúc chỗ nào mà nó sanh khởi lên là chụp liền, làm bài thiền quán liền, quán nguy hiểm và tác hại của cuộc đời này để nó phát sanh sự nhàm chán, không ưa thích, sự viễn ly, xả ly, xuất ly. Mỗi một lần nó tác ý, sanh khởi lên như vậy là mỗi một lần mình bỏ ống, tích tụ, đây là tích tụ trí huệ, Thánh Trí, chất chứa Thánh trí.
Như vậy, tới lúc nào đó nó nhiều, to lớn, nó đầy đủ, thành tựu Thánh tuệ uẩn giống như ở ngoài đời người ta để dành đủ để cất căn nhà vậy. Những trí huệ của mình phải được tích tụ, tích tập, tích tụ phước, tích tụ đức, tích tụ trí huệ. Mình đừng hài lòng với những cái nhỏ nhiệm, nhỏ bé, nhỏ mọn ở trước mắt, phải tập nhìn xa. Nếu mình hài lòng với những thứ nhỏ nhiệm trước mắt thì mình làm một chút đã thấy được rồi, cho phép mình thả rông, không đến được đại nghiệp – sự nghiệp vĩ đại của người tu. Nhớ tích tụ phước, những công việc ở bên ngoài, siêng năng làm khi có cơ hội, tích tụ đức, sự khiêm cung, sự hòa ái, luôn luôn bắt tâm mình phải sống như vậy. Tích tụ trí huệ trong sự nghe pháp, tư duy, nghiền ngẫm, tác ý, thiền quán, học kinh, học những lời dạy của Đức Phật. Như vậy mình tích tụ phước, đức, trí, siêng năng hơn.