SỨC SỐNG CỦA NGƯỜI TU 1
SỨC SỐNG CỦA NGƯỜI TU 1
KINH NIỆM XỨ GIẢNG GIẢI
QUÁN THÂN A
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Tứ Niệm Xứ - con đường độc nhất! PAGEREF _Toc111883188 \h 1
II.Quán thân trên thân PAGEREF _Toc111883189 \h 2
1.Thực hành ba pháp PAGEREF _Toc111883190 \h 3
2.Thân hành niệm PAGEREF _Toc111883191 \h 6
a.Đi – đứng – nằm – ngồi PAGEREF _Toc111883192 \h 6
b.Ăn – uống – nhai – nếm PAGEREF _Toc111883193 \h 13
Tứ Niệm Xứ - con đường độc nhất!
Chúng ta cùng tìm hiểu về một bài kinh rất quan trọng, được các nước Phật giáo Nguyên Thủy xem như đại diện cho Pháp bảo. Trong khóa tu này, chúng ta sẽ tập trung thực tập bài kinh Tứ Niệm Xứ – bài kinh này có thể gọi là sinh mạng, lẽ sống, sức sống của người tu. Qua bài kinh này, Đức Phật đã khai thị, hướng dẫn một cách tuần tự những thứ bậc trong sự tu tập từ ngoài vào trong, từ thấp đến cao, từ cạn đến sâu. Chúng ta sẽ vừa nghe, vừa thực tập trong khi tìm hiểu Kinh Niệm Xứ, bài kinh số 10, Trung Bộ Kinh tập 1.
Khi đó, Đức Thế Tôn ở tại Câu-lâu, Ngài gọi và bảo các Tỷ-kheo:
Này các Tỷ-kheo, đây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn. Đó là Bốn Niệm Xứ. Thế nào là bốn?
Này các Tỷ-kheo, ở đây:
– Tỷ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời;
– Sống quán thọ trên các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời;
– Sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời;
– Sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời. (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm Xứ)
Tại sao gọi “đây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu”? Khi chưa học Chánh Pháp thì chúng ta nghĩ rằng cái khổ của mình là do người này làm, người kia gây ra, người nọ tạo thành, từ đó làm cho mình khổ, hoặc do hoàn cảnh bên ngoài. Nhưng khi chúng ta học được Chánh Pháp thì mới thấy rằng cái khổ thật sự chính là tâm tham dục, sân hận, si mê, vô minh và bản ngã – đây mới chính là nguyên nhân thật sự làm cho chúng ta đau khổ, bất an, phiền não.
Như vậy, kinh Tứ Niệm Xứ hay Giáo Pháp của Đức Phật là con đường nhìn thấy được tham, sân, si, vô minh và bản ngã; sau khi nhìn thấy thì nhiếp phục; sau khi nhiếp phục thì đoạn trừ và diệt tận. Vì vậy, ngoài con đường quay trở lại để phát giác, phát hiện ra được tham, sân, si, vô minh, bản ngã để nhiếp phục và diệt tận thì không còn con đường nào khác để hết khổ. Tham, sân, si là nguyên nhân dẫn đến khổ đau, và kinh Niệm Xứ hay Bát Chánh Đạo của Đức Phật là phương pháp diệt tận tham, sân, si, như vậy ngoài con đường này ra thì làm sao còn con đường, phương pháp, cách thức nào khác. Cho nên, chỉ có duy nhất con đường quay trở lại thân tâm, quay trở lại nội tâm để xem xét, quán sát, canh phòng, canh chừng, đề phòng, kiểm tra, kiểm soát thân và tâm; làm chủ được những cảm xúc, cảm giác, cảm thọ; đề phòng, canh chừng, nhiếp phục, trừ diệt những thứ làm cho mình khổ.
Như vậy, Tứ Niệm Xứ là con đường duy nhất, là đạo lộ độc nhất, gọi là độc đạo, ngoài ra không còn con đường nào khác. Bằng chứng là tất cả chúng ta ngồi đây đều đã từng đi đây, đi đó rất nhiều, cũng từng tìm pháp môn này, pháp môn kia, cũng từng lạy, cầu xin, nhưng tham, sân, si của chúng ta không được thấy biết, không được nhiếp phục, không được diệt tận và sầu, bi, khổ, ưu, não vẫn tiếp tục, tiếp diễn, tiếp nối. Vì vậy, con đường này được Đức Thế Tôn gọi là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh, gạn lọc tất cả cấu nhiễm và làm cho chúng sanh “vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn”. Bốn Niệm Xứ là sự quay trở về, còn ngày xưa mình khổ đau là tại vì mình hướng ngoại. Chúng ta cứ nhìn màu sắc, nhìn sự lòe loẹt của vật chất, của thế giới rồi mình chạy đuổi, kiếm tìm vì cứ tưởng rằng hạnh phúc ở ngoài đó.
Quán thân trên thân
Điều đầu tiên Đức Phật dạy trong phương pháp Tứ Niệm Xứ là “thế nào là sống quán thân trên thân?”
Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, và ngồi kiết già, lưng thẳng và an trú chánh niệm trước mặt.
Chúng ta cần học kĩ bài kinh này để nắm vững trình tự, đạo lộ.
Thực hành ba pháp
Bước đầu tiên: “an trú chánh niệm trước mặt”, dừng sự hướng ngoại, bắt đầu tập trở về với tự thân của chính mình bằng cách tìm một chỗ xa vắng, tìm núi rừng, tìm một gốc cây, tìm một căn nhà trống – tức là tịnh thất. Cho nên trong khóa tu này, chúng ta được ở trên núi rừng, điều này rất gần với những lời Đức Phật chỉ dạy. Không gian, môi trường, hoàn cảnh là điều hết sức quan trọng đối với người mới tu. Dù đang ngồi đây nhưng chỉ cần một tiếng xe chạy ngang thì có khi tâm của mình đã bị hướng ngoại, huống hồ chi là ngồi nơi phố thị ồn ào. Cho nên bước đầu tiên là tìm chỗ xa vắng, núi rừng để mình bớt phóng, bớt chạy, bớt hướng bên ngoài. Bây giờ chúng ta đang ở núi rừng, như vậy là được bước thứ nhất.
Bước đầu Đức Phật đã nói: “an trú chánh niệm trước mặt”; bước thứ hai: “tỉnh giác, vị ấy thở vô; tỉnh giác, vị ấy thở ra” – đây chính là Ba Pháp. Khi chúng ta đã ngồi yên, tiếp theo là đến đặt niệm trước mặt, chánh niệm trước mặt, rõ biết trước mặt. Và khi rõ biết trước mặt xong, bắt đầu đến “tỉnh giác, vị ấy thở vô; tỉnh giác, vị ấy thở ra” – tức là rõ biết, cảm nhận hơi thở được hơi thở đang vào, ra. “Thở vô dài, vị ấy tuệ tri: "Tôi thở vô dài"; hay thở ra dài, vị ấy tuệ tri: "Tôi thở ra dài".” Hơi thở dài hay ngắn mình rõ biết.
Sau khi tỉnh giác, rõ biết được hơi thở, Đức Phật tiếp tục dạy: "Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. Như vậy, sau khi biết được hơi thở vào ra, dài ngắn thì đến bước thực tập cảm giác toàn thân. Từ sự động chuyển của chóp mũi, lồng ngực và bụng, chúng ta để sự lan tỏa từ ba chỗ động chuyển đó ra khắp châu thân. Kế đó, chúng ta thực tập sự cảm nhận cảm giác của toàn bộ các bộ phận ở trên cơ thể. Chúng ta bắt đầu thực tập: "Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập; "Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. Rõ biết hơi thở và cảm nhận cảm giác của toàn bộ tất cả các chi phần trong cơ thể.
Khi đã cảm giác được cảm giác của toàn bộ cơ thể thì tiếp theo mình thực tập an tịnh toàn thân. Làm cho hơi thở, cảm giác và tất cả các chi phần trên cơ thể được an tịnh và lắng dịu. "An tịnh toàn thân, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập; "An tịnh toàn thân, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. Thực hành đầy đủ những bước như vậy thì chúng ta sẽ có cảm giác hết sức an tịnh, lắng dịu và dễ chịu.
Mỗi thời ngồi thiền, nhất định phải tuần tự hành trì theo những bước này, đừng nghĩ đã quen nên mình bỏ qua để đi thẳng vào quán chiếu thì không được. Cần phải thực tập tuần tự, nhuần nhuyễn, thuần thục. Khi thực tập được toàn thân an tịnh thì cảm giác hỷ lạc nhè nhẹ sẽ sanh khởi; cảm giác dễ chịu sẽ có mặt; đó cũng là lúc tất cả các tế bào, bộ phận trong cơ thể được nghỉ ngơi; cảm thọ được lắng dịu; sự khinh an sẽ xuất hiện. Nhẹ nhàng, an tịnh, dễ chịu. Khi làm công việc mệt hoặc tâm có chuyện phải suy nghĩ, lo lắng nhiều thì quý vị chỉ cần vào ngồi 15 phút đến nửa tiếng, nhiều hơn càng tốt, thực hiện những bước này thôi là lập tức quý vị sẽ hồi phục lại năng lực, thân tâm. Có những người chỉ cần lấy một vài bước này thôi, thậm chí là chỉ lấy mấy hơi thở thôi là đã phát triển thành những dòng thiền. Cho nên mình đừng xem thường những bước này, nó hết sức quan trọng, cần phải thực tập. Chúng ta làm mỗi bước như vậy bằng tất cả tấm lòng, bằng tất cả sự thực tập trọn vẹn của mình thì mỗi một bước như vậy là một nghệ thuật. Chỉ riêng bước “đặt niệm trước mặt” nếu được thực tập trọn vẹn thì quý vị sẽ thấy giờ ngồi thiền của mình là một giờ rực sáng, tỏa sáng, rất tuyệt vời.
Và không những chỉ giờ ngồi thiền, khi thực tập quen rồi thì tất cả các giờ, trừ khi quên, thì những giờ còn lại, dầu xả thiền ra rồi nhưng lúc nào mình cũng thực tập rõ biết trước mặt, trú trong ba pháp, trở về hơi thở, cảm giác toàn thân và làm cho an tịnh, lắng dịu toàn thân. Cho nên khi thực tập các bước này được thuần thục và quen thì quý vị sẽ thấy việc chánh niệm, tỉnh giác đi, đứng nhẹ nhàng, an tịnh không còn bị gò ép nữa. Những người mới dự khóa tu lần đầu, vào khóa không được nói chuyện, đi phải nhẹ nhàng, tất cả mọi hành động phải chậm rãi có khi do không quen nên sẽ thấy khó chịu, nhưng quý vị chịu khó thực tập điều này được nhuần nhuyễn thì mình sẽ thấy được phép màu, chúng ta sẽ làm một cách hồn nhiên, như nhiên, nhẹ nhàng, an tịnh, thoải mái và bình an. Thực tập được điều này thì thân an, tâm lạc. Những chứng bệnh về thân, nếu nặng sẽ trở thành nhẹ, nếu nhẹ thì có thể giảm xuống. Những chứng bệnh về tâm như cảm thọ hung hăng mạnh mẽ sẽ nhờ phương pháp này làm cho dừng lại, yên lại, lắng xuống, dịu xuống. Thành ra, tất cả mọi bước trong kinh Tứ Niệm Xứ này đều là nghệ thuật, đều là một sự thực tập hết sức sâu sắc, chúng ta không được lướt qua, xem thường.
Ngày đầu tiên của khóa tu, Minh Thành có chia sẻ rằng Minh Thành thấy đại chúng đẹp lắm, vì mình đang sống trong Tứ Niệm Xứ, đang sinh hoạt trong Thân Hành Niệm, đang an trú ở trong quán thân trên thân. Mỗi hành giả trong khóa tu phải làm cho bằng được điều đó. Đại chúng rất là đẹp, rất an tịnh. Hồi hôm này, Minh Thành đứng bên ngoài nhìn vào chiêm ngưỡng dung nhan của đại chúng khi các vị nhận diện ngũ uẩn, thật trang nghiêm, thanh tịnh, gần 100 người, ai nấy cũng đều rất đẹp. Trong giờ ngồi thiền cũng vậy, rất đẹp. Đó là biểu hiện của sự thực tập các bước này, cảm giác toàn thân và an tịnh toàn thân. Không những giờ ngồi thiền, cả giờ nghe pháp, hành trì hay ra khỏi thiền đường cũng phải an trú trong ba pháp. Đây chính là sinh mạng của chúng ta, là mạng sống của người tu. Lúc nào không có nhận diện cảm giác toàn thân là lúc đó mình xem như chết rồi, vì khi ấy mình sống trong vô minh, trong buông lung phóng dật chứ không sống trong trí tuệ, trong tỉnh giác, trong chánh niệm.
Như vậy, vị ấy sống quán thân trên nội thân hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên cả nội thân, ngoại thân; hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. Có thân vô thường, duyên sanh, tứ đại, mong manh này, vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy không nương tựa, không chấp trước vật gì trên đời. (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm Xứ)
Mỗi đoạn nói xong Đức Phật đều nhắc lại câu này.
Chúng ta nhìn vẻ bên ngoài của thân, hoặc là nhìn bên trong thân như đang nói về hơi thở thì mình cũng sẽ thấy được sự sanh diệt, vô thường của hơi thở; thấy được sự sanh diệt, vô thường của các cảm giác khi quán cảm giác toàn thân; hoặc khi chánh niệm trước mặt, chúng ta nhìn các pháp và thấy được sự sanh diệt, vô thường của nó. Nếu không trú để quán mà chỉ đặt niệm trước mặt, và lúc đó nếu trước mặt có một tấm thảm hoặc thứ gì khác thì mình sẽ phân tích tấm thảm đó và chạy theo nó, xem tấm thảm ở trong nước hay ngoài nước, tấm thảm này ở đâu làm, màu gì, có hình con gì? Chỉ cần quên quán nội thân, quán nội thân, hay quán tánh sanh diệt trên thân thì lúc đó những điều khác dẫn mình đi. Quán tánh sanh diệt của thân này, chẳng hạn trong mỗi hơi thở vào ra, dài ngắn, mạnh yếu là mình thấy được tính chất vô thường, sanh diệt của nó. Bất cứ cái gì bên trong thân hay ngoài thân, đối với cái mình đang thực tập, chúng ta vẫn thấy được tính vô thường, sanh diệt, tan hoại của nó. Như vậy, để “hy vọng hướng đến chánh trí” – mình hy vọng sự quán chiếu đó sẽ đạt đến trí tuệ chân chánh, xuất ly năm uẩn. Chỗ sâu sắc trong bài kinh là mỗi một đoạn Đức Phật đều lặp lại ý này, tức là dầu cho mình tu một pháp nhỏ trong đây, nhưng đều nhằm“hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy không nương tựa, không chấp trước vật gì trên đời.” Tức là mỗi một pháp trong Tứ Niệm Xứ đều đưa đến cứu cánh viên mãn.
Quán hơi thở vào ra, dài ngắn, sanh diệt với hy vọng hướng đến chánh trí. Tức là thấy được sinh mạng mong manh, hơi thở vô thường, sanh diệt để mong rằng mình không còn bám chấp trong sinh mạng này nữa, đó gọi là “hy vọng hướng đến chánh trí”. Tức là từng pháp nào mình tu cũng đều đưa đến chánh trí. Có những bài kinh Đức Phật dạy chỉ niệm hơi thở là đạt được Niết-bàn, bất tử. Tất cả pháp nào mình tu cũng đều đưa ta đến Chánh Tri Kiến, đến sự nhàm chán, xả ly sự chấp thủ của năm uẩn, của thân tâm này.
Thân hành niệm
Chúng ta đã tìm hiểu về quán thân trong khi ngồi tu, kế tiếp chúng ta sẽ tiến thêm một bước nữa là đi vào những sinh hoạt trong đời sống, khi ra khỏi thiền đường, bước xuống bồ đoàn.
Đi – đứng – nằm – ngồi
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đi, tuệ tri: "Tôi đi", hay đứng, tuệ tri: "Tôi đứng", hay ngồi, tuệ tri: "Tôi ngồi", hay nằm, tuệ tri: "Tôi nằm". Thân thể được sử dụng như thế nào, vị ấy tuệ tri thân như thế ấy. (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm Xứ)
Đây là bắt đầu đến phần Thân Hành Niệm, Quán Thân Trên Thân, là sự tu tập khi chúng ta ra khỏi bồ đoàn, ra khỏi gốc cây, ra khỏi căn nhà trống, ra khỏi khu rừng, đây là sự tu tập trong sinh hoạt, đi, đứng, ngồi, nằm.
Như vậy, như thế nào gọi là: “Tỷ-kheo đi, tuệ tri: "Tôi đi"”? Ở đây không phải là khi đi thì mình niệm “Tôi đang đi”. Chữ “tôi” này chỉ là tạm sử dụng ngôn từ, chúng ta phải hiểu rằng không có “tôi” nào đang đi cả, như vậy mới là hiểu đúng ý Phật – tức là tứ đại đang đi, sắc uẩn đang đi, sắc pháp đang đi, bao thịt, bao máu mủ đang đi. Cho nên, ở đây Đức Phật dùng từ “tuệ tri” – tức là “biết bằng trí tuệ” – hai chữ này là mấu chốt trong toàn bộ Kinh Niệm Xứ. Tuệ tri là biết bằng trí tuệ của Chánh Tri Kiến: “Sắc, thọ, tưởng, hành, thức không phải là tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi.” Như vậy, biết bằng trí tuệ là biết như thế, nghĩa là mình ý thức, rõ biết, chánh niệm trong mỗi cử chỉ, oai nghi, hành động, ở đây là đang nói đến bốn oai nghi chính: đi, đứng, ngồi, nằm. Chúng ta sẽ đi tuần tự từ thấp lên cao, từ cạn đi vào sâu. Nếu không thực tập Thân Hành Niệm, Quán Thân Trên Thân này thì nhiều khi chúng ta đang đi nhưng không biết là mình đang đi. Tuy đang đi nhưng lại ngó trời, ngó mây, nhiều khi bị vấp, trượt, té hoặc đạp trúng gì đó. Hoặc có người chạy xe nhưng không biết rằng mình đang chạy xe thì tai nạn xảy ra, bây giờ điều này rất nhiều. Cho nên, ứng dụng chữ “đi” này trong rất nhiều trường hợp, chạy xe cũng là một hình thức “đi”. Hoặc đi vào nhà tắm, nhưng mình không cẩn thận bước đi, không có chánh niệm, người lớn tuổi không may bị trượt chân thì có khi sẽ nằm một chỗ.
Vì vậy, sự tu tập Thân Hành Niệm, Quán Thân Trên Thân, giúp chúng ta rất nhiều. Thực tập được điều này sẽ được thân an, tâm lạc, tránh được nhiều tai nạn hoặc những điều đáng tiếc xảy ra. Có người khi đi ở bên ngoài, nhưng ngồi bên trong đã nghe tiếng dép “xẹp, xẹp”, đó cũng không được gọi là tuệ tri đang đi. Chúng ta đã học cảm giác toàn thân và cả an tịnh toàn thân, một bước đi nếu có chánh niệm, tỉnh giác thì chúng ta thấy bước đi của mình đẹp, nhẹ, an bình, an lạc lắm. Đây là chúng ta chỉ mới nói phần căn bản, gần nhất. Từ một cái đi của mình đã làm ra được sự an lạc, nhẹ nhàng. Chúng ta hãy đi những bước hết sức thảnh thơi, chứ không phải đi giống bị rượt, bị đuổi, không có chuyện gì cũng đi lăng xăng, hấp tấp, vội vàng. Cho nên, chúng ta tập thiền hành hay lắm. Mình tập những bước đi thiền, tập sự tuệ tri những bước đi không phải chỉ trong giờ thiền hành. Chúng ta tập trong thiền đường là để khi ra khỏi thiền đường mình có những bước thiền hành, có những bước thật nhẹ nhàng, an tịnh, thảnh thơi trong mỗi bước chân của hành giả Tứ Niệm Xứ. Quý vị thấy bước chân của mình nhẹ hơn ngày mới vào khóa tu chưa, có nhẹ hơn những bước chân ở nhà chưa? Ở nhà mình đi không được nhẹ giống như lên đây, đó chính là “có hiệu quả tức thời” trong sự tu tập. Hãy cố gắng thực tập trong bảy ngày tu này, thực tập từng chút, từng chút một trong bài kinh Tứ Niệm Xứ. Hãy nhớ, khi đi tuệ tri rằng mình đang đi. Nếu học kĩ thì riêng phần này cần phải bảy ngày. Khi ngồi phải tuệ tri mình đang ngồi, khi đứng phải tuệ tri – biết bằng trí tuệ, khi nằm cũng phải biết bằng trí tuệ. Như vậy, đi, đứng, ngồi, nằm của mình đều là nghệ thuật chánh niệm. Hơn nữa, trong khi đi, đứng, ngồi, nằm đều phải thực hành ba pháp: rõ biết trước mặt, cảm giác toàn thân và an tịnh toàn thân. Ba pháp không phải là riêng, mà đi, đứng, ngồi, nằm có ba pháp lồng trong đó.
“Thân thể được sử dụng như thế nào, vị ấy tuệ tri thân như thế ấy.” Câu này bao hàm rất nhiều ý nghĩa, thân thể được sử dụng như thế nào, mình phải rõ biết bằng trí tuệ là thân thể đang như thế ấy. Cho nên khi ngồi mà đầu bị nghiêng, nếu mình có cảm giác toàn thân là sẽ nhận ra ngay; hoặc khi mình ngã về phía trước, nếu có cảm giác toàn thân là mình biết liền, còn lúc đó không biết là mình không có cảm giác toàn thân. Còn bị hôn trầm, buồn ngủ là do mình không có chánh niệm trước mặt, nếu có chánh niệm trước mặt thì làm sao buồn ngủ tấn công được. Do chúng ta trú trong pháp không vững chãi, không vững chắc, không kiên trú, không tỏa sáng nên sẽ bị những cái khác sẽ lấn vào. Vì vậy, nếu không có cố gắng, nỗ lực thì mình ngồi thiền 10 năm vẫn bị ngủ gục như thường.
Cho nên phải cố gắng để ý, giống như Đức Phật đã nói, phải quán bên trong thân, bên ngoài thân, quán cả trong ngoài, quán sanh diệt. Khi đi, đứng, ngồi, nằm phải nhìn vào đó thấy đây là thân tứ đại, thân bất tịnh, thân vô thường, mong manh, không có gì là tôi, là của tôi bên trong thân này cả. Minh Thành nhắc quý vị phải niệm câu “không có gì là tôi, không có gì là của tôi” mỗi ngày một ngàn lần, thường xuyên nhớ phải niệm câu đó, đây là câu tác ý, là chìa khóa mở Thánh Trí. Ví dụ đang ngồi, chúng ta thấy bóng của mình trong gương, nhìn thấy dáng ngồi đẹp quá thì lúc đó là tham ái và chấp ngã. Nói đơn giản là vậy, nhưng khi thấy bóng mình trong gương thì có đủ thứ pháp trong đó: xúc, thọ, ái, thủ, hữu; hoặc là sầu, bi, khổ, ưu, não nếu nhìn thấy mình gầy gò hay nổi mụn. Chỉ cần con mắt tiếp xúc vào gương thì có biết bao nhiêu pháp vận hành, một chuỗi duyên sanh pháp trong đó, nếu lúc đó không chánh niệm tỉnh giác thì mình sẽ đi theo. Cho nên Quán Pháp Trên Pháp, Quán Thọ Trên Thọ, Quán Tâm Trên Tâm là như thế. Chúng ta học thì phân ra từng phần như vậy, nhưng thực pháp diễn ra thì tích tắc rất nhanh. Và nếu không có sự chánh niệm, tỉnh giác, bình tĩnh, an tịnh thân hành, cảm giác toàn thân thì khi pháp sanh ra mình bắt không kịp, vuột mất hết, nó đi rất nhanh cho nên gọi là lậu hoặc: dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu.
Thế nên, khi đi cũng vậy, khi ngồi cũng vậy, khi đứng cũng vậy, khi nằm cũng vậy, thấy bàn tay mình đẹp thì quán ngay với hy vọng hướng đến chánh trí: “Đẹp cái gì, toàn là gân guốc”, tác ý đánh đuổi liền, nếu không là mình sẽ đi theo, ý hành sanh khởi. Khi mắt xúc vào bàn tay thì thọ, tưởng, hành, các pháp bắt đầu vận hành, nếu thấy nó thì mình phải tác ý, quán chiếu ngay lập tức: “hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy không nương tựa, không chấp trước vật gì trên đời.” Như vậy tại sao lại chấp vào dáng đi, chấp vào cái bóng của bàn tay, gương mặt trong gương? Nếu không học kĩ thì không hiểu được, vì bài kinh này cực kì thâm sâu và rộng lớn, bài này kinh này đủ chứng A-la-hán. Khi đi, khi đứng, khi ngồi, khi nằm, vị ấy biết bằng trí tuệ, biết bằng Chánh Tri Kiến, Thánh Tri Kiến, biết bằng cái thấy không có gì là tôi, không có gì là của tôi; biết bằng cái thấy đó là vô thường, tạm bợ, tan nát, hủy hoại, hoại diệt; biết bằng cái thấy đó là bất tịnh, không sạch sẽ, không thơm tho, nhơ nhớp, hôi tanh, đáng nhàm chán; biết bằng trí tuệ là biết không có một cái tôi bên trong, thân này là trống không, trống rỗng, trống trơn; biết bằng trí tuệ là biết không có gì đẹp, thơm thơ, sạch sẽ trong thân này. Những cái biết đó với hy vọng hướng đến trí tuệ chân chánh, chánh trí, chánh niệm, để không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời, không thấy cái gì đáng ưa, đáng thích, đáng ham, đáng muốn, tất cả đều là vô thường, tan nát, hủy hoại, hoại diệt từ bên trong (nội thân) cho đến bên ngoài (ngoại thân). Từ từ chúng ta học đến những yếu tố cấu thành thân này là 32 thể trược. Đức Phật luôn dặn:
Như vậy, vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay vị ấy sống quán thân trên ngoại thân; hay vị ấy sống quán thân trên nội thân, ngoại thân; hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay vị ấy sống quán tánh diệt tận trên thân; hay vị ấy sống quán tánh sanh diệt trên thân. (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm Xứ)
Sanh khởi là sao? Diệt tận là sao? Sự thay đổi oai nghi, từ đi rồi đứng lại, từ đứng rồi ngồi xuống, từ ngồi rồi nằm – đó là sự sanh diệt, biến đổi liên tục, liên tục. Ngồi một chút là tê, nhức, mỏi, đau, vì vậy luôn hướng tâm đến sự yểm ly, nhàm chán, ly tham, từ bỏ, chấm dứt, đó là hy vọng hướng đến chánh trí. Đức Phật dạy cho Ngài Ưu Ba Li, tất cả suy nghĩ, cảm thọ, nghĩ tưởng của mình đều tác ý để hướng nó vào chỗ nhìn thấy bản chất của sự thật, tức là chánh trí để không còn ham muốn, ưa thích, nắm giữ nữa, từ đó đạt đến chỗ “không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời”. Chúng ta phải tác ý, phải lèo lái, dẫn tâm của mình. Trong mỗi suy nghĩ, mỗi cảm thọ, mỗi cái tưởng chúng ta phải nhìn ra và dẫn dắt, hướng nó về đúng hồng tâm của chánh kiến, chánh trí, chánh niệm. Tu như vậy thì sự tu của chúng ta không có giờ rảnh.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo, khi bước tới bước lui, biết rõ việc mình đang làm; khi ngó tới ngó lui, biết rõ việc mình đang làm; khi co tay, khi duỗi tay, biết rõ việc mình đang làm; khi mang áo Sanghati (Tăng già lê), mang bát, mang y, biết rõ việc mình đang làm; khi ăn, uống, nhai, nếm, biết rõ việc mình đang làm; khi đại tiện, tiểu tiện, biết rõ việc mình đang làm; khi đi, đứng, ngồi, ngủ, thức, nói, im lặng, biết rõ việc mình đang làm. (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm Xứ)
Đức Thế Tôn chỉ nói khẩu quyết, Ngài nói một cách cô đọng, hàm xúc, nhưng khi lấy trong đó ra ứng dụng vào thực tế thì mình thấy nhiều điều phải làm, chứ không phải đơn giản đọc suông qua. Chẳng hạn, “khi ngó tới ngó lui, biết rõ việc mình đang làm.” Cái ngó tới ngó lui của mình có rõ biết trước mặt không? Nếu quên rõ biết trước mặt là mình liếc qua, liếc lại, nhìn láo liêng, hoặc trước cái đẹp thì nhìn hoài, còn gặp cái xấu, không ưa thì con mắt hơi khó chịu, như vậy là không biết việc mình đang làm. Khi nhìn thấy một cái đẹp, con mắt dừng lại chỗ đó lâu, nếu biết việc mình đang làm thì chúng ta sẽ thâu lại, hộ trì căn, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng, thực hành sự hộ trì con mắt, đem con mắt trở về, đó mới là biết rõ việc mình đang làm.
Hoặc khi nhìn hoặc nghe một câu nói, hành động trái ý nghịch lòng khiến mình bực bội lên, nếu lúc đó biết rõ, tuệ tri cái bực đó, thì không chỉ là biết cái bực thôi mà mình còn phải tác ý đánh đuổi cảm thọ sân hận, bực dọc, khó chịu đó, như vậy mới gọi là biết rõ việc mình đang làm. Còn việc ngó tới ngó lui, mặc áo, bưng cơm hay nói, nín, không phải việc quan trọng, tất cả những việc làm, cử chỉ, hành động đó nhằm mục đích duy nhất là diệt tham, sân, si. Hãy nhớ kĩ chỗ này, tất cả mọi cử chỉ, hành động mình để ý là nhằm để xem bên trong mình có bị dính mắc không? Có bị tham ái trong cái nhìn không? Có dục nói không, nếu có thì dừng lại; hoặc lúc nói mà có sân thì phát hiện, biết rõ việc mình đang làm và dừng lại. Như vậy tất cả cử chỉ, ngó tới ngó lui, co tay, duỗi chân, mặc áo, ăn cơm, nhai, nếm,… mình cần phải rõ biết và xem trong đó có cái gì bên trong, đây là chỗ sâu sắc. Như vậy, xem coi có gì ở bên trong, đó gọi là tuệ tri.
Minh Thành thí dụ nhỏ để đại chúng thấy. Lúc ăn cơm chánh quán thọ thực là để chúng ta xem coi có dục, tham, ái trong khi ăn hay không. Những cái khác cũng giống như vậy, chứ không phải chỉ có ăn cơm thì mới chánh quán, còn đi tắm, đi vệ sinh thì không chánh quán. Tất cả mọi cử chỉ, hành vi, oai nghi, cử động mình đều chánh quán để nhiếp phục dục, tham, ái; đoạn tận dục, tham, ái trong đó. Thí dụ như khi đắp y, hoặc các vị cư sĩ lúc mặc áo, hôm đó được bộ đồ đẹp, khi mặc vào thì có biết rõ việc mình đang làm không, có chánh niệm tỉnh giác trong khi mặc áo không? Ngay cả người xuất gia, được một chiếc y mới, đẹp, lúc đắp y vào có thích, có ưa, có muốn không? Có thấy mình đẹp, áo đẹp, vừa vặn, hợp ý và muốn chụp ảnh làm kỉ niệm không? Đó gọi là biết rõ việc mình đang làm bằng trí tuệ. Tại vì mục đích, chỗ hướng tới của mình khi tu là phá vô minh và tham ái đối với năm uẩn, hiện tại khi đang mặc áo này là có tham ái trong sắc uẩn, ta nên phá trừ, tác ý để từ bỏ. Đó gọi là tuệ tri, ở đây là Minh Thành nói về chỗ nhắm, mục tiêu mình hướng tới.
Ngược lại, nói cái gần là nếu có sự chánh niệm, tỉnh giác, biết rõ việc mình đang làm thì mình không có sơ sót, không có đổ, rớt, bể. Có người bưng khay lễ mà vẫn làm rớt, ăn cơm thì khua muỗng hoặc làm rớt đũa, thậm chí để cho tay áo nhúng vào chén nước tương, tô canh, như vậy là không biết rõ việc mình đang làm. Lúc nãy là nói mục tiêu, chỗ hướng đến, còn những việc này là Minh Thành kéo lại nói cái gần nhất, chỉ cần làm được những cái gần này thôi thì cũng đã hưởng được lợi ích lớn. Vì thế, phải biết rõ việc mình đang làm. Và người tu đúng như Đức Phật dạy, luôn luôn chánh niệm, tỉnh giác, chú tâm, dòm ngó, dò xét, quán chiếu, xem xét tất cả những cử chỉ thì sự tu tập của người này miên mật, khít khao, nhỏ nhiệm, vi tế, liên tục. Nhìn những điều này mới thấy mình còn tu dở lắm. Chỉ vừa buông pháp, vừa xả thiền ra thì thấy khỏe liền, mặt hớn hở, rõ ràng là gương mặt tham ái, dáng của buông lung, vừa xả thiền bước ra là nhìn khác liền, trở về trạng thái buông lung, thoải mái.
Vì vậy, trong bảy ngày tu này tuyệt vời lắm, chúng ta thực tập Thân Hành Niệm, Quán Thân Trên Thân để làm vốn luyến, để biết rõ việc mình đang làm. Điều này nói kĩ thì nhiều lắm, có rất nhiều vấn đề để mình tu tập: quán bất tịnh, nhiếp phục tâm sân, nhìn thấy được sự thật bên trong, khi tắm gội cũng bao gồm sự quán chiếu trong đó. Biết rõ việc mình đang làm là biết bằng trí tuệ để hướng đến chánh trí chánh niệm, để không nương tựa, chấp trước đối với bất cứ một vật gì trên đời. Chính trí tuệ, mục tiêu, chỗ nhắm, sự hướng tâm đó đưa chúng ta đến chỗ ly tham, nhàm chán, không ưa thích, không muốn bất cứ thứ gì nữa. Tại vì mình còn ưa thích, còn muốn, còn dính mắc bất cứ một cái nào thì cái đó làm cho mình khổ đau. Nếu mình không muốn khổ thì đừng để tâm dính vào cái nào hết, tập gỡ ra, tham ái cái nào là gỡ cái đó, thích cái nào là gỡ cái đó, vướng cái nào là tháo cái đó, tháo cho đến chỗ không còn dính mắc cái nào nữa hết, như vậy là xong. Hãy cố gắng nhìn thấy và tháo gỡ. Nhưng, bước đầu tiên căn bản là phải biết rõ việc mình đang làm, tức là đem tâm trở về thân trước, rồi từ chỗ trở về thân, từ chỗ rõ biết trước mặt, cảm giác toàn thân, an tịnh toàn thân, nội tâm tỉnh giác thì mình mới bắt đầu tháo vào bên trong.
Như vậy, mình phải bắt đầu từ bước một, làm gì cũng phải tập biết rõ việc mình đang làm, nếu cần cứ nhắc bản thân mình, không sao hết. Ví dụ đang ngồi thiền, nhắc: “Mày đang ngồi thiền chứ không phải đang ngủ nha”. “Mày đang tụng kinh nha, sao miệng im re không chịu đọc. Ở ngoài thì nói luyên thuyên, nhưng tới chừng vào tụng kinh thì không đọc”. Đang tụng kinh thì phải nhắc nó biết rõ việc đang làm: “Đọc lên, mau.” Tuy thấy những việc đó nhỏ, nhưng thiện pháp rất nhiều, thế nên nếu bỏ những cái nhỏ đó thì sẽ mất nhiều thiện pháp. Vì khi đọc kinh lên, khẩu hành, ý hành và thân hành theo lời kinh, từ đó cảm thọ, tưởng sanh khởi để thâm nhập, huân tập, tích tụ các thiện pháp. Cho nên đừng thấy đọc kinh như vậy mà xem thường, nghĩ rằng không đọc, ngồi yên quán sâu sắc hơn, như vậy không phải. Tới giờ đọc mình phải đọc, đọc hết lòng, hết mình, bằng cả trái tim. Quý vị đã nghe bài Đảnh lễ đức hạnh Ngài Xá Lợi Phất mà Minh Thành đã đọc, như vậy đó, chúng ta phải đọc bằng cả trái tim, tấm lòng của mình để sanh lên những cảm thọ, cảm giác, cảm xúc sâu lắng, xúc cảm, xúc động, chấn động. Mỗi một lần như vậy là trí tuệ của mình khai mở, thắp sáng lên.
Ăn – uống – nhai – nếm
Cho nên, “thân thể được sử dụng như thế nào, vị ấy tuệ tri thân như thế ấy”, “biết rõ việc mình đang làm”, “khi ăn, uống, nhai, nếm, biết rõ việc mình đang làm”. Cả bài Chánh quán thọ thực là được bậc Thiện tri thức biên soạn, diễn ra từ mấy chữ này. Chỉ bấy nhiêu đó nhưng mình thấy rất khó, lúc ăn phải biết rõ việc mình đang làm, nhiếp phục dục, tham, ái trong khi ăn không phải dễ, nhai một hồi là mình mất kiểm soát. Thế nên, vị ngọt của dục hết sức nguy hiểm, vị ngọt rất ít, nhưng nguy hại rất nhiều. Cứ thích ăn những món ngon, ăn xong rồi bệnh, mà bệnh rồi nhưng vẫn ăn những món mà bác sĩ, thầy thuốc kêu không nên ăn, cứ nghĩ chỉ ăn một miếng, không sao hết, thà bệnh chứ bỏ ăn không được. Vị ngọt của cái ăn hết sức nguy hiểm, nhưng ta không thấy được sự nguy hại để xuất ly, và sự tu của chúng ta cũng giống như vậy.
Ở nhà, 5-6 giờ mới thức dậy, lên chùa 4 giờ đã đánh kẻng thức chúng, nhưng lúc đó vị ngọt ở trong cái mền, cái nệm và thời tiết giá lạnh của Bảo Lộc thì không muốn thức dậy để tu. Phải thấy được sự nguy hại – nguy hiểm và tác hại khi ủ trong cái nệm đó để xuất ly, nghe tiếng kẻng là bật dậy ngay lập tức, lấy nước thật lạnh rửa mặt đàng hoàng, chấn chỉnh lại, bước lên thiền đường như đi ra chiến trận, hùng dũng, oai hùng, mạnh mẽ, tinh tấn. Đó gọi là biết rõ việc mình đang làm. Thiền thì ra thiền, đọc kinh thì ra đọc kinh, tu thì ra tu, biết rõ việc mình đang làm bằng trí tuệ. Bao nhiêu việc làm như vậy nhưng luôn luôn sâu thẳm trong tâm mình là hướng tất cả những điều đó đi đến chánh trí.
Ăn không phải vì đam mê, không phải vì vui thích, không phải ăn để làm đẹp cho thân xác này, không phải ăn để hưởng thụ, chúng ta phải tác ý thường thường để từ từ ly tham đối với món ăn: “Tới cử, tới giờ thì bỏ vào bụng cho xong, không bỏ thì tay chân rã rời, bụng kêu ọt ọt, thôi bỏ vào bụng một miếng, cái gì cũng được, bỏ vào cho xong để mình còn tu.” Phải tác ý như vậy, nếu không thì làm sao “diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên cảm thọ mới” được? Diệt trừ cảm thọ cũ là ngồi vào chỗ, chưa được ăn, mới chỉ tụng kinh, đọc Chánh quán thọ thực, nhưng nhiều khi mình đã nuốt nước miếng. Nghĩa là khi ấy ta nhớ lại những hình bóng, cảm giác, nghĩ tưởng về món ăn này lúc trước mình đã ăn, nhớ nó có cảm giác như thế nào, như vậy lúc đó gọi là “cảm thọ cũ”.
Ví dụ khi bưng một tô bánh canh hay cơm, bì, sườn, chả chay để trước mặt, thì những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ khi đã từng ăn món này hiện khởi lên, đó gọi là cảm thọ cũ. Chúng ta nghĩ rằng một chút nữa mình ăn là nó sẽ giống như lúc trước đã ăn. Rồi khi gắp thức ăn để vào lưỡi thì cảm thọ mới sanh. Như vậy, muốn nhiếp phục, diệt trừ cảm thọ cũ, không cho sanh cảm thọ mới thì trong khi ăn mình phải chiến đấu đến cỡ nào?
Cho nên, trong bữa ăn cơm, chúng ta là những dũng sĩ, hành giả Tứ Niệm Xứ ăn cơm trong sự chánh niệm, hùng tráng ở thiền đường Linh Quy Pháp Ấn. Đó là sự chiến đấu, chánh niệm, quán chiếu, đưa đến nhiếp phục dục tham, đoạn tận dục tham trong khi ăn. Dễ thấy lắm, chỉ cần món ăn lạt một chút thì sẽ thấy khổ thọ: “Sao món này không nêm thêm một chút, lạt quá, không có nước tương ở đây nữa.” Thọ, tưởng, hành diễn ra rất nhanh, mình phải bắt chụp được những thọ, tưởng, hành siêu nhanh, siêu tốc này, như vậy gọi là tuệ tri – biết bằng trí tuệ. “Thôi kệ, ăn 60 năm rồi, ăn hoài cũng vậy, ăn xong rồi chút nữa ra cái nhà kia, nó thành mùi gì, món gì? Vậy mà tối ngày cứ phân biệt mùi vị, ngon dở làm chi? Ăn hoài để làm gì?” Chúng ta tác ý như vậy để nhiếp phục cảm thọ, hóa giải lập tức ngay tại chỗ ăn, bứng tận gốc rễ của nó. Chứ đừng để khi ăn xong rồi hỏi: “Món này ai nấu, ngon quá, chỉ tôi cách để về tôi nấu.” Thành ra, nhớ câu: “với hy vọng hướng đến chánh trí”, câu này là phải nằm lòng. Tất cả những cái mình tu là đều “với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm, không nương tựa, không chấp trước vật gì trên đời.”
Ăn, mặc, ở cũng vậy. Thí dụ vào nằm ngủ, thấy người kế bên có mền dày hơn, ấm hơn, còn mền mình thì mỏng, lúc đó thọ, tưởng, hành nhiều khi cũng khởi. Hoặc cầm cuốn kinh để đọc, thấy cuốn kia chữ bự, cuốn mình cầm thì photo, chữ nhỏ, nghĩ thầm: “Sao đưa tôi cuốn này”. Chúng ta phải biết rõ tất cả những việc mình đang làm như vậy. Cho nên tu đúng theo lời Đức Phật dạy mình thấy thú vị, thích thú lắm, từng chút, từng chút mình phải hướng đến chánh trí, hướng đến sự giải thoát khỏi ngũ uẩn này, phải lèo lách, lái tâm mình để đưa nó từ từ vào trong Thánh đạo, Thánh trí, Chánh trí, Chánh kiến. Tu từng chút, từng chút, 100 lần, 1 ngàn lần, 10 ngàn lần, 1 vạn lần, 10 vạn lần, tu hoài cho đến cuối cuộc đời mình là Nhập Lưu Thánh quả, tối thiểu là Tu-đà-hoàn. Hãy đi thẳng, hoàn toàn thể nhập Chánh Tri Kiến. Đâu có cái gì thật, đâu có cái gì vui mà ham thích, thấy cười vậy nhưng một chút rơi nước mắt, thấy sum họp nhưng rồi sẽ tan rã, thấy hình thành đó nhưng rồi cũng hoại diệt đó. Cho nên Đức Phật dạy: “không nương tựa, không chấp trước bất cứ một vật gì ở trên đời.”
Như vậy, ở đây có hai phần: phần đầu tiên chúng ta thường nói gọn là thực hành ba pháp khi ngồi thiền; phần thứ hai là bước qua những oai nghi, cử chỉ, hành động. Trong tất cả mọi cái chúng ta đều nhằm hướng đến mục đích giải thoát, không để dính mắc, tham ái trong những thứ đó. Minh Thành rất tha thiết, chân thành mong mỏi tất cả chúng ta trong khóa tu này cố gắng thực hiện cho được những bước hết sức căn bản trong kinh Tứ Niệm Xứ. Khóa tu này chú trọng pháp hành, thực hành nhiều hơn, càng ngày chúng ta càng đi vào thực hành. Hãy cố gắng giữ gìn thân, miệng, ý, ba pháp, cảm giác toàn thân và an tịnh toàn thân. Cố gắng tuệ tri bốn oai nghi và tuệ tri mọi hành động, cử chỉ. Tập an tịnh, chánh niệm, nhẹ nhàng, tỉnh giác. Đây là những điều hết sức căn bản, là vỏ ngoài của phạm hạnh, chúng ta cần phải thành tựu để hướng đến mục đích ly tham, giải thoát. Minh Thành thấy đại chúng rất đẹp, rất trang nghiêm, rất thanh tịnh. Mỗi cái lạy xuống của Minh Thành là lạy Tam Bảo, lạy đại chúng, lạy tất cả quý vị trong một hội chúng trang nghiêm, thanh tịnh, chân thành, tha thiết trong Chánh Pháp, hy hữu, hiếm có ở trên đời. Dù đang ở trong những năm tháng cuối của thời tượng pháp, mạt pháp nhưng chúng ta rất may mắn, hạnh phúc vì còn được nghe, được gặp, được thấy được thực tập và hành trì những lời dạy gốc của Đức Phật. Chính vì vậy, Minh Thành mong tất cả hãy trân trọng, chân thành, bằng tất cả trái tim của mình tác ý hy hữu, hiếm có, trân trọng, trân quý, cung kính, hạnh phúc trong sự thực tập này. Đức Phật gọi đó là: “Ngày đêm tinh tấn, hỷ lạc tu tập thiện pháp”. Mong rằng tất cả chúng ta trong bảy ngày tu này đều trú trong Thánh Trí Tuệ, trú trong sự thật của kinh Tứ Niệm Xứ mà Đức Phật đã dạy. Tất cả chúng ta hãy cùng nhau thực tập từ ngoài vào trong, từ trong ra ngoài để nếm được hương vị bất tử của Thân Hành Niệm mà Đức Thế Tôn đã truyền trao.
./.
KINH NIỆM XỨ GIẢNG GIẢI
QUÁN THÂN A
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Tứ Niệm Xứ - con đường độc nhất! PAGEREF _Toc111883188 \h 1
II.Quán thân trên thân PAGEREF _Toc111883189 \h 2
1.Thực hành ba pháp PAGEREF _Toc111883190 \h 3
2.Thân hành niệm PAGEREF _Toc111883191 \h 6
a.Đi – đứng – nằm – ngồi PAGEREF _Toc111883192 \h 6
b.Ăn – uống – nhai – nếm PAGEREF _Toc111883193 \h 13
Tứ Niệm Xứ - con đường độc nhất!
Chúng ta cùng tìm hiểu về một bài kinh rất quan trọng, được các nước Phật giáo Nguyên Thủy xem như đại diện cho Pháp bảo. Trong khóa tu này, chúng ta sẽ tập trung thực tập bài kinh Tứ Niệm Xứ – bài kinh này có thể gọi là sinh mạng, lẽ sống, sức sống của người tu. Qua bài kinh này, Đức Phật đã khai thị, hướng dẫn một cách tuần tự những thứ bậc trong sự tu tập từ ngoài vào trong, từ thấp đến cao, từ cạn đến sâu. Chúng ta sẽ vừa nghe, vừa thực tập trong khi tìm hiểu Kinh Niệm Xứ, bài kinh số 10, Trung Bộ Kinh tập 1.
Khi đó, Đức Thế Tôn ở tại Câu-lâu, Ngài gọi và bảo các Tỷ-kheo:
Này các Tỷ-kheo, đây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn. Đó là Bốn Niệm Xứ. Thế nào là bốn?
Này các Tỷ-kheo, ở đây:
– Tỷ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời;
– Sống quán thọ trên các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời;
– Sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời;
– Sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời. (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm Xứ)
Tại sao gọi “đây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu”? Khi chưa học Chánh Pháp thì chúng ta nghĩ rằng cái khổ của mình là do người này làm, người kia gây ra, người nọ tạo thành, từ đó làm cho mình khổ, hoặc do hoàn cảnh bên ngoài. Nhưng khi chúng ta học được Chánh Pháp thì mới thấy rằng cái khổ thật sự chính là tâm tham dục, sân hận, si mê, vô minh và bản ngã – đây mới chính là nguyên nhân thật sự làm cho chúng ta đau khổ, bất an, phiền não.
Như vậy, kinh Tứ Niệm Xứ hay Giáo Pháp của Đức Phật là con đường nhìn thấy được tham, sân, si, vô minh và bản ngã; sau khi nhìn thấy thì nhiếp phục; sau khi nhiếp phục thì đoạn trừ và diệt tận. Vì vậy, ngoài con đường quay trở lại để phát giác, phát hiện ra được tham, sân, si, vô minh, bản ngã để nhiếp phục và diệt tận thì không còn con đường nào khác để hết khổ. Tham, sân, si là nguyên nhân dẫn đến khổ đau, và kinh Niệm Xứ hay Bát Chánh Đạo của Đức Phật là phương pháp diệt tận tham, sân, si, như vậy ngoài con đường này ra thì làm sao còn con đường, phương pháp, cách thức nào khác. Cho nên, chỉ có duy nhất con đường quay trở lại thân tâm, quay trở lại nội tâm để xem xét, quán sát, canh phòng, canh chừng, đề phòng, kiểm tra, kiểm soát thân và tâm; làm chủ được những cảm xúc, cảm giác, cảm thọ; đề phòng, canh chừng, nhiếp phục, trừ diệt những thứ làm cho mình khổ.
Như vậy, Tứ Niệm Xứ là con đường duy nhất, là đạo lộ độc nhất, gọi là độc đạo, ngoài ra không còn con đường nào khác. Bằng chứng là tất cả chúng ta ngồi đây đều đã từng đi đây, đi đó rất nhiều, cũng từng tìm pháp môn này, pháp môn kia, cũng từng lạy, cầu xin, nhưng tham, sân, si của chúng ta không được thấy biết, không được nhiếp phục, không được diệt tận và sầu, bi, khổ, ưu, não vẫn tiếp tục, tiếp diễn, tiếp nối. Vì vậy, con đường này được Đức Thế Tôn gọi là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh, gạn lọc tất cả cấu nhiễm và làm cho chúng sanh “vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn”. Bốn Niệm Xứ là sự quay trở về, còn ngày xưa mình khổ đau là tại vì mình hướng ngoại. Chúng ta cứ nhìn màu sắc, nhìn sự lòe loẹt của vật chất, của thế giới rồi mình chạy đuổi, kiếm tìm vì cứ tưởng rằng hạnh phúc ở ngoài đó.
Quán thân trên thân
Điều đầu tiên Đức Phật dạy trong phương pháp Tứ Niệm Xứ là “thế nào là sống quán thân trên thân?”
Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, và ngồi kiết già, lưng thẳng và an trú chánh niệm trước mặt.
Chúng ta cần học kĩ bài kinh này để nắm vững trình tự, đạo lộ.
Thực hành ba pháp
Bước đầu tiên: “an trú chánh niệm trước mặt”, dừng sự hướng ngoại, bắt đầu tập trở về với tự thân của chính mình bằng cách tìm một chỗ xa vắng, tìm núi rừng, tìm một gốc cây, tìm một căn nhà trống – tức là tịnh thất. Cho nên trong khóa tu này, chúng ta được ở trên núi rừng, điều này rất gần với những lời Đức Phật chỉ dạy. Không gian, môi trường, hoàn cảnh là điều hết sức quan trọng đối với người mới tu. Dù đang ngồi đây nhưng chỉ cần một tiếng xe chạy ngang thì có khi tâm của mình đã bị hướng ngoại, huống hồ chi là ngồi nơi phố thị ồn ào. Cho nên bước đầu tiên là tìm chỗ xa vắng, núi rừng để mình bớt phóng, bớt chạy, bớt hướng bên ngoài. Bây giờ chúng ta đang ở núi rừng, như vậy là được bước thứ nhất.
Bước đầu Đức Phật đã nói: “an trú chánh niệm trước mặt”; bước thứ hai: “tỉnh giác, vị ấy thở vô; tỉnh giác, vị ấy thở ra” – đây chính là Ba Pháp. Khi chúng ta đã ngồi yên, tiếp theo là đến đặt niệm trước mặt, chánh niệm trước mặt, rõ biết trước mặt. Và khi rõ biết trước mặt xong, bắt đầu đến “tỉnh giác, vị ấy thở vô; tỉnh giác, vị ấy thở ra” – tức là rõ biết, cảm nhận hơi thở được hơi thở đang vào, ra. “Thở vô dài, vị ấy tuệ tri: "Tôi thở vô dài"; hay thở ra dài, vị ấy tuệ tri: "Tôi thở ra dài".” Hơi thở dài hay ngắn mình rõ biết.
Sau khi tỉnh giác, rõ biết được hơi thở, Đức Phật tiếp tục dạy: "Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. Như vậy, sau khi biết được hơi thở vào ra, dài ngắn thì đến bước thực tập cảm giác toàn thân. Từ sự động chuyển của chóp mũi, lồng ngực và bụng, chúng ta để sự lan tỏa từ ba chỗ động chuyển đó ra khắp châu thân. Kế đó, chúng ta thực tập sự cảm nhận cảm giác của toàn bộ các bộ phận ở trên cơ thể. Chúng ta bắt đầu thực tập: "Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập; "Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. Rõ biết hơi thở và cảm nhận cảm giác của toàn bộ tất cả các chi phần trong cơ thể.
Khi đã cảm giác được cảm giác của toàn bộ cơ thể thì tiếp theo mình thực tập an tịnh toàn thân. Làm cho hơi thở, cảm giác và tất cả các chi phần trên cơ thể được an tịnh và lắng dịu. "An tịnh toàn thân, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập; "An tịnh toàn thân, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. Thực hành đầy đủ những bước như vậy thì chúng ta sẽ có cảm giác hết sức an tịnh, lắng dịu và dễ chịu.
Mỗi thời ngồi thiền, nhất định phải tuần tự hành trì theo những bước này, đừng nghĩ đã quen nên mình bỏ qua để đi thẳng vào quán chiếu thì không được. Cần phải thực tập tuần tự, nhuần nhuyễn, thuần thục. Khi thực tập được toàn thân an tịnh thì cảm giác hỷ lạc nhè nhẹ sẽ sanh khởi; cảm giác dễ chịu sẽ có mặt; đó cũng là lúc tất cả các tế bào, bộ phận trong cơ thể được nghỉ ngơi; cảm thọ được lắng dịu; sự khinh an sẽ xuất hiện. Nhẹ nhàng, an tịnh, dễ chịu. Khi làm công việc mệt hoặc tâm có chuyện phải suy nghĩ, lo lắng nhiều thì quý vị chỉ cần vào ngồi 15 phút đến nửa tiếng, nhiều hơn càng tốt, thực hiện những bước này thôi là lập tức quý vị sẽ hồi phục lại năng lực, thân tâm. Có những người chỉ cần lấy một vài bước này thôi, thậm chí là chỉ lấy mấy hơi thở thôi là đã phát triển thành những dòng thiền. Cho nên mình đừng xem thường những bước này, nó hết sức quan trọng, cần phải thực tập. Chúng ta làm mỗi bước như vậy bằng tất cả tấm lòng, bằng tất cả sự thực tập trọn vẹn của mình thì mỗi một bước như vậy là một nghệ thuật. Chỉ riêng bước “đặt niệm trước mặt” nếu được thực tập trọn vẹn thì quý vị sẽ thấy giờ ngồi thiền của mình là một giờ rực sáng, tỏa sáng, rất tuyệt vời.
Và không những chỉ giờ ngồi thiền, khi thực tập quen rồi thì tất cả các giờ, trừ khi quên, thì những giờ còn lại, dầu xả thiền ra rồi nhưng lúc nào mình cũng thực tập rõ biết trước mặt, trú trong ba pháp, trở về hơi thở, cảm giác toàn thân và làm cho an tịnh, lắng dịu toàn thân. Cho nên khi thực tập các bước này được thuần thục và quen thì quý vị sẽ thấy việc chánh niệm, tỉnh giác đi, đứng nhẹ nhàng, an tịnh không còn bị gò ép nữa. Những người mới dự khóa tu lần đầu, vào khóa không được nói chuyện, đi phải nhẹ nhàng, tất cả mọi hành động phải chậm rãi có khi do không quen nên sẽ thấy khó chịu, nhưng quý vị chịu khó thực tập điều này được nhuần nhuyễn thì mình sẽ thấy được phép màu, chúng ta sẽ làm một cách hồn nhiên, như nhiên, nhẹ nhàng, an tịnh, thoải mái và bình an. Thực tập được điều này thì thân an, tâm lạc. Những chứng bệnh về thân, nếu nặng sẽ trở thành nhẹ, nếu nhẹ thì có thể giảm xuống. Những chứng bệnh về tâm như cảm thọ hung hăng mạnh mẽ sẽ nhờ phương pháp này làm cho dừng lại, yên lại, lắng xuống, dịu xuống. Thành ra, tất cả mọi bước trong kinh Tứ Niệm Xứ này đều là nghệ thuật, đều là một sự thực tập hết sức sâu sắc, chúng ta không được lướt qua, xem thường.
Ngày đầu tiên của khóa tu, Minh Thành có chia sẻ rằng Minh Thành thấy đại chúng đẹp lắm, vì mình đang sống trong Tứ Niệm Xứ, đang sinh hoạt trong Thân Hành Niệm, đang an trú ở trong quán thân trên thân. Mỗi hành giả trong khóa tu phải làm cho bằng được điều đó. Đại chúng rất là đẹp, rất an tịnh. Hồi hôm này, Minh Thành đứng bên ngoài nhìn vào chiêm ngưỡng dung nhan của đại chúng khi các vị nhận diện ngũ uẩn, thật trang nghiêm, thanh tịnh, gần 100 người, ai nấy cũng đều rất đẹp. Trong giờ ngồi thiền cũng vậy, rất đẹp. Đó là biểu hiện của sự thực tập các bước này, cảm giác toàn thân và an tịnh toàn thân. Không những giờ ngồi thiền, cả giờ nghe pháp, hành trì hay ra khỏi thiền đường cũng phải an trú trong ba pháp. Đây chính là sinh mạng của chúng ta, là mạng sống của người tu. Lúc nào không có nhận diện cảm giác toàn thân là lúc đó mình xem như chết rồi, vì khi ấy mình sống trong vô minh, trong buông lung phóng dật chứ không sống trong trí tuệ, trong tỉnh giác, trong chánh niệm.
Như vậy, vị ấy sống quán thân trên nội thân hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên cả nội thân, ngoại thân; hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. Có thân vô thường, duyên sanh, tứ đại, mong manh này, vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy không nương tựa, không chấp trước vật gì trên đời. (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm Xứ)
Mỗi đoạn nói xong Đức Phật đều nhắc lại câu này.
Chúng ta nhìn vẻ bên ngoài của thân, hoặc là nhìn bên trong thân như đang nói về hơi thở thì mình cũng sẽ thấy được sự sanh diệt, vô thường của hơi thở; thấy được sự sanh diệt, vô thường của các cảm giác khi quán cảm giác toàn thân; hoặc khi chánh niệm trước mặt, chúng ta nhìn các pháp và thấy được sự sanh diệt, vô thường của nó. Nếu không trú để quán mà chỉ đặt niệm trước mặt, và lúc đó nếu trước mặt có một tấm thảm hoặc thứ gì khác thì mình sẽ phân tích tấm thảm đó và chạy theo nó, xem tấm thảm ở trong nước hay ngoài nước, tấm thảm này ở đâu làm, màu gì, có hình con gì? Chỉ cần quên quán nội thân, quán nội thân, hay quán tánh sanh diệt trên thân thì lúc đó những điều khác dẫn mình đi. Quán tánh sanh diệt của thân này, chẳng hạn trong mỗi hơi thở vào ra, dài ngắn, mạnh yếu là mình thấy được tính chất vô thường, sanh diệt của nó. Bất cứ cái gì bên trong thân hay ngoài thân, đối với cái mình đang thực tập, chúng ta vẫn thấy được tính vô thường, sanh diệt, tan hoại của nó. Như vậy, để “hy vọng hướng đến chánh trí” – mình hy vọng sự quán chiếu đó sẽ đạt đến trí tuệ chân chánh, xuất ly năm uẩn. Chỗ sâu sắc trong bài kinh là mỗi một đoạn Đức Phật đều lặp lại ý này, tức là dầu cho mình tu một pháp nhỏ trong đây, nhưng đều nhằm“hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy không nương tựa, không chấp trước vật gì trên đời.” Tức là mỗi một pháp trong Tứ Niệm Xứ đều đưa đến cứu cánh viên mãn.
Quán hơi thở vào ra, dài ngắn, sanh diệt với hy vọng hướng đến chánh trí. Tức là thấy được sinh mạng mong manh, hơi thở vô thường, sanh diệt để mong rằng mình không còn bám chấp trong sinh mạng này nữa, đó gọi là “hy vọng hướng đến chánh trí”. Tức là từng pháp nào mình tu cũng đều đưa đến chánh trí. Có những bài kinh Đức Phật dạy chỉ niệm hơi thở là đạt được Niết-bàn, bất tử. Tất cả pháp nào mình tu cũng đều đưa ta đến Chánh Tri Kiến, đến sự nhàm chán, xả ly sự chấp thủ của năm uẩn, của thân tâm này.
Thân hành niệm
Chúng ta đã tìm hiểu về quán thân trong khi ngồi tu, kế tiếp chúng ta sẽ tiến thêm một bước nữa là đi vào những sinh hoạt trong đời sống, khi ra khỏi thiền đường, bước xuống bồ đoàn.
Đi – đứng – nằm – ngồi
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đi, tuệ tri: "Tôi đi", hay đứng, tuệ tri: "Tôi đứng", hay ngồi, tuệ tri: "Tôi ngồi", hay nằm, tuệ tri: "Tôi nằm". Thân thể được sử dụng như thế nào, vị ấy tuệ tri thân như thế ấy. (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm Xứ)
Đây là bắt đầu đến phần Thân Hành Niệm, Quán Thân Trên Thân, là sự tu tập khi chúng ta ra khỏi bồ đoàn, ra khỏi gốc cây, ra khỏi căn nhà trống, ra khỏi khu rừng, đây là sự tu tập trong sinh hoạt, đi, đứng, ngồi, nằm.
Như vậy, như thế nào gọi là: “Tỷ-kheo đi, tuệ tri: "Tôi đi"”? Ở đây không phải là khi đi thì mình niệm “Tôi đang đi”. Chữ “tôi” này chỉ là tạm sử dụng ngôn từ, chúng ta phải hiểu rằng không có “tôi” nào đang đi cả, như vậy mới là hiểu đúng ý Phật – tức là tứ đại đang đi, sắc uẩn đang đi, sắc pháp đang đi, bao thịt, bao máu mủ đang đi. Cho nên, ở đây Đức Phật dùng từ “tuệ tri” – tức là “biết bằng trí tuệ” – hai chữ này là mấu chốt trong toàn bộ Kinh Niệm Xứ. Tuệ tri là biết bằng trí tuệ của Chánh Tri Kiến: “Sắc, thọ, tưởng, hành, thức không phải là tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi.” Như vậy, biết bằng trí tuệ là biết như thế, nghĩa là mình ý thức, rõ biết, chánh niệm trong mỗi cử chỉ, oai nghi, hành động, ở đây là đang nói đến bốn oai nghi chính: đi, đứng, ngồi, nằm. Chúng ta sẽ đi tuần tự từ thấp lên cao, từ cạn đi vào sâu. Nếu không thực tập Thân Hành Niệm, Quán Thân Trên Thân này thì nhiều khi chúng ta đang đi nhưng không biết là mình đang đi. Tuy đang đi nhưng lại ngó trời, ngó mây, nhiều khi bị vấp, trượt, té hoặc đạp trúng gì đó. Hoặc có người chạy xe nhưng không biết rằng mình đang chạy xe thì tai nạn xảy ra, bây giờ điều này rất nhiều. Cho nên, ứng dụng chữ “đi” này trong rất nhiều trường hợp, chạy xe cũng là một hình thức “đi”. Hoặc đi vào nhà tắm, nhưng mình không cẩn thận bước đi, không có chánh niệm, người lớn tuổi không may bị trượt chân thì có khi sẽ nằm một chỗ.
Vì vậy, sự tu tập Thân Hành Niệm, Quán Thân Trên Thân, giúp chúng ta rất nhiều. Thực tập được điều này sẽ được thân an, tâm lạc, tránh được nhiều tai nạn hoặc những điều đáng tiếc xảy ra. Có người khi đi ở bên ngoài, nhưng ngồi bên trong đã nghe tiếng dép “xẹp, xẹp”, đó cũng không được gọi là tuệ tri đang đi. Chúng ta đã học cảm giác toàn thân và cả an tịnh toàn thân, một bước đi nếu có chánh niệm, tỉnh giác thì chúng ta thấy bước đi của mình đẹp, nhẹ, an bình, an lạc lắm. Đây là chúng ta chỉ mới nói phần căn bản, gần nhất. Từ một cái đi của mình đã làm ra được sự an lạc, nhẹ nhàng. Chúng ta hãy đi những bước hết sức thảnh thơi, chứ không phải đi giống bị rượt, bị đuổi, không có chuyện gì cũng đi lăng xăng, hấp tấp, vội vàng. Cho nên, chúng ta tập thiền hành hay lắm. Mình tập những bước đi thiền, tập sự tuệ tri những bước đi không phải chỉ trong giờ thiền hành. Chúng ta tập trong thiền đường là để khi ra khỏi thiền đường mình có những bước thiền hành, có những bước thật nhẹ nhàng, an tịnh, thảnh thơi trong mỗi bước chân của hành giả Tứ Niệm Xứ. Quý vị thấy bước chân của mình nhẹ hơn ngày mới vào khóa tu chưa, có nhẹ hơn những bước chân ở nhà chưa? Ở nhà mình đi không được nhẹ giống như lên đây, đó chính là “có hiệu quả tức thời” trong sự tu tập. Hãy cố gắng thực tập trong bảy ngày tu này, thực tập từng chút, từng chút một trong bài kinh Tứ Niệm Xứ. Hãy nhớ, khi đi tuệ tri rằng mình đang đi. Nếu học kĩ thì riêng phần này cần phải bảy ngày. Khi ngồi phải tuệ tri mình đang ngồi, khi đứng phải tuệ tri – biết bằng trí tuệ, khi nằm cũng phải biết bằng trí tuệ. Như vậy, đi, đứng, ngồi, nằm của mình đều là nghệ thuật chánh niệm. Hơn nữa, trong khi đi, đứng, ngồi, nằm đều phải thực hành ba pháp: rõ biết trước mặt, cảm giác toàn thân và an tịnh toàn thân. Ba pháp không phải là riêng, mà đi, đứng, ngồi, nằm có ba pháp lồng trong đó.
“Thân thể được sử dụng như thế nào, vị ấy tuệ tri thân như thế ấy.” Câu này bao hàm rất nhiều ý nghĩa, thân thể được sử dụng như thế nào, mình phải rõ biết bằng trí tuệ là thân thể đang như thế ấy. Cho nên khi ngồi mà đầu bị nghiêng, nếu mình có cảm giác toàn thân là sẽ nhận ra ngay; hoặc khi mình ngã về phía trước, nếu có cảm giác toàn thân là mình biết liền, còn lúc đó không biết là mình không có cảm giác toàn thân. Còn bị hôn trầm, buồn ngủ là do mình không có chánh niệm trước mặt, nếu có chánh niệm trước mặt thì làm sao buồn ngủ tấn công được. Do chúng ta trú trong pháp không vững chãi, không vững chắc, không kiên trú, không tỏa sáng nên sẽ bị những cái khác sẽ lấn vào. Vì vậy, nếu không có cố gắng, nỗ lực thì mình ngồi thiền 10 năm vẫn bị ngủ gục như thường.
Cho nên phải cố gắng để ý, giống như Đức Phật đã nói, phải quán bên trong thân, bên ngoài thân, quán cả trong ngoài, quán sanh diệt. Khi đi, đứng, ngồi, nằm phải nhìn vào đó thấy đây là thân tứ đại, thân bất tịnh, thân vô thường, mong manh, không có gì là tôi, là của tôi bên trong thân này cả. Minh Thành nhắc quý vị phải niệm câu “không có gì là tôi, không có gì là của tôi” mỗi ngày một ngàn lần, thường xuyên nhớ phải niệm câu đó, đây là câu tác ý, là chìa khóa mở Thánh Trí. Ví dụ đang ngồi, chúng ta thấy bóng của mình trong gương, nhìn thấy dáng ngồi đẹp quá thì lúc đó là tham ái và chấp ngã. Nói đơn giản là vậy, nhưng khi thấy bóng mình trong gương thì có đủ thứ pháp trong đó: xúc, thọ, ái, thủ, hữu; hoặc là sầu, bi, khổ, ưu, não nếu nhìn thấy mình gầy gò hay nổi mụn. Chỉ cần con mắt tiếp xúc vào gương thì có biết bao nhiêu pháp vận hành, một chuỗi duyên sanh pháp trong đó, nếu lúc đó không chánh niệm tỉnh giác thì mình sẽ đi theo. Cho nên Quán Pháp Trên Pháp, Quán Thọ Trên Thọ, Quán Tâm Trên Tâm là như thế. Chúng ta học thì phân ra từng phần như vậy, nhưng thực pháp diễn ra thì tích tắc rất nhanh. Và nếu không có sự chánh niệm, tỉnh giác, bình tĩnh, an tịnh thân hành, cảm giác toàn thân thì khi pháp sanh ra mình bắt không kịp, vuột mất hết, nó đi rất nhanh cho nên gọi là lậu hoặc: dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu.
Thế nên, khi đi cũng vậy, khi ngồi cũng vậy, khi đứng cũng vậy, khi nằm cũng vậy, thấy bàn tay mình đẹp thì quán ngay với hy vọng hướng đến chánh trí: “Đẹp cái gì, toàn là gân guốc”, tác ý đánh đuổi liền, nếu không là mình sẽ đi theo, ý hành sanh khởi. Khi mắt xúc vào bàn tay thì thọ, tưởng, hành, các pháp bắt đầu vận hành, nếu thấy nó thì mình phải tác ý, quán chiếu ngay lập tức: “hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy không nương tựa, không chấp trước vật gì trên đời.” Như vậy tại sao lại chấp vào dáng đi, chấp vào cái bóng của bàn tay, gương mặt trong gương? Nếu không học kĩ thì không hiểu được, vì bài kinh này cực kì thâm sâu và rộng lớn, bài này kinh này đủ chứng A-la-hán. Khi đi, khi đứng, khi ngồi, khi nằm, vị ấy biết bằng trí tuệ, biết bằng Chánh Tri Kiến, Thánh Tri Kiến, biết bằng cái thấy không có gì là tôi, không có gì là của tôi; biết bằng cái thấy đó là vô thường, tạm bợ, tan nát, hủy hoại, hoại diệt; biết bằng cái thấy đó là bất tịnh, không sạch sẽ, không thơm tho, nhơ nhớp, hôi tanh, đáng nhàm chán; biết bằng trí tuệ là biết không có một cái tôi bên trong, thân này là trống không, trống rỗng, trống trơn; biết bằng trí tuệ là biết không có gì đẹp, thơm thơ, sạch sẽ trong thân này. Những cái biết đó với hy vọng hướng đến trí tuệ chân chánh, chánh trí, chánh niệm, để không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời, không thấy cái gì đáng ưa, đáng thích, đáng ham, đáng muốn, tất cả đều là vô thường, tan nát, hủy hoại, hoại diệt từ bên trong (nội thân) cho đến bên ngoài (ngoại thân). Từ từ chúng ta học đến những yếu tố cấu thành thân này là 32 thể trược. Đức Phật luôn dặn:
Như vậy, vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay vị ấy sống quán thân trên ngoại thân; hay vị ấy sống quán thân trên nội thân, ngoại thân; hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay vị ấy sống quán tánh diệt tận trên thân; hay vị ấy sống quán tánh sanh diệt trên thân. (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm Xứ)
Sanh khởi là sao? Diệt tận là sao? Sự thay đổi oai nghi, từ đi rồi đứng lại, từ đứng rồi ngồi xuống, từ ngồi rồi nằm – đó là sự sanh diệt, biến đổi liên tục, liên tục. Ngồi một chút là tê, nhức, mỏi, đau, vì vậy luôn hướng tâm đến sự yểm ly, nhàm chán, ly tham, từ bỏ, chấm dứt, đó là hy vọng hướng đến chánh trí. Đức Phật dạy cho Ngài Ưu Ba Li, tất cả suy nghĩ, cảm thọ, nghĩ tưởng của mình đều tác ý để hướng nó vào chỗ nhìn thấy bản chất của sự thật, tức là chánh trí để không còn ham muốn, ưa thích, nắm giữ nữa, từ đó đạt đến chỗ “không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời”. Chúng ta phải tác ý, phải lèo lái, dẫn tâm của mình. Trong mỗi suy nghĩ, mỗi cảm thọ, mỗi cái tưởng chúng ta phải nhìn ra và dẫn dắt, hướng nó về đúng hồng tâm của chánh kiến, chánh trí, chánh niệm. Tu như vậy thì sự tu của chúng ta không có giờ rảnh.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo, khi bước tới bước lui, biết rõ việc mình đang làm; khi ngó tới ngó lui, biết rõ việc mình đang làm; khi co tay, khi duỗi tay, biết rõ việc mình đang làm; khi mang áo Sanghati (Tăng già lê), mang bát, mang y, biết rõ việc mình đang làm; khi ăn, uống, nhai, nếm, biết rõ việc mình đang làm; khi đại tiện, tiểu tiện, biết rõ việc mình đang làm; khi đi, đứng, ngồi, ngủ, thức, nói, im lặng, biết rõ việc mình đang làm. (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm Xứ)
Đức Thế Tôn chỉ nói khẩu quyết, Ngài nói một cách cô đọng, hàm xúc, nhưng khi lấy trong đó ra ứng dụng vào thực tế thì mình thấy nhiều điều phải làm, chứ không phải đơn giản đọc suông qua. Chẳng hạn, “khi ngó tới ngó lui, biết rõ việc mình đang làm.” Cái ngó tới ngó lui của mình có rõ biết trước mặt không? Nếu quên rõ biết trước mặt là mình liếc qua, liếc lại, nhìn láo liêng, hoặc trước cái đẹp thì nhìn hoài, còn gặp cái xấu, không ưa thì con mắt hơi khó chịu, như vậy là không biết việc mình đang làm. Khi nhìn thấy một cái đẹp, con mắt dừng lại chỗ đó lâu, nếu biết việc mình đang làm thì chúng ta sẽ thâu lại, hộ trì căn, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng, thực hành sự hộ trì con mắt, đem con mắt trở về, đó mới là biết rõ việc mình đang làm.
Hoặc khi nhìn hoặc nghe một câu nói, hành động trái ý nghịch lòng khiến mình bực bội lên, nếu lúc đó biết rõ, tuệ tri cái bực đó, thì không chỉ là biết cái bực thôi mà mình còn phải tác ý đánh đuổi cảm thọ sân hận, bực dọc, khó chịu đó, như vậy mới gọi là biết rõ việc mình đang làm. Còn việc ngó tới ngó lui, mặc áo, bưng cơm hay nói, nín, không phải việc quan trọng, tất cả những việc làm, cử chỉ, hành động đó nhằm mục đích duy nhất là diệt tham, sân, si. Hãy nhớ kĩ chỗ này, tất cả mọi cử chỉ, hành động mình để ý là nhằm để xem bên trong mình có bị dính mắc không? Có bị tham ái trong cái nhìn không? Có dục nói không, nếu có thì dừng lại; hoặc lúc nói mà có sân thì phát hiện, biết rõ việc mình đang làm và dừng lại. Như vậy tất cả cử chỉ, ngó tới ngó lui, co tay, duỗi chân, mặc áo, ăn cơm, nhai, nếm,… mình cần phải rõ biết và xem trong đó có cái gì bên trong, đây là chỗ sâu sắc. Như vậy, xem coi có gì ở bên trong, đó gọi là tuệ tri.
Minh Thành thí dụ nhỏ để đại chúng thấy. Lúc ăn cơm chánh quán thọ thực là để chúng ta xem coi có dục, tham, ái trong khi ăn hay không. Những cái khác cũng giống như vậy, chứ không phải chỉ có ăn cơm thì mới chánh quán, còn đi tắm, đi vệ sinh thì không chánh quán. Tất cả mọi cử chỉ, hành vi, oai nghi, cử động mình đều chánh quán để nhiếp phục dục, tham, ái; đoạn tận dục, tham, ái trong đó. Thí dụ như khi đắp y, hoặc các vị cư sĩ lúc mặc áo, hôm đó được bộ đồ đẹp, khi mặc vào thì có biết rõ việc mình đang làm không, có chánh niệm tỉnh giác trong khi mặc áo không? Ngay cả người xuất gia, được một chiếc y mới, đẹp, lúc đắp y vào có thích, có ưa, có muốn không? Có thấy mình đẹp, áo đẹp, vừa vặn, hợp ý và muốn chụp ảnh làm kỉ niệm không? Đó gọi là biết rõ việc mình đang làm bằng trí tuệ. Tại vì mục đích, chỗ hướng tới của mình khi tu là phá vô minh và tham ái đối với năm uẩn, hiện tại khi đang mặc áo này là có tham ái trong sắc uẩn, ta nên phá trừ, tác ý để từ bỏ. Đó gọi là tuệ tri, ở đây là Minh Thành nói về chỗ nhắm, mục tiêu mình hướng tới.
Ngược lại, nói cái gần là nếu có sự chánh niệm, tỉnh giác, biết rõ việc mình đang làm thì mình không có sơ sót, không có đổ, rớt, bể. Có người bưng khay lễ mà vẫn làm rớt, ăn cơm thì khua muỗng hoặc làm rớt đũa, thậm chí để cho tay áo nhúng vào chén nước tương, tô canh, như vậy là không biết rõ việc mình đang làm. Lúc nãy là nói mục tiêu, chỗ hướng đến, còn những việc này là Minh Thành kéo lại nói cái gần nhất, chỉ cần làm được những cái gần này thôi thì cũng đã hưởng được lợi ích lớn. Vì thế, phải biết rõ việc mình đang làm. Và người tu đúng như Đức Phật dạy, luôn luôn chánh niệm, tỉnh giác, chú tâm, dòm ngó, dò xét, quán chiếu, xem xét tất cả những cử chỉ thì sự tu tập của người này miên mật, khít khao, nhỏ nhiệm, vi tế, liên tục. Nhìn những điều này mới thấy mình còn tu dở lắm. Chỉ vừa buông pháp, vừa xả thiền ra thì thấy khỏe liền, mặt hớn hở, rõ ràng là gương mặt tham ái, dáng của buông lung, vừa xả thiền bước ra là nhìn khác liền, trở về trạng thái buông lung, thoải mái.
Vì vậy, trong bảy ngày tu này tuyệt vời lắm, chúng ta thực tập Thân Hành Niệm, Quán Thân Trên Thân để làm vốn luyến, để biết rõ việc mình đang làm. Điều này nói kĩ thì nhiều lắm, có rất nhiều vấn đề để mình tu tập: quán bất tịnh, nhiếp phục tâm sân, nhìn thấy được sự thật bên trong, khi tắm gội cũng bao gồm sự quán chiếu trong đó. Biết rõ việc mình đang làm là biết bằng trí tuệ để hướng đến chánh trí chánh niệm, để không nương tựa, chấp trước đối với bất cứ một vật gì trên đời. Chính trí tuệ, mục tiêu, chỗ nhắm, sự hướng tâm đó đưa chúng ta đến chỗ ly tham, nhàm chán, không ưa thích, không muốn bất cứ thứ gì nữa. Tại vì mình còn ưa thích, còn muốn, còn dính mắc bất cứ một cái nào thì cái đó làm cho mình khổ đau. Nếu mình không muốn khổ thì đừng để tâm dính vào cái nào hết, tập gỡ ra, tham ái cái nào là gỡ cái đó, thích cái nào là gỡ cái đó, vướng cái nào là tháo cái đó, tháo cho đến chỗ không còn dính mắc cái nào nữa hết, như vậy là xong. Hãy cố gắng nhìn thấy và tháo gỡ. Nhưng, bước đầu tiên căn bản là phải biết rõ việc mình đang làm, tức là đem tâm trở về thân trước, rồi từ chỗ trở về thân, từ chỗ rõ biết trước mặt, cảm giác toàn thân, an tịnh toàn thân, nội tâm tỉnh giác thì mình mới bắt đầu tháo vào bên trong.
Như vậy, mình phải bắt đầu từ bước một, làm gì cũng phải tập biết rõ việc mình đang làm, nếu cần cứ nhắc bản thân mình, không sao hết. Ví dụ đang ngồi thiền, nhắc: “Mày đang ngồi thiền chứ không phải đang ngủ nha”. “Mày đang tụng kinh nha, sao miệng im re không chịu đọc. Ở ngoài thì nói luyên thuyên, nhưng tới chừng vào tụng kinh thì không đọc”. Đang tụng kinh thì phải nhắc nó biết rõ việc đang làm: “Đọc lên, mau.” Tuy thấy những việc đó nhỏ, nhưng thiện pháp rất nhiều, thế nên nếu bỏ những cái nhỏ đó thì sẽ mất nhiều thiện pháp. Vì khi đọc kinh lên, khẩu hành, ý hành và thân hành theo lời kinh, từ đó cảm thọ, tưởng sanh khởi để thâm nhập, huân tập, tích tụ các thiện pháp. Cho nên đừng thấy đọc kinh như vậy mà xem thường, nghĩ rằng không đọc, ngồi yên quán sâu sắc hơn, như vậy không phải. Tới giờ đọc mình phải đọc, đọc hết lòng, hết mình, bằng cả trái tim. Quý vị đã nghe bài Đảnh lễ đức hạnh Ngài Xá Lợi Phất mà Minh Thành đã đọc, như vậy đó, chúng ta phải đọc bằng cả trái tim, tấm lòng của mình để sanh lên những cảm thọ, cảm giác, cảm xúc sâu lắng, xúc cảm, xúc động, chấn động. Mỗi một lần như vậy là trí tuệ của mình khai mở, thắp sáng lên.
Ăn – uống – nhai – nếm
Cho nên, “thân thể được sử dụng như thế nào, vị ấy tuệ tri thân như thế ấy”, “biết rõ việc mình đang làm”, “khi ăn, uống, nhai, nếm, biết rõ việc mình đang làm”. Cả bài Chánh quán thọ thực là được bậc Thiện tri thức biên soạn, diễn ra từ mấy chữ này. Chỉ bấy nhiêu đó nhưng mình thấy rất khó, lúc ăn phải biết rõ việc mình đang làm, nhiếp phục dục, tham, ái trong khi ăn không phải dễ, nhai một hồi là mình mất kiểm soát. Thế nên, vị ngọt của dục hết sức nguy hiểm, vị ngọt rất ít, nhưng nguy hại rất nhiều. Cứ thích ăn những món ngon, ăn xong rồi bệnh, mà bệnh rồi nhưng vẫn ăn những món mà bác sĩ, thầy thuốc kêu không nên ăn, cứ nghĩ chỉ ăn một miếng, không sao hết, thà bệnh chứ bỏ ăn không được. Vị ngọt của cái ăn hết sức nguy hiểm, nhưng ta không thấy được sự nguy hại để xuất ly, và sự tu của chúng ta cũng giống như vậy.
Ở nhà, 5-6 giờ mới thức dậy, lên chùa 4 giờ đã đánh kẻng thức chúng, nhưng lúc đó vị ngọt ở trong cái mền, cái nệm và thời tiết giá lạnh của Bảo Lộc thì không muốn thức dậy để tu. Phải thấy được sự nguy hại – nguy hiểm và tác hại khi ủ trong cái nệm đó để xuất ly, nghe tiếng kẻng là bật dậy ngay lập tức, lấy nước thật lạnh rửa mặt đàng hoàng, chấn chỉnh lại, bước lên thiền đường như đi ra chiến trận, hùng dũng, oai hùng, mạnh mẽ, tinh tấn. Đó gọi là biết rõ việc mình đang làm. Thiền thì ra thiền, đọc kinh thì ra đọc kinh, tu thì ra tu, biết rõ việc mình đang làm bằng trí tuệ. Bao nhiêu việc làm như vậy nhưng luôn luôn sâu thẳm trong tâm mình là hướng tất cả những điều đó đi đến chánh trí.
Ăn không phải vì đam mê, không phải vì vui thích, không phải ăn để làm đẹp cho thân xác này, không phải ăn để hưởng thụ, chúng ta phải tác ý thường thường để từ từ ly tham đối với món ăn: “Tới cử, tới giờ thì bỏ vào bụng cho xong, không bỏ thì tay chân rã rời, bụng kêu ọt ọt, thôi bỏ vào bụng một miếng, cái gì cũng được, bỏ vào cho xong để mình còn tu.” Phải tác ý như vậy, nếu không thì làm sao “diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên cảm thọ mới” được? Diệt trừ cảm thọ cũ là ngồi vào chỗ, chưa được ăn, mới chỉ tụng kinh, đọc Chánh quán thọ thực, nhưng nhiều khi mình đã nuốt nước miếng. Nghĩa là khi ấy ta nhớ lại những hình bóng, cảm giác, nghĩ tưởng về món ăn này lúc trước mình đã ăn, nhớ nó có cảm giác như thế nào, như vậy lúc đó gọi là “cảm thọ cũ”.
Ví dụ khi bưng một tô bánh canh hay cơm, bì, sườn, chả chay để trước mặt, thì những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ khi đã từng ăn món này hiện khởi lên, đó gọi là cảm thọ cũ. Chúng ta nghĩ rằng một chút nữa mình ăn là nó sẽ giống như lúc trước đã ăn. Rồi khi gắp thức ăn để vào lưỡi thì cảm thọ mới sanh. Như vậy, muốn nhiếp phục, diệt trừ cảm thọ cũ, không cho sanh cảm thọ mới thì trong khi ăn mình phải chiến đấu đến cỡ nào?
Cho nên, trong bữa ăn cơm, chúng ta là những dũng sĩ, hành giả Tứ Niệm Xứ ăn cơm trong sự chánh niệm, hùng tráng ở thiền đường Linh Quy Pháp Ấn. Đó là sự chiến đấu, chánh niệm, quán chiếu, đưa đến nhiếp phục dục tham, đoạn tận dục tham trong khi ăn. Dễ thấy lắm, chỉ cần món ăn lạt một chút thì sẽ thấy khổ thọ: “Sao món này không nêm thêm một chút, lạt quá, không có nước tương ở đây nữa.” Thọ, tưởng, hành diễn ra rất nhanh, mình phải bắt chụp được những thọ, tưởng, hành siêu nhanh, siêu tốc này, như vậy gọi là tuệ tri – biết bằng trí tuệ. “Thôi kệ, ăn 60 năm rồi, ăn hoài cũng vậy, ăn xong rồi chút nữa ra cái nhà kia, nó thành mùi gì, món gì? Vậy mà tối ngày cứ phân biệt mùi vị, ngon dở làm chi? Ăn hoài để làm gì?” Chúng ta tác ý như vậy để nhiếp phục cảm thọ, hóa giải lập tức ngay tại chỗ ăn, bứng tận gốc rễ của nó. Chứ đừng để khi ăn xong rồi hỏi: “Món này ai nấu, ngon quá, chỉ tôi cách để về tôi nấu.” Thành ra, nhớ câu: “với hy vọng hướng đến chánh trí”, câu này là phải nằm lòng. Tất cả những cái mình tu là đều “với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm, không nương tựa, không chấp trước vật gì trên đời.”
Ăn, mặc, ở cũng vậy. Thí dụ vào nằm ngủ, thấy người kế bên có mền dày hơn, ấm hơn, còn mền mình thì mỏng, lúc đó thọ, tưởng, hành nhiều khi cũng khởi. Hoặc cầm cuốn kinh để đọc, thấy cuốn kia chữ bự, cuốn mình cầm thì photo, chữ nhỏ, nghĩ thầm: “Sao đưa tôi cuốn này”. Chúng ta phải biết rõ tất cả những việc mình đang làm như vậy. Cho nên tu đúng theo lời Đức Phật dạy mình thấy thú vị, thích thú lắm, từng chút, từng chút mình phải hướng đến chánh trí, hướng đến sự giải thoát khỏi ngũ uẩn này, phải lèo lách, lái tâm mình để đưa nó từ từ vào trong Thánh đạo, Thánh trí, Chánh trí, Chánh kiến. Tu từng chút, từng chút, 100 lần, 1 ngàn lần, 10 ngàn lần, 1 vạn lần, 10 vạn lần, tu hoài cho đến cuối cuộc đời mình là Nhập Lưu Thánh quả, tối thiểu là Tu-đà-hoàn. Hãy đi thẳng, hoàn toàn thể nhập Chánh Tri Kiến. Đâu có cái gì thật, đâu có cái gì vui mà ham thích, thấy cười vậy nhưng một chút rơi nước mắt, thấy sum họp nhưng rồi sẽ tan rã, thấy hình thành đó nhưng rồi cũng hoại diệt đó. Cho nên Đức Phật dạy: “không nương tựa, không chấp trước bất cứ một vật gì ở trên đời.”
Như vậy, ở đây có hai phần: phần đầu tiên chúng ta thường nói gọn là thực hành ba pháp khi ngồi thiền; phần thứ hai là bước qua những oai nghi, cử chỉ, hành động. Trong tất cả mọi cái chúng ta đều nhằm hướng đến mục đích giải thoát, không để dính mắc, tham ái trong những thứ đó. Minh Thành rất tha thiết, chân thành mong mỏi tất cả chúng ta trong khóa tu này cố gắng thực hiện cho được những bước hết sức căn bản trong kinh Tứ Niệm Xứ. Khóa tu này chú trọng pháp hành, thực hành nhiều hơn, càng ngày chúng ta càng đi vào thực hành. Hãy cố gắng giữ gìn thân, miệng, ý, ba pháp, cảm giác toàn thân và an tịnh toàn thân. Cố gắng tuệ tri bốn oai nghi và tuệ tri mọi hành động, cử chỉ. Tập an tịnh, chánh niệm, nhẹ nhàng, tỉnh giác. Đây là những điều hết sức căn bản, là vỏ ngoài của phạm hạnh, chúng ta cần phải thành tựu để hướng đến mục đích ly tham, giải thoát. Minh Thành thấy đại chúng rất đẹp, rất trang nghiêm, rất thanh tịnh. Mỗi cái lạy xuống của Minh Thành là lạy Tam Bảo, lạy đại chúng, lạy tất cả quý vị trong một hội chúng trang nghiêm, thanh tịnh, chân thành, tha thiết trong Chánh Pháp, hy hữu, hiếm có ở trên đời. Dù đang ở trong những năm tháng cuối của thời tượng pháp, mạt pháp nhưng chúng ta rất may mắn, hạnh phúc vì còn được nghe, được gặp, được thấy được thực tập và hành trì những lời dạy gốc của Đức Phật. Chính vì vậy, Minh Thành mong tất cả hãy trân trọng, chân thành, bằng tất cả trái tim của mình tác ý hy hữu, hiếm có, trân trọng, trân quý, cung kính, hạnh phúc trong sự thực tập này. Đức Phật gọi đó là: “Ngày đêm tinh tấn, hỷ lạc tu tập thiện pháp”. Mong rằng tất cả chúng ta trong bảy ngày tu này đều trú trong Thánh Trí Tuệ, trú trong sự thật của kinh Tứ Niệm Xứ mà Đức Phật đã dạy. Tất cả chúng ta hãy cùng nhau thực tập từ ngoài vào trong, từ trong ra ngoài để nếm được hương vị bất tử của Thân Hành Niệm mà Đức Thế Tôn đã truyền trao.
./.