Kinh Nikāya Giảng Giải - Suy nghĩ thoát ra
Kinh Nikāya Giảng Giải
SUY NGHĨ THOÁT RA – TƯƠNG ƯNG GIÁC CHI
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Đạo lộ viễn ly: PAGEREF _Toc113045625 \h 1
II. Như Lý Tác Ý và Phi Như Lý Tác Ý: PAGEREF _Toc113045626 \h 3
III. Bảy Giác Chi: PAGEREF _Toc113045627 \h 5
IV. Chia sẻ: PAGEREF _Toc113045628 \h 11
I. Đạo lộ viễn ly:
Đại chúng có biết bữa nay là ngày gì không? Khi chúng ta thực tập ba pháp, xin thông báo một tin vui cho đại chúng là chúng ta đã chuyển hai ngàn quyển Nghi thức tu học đến chùa Bửu Long – nơi trùng tiên tam tạng và hòa thượng trưởng ban tổ chức đã nhận cúng dường. Cũng có nghĩa là cả hệ thống Phật giáo Nam Tông đã công nhận tác phẩm Đường lối tu học Nikāya của chúng ta. Đại chúng hoan hỷ không?
Và cũng ngày hôm nay có hòa thượng, sư trụ trì Viên Không đến thăm, chúng ta cũng đã cúng dường một bộ sách tu học Nikāya cho các sư. Đặc biệt hôm nay là rằm tháng Mười, cũng là ngày xuất gia của con cách đây hai mươi chín năm. Con xin thưa đại chúng, trong lòng con xuất gia từng ngày, thậm chí là xuất gia từng giờ, hay xuất gia từng tâm niệm. Không chỉ hôm nay là ngày kỷ niệm xuất gia lần thứ hai mươi chín năm. Nhưng mỗi ngày, mỗi giờ con đều nghĩ đến sự xuất ly. Xuất ly tư duy là một chi phần trong Chánh tư duy, suy nghĩ về sự thoát ra.
Trong bộ kinh, Đức Phật nói bậc Đa văn Thánh đệ tử có cảm thọ, một cảm giác lạc thọ đều phải quán chiếu cảm giác này là vô thường. Khi cảm thọ, một cảm giác lạc thọ phải quán chiếu rằng đây không đáng để cho mình hoan hỷ, ưa thích, dầu đó là cảm giác vui. Bậc Đa văn Thánh đệ tử khi cảm thọ một cảm giác lạc thọ, luôn luôn quán chiếu với một ý niệm thoát ly. Quán chiếu tức tác ý – tác động tâm ý, tác động tư duy, suy nghĩ theo chiều hướng thoát ra, không say đắm trong cảm giác vui sướng đó, không ưa thích trong cảm giác hoan hỷ đó, nhìn thấy tính chất vô thường, sanh diệt của các cảm giác đó đối với tất cả mọi cảm giác, dù cho cảm giác vui chứ đừng nói chi cảm giác khổ thì ý niệm xuất ly là dễ.
Khi bậc Đa văn Thánh đệ tử, người tu có cảm thọ một cảm giác vui phải thấy nó là vô thường, phải thấy cảm giác này là không đáng hoan hỷ, phải thấy cảm giác này với một ý niệm thoát ly. Xin thưa đại chúng, trong mấy ngày vừa qua con trú trong cảm giác nhàm chán, xuất ly liên tục. Khi đó con ngồi thiền buổi sáng bên cô Phong Đảnh, con mở bài Tương Ưng Giác Chi, Đức Thế Tôn nói là:
“Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Tỷ-kheo tu tập trạch pháp giác chi... tu tập tinh tấn giác chi... tu tập hỷ giác chi... tu tập khinh an giác chi... tu tập định giác chi... tu tập xả giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ”
(Kinh Tuyết sơn – I. Phẩm Núi – Chương II Tương ưng giác chi – Tập V Thiên đại phẩm – kinh Tương ưng bộ)
Thực sự khi nghe đến câu kinh này, bài kinh này con toàn thân rúng động và phát giác thêm một điều nữa – một bước sâu sắc hơn nữa về sự thấy pháp. Pháp chúng ta đang tu dựa vào sự viễn ly, lấy sự viễn ly, sự rời xa làm chỗ nương dựa chứ không phải là pháp tu hội. Chúng ta tu tập sự quán chiếu thân thể này, cảm thọ này, nội tâm và những sự vận hành trong tâm chúng ta để đưa đến một đời sống rời xa, không phải tụ hội, chúng ta ưa thích viễn ly, không ưa thích tụ hội. Chúng ta dựa vào sự ly tham, không phải dựa vào sự tham muốn, ly tham, lìa tham, rời tham, xa tham.
Chúng ta tu tập con đường này là đi đến sự chấm dứt, đoạn diệt, là diệt hết, dứt hết những dục tham ái, sân si, vô minh, bản ngã, diệt hết. Hướng đến từ bỏ, từ bỏ những vật chất, tài sản, từ bỏ những cái của ta cho đến từ bỏ thân xác của cái gọi là ta, từ bỏ những cảm giác nghĩ tưởng, nhận thức của ngũ uẩn, từ bỏ xuất ly, xả ly, thoát ly. Đây là mục đích tối cao của đời sống phạm hạnh, từ bỏ.
Tại sao phải từ bỏ? Vì những thứ đó là nhân, là duyên, khổ tập khởi. Sắc, tài sản, vật chất là nhân, là duyên để tích tụ khổ đau. Thân xác này là nhân, là duyên, điều kiện để dục, ái, tham sanh khởi, ngã kiến sanh khởi, thân kiến sanh khởi, kiến chấp sanh khởi. Cho nên chúng ta hướng đến sự rời xa nó, sự nhàm chán nó, sự chấm dứt, sự từ bỏ các cảm giác, các suy nghĩ, các tưởng, các sự rõ biết, nhận thức, rời xa nó, ly tham đối với nó, chấm dứt, hướng đến từ bỏ. Có như vậy, khi đi hết cuộc đời cho đến gần nhắm mắt chúng ta mới tuyên bố một câu:
“Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa".
(Kinh Vị tỷ kheo - I. Phẩm Núi – Chương II Tương ưng giác chi –
Tập V Thiên đại phẩm – kinh Tương ưng bộ)
Tại vì sao? Vì tất cả sự tu tập của chúng ta là hướng đến sự từ bỏ, viễn ly, xuất ly, xả ly, thoát ly. Đây là chỗ cực kỳ sâu sắc mà có khi ăn hết cơm gạo, tương chao trong chùa, suốt cuộc đời mà chưa nghe, chưa hiểu chứ đừng nói chi có thể chứng nhập. Chỉ có sự hướng đến y chỉ viễn ly, y chỉ ly tham, y chỉ đoạn diệt, hướng đến từ bỏ mình mới có thể xuất ly được. Dục khởi lên, mình suy nghĩ xuất ly, thoát ra, phải đi ra, phải thoát ra, phải xa rời nó, phải diệt tận nó, phải ly tham nó, từ bỏ, chấm dứt nó. Sân khởi lên, những cảm giác sân hận khởi lên, xa rời nó, viễn ly nó, ly tham đối với nó, đoạn diệt, từ bỏ, hướng đến từ bỏ. Bản ngã khởi lên, xa rời nó, nhàm chán nó, ly tham đối với bản ngã đó, đoạn diệt đối với bản ngã đó, hướng đến từ bỏ đối với bản ngã đó.
II. Như Lý Tác Ý và Phi Như Lý Tác Ý:
Tất cả sự tu tập của mình đều lấy những câu pháp định này làm tông chỉ, kim chỉ nam. Đó là những câu tác ý của Đức Phật. Cho nên trong bài kinh Trú xứ trong Tương Ưng Bộ Kinh Đức Phật nói như thế nào:
“Do tác ý, làm cho sung mãn các pháp trú xứ cho dục và tham (kàmaràga), này các Tỷ-kheo, nên dục tham (kàmacchanda) chưa sanh được sanh khởi; và dục tham đã sanh đi đến tăng trưởng, quảng đại”
(Kinh Trú xứ - III. Phẩm Udàyi Chương II Tương ưng giác chi –
Tập V Thiên đại phẩm – kinh Tương ưng bộ)
Do mình tác ý, suy nghĩ nên mình làm sao sung mãn các pháp trú xứ làm chỗ ở cho dục tham, mình suy nghĩ, tác ý, tư duy về cái đó. Như vậy, mình làm cho nó sung mãn các pháp trú xứ cho dục, tham. Cho nên dục tham chưa sanh nó sanh lên, mà dục tham đã sanh thì nó tăng trưởng, lớn mạnh nên cái tác ý này hết sức quan trọng, chính là sự tu tập của chúng ta. Đức Phật nói tiếp:
“Do tác ý làm cho sung mãn các pháp trú xứ cho sân, này các Tỷ-kheo, nên sân chưa sanh được sanh khởi; và sân đã sanh đi đến tăng trưởng, quảng đại”.
Do mình suy nghĩ, tác động tâm ý, nên “Do tác ý, làm cho sung mãn các pháp trú xứ cho hôn trầm thụy miên, này các Tỷ-kheo, nên hôn trầm thụy miên chưa sanh được sanh khởi; và hôn trầm thụy miên đã sanh đi đến tăng trưởng, quảng đại”.
Tự mình làm cho nó sung mãn, mình cho cái dục, tham ăn, cho nó lớn mạnh, cho nó bồi bổ, tiếp tế cho nó bằng những suy nghĩ. Cho nên nó tăng trưởng quảng đại, lớn mạnh trong thân tâm mình.
“Do tác ý, làm cho sung mãn các pháp trú xứ cho trạo hối, này các Tỷ-kheo, nên trạo hối chưa sanh được sanh khởi; và trạo hối đã sanh đi đến tăng trưởng, quảng đại.
Do tác ý, làm cho sung mãn các pháp trú xứ cho nghi hoặc, này các Tỷ-kheo, nên nghi hoặc chưa sanh được sanh khởi; và nghi hoặc đã sanh đi đến tăng trưởng, quảng đại”.
Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi. Do mình tác ý nên làm cho nó sung mãn các pháp trú xứ cho Niệm Giác Chi. Tác ý thế nào để cho Niệm giác chi sanh khởi. Mình cứ tác ý rồi quán thân trên thân, quán thọ trên thọ, quán tâm trên tâm, quán pháp trên pháp. Thường xuyên tác ý, suy nghĩ, quán chiếu, tư duy thì như vậy Niệm Giác Chi sanh. Mình không tác ý thân hành niệm thì làm sao Niệm Giác Chi sanh? Mình không tác ý quán cảm thọ, quán ngay nội tâm, quán về bên trong các pháp vận hành như thế nào, thiện hay bất thiện, cái nào cần diệt trừ, cái nào cần làm cho nó sanh khởi.
Như vậy Niệm Giác Chi không sanh, niệm ở đây tức Tứ Niệm Xứ, các giác chi khác cũng vậy, Tinh Tấn Giác Chi, Khinh An Giác Chi, Hỷ Giác Chi, Định Giác Chi, Xả Giác Chi, Trạch Pháp Giác Chi. Mình phải tác ý làm cho nó sung mãn. Như sáng nay con cho đại chúng tại chùa Bửu Liên trải hỷ tâm vô lượng, tất cả đại chúng trải hỷ tâm, hoan hỷ cùng cực, tột độ. Lúc đó tác ý như vậy nên nó làm cho sung mãn Hỷ Giác Chi. Xả Giác Chi cũng như vậy.
Cho nên Đức Phật nói do Phi Như Lý Tác Ý, tức mình suy nghĩ không đúng pháp, ngược với Chánh pháp, khi đó dục tham chưa sanh nó sanh, dục tham đã sanh đưa đến tăng trưởng, quảng đại. Sân cũng vậy, hôn trầm, thùy miên, trạo hối, nghi hoặc. Mình suy nghĩ không đúng chiều của pháp mà suy nghĩ theo chiều của thế gian, thế tình, của đời thì lúc đó các pháp Ngũ cái, các pháp chướng ngại, các pháp tạp nhiễm sanh. Nếu mình tác ý ở trong pháp không thì Thánh pháp mới có mặt, lớn mạnh, tăng trưởng, phát triển.
III. Bảy Giác Chi:
Như vậy chúng ta thấy trong sự tác ý này hết sức quan trọng. Hãy siêng năng tác ý, không phải đợi lên ngồi thiền hay nghe pháp mình mới tác ý, suy tư. Thường xuyên suy tư, bài kinh Đoạn Tận:
“Con đường nào, đạo lộ nào này các Tỷ-kheo, đưa đến đoạn tận khát ái, hãy tu tập con đường ấy, đạo lộ ấy.
Và con đường nào, đạo lộ nào, này các Tỷ-kheo, đưa đến đoạn tận khát ái?
Tức là bảy giác chi. Thế nào là bảy? Niệm giác chi... xả giác chi.
Khi được nói vậy, Tôn giả Udàyi bạch Thế Tôn:
-- Tu tập như thế nào, làm cho sung mãn như thế nào, bạch Thế Tôn, bảy giác chi đưa đến đoạn tận khát ái?
Ở đây, này Udàyi, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ, quảng đại, to lớn, vô lượng, không sân. Ðối với vị tu tập niệm giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ, quảng đại, to lớn, vô lượng, không sân thì khát ái được đoạn tận. Do khát ái được đoạn tận nên nghiệp được đoạn tận. Do nghiệp được đoạn tận nên khổ được đoạn tận.”.
(Kinh Đoạn tận - III. Phẩm Udàyi Chương II Tương ưng giác chi
– Tập V Thiên đại phẩm – kinh Tương ưng bộ)
Do khát ái được đoạn tận, dứt hết nên nghiệp được dứt hết. Do nghiệp được dứt hết nên khổ đau được dứt hết, do lòng yêu thích, khát khao được dứt hết nên nghiệp được dứt hết. Do nghiệp được dứt hết nên khổ đau được dứt hết. Những bài này nó thâm sâu, toàn là khẩu quyết, những cái bí yếu, tinh túy, tông chỉ của kinh Nikāya. Qua câu này mình thấy được gì? “Con đường nào, đạo lộ nào này các Tỷ-kheo, đưa đến đoạn tận khát ái, hãy tu tập con đường ấy”. Như vậy Ba mươi bảy phẩm trợ đạo của mình là gì? Chính là “đoạn tận khát ái”, dứt hết sự yêu thích, khát khao. Còn cái đó là còn tạo nghiệp, còn nghiệp là còn khổ đau.
Mình thấy rõ sự tu hành của mình không? Trong khi ăn, mình kiểm soát dục, tham, ái; trong khi ngủ mình nhiếp phục dục, tham, ái; trong khi nói, trong khi làm, trong cảm giác. Mình thấy không, dần dần sáng tỏ ra chưa, trong cảm thọ, trong suy nghĩ, trong những hình bóng. Đó, đây là con đường đoạn tận khát ái, là Ba mươi bảy phẩm trợ đạo nói chung, là Thất Giác Chi nói riêng. Chính là con đường đoạn tận khát ái, chấm dứt sự khao khát, ưa thích đối với ngũ uẩn.
Bây giờ con nghe tin người ta lấn đất chùa, con không sân nữa mà có một cảm giác ngao ngán, nhàm chán, thấy ê chề, não nề cuộc đời này. Vì lòng dục, lòng tham không kể gì chùa chiền, Tam Bảo và sự nghiệp quả đau khổ của họ trong tương lai là vô tận, vô lượng, khủng khiếp. Chính vì lòng khao khát đối với sắc này, đất đai, tiền bạc, nhà cửa, ruộng vườn, xe cộ, tài sản này làm người ta tạo nghiệp, và từ nghiệp này chuốc lấy quả báo khổ. Biết bao nhiêu cái để mình nhìn thấy được tổng cương lĩnh của giáo pháp.
Tu tập Bảy Giác Chi là liên hệ đến viễn ly, vừa rồi mình học những bài kinh viễn ly, mình tu là để rời xa. Chứ không phải để tu để nhập cuộc, nhập cuộc cho luân hồi, nhập cuộc với khổ đau, nhập cuộc cho sanh tử, nhập cuộc với những dòng nước mắt và máu, với những sự ganh tị, đố kỵ, hơn thua, chém giết, nhân ngã bỉ thử, thị phi, đúng sai để làm gì? Nhập những cuộc đó để làm gì? Nội những già bệnh chết, sầu bi, khổ ưu não cũng là chết rồi, còn thêm những cái kia nữa thì điên khùng, điên loạn, điên đảo nên đời sống người tu của chúng ta ở núi rừng là rất vi diệu, tuyệt diệu, huyền diệu, thần diệu, thánh diệu.
Yêu thích núi rừng, yêu thích viễn ly, thân viễn ly, tâm viễn ly, viễn ly khát ái, sân hận, vô minh, chấp ngã. Tác ý từ bỏ như vậy, thật từ bỏ vì không có gì trong đó. Có cái gì đâu, trời đất ơi, một đống máu mủ, phèo phổi gan ruột, phân và nước tiểu, có gì đâu? Có gì đâu để tạo những ác nghiệp, để xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, có gì đâu, những cảm giác thôi. Tất cả mọi cảm giác, cảm thọ đều là vô thường, có gì đâu?
Quý vị ngồi an ổn như vậy, tu hành trên núi như vậy không khỏe hơn là tối ngày dắt xe chạy dài dài ngoài đường vậy hả, khổ không, mệt không, tai nạn không? Mình phải tác ý như vậy. Viễn ly là đời sống tối thượng, tối cao, phạm hạnh, Thánh hạnh, Thánh hiền, là nếp sống của Thánh nhân, hân hoan, vui sướng, ngày đêm tinh tấn hoan hỷ tu tập thiện pháp. Liên hệ đến viễn ly, ly tham, đoạn diệt, hướng đến từ bỏ, quảng đại, to lớn, vô lượng, không sân. Tập tâm rộng mở, vô lượng vô biên. Từ vô lượng tâm, bi vô lượng tâm, hỷ vô lượng tâm, xả vô lượng tâm.
Phải thực tập tâm rộng mở, rộng lớn, bao dung, vô lượng, quảng đại, vô biên. Như vậy mà tu tập Tứ Niệm Xứ, như vậy mà tu tập Niệm Giác Chi, Chánh Niệm. Tu tập như vậy thì sao? Khát ái được đoạn tận. Tối ngày mình cứ Quán Ba Mươi Hai Thể Trược, Quán Chín Giai Đoạn Tử Thi, Quán Tứ Đại đất nước gió lửa. Mỗi ngày mình thấy cái đó hoài như vậy thì khát ái làm sao không giảm được? Suốt ngày nhìn bộ xương đó, đi ra đi vô nhìn bộ xương đó, suốt ngày nhìn đống tro đó, của bà Năm đó, thì làm sao khát ái không giảm được?
Mình không tiếp tế cho nó nữa, không bỏ củi vô đống lửa, rút củi ra, dập tắt; không châm dầu vô ngọn đèn, làm cho nó khô kiệt, cạn kiệt, hết dầu, tim khô dầu hết, lửa tàn. Sự thiêu đốt nó chấm dứt, cứ hoài như vậy, mãi như vậy, kiên trì. Ngày đêm siêng năng tác ý hoài như vậy, đánh cho nó tơi tả, đánh cho nó gục ngã, tan nát, tan tành, tan vụn, tan vỡ, tan hoang, đánh cho nó tan thành mây thành khói, thành hư không tất cả những lậu hoặc phải thẳng tay, phải dùng thanh gươm Thánh trí huệ. Liên tục tác ý ngày đêm, mở mắt dậy là tác ý, bất cứ lúc nào cũng tác ý. Và phải tác ý sự hùng lực, tinh tấn lực, mãnh hổ lực, uy dũng lực tác ý làm cho sức mạnh của mình bung ra, nở ra.
Khi ngồi tác ý thấy con người mình tăng thêm sức mạnh như lực sĩ, còn hơn uống nước tăng lực, phải tác ý. Khi nào nó yếu đuối, nhàm chán, rã rượi, uể oải, phải tác ý hùng lực, tinh tấn lực, uy dũng lực làm cho nó quảng đại, to lớn, vô lượng không sân thì khát ái sẽ được đoạn tận, do khát ái được đoạn tận nên nghiệp được đoạn tận.
“Ở đây, Tỷ-kheo tu tập xả giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ, quảng đại, to lớn, vô lượng, không sân. Ðối với vị tu tập xả giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ, quảng đại, to lớn, vô lượng, không sân thì khát ái được đoạn tận. Do khát ái được đoạn tận nên nghiệp được đoạn tận. Do nghiệp được đoạn tận nên khổ được đoạn tận”.
(Kinh Đoạn tận - III. Phẩm Udàyi Chương II Tương ưng giác chi – Tập V Thiên đại phẩm – kinh Tương ưng bộ)
Vì trong này không khao khát, không ưa thích nữa thì nó đâu tạo ra. Sỡ dĩ có một sự thúc giục, đòi hỏi, tham muốn, chạy tìm, rong ruổi, cho nên từ những cảm thọ sanh lên thì những hình bóng, suy nghĩ sanh ra rồi nó đẩy thân sắc uẩn này đi chạy đi tìm, đi tạo nghiệp.
Còn nếu như khát ái dứt rồi, dứt hết rồi thì các hành sẽ được an tịnh, yên tịnh, lắng dịu, sắc sẽ an tịnh, thọ sẽ an tịnh, tưởng an tịnh, hành an tịnh, thức an tịnh. Chính vì vậy mới gọi Đức Thế Tôn là bậc đã đạt được sự an tịnh và thuyết pháp để đưa chúng sanh đến chỗ an tịnh, tịch tịnh, mát mẻ, thanh lương.
Cho nên Trạch Pháp Giác Chi là sao? Trước khi qua Trạch Pháp Giác Chi mình phải thấy khát ái đoạn tận thì nghiệp đoạn tận, mà nghiệp đoạn tận thì khổ đoạn tận. Ở trong không thúc giục để tạo nghiệp nữa, mà không tạo nghiệp nữa thì quả của nghiệp không có cho nên khổ được đoạn tận, khổ uẩn này được chấm dứt. Mình tu Trạch Pháp Giác Chi cũng vậy, tức mình phải giãn trạch, quyết trạch, chọn lựa, phân biệt trong tâm mình, cái nào chánh cái nào tà, cái nào thiện cái nào ác, cái nào đúng cái nào sai, cái nào nên làm cái nào không nên làm, cái nào nên nói cái nào không nên nói, cái nào nên nghĩ cái nào không nên nghĩ là mình phải có Trạch Pháp Giác Chi.
Mỗi một cảm thọ mình phải Trạch Pháp Giác Chi mình mới biết được cảm thọ nó là gì, cảm giác đó là thiện hay bất thiện, cảm giác đó là sân hay bản ngã, hay vô minh, hôn trầm, thùy miên, trạo cử. Phải có Trạch Pháp Giác Chi mình mới nhìn ra được, không có Trạch Pháp Giác Chi mình cứ nhắm mắt đơ đơ, không biết cái gì là cái gì thì làm sao? Là si, si mê, hôn trầm mà buông hôn trầm ra là trạo cử, lăng xăng, mà ngồi trở lại thì nhắm mắt ở trong tăm tối, si ám, vô mình. Không có Trạch Pháp Giác Chi không thành tựu. Như vậy một yếu tố trong bảy yếu tố này không đủ đưa đến giác ngộ.
Cho nên sự Trạch Pháp hết sức quan trọng, sự quyết trạch, giãn trạch, biện biệt, phân minh rõ ràng, rành mạch trong nội tâm. Cái đó thuộc về thọ, hay hành, tưởng, thức? Cái đó thuộc về lục dục lậu, hữu lậu hay vô minh lậu. Trong năm Triền cái nó thuộc về cái gì, nội tại trong tâm mình nó có từ tâm hay sân tâm? Mình phải Trạch Pháp Giác Chi, phải biện biệt, phải giãn trạch, rành rõ, phân minh, phải nhìn một cách chính xác ở trong tâm đó gọi là quán tâm, quán pháp, quán thọ cũng vậy thôi.
Tất cả quán thân, quán thọ, quán tâm, quán pháp đều phải có Trạch Pháp Giác Chi, nếu không thì mình lẫn lộn. Cho nên chúng ta thấy không, tại sao Trạch Pháp Giác Chi này, Thất Giác Chi này gần cuối Bát Chánh Đạo vì nó rất khó ở trong quán pháp. Sau khi mình có sự tu tập Tứ Niệm Xứ một cách tương đối khá mình mới có thể biết được Thất Giác Chi. Vì thân thọ, tâm pháp này còn chưa rành thì làm sao? Cho nên cái Trạch Pháp này mình học hết sức quan trọng, có một bài kinh Đức Phật giải từng phần từng phần này.
Mình có Trạch Pháp như vậy, có phần biện biện hết sức rành rõ trong tâm mình, nó rất vi tế, tinh vi, sắc bén. Do mình giãn trạch như vậy nên làm sao? Rồi mình nỗ lực, tinh tấn giác chi, nỗ lực như thì Hoan Hỷ sẽ sanh. Sự Hoan Hỷ sanh rồi, kế đó là lắng dịu xuống nên Khinh An nhẹ nhàng sanh, Khinh An có rồi đưa đến Định. Mà khi Định rồi thì bằng Chánh kiến trong Định đó buông xả hết tất cả - Xả Giác Chi được thành tựu.
Cho nên Đức Thế Tôn nói:
“Vị ấy nhờ tâm tu tập niệm giác chi, đâm thủng được (nibbijjhati), phá vỡ được (padàleti) tham uẩn từ trước chưa từng bị đâm thủng, từ trước chưa từng bị phá vỡ”.
(Kinh Thế nhập III. Phẩm Udàyi Chương II Tương ưng giác chi –Tập V Thiên đại phẩm – kinh Tương ưng bộ)
Nghe thấy chỗ này chấn động, vị đó nhờ tu tập Thất Giác Chi, tu tập Tứ Niệm Xứ một cách siêng năng tinh tấn nên vị ấy đâm thủng được, phá vỡ được một đống tham, một tổ hợp tham từ trước chưa từng bị đâm thủng, từ trước chưa từng bị phá vỡ. Và bây giờ đâm thủng được tổ hợp tham, đống tham trong tâm.
Chữ Uẩn này là sự tụ tập, tổ hợp, cái tham này không đơn giản, nó là một tổ hợp trong tâm. Bây giờ do tu tập Chánh Niệm, Tứ Niệm Xứ mà có thể đâm thủng được, phá vỡ được đống tham từ trước chưa từng bị đâm thủng. Hồi xưa tới giờ nó y nguyên như vậy, sừng sững như vậy, to tướng như vậy, trùm phủ như vậy mà bây giờ nó bị đâm thủng với con mắt trí huệ của ngũ uẩn, đống tham đó bị đâm thủng, bị phá vỡ.
Đầu tiên nó được nhìn thấy, kế đó bị đâm thủng, sau là bị phá vỡ. Vị ấy đâm thủng được, phá vỡ được sân uẩn – cái đống sân – tổ hợp sân hận, các hang ổ, các cảm giác bực dọc, bứt rứt, bực bội, khó chịu.
“Vị ấy nhờ tâm tu tập xả giác chi, đâm thủng được, phá vỡ được tham uẩn từ trước chưa từng bị đâm thủng, từ trước chưa từng bị phá vỡ; vị ấy đâm thủng được, phá vỡ được sân uẩn từ trước chưa từng bị đâm thủng, từ trước chưa từng bị phá vỡ; vị ấy đâm thủng được, phá vỡ được si uẩn từ trước chưa từng bị đâm thủng, từ trước chưa từng bị phá vỡ”.
Cái đống giận này, sự tích tụ những cảm giác bức xúc được đâm thủng, được phá vỡ. Cái đống si mê, tổ hợp si mê, đống ngu si từ trước chưa từng bị phá vỡ; nay bị đâm thủng nay bị phá vỡ, nhờ sự tu tập Tứ Niệm Xứ, Niệm Giác Chi, tu tập Trạch Pháp Giác Chi, Tinh Tấn Giác Chi, Hỷ Giác Chi, Khinh An Giác Chi, , Định Giác Chi, Xả Giác Chi, tu tập liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, đoạn diệt, hướng đến từ bỏ, quảng đại, to lớn, vô lượng, không sân. Tu tập như vậy nên mới có thể đâm thủng được tổ hợp tham, sân, si, ba tổ hợp này, ba khố tích tụ vĩ đại, to lớn vô lượng, vô biên kiếp này hôm nay được nhìn thấy, được đâm thủng, phá vỡ bởi sự Thánh trí tuệ của sự quán thân, quán thọ, quán tâm, quán pháp.
Mấu chốt ở đây là con muốn nói với đại chúng điều gì? Chính là xuất ly tư duy, sự nghĩ về thân này, phải nhàm chán đối với nó, phải tác ý, ly tham đối với nó, phải tác ý chấm dứt đối với nó, không ưa thích, tái diễn, tái sanh, tái tục, tái ngộ, hướng đến từ bỏ, từ bỏ đống bất tịnh này, đống nhơ nhớp, bẩn thỉu, hôi thối này, ổ chứa nhớp bệnh hoạn này, chỗ chất chứa vết thương, bệnh hoạn nhiều suy tư, thật không gì trường cửu này. Tổ hợp của bệnh hoạn, tổ hợp của sự nhơ nhớp, hôi tanh, tội lỗi, dục ái, đây là tổ hợp của sân hận, bản ngã, cống cao, tổ hợp của si ám, xú uế, tội lỗi. Phải tác ý viễn ly tổ hợp tội lỗi này, nhàm chán nó, ly tham tổ hợp nhơ bẩn này, tổ hợp giết người này. Một lớp da thôi, giết mình vô lượng vô biên kiếp này, lớp da ác độc này. Tổ hợp của sự bất tịnh, tanh hôi, nhơ nhớp, xú uế, phân và nước tiểu, mủ máu, ruột gan, tổ hợp sự nhàm chán, rỉ chảy, hôi dơ.
Phải tác ý viễn ly, viễn ly đời sau, ly tham, chấm dứt, tác ý từ bỏ nó. Do khát ái tổ hợp này nên mới tạo nghiệp, do tạo nghiệp nên nó mới chịu quả báo khổ. Hãy làm cho khát ái này lắng dịu xuống đi, sự khát ái này tịch tịnh hoàn toàn đi, hãy chấm dứt vĩnh viễn khát ái này đi. Khao khát đống thịt da, máu mủ, xương tủy này, đầu lâu này, đống tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương này. Hãy tác ý, rời xa nó, nhàm , chấm dứt, từ bỏ đối với nó.
Hãy nhìn thật sâu sắc vô tổ hợp bất tịnh này, hãy dập tắt hoàn toàn khát ái này đi, lắng dịu hoàn toàn khao khát này đi, hãy chấm dứt hoàn toàn sự ham muốn này đi.
“Con đường nào, đạo lộ nào, này các Tỷ-kheo, đưa đến đoạn diệt khát ái, hãy tu tập con đường ấy, đạo lộ ấy”.
Hãy xuất gia mỗi ngày, hãy viễn ly mỗi ngày, hãy xuất gia mỗi giờ, hãy viễn ly mỗi giờ, hãy xuất gia mỗi ý niệm, hãy viễn ly trong mọi ý niệm suy tư, xuất ly tư duy. Hãy suy nghĩ, suy nghĩ về sự thoát ra đống khổ này. Con mời chú Chí Hòa chia sẻ cảm thọ.
IV. Chia sẻ:
Phật tử Trí Hòa: Kính bạch sư phụ, quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng. Trong khi con được ngồi đây nghe những lời sư phụ chia sẻ, hướng dẫn về những bài kinh trong Tương Ưng Sáu Xứ, về hai bài kinh Xú xứ và bài thứ hai thì con nhìn trong cảm thọ lúc ban đầu mới vào nghe giảng thì con bị khổ thọ khởi lên, khổ thọ về thân, lúc đó con mới điều thân trở về ba pháp và làm cho thân an tịnh, lắng dịu vì cảm thọ này rất khổ, con mới suy nghĩ tác ý nếu cảm thọ này khổ như vậy thì nghe pháp không được, con mới quay về ba pháp, tác ý làm cho thân an tịnh, tâm lắng dịu. Trong khi tác ý làm như vậy thì trạng thái hỷ lạc, hoan hỷ khởi lên, lúc đó con mới thọ nhận được pháp. Trong khi con nghe, từ lúc con hoan hỷ, hỷ lạc, con thọ nhận được pháp, con nghe và tác ý về sự xa lìa, từ bỏ những dục, sân, những suy nghĩ về hại mình hại người. Trong thời gian con đang ở dưới đây cùng với sư phụ, có những tâm niệm dục khởi lên trong khi sinh hoạt dưới đây và có những tâm niệm về sân hận, bực bội, hại mình hại người. Nãy giờ con ngồi nghe, con quán chiếu giống như sư phụ hướng dẫn là phải tác ý thì con cũng hướng tâm vào những cái dục, cái sân và những suy nghĩ hại mình, hại người nó tác ý để con từ bỏ, xa lìa. Từ chỗ đó con thấy cảm thọ, lúc đầu con ngồi rất khổ thọ, mà sau đó toàn thân từ đỉnh đầu đến gót chân, một cảm giác rất hỷ lạc dễ chịu, trong cảm thọ về tâm lúc đó rất hỷ lạc, xúc động. Nghe tới đâu, cảm thọ của tâm rất hỷ lạc. Lúc đầu con ngồi lưng con đau và mỏi, con bị trạo cử nhưng sau khi con nghe sư phụ giảng về hai bài kinh vừa rồi thì trạng thái của thân hoàn toàn, trạng thái của cảm thọ, khổ thọ của lưng không còn nữa mà nó tan biến hoàn toàn. Lúc đó con mới tác ý hướng tâm vào cái dục, nó tác ý để con đi ra khỏi dục, mặc dù sự tác ý còn rất yếu, nhưng từ chỗ này, đó là bước khởi đầu để con có thể biết cách nắm bắt để mà tác ý, vận dụng khi đối duyên xúc cảnh biết cách Như Lý Tác Ý.
Chú Sỹ: Dạ, xin chia sẻ[ 01:09:10] từ khi nghe sư phụ thuyết giảng về những bài kinh về việc tư duy. Phần đầu vào nghe sư phụ chia sẻ về sự thực tập của sư phụ là từng giây từng phút lúc nào sư phụ cũng nhớ nghĩ đến sự xuất gia của mình và lúc đầu mới vô cảm thấy tâm chưa bắt kịp được những lời dạy, chia sẻ của sư phụ và sau đó khi sư phụ chia sẻ về từng giác chi ưa viễn ly, ưa đoạn diệt con bắt đầu có một trạng thái tâm mở rộng và đón nhận được những lời dạy của sư phụ. Con cảm thấy sự Như Lý Tác Ý rất quan trọng, khi mình không Như Lý Tác Ý đưa đến sự viễn ly thì [01:10:25] sự dao động, hướng ngoại, không hướng đến sự tu tập. Và Như Lý Tác Ý cũng là sự quán chiếu, nếu mình ở núi rừng, thân mình ở rừng nhưng tâm mình không có sự tư duy, hướng đến một chút xuất ly thì tâm sẽ chạy theo ngoại cảnh, hướng về những dục lạc. Sau bài pháp này, con cảm thấy được sự quân tập khi phải trình pháp, phải chứng thực, không được nhảy bậc và tu tập thật sát vào trong đó. Mình Như Lý Tác Ý thường xuyên, trong thời gian vừa qua, tâm của con còn dao động nên sự tu tập vẫn còn trạo cử, hướng ngoại. Thời gian vừa rồi con tuy làm việc nhưng vẫn đưa cho tâm hướng về những lời chia sẻ của cô Đoàn để gột rửa những tư duy hướng về tham ái, tham dục, sân si, bản ngã. Trong thời gian vừa qua vì bị lòng dục chi phối, con chân thành cảm ơn sự chia sẻ của sư phụ ngày hôm nay. Trong bài kinh Trú xứ, con cũng có đọc sơ qua bài đó nhưng chưa hiểu rõ, con cảm ơn sư phụ, con hứa sẽ cố gắng thường xuyên Như Lý Tác Ý và hướng tâm đến cho tâm mình có sự xuất ly, hướng đến pháp, con chân thành cảm ơn sư phụ. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Chú Huy: Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, con kính bạch trên sư phụ, quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng. Qua những gì sư phụ đã chia sẻ, tâm con có cảm thọ rất hoan hỷ vì trước đó tâm con đã có ý muốn [01:13:50] từ pháp của sư phụ ngày hôm nay nó đánh động đến sự [01:14:00] sung mãn hơn. Qua lời giảng của sư phụ, con quán tưởng sự nhàm chán và hiểm họa của đời đưa đến những cảm thọ ngao ngán [01:14:50] ngao ngán những cái khổ, hướng đến sự rời khỏi những cái khổ, những cái xúc chạm. Con cũng luôn luôn đối chiếu bản thân, tu dưỡng cảm thọ đó, nuôi dưỡng thân xuất ly, ly tham, ly dục, ly ái để cho tâm này của con thanh tịnh, trong sạch, giải thoát khỏi biển sanh tử và chấm dứt hết mọi khổ đau. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, con cảm ơn sư phụ đã cho con cảm thọ sâu sắc và lời chia sẻ của sư phụ. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Chú Tý: Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, con kính bạch trên sư phụ, quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng. Sau khi nghe những lời chia sẻ của sư phụ con thấy sợ và ghê tởm ngũ uẩn. Sự tác ý của con còn nhỏ, trong khi con nghe bài pháp sư phụ con thấy rất là sợ tham ái, dục ái và sân si. Nhìn lại bản thân con, con thấy rất hối hận, có nhiều sự việc đã qua con đã mệt, con chiêm nghiệm. Con cũng xin cám ơn sư phụ đã chia sẻ bài pháp hôm nay cho con được sáng tỏ tâm tham. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
./.
SUY NGHĨ THOÁT RA – TƯƠNG ƯNG GIÁC CHI
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Đạo lộ viễn ly: PAGEREF _Toc113045625 \h 1
II. Như Lý Tác Ý và Phi Như Lý Tác Ý: PAGEREF _Toc113045626 \h 3
III. Bảy Giác Chi: PAGEREF _Toc113045627 \h 5
IV. Chia sẻ: PAGEREF _Toc113045628 \h 11
I. Đạo lộ viễn ly:
Đại chúng có biết bữa nay là ngày gì không? Khi chúng ta thực tập ba pháp, xin thông báo một tin vui cho đại chúng là chúng ta đã chuyển hai ngàn quyển Nghi thức tu học đến chùa Bửu Long – nơi trùng tiên tam tạng và hòa thượng trưởng ban tổ chức đã nhận cúng dường. Cũng có nghĩa là cả hệ thống Phật giáo Nam Tông đã công nhận tác phẩm Đường lối tu học Nikāya của chúng ta. Đại chúng hoan hỷ không?
Và cũng ngày hôm nay có hòa thượng, sư trụ trì Viên Không đến thăm, chúng ta cũng đã cúng dường một bộ sách tu học Nikāya cho các sư. Đặc biệt hôm nay là rằm tháng Mười, cũng là ngày xuất gia của con cách đây hai mươi chín năm. Con xin thưa đại chúng, trong lòng con xuất gia từng ngày, thậm chí là xuất gia từng giờ, hay xuất gia từng tâm niệm. Không chỉ hôm nay là ngày kỷ niệm xuất gia lần thứ hai mươi chín năm. Nhưng mỗi ngày, mỗi giờ con đều nghĩ đến sự xuất ly. Xuất ly tư duy là một chi phần trong Chánh tư duy, suy nghĩ về sự thoát ra.
Trong bộ kinh, Đức Phật nói bậc Đa văn Thánh đệ tử có cảm thọ, một cảm giác lạc thọ đều phải quán chiếu cảm giác này là vô thường. Khi cảm thọ, một cảm giác lạc thọ phải quán chiếu rằng đây không đáng để cho mình hoan hỷ, ưa thích, dầu đó là cảm giác vui. Bậc Đa văn Thánh đệ tử khi cảm thọ một cảm giác lạc thọ, luôn luôn quán chiếu với một ý niệm thoát ly. Quán chiếu tức tác ý – tác động tâm ý, tác động tư duy, suy nghĩ theo chiều hướng thoát ra, không say đắm trong cảm giác vui sướng đó, không ưa thích trong cảm giác hoan hỷ đó, nhìn thấy tính chất vô thường, sanh diệt của các cảm giác đó đối với tất cả mọi cảm giác, dù cho cảm giác vui chứ đừng nói chi cảm giác khổ thì ý niệm xuất ly là dễ.
Khi bậc Đa văn Thánh đệ tử, người tu có cảm thọ một cảm giác vui phải thấy nó là vô thường, phải thấy cảm giác này là không đáng hoan hỷ, phải thấy cảm giác này với một ý niệm thoát ly. Xin thưa đại chúng, trong mấy ngày vừa qua con trú trong cảm giác nhàm chán, xuất ly liên tục. Khi đó con ngồi thiền buổi sáng bên cô Phong Đảnh, con mở bài Tương Ưng Giác Chi, Đức Thế Tôn nói là:
“Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Tỷ-kheo tu tập trạch pháp giác chi... tu tập tinh tấn giác chi... tu tập hỷ giác chi... tu tập khinh an giác chi... tu tập định giác chi... tu tập xả giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ”
(Kinh Tuyết sơn – I. Phẩm Núi – Chương II Tương ưng giác chi – Tập V Thiên đại phẩm – kinh Tương ưng bộ)
Thực sự khi nghe đến câu kinh này, bài kinh này con toàn thân rúng động và phát giác thêm một điều nữa – một bước sâu sắc hơn nữa về sự thấy pháp. Pháp chúng ta đang tu dựa vào sự viễn ly, lấy sự viễn ly, sự rời xa làm chỗ nương dựa chứ không phải là pháp tu hội. Chúng ta tu tập sự quán chiếu thân thể này, cảm thọ này, nội tâm và những sự vận hành trong tâm chúng ta để đưa đến một đời sống rời xa, không phải tụ hội, chúng ta ưa thích viễn ly, không ưa thích tụ hội. Chúng ta dựa vào sự ly tham, không phải dựa vào sự tham muốn, ly tham, lìa tham, rời tham, xa tham.
Chúng ta tu tập con đường này là đi đến sự chấm dứt, đoạn diệt, là diệt hết, dứt hết những dục tham ái, sân si, vô minh, bản ngã, diệt hết. Hướng đến từ bỏ, từ bỏ những vật chất, tài sản, từ bỏ những cái của ta cho đến từ bỏ thân xác của cái gọi là ta, từ bỏ những cảm giác nghĩ tưởng, nhận thức của ngũ uẩn, từ bỏ xuất ly, xả ly, thoát ly. Đây là mục đích tối cao của đời sống phạm hạnh, từ bỏ.
Tại sao phải từ bỏ? Vì những thứ đó là nhân, là duyên, khổ tập khởi. Sắc, tài sản, vật chất là nhân, là duyên để tích tụ khổ đau. Thân xác này là nhân, là duyên, điều kiện để dục, ái, tham sanh khởi, ngã kiến sanh khởi, thân kiến sanh khởi, kiến chấp sanh khởi. Cho nên chúng ta hướng đến sự rời xa nó, sự nhàm chán nó, sự chấm dứt, sự từ bỏ các cảm giác, các suy nghĩ, các tưởng, các sự rõ biết, nhận thức, rời xa nó, ly tham đối với nó, chấm dứt, hướng đến từ bỏ. Có như vậy, khi đi hết cuộc đời cho đến gần nhắm mắt chúng ta mới tuyên bố một câu:
“Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa".
(Kinh Vị tỷ kheo - I. Phẩm Núi – Chương II Tương ưng giác chi –
Tập V Thiên đại phẩm – kinh Tương ưng bộ)
Tại vì sao? Vì tất cả sự tu tập của chúng ta là hướng đến sự từ bỏ, viễn ly, xuất ly, xả ly, thoát ly. Đây là chỗ cực kỳ sâu sắc mà có khi ăn hết cơm gạo, tương chao trong chùa, suốt cuộc đời mà chưa nghe, chưa hiểu chứ đừng nói chi có thể chứng nhập. Chỉ có sự hướng đến y chỉ viễn ly, y chỉ ly tham, y chỉ đoạn diệt, hướng đến từ bỏ mình mới có thể xuất ly được. Dục khởi lên, mình suy nghĩ xuất ly, thoát ra, phải đi ra, phải thoát ra, phải xa rời nó, phải diệt tận nó, phải ly tham nó, từ bỏ, chấm dứt nó. Sân khởi lên, những cảm giác sân hận khởi lên, xa rời nó, viễn ly nó, ly tham đối với nó, đoạn diệt, từ bỏ, hướng đến từ bỏ. Bản ngã khởi lên, xa rời nó, nhàm chán nó, ly tham đối với bản ngã đó, đoạn diệt đối với bản ngã đó, hướng đến từ bỏ đối với bản ngã đó.
II. Như Lý Tác Ý và Phi Như Lý Tác Ý:
Tất cả sự tu tập của mình đều lấy những câu pháp định này làm tông chỉ, kim chỉ nam. Đó là những câu tác ý của Đức Phật. Cho nên trong bài kinh Trú xứ trong Tương Ưng Bộ Kinh Đức Phật nói như thế nào:
“Do tác ý, làm cho sung mãn các pháp trú xứ cho dục và tham (kàmaràga), này các Tỷ-kheo, nên dục tham (kàmacchanda) chưa sanh được sanh khởi; và dục tham đã sanh đi đến tăng trưởng, quảng đại”
(Kinh Trú xứ - III. Phẩm Udàyi Chương II Tương ưng giác chi –
Tập V Thiên đại phẩm – kinh Tương ưng bộ)
Do mình tác ý, suy nghĩ nên mình làm sao sung mãn các pháp trú xứ làm chỗ ở cho dục tham, mình suy nghĩ, tác ý, tư duy về cái đó. Như vậy, mình làm cho nó sung mãn các pháp trú xứ cho dục, tham. Cho nên dục tham chưa sanh nó sanh lên, mà dục tham đã sanh thì nó tăng trưởng, lớn mạnh nên cái tác ý này hết sức quan trọng, chính là sự tu tập của chúng ta. Đức Phật nói tiếp:
“Do tác ý làm cho sung mãn các pháp trú xứ cho sân, này các Tỷ-kheo, nên sân chưa sanh được sanh khởi; và sân đã sanh đi đến tăng trưởng, quảng đại”.
Do mình suy nghĩ, tác động tâm ý, nên “Do tác ý, làm cho sung mãn các pháp trú xứ cho hôn trầm thụy miên, này các Tỷ-kheo, nên hôn trầm thụy miên chưa sanh được sanh khởi; và hôn trầm thụy miên đã sanh đi đến tăng trưởng, quảng đại”.
Tự mình làm cho nó sung mãn, mình cho cái dục, tham ăn, cho nó lớn mạnh, cho nó bồi bổ, tiếp tế cho nó bằng những suy nghĩ. Cho nên nó tăng trưởng quảng đại, lớn mạnh trong thân tâm mình.
“Do tác ý, làm cho sung mãn các pháp trú xứ cho trạo hối, này các Tỷ-kheo, nên trạo hối chưa sanh được sanh khởi; và trạo hối đã sanh đi đến tăng trưởng, quảng đại.
Do tác ý, làm cho sung mãn các pháp trú xứ cho nghi hoặc, này các Tỷ-kheo, nên nghi hoặc chưa sanh được sanh khởi; và nghi hoặc đã sanh đi đến tăng trưởng, quảng đại”.
Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi. Do mình tác ý nên làm cho nó sung mãn các pháp trú xứ cho Niệm Giác Chi. Tác ý thế nào để cho Niệm giác chi sanh khởi. Mình cứ tác ý rồi quán thân trên thân, quán thọ trên thọ, quán tâm trên tâm, quán pháp trên pháp. Thường xuyên tác ý, suy nghĩ, quán chiếu, tư duy thì như vậy Niệm Giác Chi sanh. Mình không tác ý thân hành niệm thì làm sao Niệm Giác Chi sanh? Mình không tác ý quán cảm thọ, quán ngay nội tâm, quán về bên trong các pháp vận hành như thế nào, thiện hay bất thiện, cái nào cần diệt trừ, cái nào cần làm cho nó sanh khởi.
Như vậy Niệm Giác Chi không sanh, niệm ở đây tức Tứ Niệm Xứ, các giác chi khác cũng vậy, Tinh Tấn Giác Chi, Khinh An Giác Chi, Hỷ Giác Chi, Định Giác Chi, Xả Giác Chi, Trạch Pháp Giác Chi. Mình phải tác ý làm cho nó sung mãn. Như sáng nay con cho đại chúng tại chùa Bửu Liên trải hỷ tâm vô lượng, tất cả đại chúng trải hỷ tâm, hoan hỷ cùng cực, tột độ. Lúc đó tác ý như vậy nên nó làm cho sung mãn Hỷ Giác Chi. Xả Giác Chi cũng như vậy.
Cho nên Đức Phật nói do Phi Như Lý Tác Ý, tức mình suy nghĩ không đúng pháp, ngược với Chánh pháp, khi đó dục tham chưa sanh nó sanh, dục tham đã sanh đưa đến tăng trưởng, quảng đại. Sân cũng vậy, hôn trầm, thùy miên, trạo hối, nghi hoặc. Mình suy nghĩ không đúng chiều của pháp mà suy nghĩ theo chiều của thế gian, thế tình, của đời thì lúc đó các pháp Ngũ cái, các pháp chướng ngại, các pháp tạp nhiễm sanh. Nếu mình tác ý ở trong pháp không thì Thánh pháp mới có mặt, lớn mạnh, tăng trưởng, phát triển.
III. Bảy Giác Chi:
Như vậy chúng ta thấy trong sự tác ý này hết sức quan trọng. Hãy siêng năng tác ý, không phải đợi lên ngồi thiền hay nghe pháp mình mới tác ý, suy tư. Thường xuyên suy tư, bài kinh Đoạn Tận:
“Con đường nào, đạo lộ nào này các Tỷ-kheo, đưa đến đoạn tận khát ái, hãy tu tập con đường ấy, đạo lộ ấy.
Và con đường nào, đạo lộ nào, này các Tỷ-kheo, đưa đến đoạn tận khát ái?
Tức là bảy giác chi. Thế nào là bảy? Niệm giác chi... xả giác chi.
Khi được nói vậy, Tôn giả Udàyi bạch Thế Tôn:
-- Tu tập như thế nào, làm cho sung mãn như thế nào, bạch Thế Tôn, bảy giác chi đưa đến đoạn tận khát ái?
Ở đây, này Udàyi, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ, quảng đại, to lớn, vô lượng, không sân. Ðối với vị tu tập niệm giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ, quảng đại, to lớn, vô lượng, không sân thì khát ái được đoạn tận. Do khát ái được đoạn tận nên nghiệp được đoạn tận. Do nghiệp được đoạn tận nên khổ được đoạn tận.”.
(Kinh Đoạn tận - III. Phẩm Udàyi Chương II Tương ưng giác chi
– Tập V Thiên đại phẩm – kinh Tương ưng bộ)
Do khát ái được đoạn tận, dứt hết nên nghiệp được dứt hết. Do nghiệp được dứt hết nên khổ đau được dứt hết, do lòng yêu thích, khát khao được dứt hết nên nghiệp được dứt hết. Do nghiệp được dứt hết nên khổ đau được dứt hết. Những bài này nó thâm sâu, toàn là khẩu quyết, những cái bí yếu, tinh túy, tông chỉ của kinh Nikāya. Qua câu này mình thấy được gì? “Con đường nào, đạo lộ nào này các Tỷ-kheo, đưa đến đoạn tận khát ái, hãy tu tập con đường ấy”. Như vậy Ba mươi bảy phẩm trợ đạo của mình là gì? Chính là “đoạn tận khát ái”, dứt hết sự yêu thích, khát khao. Còn cái đó là còn tạo nghiệp, còn nghiệp là còn khổ đau.
Mình thấy rõ sự tu hành của mình không? Trong khi ăn, mình kiểm soát dục, tham, ái; trong khi ngủ mình nhiếp phục dục, tham, ái; trong khi nói, trong khi làm, trong cảm giác. Mình thấy không, dần dần sáng tỏ ra chưa, trong cảm thọ, trong suy nghĩ, trong những hình bóng. Đó, đây là con đường đoạn tận khát ái, là Ba mươi bảy phẩm trợ đạo nói chung, là Thất Giác Chi nói riêng. Chính là con đường đoạn tận khát ái, chấm dứt sự khao khát, ưa thích đối với ngũ uẩn.
Bây giờ con nghe tin người ta lấn đất chùa, con không sân nữa mà có một cảm giác ngao ngán, nhàm chán, thấy ê chề, não nề cuộc đời này. Vì lòng dục, lòng tham không kể gì chùa chiền, Tam Bảo và sự nghiệp quả đau khổ của họ trong tương lai là vô tận, vô lượng, khủng khiếp. Chính vì lòng khao khát đối với sắc này, đất đai, tiền bạc, nhà cửa, ruộng vườn, xe cộ, tài sản này làm người ta tạo nghiệp, và từ nghiệp này chuốc lấy quả báo khổ. Biết bao nhiêu cái để mình nhìn thấy được tổng cương lĩnh của giáo pháp.
Tu tập Bảy Giác Chi là liên hệ đến viễn ly, vừa rồi mình học những bài kinh viễn ly, mình tu là để rời xa. Chứ không phải để tu để nhập cuộc, nhập cuộc cho luân hồi, nhập cuộc với khổ đau, nhập cuộc cho sanh tử, nhập cuộc với những dòng nước mắt và máu, với những sự ganh tị, đố kỵ, hơn thua, chém giết, nhân ngã bỉ thử, thị phi, đúng sai để làm gì? Nhập những cuộc đó để làm gì? Nội những già bệnh chết, sầu bi, khổ ưu não cũng là chết rồi, còn thêm những cái kia nữa thì điên khùng, điên loạn, điên đảo nên đời sống người tu của chúng ta ở núi rừng là rất vi diệu, tuyệt diệu, huyền diệu, thần diệu, thánh diệu.
Yêu thích núi rừng, yêu thích viễn ly, thân viễn ly, tâm viễn ly, viễn ly khát ái, sân hận, vô minh, chấp ngã. Tác ý từ bỏ như vậy, thật từ bỏ vì không có gì trong đó. Có cái gì đâu, trời đất ơi, một đống máu mủ, phèo phổi gan ruột, phân và nước tiểu, có gì đâu? Có gì đâu để tạo những ác nghiệp, để xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, có gì đâu, những cảm giác thôi. Tất cả mọi cảm giác, cảm thọ đều là vô thường, có gì đâu?
Quý vị ngồi an ổn như vậy, tu hành trên núi như vậy không khỏe hơn là tối ngày dắt xe chạy dài dài ngoài đường vậy hả, khổ không, mệt không, tai nạn không? Mình phải tác ý như vậy. Viễn ly là đời sống tối thượng, tối cao, phạm hạnh, Thánh hạnh, Thánh hiền, là nếp sống của Thánh nhân, hân hoan, vui sướng, ngày đêm tinh tấn hoan hỷ tu tập thiện pháp. Liên hệ đến viễn ly, ly tham, đoạn diệt, hướng đến từ bỏ, quảng đại, to lớn, vô lượng, không sân. Tập tâm rộng mở, vô lượng vô biên. Từ vô lượng tâm, bi vô lượng tâm, hỷ vô lượng tâm, xả vô lượng tâm.
Phải thực tập tâm rộng mở, rộng lớn, bao dung, vô lượng, quảng đại, vô biên. Như vậy mà tu tập Tứ Niệm Xứ, như vậy mà tu tập Niệm Giác Chi, Chánh Niệm. Tu tập như vậy thì sao? Khát ái được đoạn tận. Tối ngày mình cứ Quán Ba Mươi Hai Thể Trược, Quán Chín Giai Đoạn Tử Thi, Quán Tứ Đại đất nước gió lửa. Mỗi ngày mình thấy cái đó hoài như vậy thì khát ái làm sao không giảm được? Suốt ngày nhìn bộ xương đó, đi ra đi vô nhìn bộ xương đó, suốt ngày nhìn đống tro đó, của bà Năm đó, thì làm sao khát ái không giảm được?
Mình không tiếp tế cho nó nữa, không bỏ củi vô đống lửa, rút củi ra, dập tắt; không châm dầu vô ngọn đèn, làm cho nó khô kiệt, cạn kiệt, hết dầu, tim khô dầu hết, lửa tàn. Sự thiêu đốt nó chấm dứt, cứ hoài như vậy, mãi như vậy, kiên trì. Ngày đêm siêng năng tác ý hoài như vậy, đánh cho nó tơi tả, đánh cho nó gục ngã, tan nát, tan tành, tan vụn, tan vỡ, tan hoang, đánh cho nó tan thành mây thành khói, thành hư không tất cả những lậu hoặc phải thẳng tay, phải dùng thanh gươm Thánh trí huệ. Liên tục tác ý ngày đêm, mở mắt dậy là tác ý, bất cứ lúc nào cũng tác ý. Và phải tác ý sự hùng lực, tinh tấn lực, mãnh hổ lực, uy dũng lực tác ý làm cho sức mạnh của mình bung ra, nở ra.
Khi ngồi tác ý thấy con người mình tăng thêm sức mạnh như lực sĩ, còn hơn uống nước tăng lực, phải tác ý. Khi nào nó yếu đuối, nhàm chán, rã rượi, uể oải, phải tác ý hùng lực, tinh tấn lực, uy dũng lực làm cho nó quảng đại, to lớn, vô lượng không sân thì khát ái sẽ được đoạn tận, do khát ái được đoạn tận nên nghiệp được đoạn tận.
“Ở đây, Tỷ-kheo tu tập xả giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ, quảng đại, to lớn, vô lượng, không sân. Ðối với vị tu tập xả giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ, quảng đại, to lớn, vô lượng, không sân thì khát ái được đoạn tận. Do khát ái được đoạn tận nên nghiệp được đoạn tận. Do nghiệp được đoạn tận nên khổ được đoạn tận”.
(Kinh Đoạn tận - III. Phẩm Udàyi Chương II Tương ưng giác chi – Tập V Thiên đại phẩm – kinh Tương ưng bộ)
Vì trong này không khao khát, không ưa thích nữa thì nó đâu tạo ra. Sỡ dĩ có một sự thúc giục, đòi hỏi, tham muốn, chạy tìm, rong ruổi, cho nên từ những cảm thọ sanh lên thì những hình bóng, suy nghĩ sanh ra rồi nó đẩy thân sắc uẩn này đi chạy đi tìm, đi tạo nghiệp.
Còn nếu như khát ái dứt rồi, dứt hết rồi thì các hành sẽ được an tịnh, yên tịnh, lắng dịu, sắc sẽ an tịnh, thọ sẽ an tịnh, tưởng an tịnh, hành an tịnh, thức an tịnh. Chính vì vậy mới gọi Đức Thế Tôn là bậc đã đạt được sự an tịnh và thuyết pháp để đưa chúng sanh đến chỗ an tịnh, tịch tịnh, mát mẻ, thanh lương.
Cho nên Trạch Pháp Giác Chi là sao? Trước khi qua Trạch Pháp Giác Chi mình phải thấy khát ái đoạn tận thì nghiệp đoạn tận, mà nghiệp đoạn tận thì khổ đoạn tận. Ở trong không thúc giục để tạo nghiệp nữa, mà không tạo nghiệp nữa thì quả của nghiệp không có cho nên khổ được đoạn tận, khổ uẩn này được chấm dứt. Mình tu Trạch Pháp Giác Chi cũng vậy, tức mình phải giãn trạch, quyết trạch, chọn lựa, phân biệt trong tâm mình, cái nào chánh cái nào tà, cái nào thiện cái nào ác, cái nào đúng cái nào sai, cái nào nên làm cái nào không nên làm, cái nào nên nói cái nào không nên nói, cái nào nên nghĩ cái nào không nên nghĩ là mình phải có Trạch Pháp Giác Chi.
Mỗi một cảm thọ mình phải Trạch Pháp Giác Chi mình mới biết được cảm thọ nó là gì, cảm giác đó là thiện hay bất thiện, cảm giác đó là sân hay bản ngã, hay vô minh, hôn trầm, thùy miên, trạo cử. Phải có Trạch Pháp Giác Chi mình mới nhìn ra được, không có Trạch Pháp Giác Chi mình cứ nhắm mắt đơ đơ, không biết cái gì là cái gì thì làm sao? Là si, si mê, hôn trầm mà buông hôn trầm ra là trạo cử, lăng xăng, mà ngồi trở lại thì nhắm mắt ở trong tăm tối, si ám, vô mình. Không có Trạch Pháp Giác Chi không thành tựu. Như vậy một yếu tố trong bảy yếu tố này không đủ đưa đến giác ngộ.
Cho nên sự Trạch Pháp hết sức quan trọng, sự quyết trạch, giãn trạch, biện biệt, phân minh rõ ràng, rành mạch trong nội tâm. Cái đó thuộc về thọ, hay hành, tưởng, thức? Cái đó thuộc về lục dục lậu, hữu lậu hay vô minh lậu. Trong năm Triền cái nó thuộc về cái gì, nội tại trong tâm mình nó có từ tâm hay sân tâm? Mình phải Trạch Pháp Giác Chi, phải biện biệt, phải giãn trạch, rành rõ, phân minh, phải nhìn một cách chính xác ở trong tâm đó gọi là quán tâm, quán pháp, quán thọ cũng vậy thôi.
Tất cả quán thân, quán thọ, quán tâm, quán pháp đều phải có Trạch Pháp Giác Chi, nếu không thì mình lẫn lộn. Cho nên chúng ta thấy không, tại sao Trạch Pháp Giác Chi này, Thất Giác Chi này gần cuối Bát Chánh Đạo vì nó rất khó ở trong quán pháp. Sau khi mình có sự tu tập Tứ Niệm Xứ một cách tương đối khá mình mới có thể biết được Thất Giác Chi. Vì thân thọ, tâm pháp này còn chưa rành thì làm sao? Cho nên cái Trạch Pháp này mình học hết sức quan trọng, có một bài kinh Đức Phật giải từng phần từng phần này.
Mình có Trạch Pháp như vậy, có phần biện biện hết sức rành rõ trong tâm mình, nó rất vi tế, tinh vi, sắc bén. Do mình giãn trạch như vậy nên làm sao? Rồi mình nỗ lực, tinh tấn giác chi, nỗ lực như thì Hoan Hỷ sẽ sanh. Sự Hoan Hỷ sanh rồi, kế đó là lắng dịu xuống nên Khinh An nhẹ nhàng sanh, Khinh An có rồi đưa đến Định. Mà khi Định rồi thì bằng Chánh kiến trong Định đó buông xả hết tất cả - Xả Giác Chi được thành tựu.
Cho nên Đức Thế Tôn nói:
“Vị ấy nhờ tâm tu tập niệm giác chi, đâm thủng được (nibbijjhati), phá vỡ được (padàleti) tham uẩn từ trước chưa từng bị đâm thủng, từ trước chưa từng bị phá vỡ”.
(Kinh Thế nhập III. Phẩm Udàyi Chương II Tương ưng giác chi –Tập V Thiên đại phẩm – kinh Tương ưng bộ)
Nghe thấy chỗ này chấn động, vị đó nhờ tu tập Thất Giác Chi, tu tập Tứ Niệm Xứ một cách siêng năng tinh tấn nên vị ấy đâm thủng được, phá vỡ được một đống tham, một tổ hợp tham từ trước chưa từng bị đâm thủng, từ trước chưa từng bị phá vỡ. Và bây giờ đâm thủng được tổ hợp tham, đống tham trong tâm.
Chữ Uẩn này là sự tụ tập, tổ hợp, cái tham này không đơn giản, nó là một tổ hợp trong tâm. Bây giờ do tu tập Chánh Niệm, Tứ Niệm Xứ mà có thể đâm thủng được, phá vỡ được đống tham từ trước chưa từng bị đâm thủng. Hồi xưa tới giờ nó y nguyên như vậy, sừng sững như vậy, to tướng như vậy, trùm phủ như vậy mà bây giờ nó bị đâm thủng với con mắt trí huệ của ngũ uẩn, đống tham đó bị đâm thủng, bị phá vỡ.
Đầu tiên nó được nhìn thấy, kế đó bị đâm thủng, sau là bị phá vỡ. Vị ấy đâm thủng được, phá vỡ được sân uẩn – cái đống sân – tổ hợp sân hận, các hang ổ, các cảm giác bực dọc, bứt rứt, bực bội, khó chịu.
“Vị ấy nhờ tâm tu tập xả giác chi, đâm thủng được, phá vỡ được tham uẩn từ trước chưa từng bị đâm thủng, từ trước chưa từng bị phá vỡ; vị ấy đâm thủng được, phá vỡ được sân uẩn từ trước chưa từng bị đâm thủng, từ trước chưa từng bị phá vỡ; vị ấy đâm thủng được, phá vỡ được si uẩn từ trước chưa từng bị đâm thủng, từ trước chưa từng bị phá vỡ”.
Cái đống giận này, sự tích tụ những cảm giác bức xúc được đâm thủng, được phá vỡ. Cái đống si mê, tổ hợp si mê, đống ngu si từ trước chưa từng bị phá vỡ; nay bị đâm thủng nay bị phá vỡ, nhờ sự tu tập Tứ Niệm Xứ, Niệm Giác Chi, tu tập Trạch Pháp Giác Chi, Tinh Tấn Giác Chi, Hỷ Giác Chi, Khinh An Giác Chi, , Định Giác Chi, Xả Giác Chi, tu tập liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, đoạn diệt, hướng đến từ bỏ, quảng đại, to lớn, vô lượng, không sân. Tu tập như vậy nên mới có thể đâm thủng được tổ hợp tham, sân, si, ba tổ hợp này, ba khố tích tụ vĩ đại, to lớn vô lượng, vô biên kiếp này hôm nay được nhìn thấy, được đâm thủng, phá vỡ bởi sự Thánh trí tuệ của sự quán thân, quán thọ, quán tâm, quán pháp.
Mấu chốt ở đây là con muốn nói với đại chúng điều gì? Chính là xuất ly tư duy, sự nghĩ về thân này, phải nhàm chán đối với nó, phải tác ý, ly tham đối với nó, phải tác ý chấm dứt đối với nó, không ưa thích, tái diễn, tái sanh, tái tục, tái ngộ, hướng đến từ bỏ, từ bỏ đống bất tịnh này, đống nhơ nhớp, bẩn thỉu, hôi thối này, ổ chứa nhớp bệnh hoạn này, chỗ chất chứa vết thương, bệnh hoạn nhiều suy tư, thật không gì trường cửu này. Tổ hợp của bệnh hoạn, tổ hợp của sự nhơ nhớp, hôi tanh, tội lỗi, dục ái, đây là tổ hợp của sân hận, bản ngã, cống cao, tổ hợp của si ám, xú uế, tội lỗi. Phải tác ý viễn ly tổ hợp tội lỗi này, nhàm chán nó, ly tham tổ hợp nhơ bẩn này, tổ hợp giết người này. Một lớp da thôi, giết mình vô lượng vô biên kiếp này, lớp da ác độc này. Tổ hợp của sự bất tịnh, tanh hôi, nhơ nhớp, xú uế, phân và nước tiểu, mủ máu, ruột gan, tổ hợp sự nhàm chán, rỉ chảy, hôi dơ.
Phải tác ý viễn ly, viễn ly đời sau, ly tham, chấm dứt, tác ý từ bỏ nó. Do khát ái tổ hợp này nên mới tạo nghiệp, do tạo nghiệp nên nó mới chịu quả báo khổ. Hãy làm cho khát ái này lắng dịu xuống đi, sự khát ái này tịch tịnh hoàn toàn đi, hãy chấm dứt vĩnh viễn khát ái này đi. Khao khát đống thịt da, máu mủ, xương tủy này, đầu lâu này, đống tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương này. Hãy tác ý, rời xa nó, nhàm , chấm dứt, từ bỏ đối với nó.
Hãy nhìn thật sâu sắc vô tổ hợp bất tịnh này, hãy dập tắt hoàn toàn khát ái này đi, lắng dịu hoàn toàn khao khát này đi, hãy chấm dứt hoàn toàn sự ham muốn này đi.
“Con đường nào, đạo lộ nào, này các Tỷ-kheo, đưa đến đoạn diệt khát ái, hãy tu tập con đường ấy, đạo lộ ấy”.
Hãy xuất gia mỗi ngày, hãy viễn ly mỗi ngày, hãy xuất gia mỗi giờ, hãy viễn ly mỗi giờ, hãy xuất gia mỗi ý niệm, hãy viễn ly trong mọi ý niệm suy tư, xuất ly tư duy. Hãy suy nghĩ, suy nghĩ về sự thoát ra đống khổ này. Con mời chú Chí Hòa chia sẻ cảm thọ.
IV. Chia sẻ:
Phật tử Trí Hòa: Kính bạch sư phụ, quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng. Trong khi con được ngồi đây nghe những lời sư phụ chia sẻ, hướng dẫn về những bài kinh trong Tương Ưng Sáu Xứ, về hai bài kinh Xú xứ và bài thứ hai thì con nhìn trong cảm thọ lúc ban đầu mới vào nghe giảng thì con bị khổ thọ khởi lên, khổ thọ về thân, lúc đó con mới điều thân trở về ba pháp và làm cho thân an tịnh, lắng dịu vì cảm thọ này rất khổ, con mới suy nghĩ tác ý nếu cảm thọ này khổ như vậy thì nghe pháp không được, con mới quay về ba pháp, tác ý làm cho thân an tịnh, tâm lắng dịu. Trong khi tác ý làm như vậy thì trạng thái hỷ lạc, hoan hỷ khởi lên, lúc đó con mới thọ nhận được pháp. Trong khi con nghe, từ lúc con hoan hỷ, hỷ lạc, con thọ nhận được pháp, con nghe và tác ý về sự xa lìa, từ bỏ những dục, sân, những suy nghĩ về hại mình hại người. Trong thời gian con đang ở dưới đây cùng với sư phụ, có những tâm niệm dục khởi lên trong khi sinh hoạt dưới đây và có những tâm niệm về sân hận, bực bội, hại mình hại người. Nãy giờ con ngồi nghe, con quán chiếu giống như sư phụ hướng dẫn là phải tác ý thì con cũng hướng tâm vào những cái dục, cái sân và những suy nghĩ hại mình, hại người nó tác ý để con từ bỏ, xa lìa. Từ chỗ đó con thấy cảm thọ, lúc đầu con ngồi rất khổ thọ, mà sau đó toàn thân từ đỉnh đầu đến gót chân, một cảm giác rất hỷ lạc dễ chịu, trong cảm thọ về tâm lúc đó rất hỷ lạc, xúc động. Nghe tới đâu, cảm thọ của tâm rất hỷ lạc. Lúc đầu con ngồi lưng con đau và mỏi, con bị trạo cử nhưng sau khi con nghe sư phụ giảng về hai bài kinh vừa rồi thì trạng thái của thân hoàn toàn, trạng thái của cảm thọ, khổ thọ của lưng không còn nữa mà nó tan biến hoàn toàn. Lúc đó con mới tác ý hướng tâm vào cái dục, nó tác ý để con đi ra khỏi dục, mặc dù sự tác ý còn rất yếu, nhưng từ chỗ này, đó là bước khởi đầu để con có thể biết cách nắm bắt để mà tác ý, vận dụng khi đối duyên xúc cảnh biết cách Như Lý Tác Ý.
Chú Sỹ: Dạ, xin chia sẻ[ 01:09:10] từ khi nghe sư phụ thuyết giảng về những bài kinh về việc tư duy. Phần đầu vào nghe sư phụ chia sẻ về sự thực tập của sư phụ là từng giây từng phút lúc nào sư phụ cũng nhớ nghĩ đến sự xuất gia của mình và lúc đầu mới vô cảm thấy tâm chưa bắt kịp được những lời dạy, chia sẻ của sư phụ và sau đó khi sư phụ chia sẻ về từng giác chi ưa viễn ly, ưa đoạn diệt con bắt đầu có một trạng thái tâm mở rộng và đón nhận được những lời dạy của sư phụ. Con cảm thấy sự Như Lý Tác Ý rất quan trọng, khi mình không Như Lý Tác Ý đưa đến sự viễn ly thì [01:10:25] sự dao động, hướng ngoại, không hướng đến sự tu tập. Và Như Lý Tác Ý cũng là sự quán chiếu, nếu mình ở núi rừng, thân mình ở rừng nhưng tâm mình không có sự tư duy, hướng đến một chút xuất ly thì tâm sẽ chạy theo ngoại cảnh, hướng về những dục lạc. Sau bài pháp này, con cảm thấy được sự quân tập khi phải trình pháp, phải chứng thực, không được nhảy bậc và tu tập thật sát vào trong đó. Mình Như Lý Tác Ý thường xuyên, trong thời gian vừa qua, tâm của con còn dao động nên sự tu tập vẫn còn trạo cử, hướng ngoại. Thời gian vừa rồi con tuy làm việc nhưng vẫn đưa cho tâm hướng về những lời chia sẻ của cô Đoàn để gột rửa những tư duy hướng về tham ái, tham dục, sân si, bản ngã. Trong thời gian vừa qua vì bị lòng dục chi phối, con chân thành cảm ơn sự chia sẻ của sư phụ ngày hôm nay. Trong bài kinh Trú xứ, con cũng có đọc sơ qua bài đó nhưng chưa hiểu rõ, con cảm ơn sư phụ, con hứa sẽ cố gắng thường xuyên Như Lý Tác Ý và hướng tâm đến cho tâm mình có sự xuất ly, hướng đến pháp, con chân thành cảm ơn sư phụ. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Chú Huy: Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, con kính bạch trên sư phụ, quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng. Qua những gì sư phụ đã chia sẻ, tâm con có cảm thọ rất hoan hỷ vì trước đó tâm con đã có ý muốn [01:13:50] từ pháp của sư phụ ngày hôm nay nó đánh động đến sự [01:14:00] sung mãn hơn. Qua lời giảng của sư phụ, con quán tưởng sự nhàm chán và hiểm họa của đời đưa đến những cảm thọ ngao ngán [01:14:50] ngao ngán những cái khổ, hướng đến sự rời khỏi những cái khổ, những cái xúc chạm. Con cũng luôn luôn đối chiếu bản thân, tu dưỡng cảm thọ đó, nuôi dưỡng thân xuất ly, ly tham, ly dục, ly ái để cho tâm này của con thanh tịnh, trong sạch, giải thoát khỏi biển sanh tử và chấm dứt hết mọi khổ đau. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, con cảm ơn sư phụ đã cho con cảm thọ sâu sắc và lời chia sẻ của sư phụ. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Chú Tý: Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, con kính bạch trên sư phụ, quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng. Sau khi nghe những lời chia sẻ của sư phụ con thấy sợ và ghê tởm ngũ uẩn. Sự tác ý của con còn nhỏ, trong khi con nghe bài pháp sư phụ con thấy rất là sợ tham ái, dục ái và sân si. Nhìn lại bản thân con, con thấy rất hối hận, có nhiều sự việc đã qua con đã mệt, con chiêm nghiệm. Con cũng xin cám ơn sư phụ đã chia sẻ bài pháp hôm nay cho con được sáng tỏ tâm tham. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
./.