Trình Pháp - Tâm Hiền Trí Cao Thượng 2
Tinh Hoa Nikāya
Trình Pháp Tâm Hiền Trí Cao Thượng 2
Thích Minh Thành
Chúng ta cần cố gắng từ đây cho đến ngày mình xuống núi phải tiếp tục thực tập bài tâm hiền và bài đức hạnh ngài Xá-lợi-phất. An trú, tư duy, tác ý theo lời Thánh pháp cũng như quay trở lại nội tâm mình kiểm tra, rà soát, soi xét tất cả những góc độ, khía cạnh, những suy nghĩ thầm ý cần đào bới, mổ xẻ, soi rọi, nhìn ra càng nhiều những khía cạnh, hai phương diện, một phương diện là về cái xấu ác của tâm, phải nhìn ra được tâm hung hăng, hung dữ, tâm phản phúc, chống đối, ngã mạn, sân hận, phương diện thứ hai là khi tâm hiền sanh khởi, khi đã chế ngự, nhiếp phục tâm hung dữ đó thì tâm hiền xuất hiện ra sao, cảm thọ như thế nào.
Phải nhìn ra được hai chiều hướng của tâm, khi tranh đối tranh sáng đó mình vận dụng như thế nào, mình ra trận chiến đấu thế nào, những phương pháp tác chiến của mình, phải chuyên chú sâu vào. Mình đọc ra để ghi âm hoặc ghi ra để đến ngày cuối cùng mình trình pháp trước khi xuống núi, cần phải trình pháp hết những phương pháp tác chiến, chiến thuật, nội chiến trong tâm của mình, phải dùng hết tất cả năng lực, trí tuệ, những sự thấy biết trong tu học để đánh vào nhiều góc độ của tâm.
Mình càng mong muốn tu hành một cách mãnh liệt thì mình càng nỗ lực, mình càng nỗ lực thì mình càng để tâm, mình càng để tâm vào sự tu tập tâm hiền thì tự động trong sự để tâm đó sẽ có ra những sự suy tư, thẩm sát, quán chiếu, đó là Tứ Như Ý Túc được vận hành trong sự tu tập tâm hiền. Mình phải muốn trở thành một người hiền thiện, cái muốn đó phải đủ sức mạnh để làm động lực thúc đẩy mình nỗ lực, tinh cần, tinh tấn, nhiệt tâm, tha thiết, khát ngưỡng, hạnh phúc, say mê trong đó.
Mình yêu thích tâm hiền, mình quý tâm hiền, mình trọng tâm hiền, mình lạy tâm hiền, mình tán thán, cung kính, đảnh lễ tâm hiền, mình tưới tẩm, tăng trưởng, phát triển quảng đại, rộng mở những cảm giác hiền thiện trong từng cái thấy, cái nghe, cái ngửi, cái nếm, cái tiếp xúc, nhận biết, sáu căn, sáu trần, sáu thức cần dẫn nó vào tâm hiền trong từng chút một. Khi mình nghe phớt qua tâm hiền và tu một chút thì nó khác, còn khi tu lâu dài thì trình pháp sẽ khác, cũng với tâm hiền đó cần tu tập suốt ba tháng, sau ba tháng đó tiếp tục tu tập ba tháng nữa, tức là phải tu ròng rặc sáu tháng trời và tu là phải thành tựu ít nhất phải bảy, tám mươi phần trăm thì sau đó mình mới phát triển những tâm khác được.
Nếu mình tu theo kiểu cưỡi ngự xem hoa, tu cho biết, có được chút cảm thọ là bỏ qua thì không có cái nào ra cái nào, tu không tới đâu cả. Mình tu học tâm hiền thì vợ chồng giải tỏa được bất hòa, khiêm hạ được cái tôi xuống, ăn nói dịu dàng, nhẹ nhàng, hành động an tịnh, suy nghĩ hiền từ, con người mình từ từ đổi thay trong tâm hiền trí đó. Đó là kết quả thiết thực, hiện tại, càng sâu sắc, càng đầy đủ, càng nhiều khía cạnh, góc độ thì trí mình mới sâu, pháp hành của mình mới dày cho nên khi trình pháp thì người ta sẽ biết mức độ tu học của mình.
Có nhiều người trình pháp chỉ hướng ngoại, nói người này người kia, thế giới, cảnh vật thì đó là trình pháp bằng tâm hướng ngoại, phải biết cái cần nói và nói ngay trong hiện tại, mấy cái này mình rất dễ bỏ qua. Mình biết tâm mình lúc đó dữ nhưng cũng bỏ qua, biết cái đó bản ngã, biết cái đó cẩu thả nhưng cũng bỏ qua, từ đầu đã vậy thì tu đến chết cũng không đi đến đâu. Không được cho qua mà phải tìm cách trừ diệt, nhiếp phục, mình chưa có khả năng hạ gục thì mình cũng phải khắc ghi nó để sanh khởi lên sự xấu hổ và sợ hãi cái tội lỗi này. Nếu cứ cho qua hoài thì sẽ quen rồi cả cuộc đời mình cũng đi qua, đạo hạnh tu hành cũng đi qua, sự nghiệp tu hành cũng đi qua.
Chúng ta phải thấy sợ hãi trong những tội lỗi nhỏ nhặt, đó là câu của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác vậy mà mình lại dám cho qua những cái lớn thì mình không chấp nhận học pháp, không nghe lời dạy Đức Phật nên tu hoài cũng vậy. Phải ghi chép ra tâm hung dữ của mình như thế nào, bản ngã muốn hơn thua với chồng ra sao, phải ghi ra để đối chiếu tâm hung dữ khi sanh khởi ra sao và tâm hiền thiện khi xuất hiện ra sao để chúng ta so sánh.
Phải có chiến thuật, chiến lược chứ không thể tu phất phơ thì tu suốt đời trong chùa cũng vậy, tham, sân, si vẫn y nguyên, bản ngã còn lớn hơn nữa, đó là không có phương pháp tác chiến, không muốn trở thành một người đệ tử chân chánh của Đức Phật, không tha thiết, nhiệt tâm, để tâm, không tìm cầu. Mình đang tập tâm hiền mà dữ lên thì rất tức, phải tìm ra nguyên nhân tại sao dữ, tại sao mình thua nó, phải ghi ra để lần sau nó xuất hiện thì mình biết để chặn lại trước. Tu cái này không có thời gian nhàn rỗi để nhìn ai hết, không rãnh để hơn thua, sân si với ai, cho nên sự hổ thẹn và sợ hãi là cực kì quan trọng, nếu không có những cái này là không tu được.
Mỗi lần những cái ác trong thân hành, khẩu hành, ý hành, trong suy nghĩ, ngôn ngữ, hành động sanh khởi là mình trách tâm nhục nhã, xấu hổ, hèn hạ, thấp hèn, bẩn thỉu. Phải hài tội, trách tội, quở tội của cái tâm để hết ương ngạnh, hết cứng cỏi, hết ngoan cố, phải dọn dẹp tâm hoang vu, tâm rừng rậm, làm cỏ, chặt cây gai. Trong cái tâm bẩn thỉu đó đầy rẫy dục, tham, ái, sân si, vô minh, bản ngã, hơn thua, ở ngoài chỉ ngụy trang một hình tướng hiền từ, nhưng bên trong là cá sấu, cá mập, súng ống, đạn dược, gươm đao, phóng hỏa, giết người.
Cho nên khi trình pháp hoan hỉ với những cái mình đã tu học nhưng chiều sâu là phải luôn cẩn thận và đề phòng, không ngủ quên trong chiến thắng, không lấy ít cho là đủ, không bằng lòng, tự mãn với những thành quả nhỏ hẹp này. Mục đích của chúng ta là phải tẩy sạch tất cả lậu hoặc, diệt tận dục, ái, tham, sân, si, bản ngã này cho nên chúng ta hoan hỉ để chiến đấu chứ không phải hoan hỉ rồi ngủ quên trong thành tựu nhỏ bé đó.
Lúc nào cũng tâm niệm nhìn ra các thứ yêu tà, ma quái, yêu tinh tiềm ẩn trong thọ; tưởng; hành; thức, bên ngoài cũng như bên trong, phải như Tôn Ngộ Không có mắt lửa tròng vàng và cây thiết bảng, đó chính là trí tuệ và tinh tấn lực thì mới thỉnh được chơn kinh, còn không thì thỉnh kinh giả cũng không biết, cứ tưởng thỉnh được kinh rồi nhưng chỉ toàn kinh giả, cứ tưởng tu thành công rồi nhưng cuối đời mới biết trật lất hết.
Trong sự tu của mình nếu gom gọn lại chỉ có một pháp thôi, hễ nhìn thấy dục, ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã ở đâu là nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận và diệt trừ tận cùng, không cho nó sanh khởi trở lại trong tương lai, tóm gọn lại chỉ có bao nhiêu đó. Suốt ngày đêm nhìn lại nội tâm hễ có những thứ cấu uế đó là nhiếp phục, chế ngự và đoạn tận, không cho nó tái sanh. Sau khi nhận diện được ngũ uẩn, tức là mở được con mắt tâm để thấy được tự thân, kế đó là tập an tịnh, lắng dịu trong ba nghiệp thọ; tưởng; hành, an trú cảm giác toàn thân và bắt đầu thực tập tâm hiền.
Thực tập tâm hiền là chế ngự, nhiếp phục những thọ; tưởng; hành thô bạo, hung dữ, thô thiển ở phía bên ngoài của khẩu hành, thân hành, bắt đầu đi sâu vào ý hành để suy nghĩ trở thành hiền thiện, hiền lương, hiền đức. Khi đổi chiều hướng suy nghĩ sẽ tự động đổi ngôn ngữ và hành vi sẽ thay đổi cho nên sự thực tập an tịnh, lắng dịu là quan trọng sau khi nhận diện ngũ uẩn, an trú cảm giác toàn thân. Khi thực tập an tịnh, lắng dịu mới nhìn ra được cái tâm không hiền một cách toàn diện, đầy đủ, nếu còn thô tháo, thô động thì không nhìn ra được, nếu có nhìn cũng chỉ nhìn ngoài da chứ không nhìn sâu được, còn khi thân tâm an tịnh, lắng dịu mới có thể nhìn sâu được các sự vận hành của tâm, hành tướng của tâm, guồng máy, cơ cấu, hệ điều hành, những cái xảo trá, trò lừa bịp, xảo ngụy của tâm được sự an tịnh, lắng dịu, trí tuệ ngũ uẩn phát giác ra.
Nó lừa gạt mình mà mình không biết, nó xâm chiếm, chế ngự mình mà mình không hay nhưng nếu người khác thấy, người khác biết chỉ cho mình là mình sân lên, bực bội, khó chịu lên cho nên cái này thật là khó nói, chỉ có thành tựu trí tuệ càng ngày càng nhiều thì sau đó mình mới tiếp nhận được những cái pháp sâu sắc của các bậc thiện tri thức, thầy lành bạn tốt chỉ cho mình. Nếu tâm mình còn thô tháo, thô kệch thì chỉ cái tế cho mình thì mình cũng không thấy được cho nên mức độ an tịnh, lắng dịu càng sâu thì càng nhìn ra được cái vi tế của tâm, sự an tịnh, lắng dịu đó thực ra là chỉ, là thiền. Cái này cần thực tập trong bốn oai nghi chứ không phải chỉ trong giờ thiền mới thiền, buông ra ngoài là mất thiền.
Khi mình băm xả hoặc băm ớt hay là cắt gọt đồ ăn thì phải cắt gọt như thế nào, phải vận dụng tâm hiền trong những việc đó. Khi mình băm đồ thì lúc đó thọ; tưởng; hành vận hành như thế nào? Khi để dao ấn nhẹ xuống thì thọ; tưởng; hành như thế nào? Đó chính là sự tu tập chứ đâu có gì xa, ứng dụng tâm hiền ngay trong làm bếp, mình là bếp trưởng mà người kia làm không vừa ý thì phải ứng dụng tâm hiền, tu trong từng cái nhỏ nhiệm đó. Quét nhà cũng phải thực tập tâm hiền, mình có thấy khách hay thầy mình đang ngồi đó không hay quét là cứ quét thôi? Mỗi lần quét xuống thì phải như thế nào?
Có tập cảm giác an tịnh, lắng dịu, nhẹ nhàng, ngọt ngào không? Nếu không thì y như người đời làm thôi không khác gì cả, đó là niệm oai nghi, hành động, khi ngồi xuống hoặc đứng lên khỏi tọa cụ cũng phải xem lại có ngay ngắn, thẳng hàng không, khi lạy xuống thì có lạy với tâm chí thành cung kính không, cái trán mình có chạm tới đất không hay chỉ lạy cho có, khi thấy người lớn thì xá như thế nào, xá cho nhanh thì đừng có xá, mỗi cái xá phải hiền thiện, cung kính.
Ở trong chùa nhiều năm Minh Thành thấy rất nhiều chuyện vui, lúc đầu vào chùa thì chắp tay xá từ trên đầu xuống rất cung kính, ở lâu chừng ba tháng, sáu tháng thì xá từ trán xuống thôi, ở chừng một năm thì chắp tay xá ngay ngực thôi, ở chừng ba năm thì gật đầu thôi, ở mười năm thì ai xá, ai lạy mặc ai, giống như không thấy luôn.
Cái tu thất bại ở ngay đó, sau đó làm những hành động cung kính như vậy cảm thấy ngượng ngùng, đối với thầy mình mà mình chắp tay xá cũng thấy ngượng, cảm thấy không quen nhưng lúc đầu đến chùa thì làm rất ngọt ngào, dạt dào, tự nhiên ở một thời gian rồi cảm thấy không quen cho nên đi chùa một thời gian trở thành hung dữ, bản ngã, coi chư Tăng, chư Ni không ra gì cả.
Cho nên tâm cấu uế này rất ghê gớm, đó là chỉ tu tập ngoài da thôi nên mèo hoàn mèo, chuột hoàn chuột, cá sấu cũng là cá sấu chứ không thay da đổi thịt được, không thay xương đổi cốt được, không chuyển phàm thành Thánh được. Khi đào sâu vào tâm hiền trí thì phải tu tập cho hiền luôn, không quay lại dữ nữa, phải cho thành trí chứ không được trở về ngu nữa, Đức Thế Tôn dùng từ "không còn sanh khởi trở lại trong tương lai nữa", nghĩa là không còn tái sanh nữa, muốn được như vậy thì phải diệt tận nó, muốn diệt tận nó thì phải biết rõ nó, muốn thấy rõ nó thì phải để tâm thật nhiều, muốn để tâm thật nhiều thì phải có sự để ý, an tịnh, lắng dịu để nhìn vào nội tâm thường xuyên.
Cho đến khi nào chất dữ trong người không còn nữa, cái ngu bên trong diệt tận luôn chỉ còn thuần trí thôi thì lúc đó vào hàng bốn đôi tám chúng hiền Thánh của Đức Phật, cái bản ngã, sân hận, ta đây bị hạ gục, bị đánh đổ hoàn toàn. Muốn được như vậy là cả một tâm tư tu tập, cả một chiến thuật, chiến lược, tác chiến, không phải chỉ tu trong thiền đường, trong giảng đường rồi bước ra ngoài là mất tu thì tu đến chết cũng không thành công.
Vừa mới đọc xong câu hồi hướng là trong bụng như mở cờ, cảm thấy phơi phới, đó là dục hoạt động, buông lung phóng dật hoạt động, ngồi học an tịnh khó chịu mà chỉ muốn sôi nổi, sôi động để thỏa mãn dục lậu, hữu lậu. Làm thế nào mà ngồi im lặng để học mà trong lòng im lặng, tác ý nhẹ là ngọt ngào, an tịnh, "đây là giờ hành pháp" là thành công, nhiều khi Minh Thành đi chia sẻ pháp hoặc đi giảng pháp mà bị hoãn máy bay liên tục sáng đêm, cảm thọ đã quen nên cứ mở sách, mở kinh ra đọc, về nhà mình cũng đọc kinh nên ở sân bay đọc kinh cũng vậy thôi.
Thực tập từ từ để cảm giác nhẹ lại để những chuyện không như ý, những chuyện làm mình khó chịu, bực mình xảy đến thì mình cũng thấy nhẹ nhàng, không có gì nặng nề, tập từ từ để đi đến chỗ an tịnh, lắng dịu. Phải niệm những chữ này giống như niệm thần chú, niệm giống như niệm Phật mà ngày xưa mình tu Tịnh Độ, cứ niệm "an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào".
Thấy bản thân đi nhanh thì nhắc nhở "an tịnh, lắng dịu", hễ mình nói lớn thì niệm "an tịnh, lắng dịu", thấy bản thân thô tháo thì niệm "nhẹ nhàng". Phải niệm để nhắc nhở bản thân, nhắc liên tục để nhớ thường xuyên rồi cuối cùng sau này thành tựu thì không cần nhắc nữa. Bây giờ phải nhắc năm năm, mười năm chứ không phải mới nhắc mười ngày đã bỏ, "tôi nhắc không được nữa, bỏ" hoặc là nhắc được một vài tháng rồi cũng bỏ cho nên cái kiên trì, bền chí rất quan trọng. Người xưa có câu: "Lộ dao tri mã lực, Nhật cửu kiến nhân tâm", nghĩa là "Đường xa mới biết sức ngựa, ở lâu mới biết được lòng người" hoặc là "Gia bần tri hiếu tử, quốc loạn thức trung thần", nghĩa là "Nhà nghèo mới biết lòng hiếu thảo của con cái, nước bị giặc loạn mới biết được bề tôi trung thành".
Cũng vậy, bình thường mình không thấy nhưng khi hữu sự mới biết được công lực, đạo lực, định lực của mình đến đâu, gặp chuyện mới biết công phu của mình tới đâu chứ còn cứ đều đều qua ngày đoạn tháng là mình không thể biết được, mình cứ tưởng mình ngon lắm, đến khi có người chửi mình thì mới biết mình tu tâm hiền đến đâu, khi có chuyện xảy ra mình mới biết được thật sự mình đang ở đâu. Bình thường ngồi trải tâm từ bao la, ngọt ngào, dạt dào nhưng đến khi bị la mắng, chửi bới thì tâm từ còn nữa không.
Từ cái tâm hiền này làm cho những cái thô kệch, thô tháo, thô bỉ được lắng xuống, an tịnh từ từ, ngọt ngào từ từ, dễ chịu từ từ thì tâm từ mới ngày càng được mở rộng ra, khi trú trong tâm từ vô lượng, vô biên, dào dạt đó thì tâm từ, tâm hiền sẽ có công năng gội rửa, tẩy sạch uế nhiễm từ từ. Mình trú trong tâm từ cũng như ngâm mình trong nước sạch, người mình đầy bùn dơ nên ngâm mình trong dòng nước sạch của tâm từ để được kì cọ, mình sẽ thấy nó sạch sẽ từng ngày, từng tháng, những cấu nhiễm sẽ được tẩy rửa trong bốn tâm vô lượng.
Trú trong bốn tâm đó là bốn hồ nước vĩ đại gội rửa các cấu uế, lậu hoặc cho mình, đặc biệt là trú trong Khổ Thánh Trí thì những lậu hoặc, cấu uế đó sẽ lần lần bị héo mòn, mục nát. Đó là tâm hiền trí kết hợp với nhau, cái hiền này là do trí tuệ thấy biết, cái trí thành tựu là từ nơi hiền thiện hỗ trợ, tương tác, có mắc xích nhất quán với nhau. Phải tác ý để nếm được hương vị bình an, ngọt ngào của sự tu học chứ đừng để tâm đơ ra, không có hỷ ưu gì cả.
Khi mình chưa thương người ta được thì phải tác ý thương chính mình. Thương cho cái tâm sân hận đã quen rồi, mình không nhiếp phục được nó thì nó sẽ hại mình. Cần tác ý thương mình nhiều hơn khi chưa thương người ta được, thương cái tâm sân hận dại khờ này, cái tâm thiêu đốt này làm khổ cho mình.
./.
Trình Pháp Tâm Hiền Trí Cao Thượng 2
Thích Minh Thành
Chúng ta cần cố gắng từ đây cho đến ngày mình xuống núi phải tiếp tục thực tập bài tâm hiền và bài đức hạnh ngài Xá-lợi-phất. An trú, tư duy, tác ý theo lời Thánh pháp cũng như quay trở lại nội tâm mình kiểm tra, rà soát, soi xét tất cả những góc độ, khía cạnh, những suy nghĩ thầm ý cần đào bới, mổ xẻ, soi rọi, nhìn ra càng nhiều những khía cạnh, hai phương diện, một phương diện là về cái xấu ác của tâm, phải nhìn ra được tâm hung hăng, hung dữ, tâm phản phúc, chống đối, ngã mạn, sân hận, phương diện thứ hai là khi tâm hiền sanh khởi, khi đã chế ngự, nhiếp phục tâm hung dữ đó thì tâm hiền xuất hiện ra sao, cảm thọ như thế nào.
Phải nhìn ra được hai chiều hướng của tâm, khi tranh đối tranh sáng đó mình vận dụng như thế nào, mình ra trận chiến đấu thế nào, những phương pháp tác chiến của mình, phải chuyên chú sâu vào. Mình đọc ra để ghi âm hoặc ghi ra để đến ngày cuối cùng mình trình pháp trước khi xuống núi, cần phải trình pháp hết những phương pháp tác chiến, chiến thuật, nội chiến trong tâm của mình, phải dùng hết tất cả năng lực, trí tuệ, những sự thấy biết trong tu học để đánh vào nhiều góc độ của tâm.
Mình càng mong muốn tu hành một cách mãnh liệt thì mình càng nỗ lực, mình càng nỗ lực thì mình càng để tâm, mình càng để tâm vào sự tu tập tâm hiền thì tự động trong sự để tâm đó sẽ có ra những sự suy tư, thẩm sát, quán chiếu, đó là Tứ Như Ý Túc được vận hành trong sự tu tập tâm hiền. Mình phải muốn trở thành một người hiền thiện, cái muốn đó phải đủ sức mạnh để làm động lực thúc đẩy mình nỗ lực, tinh cần, tinh tấn, nhiệt tâm, tha thiết, khát ngưỡng, hạnh phúc, say mê trong đó.
Mình yêu thích tâm hiền, mình quý tâm hiền, mình trọng tâm hiền, mình lạy tâm hiền, mình tán thán, cung kính, đảnh lễ tâm hiền, mình tưới tẩm, tăng trưởng, phát triển quảng đại, rộng mở những cảm giác hiền thiện trong từng cái thấy, cái nghe, cái ngửi, cái nếm, cái tiếp xúc, nhận biết, sáu căn, sáu trần, sáu thức cần dẫn nó vào tâm hiền trong từng chút một. Khi mình nghe phớt qua tâm hiền và tu một chút thì nó khác, còn khi tu lâu dài thì trình pháp sẽ khác, cũng với tâm hiền đó cần tu tập suốt ba tháng, sau ba tháng đó tiếp tục tu tập ba tháng nữa, tức là phải tu ròng rặc sáu tháng trời và tu là phải thành tựu ít nhất phải bảy, tám mươi phần trăm thì sau đó mình mới phát triển những tâm khác được.
Nếu mình tu theo kiểu cưỡi ngự xem hoa, tu cho biết, có được chút cảm thọ là bỏ qua thì không có cái nào ra cái nào, tu không tới đâu cả. Mình tu học tâm hiền thì vợ chồng giải tỏa được bất hòa, khiêm hạ được cái tôi xuống, ăn nói dịu dàng, nhẹ nhàng, hành động an tịnh, suy nghĩ hiền từ, con người mình từ từ đổi thay trong tâm hiền trí đó. Đó là kết quả thiết thực, hiện tại, càng sâu sắc, càng đầy đủ, càng nhiều khía cạnh, góc độ thì trí mình mới sâu, pháp hành của mình mới dày cho nên khi trình pháp thì người ta sẽ biết mức độ tu học của mình.
Có nhiều người trình pháp chỉ hướng ngoại, nói người này người kia, thế giới, cảnh vật thì đó là trình pháp bằng tâm hướng ngoại, phải biết cái cần nói và nói ngay trong hiện tại, mấy cái này mình rất dễ bỏ qua. Mình biết tâm mình lúc đó dữ nhưng cũng bỏ qua, biết cái đó bản ngã, biết cái đó cẩu thả nhưng cũng bỏ qua, từ đầu đã vậy thì tu đến chết cũng không đi đến đâu. Không được cho qua mà phải tìm cách trừ diệt, nhiếp phục, mình chưa có khả năng hạ gục thì mình cũng phải khắc ghi nó để sanh khởi lên sự xấu hổ và sợ hãi cái tội lỗi này. Nếu cứ cho qua hoài thì sẽ quen rồi cả cuộc đời mình cũng đi qua, đạo hạnh tu hành cũng đi qua, sự nghiệp tu hành cũng đi qua.
Chúng ta phải thấy sợ hãi trong những tội lỗi nhỏ nhặt, đó là câu của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác vậy mà mình lại dám cho qua những cái lớn thì mình không chấp nhận học pháp, không nghe lời dạy Đức Phật nên tu hoài cũng vậy. Phải ghi chép ra tâm hung dữ của mình như thế nào, bản ngã muốn hơn thua với chồng ra sao, phải ghi ra để đối chiếu tâm hung dữ khi sanh khởi ra sao và tâm hiền thiện khi xuất hiện ra sao để chúng ta so sánh.
Phải có chiến thuật, chiến lược chứ không thể tu phất phơ thì tu suốt đời trong chùa cũng vậy, tham, sân, si vẫn y nguyên, bản ngã còn lớn hơn nữa, đó là không có phương pháp tác chiến, không muốn trở thành một người đệ tử chân chánh của Đức Phật, không tha thiết, nhiệt tâm, để tâm, không tìm cầu. Mình đang tập tâm hiền mà dữ lên thì rất tức, phải tìm ra nguyên nhân tại sao dữ, tại sao mình thua nó, phải ghi ra để lần sau nó xuất hiện thì mình biết để chặn lại trước. Tu cái này không có thời gian nhàn rỗi để nhìn ai hết, không rãnh để hơn thua, sân si với ai, cho nên sự hổ thẹn và sợ hãi là cực kì quan trọng, nếu không có những cái này là không tu được.
Mỗi lần những cái ác trong thân hành, khẩu hành, ý hành, trong suy nghĩ, ngôn ngữ, hành động sanh khởi là mình trách tâm nhục nhã, xấu hổ, hèn hạ, thấp hèn, bẩn thỉu. Phải hài tội, trách tội, quở tội của cái tâm để hết ương ngạnh, hết cứng cỏi, hết ngoan cố, phải dọn dẹp tâm hoang vu, tâm rừng rậm, làm cỏ, chặt cây gai. Trong cái tâm bẩn thỉu đó đầy rẫy dục, tham, ái, sân si, vô minh, bản ngã, hơn thua, ở ngoài chỉ ngụy trang một hình tướng hiền từ, nhưng bên trong là cá sấu, cá mập, súng ống, đạn dược, gươm đao, phóng hỏa, giết người.
Cho nên khi trình pháp hoan hỉ với những cái mình đã tu học nhưng chiều sâu là phải luôn cẩn thận và đề phòng, không ngủ quên trong chiến thắng, không lấy ít cho là đủ, không bằng lòng, tự mãn với những thành quả nhỏ hẹp này. Mục đích của chúng ta là phải tẩy sạch tất cả lậu hoặc, diệt tận dục, ái, tham, sân, si, bản ngã này cho nên chúng ta hoan hỉ để chiến đấu chứ không phải hoan hỉ rồi ngủ quên trong thành tựu nhỏ bé đó.
Lúc nào cũng tâm niệm nhìn ra các thứ yêu tà, ma quái, yêu tinh tiềm ẩn trong thọ; tưởng; hành; thức, bên ngoài cũng như bên trong, phải như Tôn Ngộ Không có mắt lửa tròng vàng và cây thiết bảng, đó chính là trí tuệ và tinh tấn lực thì mới thỉnh được chơn kinh, còn không thì thỉnh kinh giả cũng không biết, cứ tưởng thỉnh được kinh rồi nhưng chỉ toàn kinh giả, cứ tưởng tu thành công rồi nhưng cuối đời mới biết trật lất hết.
Trong sự tu của mình nếu gom gọn lại chỉ có một pháp thôi, hễ nhìn thấy dục, ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã ở đâu là nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận và diệt trừ tận cùng, không cho nó sanh khởi trở lại trong tương lai, tóm gọn lại chỉ có bao nhiêu đó. Suốt ngày đêm nhìn lại nội tâm hễ có những thứ cấu uế đó là nhiếp phục, chế ngự và đoạn tận, không cho nó tái sanh. Sau khi nhận diện được ngũ uẩn, tức là mở được con mắt tâm để thấy được tự thân, kế đó là tập an tịnh, lắng dịu trong ba nghiệp thọ; tưởng; hành, an trú cảm giác toàn thân và bắt đầu thực tập tâm hiền.
Thực tập tâm hiền là chế ngự, nhiếp phục những thọ; tưởng; hành thô bạo, hung dữ, thô thiển ở phía bên ngoài của khẩu hành, thân hành, bắt đầu đi sâu vào ý hành để suy nghĩ trở thành hiền thiện, hiền lương, hiền đức. Khi đổi chiều hướng suy nghĩ sẽ tự động đổi ngôn ngữ và hành vi sẽ thay đổi cho nên sự thực tập an tịnh, lắng dịu là quan trọng sau khi nhận diện ngũ uẩn, an trú cảm giác toàn thân. Khi thực tập an tịnh, lắng dịu mới nhìn ra được cái tâm không hiền một cách toàn diện, đầy đủ, nếu còn thô tháo, thô động thì không nhìn ra được, nếu có nhìn cũng chỉ nhìn ngoài da chứ không nhìn sâu được, còn khi thân tâm an tịnh, lắng dịu mới có thể nhìn sâu được các sự vận hành của tâm, hành tướng của tâm, guồng máy, cơ cấu, hệ điều hành, những cái xảo trá, trò lừa bịp, xảo ngụy của tâm được sự an tịnh, lắng dịu, trí tuệ ngũ uẩn phát giác ra.
Nó lừa gạt mình mà mình không biết, nó xâm chiếm, chế ngự mình mà mình không hay nhưng nếu người khác thấy, người khác biết chỉ cho mình là mình sân lên, bực bội, khó chịu lên cho nên cái này thật là khó nói, chỉ có thành tựu trí tuệ càng ngày càng nhiều thì sau đó mình mới tiếp nhận được những cái pháp sâu sắc của các bậc thiện tri thức, thầy lành bạn tốt chỉ cho mình. Nếu tâm mình còn thô tháo, thô kệch thì chỉ cái tế cho mình thì mình cũng không thấy được cho nên mức độ an tịnh, lắng dịu càng sâu thì càng nhìn ra được cái vi tế của tâm, sự an tịnh, lắng dịu đó thực ra là chỉ, là thiền. Cái này cần thực tập trong bốn oai nghi chứ không phải chỉ trong giờ thiền mới thiền, buông ra ngoài là mất thiền.
Khi mình băm xả hoặc băm ớt hay là cắt gọt đồ ăn thì phải cắt gọt như thế nào, phải vận dụng tâm hiền trong những việc đó. Khi mình băm đồ thì lúc đó thọ; tưởng; hành vận hành như thế nào? Khi để dao ấn nhẹ xuống thì thọ; tưởng; hành như thế nào? Đó chính là sự tu tập chứ đâu có gì xa, ứng dụng tâm hiền ngay trong làm bếp, mình là bếp trưởng mà người kia làm không vừa ý thì phải ứng dụng tâm hiền, tu trong từng cái nhỏ nhiệm đó. Quét nhà cũng phải thực tập tâm hiền, mình có thấy khách hay thầy mình đang ngồi đó không hay quét là cứ quét thôi? Mỗi lần quét xuống thì phải như thế nào?
Có tập cảm giác an tịnh, lắng dịu, nhẹ nhàng, ngọt ngào không? Nếu không thì y như người đời làm thôi không khác gì cả, đó là niệm oai nghi, hành động, khi ngồi xuống hoặc đứng lên khỏi tọa cụ cũng phải xem lại có ngay ngắn, thẳng hàng không, khi lạy xuống thì có lạy với tâm chí thành cung kính không, cái trán mình có chạm tới đất không hay chỉ lạy cho có, khi thấy người lớn thì xá như thế nào, xá cho nhanh thì đừng có xá, mỗi cái xá phải hiền thiện, cung kính.
Ở trong chùa nhiều năm Minh Thành thấy rất nhiều chuyện vui, lúc đầu vào chùa thì chắp tay xá từ trên đầu xuống rất cung kính, ở lâu chừng ba tháng, sáu tháng thì xá từ trán xuống thôi, ở chừng một năm thì chắp tay xá ngay ngực thôi, ở chừng ba năm thì gật đầu thôi, ở mười năm thì ai xá, ai lạy mặc ai, giống như không thấy luôn.
Cái tu thất bại ở ngay đó, sau đó làm những hành động cung kính như vậy cảm thấy ngượng ngùng, đối với thầy mình mà mình chắp tay xá cũng thấy ngượng, cảm thấy không quen nhưng lúc đầu đến chùa thì làm rất ngọt ngào, dạt dào, tự nhiên ở một thời gian rồi cảm thấy không quen cho nên đi chùa một thời gian trở thành hung dữ, bản ngã, coi chư Tăng, chư Ni không ra gì cả.
Cho nên tâm cấu uế này rất ghê gớm, đó là chỉ tu tập ngoài da thôi nên mèo hoàn mèo, chuột hoàn chuột, cá sấu cũng là cá sấu chứ không thay da đổi thịt được, không thay xương đổi cốt được, không chuyển phàm thành Thánh được. Khi đào sâu vào tâm hiền trí thì phải tu tập cho hiền luôn, không quay lại dữ nữa, phải cho thành trí chứ không được trở về ngu nữa, Đức Thế Tôn dùng từ "không còn sanh khởi trở lại trong tương lai nữa", nghĩa là không còn tái sanh nữa, muốn được như vậy thì phải diệt tận nó, muốn diệt tận nó thì phải biết rõ nó, muốn thấy rõ nó thì phải để tâm thật nhiều, muốn để tâm thật nhiều thì phải có sự để ý, an tịnh, lắng dịu để nhìn vào nội tâm thường xuyên.
Cho đến khi nào chất dữ trong người không còn nữa, cái ngu bên trong diệt tận luôn chỉ còn thuần trí thôi thì lúc đó vào hàng bốn đôi tám chúng hiền Thánh của Đức Phật, cái bản ngã, sân hận, ta đây bị hạ gục, bị đánh đổ hoàn toàn. Muốn được như vậy là cả một tâm tư tu tập, cả một chiến thuật, chiến lược, tác chiến, không phải chỉ tu trong thiền đường, trong giảng đường rồi bước ra ngoài là mất tu thì tu đến chết cũng không thành công.
Vừa mới đọc xong câu hồi hướng là trong bụng như mở cờ, cảm thấy phơi phới, đó là dục hoạt động, buông lung phóng dật hoạt động, ngồi học an tịnh khó chịu mà chỉ muốn sôi nổi, sôi động để thỏa mãn dục lậu, hữu lậu. Làm thế nào mà ngồi im lặng để học mà trong lòng im lặng, tác ý nhẹ là ngọt ngào, an tịnh, "đây là giờ hành pháp" là thành công, nhiều khi Minh Thành đi chia sẻ pháp hoặc đi giảng pháp mà bị hoãn máy bay liên tục sáng đêm, cảm thọ đã quen nên cứ mở sách, mở kinh ra đọc, về nhà mình cũng đọc kinh nên ở sân bay đọc kinh cũng vậy thôi.
Thực tập từ từ để cảm giác nhẹ lại để những chuyện không như ý, những chuyện làm mình khó chịu, bực mình xảy đến thì mình cũng thấy nhẹ nhàng, không có gì nặng nề, tập từ từ để đi đến chỗ an tịnh, lắng dịu. Phải niệm những chữ này giống như niệm thần chú, niệm giống như niệm Phật mà ngày xưa mình tu Tịnh Độ, cứ niệm "an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào".
Thấy bản thân đi nhanh thì nhắc nhở "an tịnh, lắng dịu", hễ mình nói lớn thì niệm "an tịnh, lắng dịu", thấy bản thân thô tháo thì niệm "nhẹ nhàng". Phải niệm để nhắc nhở bản thân, nhắc liên tục để nhớ thường xuyên rồi cuối cùng sau này thành tựu thì không cần nhắc nữa. Bây giờ phải nhắc năm năm, mười năm chứ không phải mới nhắc mười ngày đã bỏ, "tôi nhắc không được nữa, bỏ" hoặc là nhắc được một vài tháng rồi cũng bỏ cho nên cái kiên trì, bền chí rất quan trọng. Người xưa có câu: "Lộ dao tri mã lực, Nhật cửu kiến nhân tâm", nghĩa là "Đường xa mới biết sức ngựa, ở lâu mới biết được lòng người" hoặc là "Gia bần tri hiếu tử, quốc loạn thức trung thần", nghĩa là "Nhà nghèo mới biết lòng hiếu thảo của con cái, nước bị giặc loạn mới biết được bề tôi trung thành".
Cũng vậy, bình thường mình không thấy nhưng khi hữu sự mới biết được công lực, đạo lực, định lực của mình đến đâu, gặp chuyện mới biết công phu của mình tới đâu chứ còn cứ đều đều qua ngày đoạn tháng là mình không thể biết được, mình cứ tưởng mình ngon lắm, đến khi có người chửi mình thì mới biết mình tu tâm hiền đến đâu, khi có chuyện xảy ra mình mới biết được thật sự mình đang ở đâu. Bình thường ngồi trải tâm từ bao la, ngọt ngào, dạt dào nhưng đến khi bị la mắng, chửi bới thì tâm từ còn nữa không.
Từ cái tâm hiền này làm cho những cái thô kệch, thô tháo, thô bỉ được lắng xuống, an tịnh từ từ, ngọt ngào từ từ, dễ chịu từ từ thì tâm từ mới ngày càng được mở rộng ra, khi trú trong tâm từ vô lượng, vô biên, dào dạt đó thì tâm từ, tâm hiền sẽ có công năng gội rửa, tẩy sạch uế nhiễm từ từ. Mình trú trong tâm từ cũng như ngâm mình trong nước sạch, người mình đầy bùn dơ nên ngâm mình trong dòng nước sạch của tâm từ để được kì cọ, mình sẽ thấy nó sạch sẽ từng ngày, từng tháng, những cấu nhiễm sẽ được tẩy rửa trong bốn tâm vô lượng.
Trú trong bốn tâm đó là bốn hồ nước vĩ đại gội rửa các cấu uế, lậu hoặc cho mình, đặc biệt là trú trong Khổ Thánh Trí thì những lậu hoặc, cấu uế đó sẽ lần lần bị héo mòn, mục nát. Đó là tâm hiền trí kết hợp với nhau, cái hiền này là do trí tuệ thấy biết, cái trí thành tựu là từ nơi hiền thiện hỗ trợ, tương tác, có mắc xích nhất quán với nhau. Phải tác ý để nếm được hương vị bình an, ngọt ngào của sự tu học chứ đừng để tâm đơ ra, không có hỷ ưu gì cả.
Khi mình chưa thương người ta được thì phải tác ý thương chính mình. Thương cho cái tâm sân hận đã quen rồi, mình không nhiếp phục được nó thì nó sẽ hại mình. Cần tác ý thương mình nhiều hơn khi chưa thương người ta được, thương cái tâm sân hận dại khờ này, cái tâm thiêu đốt này làm khổ cho mình.
./.