Cửa Vào Bất Tử 3
Cửa Vào Bất Tử 3
Thích Minh Thành
Ngày tháng năm 2021
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Nhận diện thọ uẩn PAGEREF _Toc95636454 \h 1
II. Nơi cư ngụ của tham – sân - si PAGEREF _Toc95636455 \h 5
III. Nguy hại của cảm thọ PAGEREF _Toc95636456 \h 8
I. Nhận diện thọ uẩn
Kính bạch chư tôn đức, kính thưa tất cả bậc hiền trí, tăng, ni và quý Phật tử.
Hôm nay chúng ta tiếp tục chia sẻ về chủ đề cửa vào bất tử, chúng ta đang tìm hiểu về bốn loại thức ăn. Loại thức ăn thứ nhất là nuôi dưỡng thân tứ đại, ba loại thức ăn còn lại là sự tiếp xúc, nhớ nghĩ, nhận thức rõ biết là loại thức ăn nuôi dưỡng tâm mê. Mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi, lưỡi nếm, thân đụng chạm, ý rõ biết những cảm giác, hình bóng trong tâm, những suy nghĩ.
Sáu sự tiếp xúc này cùng với sự nhớ nghĩ sau khi tiếp xúc thì những hình bóng âm thanh, mùi vị còn lưu lại trong tâm của mình. Những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ đó, chúng ta nhớ nghĩ về điều đó, ưa thích, khoan khoái, nắm giữ, chấp thủ vào trong đó, trong sự nhận thức đó, chúng ta không có nhìn thấy ra được nào là sắc, thọ, tưởng, hành, thức, rồi chúng ta dồn chung nó lại thành một cái gọi là tôi, của tôi. Trong ảo tưởng đó, trong suy nghĩ lầm lạc, sai lầm đó, nó trở thành thức ăn nuôi dưỡng cho những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ, nhận thức, trở thành những chất nuôi dưỡng cho tâm mê.
Những nhớ nghĩ, nhận thức, sự tiếp xúc khi nhìn thấy và khi về nhớ lại hình bóng đó. Mình nhận thức và biết được hình bóng đó, và hình bóng, sự việc đó, cảnh, vật đó, món đồ, con người đó mình thấy mình thích thú trong hình bóng, trong tưởng đó làm mình yêu thích, thấy dễ thương hoặc thấy dễ ghét, thấy thích hay không thích, muốn hay không muốn, ưa hay không ưa, tham hay sân, yêu hay ghét, vừa lòng hay không vừa lòng. Mình nghe âm thanh đó mình nghe là dễ chịu hay khó chịu, dễ thương hay khó thương, thương hay ghét, mình nhớ nghĩ về âm thanh đó. Nếu âm thanh đó là khả ái, là dễ thương thì mình khoái, mình thích, mình muốn, mình muốn được tiếp xúc lại với âm thanh đó, mình muốn được tiếp xúc lại với hình sắc đó, mình muốn tiếp xúc lại với mùi, vị, món ăn đó, hương vị đó, đụng chạm đó.
Chính từ sự tiếp xúc đó, thấy nghe, ngửi nếm, xúc chạm, nhận thức thọ, tưởng, hành bên trong mà mình nhớ nghĩ, ưa thích, mình muốn nó có nữa hay kháng cự, chống đối, chấm dứt, từ bỏ, đối với dễ thương thì mình sẽ nhớ nhớ, thích thích, khoái khoái, mong mong, muốn muốn, đợi đợi, chờ chờ, ước ao, khát khao, hy vọng. Đối với cái ghét thì mình bực tức, chống cự, chống đối, muốn hủy diệt nó thì những cái ưa thích, chống đối đó hay những cái thường thường thôi cũng thấy hình bóng đó, nghe âm thanh đó, mùi vị đó thì thấy cũng thường thường, không có gì.
Ba cảm thọ chút chúng ta đi qua tới phần thọ sẽ rõ những cảm giác thương, ghét, không thương không ghét và mình đồng hóa cảm giác đó là tôi, của tôi, là tự ngã của tôi thì cái đó trở thành thức ăn nuôi dưỡng tâm mê. Có dịp chúng ta đọc qua bài Cảnh giác:
“Tập thấy biết rõ về Cảm giác
Cảm giác thân và cảm giác tâm,
Dễ chịu, khó chịu, không khó dễ
Tập nhận ra các loại thọ này.
Cảm giác dễ chịu là Lạc thọ.
Cảm giác khó chịu là Khổ thọ.
Cảm giác không dễ chịu, khó chịu
Đó là Không khổ, không lạc thọ.”
Những bài trước chúng ta đã tập nhận diện về sắc uẩn, sắc pháp, sắc thân, hôm nay chúng ta bắt đầu bước qua tập nhận diện các cảm thọ. Tổ hợp thứ hai, uẩn thứ hai là thọ uẩn, tổ hợp của những cảm giác. Trong những cảm giác này thì Đức Thế Tôn phân làm ba loại: cảm giác dễ chịu, cảm giác khó chịu, cảm giác không dễ chịu không khó chịu. Tất cả cảm giác của mình chỉ gom trong ba loại này, đây là nói gọn. Cảm giác dễ chịu thì danh từ trong kinh gọi là lạc thọ, cảm giác khó chịu gọi là khổ thọ, cảm giác không dễ chịu, không khó chịu gọi là bất khổ bất lạc thọ.
Mình phải tập thấy biết và rõ ba loại cảm giác này, cảm giác thân và cảm giác tâm, phải thực tập mới thấy vì không thực tập thì chúng ta không biết được, cảm giác của thân khác với cảm giác của tâm.
Ví dụ mình muốn đi lên Linh Quy Pháp Ấn để ngắm biển mây, đi đường xa hai ba trăm, năm trăm cây số mà mình đi sáng đêm từ Kiên Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau lên đây, phải ngủ gà ngủ gật nhưng khi bước chân lên Linh Quy Pháp Ấn thì lúc xuống xe, mặt mày mình ra sao? Vui vẻ, thích thú, phấn khởi, hân hoan thì khi đó, cảm giác của thân, cảm thọ của thân dù mệt, khó chịu nhưng cảm thọ của tâm thì dễ chịu. Vì vậy chúng ta phải phân biệt được hai loại cảm thọ, cảm giác đó của thân khác với của tâm.
Nên tuy là thân mệt mỏi, buồn ngủ nhưng tâm lại hân hoan, phấn khởi, nhất là khi mình bước lên được cổng trời thì khi thấy được mặt trời lên, mây bồng bềnh, chim hót líu lo, sương giăng, những âm thanh của phong linh du dương, trầm bổng, thanh thoát hiện ra trước mắt mình lúc đó tất cả những mệt mỏi, buồn ngủ, mỏi chân vì phải leo từ dưới lên đều sẽ tan biến. Có khi thân rất buồn ngủ khi xong mình xuống nằm thì mình thấy khò khò, nằm như chết nhưng tâm mình lại vui. Vì vậy, chúng ta phải phân biệt được hai loại cảm thọ, cảm giác thân khác và tâm khác.
Hoặc khi được người ta cho đồ ăn, cho tiền thì vui không? Nhưng khi nói nặng, nói nhẹ, nói trên đầu, trên cổ, khi ăn miệng thì thấy ngon nhưng trong tâm lại khổ, nên cảm thọ thân là vui nhưng cảm thọ tâm là khổ. Nguyên một bàn gồm mười mấy, hai mươi món được ăn, hoặc được cho tiền nhưng lại nói dằn mâm xắn chén, nói trên đầu trên cổ. Như vậy thì cảm giác của thân sướng vui nhưng cảm giác của tâm khổ. Chúng ta phải phân biệt được như vậy.
Ví dụ khác, đối với người thích nấu ăn, ham nấu ăn cho người ta ăn, thích như vậy nhưng có khi nấu từ sáng đến tối đến khuya, ngày hôm sau cúng dỗ. Mệt như vậy nhưng khi bưng lên một mâm mời hòa thượng, hay các thầy, sư cô khen “Ngon quá. Cô nấu khéo quá!” Thì cảm thọ thân rất mệt, buồn ngủ, nhưng tâm vui, thích, khoái.
Qua đó chúng ta biết được cảm thọ thân có thể bị cảm thọ tâm lấn át, xâm chiếm, hai cái này có thể bị tác động lẫn nhau. Ví dụ như đang có bạn bè ăn chơi, nhậu nhẹt, cười nói, hát hò nhưng hay tin “Em ruột của anh bị nhiễm covid rồi!” thì có thể đứng không vững nữa, không hát nổi nữa, thậm chí là sụm xuống. Hoặc nghe tin khác dữ hơn, gặp tai nạn chẳng hạn thì lúc đó có thể té xỉu.
Ví như có một sự việc đau lòng, là người mẹ đưa đứa con đi làm, khi đi tới chỗ làm thì đậu xe bên ngoài đường có một chiếc xe tải lớn, khi tới chỗ thì bà mẹ dừng để đứa con xuống, khi xuống rồi thì đứa con băng qua đường, vì chiếc xe tải áng phía trước mặt nên đứa con không biết, chỉ thấy là tới rồi nên đi qua thôi, không nhìn kĩ. Nên vừa bước qua khỏi chiếc xe tải thì một chiếc xe tải chạy tới, đụng phải đứa con, bà mẹ nhìn thấy mà té xỉu ngay tại chỗ. Chính người mẹ chứng kiến cảnh người con chết ngay trước mắt mình mà tan xương thịt nát nên người mẹ té xỉu ngay tại chỗ.
Như vậy, cảm thọ của tâm đã hoàn toàn xâm chiếm toàn bộ cơ thể của thân và làm cho thân đổ sập xuống, bất tỉnh. Vậy nên chúng ta thấy được việc này để biết rằng cảm thọ hết sức quan trọng trong thân tâm chúng ta, mà lâu nay chúng ta đã bỏ quên, lãng quên, để quên, quên hẵng, quên lững, quên lãng.
Bây giờ chúng ta bắt đầu thực tập, thứ nhất là phải biết được tên tuổi của cảm thọ, thứ hai là phải biết loại của cảm thọ là gì, loại nào, thứ ba là phải biết được ở trong loại cảm thọ đó có gì bên trong đó, thứ tư là có những cách nhiếp phục, chế ngự, làm cho cảm thọ an tịnh, lắng dịu.
Như vậy, thứ nhất là chúng ta đã biết được tên gọi: cảm thọ dễ chịu, cảm thọ khó chịu, cảm thọ không dễ chịu không khó chịu, đó là tên gọi. Sau đó chúng ta phân biệt được cảm thọ thân khác và cảm thọ tâm khác. Minh Thành đã đi thật chậm, thật kĩ, để quý vị nắm thật vững, đây là cốt lõi pháp hành của kinh tạng Nikāya, là tinh túy, tinh hoa Phật trí, tinh hoa của trí tuệ Phật, đây là tri kiến Phật, đây là thấy biết của Đức Phật chứng ngộ, trình bày lại cho chúng ta.
Nên sự tu tập sau khi mình đã thấy đã biết căn bản, đang nói về thấy biết kiến thức, học hỏi thôi, cần phải thấy biết bằng trí tuệ thì mình phải có thời gian thực tập lâu dài, thường xuyên và liên tục.
II. Nơi cư ngụ của tham – sân - si
Giờ chúng ta bắt đầu thực tập thấy biết về cảm thọ của mình, cảm giác của mình. Như những bài trước quán chiếu về cảm thọ, đó là trong cảm giác dễ chịu thì có tham trong đó, có thích, có khoái, có muốn, có dục ái trong đó, trong cảm giác khó chịu thì luôn luôn có cảm giác bực bội, sân hận, tức giận trong đó, trong kinh gọi là tham tùy miên, sân tùy miên, tùy là đi theo, miên là sự ngủ ngầm. Nên mình ngồi đó thấy nhưng nói “Con không có sân đâu thầy, con đang ngồi đây mặt này tươi rói, con tươi tắn, tươi xinh, tươi trẻ, con đâu có sân đâu.” Nhưng chạm vào đi rồi biết!” Vậy nên mới biết cảm thọ sân hận này là một thứ phiền não, ngủ ngầm, nếu chọc nó thì nó thức dậy, chạm tới, đụng tới nó thì nó bùng lên, cháy lên, phựt lên, nó đốt nhà, giết người. Đó gọi là những cảm thọ sân hận, ngủ ngầm trong tâm của chúng sanh.
Chúng ta nên nhớ kĩ, nhìn thấy như vậy nhưng không an ổn, nhìn thấy rất hiền nhưng gặp chuyện thì tam bành lục tạch nổi lên, phùng mang, trợn mắt, có thể làm ra bất cứ chuyện gì mà chúng ta không thể tưởng tượng được. Chính vì vậy mới nói là cảm thọ sân hận nó ngủ ngầm trong tâm, nó đi theo mình một cách miên man, mình ở đâu thì nó đi theo đó, như là bóng với hình, mình đoạn tận được nó là mình vào Thánh quả.
Cảm thọ dễ chịu, khoan khoái, thích thú, êm ái, sung sướng thì lúc nào cũng có tham ái ngủ ngầm bên trong. Giờ thì thấy ngồi bình thường bên trong không thấy gì nhưng đụng chuyện bên trong là tham, có khi đồ của người ta mà lấy. Hay thậm chí như chúng ta thấy, trộm cướp đầy rẫy, không có gì mà họ từ bỏ, từ cây bông giấy đến tấm sắt để lót trước cửa nhà để dẫn xe vô cũng ăn cắp, túi thịt hay túi khoai, trái bơ cũng ăn trộm. Nhưng khi mình nhìn người đó thì mình không biết là họ ăn trộm, không có hiện chữ trộm trên mặt, khi nào lên báo đăng lên thì mới biết đây là kẻ trộm.
Vậy thì tham nó nằm ở đâu? Nó ngủ ngầm trong tâm, chúng sanh không thấy, chúng sanh mù lòa không thấy được mà chỉ có bậc Thánh, Thánh nhãn, mắt Thánh mới nhìn thấy được những điều mà chúng sanh không thấy, không biết, chính vì vậy nên mình học được Thánh pháp, mình mới học Thánh trí, Thánh đạo.
Như vậy chúng ta thấy, cảm giác dễ chịu là tham, cảm giác khó chịu là sân, cảm giác không dễ chịu, không khó chịu là cảm giác này rất khó nhận biết, tất cả chúng sanh đều có thể chết trong đó, ngay cả người tu, người xuất gia, đừng nói chi là tại gia đều không biết được. Vì mình nghĩ là “Giờ con đang bình thường mà, con không có la, có rầy, có cự cãi với ai đâu, con không muốn lấy đồ, muốn cái gì của người khác đâu.” Nhưng thật sự thì không phải, cảm giác đều đều trơ trơ đó, cảm giác mà không thấy được đây là cảm giác không khổ không vui, không biết được đây là cảm thọ mà cho đó là mình, là của mình, là tôi, là của tôi, tự ngã của tôi, thì đó chính là si mê. Nhưng si mê này ăn sâu ở trong máu, trong xương, trong tủy của chúng sanh nên gọi là si tùy miên, vô minh tùy miên.
Vô minh là không sáng, không thấy, không biết, si mê là tăm tối, mê muội, mê lầm. Thấy là cũng bình thường, không giận dữ ai, không yêu thích ai nhưng hiện tại là đang si, vì không biết được cảm thọ là cảm thọ, không biết được cảm thọ đó là cảm thọ gì và nhận cảm thọ đó là tôi, của tôi. Nên chúng ta mới đi vào bài Cửa vào bất tử để nhìn sâu vào giáo pháp này một cách sâu sắc trong giáo pháp. Trước nay chúng ta học phổ thông nhiều, học được nhiều kiến thức chung chung và chúng ta đi vào kiến thức này là đi vào bất cộng pháp, là thấy biết không chung cùng với phàm phu, chúng sanh. Pháp này là thượng nhân pháp, chỉ có các bậc Thánh mới thấy biết được, trí huệ mới thành tựu được, nên mình đang học pháp này là pháp bất cộng, không chung cùng với phàm phu. Chúng ta có thấy đặc biệt, hoan hỷ không, phấn khởi, tuyệt vời không? Những người không phải là đệ tử của Như Lai thì không thể nghe, không thể học, không thể thấy, biết, thực tập giáo pháp này.
Cho nên, trong lúc mình bình thường, mình không nhìn thấy được sắc uẩn này là vô thường, không nhìn thấy đây là tứ đại, không nhìn thấy đây là cảm thọ không khổ không vui mà cho là sắc thân này, cảm giác này là tôi, thì lúc đó mình đang bị si mê, vô minh, dù cho mình công nhận là mình rất thông minh nhưng mình vẫn là kẻ vô minh. Đức Thế Tôn từng nói “Người ngu nghĩ mình ngu, nhờ vậy thành có trí. Người ngu tưởng có trí, thật xứng gọi chí ngu.” Chí ngu tức là rất ngu, ngu tột cùng, mình thấy biết mình đang bị vô minh thì dần dần mình mới đi đến minh, mình thấy biết mình đang còn si ám thì dần dần mình mới đi đến chỗ trí tuệ. Mình thấy biết mình đang còn chấp ngã, còn cái tôi nhiều, mình nhiếp phục, chế ngự dần dần, bản ngã nó mới giảm xuống, dẹp xuống thì nó mới hạ xuống, gục xuống, đổ xuống, sập xuống, đầm xuống, nó mới chế ngự, nhiếp phục, đè bẹp và tan biến.
Còn nếu mình nói “Dạ thưa con không có bản ngã gì hết!” thì như vậy là mình không thấy được, không biết được, không biết mình đang vô minh thì làm sao mà mình hết vô minh, vậy nên chúng ta thấy rất quan trọng. Như vậy thì mình biết được mình đang ở trong si tùy miên là mình đang ở trong trạng thái si mê, ngủ ngầm trong tâm. Do mình thấy biết được như vậy thì mình mới phá vỡ được trạng thái bình an, an ổn, “Tôi đang khỏe khoắn, chắc chắn, giàu có lắm, khỏe mạnh, an ổn lắm, ngon lành lắm, giỏi giang lắm!” thì đó là vô minh, si mê, cũng không nhìn thấy sự thật của tứ đại, ngũ uẩn đó.
Phải biết rằng giàu có này như màn sương sớm
“Công danh cái thế màn sương sớm
Phú quý kinh nhân giấc mộng dài,
Chẳng hiểu xưa nay không một vật
Công phu luống uổng một đời ai.”
(Trích quyển Pháp Hoa Đề Cương – Thiền sư Thanh Nguyên)
Công tích và tiếng tăm trùm đời chỉ là màn sương buổi sớm, mặt trời lên sẽ tan, phú quý kinh nhân giàu có mà nghe tên người ta đã khiếp sợ, chẳng qua cũng là một giấc mộng dài. Mới ngồi trên ghế bự hay ghế lớn mà chớp mắt đã ở trong tù, từ lưng voi xuống chó, trong kinh Đức Phật còn ví dụ là xuống vực sâu, không có gì chắc chắn trên cuộc đời này, tất cả là vô thường, không hiểu được tính vô thường, vô ngã, trống rỗng xưa nay không một vật, tức là vô ngã. Công phu luống uổng một đời ai là dù có công phu tu hành bao nhiêu đi nữa mà không nhìn thấy được các pháp vô ngã, ngũ uẩn này vô thường vô ngã, khổ đau, trống rỗng, nếu không thấy được những điều đó thì có công phu, công trạng, công tích, công lao đi nữa thì cũng là luống uổng một đời ai, chỉ là uổng công, hoài công, phí công, nhọc nhằn mà không nên công cán gì nếu không thành tựu vô ngã trí.
III. Nguy hại của cảm thọ
Như vậy, chúng ta vừa điểm lại những bài mà chúng ta đã học, những căn bản và nhận diện sâu sắc hơn, nãy giờ chúng ta đã nói tên của các cảm thọ, các loại cảm thọ gì và trong cảm thọ đó có gì trong đó, nãy giờ chúng ta đã đi qua bước thứ ba.
Giờ chúng ta đi sâu sắc hơn:
“Thọ là thứ ngấm ngầm dẫn lối,
Ngấm ngầm kích họat tưởng và hành
Ngấm ngầm điều khiển cả thân tâm,
Ngấm ngầm làm chủ tâm mê muội.
Từ triệu kiếp, từ vô lượng kiếp,
Vô minh, dục, ái, tham, sân, si
Bản ngã, tánh tình và tập khí
Chúng tụ vào trong cảm thọ này.
Tất cả pháp tụ vào cảm thọ,
Thọ gọi là kho chứa của tâm
Chỗ nhận vào và chỗ cho ra,
Chỗ điều khiển thân tâm hành xử.
Thọ là chỗ âm thầm chi phối,
Sai khiến và điều khiển thân tâm,
Thúc dục và xúi giục thân tâm
Theo lệnh của dục, tham, sân, ái.
Tập nhìn kỹ vào trong cảm giác
Để nhìn ra dục, ái, tham, sân
Để nhìn ra tập khí trong mình
Để thực thấy vô minh, lậu hoặc.
Tập nhiếp phục các dòng cảm giác
Nhiếp phục lòng dục, ái, tham, sân
Nhiếp phục tâm ngã mạn, cứng đầu,
Nhiếp phục tập khí và cấu uế.”
(Trích quyển Cửa vào bất tử)
Chúng ta bắt đầu đi vào chỗ sâu sắc, phần này so với phần trước chúng ta đã học về cảm thọ thì bài này sâu sắc hơn nữa.
“Thọ là thứ ngấm ngầm dẫn lối,
Ngấm ngầm kích họat tưởng và hành
Ngấm ngầm điều khiển cả thân tâm,
Ngấm ngầm làm chủ tâm mê muội.”
Chúng ta thấy trong bốn câu thì mỗi câu đều có từ ngấm ngầm, cảm thọ này trong kinh Tăng Chi Bộ thì Đức Phật đã nói là tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ, nên trong câu trên đã lặp lại “Tất cả pháp tụ vào cảm thọ - Thọ là kho chứa của tâm!” Trước mắt chúng ta giải thích chữ ngấm ngầm, ngấm ngầm dẫn lối, ngấm ngầm kích hoạt, ngấm ngầm điều khiển và ngấm ngầm làm chủ. Bốn chữ ngấm ngần thể hiện bốn phương diện, cách thức, lề thói hoạt động của cảm thọ, cảm xúc, cảm giác trong chúng ta.
Thứ nhất là ngấm ngầm dẫn lối. Ví dụ mình nghe một câu nói làm trái ý, nghịch lòng đôi chút mà lúc đó mình không cãi lại, mình cũng không có hành động gì nhưng mình trở về nhà thì lúc đó có một cảm thọ khó chịu. Khi mình không nhận diện ngũ uẩn thì mình không biết được, mình nhận diện ngũ uẩn thì mình mới biết trong này đang có cảm thọ khó chịu, nó hơi bực bội, bức xúc nhẹ, và mình không nói ra, không có hành động gì.
Vì lý do người đó là cấp trên, người đó có quyền uy, có thế lực, tiền bạc, vị trí gì đó nhưng khi trở về, cảm thọ sanh khởi từ khi mình tiếp xúc với người đó đã đọng lại bên trong, tồn tại bên trong, sanh ra những suy nghĩ, hình bóng, từ những cảm thọ. Chữ thọ là nhận vào, từ sự tiếp xúc đó mà mình thọ nhận vào, mình nhận một cảm thọ bực bội, hờn giận, tức giận, sân hận, nặng hơn là thù hận. Khi đó nó thọ nhận vào bên trong, bắt đầu ở trong đó, nên gọi là chỗ nhận vào và cho ra, vậy mới gọi là thọ là kho chứa của tâm. Cảm thọ là kho chứa, vì nó nhận vào và cất bên trong đó, chúng ta cũng hiểu là cất vào sẽ có ngày lấy ra, đúng nhân duyên thì cảm thọ đó bốc hơi trở ra.
Nếu đúng cơ hội thì cảm thọ hờn giận, tức giận, sân hận đó sẽ phát ra, bung ra, bùng nổ ra, đó là chúng ngấm ngầm dẫn lối. Đó là chỉ nói về sân, về tham, dục cũng giống vậy. Vừa thấy qua thì đưa đến cảm thọ thích thích, mến mến, yêu thương, dễ thương, sau đó ngấm ngầm dẫn lối, sau đó xin email, số điện thoại, zalo… Sau đó tìm hiểu thêm, thọ thêm, tiếp xúc hình ảnh, âm thanh dẫn lối rồi lại đi lối tẻ, làm nhà tan cửa nát, ngoại tình, đổ vỡ, con cái khổ sở. Đó là thọ ngấm ngầm dẫn lối, khi nãy là dẫn lối của sân, giờ là dẫn lối của dục, tham dục, tham ái.
Do chất chứa cảm thọ nên cứ sanh khởi lên những hình bóng của người đó, hoặc là sân, tham, yêu, hận hay ghét, hình bóng của người đó chập chờn, do cảm thọ đó làm kích hoạt tưởng và hành, rồi nó suy nghĩ về người mà mình tưởng, giận hay người mà mình thương đó, nó kích hoạt từ cảm thọ rồi khởi động lên. Hình bóng hiện ra rồi suy nghĩ về người đó, cứ nói lầm bầm, thỏ thẻ, thì thầm, thủ thỉ, thở than, cứ nói về chuyện đó, cứ nói tới, nói lui mãi như vậy, nói hết ngày này qua tháng khác.
Chúng ta có thấy được tâm của mình đáng sợ không? Đó là bộ mặt thật của tâm mình. Ví dụ sáng nay có một Phật tử dẫn một cô bé lên, cô bé chỉ mới có hai mươi mấy tuổi. Cô này bị một trường hợp rất đặc biệt, như là có một người nam nào đó đang đi theo cô đó, rất thương cô gái đó, nếu cô này có quen với một người nam nào khác thì bỗng nhiên có chuyện này chuyện kia rồi chia lìa. Cô này cũng cảm nhận được có người khuất mặt, phần âm nào đó đi theo mãi như vậy.
Trong những lúc ngủ cô thấy được những cử chỉ, hành động của nam nữ. Thì họ hỏi Minh Thành làm sao để thoát được, Minh Thành có giải thích và có những ví dụ, có những cái tham, sân giống nhau. Chẳng hạn mình nói một câu hay làm một hành động cho người kia giận, người kia sanh khởi lên một cảm thọ tức giận nhưng người sanh khởi lên cảm thọ tức giận đó họ không tha thứ cho người làm cho mình giận thì ba ngày sau, bảy ngày sau gặp lại thì họ có còn tức giận không?
Nếu như người đó không tha thứ thì một tháng sau gặp lại người đó có còn tức giận không? Nếu vẫn không tha thứ thì một năm, ba năm sau gặp lại thì người này còn giận không? Nếu hai mươi, ba mươi năm sau không tha thứ thì người này còn giận không? Nhưng người này nói một câu “Sống để dạ, chết đem theo. Không bao giờ tôi tha thứ cho người đó!” thì người này sẽ đem cảm thọ tức giận này qua đời sau. Cảm thọ đó không mất, nó tiếp xúc và sanh lên một cảm thọ mà đó lại là cảm thọ bất thiện an trú trong tâm, chất chứa trong kho tâm, mình lưu trữ, lưu giữ trong đó, mình không muốn xả bỏ. Nên đó cũng là lý do tại sao mình có duyên nên học Xả vô lượng tâm là vì vậy, nếu mình không buông xả, buông bỏ thì rất đau khổ.
Chúng ta thấy có những người giận nhau mà tới chết cũng không tha thứ, chúng ta có từng nghe như vậy không? Nên cảm thọ này chưa hóa giải được, chưa giải phóng, giải phá, giải thoát, chưa thoát ra được cảm thọ này thì cảm thọ này sẽ đi theo mình nhiều kiếp. Chính vì vậy nên trong thế gian này rất đặc biệt, từ cảm thọ này sẽ giải mã hết những bí mật trên thế giới, nhân loại này.
Ví dụ như có những người mới gặp lần đầu đã nhìn mặt thấy ghét, làm cho tức giận, sân hận, oan gia ngõ hẹp, đó chính là “mối cũ”, là oan gia trái chủ của đời trước gặp lại, vừa gặp đã không ưa ngay. Dù chưa nói gì hết nhưng thấy mặt đã thấy ghét. Đó là do thọ của đời trước còn nên giờ gặp thì nhận ra “Chính hắn!”
Ví dụ khác, như có những người mình mới vừa gặp thôi đã thấy “Thương quá, dễ thương quá! Thôi mình làm chị em kết nghĩa, anh em kết nghĩa nha!” Chúng ta thấy đó là thọ trong đời, kiếp trước. Giờ cô này cũng vậy, người mất đó không có được phước báu để sanh làm người, họ rơi vào loài ngạ quỷ, cô hồn, nhưng tâm tham ái, ái luyến đó họ chưa thoát ra được.
Nên Minh Thành mới khuyên người Phật tử đó phải học cách trải tâm từ và sám hối cảnh oan gia trái chủ, bằng sự xin lỗi, kêu gọi người ta tha thứ, buông xả và làm những chuyện phước lành, hồi hướng, phước báu cho người đó nhận được. Quan trọng nhất là khuyên bảo, xin lỗi, mong người đó tháo gỡ tâm luyến ái, ràng buộc đó, chừng nào người đó mở cảm thọ đó ra, thoát ra khỏi cảm thọ ràng buộc, luyến ái đó thì cô này sẽ hết.
Mấu chốt của vấn đề đó là ở trong cảm thọ, chúng ta thấy việc này rất sâu sắc, không phải chỉ ở nhãn tiền trước mắt, không chỉ năm năm, ba năm sau mà nó sẽ theo mình suốt những thập kỉ, nhiều thập kỉ, cả cuộc đời, kiếp sau, trăm kiếp ngàn kiếp, vô lượng, vô biên kiếp. Mình chất chứa trong cảm thọ này rất khủng khiếp những dục, tham, ái, sân hận, bản ngã. Nên chúng ta thấy, ai chạm tới một lần, dù là tụng kinh, gõ mõ, đi chùa đều đặn nhưng chỉ cần chạm tới một cái là tam bành lục tạch nổi lên, phùng mang, trợn mắt, vì cảm thọ của mình chất chứa những thứ bức bối, bực bội, gay góc, cộc cằn, bức xúc, sân hận, nhiệt não, nóng bức. Chất chứa trong đó nhiều đời nhiều kiếp.
Vậy nên những buổi đầu mình nên tu tập tâm hiền là vì vậy, để làm cho cảm thọ hung hăn, hung dữ, hung bạo, lắng lắng, dịu dịu xuống thì mình mới giảm bớt tạo những ác nghiệp mà dẫn mình đi vào trong địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Bên trong chúng ta là những cảm thọ hết sức động loạn, thậm chí là nổi loạn. Như trên các mặt báo hằng ngày có bao nhiêu tin tức đều là động loạn, nổi loạn, chỉ tích tắc là đọa vào địa ngục, chung thân, tử hình hay hai mươi năm tù.
Chỉ cần nghe tiếng hát karaoke thôi thì đã lấy dao ra xử nhau, chỉ vì một ánh nhìn thôi mà cho là “Ngươi nhìn đểu ta?” là đâm nhau chết, có khủng khiếp không? Chứng tỏ bên trong là chất chứa những cảm thọ sân hận, thù hận, mà không phải tự nhiên mình chỉ nhìn ánh mắt thôi mà đã giết người ta? Mà đó là những đời kiếp oan gia trái chủ chất chứa trong đó, khi nhìn thôi là đã làm chín mùi ác nghiệp, hỏa dị thục của nghiệp ác đó. Nó đã chất chứa các cảm thọ trong nhiều đời, nhiều kiếp trước, thì đến lúc đó là chỉ một ánh nhìn làm chín mùi quả dị thục của ác nghiệp, sau đó giết nhau chết.
Trong lúc dừng lại của đèn xanh, đèn đỏ, nghe người ta nhắc là đèn đỏ sao lại chạy thì nó quay trở lại đâm người ta chết, chỉ là một câu nhắc. Hoặc giờ thì nhắc đeo khẩu trang nhưng lại lấy súng bắn làm chết người, ba bốn người bị thương. Nên chúng ta phải tu cảm thọ này, phải nhìn thấy, biết cảm thọ này nếu không là chúng ta bị nó ngấm ngầm dẫn lối, ngấm ngầm kích hoạt, bị nó ngấm ngầm điều khiển, bị nó ngấm ngầm làm chủ tâm mê muội mà chúng ta không biết gì hết. Nên chúng ta bị vô minh, chúng ta phải tập ngồi thiền, thực tập cảm giác toàn thân, tập nhìn nhận lại các cảm thọ, cảm xúc của mình, tập quán chiếu những dòng cảm xúc sân hận, ham muốn, hơn thua, tranh giành, tranh đấu.
Phải nhiếp phục, chế ngự, tẩy sạch nó thì mình mới hết khổ, nếu không thì chúng ta đổ thừa. Có chuyện gì ra thì chúng ta đổ thừa cho thiên hạ, tại ông bà, tại cô kia, tại cậu kia, tại chú kia… Mà mình không biết rằng, thủ phạm thật sự là cảm thọ trong mình. Vậy nên nhất thiết là phải quay về chính mình, đó mới là bậc trí, còn nếu có chuyện gì xảy ra thì mình lại đổ thừa người ta, đó là phàm phu, si mê, ngu muội, dại khờ, không nhìn thấy được bản chất của sự thật, mãi mãi, vĩnh viễn đau khổ mãi.
Chính ta làm ta khổ, mà chẳng biết vì sao, mà ta cứ hỏi tại sao ta khổ, mà không biết chính ta làm cho ta khổ mà ta cứ hỏi tại sao. Chính những cảm giác, suy nghĩ, tư tưởng của chúng ta dẫn dắt, ngấm ngầm dẫn lối, kích hoạt, làm chủ, làm cho chúng ta chạy theo tham, sân si, bản ngã. Cảm thọ là tác giả, đạo diễn, tổng đạo diễn của toàn bộ địa cầu này, của toàn bộ trái đất, hành tinh này mà chúng sanh phàm phu, vô minh, si ám, không thấy biết mà chỉ có bậc Chánh Đẳng Chánh Giác mới thấy biết, mới nhìn ra được bằng Thánh nhãn, mắt của bậc Thánh, thượng nhân pháp,Thánh trí mới chỉ cho chúng ta thấy được.
Vậy nên chúng ta cố gắng dành thời gian thực tập, nhận diện các cảm thọ, không phải chỉ lúc ngồi thiền mà bất cứ mọi lúc mọi nơi phải nhìn ngó quán chiếu, để tâm để ý, nhìn các cảm thọ là các cảm thọ gì, trong đó đang vận hành như thế nào, có gì bên trong, nếu nó là ác bất thiện pháp, tham, sân, si, bản ngã thì tẩy sạch, nếu nó là thiện pháp thì phải tăng trưởng, phát triển, làm cho nó quảng đại, lớn mạnh.
Như vậy thì hôm nay chúng ta chỉ vừa đi vào chưa được một nửa phần tập nhận rõ các cảm giác. Buổi sau chúng ta sẽ đào sâu hơn về tính chất cấu trúc, vận hành, guồng máy, hệ điều hành, của thọ uẩn. Chúng ta sẽ đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác, sốc toàn tập, vì trước nay chúng ta không thể tưởng tượng được rằng chính cảm thọ này là thủ phạm thật sự của hành tinh, thế giới, là tất cả của tất cả thống khổ trên trái đất này.
Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả
Đệ tử và chúng sanh
Đều trọn thành Phật đạo.
…
Đại chúng chúng ta đọc tụng bài này có để ý chỗ này không? Đã đọc bao nhiêu lần? Chúng ta phải để ý chữ ngấm ngầm. Ngấm ngầm dẫn lối, “thọ là thứ ngấm ngầm dẫn lối”, ví dụ như khi mình buông lung phóng dật thì nó cũng là ngấm ngầm mà mình không biết, nó dẫn mình không biết, vì mình không nhìn ra là không biết. Khi xuống núi có dẫn không hay là không biết luôn? Hoặc là biết mà cũng chịu thua?
Ngấm ngầm kích hoạt tưởng và hành, vì các thâm sâu này có những Phật tử không hiểu nổi. Vì có cơ duyên chúng ta chia sẻ, ngấm ngầm kích hoạt tưởng và hành. Chúng ta thấy một người đã chết mà vì tâm luyến ái đối với cô gái đó không mất, trở thành cô hồn đi theo người con gái đó và cô này không đi ra ngoài tiếp xúc với ai mà chỉ ở trong nhà mấy năm trời, phải quen với người nào là có chuyện hay đổ vỡ, không cho quen với ai mà phá.
Chúng ta thấy thọ đó làm cho mình, chúng sanh rơi vào cô hồn, ngạ quỷ, nếu người đó có đủ phước, được đầu thai làm người thì chắc chắn người đó sẽ tìm gặp người này, còn giờ thì không có đủ phước để đầu thai làm người thì mình rơi vào ngạ quỷ, cô hồn. Chúng ta thấy ngấm ngầm điều khiển cả thân tâm, tất cả hằng ngày của mình đi đứng, nói, cười, làm việc đều là thọ điều khiển hết. “Vì sao mình muốn cho nó như vậy mà nó không chịu nghe lời mình?” Đó là vì mình không thấy được cảm thọ, hoặc là mình thấy nó mà thấy không kĩ, thấy không rõ, thấy không sâu sắc hoặc là thấy mà mình đã bỏ qua. Nhưng thực tế là cảm thọ đều điều khiển tất cả. Từng ánh mắt, từng bước đi của mình, từng cách nói chuyện, từng khẩu khí của mình đều là cảm thọ hết.
Vì nó điều khiển, dẫn lối, kích hoạt, làm chủ. Chúng ta thấy các thọ của Đức Thế Tôn, dù người ta đứng trước mặt chửi hay sau lưng chửi thì Ngài vẫn đi bình thản như vậy, thọ của Ngài là tịch tịnh, hoàn toàn an tịnh, lắng dịu, Ngài hoàn toàn làm chủ cảm thọ, Ngài muốn cho khởi cái gì thì mới khởi cái đó. Ngài muốn im lặng là lắng lặng còn mình thì khác, mình bị dẫn lối, bị điều khiển mà mình lại không cố gắng, không nỗ lực, mình lại sống trong si mê, trong khổ, bất lạc thọ, mình hài lòng, tự mãn trong đó. Mình không muốn cầu tiến, không muốn hướng thượng mà khi nói mình vô minh lại không chịu, cứ sống trong các si ám, mù lòa như vậy.
Vậy nên trong tâm mình những tưởng và hành, hình bóng, suy nghĩ đều là do thọ ngấm ngầm kích hoạt. Đó là tại sao mà mình phải tu thiền quán và mình tác ý nhiều, để cho mình rung chuyển cảm thọ, làm cho cảm thọ thâm căn, cố đế bên trong bị lung lay, từ từ mình mới đào gốc, móc rễ. Mỗi một lần mình nghe pháp, mình thiền quán, tác ý như vậy là mình làm cho chấp thủ, thọ thủ uẩn rung chuyển, chấn động, rung chấn, chấn cảm để cho sự nắm chặt vào trong cảm thọ của tôi, tôi, là tự ngã của tôi bị rung rinh, rung chuyển, rung chấn, nứt nẻ ra, từ từ cho nó đi tới chỗ đổ vỡ, tan nát ra. Nếu không thì bên trong kích hoạt để tưởng với hành khởi lên, những hình bóng của tham sân, của dục ái, bản ngã, suy nghĩ của bản ngã sanh khởi được là do thọ này ngấm ngầm kích hoạt, ngấm ngầm điều khiển cả thân tâm, nó như bộ tư lệnh, bộ chỉ huy điều khiển mình. Nên nhiều khi mình sám hối là mình bắt không kịp nó hoặc là thấy nó thì cũng cho qua, sống với thói quen, sống với tập khí của Phật, sống với tính tình của hạ liệt, không chịu chỉ mặt, dằn mặt nó. Không chịu hạ gục thẳng tay để diệt tận nó, nên bị nó điều khiển lại, ngấm ngầm làm chủ tâm mê muội.
Lúc trước mình từng học sách thiền có học từ “chủ nhân ông” thì mình cũng thích, nhưng giờ mình học đây thì mình mới thấy thật sự chủ nhân ông là cảm thọ của mình, ngấm ngầm làm chủ tâm mê muội đó. Tâm mê làm tổ, làm ổ trong năm uẩn, mà sở dĩ nó làm ổ, làm tổ mà gốc rễ của nó phía dưới là thọ ngấm ngầm này.
“Từ triệu kiếp, từ vô lượng kiếp,
Vô minh, dục, ái, tham, sân, si
Bản ngã, tánh tình và tập khí
Chúng tụ vào trong cảm thọ này.”
(Trích quyển Cửa Vào Bất Tử)
Bản ngã là thọ, tánh tình là quân tập nó quen, cảm xúc, cảm giác, cảm thọ đó nên quen như vậy, thành tánh tình. “Tánh tôi hay nóng, đừng đụng tới tôi!” là thọ, là tánh người đó nhẹ nhàng, từ tốn là thọ mà tánh người đó thô bạo, ăn nói cộc cằn, làm đâu đổ bể đó cũng là thọ. Là do nó quân tập, thọ thô bạo, thô động, loạn động nên đã quen, đi đến đâu phải động loạn nó mới chịu, yên tịnh không chịu, nó thấy khó chịu, bức xúc lắm, nó muốn phải động loạn, muốn phải ồn ào lên như vậy.
Hơi hám của nó bốc mùi ra, quân tập “Chúng tụ vào trong cảm thọ này”, “Từ triệu kiếp, từ vô lượng kiếp” vô minh đó cũng là tu tập trong cảm thọ, không muốn thấy, không muốn biết hay tìm hiểu, chỉ thấy “Thôi mệt, đơn giản thôi! Một câu hai câu thôi. Đừng học nhiều, đừng tu nhiều quá, tu nhiều quá cẩn thận, bệnh đó!” Hay thậm chí nói những câu làm cho người ta sợ “Tu nhiều quá coi chừng…” đó là vô minh, là tâm ngu si, tham ái, nó không cho mình tu, tăng thượng, tinh cần, tinh tấn.
Hôm nay chúng ta chia sẻ tới đây thôi, tự nhiên sinh ra cảm giác làm tuôn trào nước mắt.
Tâm thương này trải rộng
Cùng khắp thế giới này,
Tâm thương này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la.
Thích Minh Thành
Ngày tháng năm 2021
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Nhận diện thọ uẩn PAGEREF _Toc95636454 \h 1
II. Nơi cư ngụ của tham – sân - si PAGEREF _Toc95636455 \h 5
III. Nguy hại của cảm thọ PAGEREF _Toc95636456 \h 8
I. Nhận diện thọ uẩn
Kính bạch chư tôn đức, kính thưa tất cả bậc hiền trí, tăng, ni và quý Phật tử.
Hôm nay chúng ta tiếp tục chia sẻ về chủ đề cửa vào bất tử, chúng ta đang tìm hiểu về bốn loại thức ăn. Loại thức ăn thứ nhất là nuôi dưỡng thân tứ đại, ba loại thức ăn còn lại là sự tiếp xúc, nhớ nghĩ, nhận thức rõ biết là loại thức ăn nuôi dưỡng tâm mê. Mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi, lưỡi nếm, thân đụng chạm, ý rõ biết những cảm giác, hình bóng trong tâm, những suy nghĩ.
Sáu sự tiếp xúc này cùng với sự nhớ nghĩ sau khi tiếp xúc thì những hình bóng âm thanh, mùi vị còn lưu lại trong tâm của mình. Những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ đó, chúng ta nhớ nghĩ về điều đó, ưa thích, khoan khoái, nắm giữ, chấp thủ vào trong đó, trong sự nhận thức đó, chúng ta không có nhìn thấy ra được nào là sắc, thọ, tưởng, hành, thức, rồi chúng ta dồn chung nó lại thành một cái gọi là tôi, của tôi. Trong ảo tưởng đó, trong suy nghĩ lầm lạc, sai lầm đó, nó trở thành thức ăn nuôi dưỡng cho những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ, nhận thức, trở thành những chất nuôi dưỡng cho tâm mê.
Những nhớ nghĩ, nhận thức, sự tiếp xúc khi nhìn thấy và khi về nhớ lại hình bóng đó. Mình nhận thức và biết được hình bóng đó, và hình bóng, sự việc đó, cảnh, vật đó, món đồ, con người đó mình thấy mình thích thú trong hình bóng, trong tưởng đó làm mình yêu thích, thấy dễ thương hoặc thấy dễ ghét, thấy thích hay không thích, muốn hay không muốn, ưa hay không ưa, tham hay sân, yêu hay ghét, vừa lòng hay không vừa lòng. Mình nghe âm thanh đó mình nghe là dễ chịu hay khó chịu, dễ thương hay khó thương, thương hay ghét, mình nhớ nghĩ về âm thanh đó. Nếu âm thanh đó là khả ái, là dễ thương thì mình khoái, mình thích, mình muốn, mình muốn được tiếp xúc lại với âm thanh đó, mình muốn được tiếp xúc lại với hình sắc đó, mình muốn tiếp xúc lại với mùi, vị, món ăn đó, hương vị đó, đụng chạm đó.
Chính từ sự tiếp xúc đó, thấy nghe, ngửi nếm, xúc chạm, nhận thức thọ, tưởng, hành bên trong mà mình nhớ nghĩ, ưa thích, mình muốn nó có nữa hay kháng cự, chống đối, chấm dứt, từ bỏ, đối với dễ thương thì mình sẽ nhớ nhớ, thích thích, khoái khoái, mong mong, muốn muốn, đợi đợi, chờ chờ, ước ao, khát khao, hy vọng. Đối với cái ghét thì mình bực tức, chống cự, chống đối, muốn hủy diệt nó thì những cái ưa thích, chống đối đó hay những cái thường thường thôi cũng thấy hình bóng đó, nghe âm thanh đó, mùi vị đó thì thấy cũng thường thường, không có gì.
Ba cảm thọ chút chúng ta đi qua tới phần thọ sẽ rõ những cảm giác thương, ghét, không thương không ghét và mình đồng hóa cảm giác đó là tôi, của tôi, là tự ngã của tôi thì cái đó trở thành thức ăn nuôi dưỡng tâm mê. Có dịp chúng ta đọc qua bài Cảnh giác:
“Tập thấy biết rõ về Cảm giác
Cảm giác thân và cảm giác tâm,
Dễ chịu, khó chịu, không khó dễ
Tập nhận ra các loại thọ này.
Cảm giác dễ chịu là Lạc thọ.
Cảm giác khó chịu là Khổ thọ.
Cảm giác không dễ chịu, khó chịu
Đó là Không khổ, không lạc thọ.”
Những bài trước chúng ta đã tập nhận diện về sắc uẩn, sắc pháp, sắc thân, hôm nay chúng ta bắt đầu bước qua tập nhận diện các cảm thọ. Tổ hợp thứ hai, uẩn thứ hai là thọ uẩn, tổ hợp của những cảm giác. Trong những cảm giác này thì Đức Thế Tôn phân làm ba loại: cảm giác dễ chịu, cảm giác khó chịu, cảm giác không dễ chịu không khó chịu. Tất cả cảm giác của mình chỉ gom trong ba loại này, đây là nói gọn. Cảm giác dễ chịu thì danh từ trong kinh gọi là lạc thọ, cảm giác khó chịu gọi là khổ thọ, cảm giác không dễ chịu, không khó chịu gọi là bất khổ bất lạc thọ.
Mình phải tập thấy biết và rõ ba loại cảm giác này, cảm giác thân và cảm giác tâm, phải thực tập mới thấy vì không thực tập thì chúng ta không biết được, cảm giác của thân khác với cảm giác của tâm.
Ví dụ mình muốn đi lên Linh Quy Pháp Ấn để ngắm biển mây, đi đường xa hai ba trăm, năm trăm cây số mà mình đi sáng đêm từ Kiên Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau lên đây, phải ngủ gà ngủ gật nhưng khi bước chân lên Linh Quy Pháp Ấn thì lúc xuống xe, mặt mày mình ra sao? Vui vẻ, thích thú, phấn khởi, hân hoan thì khi đó, cảm giác của thân, cảm thọ của thân dù mệt, khó chịu nhưng cảm thọ của tâm thì dễ chịu. Vì vậy chúng ta phải phân biệt được hai loại cảm thọ, cảm giác đó của thân khác với của tâm.
Nên tuy là thân mệt mỏi, buồn ngủ nhưng tâm lại hân hoan, phấn khởi, nhất là khi mình bước lên được cổng trời thì khi thấy được mặt trời lên, mây bồng bềnh, chim hót líu lo, sương giăng, những âm thanh của phong linh du dương, trầm bổng, thanh thoát hiện ra trước mắt mình lúc đó tất cả những mệt mỏi, buồn ngủ, mỏi chân vì phải leo từ dưới lên đều sẽ tan biến. Có khi thân rất buồn ngủ khi xong mình xuống nằm thì mình thấy khò khò, nằm như chết nhưng tâm mình lại vui. Vì vậy, chúng ta phải phân biệt được hai loại cảm thọ, cảm giác thân khác và tâm khác.
Hoặc khi được người ta cho đồ ăn, cho tiền thì vui không? Nhưng khi nói nặng, nói nhẹ, nói trên đầu, trên cổ, khi ăn miệng thì thấy ngon nhưng trong tâm lại khổ, nên cảm thọ thân là vui nhưng cảm thọ tâm là khổ. Nguyên một bàn gồm mười mấy, hai mươi món được ăn, hoặc được cho tiền nhưng lại nói dằn mâm xắn chén, nói trên đầu trên cổ. Như vậy thì cảm giác của thân sướng vui nhưng cảm giác của tâm khổ. Chúng ta phải phân biệt được như vậy.
Ví dụ khác, đối với người thích nấu ăn, ham nấu ăn cho người ta ăn, thích như vậy nhưng có khi nấu từ sáng đến tối đến khuya, ngày hôm sau cúng dỗ. Mệt như vậy nhưng khi bưng lên một mâm mời hòa thượng, hay các thầy, sư cô khen “Ngon quá. Cô nấu khéo quá!” Thì cảm thọ thân rất mệt, buồn ngủ, nhưng tâm vui, thích, khoái.
Qua đó chúng ta biết được cảm thọ thân có thể bị cảm thọ tâm lấn át, xâm chiếm, hai cái này có thể bị tác động lẫn nhau. Ví dụ như đang có bạn bè ăn chơi, nhậu nhẹt, cười nói, hát hò nhưng hay tin “Em ruột của anh bị nhiễm covid rồi!” thì có thể đứng không vững nữa, không hát nổi nữa, thậm chí là sụm xuống. Hoặc nghe tin khác dữ hơn, gặp tai nạn chẳng hạn thì lúc đó có thể té xỉu.
Ví như có một sự việc đau lòng, là người mẹ đưa đứa con đi làm, khi đi tới chỗ làm thì đậu xe bên ngoài đường có một chiếc xe tải lớn, khi tới chỗ thì bà mẹ dừng để đứa con xuống, khi xuống rồi thì đứa con băng qua đường, vì chiếc xe tải áng phía trước mặt nên đứa con không biết, chỉ thấy là tới rồi nên đi qua thôi, không nhìn kĩ. Nên vừa bước qua khỏi chiếc xe tải thì một chiếc xe tải chạy tới, đụng phải đứa con, bà mẹ nhìn thấy mà té xỉu ngay tại chỗ. Chính người mẹ chứng kiến cảnh người con chết ngay trước mắt mình mà tan xương thịt nát nên người mẹ té xỉu ngay tại chỗ.
Như vậy, cảm thọ của tâm đã hoàn toàn xâm chiếm toàn bộ cơ thể của thân và làm cho thân đổ sập xuống, bất tỉnh. Vậy nên chúng ta thấy được việc này để biết rằng cảm thọ hết sức quan trọng trong thân tâm chúng ta, mà lâu nay chúng ta đã bỏ quên, lãng quên, để quên, quên hẵng, quên lững, quên lãng.
Bây giờ chúng ta bắt đầu thực tập, thứ nhất là phải biết được tên tuổi của cảm thọ, thứ hai là phải biết loại của cảm thọ là gì, loại nào, thứ ba là phải biết được ở trong loại cảm thọ đó có gì bên trong đó, thứ tư là có những cách nhiếp phục, chế ngự, làm cho cảm thọ an tịnh, lắng dịu.
Như vậy, thứ nhất là chúng ta đã biết được tên gọi: cảm thọ dễ chịu, cảm thọ khó chịu, cảm thọ không dễ chịu không khó chịu, đó là tên gọi. Sau đó chúng ta phân biệt được cảm thọ thân khác và cảm thọ tâm khác. Minh Thành đã đi thật chậm, thật kĩ, để quý vị nắm thật vững, đây là cốt lõi pháp hành của kinh tạng Nikāya, là tinh túy, tinh hoa Phật trí, tinh hoa của trí tuệ Phật, đây là tri kiến Phật, đây là thấy biết của Đức Phật chứng ngộ, trình bày lại cho chúng ta.
Nên sự tu tập sau khi mình đã thấy đã biết căn bản, đang nói về thấy biết kiến thức, học hỏi thôi, cần phải thấy biết bằng trí tuệ thì mình phải có thời gian thực tập lâu dài, thường xuyên và liên tục.
II. Nơi cư ngụ của tham – sân - si
Giờ chúng ta bắt đầu thực tập thấy biết về cảm thọ của mình, cảm giác của mình. Như những bài trước quán chiếu về cảm thọ, đó là trong cảm giác dễ chịu thì có tham trong đó, có thích, có khoái, có muốn, có dục ái trong đó, trong cảm giác khó chịu thì luôn luôn có cảm giác bực bội, sân hận, tức giận trong đó, trong kinh gọi là tham tùy miên, sân tùy miên, tùy là đi theo, miên là sự ngủ ngầm. Nên mình ngồi đó thấy nhưng nói “Con không có sân đâu thầy, con đang ngồi đây mặt này tươi rói, con tươi tắn, tươi xinh, tươi trẻ, con đâu có sân đâu.” Nhưng chạm vào đi rồi biết!” Vậy nên mới biết cảm thọ sân hận này là một thứ phiền não, ngủ ngầm, nếu chọc nó thì nó thức dậy, chạm tới, đụng tới nó thì nó bùng lên, cháy lên, phựt lên, nó đốt nhà, giết người. Đó gọi là những cảm thọ sân hận, ngủ ngầm trong tâm của chúng sanh.
Chúng ta nên nhớ kĩ, nhìn thấy như vậy nhưng không an ổn, nhìn thấy rất hiền nhưng gặp chuyện thì tam bành lục tạch nổi lên, phùng mang, trợn mắt, có thể làm ra bất cứ chuyện gì mà chúng ta không thể tưởng tượng được. Chính vì vậy mới nói là cảm thọ sân hận nó ngủ ngầm trong tâm, nó đi theo mình một cách miên man, mình ở đâu thì nó đi theo đó, như là bóng với hình, mình đoạn tận được nó là mình vào Thánh quả.
Cảm thọ dễ chịu, khoan khoái, thích thú, êm ái, sung sướng thì lúc nào cũng có tham ái ngủ ngầm bên trong. Giờ thì thấy ngồi bình thường bên trong không thấy gì nhưng đụng chuyện bên trong là tham, có khi đồ của người ta mà lấy. Hay thậm chí như chúng ta thấy, trộm cướp đầy rẫy, không có gì mà họ từ bỏ, từ cây bông giấy đến tấm sắt để lót trước cửa nhà để dẫn xe vô cũng ăn cắp, túi thịt hay túi khoai, trái bơ cũng ăn trộm. Nhưng khi mình nhìn người đó thì mình không biết là họ ăn trộm, không có hiện chữ trộm trên mặt, khi nào lên báo đăng lên thì mới biết đây là kẻ trộm.
Vậy thì tham nó nằm ở đâu? Nó ngủ ngầm trong tâm, chúng sanh không thấy, chúng sanh mù lòa không thấy được mà chỉ có bậc Thánh, Thánh nhãn, mắt Thánh mới nhìn thấy được những điều mà chúng sanh không thấy, không biết, chính vì vậy nên mình học được Thánh pháp, mình mới học Thánh trí, Thánh đạo.
Như vậy chúng ta thấy, cảm giác dễ chịu là tham, cảm giác khó chịu là sân, cảm giác không dễ chịu, không khó chịu là cảm giác này rất khó nhận biết, tất cả chúng sanh đều có thể chết trong đó, ngay cả người tu, người xuất gia, đừng nói chi là tại gia đều không biết được. Vì mình nghĩ là “Giờ con đang bình thường mà, con không có la, có rầy, có cự cãi với ai đâu, con không muốn lấy đồ, muốn cái gì của người khác đâu.” Nhưng thật sự thì không phải, cảm giác đều đều trơ trơ đó, cảm giác mà không thấy được đây là cảm giác không khổ không vui, không biết được đây là cảm thọ mà cho đó là mình, là của mình, là tôi, là của tôi, tự ngã của tôi, thì đó chính là si mê. Nhưng si mê này ăn sâu ở trong máu, trong xương, trong tủy của chúng sanh nên gọi là si tùy miên, vô minh tùy miên.
Vô minh là không sáng, không thấy, không biết, si mê là tăm tối, mê muội, mê lầm. Thấy là cũng bình thường, không giận dữ ai, không yêu thích ai nhưng hiện tại là đang si, vì không biết được cảm thọ là cảm thọ, không biết được cảm thọ đó là cảm thọ gì và nhận cảm thọ đó là tôi, của tôi. Nên chúng ta mới đi vào bài Cửa vào bất tử để nhìn sâu vào giáo pháp này một cách sâu sắc trong giáo pháp. Trước nay chúng ta học phổ thông nhiều, học được nhiều kiến thức chung chung và chúng ta đi vào kiến thức này là đi vào bất cộng pháp, là thấy biết không chung cùng với phàm phu, chúng sanh. Pháp này là thượng nhân pháp, chỉ có các bậc Thánh mới thấy biết được, trí huệ mới thành tựu được, nên mình đang học pháp này là pháp bất cộng, không chung cùng với phàm phu. Chúng ta có thấy đặc biệt, hoan hỷ không, phấn khởi, tuyệt vời không? Những người không phải là đệ tử của Như Lai thì không thể nghe, không thể học, không thể thấy, biết, thực tập giáo pháp này.
Cho nên, trong lúc mình bình thường, mình không nhìn thấy được sắc uẩn này là vô thường, không nhìn thấy đây là tứ đại, không nhìn thấy đây là cảm thọ không khổ không vui mà cho là sắc thân này, cảm giác này là tôi, thì lúc đó mình đang bị si mê, vô minh, dù cho mình công nhận là mình rất thông minh nhưng mình vẫn là kẻ vô minh. Đức Thế Tôn từng nói “Người ngu nghĩ mình ngu, nhờ vậy thành có trí. Người ngu tưởng có trí, thật xứng gọi chí ngu.” Chí ngu tức là rất ngu, ngu tột cùng, mình thấy biết mình đang bị vô minh thì dần dần mình mới đi đến minh, mình thấy biết mình đang còn si ám thì dần dần mình mới đi đến chỗ trí tuệ. Mình thấy biết mình đang còn chấp ngã, còn cái tôi nhiều, mình nhiếp phục, chế ngự dần dần, bản ngã nó mới giảm xuống, dẹp xuống thì nó mới hạ xuống, gục xuống, đổ xuống, sập xuống, đầm xuống, nó mới chế ngự, nhiếp phục, đè bẹp và tan biến.
Còn nếu mình nói “Dạ thưa con không có bản ngã gì hết!” thì như vậy là mình không thấy được, không biết được, không biết mình đang vô minh thì làm sao mà mình hết vô minh, vậy nên chúng ta thấy rất quan trọng. Như vậy thì mình biết được mình đang ở trong si tùy miên là mình đang ở trong trạng thái si mê, ngủ ngầm trong tâm. Do mình thấy biết được như vậy thì mình mới phá vỡ được trạng thái bình an, an ổn, “Tôi đang khỏe khoắn, chắc chắn, giàu có lắm, khỏe mạnh, an ổn lắm, ngon lành lắm, giỏi giang lắm!” thì đó là vô minh, si mê, cũng không nhìn thấy sự thật của tứ đại, ngũ uẩn đó.
Phải biết rằng giàu có này như màn sương sớm
“Công danh cái thế màn sương sớm
Phú quý kinh nhân giấc mộng dài,
Chẳng hiểu xưa nay không một vật
Công phu luống uổng một đời ai.”
(Trích quyển Pháp Hoa Đề Cương – Thiền sư Thanh Nguyên)
Công tích và tiếng tăm trùm đời chỉ là màn sương buổi sớm, mặt trời lên sẽ tan, phú quý kinh nhân giàu có mà nghe tên người ta đã khiếp sợ, chẳng qua cũng là một giấc mộng dài. Mới ngồi trên ghế bự hay ghế lớn mà chớp mắt đã ở trong tù, từ lưng voi xuống chó, trong kinh Đức Phật còn ví dụ là xuống vực sâu, không có gì chắc chắn trên cuộc đời này, tất cả là vô thường, không hiểu được tính vô thường, vô ngã, trống rỗng xưa nay không một vật, tức là vô ngã. Công phu luống uổng một đời ai là dù có công phu tu hành bao nhiêu đi nữa mà không nhìn thấy được các pháp vô ngã, ngũ uẩn này vô thường vô ngã, khổ đau, trống rỗng, nếu không thấy được những điều đó thì có công phu, công trạng, công tích, công lao đi nữa thì cũng là luống uổng một đời ai, chỉ là uổng công, hoài công, phí công, nhọc nhằn mà không nên công cán gì nếu không thành tựu vô ngã trí.
III. Nguy hại của cảm thọ
Như vậy, chúng ta vừa điểm lại những bài mà chúng ta đã học, những căn bản và nhận diện sâu sắc hơn, nãy giờ chúng ta đã nói tên của các cảm thọ, các loại cảm thọ gì và trong cảm thọ đó có gì trong đó, nãy giờ chúng ta đã đi qua bước thứ ba.
Giờ chúng ta đi sâu sắc hơn:
“Thọ là thứ ngấm ngầm dẫn lối,
Ngấm ngầm kích họat tưởng và hành
Ngấm ngầm điều khiển cả thân tâm,
Ngấm ngầm làm chủ tâm mê muội.
Từ triệu kiếp, từ vô lượng kiếp,
Vô minh, dục, ái, tham, sân, si
Bản ngã, tánh tình và tập khí
Chúng tụ vào trong cảm thọ này.
Tất cả pháp tụ vào cảm thọ,
Thọ gọi là kho chứa của tâm
Chỗ nhận vào và chỗ cho ra,
Chỗ điều khiển thân tâm hành xử.
Thọ là chỗ âm thầm chi phối,
Sai khiến và điều khiển thân tâm,
Thúc dục và xúi giục thân tâm
Theo lệnh của dục, tham, sân, ái.
Tập nhìn kỹ vào trong cảm giác
Để nhìn ra dục, ái, tham, sân
Để nhìn ra tập khí trong mình
Để thực thấy vô minh, lậu hoặc.
Tập nhiếp phục các dòng cảm giác
Nhiếp phục lòng dục, ái, tham, sân
Nhiếp phục tâm ngã mạn, cứng đầu,
Nhiếp phục tập khí và cấu uế.”
(Trích quyển Cửa vào bất tử)
Chúng ta bắt đầu đi vào chỗ sâu sắc, phần này so với phần trước chúng ta đã học về cảm thọ thì bài này sâu sắc hơn nữa.
“Thọ là thứ ngấm ngầm dẫn lối,
Ngấm ngầm kích họat tưởng và hành
Ngấm ngầm điều khiển cả thân tâm,
Ngấm ngầm làm chủ tâm mê muội.”
Chúng ta thấy trong bốn câu thì mỗi câu đều có từ ngấm ngầm, cảm thọ này trong kinh Tăng Chi Bộ thì Đức Phật đã nói là tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ, nên trong câu trên đã lặp lại “Tất cả pháp tụ vào cảm thọ - Thọ là kho chứa của tâm!” Trước mắt chúng ta giải thích chữ ngấm ngầm, ngấm ngầm dẫn lối, ngấm ngầm kích hoạt, ngấm ngầm điều khiển và ngấm ngầm làm chủ. Bốn chữ ngấm ngần thể hiện bốn phương diện, cách thức, lề thói hoạt động của cảm thọ, cảm xúc, cảm giác trong chúng ta.
Thứ nhất là ngấm ngầm dẫn lối. Ví dụ mình nghe một câu nói làm trái ý, nghịch lòng đôi chút mà lúc đó mình không cãi lại, mình cũng không có hành động gì nhưng mình trở về nhà thì lúc đó có một cảm thọ khó chịu. Khi mình không nhận diện ngũ uẩn thì mình không biết được, mình nhận diện ngũ uẩn thì mình mới biết trong này đang có cảm thọ khó chịu, nó hơi bực bội, bức xúc nhẹ, và mình không nói ra, không có hành động gì.
Vì lý do người đó là cấp trên, người đó có quyền uy, có thế lực, tiền bạc, vị trí gì đó nhưng khi trở về, cảm thọ sanh khởi từ khi mình tiếp xúc với người đó đã đọng lại bên trong, tồn tại bên trong, sanh ra những suy nghĩ, hình bóng, từ những cảm thọ. Chữ thọ là nhận vào, từ sự tiếp xúc đó mà mình thọ nhận vào, mình nhận một cảm thọ bực bội, hờn giận, tức giận, sân hận, nặng hơn là thù hận. Khi đó nó thọ nhận vào bên trong, bắt đầu ở trong đó, nên gọi là chỗ nhận vào và cho ra, vậy mới gọi là thọ là kho chứa của tâm. Cảm thọ là kho chứa, vì nó nhận vào và cất bên trong đó, chúng ta cũng hiểu là cất vào sẽ có ngày lấy ra, đúng nhân duyên thì cảm thọ đó bốc hơi trở ra.
Nếu đúng cơ hội thì cảm thọ hờn giận, tức giận, sân hận đó sẽ phát ra, bung ra, bùng nổ ra, đó là chúng ngấm ngầm dẫn lối. Đó là chỉ nói về sân, về tham, dục cũng giống vậy. Vừa thấy qua thì đưa đến cảm thọ thích thích, mến mến, yêu thương, dễ thương, sau đó ngấm ngầm dẫn lối, sau đó xin email, số điện thoại, zalo… Sau đó tìm hiểu thêm, thọ thêm, tiếp xúc hình ảnh, âm thanh dẫn lối rồi lại đi lối tẻ, làm nhà tan cửa nát, ngoại tình, đổ vỡ, con cái khổ sở. Đó là thọ ngấm ngầm dẫn lối, khi nãy là dẫn lối của sân, giờ là dẫn lối của dục, tham dục, tham ái.
Do chất chứa cảm thọ nên cứ sanh khởi lên những hình bóng của người đó, hoặc là sân, tham, yêu, hận hay ghét, hình bóng của người đó chập chờn, do cảm thọ đó làm kích hoạt tưởng và hành, rồi nó suy nghĩ về người mà mình tưởng, giận hay người mà mình thương đó, nó kích hoạt từ cảm thọ rồi khởi động lên. Hình bóng hiện ra rồi suy nghĩ về người đó, cứ nói lầm bầm, thỏ thẻ, thì thầm, thủ thỉ, thở than, cứ nói về chuyện đó, cứ nói tới, nói lui mãi như vậy, nói hết ngày này qua tháng khác.
Chúng ta có thấy được tâm của mình đáng sợ không? Đó là bộ mặt thật của tâm mình. Ví dụ sáng nay có một Phật tử dẫn một cô bé lên, cô bé chỉ mới có hai mươi mấy tuổi. Cô này bị một trường hợp rất đặc biệt, như là có một người nam nào đó đang đi theo cô đó, rất thương cô gái đó, nếu cô này có quen với một người nam nào khác thì bỗng nhiên có chuyện này chuyện kia rồi chia lìa. Cô này cũng cảm nhận được có người khuất mặt, phần âm nào đó đi theo mãi như vậy.
Trong những lúc ngủ cô thấy được những cử chỉ, hành động của nam nữ. Thì họ hỏi Minh Thành làm sao để thoát được, Minh Thành có giải thích và có những ví dụ, có những cái tham, sân giống nhau. Chẳng hạn mình nói một câu hay làm một hành động cho người kia giận, người kia sanh khởi lên một cảm thọ tức giận nhưng người sanh khởi lên cảm thọ tức giận đó họ không tha thứ cho người làm cho mình giận thì ba ngày sau, bảy ngày sau gặp lại thì họ có còn tức giận không?
Nếu như người đó không tha thứ thì một tháng sau gặp lại người đó có còn tức giận không? Nếu vẫn không tha thứ thì một năm, ba năm sau gặp lại thì người này còn giận không? Nếu hai mươi, ba mươi năm sau không tha thứ thì người này còn giận không? Nhưng người này nói một câu “Sống để dạ, chết đem theo. Không bao giờ tôi tha thứ cho người đó!” thì người này sẽ đem cảm thọ tức giận này qua đời sau. Cảm thọ đó không mất, nó tiếp xúc và sanh lên một cảm thọ mà đó lại là cảm thọ bất thiện an trú trong tâm, chất chứa trong kho tâm, mình lưu trữ, lưu giữ trong đó, mình không muốn xả bỏ. Nên đó cũng là lý do tại sao mình có duyên nên học Xả vô lượng tâm là vì vậy, nếu mình không buông xả, buông bỏ thì rất đau khổ.
Chúng ta thấy có những người giận nhau mà tới chết cũng không tha thứ, chúng ta có từng nghe như vậy không? Nên cảm thọ này chưa hóa giải được, chưa giải phóng, giải phá, giải thoát, chưa thoát ra được cảm thọ này thì cảm thọ này sẽ đi theo mình nhiều kiếp. Chính vì vậy nên trong thế gian này rất đặc biệt, từ cảm thọ này sẽ giải mã hết những bí mật trên thế giới, nhân loại này.
Ví dụ như có những người mới gặp lần đầu đã nhìn mặt thấy ghét, làm cho tức giận, sân hận, oan gia ngõ hẹp, đó chính là “mối cũ”, là oan gia trái chủ của đời trước gặp lại, vừa gặp đã không ưa ngay. Dù chưa nói gì hết nhưng thấy mặt đã thấy ghét. Đó là do thọ của đời trước còn nên giờ gặp thì nhận ra “Chính hắn!”
Ví dụ khác, như có những người mình mới vừa gặp thôi đã thấy “Thương quá, dễ thương quá! Thôi mình làm chị em kết nghĩa, anh em kết nghĩa nha!” Chúng ta thấy đó là thọ trong đời, kiếp trước. Giờ cô này cũng vậy, người mất đó không có được phước báu để sanh làm người, họ rơi vào loài ngạ quỷ, cô hồn, nhưng tâm tham ái, ái luyến đó họ chưa thoát ra được.
Nên Minh Thành mới khuyên người Phật tử đó phải học cách trải tâm từ và sám hối cảnh oan gia trái chủ, bằng sự xin lỗi, kêu gọi người ta tha thứ, buông xả và làm những chuyện phước lành, hồi hướng, phước báu cho người đó nhận được. Quan trọng nhất là khuyên bảo, xin lỗi, mong người đó tháo gỡ tâm luyến ái, ràng buộc đó, chừng nào người đó mở cảm thọ đó ra, thoát ra khỏi cảm thọ ràng buộc, luyến ái đó thì cô này sẽ hết.
Mấu chốt của vấn đề đó là ở trong cảm thọ, chúng ta thấy việc này rất sâu sắc, không phải chỉ ở nhãn tiền trước mắt, không chỉ năm năm, ba năm sau mà nó sẽ theo mình suốt những thập kỉ, nhiều thập kỉ, cả cuộc đời, kiếp sau, trăm kiếp ngàn kiếp, vô lượng, vô biên kiếp. Mình chất chứa trong cảm thọ này rất khủng khiếp những dục, tham, ái, sân hận, bản ngã. Nên chúng ta thấy, ai chạm tới một lần, dù là tụng kinh, gõ mõ, đi chùa đều đặn nhưng chỉ cần chạm tới một cái là tam bành lục tạch nổi lên, phùng mang, trợn mắt, vì cảm thọ của mình chất chứa những thứ bức bối, bực bội, gay góc, cộc cằn, bức xúc, sân hận, nhiệt não, nóng bức. Chất chứa trong đó nhiều đời nhiều kiếp.
Vậy nên những buổi đầu mình nên tu tập tâm hiền là vì vậy, để làm cho cảm thọ hung hăn, hung dữ, hung bạo, lắng lắng, dịu dịu xuống thì mình mới giảm bớt tạo những ác nghiệp mà dẫn mình đi vào trong địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Bên trong chúng ta là những cảm thọ hết sức động loạn, thậm chí là nổi loạn. Như trên các mặt báo hằng ngày có bao nhiêu tin tức đều là động loạn, nổi loạn, chỉ tích tắc là đọa vào địa ngục, chung thân, tử hình hay hai mươi năm tù.
Chỉ cần nghe tiếng hát karaoke thôi thì đã lấy dao ra xử nhau, chỉ vì một ánh nhìn thôi mà cho là “Ngươi nhìn đểu ta?” là đâm nhau chết, có khủng khiếp không? Chứng tỏ bên trong là chất chứa những cảm thọ sân hận, thù hận, mà không phải tự nhiên mình chỉ nhìn ánh mắt thôi mà đã giết người ta? Mà đó là những đời kiếp oan gia trái chủ chất chứa trong đó, khi nhìn thôi là đã làm chín mùi ác nghiệp, hỏa dị thục của nghiệp ác đó. Nó đã chất chứa các cảm thọ trong nhiều đời, nhiều kiếp trước, thì đến lúc đó là chỉ một ánh nhìn làm chín mùi quả dị thục của ác nghiệp, sau đó giết nhau chết.
Trong lúc dừng lại của đèn xanh, đèn đỏ, nghe người ta nhắc là đèn đỏ sao lại chạy thì nó quay trở lại đâm người ta chết, chỉ là một câu nhắc. Hoặc giờ thì nhắc đeo khẩu trang nhưng lại lấy súng bắn làm chết người, ba bốn người bị thương. Nên chúng ta phải tu cảm thọ này, phải nhìn thấy, biết cảm thọ này nếu không là chúng ta bị nó ngấm ngầm dẫn lối, ngấm ngầm kích hoạt, bị nó ngấm ngầm điều khiển, bị nó ngấm ngầm làm chủ tâm mê muội mà chúng ta không biết gì hết. Nên chúng ta bị vô minh, chúng ta phải tập ngồi thiền, thực tập cảm giác toàn thân, tập nhìn nhận lại các cảm thọ, cảm xúc của mình, tập quán chiếu những dòng cảm xúc sân hận, ham muốn, hơn thua, tranh giành, tranh đấu.
Phải nhiếp phục, chế ngự, tẩy sạch nó thì mình mới hết khổ, nếu không thì chúng ta đổ thừa. Có chuyện gì ra thì chúng ta đổ thừa cho thiên hạ, tại ông bà, tại cô kia, tại cậu kia, tại chú kia… Mà mình không biết rằng, thủ phạm thật sự là cảm thọ trong mình. Vậy nên nhất thiết là phải quay về chính mình, đó mới là bậc trí, còn nếu có chuyện gì xảy ra thì mình lại đổ thừa người ta, đó là phàm phu, si mê, ngu muội, dại khờ, không nhìn thấy được bản chất của sự thật, mãi mãi, vĩnh viễn đau khổ mãi.
Chính ta làm ta khổ, mà chẳng biết vì sao, mà ta cứ hỏi tại sao ta khổ, mà không biết chính ta làm cho ta khổ mà ta cứ hỏi tại sao. Chính những cảm giác, suy nghĩ, tư tưởng của chúng ta dẫn dắt, ngấm ngầm dẫn lối, kích hoạt, làm chủ, làm cho chúng ta chạy theo tham, sân si, bản ngã. Cảm thọ là tác giả, đạo diễn, tổng đạo diễn của toàn bộ địa cầu này, của toàn bộ trái đất, hành tinh này mà chúng sanh phàm phu, vô minh, si ám, không thấy biết mà chỉ có bậc Chánh Đẳng Chánh Giác mới thấy biết, mới nhìn ra được bằng Thánh nhãn, mắt của bậc Thánh, thượng nhân pháp,Thánh trí mới chỉ cho chúng ta thấy được.
Vậy nên chúng ta cố gắng dành thời gian thực tập, nhận diện các cảm thọ, không phải chỉ lúc ngồi thiền mà bất cứ mọi lúc mọi nơi phải nhìn ngó quán chiếu, để tâm để ý, nhìn các cảm thọ là các cảm thọ gì, trong đó đang vận hành như thế nào, có gì bên trong, nếu nó là ác bất thiện pháp, tham, sân, si, bản ngã thì tẩy sạch, nếu nó là thiện pháp thì phải tăng trưởng, phát triển, làm cho nó quảng đại, lớn mạnh.
Như vậy thì hôm nay chúng ta chỉ vừa đi vào chưa được một nửa phần tập nhận rõ các cảm giác. Buổi sau chúng ta sẽ đào sâu hơn về tính chất cấu trúc, vận hành, guồng máy, hệ điều hành, của thọ uẩn. Chúng ta sẽ đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác, sốc toàn tập, vì trước nay chúng ta không thể tưởng tượng được rằng chính cảm thọ này là thủ phạm thật sự của hành tinh, thế giới, là tất cả của tất cả thống khổ trên trái đất này.
Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả
Đệ tử và chúng sanh
Đều trọn thành Phật đạo.
…
Đại chúng chúng ta đọc tụng bài này có để ý chỗ này không? Đã đọc bao nhiêu lần? Chúng ta phải để ý chữ ngấm ngầm. Ngấm ngầm dẫn lối, “thọ là thứ ngấm ngầm dẫn lối”, ví dụ như khi mình buông lung phóng dật thì nó cũng là ngấm ngầm mà mình không biết, nó dẫn mình không biết, vì mình không nhìn ra là không biết. Khi xuống núi có dẫn không hay là không biết luôn? Hoặc là biết mà cũng chịu thua?
Ngấm ngầm kích hoạt tưởng và hành, vì các thâm sâu này có những Phật tử không hiểu nổi. Vì có cơ duyên chúng ta chia sẻ, ngấm ngầm kích hoạt tưởng và hành. Chúng ta thấy một người đã chết mà vì tâm luyến ái đối với cô gái đó không mất, trở thành cô hồn đi theo người con gái đó và cô này không đi ra ngoài tiếp xúc với ai mà chỉ ở trong nhà mấy năm trời, phải quen với người nào là có chuyện hay đổ vỡ, không cho quen với ai mà phá.
Chúng ta thấy thọ đó làm cho mình, chúng sanh rơi vào cô hồn, ngạ quỷ, nếu người đó có đủ phước, được đầu thai làm người thì chắc chắn người đó sẽ tìm gặp người này, còn giờ thì không có đủ phước để đầu thai làm người thì mình rơi vào ngạ quỷ, cô hồn. Chúng ta thấy ngấm ngầm điều khiển cả thân tâm, tất cả hằng ngày của mình đi đứng, nói, cười, làm việc đều là thọ điều khiển hết. “Vì sao mình muốn cho nó như vậy mà nó không chịu nghe lời mình?” Đó là vì mình không thấy được cảm thọ, hoặc là mình thấy nó mà thấy không kĩ, thấy không rõ, thấy không sâu sắc hoặc là thấy mà mình đã bỏ qua. Nhưng thực tế là cảm thọ đều điều khiển tất cả. Từng ánh mắt, từng bước đi của mình, từng cách nói chuyện, từng khẩu khí của mình đều là cảm thọ hết.
Vì nó điều khiển, dẫn lối, kích hoạt, làm chủ. Chúng ta thấy các thọ của Đức Thế Tôn, dù người ta đứng trước mặt chửi hay sau lưng chửi thì Ngài vẫn đi bình thản như vậy, thọ của Ngài là tịch tịnh, hoàn toàn an tịnh, lắng dịu, Ngài hoàn toàn làm chủ cảm thọ, Ngài muốn cho khởi cái gì thì mới khởi cái đó. Ngài muốn im lặng là lắng lặng còn mình thì khác, mình bị dẫn lối, bị điều khiển mà mình lại không cố gắng, không nỗ lực, mình lại sống trong si mê, trong khổ, bất lạc thọ, mình hài lòng, tự mãn trong đó. Mình không muốn cầu tiến, không muốn hướng thượng mà khi nói mình vô minh lại không chịu, cứ sống trong các si ám, mù lòa như vậy.
Vậy nên trong tâm mình những tưởng và hành, hình bóng, suy nghĩ đều là do thọ ngấm ngầm kích hoạt. Đó là tại sao mà mình phải tu thiền quán và mình tác ý nhiều, để cho mình rung chuyển cảm thọ, làm cho cảm thọ thâm căn, cố đế bên trong bị lung lay, từ từ mình mới đào gốc, móc rễ. Mỗi một lần mình nghe pháp, mình thiền quán, tác ý như vậy là mình làm cho chấp thủ, thọ thủ uẩn rung chuyển, chấn động, rung chấn, chấn cảm để cho sự nắm chặt vào trong cảm thọ của tôi, tôi, là tự ngã của tôi bị rung rinh, rung chuyển, rung chấn, nứt nẻ ra, từ từ cho nó đi tới chỗ đổ vỡ, tan nát ra. Nếu không thì bên trong kích hoạt để tưởng với hành khởi lên, những hình bóng của tham sân, của dục ái, bản ngã, suy nghĩ của bản ngã sanh khởi được là do thọ này ngấm ngầm kích hoạt, ngấm ngầm điều khiển cả thân tâm, nó như bộ tư lệnh, bộ chỉ huy điều khiển mình. Nên nhiều khi mình sám hối là mình bắt không kịp nó hoặc là thấy nó thì cũng cho qua, sống với thói quen, sống với tập khí của Phật, sống với tính tình của hạ liệt, không chịu chỉ mặt, dằn mặt nó. Không chịu hạ gục thẳng tay để diệt tận nó, nên bị nó điều khiển lại, ngấm ngầm làm chủ tâm mê muội.
Lúc trước mình từng học sách thiền có học từ “chủ nhân ông” thì mình cũng thích, nhưng giờ mình học đây thì mình mới thấy thật sự chủ nhân ông là cảm thọ của mình, ngấm ngầm làm chủ tâm mê muội đó. Tâm mê làm tổ, làm ổ trong năm uẩn, mà sở dĩ nó làm ổ, làm tổ mà gốc rễ của nó phía dưới là thọ ngấm ngầm này.
“Từ triệu kiếp, từ vô lượng kiếp,
Vô minh, dục, ái, tham, sân, si
Bản ngã, tánh tình và tập khí
Chúng tụ vào trong cảm thọ này.”
(Trích quyển Cửa Vào Bất Tử)
Bản ngã là thọ, tánh tình là quân tập nó quen, cảm xúc, cảm giác, cảm thọ đó nên quen như vậy, thành tánh tình. “Tánh tôi hay nóng, đừng đụng tới tôi!” là thọ, là tánh người đó nhẹ nhàng, từ tốn là thọ mà tánh người đó thô bạo, ăn nói cộc cằn, làm đâu đổ bể đó cũng là thọ. Là do nó quân tập, thọ thô bạo, thô động, loạn động nên đã quen, đi đến đâu phải động loạn nó mới chịu, yên tịnh không chịu, nó thấy khó chịu, bức xúc lắm, nó muốn phải động loạn, muốn phải ồn ào lên như vậy.
Hơi hám của nó bốc mùi ra, quân tập “Chúng tụ vào trong cảm thọ này”, “Từ triệu kiếp, từ vô lượng kiếp” vô minh đó cũng là tu tập trong cảm thọ, không muốn thấy, không muốn biết hay tìm hiểu, chỉ thấy “Thôi mệt, đơn giản thôi! Một câu hai câu thôi. Đừng học nhiều, đừng tu nhiều quá, tu nhiều quá cẩn thận, bệnh đó!” Hay thậm chí nói những câu làm cho người ta sợ “Tu nhiều quá coi chừng…” đó là vô minh, là tâm ngu si, tham ái, nó không cho mình tu, tăng thượng, tinh cần, tinh tấn.
Hôm nay chúng ta chia sẻ tới đây thôi, tự nhiên sinh ra cảm giác làm tuôn trào nước mắt.
Tâm thương này trải rộng
Cùng khắp thế giới này,
Tâm thương này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la.