Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Tóm Tắt Ngũ Uẩn Giảng Giải 2

2026-03-03 00:55:13
Tinh Hoa Nikāya

Tóm Tắt Ngũ Uẩn Giảng Giải 2

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Cảm thọ PAGEREF _Toc183018177 \h 1

II. Sắc uẩn PAGEREF _Toc183018178 \h 3

III. Tu tập với thọ uẩn PAGEREF _Toc183018179 \h 4

IV. Khuyến tấn tu tập PAGEREF _Toc183018180 \h 8

I. Cảm thọ

Không biết quán thọ trên thọ, không biết cảm giác đó là gì và mình cũng không biết mình đang có cảm giác loại gì, trong cảm giác đó có những loại gì mình cũng không biết. Đầu tiên mình phải biết cảm giác là cảm giác, kế đó mình phải biết phân loại cảm giác, nghĩa là có 3 thọ, sau đó mình mới xem trong các loại cảm giác này có gì trong đó rồi cuối cùng là có những bước nhiếp phục, chế ngự và đoạn tận. Tùy theo những loại cảm giác mà có những phương pháp thích ứng để nhiếp phục, chế ngự nó cho nên khi học cái này chúng ta sẽ thấy rất khoa học, cụ thể, rõ ràng và hiệu quả chứ không nói chung chung.

Bây giờ chúng ta qua cảm giác không khó chịu cũng không dễ chịu tức là bất khổ bất lạc thọ, cảm giác này chúng ta thường xuyên có vì trong một ngày không phải chúng ta giận mãi cũng không thể vui liên tục, cái giận và cái vui rất ít nhưng cái đều đều, không vui không buồn này có rất nhiều và chúng ta thường xuyên chết trong cảm giác này.

Nếu mình không biết nhận diện cảm giác này là tu không tiến, mình giống như lục bình trôi sông, nước lên thì mình trồi lên, nước xuống thì mình xuống, còn nước đứng thì mình cũng đứng lại theo vì thế cảm giác này gây chết người, đó là một cảm giác đều đều, thường thường, trơ trơ, đơ đơ, an phận thủ thường. Trong cảm giác không khổ không vui này thì Đức Phật nói có si tùy miên, tức là trong cảm giác đều đều đó có si mê, vô minh đi theo miên man trong đó, có chỗ Đức Phật gọi là vô minh tùy miên nhưng đa số chúng ta lại không biết điều này, phải quán thọ trên thọ mới biết được.

Mình cứ sống đều đều, thường thường nên khi nói đến vô thường không thấy vô thường, không thấy khổ gì cả, sáng dậy ăn hủ tiếu, trưa ăn cơm với tàu hủ chiên xả, canh chua, chiều về ăn bún riêu nên không thấy khổ, đó là vô minh, là si mê, là sống với cảm giác đều đều, trơ trơ này mà không biết. Nếu nghĩ rằng nhà có người bệnh, có người chết thì cái đó mới khổ là không cần tu vì ai cũng biết thì tu làm gì nữa? Ở đây chúng ta đang nói đến Khổ Thánh Trí, cái này mới khác biệt, đây là cái khổ được bậc Thánh thấy biết, đây không phải là cái khổ như bình thường mình vẫn thấy. Mình thấy người ta chết nên tội nghiệp, thấy người kia bị tai nạn giao thông què chân nên thấy đáng thương, thấy người nọ đi ăn xin, đi bán vé số cực nhọc khổ quá thì những cái này không cần tu cũng nhìn biết khổ, đó là cái khổ bình thường của phàm phu còn chúng ta đang học về Khổ Thánh Trí.

Nãy giờ chúng ta có thấy khổ không? Cảm giác thúc giục bên trong mình, cảm giác đòi hỏi trong người mình có khổ không? Cái dục hành hạ mình có khổ không? Mình đi tu không muốn có chuyện tình cảm với ai nhưng bên trong có cảm giác đòi hỏi, thèm muốn, khao khát thì Đức Phật gọi cái này là khát ái, nghĩa là khao khát để được yêu thương vì vậy Khổ Thánh Trí của Đức Phật vô cùng thâm sâu. Bản chất của thân này đã là khổ, thân này là mầm móng của bệnh hoạn, là hang ổ của tật bệnh, của vi trùng, vi rút, mình phải đeo khẩu trang che miệng lại vì có thể khi nói chuyện sẽ lây bệnh làm mình chết, mà nó lây bệnh là từ trong thân này ra.

Như vậy cái khổ ở ngay trong thân mình mà mình không thấy, mình đợi đến khi nào có tai nạn, có bệnh hoạn, có chết chóc thì mình mới thấy khổ, còn bình thường không thấy được vì thế trong Nikāya Đức Phật nói rất nhiều thân này là cái gốc của khổ, các bậc Thánh không ưa thích có thân, họ nhàm chán có thân này, họ nhàm chán những cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức, họ nhàm chán, từ bỏ và thoát ra khỏi ngũ uẩn. Còn phàm phu chúng sanh vô minh, khát ái là đam mê ngũ uẩn, ưa thích ngũ uẩn, say đắm ngũ uẩn, trói cột, nắm giữ ngũ uẩn và sầu, bi, khổ, ưu, não trong ngũ uẩn.

Tất cả những gì chúng ta học từ ngày hôm nay cho đến buổi cuối cùng khóa học này mà nếu con còn chia sẻ cho các thầy các cô thì mình mới nhìn ra được cái khổ này rất thâm sâu, bản chất của thân này là khổ. Đói khổ, ăn no quá cũng khổ, muốn tiểu tiện mà không đi được là khổ mà đi liên tục cũng khổ, đủ chuyện để khổ nhưng vì vô minh, vì tham ái, vì chấp thủ vào thân này nên mình bị che mờ hết. Đó chỉ mới là phần sắc uẩn, ngoài ra còn cảm giác hành hạ mình, mình nghĩ là mình tức giận người kia nhưng thật ra khi mình tức là mình đã khổ trước rồi, trong cơ thể bị đốt cháy trước, mình đốt mình rồi đốt người, lây lan ra cùng nhau đau khổ nhưng đó cũng chỉ là cảm thọ của mình thôi vậy mà mình không biết, mình tưởng vậy là hay, thể hiện cho người ta biết "biết tôi là ai không", bị giao thông thổi lại còn lên giọng "biết tôi là ai không" thế là bị phạt gấp đôi vì chống người thi hành công vụ.

Chúng sanh vì vô minh, vì ngu si, vì bản ngã mà làm khổ mình làm khổ người, hành hạ mình hành hạ người, đó là đáng thương xót, học rồi sẽ thấy mình là kẻ đáng thương nhất hành tinh, khi học trải tâm từ rồi sẽ thấy mình là kẻ đáng thương nhất hành tinh và tất cả hữu tình chúng sanh mang cái thân ngũ uẩn này đều đau khổ, hễ còn hiện hữu trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức này là đều đau khổ vì bản chất của sắc; thọ; tưởng; hành; thức là vô thường, là khổ đau, là bất an, là tai họa, nó là cái pháp đoạn diệt, tàn hoại, tan nát, hủy hoại, tiêu ma, hoại diệt cho nên nó không có sự an toàn bảo đảm trong ngũ uẩn này, vậy mà chúng ta không biết, chúng ta nhìn sai sự thật, vì vô minh tức là không thấy không biết ngũ uẩn, vì tham ái tức là yêu thích, nắm giữ, chấp thủ rồi mình quay cuồng trong đó, mình sầu, bi, khổ, ưu, não trong đó. Mình tạo ra nhiều ác nghiệp rồi tự mình khổ và làm cho người khác khổ đau mà mình lại vỗ ngực xưng tên, tưởng rằng mình hay.

"Người ngu biết mình ngu,

Nhờ vậy thành có trí.

Người ngu tưởng có trí,

Thật xứng gọi chí ngu"

(Kinh Pháp Cú 05 – Phẩm Ngu, kệ 63)

II. Sắc uẩn

Sự tu học của chúng ta từ ngày đầu tiên cho đến ngày cuối cùng đều là về Thánh trí ngũ uẩn, đây là trí của vũ trụ, trí của pháp giới vì tất cả thế giới đều không nằm ngoài ngũ uẩn, chính là sắc. Thân người, cảnh vật, đồ vật tứ đại là sắc, đây là định nghĩa mở rộng về sắc.

Sắc uẩn của Đức Phật là một tổ hợp những hình sắc, tứ đại, một chữ sắc của Đức Phật bao trùm trái đất, từ sông núi, cây cỏ, hạt bụi, dải ngân hà đều nằm trong sắc uẩn, sắc pháp, phần còn lại là tâm, cảm giác là thọ, hình bóng là tưởng, suy nghĩ là hành, rõ biết là thức. Đây là định nghĩa số 1, sau này chúng ta sẽ học định nghĩa số 2, số 3, càng đào sâu vào thêm cho nên chữ sắc uẩn bao trùm cả trái đất vũ trụ, còn thọ; tưởng; hành; thức là tâm, hai phần này bao hàm hết nhân sinh vũ trụ, trí về ngũ uẩn tức là trí về nhân sinh vũ trụ, trí của thế giới, trí của pháp giới cho nên học trí huệ này rồi không còn thiếu sót gì nữa.

III. Tu tập với thọ uẩn

Chúng ta phải để ý thật kĩ, nếu học cái này mà không chịu nhìn lại thân tâm của mình, không chịu thực tập thường xuyên thì chúng ta sẽ không học khá được vì đây là pháp hành. Như vậy chúng ta nhận diện được cảm giác, cảm thọ, chúng ta phân loại được cảm thọ, chúng ta nhìn ra được bên trong cảm thọ có gì, bây giờ chúng ta đối trị tham, sân, si. Mình chỉ ra hang ổ của nó chính là cảm thọ, Đức Phật đã nói tất cả pháp hội tụ ở nơi cảm thọ.

"Này chư Hiền, các pháp lấy dục làm căn bản. Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi. Tất cả pháp lấy xúc làm tập khởi. Tất cả pháp lấy thọ làm chỗ tụ hội. Tất cả pháp lấy định làm thượng thủ. Tất cả pháp lấy niệm làm tăng thượng. Tất cả pháp lấy tuệ làm tối thượng. Tất cả pháp lấy giải thoát làm lõi cây" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII. Tám Pháp, IX. Phẩm Niệm, (III). Cội Rễ Của Sự Vật)

Khi mình muốn biết tâm mình đang có gì thì chỉ cần nhìn vào cảm thọ, cảm xúc, cảm giác thì có gì trong tâm sẽ hiện rõ trong cảm thọ cho nên mình phải tập nhận diện các cảm thọ thường xuyên, coi trong người mình đang có cảm giác gì, đang sanh khởi, đang vận hành, trong mọi lúc mọi nơi mình phải nhìn lại cảm thọ, quán chiếu cảm thọ, kiểm soát cảm thọ, chúng ta phải chăm sóc cảm thọ, nếu không là mình chết nhưng không biết vì sao mình chết, mình khổ đau mà không biết vì sao mình khổ đau, mình bất an, mình tai họa cũng không biết tại sao lại như vậy, mình thất bại mà mình cũng không biết, mình cứ thắc mắc tại sao mọi người không ưa mình, tại sao mọi người lại khinh thường mình, tại sao đi đến đâu mình cũng gặp cảnh trái ý nghịch lòng, mình cứ trách đời hận người nhưng mình không biết vì bên trong cảm thọ của mình là một cảm thọ không tu tập, không an tịnh, không lắng dịu, hiền thiện, không từ tâm, không biết ơn, cung kính nên đi đến đâu mình cũng đau khổ, đi đến đâu cũng bất an, đi đến đâu mình cũng gặp chướng ngại, gặp tai họa vì thế sự tu tập cảm thọ là cực kì quan trọng.

Sau này chúng ta sẽ thực tập cảm giác toàn thân, do mình không biết cảm thọ, cảm giác nên mình thấy lạ. Trong Tứ Niệm Xứ Đức Phật dạy thực tập để nhìn ra cảm giác trong con người mình bởi vì lâu rồi mình sống mà mình bỏ quên cảm thọ nhưng chính cảm thọ là thứ quyết định đem lại hạnh phúc hay đau khổ vậy mà mình lại không biết nó vì thế trong bài trải vô lượng tâm có câu:

Thương lâu rồi ta sống

Trong sự quên lãng mình

Ta bỏ quên cảm thọ

Nên để mình khổ đau.

Thương lâu rồi ta thiếu

Thương hiểu cảm thọ mình

Để tham, sân hành hạ.

Trong sự tu tập này là sự tu tập chăm sóc cảm thọ của mình sau khi mình đã nhận diện ra, mình làm cho cảm thọ của mình thường xuyên được an tịnh, lắng dịu, dễ chịu và ngọt ngào trong mọi lúc mọi nơi, thậm chí cả khi người ta làm cho mình khó chịu, bực bội nhưng mình vẫn giữ được cảm giác nhẹ nhàng, ngọt ngào và mình thương luôn đối tượng làm mình khó chịu. Mình sẽ tu tập cảm thọ của tâm hiền thiện, mình tu tập cảm thọ của tâm từ ái, cảm thọ ngọt ngào, dễ chịu, thấm đẫm dạt dào từ tâm, mình sẽ thực tập trải từ vô lượng tâm khắp mười phương ngay trong lớp nếu chúng ta có duyên vì con có nhiều hướng ẩn tu vì con thấy sợ Tăng Ni sinh hiện giờ. Đức Phật nói ngài Ca-diếp cùng chung tay dạy dỗ, giáo giới các thầy Tỳ-kheo thì ngài Ca-diếp bạch Thế Tôn rằng Tỳ-kheo bây giờ khó bảo, khó nghe, khó dạy, ương ngạnh, đó là ngay khi thời Đức Phật còn tại thế đã như vậy chứ đừng nói chi bây giờ.

"Thế Tôn nói với Tôn giả Mahà Kassapa đang ngồi một bên:

-- Này Kassapa, hãy giáo giới Tỳ-kheo! Này Kassapa, hãy nói pháp thoại cho các Tỳ-kheo! Này Kassapa, Ta hoặc Ông phải giáo giới các Tỳ-kheo! Ông hoặc Ta phải nói pháp thoại cho các Tỳ-kheo!

-- Bạch Thế Tôn, khó nói là chúng Tỳ-kheo hiện tại. Họ ở trong tình trạng khó nói với họ. Họ không kham nhẫn. Họ không kính trọng lời giáo giới" (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), VI. Giáo Giới)

Những người chân tu đều từ từ ẩn tu, con tâm sự bằng tình thương cho các thầy cô nghe thật khó tìm được người chân tu cho nên ở Thái Lan, Sir Lanka, Myanmar là các vị chân tu đều ở trong các rừng thiền, họ ẩn dật, ở Việt Nam cũng có những bậc chân tu cao Tăng ở trên núi, ở trong rừng vì các ngài nói sự thật mà những người không tu là không ưa, chỉ có người nào tu mới đi tìm các ngài cho nên rất khó nói.

Con gặp chúng ta không biết trong thời gian bao lâu, vừa rồi con đã nghỉ dạy bên trường Cao trung Phật học cho nên bằng một tình thương mà con nói với các thầy các cô chứ không phải nghĩ rằng mình làm lớn rồi mình nói, nếu mình không nói thì quý vị mới sẽ không biết, sẽ hư cuộc đời tu cho nên chính thời Đức Phật mà ngài Ca-diếp đã nói với Thế Tôn Tỳ-kheo bây giờ rất khó nói, khó dạy, cứng đầu thì huống hồ gì 2600 năm sau lại càng khó tìm được người tha thiết, chân thành tu học.

Chỉ có người có tâm chân thành mới có thể học được chánh pháp, phải là người chân chánh mới có thể học chánh pháp, phải là người chân tu mới có thể gặp được chân pháp, một người có tâm cong quẹo vì danh vì lợi, vì tri thức, vì kiến thức thì người đó không thể gặp được Thánh pháp giải thoát. Nếu có tâm danh lợi thì người này sẽ đi tìm những cái danh lợi, có tâm tri thức thì họ chạy đuổi theo tri thức, chỉ có tâm cầu chánh pháp thì người đó mới có thể gặp được thật sự những lời dạy cội gốc, chân truyền của Đức Phật nhưng để được tâm này cũng cả một vấn đề. Chính vì vậy thưa với các thầy các cô con sẽ nghỉ bất kì lúc nào nếu con quán xét thấy chúng ta không muốn học, không cung kính pháp, đó là tiêu chí của môn này vì đây là pháp hành.

Chúng ta phải suy nghĩ đến mục đích xuất gia của mình, hãy suy nghĩ đến cha mẹ mình, hãy suy nghĩ đến lý tưởng, đời sống phạm hạnh của mình, sự nghiệp của mình để cố gắng tu học cho đàng hoàng. Học trò phải ra học trò, đệ tử phải ra đệ tử, đó là đạo đức căn bản của một người học sinh, học trò còn chưa làm được thì làm sao làm được hiền Thánh, đây là điều con tha thiết với các thầy các cô trong buổi đầu tiên chúng ta gặp nhau.

Chúng ta phải tu tập cảm thọ hiền thiện, ngọt ngào, khiêm cung, khiêm hòa, khiêm tốn, khiêm nhã, khiêm hạ, chúng ta phải là một con người chân thành, cung kính, biết ơn và nhớ ơn đối với những người có ơn với mình. Nếu mình tu học không đàng hoàng thì tội nghiệp cho cha mẹ mình, thật sự người thương nhất của mình chính là cha mẹ mỗi ngày ở nhà tựa cửa trông đợi mình, chờ mình về cứu độ nhưng giới đức không tăng thượng, thiền định không tăng thượng, trí đức không tăng thượng, đạo hạnh lại không có thì lấy gì đền đáp ân đức của mẹ cha?

Cho nên muôn ngàn vạn lời từ trái tim con muốn tâm sự cho các thầy các cô, người xuất gia hiện nay đang báo động. Nếu không suy xét một cách sâu sắc thì xuất gia chính là đại họa chứ không tốt, xuất gia thời Đức Phật là tốt, trong thời chánh pháp là tốt còn bây giờ là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, xuất gia thời này là để mượn đạo tạo đời, vì danh vì lợi thì thật nguy hiểm, không hề tốt lành, dưới lớp áo Cà-sa này là dao kiếm của địa ngục, là cột đồng cháy đỏ, là những vạc dầu sôi, là đại họa. Đừng bao giờ nghĩ rằng cạo tóc đắp y lên là mình nghiễm nhiên trở thành bậc sư phụ, suy nghĩ đó là ác độc, giết người, giết chết mình. Con ở trong chùa 30 năm, giờ này con vẫn đối trước Tăng Ni sinh xưng bằng tiếng "con" thì các thầy các cô nghĩ như thế nào?

IV. Khuyến tấn tu tập

Con rất tôn trọng chư Tăng, đó chính là pháp quy y – quy y Tăng, nếu ba pháp quy y mà mình còn chưa thành tựu thì đừng nói gì đến bậc hiền Thánh. Quy y Tăng chính là cung kính đoàn thể tu hành thanh tịnh, người xuất gia chúng ta có rất nhiều điều để mình suy tư, để mình khắc khoải, để mình lo lắng, không được lãng quên gánh nặng của thiện pháp. Đừng bao giờ nghĩ rằng đi xuất gia khỏe quá không cần lo gì cả, kinh Nikāya nói rằng người xuất gia với khổ, với ưu, nước mắt đầy mặt, đau đớn, khổ sở vì tham, sân, si, dục, ái trong người chưa diệt trừ được, mình phải khắc khoải, ưu tư, lo sợ, bất an, mình phải thấy mình đang ở trong tai họa, hiểm nạn, mình vẫn chưa thoát ra khỏi biển lửa, mình còn rất nhiều trách nhiệm phải làm, mình phải gánh một gánh nặng từ trọng ân rất lớn.

Mình phải nhớ, mình phải niệm, mình phải tác ý thường xuyên liên tục chứ không phải nghĩ rằng người xuất gia cạo tóc vô chùa là khỏe re, không cần gì nữa, đó là tà kiến, vô minh, ngu si, cho dù có xuất gia cũng không quên gánh nặng của thiện pháp, gánh nặng của Thánh pháp. Gánh nặng đó rất nhiều, giới đức mình không thành tựu viên mãn, phạm giới rất nhiều, nếu căn cứ theo đúng giới luật tinh thần Đức Phật nguyên chất là mình phạm giới rất nhiều. Thiền định mình vào được tầng thiền nào trong tứ thiền?

Thánh trí huệ cũng không có, vậy là chúng ta không có phần để dự vào các Thánh đạo, Thánh quả. Như vậy làm sao mình có thể sống nhởn nhơ qua ngày được, làm sao có thể bất khổ bất lạc được, làm sao có thể sống qua ngày đoạn tháng, ẩn dương nương Phật được? Đó là vô minh tùy miên, đó là si tùy miên, không thấy pháp, không thấy sự thật, không thấy được bản chất của đời sống tu hành, nếu thấy sẽ lo lắng, sợ hãi, sẽ ưu tư, khắc khoải trong lòng, nếu chúng ta biết mình đang sống trong căn nhà bị lửa cháy thì làm sao mình có thể ăn ngon ngủ yên, làm sao có thể vui đùa mà mình phải mau chóng tìm đủ mọi cách chạy ra khỏi nơi đó.

Sắc này đang bừng cháy, những cảm giác đang bốc cháy, những hình bóng trong tâm đang bị bốc cháy, những suy nghĩ đang bị bốc cháy, những nhận thức của mình đang bị bốc cháy bởi lửa tham dục, tham ái, tham lam, tham vọng, bị bốc cháy bởi lửa sân hận, hơn thua, tranh giành, tranh đấu, bị bốc cháy bởi ngọn lửa vô minh, ngu si, bị bốc cháy bởi ngọn lửa cống cao ngã mạn, kiêu ngạo, nó đang bốc cháy mà mình không thấy không biết nên mới gọi là vô minh.

Mình thấy hằng ngày bản thân tu tập đều đều, không thấy bản thân sân si gì cả nhưng đến khi có người đụng vào là biết tay nhau, bình thường tưởng hiền ngoan nhưng đụng chuyện là sân si, bản ngã, như vậy tất cả phiền não, lậu hoặc ngủ ngầm, Đức Phật dùng chữ tùy miên, nghĩa là nó đi theo mình miên man trong trạng thái ngủ ngầm, đụng vào thì nó thức dậy, nó hoạt động, nó xâm chiếm, nó áp đảo, nó hủy diệt cho nên người chân tu là người rất lo lắng, sợ hãi. Trong kinh đã nói Tỳ-kheo nào không biết sợ hãi thì Tỳ-kheo đó không thể gần Niết-bàn, nói Tỳ-kheo nào không biết hổ thẹn thì Tỳ-kheo đó không đến gần Niết-bàn được, đó là chính hai chữ tàm quý, xấu hổ và sợ hãi.

"Ngồi xuống một bên, Tôn giả Sàriputta nói với Tôn giả Mahà Kassapa:

-- Này Hiền giả Kassapa, được nói rằng không có nhiệt tâm, không có biết sợ, không thể có giác ngộ, không thể có Niết-bàn, không thể có chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách; và có nhiệt tâm, có biết sợ, có thể có giác ngộ, có thể có Niết-bàn, có thể có chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách" (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), II. Không Biết Sợ)

Tàm là xấu hổ, quý là sợ hãi, nhiều người giải thích tàm quý chỉ là xấu hổ, hổ thẹn là không đủ nghĩa vì còn chữ quý nghĩa là sợ hãi. Sợ hãi cái gì? Sợ hãi những ác và bất thiện pháp, những tội lỗi của chính mình. Khi nhìn lại thì giới của mình bị phạm, những cái tham, sân, si còn xâm chiếm nội tâm, thấy vậy nên mình lo lắng, mình thấy sợ hãi, thấy xấu hổ và người có sợ hãi, có xấu hổ thì mới nỗ lực, nhiếp phục, dập tắt những ngọn lửa đó, mới chấn chỉnh những ác bất thiện pháp đó, có như vậy mới từ từ đi đến thanh lương, mát mẻ, từ từ mới đi đến bớt lỗi, giảm lỗi, ít lỗi và cuối dùng đi đến hết lỗi, mới thành tựu được thân tâm thanh tịnh. Còn lúc nào nhìn vô cũng thấy mình tu hay, tu giỏi là cuộc đời tu chấm hết, không còn cơ hội để tăng thượng, đây là từ thường được dùng trong Nikāya, pháp có khả năng hướng thượng, làm cho mình hướng lên, tiến lên, phát triển lên.

Hiện tại chúng ta tu mà 3 năm gặp lại nhau cũng y chang vậy, 5 năm gặp lại cũng không có gì thay đổi, 10 năm sau gặp lại cũng y vậy, gặp nhau hỏi "có trụ trì chùa nào chưa", "học được bằng cấp nào" chứ không ai hỏi "nhiếp phục hết tham, sân, si chưa?", "các tầng Thánh quả vào được tầng thứ mấy", "bản ngã có tiêu trừ chưa", "thể nhập Thánh trí vô ngã chưa". Ngài Ajahn Chah gặp ai trong thiền viện là ngài sẽ hỏi "hôm nay thầy có thấy khổ không", nếu thấy khổ là tốt lắm vì đó là nhắc nhở mình về Khổ Thánh Trí. Phải thường hỏi nhau "ngày hôm nay có nhìn thấy sự biến đổi vô thường của ngũ uẩn không", "ngày hôm nay có nhận thấy rõ bản chất trống rỗng, trống không của thân tâm này không", "ngày hôm nay có nhìn ra lậu hoặc, những cấu uế trong tâm không" hay là mình sống trong mù lòa, sống trong lãng quên, sống trong không thấy không biết tức là si mê, vô minh, sống trong sự buông lung phóng dật, không hộ trì căn.

Sự tu của chúng ta là sự quay trở lại để thấy để biết một nội tâm cấu nhiễm cấu uế, rác bẩn, thấy được tấm thân bất tịnh là hang ổ của vi trùng, virut, vi khuẩn, đầy rẫy sự buồn phiền, sầu, bi, khổ, ưu, não để nhàm chán, thoát ra. Chính vì vậy pháp ấn trong Nikāya là nhàm chán đối với sắc; thọ; tưởng; hành; thức, nhàm chán là viễn ly, là rời xa, là chấm dứt, từ bỏ, thoát ra khỏi ngũ uẩn. Đó là pháp ấn của tất cả các bậc Chánh Đẳng Giác trong quá khứ, hiện tại, vị lai, tất cả các ngài thành tựu trí huệ là các ngài nhàm chán đối với sắc; thọ; tưởng; hành; thức, rời xa tức là viễn ly đối với sắc; thọ; tưởng; hành; thức, tâm các ngài hướng đến sự chấm dứt sắc; thọ; tưởng; hành; thức, đi ra khỏi sắc; thọ; tưởng; hành; thức thì gọi là giải thoát. Còn chúng ta nắm chặt trong đó, gọi là chấp thủ, yêu thương say đắm, si mê trong đó rồi cho nó là mình, là của mình, là tự ngã của mình để rồi chúng ta lo lắng, bất an, sầu não, khổ sở, tâm luôn dao động, luôn nghĩ cái gì cũng là mình, là của mình, là tự ngã của mình vì vậy phương pháp nhận diện ngũ uẩn của chúng ta là tuyệt đối quan trọng.

Chúng ta cần thường xuyên thực tập ngũ uẩn, mỗi buổi học chúng ta đều sẽ làm bài tập, chỉ bất cứ một ai đứng lên nhận diện ngũ uẩn trong thời gian từ buổi học hôm nay cho đến buổi học sau, trong thời gian vừa qua ngũ uẩn của mình như thế nào, khi cái tham sanh khởi lên như thế nào mình phải thấy được cảm giác đó ra sao, khi nổi giận lên cảm giác như thế nào mình phải thấy được, khi nó sanh khởi bản ngã đòi hơn thua, đúng sai, hay dở, cao thấp, ta đây thì mình phải xem cảm giác lúc đó như thế nào, cái hành như thế nào, cái tưởng như thế nào, thọ; tưởng; hành; thức lúc đó như thế nào, đó chính là nhận diện thân tâm, đó là thiền, đó là sự quán chiếu, đó là chiếu kiến ngũ uẩn, là soi thấu được, là nhìn ra được, nhận diện được bộ mặt thật sự của sắc; thọ; tưởng; hành; thức, nhìn ra được bản chất thật sự của thân tâm này là gì.

Bình thường chúng ta chỉ hướng ngoại nhìn ra ngoài, còn bây giờ chúng ta học pháp hành quay ngược lại nhìn vào bên trong những cảm giác, hình bóng, nghĩ tưởng trong tâm đang vận hành như thế nào, đang áp đảo, xâm chiếm tâm mình như thế nào, đang làm mình đau khổ như thế nào, cái nào mình cũng nhận diện ra được, mình đều thấy biết tất cả, mình đều đọc được hết những cảm giác, nghĩ tưởng, suy tư trong tâm mình. Phải phân loại nó ra, đây là tưởng thiện hay bất thiện, cảm giác này là tham, sân, si hay cảm giác từ bi, hỷ xả, mình tập nhận diện ra tất cả cảm giác, những suy nghĩ, hình bóng trong tâm của mình.

Sau đây chúng ta sẽ nhắc lại những điểm cốt lõi: Trong cảm giác dễ chịu có tham, trong cảm giác khó chịu có sân, trong cảm giác không dễ chịu không khó chịu có si, những điều này rất quan trọng trong pháp học và pháp hành, chúng ta sẽ sử dụng suốt cuộc đời tu của chúng ta. Bài hôm nay là bài tổng quát về Thánh trí ngũ uẩn cho nên sẽ có rất nhiều nội dung phong phú, chúng ta ghi thật kĩ và nhớ thật rõ để thực tập.

./.