Đại Kinh Mãn Nguyệt 1 - Sự Chấp Thủ Ngũ Uẩn Là Phiền Não Khổ Đau
Kinh Nikāya Giảng Giải
SỰ CHẤP THỦ NGŨ UẨN LÀ PHIỀN NÃO KHỔ ĐAU
KINH ĐẠI MÃN NGUYỆT 1 – TRUNG BỘ
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Trí tuệ về năm thủ uẩn PAGEREF _Toc83801631 \h 1
II.Sự chấp thủ ngũ uẩn PAGEREF _Toc83801632 \h 5
Trí tuệ về năm thủ uẩn
Chúng ta phải tìm hiểu thật kĩ về bài kinh quan trọng “Đại kinh Mãn Nguyệt” – kinh lớn trăng tròn. Chúng ta cần học định nghĩ ngũ uẩn và nhận diện ngũ uẩn thì mới biết thân mình được cấu tạo từ cái gì, tâm mình do cái gì vận hành.
"Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở tại Savatthi (Xá-vệ), Pubbarama (Ðông Viên), Migaramatupasada (Lộc Mẫu Giảng đường).
Lúc bấy giờ trong ngày Bố-tát, ngày trăng tròn, trong đêm trăng rằm, Thế Tôn đang ngồi giữa trời, xung quanh có chúng Tỳ-kheo đoanh vây. Rồi một Tỳ-kheo từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp y vào một bên vai, chấp tay vái Thế Tôn và bạch Thế Tôn:
-- Con muốn hỏi Thế Tôn một vấn đề đặc biệt, nếu Thế Tôn cho con được phép nói lên câu hỏi.
-- Vậy này Tỳ-kheo, hãy ngồi trên chỗ của Ông và hỏi như ý Ông muốn.
Rồi vị Tỳ-kheo ấy, sau khi ngồi xuống trên chỗ ngồi của mình, bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, có phải có năm thủ uẩn này, tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn và thức thủ uẩn?
-- Này Tỳ-kheo, có năm thủ uẩn này, tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn.
-- Lành thay, bạch Thế Tôn.
Tỳ-kheo ấy sau khi hoan hỉ, tín thọ lời Thế Tôn nói, hỏi Thế Tôn một câu hỏi khác:
-- Bạch Thế Tôn, năm thủ uẩn này, lấy gì làm căn bản"? (Trung Bộ Kinh, 109. Đại kinh Mãn nguyệt)
Năm thủ uẩn này lấy gì làm gốc rễ, cội nguồn? Cái gì là gốc gác, cái gì là cội rễ, cái gì là căn bản, cái gì để tạo khởi, hình thành năm thủ uẩn này?
"-- Này Tỳ-kheo, năm thủ uẩn này lấy dục làm căn bản". (Trung Bộ Kinh, 109. Đại kinh Mãn nguyệt)
Năm thủ uẩn này lấy dục làm gốc rễ, lấy dục làm gốc gác, làm cội rễ, làm căn nguyên.
"-- Bạch Thế Tôn, có phải chính chấp thủ ấy là năm thủ uẩn, hay là ngoài năm thủ uẩn, có một chấp thủ (khác)?
-- Này Tỳ-kheo, không phải chính chấp thủ ấy là năm thủ uẩn, cũng không phải ngoài năm thủ uẩn có sự chấp thủ. Này Tỳ-kheo, khi nào có lòng dục, lòng tham đối với năm thủ uẩn, ở đấy chính là chấp thủ". (Trung Bộ Kinh, 109. Đại kinh Mãn nguyệt)
Những điều này rất thâm sâu, rất khó để hiểu vì đây là những khẩu quyết của Đức Phật, tức là những lời nói trong kinh là tinh hoa, tinh túy, cốt tủy của đạo Phật, không đơn giản để chúng ta hiểu cho nên chúng ta cần tập trung tâm ý, quán chiếu, tư duy, thiền quán. Bài kinh này như lúc đầu đã nói là chìa khóa mở cánh cửa kho tàng của Thánh trí tuệ về thân tâm của mỗi chúng ta. Đức Phật nói rằng không phải ở ngay nơi năm thủ uẩn cũng không phải ở ngoài năm thủ uẩn có sự chấp thủ, khi nào có lòng dục, có lòng tham thì ngay đó chính là sự chấp thủ, đây là đề tài quán chiếu, là sự tinh hoa của đạo Phật.
"-- Bạch Thế Tôn, phải chăng có thể có sự sai khác trong lòng dục, lòng tham đối với năm thủ uẩn"? (Trung Bộ Kinh, 109. Đại kinh Mãn nguyệt)
Phải chăng có sự khác biệt, khác nhau đối với sự ưa muốn đối với năm thủ uẩn này?
"Thế Tôn trả lời:
-- Này Tỳ-kheo, có thể có. Ở đây, này Tỳ-kheo có người nghĩ như sau: 'Mong rằng có sắc như thế này trong tương lai! Mong rằng có thọ như thế này trong tương lai! Mong rằng có tưởng như thế này trong tương lai! Mong rằng có hành như thế này trong tương lai! Mong rằng có thức như thế này trong tương lai!' Như vậy, này Tỳ-kheo, có sự sai khác trong lòng dục, lòng tham đối với năm uẩn". (Trung Bộ Kinh, 109. Đại kinh Mãn nguyệt)
Tức là mình nghĩ rằng năm năm sau, mười năm sau, hai mươi năm sau mình sẽ thành người như vầy. Mong rằng sau này mình sẽ có được cảm thọ, cảm xúc như thế. Mong rằng trong tương lai những hình bóng trong tâm hiện khởi ra, ví dụ mình mong thành Ni sư, trở thành một vị nữ pháp sư, một vị trụ trì hay một vị giảng sư thì hình bóng trong tâm mình hiện ra như vậy, đó gọi là tưởng về tương lai. Chúng ta có suy nghĩ sau này mình sẽ như thế đó, sẽ có được sự hiểu biết, tầm vóc như thế trong tương lai. Đó là sự khác biệt trong lòng dục, lòng tham đối với năm thủ uẩn. Cho nên mỗi người có mong muốn khác nhau, cái muốn của mình trong tương lai, hình bóng, cảm giác, suy nghĩ, nhận thức của mình như vậy thì cái đó gọi là lòng dục, lòng tham đối với năm thủ uẩn trong tương lai.
"-- Nhưng bạch Thế Tôn, cho đến như thế nào là ý nghĩa chữ uẩn trong các uẩn?
-- Này Tỳ-kheo, phàm sắc gì, quá khứ, vị lai hay hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, như vậy là sắc uẩn. Phàm cảm thọ gì, quá khứ, vị lai hay hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, như vậy là thọ uẩn. Phàm tưởng gì, quá khứ, vị lai hay hiện tại... xa hay gần, như vậy là tưởng uẩn. Phàm những hành gì, quá khứ, vị lai hay hiện tại... xa hay gần, như vậy là hành uẩn. Phàm thức gì, quá khứ, vị lai hay hiện tại... xa hay gần, như vậy là thức uẩn. Cho đến như vậy, này Tỳ-kheo, là ý nghĩa chữ uẩn trong các uẩn". (Trung Bộ Kinh, 109. Đại kinh Mãn nguyệt)
Chữ "uẩn" mang nghĩa nhóm hợp, tập hợp, là một tổ hợp. Vì thế:
Sắc uẩn là một tổ hợp của sắc chất.
Thọ uẩn là một tổ hợp của cảm thọ, cảm xúc, cảm giác.
Tưởng uẩn là một tổ hợp những hình bóng trong tâm, những hình bóng này thuộc về quá khứ, hiện tại hay sau này đều gọi là tưởng uẩn.
Hành uẩn là một tổ hợp của sự suy nghĩ.
Thức uẩn là một tổ hợp của sự nhận thức.
Chúng ta nhắm mắt lại tưởng ra hình ảnh của dịch bệnh ở Trung Quốc, Mỹ, Pháp, các nước Châu Âu và các quốc gia khác. Có hàng loạt người chết và xác người phải chất trong những chiếc xe đông lạnh do không kịp chôn. Người ta phải đào những hố to bằng sân vận động và những bao đựng rác trở thành bao đựng xác người, những chiếc xe đổ xuống hố những bao xác người đó. Những gia đình nhìn người thân chết trong nước mắt ràng rụa, khổ đau trong sự sanh ly tử biệt, những bệnh viện trở nên quá tải nên người bệnh phải nằm ngoài hành lang. Người chết đầy rẫy mọi nơi, chết ngoài đường, chết trên bàn làm việc, người sống thì nằm trong những bệnh viện dã chiến thở mệt nhọc trong những chiếc máy thở, có người đau đớn quằn quại và có người đã hôn mê. Những hình ảnh này hiện ra trong tâm là tưởng uẩn; có cảm giác đau xót là thọ uẩn; những suy nghĩ xung quanh nỗi khổ đau dịch bệnh của mọi người là hành uẩn; có sự rõ biết hình bóng, cảm giác, suy nghĩ đó là thức uẩn.
Chúng ta đang nắm chặt (thủ) cả năm ngũ uẩn này, trong tâm chúng ta luôn lấy năm thứ này làm tôi, làm của tôi và chúng ta đau khổ. Chúng ta cho sắc là mình, đối với hình hài, hình sắc này, vóc dáng, cơ thể, thân tướng này mình đang nắm rất chặt. Chữ "thủ" đó là dục và tham, chỗ nào có dục tham thì chỗ đó có sự chấp thủ nhưng trước tiên mình phải biết ngũ uẩn là gì thì mới biết nó chấp thủ vào đâu, còn không biết, không nhận diện được ngũ uẩn thì không thể đi sâu vào được.
Khi ngồi một mình trong phòng thì hình ảnh ngày xưa chưa đi tu hiện ra trong tâm, hình bóng còn xõa mái tóc thề hiện ra trong tâm, đó là tưởng; lúc đó có cảm giác dễ chịu hoặc khó chịu là thọ; có suy nghĩ về hình bóng, cảm giác là hành; rõ biết được đang có hình bóng, cảm giác, suy nghĩ, đó là thức. Hình bóng một người mình thương hiện ra trong tâm là tưởng; một cảm giác dễ chịu xuất hiện là thọ; suy nghĩ về hình bóng, cảm giác là hành; có sự rõ biết hình bóng, suy nghĩ, cảm giác đó là thức. Hoặc là bỗng nhiên nhớ lại người mình tức giận thì hình bóng người đó hiện ra là tưởng; cảm giác khó chịu xuất hiện là thọ; có suy nghĩ về người đó là hành; rõ biết được những thứ đang diễn ra trong tâm là thức. Đó là những ví dụ về khổ thọ, lạc thọ, về cảnh tan tương hoặc về người mình yêu thương. Còn thân tứ đại này là sắc.
Chúng ta cần nhớ rằng những thứ này đều là tổ hợp cho nên mới gọi là uẩn, những thứ này không phải chỉ có một mà là cả một tổ hợp. Có rất nhiều cảm giác: cảm giác dễ chịu, cảm giác khó chịu và cảm giác không dễ chịu cũng không khó chịu, nhưng nó thay đổi liên tục và rất nhanh thì gọi là tổ hợp cảm giác. Trong tâm có rất nhiều hình bóng và thay đổi liên tục nên gọi là tưởng uẩn, một tổ hợp hình bóng trong tâm. Có rất nhiều suy nghĩ trong đầu, hết nghĩ cái này lại nghĩ cái khác nên gọi là hành uẩn, tổ hợp suy nghĩ. Nhận thức này không đơn thuần chỉ biết một thứ mà nó thay đổi liên tục, sự thay đổi đó gọi là thức uẩn, là tổ hợp nhận thức, tổ hợp của những sự rõ biết.
Sự chấp thủ ngũ uẩn
Sắc uẩn không phải có một thứ mà có rất nhiều thứ: đất, nước, gió, lửa, ba mươi hai thể trược, hàng triệu tế bào, rất nhiều vi khuẩn nên gọi là tổ hợp của sắc. Nhưng điều đau đớn là mình lại chấp thủ vào đây, vì thế vị Tỳ-kheo đó mới hỏi bậc tôn quý nhất trên đời rằng: có phải có năm thủ uẩn không?
"-- Bạch Thế Tôn, có phải có năm thủ uẩn này, tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn và thức thủ uẩn?
-- Này Tỳ-kheo, có năm thủ uẩn này, tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn". (Trung Bộ Kinh, 109. Đại kinh Mãn nguyệt)
Sau đó vị Tỳ-kheo lại hỏi tiếp có phải chúng sanh có sự bám chấp, nắm chặt vào tổ hợp của sắc thân này không thì Thế Tôn nói đúng vậy. Vị ấy hỏi tiếp tại sao có chấp thủ thì Thế Tôn trả lời chỗ nào có dục và tham thì chỗ ấy có chấp thủ.
"Này Tỳ-kheo, khi nào có lòng dục, lòng tham đối với năm thủ uẩn, ở đấy chính là chấp thủ". (Trung Bộ Kinh, 109. Đại kinh Mãn nguyệt)
Dục là sự thúc giục bên trong tâm, tham là ham muốn. Khi nhận diện vào trong những hình bóng, suy nghĩ, cảm giác rồi từ từ chúng ta sẽ thấy sự hoạt động của dục và tham trong tâm. Khi nói 4h15 là trong người cảm thọ động chuyển vì "sắp tới giờ ra về", chiều nay muốn về sớm vì có công việc chuẩn bị lễ thì trong người có cảm giác thúc giục, thúc đẩy, muốn về cho nhanh, lẹ thì đó là dục, nhìn vào cảm giác mới thấy còn nhìn ra ngoài sẽ không thấy. Chúng ta luôn có sự ham muốn đối với sắc, thích áo đẹp, dù cho đã từ bỏ tất cả để đi tu nhưng cho áo cũ là buồn, phiền não hoặc bất ngờ có Phật tử quỳ dâng lên cúng cái hộp rất đẹp nhưng mở ra lại thấy áo cũ thì lúc đó cảm thọ ra sao? Khó chịu, phiền não "sao lại đi cho đồ cũ vậy?". Đó là những thứ bên ngoài chứ chưa nói gì đến việc chạm vào sắc thân này, nếu làm trầy trụa, sứt mẻ miếng da thịt này là biết tay nhau, đó là sự chấp thủ vào sắc chất này, giữ chặt, siết chặt vào thân này nên gọi là sắc thủ uẩn. Thậm chí không cần chạm vào mà chỉ cần liếc, háy, nhìn nửa con mắt là về ngủ không được, "tại sao nhìn tôi như vậy, xem thường tôi hả?". Nếu cứ như vậy thì làm sao chúng ta giải thoát? Làm sao chúng ta đạt được tâm bất động thanh tịnh, an lạc, bình an giữa sống gió của cuộc đời này? Chúng ta quá nắm chặt, buộc chặt vào tổ hợp của hình hài thân xác này, chúng ta xem đây là tôi, đây là tôi, đây là tự ngã của tôi.
Đó là nói về sắc hiện tại, bây giờ nói đến sắc quá khứ, nếu có ai lấy tấm hình lúc mình còn nhỏ bôi xóa và ghép vào một cái gì đó không tốt, khi mình thấy tấm hình có tức giận, sầu, bi, khổ, ưu, não không? Đó là sắc thủ uẩn của quá khứ, không những mình bám chặt vào sắc hiện tại là thân mình mà tấm hình chụp lúc nhỏ nhưng có ai cắt ghép tiêu cực thì chúng ta vẫn sân hận, phiền não. Bất ngờ mình nghĩ mai đây mình sẽ trở thành người như vậy thì tươi tắn, hào hứng nhưng lại nghĩ mình bị cái gì đó thì buồn, đó là thọ; tưởng; hành chứ không phải mình. Tất cả đều là những hình bóng, cảm giác, suy tưởng vận hành chứ không có cái nào là tôi, là của tôi, nó là duyên sanh duyên hợp nhưng mình lại không thấy.
Chính vì vậy, chúng ta phải học để thấy biết, phải thiền tư, tư duy thẩm thấu để cởi bỏ, thoát ra khỏi sự chấp thủ, sự ràng buộc, trói trăn, hệ lụy đó. Chúng ta phải hiểu rằng dù là quá khứ, vị lai hay hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần thì cũng chỉ là tổ hợp của sắc chất vô thường, phiền não, tan hoại, không bền chắc. Có như thế mới gọi là nhận diện được sắc thủ uẩn, nhận diện được những thứ dục tham, ràng buộc, dính mắc trong tổ hợp của sắc chất này. Như vậy, chúng ta đã nói về nguyên nhân của đau khổ.
"-- Do nhân gì, bạch Thế Tôn, do duyên gì được chấp nhận gọi là sắc uẩn?
-- Bốn đại là nhân, này Tỳ-kheo, bốn đại là duyên được chấp nhận gọi là sắc uẩn". (Trung Bộ Kinh, 109. Đại kinh Mãn nguyệt)
Trong bảy trí về sắc thì đầu tiên là:
"Này các Tỳ-kheo, thế nào là sắc? Bốn đại chủng và sắc do bốn đại chủng tạo thành. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là sắc". (Tương Ưng Bộ, tập III. Thiên Uẩn, chương I. Tương Ưng Uẩn (c), B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa, I. Phẩm Tham Luyến, IV. Thủ Chuyển)
Tất cả những cái này tóm thâu hết tinh hoa của kinh tạng Nikāya, tại sao sắc thân này tồn tại? Là do thức ăn, nếu không ăn sẽ chết, cho nên thức ăn chấm dứt thì thân này cũng bị rã tan.
"Do các món ăn tập khởi nên sắc tập khởi. Do các món ăn đoạn diệt nên sắc đoạn diệt". (Tương Ưng Bộ, tập III. Thiên Uẩn, chương I. Tương Ưng Uẩn (c), B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa, I. Phẩm Tham Luyến, IV. Thủ Chuyển)
Sắc do tứ đại tạo thành (đất, nước, gió, lửa), do thức ăn tập khởi nên sắc tập khởi, thức ăn đoạn diệt là sắc đoạn diệt. Đây là nguyên nhân sanh diệt của thân này đã được Thế Tôn nêu rõ.
"-- Do nhân gì, duyên gì được chấp nhận gọi là thọ uẩn?
-- Xúc là nhân, xúc là duyên được chấp nhận gọi là thọ uẩn". (Trung Bộ Kinh, 109. Đại kinh Mãn nguyệt)
Đối với thọ:
"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là thọ? Này các Tỳ-kheo, có sáu thọ thân này: thọ do nhãn xúc sanh, thọ do nhĩ xúc sanh, thọ do tỷ xúc sanh, thọ do thiệt xúc sanh, thọ do thân xúc sanh, thọ do ý xúc sanh. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là thọ. Do xúc tập khởi nên thọ tập khởi. Do xúc đoạn diệt nên thọ đoạn diệt". (Tương Ưng Bộ, tập III. Thiên Uẩn, chương I. Tương Ưng Uẩn (c), B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa, I. Phẩm Tham Luyến, IV. Thủ Chuyển)
Tại sao chúng ta có ra cảm xúc? Vì có tiếp xúc sanh ra thọ, sanh ra cảm giác. Khi ăn món ngon thì lưỡi tiếp xúc với đồ ăn, từ đó sanh ra cảm giác ngon hay dở tức là thích hay không thích, sở dĩ có cảm giác thích hay không thích là do có sự tiếp xúc. Đây là sự chứng ngộ của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, nếu không học thì không biết tại sao có cảm giác, tại sao có cảm xúc vì đây là những định lý mà bậc giác ngộ phát giác, phát hiện.
Tại sao mình thích món đồ đó? Vì mắt mình tiếp xúc, nhìn thấy món đồ đó, xúc sanh thọ, thọ sanh ái, ái sanh thủ, thủ sanh hữu, đó là quy trình vận hành của tâm. Tức là sáu căn tiếp xúc với sáu trần, mắt tiếp xúc hình sắc, lỗ tai tiếp xúc âm thanh, mũi tiếp xúc mùi, lưỡi tiếp xúc vị, thân xúc chạm. Lưỡi chạm vào đồ ăn (xúc) sẽ có cảm giác (thọ), nếu là món ngon thì thích thú (ái), muốn được ăn lại nữa vì thích (thủ), mà đã thích thì nó sẽ có mặt trong tâm thức mình (hữu), hôm nào ai ăn hết hoặc là không cho mình ăn thì sầu, bi, khổ, ưu, não, từ việc ăn uống mình liên hệ ra những việc khác cũng giống như vậy. Mình gặp người bạn chạy xe mới hoặc là thấy món đồ gì đó (xúc) thì cảm giác sanh ra (thọ), thấy đẹp nên thích (ái) rồi muốn sở hữu, muốn có món đồ giống vậy (thủ) và sau đó có mặt (hữu), tuy là chưa có mặt bên ngoài nhưng hình bóng món đồ đó hiện hữu trong tâm, như vậy sớm muộn gì nếu đủ duyên nó có cũng mặt và khi đã có mặt mà nếu không bị mất cắp thì sớm muộn cũng lụn tàn, hư hao, còn khi xảy ra chuyện gì đó thì sầu, bi, khổ, ưu, não. Hoặc khi tiếp xúc với con người (xúc) sanh ra cảm giác (thọ) nhớ thương (ái), sự nhớ thương đó cứ đeo bám trong tâm (thủ). Hình bóng đó xâm chiếm trong tâm, nó áp đảo trong tâm, nó hiện hữu (hữu) trong tâm và nó không thể nào xóa đi được, hình bóng đó đã hiện hữu, xâm chiếm, áp đảo, ám ảnh trong tâm. Đức Phật nói kẻ vô văn phàm phu bị sắc ám ảnh, bị cảm giác ám ảnh, bị những hình bóng trong tâm ám ảnh, bị những suy nghĩ ám ảnh.
"Có kẻ vô văn phàm phu không thấy rõ các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không thấy rõ các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân, quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc. Vị ấy bị ám ảnh: "Sắc là ta, sắc là của ta". Do bị ám ảnh: "Sắc là ta, sắc là của ta". Khi sắc biến hoại, đổi khác; do sắc biến hoại, đổi khác, nên vị ấy khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!
Vị ấy quán thọ như là tự ngã, hay tự ngã như là có thọ, hay thọ ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thọ. Vị ấy bị ám ảnh: "Thọ là ta, thọ là của ta". Do bị ám ảnh: "Thọ là ta, thọ là của ta" khi thọ biến hoại, đổi khác; nên do thọ biến hoại, đổi khác, vị ấy khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!
Vị ấy quán tưởng như là tự ngã, hay tự ngã như là có tưởng, hay tưởng ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong tưởng. Vị ấy bị ám ảnh: "Tưởng là ta, tưởng là của ta". Do bị ám ảnh: "Tưởng là ta, tưởng là của ta" khi tưởng biến hoại, đổi khác; nên do tưởng biến hoại, đổi khác, vị ấy khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!
Vị ấy quán các hành như là tự ngã hay tự ngã như là có các hành, hay các hành ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong các hành. Vị ấy bị ám ảnh: "Các hành là ta, các hành là của ta". Do bị ám ảnh: "Các hành là ta, các hành là của ta" khi các hành biến hoại, đổi khác; do các hành biến hoại, đổi khác, vị ấy khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!
Vị ấy quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Vị ấy bị ám ảnh: "Thức là ta, thức là của ta" khi thức biến hoại, đổi khác; nên do thức biến hoại, đổi khác, vị ấy khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não"! (Tương Ưng Bộ, tập III – Thiên Uẩn, chương I. Tương Ưng Uẩn (a), A. Năm Mươi Kinh Căn Bản, I. Phẩm Nakulapità, I. Nakulapità)
Trong tâm mình có rất nhiều hình bóng ám ảnh, cha mẹ là tình cảm thiêng liêng, nếu hình bóng đó cứ xuất hiện rồi nhớ thương hoài thì đó vẫn là ái. Vì nhớ hoài mà không chịu tu, muốn về thăm nhà hoài mà không chịu nỗ lực, tinh cần, tinh tấn, chánh niệm tỉnh giác, đó là tình mẫu tử thiêng liêng nhưng vẫn bị dính mắc, chấp thủ. Nếu mình không khéo tu, không khéo nhận diện năm uẩn thì huynh đệ ở chung sẽ bị dính mắc, người kia về quê lâu là gọi điện "sao về quê lâu vậy, chừng nào về?", tình trạng này kéo dài không khác gì anh em ruột ngoài đời. Chúng ta bỏ cha bỏ mẹ, bỏ anh chị em trong gia đình đi tu vậy mà vào chùa lại dính mắc tình huynh đệ, chị em, tỉ muội, hết giận rồi thương, lại tới phiền não.
Ái này chính là tự thể ái, yêu thích hình hài chính mình, yêu thích sắc tự thân này, chính vì yêu thích sắc thân này, yêu thích cảm giác, suy nghĩ, hình bóng trong năm uẩn cho nên những đời sống năm uẩn này sẽ tái diễn liên tục. Sau khi mình chết sẽ có một thân cũng là năm uẩn tương ứng với cái nghiệp của mình chứ không đi đến chỗ đoạn tận sanh tử, chấm dứt khổ đau. Mình vẫn ưa thích với sáu xúc xứ (mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý), mình rất ưa thích con mắt của mình, mình thích tai, mũi, gương mặt, mình thích hình hài, thân thể này, cái nào mình cũng thích thì đó là chấp thủ trong năm uẩn, chính sự chấp thủ này làm chúng ta không thể thoát ra khỏi năm uẩn, đời đời kiếp kiếp sanh sanh tử tử, xoay vần mãi trong sanh tử luân hồi, không thể đi ra khỏi nó và cứ đau khổ hoài trong vô thường, yêu thương, đau khổ hoài trong cảnh sầu, bi, ưu não, trong thân thể máu mủ đầy bệnh hoạn này, lòng vòng trong sân si, bản ngã, vô minh, tiếp diễn vô cùng vô tận nên Đức Phật nói rằng:
"Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỳ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc". (Tương Ưng Bộ, tập II - Thiên Nhân Duyên, chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, I. Cỏ Và Củi)
Vô minh là không thấy ngũ uẩn, vô minh là không thấy sự sanh diệt của ngũ uẩn, không thấy tính chất vô thường, phiền não, khổ đau, tan hoại của ngũ uẩn. Chính vì không thấy nên đam mê, ái luyến, bám chặt ngũ uẩn, từ vô minh nên có tham ái và hai cái này siết chặt nhau làm mình luân hồi mãi mãi.
./.
SỰ CHẤP THỦ NGŨ UẨN LÀ PHIỀN NÃO KHỔ ĐAU
KINH ĐẠI MÃN NGUYỆT 1 – TRUNG BỘ
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Trí tuệ về năm thủ uẩn PAGEREF _Toc83801631 \h 1
II.Sự chấp thủ ngũ uẩn PAGEREF _Toc83801632 \h 5
Trí tuệ về năm thủ uẩn
Chúng ta phải tìm hiểu thật kĩ về bài kinh quan trọng “Đại kinh Mãn Nguyệt” – kinh lớn trăng tròn. Chúng ta cần học định nghĩ ngũ uẩn và nhận diện ngũ uẩn thì mới biết thân mình được cấu tạo từ cái gì, tâm mình do cái gì vận hành.
"Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở tại Savatthi (Xá-vệ), Pubbarama (Ðông Viên), Migaramatupasada (Lộc Mẫu Giảng đường).
Lúc bấy giờ trong ngày Bố-tát, ngày trăng tròn, trong đêm trăng rằm, Thế Tôn đang ngồi giữa trời, xung quanh có chúng Tỳ-kheo đoanh vây. Rồi một Tỳ-kheo từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp y vào một bên vai, chấp tay vái Thế Tôn và bạch Thế Tôn:
-- Con muốn hỏi Thế Tôn một vấn đề đặc biệt, nếu Thế Tôn cho con được phép nói lên câu hỏi.
-- Vậy này Tỳ-kheo, hãy ngồi trên chỗ của Ông và hỏi như ý Ông muốn.
Rồi vị Tỳ-kheo ấy, sau khi ngồi xuống trên chỗ ngồi của mình, bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, có phải có năm thủ uẩn này, tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn và thức thủ uẩn?
-- Này Tỳ-kheo, có năm thủ uẩn này, tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn.
-- Lành thay, bạch Thế Tôn.
Tỳ-kheo ấy sau khi hoan hỉ, tín thọ lời Thế Tôn nói, hỏi Thế Tôn một câu hỏi khác:
-- Bạch Thế Tôn, năm thủ uẩn này, lấy gì làm căn bản"? (Trung Bộ Kinh, 109. Đại kinh Mãn nguyệt)
Năm thủ uẩn này lấy gì làm gốc rễ, cội nguồn? Cái gì là gốc gác, cái gì là cội rễ, cái gì là căn bản, cái gì để tạo khởi, hình thành năm thủ uẩn này?
"-- Này Tỳ-kheo, năm thủ uẩn này lấy dục làm căn bản". (Trung Bộ Kinh, 109. Đại kinh Mãn nguyệt)
Năm thủ uẩn này lấy dục làm gốc rễ, lấy dục làm gốc gác, làm cội rễ, làm căn nguyên.
"-- Bạch Thế Tôn, có phải chính chấp thủ ấy là năm thủ uẩn, hay là ngoài năm thủ uẩn, có một chấp thủ (khác)?
-- Này Tỳ-kheo, không phải chính chấp thủ ấy là năm thủ uẩn, cũng không phải ngoài năm thủ uẩn có sự chấp thủ. Này Tỳ-kheo, khi nào có lòng dục, lòng tham đối với năm thủ uẩn, ở đấy chính là chấp thủ". (Trung Bộ Kinh, 109. Đại kinh Mãn nguyệt)
Những điều này rất thâm sâu, rất khó để hiểu vì đây là những khẩu quyết của Đức Phật, tức là những lời nói trong kinh là tinh hoa, tinh túy, cốt tủy của đạo Phật, không đơn giản để chúng ta hiểu cho nên chúng ta cần tập trung tâm ý, quán chiếu, tư duy, thiền quán. Bài kinh này như lúc đầu đã nói là chìa khóa mở cánh cửa kho tàng của Thánh trí tuệ về thân tâm của mỗi chúng ta. Đức Phật nói rằng không phải ở ngay nơi năm thủ uẩn cũng không phải ở ngoài năm thủ uẩn có sự chấp thủ, khi nào có lòng dục, có lòng tham thì ngay đó chính là sự chấp thủ, đây là đề tài quán chiếu, là sự tinh hoa của đạo Phật.
"-- Bạch Thế Tôn, phải chăng có thể có sự sai khác trong lòng dục, lòng tham đối với năm thủ uẩn"? (Trung Bộ Kinh, 109. Đại kinh Mãn nguyệt)
Phải chăng có sự khác biệt, khác nhau đối với sự ưa muốn đối với năm thủ uẩn này?
"Thế Tôn trả lời:
-- Này Tỳ-kheo, có thể có. Ở đây, này Tỳ-kheo có người nghĩ như sau: 'Mong rằng có sắc như thế này trong tương lai! Mong rằng có thọ như thế này trong tương lai! Mong rằng có tưởng như thế này trong tương lai! Mong rằng có hành như thế này trong tương lai! Mong rằng có thức như thế này trong tương lai!' Như vậy, này Tỳ-kheo, có sự sai khác trong lòng dục, lòng tham đối với năm uẩn". (Trung Bộ Kinh, 109. Đại kinh Mãn nguyệt)
Tức là mình nghĩ rằng năm năm sau, mười năm sau, hai mươi năm sau mình sẽ thành người như vầy. Mong rằng sau này mình sẽ có được cảm thọ, cảm xúc như thế. Mong rằng trong tương lai những hình bóng trong tâm hiện khởi ra, ví dụ mình mong thành Ni sư, trở thành một vị nữ pháp sư, một vị trụ trì hay một vị giảng sư thì hình bóng trong tâm mình hiện ra như vậy, đó gọi là tưởng về tương lai. Chúng ta có suy nghĩ sau này mình sẽ như thế đó, sẽ có được sự hiểu biết, tầm vóc như thế trong tương lai. Đó là sự khác biệt trong lòng dục, lòng tham đối với năm thủ uẩn. Cho nên mỗi người có mong muốn khác nhau, cái muốn của mình trong tương lai, hình bóng, cảm giác, suy nghĩ, nhận thức của mình như vậy thì cái đó gọi là lòng dục, lòng tham đối với năm thủ uẩn trong tương lai.
"-- Nhưng bạch Thế Tôn, cho đến như thế nào là ý nghĩa chữ uẩn trong các uẩn?
-- Này Tỳ-kheo, phàm sắc gì, quá khứ, vị lai hay hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, như vậy là sắc uẩn. Phàm cảm thọ gì, quá khứ, vị lai hay hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, như vậy là thọ uẩn. Phàm tưởng gì, quá khứ, vị lai hay hiện tại... xa hay gần, như vậy là tưởng uẩn. Phàm những hành gì, quá khứ, vị lai hay hiện tại... xa hay gần, như vậy là hành uẩn. Phàm thức gì, quá khứ, vị lai hay hiện tại... xa hay gần, như vậy là thức uẩn. Cho đến như vậy, này Tỳ-kheo, là ý nghĩa chữ uẩn trong các uẩn". (Trung Bộ Kinh, 109. Đại kinh Mãn nguyệt)
Chữ "uẩn" mang nghĩa nhóm hợp, tập hợp, là một tổ hợp. Vì thế:
Sắc uẩn là một tổ hợp của sắc chất.
Thọ uẩn là một tổ hợp của cảm thọ, cảm xúc, cảm giác.
Tưởng uẩn là một tổ hợp những hình bóng trong tâm, những hình bóng này thuộc về quá khứ, hiện tại hay sau này đều gọi là tưởng uẩn.
Hành uẩn là một tổ hợp của sự suy nghĩ.
Thức uẩn là một tổ hợp của sự nhận thức.
Chúng ta nhắm mắt lại tưởng ra hình ảnh của dịch bệnh ở Trung Quốc, Mỹ, Pháp, các nước Châu Âu và các quốc gia khác. Có hàng loạt người chết và xác người phải chất trong những chiếc xe đông lạnh do không kịp chôn. Người ta phải đào những hố to bằng sân vận động và những bao đựng rác trở thành bao đựng xác người, những chiếc xe đổ xuống hố những bao xác người đó. Những gia đình nhìn người thân chết trong nước mắt ràng rụa, khổ đau trong sự sanh ly tử biệt, những bệnh viện trở nên quá tải nên người bệnh phải nằm ngoài hành lang. Người chết đầy rẫy mọi nơi, chết ngoài đường, chết trên bàn làm việc, người sống thì nằm trong những bệnh viện dã chiến thở mệt nhọc trong những chiếc máy thở, có người đau đớn quằn quại và có người đã hôn mê. Những hình ảnh này hiện ra trong tâm là tưởng uẩn; có cảm giác đau xót là thọ uẩn; những suy nghĩ xung quanh nỗi khổ đau dịch bệnh của mọi người là hành uẩn; có sự rõ biết hình bóng, cảm giác, suy nghĩ đó là thức uẩn.
Chúng ta đang nắm chặt (thủ) cả năm ngũ uẩn này, trong tâm chúng ta luôn lấy năm thứ này làm tôi, làm của tôi và chúng ta đau khổ. Chúng ta cho sắc là mình, đối với hình hài, hình sắc này, vóc dáng, cơ thể, thân tướng này mình đang nắm rất chặt. Chữ "thủ" đó là dục và tham, chỗ nào có dục tham thì chỗ đó có sự chấp thủ nhưng trước tiên mình phải biết ngũ uẩn là gì thì mới biết nó chấp thủ vào đâu, còn không biết, không nhận diện được ngũ uẩn thì không thể đi sâu vào được.
Khi ngồi một mình trong phòng thì hình ảnh ngày xưa chưa đi tu hiện ra trong tâm, hình bóng còn xõa mái tóc thề hiện ra trong tâm, đó là tưởng; lúc đó có cảm giác dễ chịu hoặc khó chịu là thọ; có suy nghĩ về hình bóng, cảm giác là hành; rõ biết được đang có hình bóng, cảm giác, suy nghĩ, đó là thức. Hình bóng một người mình thương hiện ra trong tâm là tưởng; một cảm giác dễ chịu xuất hiện là thọ; suy nghĩ về hình bóng, cảm giác là hành; có sự rõ biết hình bóng, suy nghĩ, cảm giác đó là thức. Hoặc là bỗng nhiên nhớ lại người mình tức giận thì hình bóng người đó hiện ra là tưởng; cảm giác khó chịu xuất hiện là thọ; có suy nghĩ về người đó là hành; rõ biết được những thứ đang diễn ra trong tâm là thức. Đó là những ví dụ về khổ thọ, lạc thọ, về cảnh tan tương hoặc về người mình yêu thương. Còn thân tứ đại này là sắc.
Chúng ta cần nhớ rằng những thứ này đều là tổ hợp cho nên mới gọi là uẩn, những thứ này không phải chỉ có một mà là cả một tổ hợp. Có rất nhiều cảm giác: cảm giác dễ chịu, cảm giác khó chịu và cảm giác không dễ chịu cũng không khó chịu, nhưng nó thay đổi liên tục và rất nhanh thì gọi là tổ hợp cảm giác. Trong tâm có rất nhiều hình bóng và thay đổi liên tục nên gọi là tưởng uẩn, một tổ hợp hình bóng trong tâm. Có rất nhiều suy nghĩ trong đầu, hết nghĩ cái này lại nghĩ cái khác nên gọi là hành uẩn, tổ hợp suy nghĩ. Nhận thức này không đơn thuần chỉ biết một thứ mà nó thay đổi liên tục, sự thay đổi đó gọi là thức uẩn, là tổ hợp nhận thức, tổ hợp của những sự rõ biết.
Sự chấp thủ ngũ uẩn
Sắc uẩn không phải có một thứ mà có rất nhiều thứ: đất, nước, gió, lửa, ba mươi hai thể trược, hàng triệu tế bào, rất nhiều vi khuẩn nên gọi là tổ hợp của sắc. Nhưng điều đau đớn là mình lại chấp thủ vào đây, vì thế vị Tỳ-kheo đó mới hỏi bậc tôn quý nhất trên đời rằng: có phải có năm thủ uẩn không?
"-- Bạch Thế Tôn, có phải có năm thủ uẩn này, tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn và thức thủ uẩn?
-- Này Tỳ-kheo, có năm thủ uẩn này, tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn". (Trung Bộ Kinh, 109. Đại kinh Mãn nguyệt)
Sau đó vị Tỳ-kheo lại hỏi tiếp có phải chúng sanh có sự bám chấp, nắm chặt vào tổ hợp của sắc thân này không thì Thế Tôn nói đúng vậy. Vị ấy hỏi tiếp tại sao có chấp thủ thì Thế Tôn trả lời chỗ nào có dục và tham thì chỗ ấy có chấp thủ.
"Này Tỳ-kheo, khi nào có lòng dục, lòng tham đối với năm thủ uẩn, ở đấy chính là chấp thủ". (Trung Bộ Kinh, 109. Đại kinh Mãn nguyệt)
Dục là sự thúc giục bên trong tâm, tham là ham muốn. Khi nhận diện vào trong những hình bóng, suy nghĩ, cảm giác rồi từ từ chúng ta sẽ thấy sự hoạt động của dục và tham trong tâm. Khi nói 4h15 là trong người cảm thọ động chuyển vì "sắp tới giờ ra về", chiều nay muốn về sớm vì có công việc chuẩn bị lễ thì trong người có cảm giác thúc giục, thúc đẩy, muốn về cho nhanh, lẹ thì đó là dục, nhìn vào cảm giác mới thấy còn nhìn ra ngoài sẽ không thấy. Chúng ta luôn có sự ham muốn đối với sắc, thích áo đẹp, dù cho đã từ bỏ tất cả để đi tu nhưng cho áo cũ là buồn, phiền não hoặc bất ngờ có Phật tử quỳ dâng lên cúng cái hộp rất đẹp nhưng mở ra lại thấy áo cũ thì lúc đó cảm thọ ra sao? Khó chịu, phiền não "sao lại đi cho đồ cũ vậy?". Đó là những thứ bên ngoài chứ chưa nói gì đến việc chạm vào sắc thân này, nếu làm trầy trụa, sứt mẻ miếng da thịt này là biết tay nhau, đó là sự chấp thủ vào sắc chất này, giữ chặt, siết chặt vào thân này nên gọi là sắc thủ uẩn. Thậm chí không cần chạm vào mà chỉ cần liếc, háy, nhìn nửa con mắt là về ngủ không được, "tại sao nhìn tôi như vậy, xem thường tôi hả?". Nếu cứ như vậy thì làm sao chúng ta giải thoát? Làm sao chúng ta đạt được tâm bất động thanh tịnh, an lạc, bình an giữa sống gió của cuộc đời này? Chúng ta quá nắm chặt, buộc chặt vào tổ hợp của hình hài thân xác này, chúng ta xem đây là tôi, đây là tôi, đây là tự ngã của tôi.
Đó là nói về sắc hiện tại, bây giờ nói đến sắc quá khứ, nếu có ai lấy tấm hình lúc mình còn nhỏ bôi xóa và ghép vào một cái gì đó không tốt, khi mình thấy tấm hình có tức giận, sầu, bi, khổ, ưu, não không? Đó là sắc thủ uẩn của quá khứ, không những mình bám chặt vào sắc hiện tại là thân mình mà tấm hình chụp lúc nhỏ nhưng có ai cắt ghép tiêu cực thì chúng ta vẫn sân hận, phiền não. Bất ngờ mình nghĩ mai đây mình sẽ trở thành người như vậy thì tươi tắn, hào hứng nhưng lại nghĩ mình bị cái gì đó thì buồn, đó là thọ; tưởng; hành chứ không phải mình. Tất cả đều là những hình bóng, cảm giác, suy tưởng vận hành chứ không có cái nào là tôi, là của tôi, nó là duyên sanh duyên hợp nhưng mình lại không thấy.
Chính vì vậy, chúng ta phải học để thấy biết, phải thiền tư, tư duy thẩm thấu để cởi bỏ, thoát ra khỏi sự chấp thủ, sự ràng buộc, trói trăn, hệ lụy đó. Chúng ta phải hiểu rằng dù là quá khứ, vị lai hay hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần thì cũng chỉ là tổ hợp của sắc chất vô thường, phiền não, tan hoại, không bền chắc. Có như thế mới gọi là nhận diện được sắc thủ uẩn, nhận diện được những thứ dục tham, ràng buộc, dính mắc trong tổ hợp của sắc chất này. Như vậy, chúng ta đã nói về nguyên nhân của đau khổ.
"-- Do nhân gì, bạch Thế Tôn, do duyên gì được chấp nhận gọi là sắc uẩn?
-- Bốn đại là nhân, này Tỳ-kheo, bốn đại là duyên được chấp nhận gọi là sắc uẩn". (Trung Bộ Kinh, 109. Đại kinh Mãn nguyệt)
Trong bảy trí về sắc thì đầu tiên là:
"Này các Tỳ-kheo, thế nào là sắc? Bốn đại chủng và sắc do bốn đại chủng tạo thành. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là sắc". (Tương Ưng Bộ, tập III. Thiên Uẩn, chương I. Tương Ưng Uẩn (c), B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa, I. Phẩm Tham Luyến, IV. Thủ Chuyển)
Tất cả những cái này tóm thâu hết tinh hoa của kinh tạng Nikāya, tại sao sắc thân này tồn tại? Là do thức ăn, nếu không ăn sẽ chết, cho nên thức ăn chấm dứt thì thân này cũng bị rã tan.
"Do các món ăn tập khởi nên sắc tập khởi. Do các món ăn đoạn diệt nên sắc đoạn diệt". (Tương Ưng Bộ, tập III. Thiên Uẩn, chương I. Tương Ưng Uẩn (c), B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa, I. Phẩm Tham Luyến, IV. Thủ Chuyển)
Sắc do tứ đại tạo thành (đất, nước, gió, lửa), do thức ăn tập khởi nên sắc tập khởi, thức ăn đoạn diệt là sắc đoạn diệt. Đây là nguyên nhân sanh diệt của thân này đã được Thế Tôn nêu rõ.
"-- Do nhân gì, duyên gì được chấp nhận gọi là thọ uẩn?
-- Xúc là nhân, xúc là duyên được chấp nhận gọi là thọ uẩn". (Trung Bộ Kinh, 109. Đại kinh Mãn nguyệt)
Đối với thọ:
"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là thọ? Này các Tỳ-kheo, có sáu thọ thân này: thọ do nhãn xúc sanh, thọ do nhĩ xúc sanh, thọ do tỷ xúc sanh, thọ do thiệt xúc sanh, thọ do thân xúc sanh, thọ do ý xúc sanh. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là thọ. Do xúc tập khởi nên thọ tập khởi. Do xúc đoạn diệt nên thọ đoạn diệt". (Tương Ưng Bộ, tập III. Thiên Uẩn, chương I. Tương Ưng Uẩn (c), B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa, I. Phẩm Tham Luyến, IV. Thủ Chuyển)
Tại sao chúng ta có ra cảm xúc? Vì có tiếp xúc sanh ra thọ, sanh ra cảm giác. Khi ăn món ngon thì lưỡi tiếp xúc với đồ ăn, từ đó sanh ra cảm giác ngon hay dở tức là thích hay không thích, sở dĩ có cảm giác thích hay không thích là do có sự tiếp xúc. Đây là sự chứng ngộ của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, nếu không học thì không biết tại sao có cảm giác, tại sao có cảm xúc vì đây là những định lý mà bậc giác ngộ phát giác, phát hiện.
Tại sao mình thích món đồ đó? Vì mắt mình tiếp xúc, nhìn thấy món đồ đó, xúc sanh thọ, thọ sanh ái, ái sanh thủ, thủ sanh hữu, đó là quy trình vận hành của tâm. Tức là sáu căn tiếp xúc với sáu trần, mắt tiếp xúc hình sắc, lỗ tai tiếp xúc âm thanh, mũi tiếp xúc mùi, lưỡi tiếp xúc vị, thân xúc chạm. Lưỡi chạm vào đồ ăn (xúc) sẽ có cảm giác (thọ), nếu là món ngon thì thích thú (ái), muốn được ăn lại nữa vì thích (thủ), mà đã thích thì nó sẽ có mặt trong tâm thức mình (hữu), hôm nào ai ăn hết hoặc là không cho mình ăn thì sầu, bi, khổ, ưu, não, từ việc ăn uống mình liên hệ ra những việc khác cũng giống như vậy. Mình gặp người bạn chạy xe mới hoặc là thấy món đồ gì đó (xúc) thì cảm giác sanh ra (thọ), thấy đẹp nên thích (ái) rồi muốn sở hữu, muốn có món đồ giống vậy (thủ) và sau đó có mặt (hữu), tuy là chưa có mặt bên ngoài nhưng hình bóng món đồ đó hiện hữu trong tâm, như vậy sớm muộn gì nếu đủ duyên nó có cũng mặt và khi đã có mặt mà nếu không bị mất cắp thì sớm muộn cũng lụn tàn, hư hao, còn khi xảy ra chuyện gì đó thì sầu, bi, khổ, ưu, não. Hoặc khi tiếp xúc với con người (xúc) sanh ra cảm giác (thọ) nhớ thương (ái), sự nhớ thương đó cứ đeo bám trong tâm (thủ). Hình bóng đó xâm chiếm trong tâm, nó áp đảo trong tâm, nó hiện hữu (hữu) trong tâm và nó không thể nào xóa đi được, hình bóng đó đã hiện hữu, xâm chiếm, áp đảo, ám ảnh trong tâm. Đức Phật nói kẻ vô văn phàm phu bị sắc ám ảnh, bị cảm giác ám ảnh, bị những hình bóng trong tâm ám ảnh, bị những suy nghĩ ám ảnh.
"Có kẻ vô văn phàm phu không thấy rõ các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không thấy rõ các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân, quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc. Vị ấy bị ám ảnh: "Sắc là ta, sắc là của ta". Do bị ám ảnh: "Sắc là ta, sắc là của ta". Khi sắc biến hoại, đổi khác; do sắc biến hoại, đổi khác, nên vị ấy khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!
Vị ấy quán thọ như là tự ngã, hay tự ngã như là có thọ, hay thọ ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thọ. Vị ấy bị ám ảnh: "Thọ là ta, thọ là của ta". Do bị ám ảnh: "Thọ là ta, thọ là của ta" khi thọ biến hoại, đổi khác; nên do thọ biến hoại, đổi khác, vị ấy khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!
Vị ấy quán tưởng như là tự ngã, hay tự ngã như là có tưởng, hay tưởng ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong tưởng. Vị ấy bị ám ảnh: "Tưởng là ta, tưởng là của ta". Do bị ám ảnh: "Tưởng là ta, tưởng là của ta" khi tưởng biến hoại, đổi khác; nên do tưởng biến hoại, đổi khác, vị ấy khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!
Vị ấy quán các hành như là tự ngã hay tự ngã như là có các hành, hay các hành ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong các hành. Vị ấy bị ám ảnh: "Các hành là ta, các hành là của ta". Do bị ám ảnh: "Các hành là ta, các hành là của ta" khi các hành biến hoại, đổi khác; do các hành biến hoại, đổi khác, vị ấy khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!
Vị ấy quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Vị ấy bị ám ảnh: "Thức là ta, thức là của ta" khi thức biến hoại, đổi khác; nên do thức biến hoại, đổi khác, vị ấy khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não"! (Tương Ưng Bộ, tập III – Thiên Uẩn, chương I. Tương Ưng Uẩn (a), A. Năm Mươi Kinh Căn Bản, I. Phẩm Nakulapità, I. Nakulapità)
Trong tâm mình có rất nhiều hình bóng ám ảnh, cha mẹ là tình cảm thiêng liêng, nếu hình bóng đó cứ xuất hiện rồi nhớ thương hoài thì đó vẫn là ái. Vì nhớ hoài mà không chịu tu, muốn về thăm nhà hoài mà không chịu nỗ lực, tinh cần, tinh tấn, chánh niệm tỉnh giác, đó là tình mẫu tử thiêng liêng nhưng vẫn bị dính mắc, chấp thủ. Nếu mình không khéo tu, không khéo nhận diện năm uẩn thì huynh đệ ở chung sẽ bị dính mắc, người kia về quê lâu là gọi điện "sao về quê lâu vậy, chừng nào về?", tình trạng này kéo dài không khác gì anh em ruột ngoài đời. Chúng ta bỏ cha bỏ mẹ, bỏ anh chị em trong gia đình đi tu vậy mà vào chùa lại dính mắc tình huynh đệ, chị em, tỉ muội, hết giận rồi thương, lại tới phiền não.
Ái này chính là tự thể ái, yêu thích hình hài chính mình, yêu thích sắc tự thân này, chính vì yêu thích sắc thân này, yêu thích cảm giác, suy nghĩ, hình bóng trong năm uẩn cho nên những đời sống năm uẩn này sẽ tái diễn liên tục. Sau khi mình chết sẽ có một thân cũng là năm uẩn tương ứng với cái nghiệp của mình chứ không đi đến chỗ đoạn tận sanh tử, chấm dứt khổ đau. Mình vẫn ưa thích với sáu xúc xứ (mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý), mình rất ưa thích con mắt của mình, mình thích tai, mũi, gương mặt, mình thích hình hài, thân thể này, cái nào mình cũng thích thì đó là chấp thủ trong năm uẩn, chính sự chấp thủ này làm chúng ta không thể thoát ra khỏi năm uẩn, đời đời kiếp kiếp sanh sanh tử tử, xoay vần mãi trong sanh tử luân hồi, không thể đi ra khỏi nó và cứ đau khổ hoài trong vô thường, yêu thương, đau khổ hoài trong cảnh sầu, bi, ưu não, trong thân thể máu mủ đầy bệnh hoạn này, lòng vòng trong sân si, bản ngã, vô minh, tiếp diễn vô cùng vô tận nên Đức Phật nói rằng:
"Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỳ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc". (Tương Ưng Bộ, tập II - Thiên Nhân Duyên, chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, I. Cỏ Và Củi)
Vô minh là không thấy ngũ uẩn, vô minh là không thấy sự sanh diệt của ngũ uẩn, không thấy tính chất vô thường, phiền não, khổ đau, tan hoại của ngũ uẩn. Chính vì không thấy nên đam mê, ái luyến, bám chặt ngũ uẩn, từ vô minh nên có tham ái và hai cái này siết chặt nhau làm mình luân hồi mãi mãi.
./.