Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Thiền Quán - Tương Ưng Sự Thật - Tứ Thánh Đế 2

2026-03-03 00:55:13
Kinh Nikāya Thiền Quán

Tương Ưng Sự Thật

Tứ Thánh Đế 2

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Thiền quán PAGEREF _Toc181114157 \h 1

II. Công phu tu tập lúc nguy nan PAGEREF _Toc181114158 \h 4

III. Khuyến tấn tu tập – đoạn tận tham ái PAGEREF _Toc181114159 \h 7

I. Thiền quán

Trong sự tu của chúng ta phải có tâm tha thiết, ưu tư, khắc khoải, phải có được những dòng cảm thọ nhiệt thành, nhiệt huyết, nhiệt tâm, nhiệt tình, phải có sự nung nấu, phải có sự khích lệ, nhắc nhở bản thân tăng thượng, hướng thượng. Chúng ta rất sợ cảm giác chai lỳ, trơ trơ vì cảm giác này không thể tu được, chúng ta phải nghe, phải nhìn, phải quán sát cuộc đời này, mọi hình thái đều nằm trong đau khổ, mọi sự hiện hữu đầy rẫy những sự bất an.

Đời sống chúng ta cạn dần, kiệt dần giống như ngọn đèn dầu khô sắp đi đến chỗ tàn lụn nhưng tại sao chúng ta lại không lo sợ? Vì vô minh, vì tham ái, chúng ta không thấy nên không lo, nếu chúng ta thường chánh niệm, thường đặt tâm mình, chú tâm mình vào Khổ Thánh Đế đó thì tất cả những gì mình thấy, mình nghe, mình ngửi, mình nếm, mình tiếp xúc, cảm nhận đều nằm trong đau khổ.

Một tiếng chim hót nhưng giữa người tỉnh và người mê có cảm thọ khác nhau. Người phàm phu bình thường nghe thì thích thú, tham ái, thoải mái nhưng người tu bằng trí tuệ, bằng sự thấu thị, bằng sự xuyên thấu qua những âm thanh đó là những đời sống đau khổ của súc sanh. Khi nghe tiếng tắc kè kêu, tiếng chó sủa, tiếng mèo kêu thì mình thấy gì trong đó? Là ác nghiệp, là quả báo, sự đau khổ, chỉ cần một ly nước ngọt thôi là hàng loạt con kiến chết trong đó, đó cũng là những đời sống ngũ uẩn, vì miếng ăn mà mất mạng. Cho nên cái nhìn của chánh kiến vô cùng thâm sâu, mình cứ nhìn vào cái thường tình, phải tác ý khích lệ, nhắc nhở bản thân còn nếu cứ trơ trơ thì cứ dậm chân tại chỗ.

Tích niên hành xứ, thốn bộ bất di,

Hoảng hốt nhất sanh, tương hà bằng thị.

(Quy Sơn Cảnh Sách)

Dịch nghĩa:Chỗ đi năm trước, tấc bước không rời,

Lơ lửng một đời, lấy chi nương tựa.

Cho nên chúng ta đừng chấp nhận cái hiện hữu này, phải nhìn thấy được những khía cạnh đột ngột, đột biến, đột quỵ, đột tử. Tất cả đều tiềm ẩn hiểm nguy, đời sống này đầy rẫy sự bất an, Đức Phật lấy hình ảnh lửa cháy cái khăn đội trên đầu, lửa cháy trên tóc, cháy trên nón, nếu mình thường nhớ, thường nghĩ, thường tư duy tác ý như vậy thì tự động sự tinh cần, tinh tấn, sự nhiệt tâm, nỗ lực sẽ thường xuyên sanh khởi.

Đối với những danh lợi, những tan hợp của cuộc đời này mình sẽ không để tâm vào đó nữa, chúng ta không thật sự thấy khổ, không hiểu khổ, không sống trong trí tuệ về khổ nên cứ thấy bình an, vui vẻ, sống qua ngày đoạn tháng, chúng ta không chiêm nghiệm khổ, không suy tư về khổ, không đặt mình trong khổ đau. Một Phật tử mới ngoài 20 mà phải chịu đựng những đau khổ, những sự cực khổ, những sự thống khổ. Phải tập trú trong Khổ Thánh Đế, phải tập nhìn bằng con mắt khổ vì khổ là sự thật, phải nhìn sâu xa bên trong chúng ta mới thấy được nguyên nhân của khổ chính là ái, nó sẽ đưa đến tái sanh.

"Ðây là Thánh đế về Khổ tập, này các Tỳ-kheo, chính là ái này đưa đến tái sanh, câu hữu với hỷ và tham, tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia. Tức là dục ái, hữu ái, phi hữu ái" (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), II. Phẩm Chuyển Pháp Luân, I. Như Lai Thuyết)

Đây là những định lý chứng ngộ của bậc tối thượng Chánh Giác, cái thấy của Đức Phật không phải là cái nhìn ngay trong hiện tại, một tuần lễ, tháng sau hay mười năm sau mà cái nhìn của Đức Phật là cái nhìn tiếp tục của những đời sống khổ đau, tức là cái nhìn của Đức Phật xuyên qua một đời và nhiều kiếp cho nên nguyên nhân đưa đến khổ mà bậc Thánh chứng ngộ là ái đưa đến tái sanh. Chúng ta ái thân xác này, vật chất xung quanh, những cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức, rõ biết bên trong, ái sanh, ái thọ, ái tưởng, ái hành, ái thức, đó là lý do Đức Phật kêu gọi phải tu tập thiền định.

"Này các Tỳ-kheo, hãy tu tập Thiền định. Vị Tỳ-kheo có Thiền định, này các Tỳ-kheo, hiểu biết một cách như thật.

Hiểu biết gì một cách như thật? Sắc tập khởi và đoạn diệt; thọ tập khởi và đoạn diệt; tưởng tập khởi và đoạn diệt; các hành tập khởi và đoạn diệt; thức tập khởi và đoạn diệt" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (a), A. Năm Mươi Kinh Căn Bản, I. Phẩm Nakulapità, V. Thiền Ðịnh)

Người nào có thiền định thì sắc là vô thường sẽ như thật hiển hiện, sắc là vô ngã sẽ như thật hiển hiện, cảm giác là khổ, là vô thường, biến hoại, trống rỗng sẽ như thật hiển hiện, những hình bóng, nhữn suy nghĩ là khổ đau, là khói mây, là ảo ảnh sẽ như thật hiển hiện. Đối với người có thiền định, thiền quán thì các pháp sẽ hiển lộ ra đúng sự thật chân tướng của nó, đối với người thường trú trong sự nội quán, người thường soi rọi lại những cảm giác, nghĩ tưởng thì các pháp sẽ hiển thị đúng như sự thật nó là.

Còn tại sao mình không thấy được? Là do mình nghe vô thường nhưng cứ thấy thường còn, nghe người ta nói sao rồi nói lại vậy hoặc là suy nghĩ về nó một chút chứ không phải thấy biết đúng sự thật một cách xác quyết trong tâm của mình. Hãy nhìn sự sanh diệt của đời sống này, viên trầm được đốt lên đã tàn lụn, kim đồng hồ luôn chuyển động, luôn đi tới và đi tới sự tận cùng của nó là sự hoại diệt.

Mỗi một cảm giác khởi lên dù vui hay khổ, dù thích hay ghét, dù là mừng hay lo, nghe chuyện si mê, vô minh xâm chiếm tâm nhưng nếu không quán thân – thọ – tâm – pháp một cách sâu sắc, không nhận diện ngũ uẩn thì mình không thấy các pháp đó sanh diệt trong tâm và mình sống với tham ái, mừng vui và tham muốn. Cái vui của mình rất thấp hèn, kém cỏi, được một ly nước là thích thú, được đồ ăn ngon là khoan khoái, được cho tiền là hí hửng, được khen là mê mẩn. Thật là nhỏ bé, ngu si, mê muội là tri kiến của phàm phu, là cái thấy biết quá thấp kém, thiển cận, cạn cợt.

Người phạm tội ở tù nhưng người ta thật sự muốn thoát ra thì dù cho được ăn ngon cũng không vui, ăn vàng cũng không vui, người ta luôn tìm mọi cách để chạy ra khỏi cái ngục, đó là xuất ly tư duy, còn người ở tù mà cho cái gì thích cái đó, khoái cái đó là chưa ý thức được cái khổ của tù ngục, còn tầm nhìn xa là không thích tù ngục, cho ăn cái gì cũng không quan tâm mà họ chỉ quan tâm đến việc tìm cách, phương pháp để thoát khỏi ngục đó, đó là xuất ly tư duy, đó là suy nghĩ của bậc Thánh, suy nghĩ đúng pháp, suy nghĩ của người chân chánh, xuất ly tầm là hướng tâm về sự thoát ra.

Vì thế định lý Đức Phật chứng ngộ là vô thường, khổ, vô ngã, vì vô ngã cho nên nhàm chán, sợ hãi, thao thức, day dứt, ưu tư, khiếp sợ, bên Phật giáo nguyên thủy lấy mỗi chữ như vậy thành một tầng của trí tuệ. Sợ hãi là một loại trí tuệ mà người tu phải thành tựu, người tu thấy sợ hãi đối với các uẩn, thấy lo lắng, thấy sự tội lỗi trong các uẩn, trong các hành, thấy sự bất an, hiểm họa, hoạn nạn. Đây là những Thánh trí tuệ mà người tu thiền quán phải thành tựu, nếu chưa có là chưa đạt được tuệ.

Trí tuệ về vô thường, trí tuệ về khổ, trí tuệ về vô ngã, trí tuệ về sợ hãi, trí tuệ về sự nguy hại, trí tuệ về sự nhàm chán, ly tham, trí tuệ về sự xuất ly là những trí tuệ phải thành tựu. Khi có những cảm thọ đó là phải tác ý tưới tẩm, tăng trưởng, phát triển để trí tuệ đó lớn lên để mình đứng vững trong trí tuệ nhàm chán đó, để mình có thể trú được trong trí tuệ sợ hãi các tội lỗi, sợ hãi các hành. Khi nghe tiếng chó sủa phải tập sanh ra cảm giác sợ hãi ác nghiệp, đó có thể là những đời sống trong quá khứ của chúng ta, làm trâu, làm heo, làm gà… Đức Phật đưa ra đầy đủ phương diện, phương pháp thiện xảo nhằm tập trung thấy sự vô thường, sự bất an, sự rệu rã, sự diệt vong, sự đoạn tận của ngũ uẩn để lo lắng, để sợ hãi, để nhàm chán, để ly tham, để từ bỏ.

II. Công phu tu tập lúc nguy nan

Đối với thầy Pháp An con rất mừng vì thời gian gần đây thầy có nhiều hiểu biết về pháp nhưng một điều con còn lo là thầy phải tập được cảm giác an tịnh, lắng dịu, điều này rất tốt lành khi thầy ra đi, khi có chuyện gì cũng bình tĩnh. Bình thường thực tập cảm giác an tịnh, lắng dịu thì khi sanh tử đến thầy sẽ được bình an, tập cảm giác an tịnh, lắng dịu, bớt dao động vì những khi bình thường chỉ có chuyện nhỏ mà mình lại chấn động mạnh thì khi mình chết mình sẽ không điềm tĩnh. Chúng ta đừng nghĩ chữ "an tịnh, lắng dịu" là bình thường, chữ an tịnh đó chính là Đức Phật, Thế Tôn là bậc an tịnh, nói pháp để đưa chúng sanh đạt đến chỗ an tịnh.

"-Này Cunda, ở đây vị đạo sư xuất hiện ở đời, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác, pháp được khéo tuyên bố và được khéo trình bày, có hiệu năng hướng dẫn, hướng đến an tịnh, do vị Chánh Ðẳng Giác tuyên thuyết" (Trường Bộ Kinh, 29. Kinh Thanh tịnh)

An tịnh đối với sắc; thọ; tưởng; hành; thức, an tịnh đối với tất cả sự biến động trên cuộc đời này. Mình đang ngồi nghe pháp mà người kế bên mình đột quỵ té ngã thì mình an tịnh hay bấn loạn? Người bên ngoài mà mình còn bấn loạn thì đến phiên mình sẽ ra sao? Chính vì vậy mà Minh Thành thường nhắc nhở các thầy, các chú trong đại chúng phải tập trong bất cứ chuyện gì xảy ra cũng phải trầm tĩnh, an tịnh, người tập được cái này sẽ trường thọ, ít bệnh.

Vì bệnh là do tâm động nhiều, ví dụ nửa đêm con dâu, con rể gọi cho thầy Pháp An kể lể cãi nhau, giận hờn với chồng, với vợ thì nếu tâm thầy không vững, không trú được trong cảm giác toàn thân, không trú được trong thế gian này là khổ, chuyện này cũng bình thường thì lúc đó thầy sẽ ngủ không được, mất ngủ rồi lo lắng vì mình bị thọ do nhĩ xúc sanh qua điện thoại quậy phá mình. Lúc đó mình lấy tất cả những gì mình học được, mình thực hành được ra để xử lý vấn đề đối với cảm thọ do lỗ tai tiếp xúc sanh ra, làm được như vậy thì sau này có chuyện gì đến với mình hay người kế bên ngã ra chết mình cũng có được sự bình tĩnh, trầm tĩnh.

"Khi vị ấy cảm thọ một cảm thọ cùng tận sức chịu đựng của thân, vị ấy tuệ tri: 'Ta đang cảm thọ một cảm thọ cùng tận đến sức chịu đựng của thân'. Khi vị ấy cảm thọ một cảm thọ cùng tận chịu đựng của sinh mạng, vị ấy tuệ tri: 'Ta đang cảm thọ một cảm thọ cùng tận đến sức chịu đựng của sinh mạng'. Vị ấy tuệ tri rằng: 'Sau khi thân hoại mạng chung, ở đây, một cảm thọ cảm giác không có gì đáng hoan hỉ, sẽ đi đến lắng dịu'". (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một - Phẩm Có Kệ, VII. Tật Bệnh)

Khi cảm giác tận cùng xảy ra với thân người đó, một cảm giác đau khổ, thống khổ kịch liệt rồi sau đó là cảm giác tận cùng của sinh mạng thì lúc đó chúng ta mới có thể định tĩnh được, chánh niệm được. Tất cả những vị lớn tuổi và những người trẻ tuổi phải để ý cảm thọ của mình vì nó cực kì quan trọng, chính những cảm thọ đó, cảm xúc, cảm giác đó khi chết nó sẽ lôi mình đi trong các cảnh giới.

Có những ông bà lớn tuổi bệnh nặng được con cháu đem vào bệnh viện, trong những phòng hồi sức cấp cứu đó bệnh nhân sẽ không được mặc đồ mà chỉ được trải một tấm vải trắng che thân thôi, người bình thường khỏe mạnh vào đó một chút là lạnh run thì những người bệnh làm sao chịu nổi. Trong lúc lạnh lẽo, đau khổ, cảm thọ một khổ thọ mà không có người thân kế bên thì người bệnh sẽ ở trong trạng thái hoảng loạn, khiếp sợ và sân vì bị bỏ lại một mình, con đâu, vợ đâu, cháu đâu, anh em đang ở đâu, như vậy rất dễ đi vào những cảnh giới không tốt lành cho nên thương cha mẹ thành ra hại cha mẹ.

Đại sự của phút cận tử nghiệp không phải chuyện bình thường, có những vị tôn đức cả đời không đi vào bệnh viện mà các ngài đều thượng thọ, vậy mà học trò, đệ tử không biết hạnh nguyện của thầy, không có trí tuệ nên nghĩ theo thông thường thế gian là còn nước còn tát nên đưa vào bệnh viện rồi cuối cùng thầy mình chết trong bệnh viện. Bình thường mình không tu tập, không thành tựu trí tuệ thì đến lúc hữu sự là bấn loạn, làm sai hết và hại người thân nhất của mình, chính vì vậy mà Minh Thành hay nhắc đại chúng thường phải xem tâm mình trong những lúc bình thường, những lúc mà mình không có thời khóa, lúc đó cần xem lại tâm kĩ hơn.

Gia bần tri hiếu tử

Quốc loạn thức trung thần.

(Ca dao)

Dịch nghĩa: Nhà nghèo mới biết lòng hiếu thảo của con cái,

Nước bị giặc loạn mới biết được tôi trung.

Khi nhà nghèo không có của thì đứa con nào hiếu thảo sẽ biểu hiện ra lúc đó. Lúc quốc gia loạn lạc thì mới thấy được đâu là bề tôi trung thành, cũng giống vậy, khi hữu sự mới thấy đạo lực, nội lực của mình, công phu tu tập của mình đến đâu. Cho nên Minh Thành không nhìn lúc tu nhiều, khi vừa giảng pháp là tập khí của mình lộ ra ngay, xả thiền ra là chỗ mình không cẩn thận nên những người đó sẽ thất bại, vừa mới xả thiền đã bung tập khí ra thì bất ngờ có người đến đánh mình hay chửi mình thì lúc đó làm sao tu được tâm từ, nhiếp phục được cảm thọ sân hận.

Vì vậy phải tu trong những lúc hữu sự vì cái này cực kì quan trọng, nghĩa là thiền đường phải mở rộng ra xuống tận nhà bếp, mở rộng ra chỗ mình tiếp đón khách khứa, thiền đường mở rộng ra ở chỗ rửa chén, lau nhà, quét sân, mở rộng ra ở chỗ bất thình lình bị vu oan giá họa, ở chỗ bất ngờ bị cướp giật đồ mình yêu thích và bất ngờ xảy ra tai nạn, bất ngờ hai chân bị cưa, phải ngồi xe lăn lên giảng pháp, bất ngờ mạng sống mình kết thúc trong một chuyến đi.

Vừa rồi tài xế ngủ gục nên tông vào xe ngược chiều, đó chính là những điều bất thình lình, có thể ngay đó mình chết hoặc tông chết người ta rồi mình vào tù, nếu mình không thấy được những điều này, không tu, không quán chiếu thì dù mình có đóng cửa nhập thất 10 năm cũng vậy thôi. Có những người ở tu hai ba chục năm ra cũng không giác ngộ, vừa rồi có người rừng ở trong rừng mấy chục năm vẫn không đắc đạo cho nên tu là một sự để tâm một cách chân thành, tha thiết, ưu tư, phải ghi chép ra để sám hối, phải tác ý nhắc nhở thường xuyên và liên tục, mình còn tập khí nào, còn nghiệp xấu nào, còn tập tánh ngu si nào thì phải la rầy, nhắc nhở chứ không được phép quên, phải day dứt, thao thức, hành hạ nó thì mới tu được. Còn nếu để cho thân tâm này sung sướng, rong chơi, thả lỏng, buông trôi thì tu cái gì? Chỉ có hình thức bề ngoài thôi, phải thật sự thấy được sự nguy hiểm, bất an trong đời sống này, phải thật sự ưu tư, thật sự thấy khổ đau và làm sao để đoạn diệt được cái khổ?

III. Khuyến tấn tu tập – đoạn tận tham ái

"Ðây là Thánh đế về Khổ diệt, này các Tỳ-kheo, chính là ly tham, đoạn diệt, không có dư tàn khát ái ấy, sự quăng bỏ, từ bỏ, giải thoát, không có chấp trước" (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), II. Phẩm Chuyển Pháp Luân, I. Như Lai Thuyết)

Đoạn diệt, ly tham, không còn sót lại một chút nào về khát ái, quăng bỏ, từ bỏ, giải thoát, không chấp trước. Nếu khát ái nói sâu sắc là luyến tiếc, khi mình nói mình muốn bỏ mọi thứ để nhập thất thì những ý hành, những hình bóng, cảm giác sâu thẳm bên trong mình cảm thấy tiếc những cái vui bên ngoài, tiếc sự tiếp xúc. Sau khi vào trong thất độc cư, dù biết phải quăng bỏ, buông bỏ, khạc ra, từ bỏ hoàn toàn nhưng lâu lâu bên trong lại có suy nghĩ tiếc nuối không muốn bỏ hết, không dứt khoát 100% được, chỗ nhỏ này lại trở thành đại chướng ngại, không làm cho mình Nhập Lưu được.

Cái này có khi trở thành một suy nghĩ rõ ràng, có khi chỉ là thầm ý chứ không ra thành lời mà chỉ có cảm giác buồn man mác nhẹ, đó chính là ái, dục lậu, hữu lậu. "Tu gì mà gắt dữ vậy", "tu vừa vừa thôi, mình còn trẻ, còn thời gian nên từ từ rồi cũng tới nơi", những suy nghĩ này sẽ giết chết đời tu nhưng có khi mình lại không nhìn ra.

Mình muốn tu tiến thì phải đặt tâm vào chỗ mình là người đau khổ nhất trên thế gian này "trời ơi, Phật ơi, còn ai đau khổ bằng con nữa hay không? Còn ai ngu si, vô minh bằng con nữa hay không? Con đang gặp tai nạn, hiểm nạn, ách nạn, khổ nạn, nguy nan. Trời ơi đất hỡi có thấu cho chăng? Con đang gặp nạn trong thân xác này rồi, con gặp tai họa trong thân xác mủ máu này rồi, con bị khổ nạn trong những cảm giác ngu si này rồi, con bị ám ảnh trong những hình bóng ảo tưởng rồi. Trời ơi là trời! Còn ai đau khổ hơn con nữa không?".

Sau đó mình lấy những hình ảnh của cha mẹ, ông bà, những người đã chết, những người đang bệnh để suy tư, quán chiếu liên tục về cái khổ đau, tai họa, tai nạn để mình quay lại với mọi thứ lòe loẹt trên cuộc đời này. Vừa rồi ở Thủ Đức cháy nhà chết 6 người, là ba thế hệ ông bà, cha mẹ và hai đứa cháu đều thiệt mạng, người thân phải chứng kiến ba thế hệ đều chết trong căn nhà cháy đen chỉ chừng vài chục mét vuông. Trước đó những người này có biết đêm nay là đêm cuối cùng của họ không? Anh em, cha mẹ, ông bà, cô bác, hàng xóm láng giềng có biết rằng đó là giây phút cuối cùng của 6 người đó không? Có khi họ chết cũng không kịp nói lên lời vì họ đang ở trong sợ hãi kinh hoàng, hốt hoảng. Mình phải đặt mình như vậy thì tu mới tiến.

Con có thời gian rãnh là tác ý "mẹ mày chết rồi, mày là kẻ mồ côi, cha mày cũng sắp chết nữa rồi, mày buông lung phóng dật đi", không được phép quên những điều này vì quên là mình buông lung ngay, mình sẽ trú trong vô minh liền. Phải đưa mình vào những tình cảnh gặp tai nạn, hỏa hoạn, đột quỵ, đột tử, lên huyết áp bán thân bất toại để quán chiếu, đó là quán vô thường để làm cho tâm mình lắng xuống, làm cho cảm thọ dịu xuống, co lại để có thể trú vào hình ảnh nùi giẻ rách cho người ta đạp lên, chà lên để có thể quỳ xuống trước tất cả mọi người, mặc ai cười chê khinh khi, hủy nhục, mặc ai hơn thua đúng sai, thị phi giữa cuộc đời này.

Phải tác ý "mày là kẻ tử tù, mày ở tù trong thân xác này, xương da này, mày là kẻ tử tù chung thân. Mày có biết không hỡi kẻ tử tù kia? Mẹ mày chết trên tay mày đó, mày thức tỉnh hay chưa? Ông nội, bà nội mày chết rồi mày thức tỉnh chưa? Cô chú bác mày chết rồi mày thức tỉnh chưa? Anh chị em, những người thân đang đánh nhau, giành giật nhau, thiếu nợ nần, đau khổ, những dòng nước mắt của những người cô tuôn chảy khi gặp vì sân si, đau khổ, mày đã thấy khổ hay chưa hỡi tâm ngu mê kia? Mày có nhìn thấy khổ đau hay không? Mày hãy nhìn cuộc đời vô nghĩa này, cuộc đời đầy rẫy những tai nạn, bất an, hoạn nạn này, cuộc đời đầy những tội lỗi, những dục ái, những tham vọng bỉ ổi, thấp hèn, hèn hạ, bẩn thỉu này. Hãy nhìn vào nội tâm của chính tự thân mày để thấy rác bẩn, bản ngã, sân hận, tham dục, đố kỵ, hơn thua để thấy xấu hổ, tàm quý, hãy nhìn sự xấu hổ và nhục nhã này đi. Sống như vậy thật là tồi bại, sống như vậy thật là nhục nhã, sống như vậy thật là thấp hèn, sống như vậy thật là hạ liệt".

Hãy đặt mình vào quan tài có bốn người khiêng, có cái gì trên cuộc đời này là vui đâu, chỉ có tâm mê tham dục, sân hận, si mê, vô minh và bản ngã chứ không có ai ở đây cả, không có một người nào ở đây cả "mày hãy chết đi, chết đi, chết đi", "cái tâm cống cao ngã mạn, ta đây, vênh váo hãy chết đi, hãy diệt tận đi, hãy tan biến hoàn toàn đi. Mày dục dữ lắm hay sao, mày ham dữ lắm hay sao, mày muốn dữ lắm hay sao để rồi mày đau khổ tiếp tục nữa phải không? Lại tiếp tục những dòng nước mắt tái diễn nữa phải không? Tiếp tục tái sanh nữa phải không? Tiếp tục sân hận, ghen tuông, tiếp tục đố kỵ, hơn thua nữa phải không? Tiếp tục chửi rủa, đánh nhau, chém giết nhau nữa phải không? Tiếp tục chạy theo dục bị người ta đập bể đầu, chạy theo ái bị người ta chặt gãy tay phải không? Tiếp tục chạy theo dòng vô minh, khát ái để bị người ta đâm, người ta chém, người ta hại phải không? Tiếp tục sầu, bi, khổ, ưu, não phải không. Mày hãy chết đi, hãy chết đi, hãy chết một cách hoàn toàn đi". Hãy nhìn cho kĩ đống máu mủ này, cái đống xương da này, hãy nhìn cho kĩ nhà máy sản xuất phân và nước tiểu, hãy tủi hổ, xấu hổ, nhàm chán.

Phải nhiếp phục được những tham dục, sân hận, phải đánh phá được vô minh, phải đè đầu bản ngã xuống, bắt nó phải khiêm hạ và biết rằng ta còn rất nhiều chuyện cần phải làm, không được quên điều này. Phải sử dụng đời sống vô nghĩa này một cách thật thông minh, sử dụng đời sống trống rỗng này một cách thật là hữu ích, sử dụng đời sống vô thường, đau khổ này để tăng thượng, hướng thượng đức hạnh, thiền định và trí tuệ, hãy sử dụng đời sống ảo tưởng này để chứng ngộ như thật tri kiến của bậc Thánh, nếu không chúng ta sẽ bị chết cháy như 6 người vừa rồi, chúng ta sẽ bị thiêu rụi, thiêu hủy trong những ngọn lửa của tham dục, nhiệt não, bị thiêu cháy trong những ngọn lửa sân hận, bực bội này, bị thiêu cháy trong những ngọn lửa bản ngã, hơn thua, kiêu căng, hách dịch này để tạo ra những ác nghiệp và tiếp tục những đời sống đầy rẫy nước mắt, máu và khổ đau.

Hãy tập trải tâm từ thương mình thật nhiều, thương xót cho chính mình vì mình là kẻ đáng thương xót nhất hành tinh, mình thật sự là kẻ đáng thương nhất hành tinh. Hãy xem lại nội tâm rác bẩn, xú uế, xem lại cảm giác bừng bốc, phựt cháy, quán lại đi, soi thấu lại tự thân của mình đi. Thế nào là Khổ Thánh Đế? Cần phải trả lời sáu chỗ bên trong, con mắt này được các bậc Thánh nhìn thấy là đau khổ, lỗ tai này các bậc Thánh nhìn thấy nó là khổ đau, lỗ mũi này, cái lưỡi này các bậc Thánh nhìn thấy nó là khổ đau, là trú xứ phát ra khổ đau, thân xác này, vóc dáng này, cơ thể này các bậc Thánh chứng ngộ là khổ đau, tâm thức này biết rồi để phân biệt, rõ biết để sân si, so đo, so sánh để rồi sầu, bi, ưu, não. Sáu nội xứ này là Thánh đế về khổ. Thật sự nhìn vào nội tâm chán vô cùng, hết nghĩ cái này đến nghĩ cái kia, hết hình bóng này đến hình bóng nọ, hết thúc giục này đến thúc giục khác, loanh quanh luẩn quẩn trong dục, tham, ái.

"-- Này các Tỳ-kheo, hãy thọ trì bốn Thánh đế Ta đã thuyết giảng cho các Ông.

Khi được nói vậy, một Tỳ-kheo bạch Thế Tôn:

-- Bạch Thế Tôn, con có thọ trì bốn Thánh đế do Như Lai thuyết giảng.

Bạch Thế Tôn, con thọ trì Khổ là Thánh đế thứ nhất do Thế Tôn thuyết giảng. Bạch Thế Tôn, con thọ trì Khổ tập là Thánh đế thứ hai do Thế Tôn thuyết giảng. Bạch Thế Tôn, con thọ trì Khổ diệt là Thánh đế thứ ba do Thế Tôn thuyết giảng. Bạch Thế Tôn, con thọ trì Con Ðường đưa đến Khổ diệt là Thánh đế thứ tư do Thế Tôn thuyết giảng.

Như vậy, bạch Thế Tôn, con thọ trì bốn Thánh đế do Như Lai thuyết giảng.

-- Lành thay, lành thay, này Tỳ-kheo! Lành thay, này Tỳ-kheo! Ông thọ trì bốn Thánh đế do Ta thuyết giảng. Này Tỳ-kheo, Khổ là Thánh đế thứ nhất do Ta thuyết giảng, hãy như vậy thọ trì... Này Tỳ-kheo, Con Ðường đưa đến Khổ diệt là Thánh đế thứ tư do Ta thuyết giảng, hãy như vậy thọ trì" (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), II. Phẩm Chuyển Pháp Luân, V. Thọ Trì (1))

Hãy thọ trì và giữ gìn nó như báu vật, như kim cương, giữ nó như giữ tròn con mắt. Hình hài này, tâm thức này là khổ, đừng bao giờ quên, khi quên tức là vô minh.

"Ngồi một bên, Tỳ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

-- 'Vô minh, vô minh', bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Bạch Thế Tôn, thế nào là vô minh? Và cho đến như thế nào là đi đến vô minh (avijjàgato)?

-- Này Tỳ-kheo, chính là không rõ biết Khổ, không rõ biết Khổ tập, không rõ biết Khổ diệt, không rõ biết Con Ðường đưa đến Khổ diệt. Này Tỳ-kheo, đấy gọi là vô minh. Cho đến như vậy là đi đến vô minh.

Do vậy, này Tỳ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Ðây là Khổ'... một cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt'". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), II. Phẩm Chuyển Pháp Luân, VII. Vô Minh)

Không rõ biết đây là khổ là vô minh, nhìn vào chỉ thấy ưa thích, khoan khoái là vô minh. Những thứ dục, tham, ái này thật sự là nguyên nhân của khổ, xác quyết 100% nó là khổ, không thể khác được.

"Ngồi một bên, Tỳ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

-- 'Minh, minh', bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Bạch Thế Tôn, thế nào là minh? Và cho đến như thế nào là đi đến minh?

-- Này Tỳ-kheo, chính là rõ biết Khổ, rõ biết Khổ tập, rõ biết Khổ diệt, rõ biết Con Ðường đưa đến Khổ diệt. Này Tỳ-kheo, đấy gọi là minh. Cho đến như vậy là đi đến minh.

Do vậy, này Tỳ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Ðây là Khổ'... một cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt'". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), II. Phẩm Chuyển Pháp Luân, VIII. Minh)

"-- Ðây là Thánh đế về Khổ, này các Tỳ-kheo, đã được Ta trình bày. Ở đây có vô lượng chữ (vannà), vô lượng văn (vyanjanà), vô lượng thi thiết (sankàsanà). Ðây là Thánh đế về Khổ.

... Ðây là Khổ tập...

... Ðây là Khổ diệt...

Ðây là Thánh đế về con đường đưa đến khổ diệt, này các Tỳ-kheo, đã được Ta trình bày. Ở đây có vô lượng chữ, vô lượng văn, vô lượng thi thiết. Ðây là Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.

Do vậy, này Tỳ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Ðây là Khổ"... một cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt'". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), II. Phẩm Chuyển Pháp Luân, IX. Thi Thiết)

Đức Phật đã trình bày, diễn thuyết, khai thị, hiển lộ, phân tích để tất cả chúng sanh thấy thật sự ngũ uẩn này khổ đau. Tất cả những lời Như Lai nói vô số từ, vô số câu, vô số chữ, vô số văn cũng không ngoài để chúng ta nhìn thấy sự thật về khổ đau này, nếu chúng ta không thấy sự thật về khổ đau này thì chúng ta vẫn đứng ngoài cửa chùa. Phải thấy được khổ, để cái khổ thấm vào trong da, trong thịt, trong xương tủy, cái khổ này phải thấm vào con mắt, thấm vào lỗ tai, cái khổ này phải được ngấm vào lưỡi, ngấm vào từng tế bào, từng lỗ chân lông, từng huyết quản của chúng ta. Trong từng nhịp đập con tim, trong mỗi hơi thở đều thấy sự vô thường, khổ đau, vô ngã này, phải thọ trì, phải tiếp nhận, phải giữ gìn, phải ăn chung với cái khổ này, phải ngủ chung với cái khổ này, phải đi chung với cái khổ này, phải đứng cùng với cái khổ này, phải lấy khổ này làm sinh mạng, làm lẽ sống, có như vậy chúng ta mới thọ trì được Khổ Thánh Đế của Thế Tôn.

Tất cả những lời nói của Đức Phật đều để chúng ta thấy được khổ đau vì chúng ta cứ buông cuốn kinh ra là thấy vui, vậy thì làm sao thể nhập trí tuệ thật sự? Con mắt này là khổ đau vì nhìn thấy là dục tham, nó sai khiến, nó lôi kéo mình làm cho mình khao khát, thiếu thốn, làm cho mình trở thành nô lệ. Lỗ tai này nghe rồi dẫn dắt, xúi giục, những cảm thọ, cảm giác, những nhận thức rõ biết này là khổ đau.

"Bốn pháp này, này các Tỳ-kheo, là như thật, không ly như thật (avitathàni), không khác như thật (anannathàni). Thế nào là bốn?

Ðây là Khổ, này các Tỳ-kheo, đây là như thật, không ly như thật, không khác như thật.

Ðây là Khổ tập, này các Tỳ-kheo, đây là như thật, không ly như thật, không khác như thật.

Ðây là Khổ diệt, này các Tỳ-kheo, đây là như thật, không ly như thật, không khác như thật.

Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt, này các Tỳ-kheo, đây là như thật, không ly như thật, không khác như thật.

Bốn pháp này, này các Tỳ-kheo, là như thật, không ly như thật, không khác như thật. Do vậy, này các Tỳ-kheo, một sự cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Ðây là Khổ'... một cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt'". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), II. Phẩm Chuyển Pháp Luân, X. Như Thật)

Bốn pháp này là sự thật, là lẽ thật, là chân lý mà Như Lai đã chứng ngộ, không có gì khác, ngoài cái này ra không có sự thật nào khác nữa nên đừng đi tìm cái gì khác. Cần phải cố gắng, cần phải nỗ lực, cần phải nhiệt tâm làm hết mình, tinh cần, tinh tấn để rõ biết thật sự đây là khổ, để rõ biết thật sự nguyên nhân của đau khổ, sự chấm dứt đau khổ và con đường Bát Chánh Đạo đưa đến diệt tận khổ đau.

Hãy mạnh mẽ lên vì đây là sự thật đau khổ mà chính tự thân Như Lai đã chứng ngộ, ta đã trình bày, phân tích, thuyết giảng, hiển lộ bao nhiêu câu, bao nhiêu chữ, bao nhiêu từ, bao nhiêu hình ảnh ví dụ đều nhằm một mục đích để các thầy Tỳ-kheo thấy được đây là khổ, không có sự vui sướng trong này. Đây hoàn toàn là sự thật, là sự thật tối tôn, tối thượng, tối cao của các bậc Thánh, ngoài cái này ra không còn sự thật nào nữa. Các vị hãy tu đi, hãy quán chiếu, hãy nghiền ngẫm, hãy suy tư, hãy thể nhập, hãy chứng đắc đi.

Qua đây mình thấy được tâm đại bi vô tận của Đức Như Lai. Hãy nhìn thấy khổ, hãy cảm xúc khổ, hãy rõ biết về cái khổ trong tất cả mọi chỗ, mọi thời rồi chúng ta sẽ lo lắng, sẽ sợ hãi, rồi chúng ta sẽ ly tham, sẽ nhàm chán, sẽ từ bỏ, sẽ thoát ra.

./.