Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Qua Bờ Bên Kia

2026-03-03 00:55:13
Kinh Nikāya Giảng Giải

QUA BỜ BÊN KIA

- Thích Minh Thành -

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Ý nghĩa bài kinh “Rắn Độc” PAGEREF _Toc73002614 \h 1

II.Bài kinh “Rắn Độc” PAGEREF _Toc73002615 \h 2

1.Ý nghĩa hình ảnh “bốn con rắn độc” PAGEREF _Toc73002616 \h 3

2.Ý nghĩa hình ảnh “những kẻ sát nhân” và “tên cướp thứ sáu” PAGEREF _Toc73002617 \h 4

3.Ý nghĩa hình ảnh “ngôi làng” PAGEREF _Toc73002618 \h 5

4.Ý nghĩa của hình ảnh “bọn cướp phá làng” PAGEREF _Toc73002619 \h 6

5.Ý nghĩa hình ảnh “vùng nước lớn”, “hai bên bờ” và “chiếc bè” PAGEREF _Toc73002620 \h 7

III.Bến bờ bình an PAGEREF _Toc73002621 \h 8

Ý nghĩa bài kinh “Rắn Độc”

Kính thưa đại chúng, hôm nay chúng ta học bài kinh “Rắn Độc”, Tương Ưng Bộ Kinh tập IV.

Bài kinh này đưa ra những hình ảnh rất đáng sợ, cho chúng ta biết sợ, biết lo, biết nỗ lực để vượt qua hiểm nạn, hiểm nguy, hiểm họa. Đã từ lâu chúng ta sống trong sự không hay biết, sống trong bóng đêm vô minh, si ám. Kinh này bằng ánh sáng của bậc Thiện Thệ, bậc Chánh Giác soi rọi cho chúng ta thấy được mình đang ở trong tình cảnh hết sức nguy cấp, hiểm họa. Nguy hiểm hơn tất cả mọi sự nguy hiểm là mình không biết mình nguy hiểm. Việc sinh ra, lớn lên, ăn, làm, vui chơi, đi tìm mọi thứ hưởng thụ rồi cuối cùng bệnh, già, tai nạn ập đến rồi lúc đó trong sự mù mờ, tăm tối mà mình ra đi.

Cho nên đây là bài kinh hết sức sâu sắc, cho chúng ta một phép quán chiếu về đời sống, thực trạng, thực tế, thực tại mà mình vô tình không biết, mình nghĩ rằng đây là hiện tiền, là niềm vui, nhưng không phải. Thực tại của mình là đang trong hiểm họa, tai họa mà mình không biết lo, sợ thì nó càng nguy hiểm đến mức độ nào.

Ví dụ có một người biết rằng sức khỏe mình yếu, hay có bệnh nên thường đi khám định kì, nội soi, chụp x-quang, thử máu, siêu âm... Người thường chú ý đến sức khỏe, thường đi khám định kì, thường chăm sóc thì nếu có bệnh người này sẽ phát hiện sớm, lo thuốc men, chữa trị. Nếu người không biết lo lắng nhìn vào thường sẽ nói “tại sao đi khám thường xuyên như thế?”, “sao không đợi đến bệnh rồi mới tính?”, “sao lại tập thể dục làm gì?”. Còn một người không chú ý đến sức khỏe, đến lúc hay ra thì đã mắc ung thư giai đoạn cuối. Có câu chuyện về một vị thầy, Minh Thành vừa nghe gần đây, thầy ấy lo lắng, dành dụm, vận động 20 năm mới cất được ngôi chùa, còn 10 ngày nữa là cắt băng khánh thành thì nhận tin là thầy bị ung thư phổi giai đoạn cuối. Vào ngày lễ khánh thành, thầy ấy giao cho sư huynh làm chủ trì.

Cho nên, giữa một người thường để ý sức khỏe và một người không thăm khám gì cả thì ai mới là người biết lo, chúng ta phải hiểu điều đó. Gặp mấy thầy thì mấy thầy hay bảo khổ, nhưng mấy thầy lại là ít khổ, tại vì quý thầy lo lắng vấn đề khổ. Gặp thầy là cứ nói chuyện chết chóc là vì thầy nghiên cứu, tìm hiểu, giải quyết vấn đề chết nên thầy đi đến chỗ không chết, nhập bất tử môn. Còn nếu không nhắc, không bàn về chết thì khi gặp cái chết mình sẽ hoảng loạn. Hiểu được những điều này thì khi học Phật mình mới nắm được giá trị của Thánh Pháp.

Như vậy, bài kinh “Rắn Độc” này sẽ cho chúng ta thấy được Khổ Thánh Đế - Thánh trí về khổ. Nếu không mình sẽ “sống say chết mộng”, đuổi hình, bắt bóng, sống thì say sưa, say xỉn, chết thì mộng mê, đau đớn.

Bài kinh “Rắn Độc”

Đức Phật đã đưa ra hình ảnh như sau:

Có một người giao cho người kia bốn con rắn cực độc, bảo rằng hãy chăm sóc, cho ăn, uống, đừng cho chúng cắn mổ lẫn nhau, nếu vậy tôi sẽ giết ông. Do đó ông phải có trách nhiệm để điều hòa chúng. Bốn con rắn bao gồm: rắn đất, rắn nước, rắn hổ mây và rắn lửa. Người kia rất sợ hãi bốn con rắn nên đã bỏ trốn.

Nhưng chưa dừng lại ở đó, có một người khác bảo với người này rằng có năm kẻ thù địch đang truy sát phía sau ông. Nếu họ tìm được ông, chắc chắn ông sẽ chết. Sợ hãi chất chồng thêm sợ hãi nên ông ta chạy trốn.

Và rồi xuất hiện thêm một tên cướp nhà, giết người thứ sáu với con dao đi kèm sát sau lưng, giơ lên. Lúc nào mình chạy không kịp là nó chặt xuống đứt đoạn.

Người này quá sợ hãi, vội chạy trốn trong nỗi khiếp đảm, hoảng loạn, run rẩy. Người này nhìn thấy một ngôi làng, vội chạy vào mong tìm kiếm sự cứu giúp, nhưng ngôi làng lại không có một ai, không có nơi trú ẩn. Ngờ đâu nơi đó lại có thêm một bọn cướp đang trú ngụ. Rốt cuộc đây là một tình cảnh họa vô đơn chí, phước bất trùng lai, những tai họa lũ lượt kéo đến.

Trong khi người này đang sợ hãi tột cùng, ông ta nhìn thấy một đầm lầy. Người ấy suy nghĩ như sau:

"Ðây là vùng nước đọng, bờ bên này nguy hiểm và hãi hùng, bờ bên kia an ổn, không kinh hãi, nhưng không có thuyền để vượt qua, cũng không có cầu bắc qua từ bờ bên này đến bờ bên kia. Nay ta hãy thâu góp cỏ cây, nhành lá, cột lại thành chiếc bè, nhờ chiếc bè này, tinh tấn dùng tay chân, ta có thể vượt qua bờ bên kia một cách an toàn".

Người ấy thâu góp cỏ cây, nhành lá, cột lại thành chiếc bè, nhờ chiếc bè này, tinh tấn dùng tay chân, người ấy vượt qua bờ bên kia một cách an toàn. (Tương Ưng Bộ Kinh – Tập IV, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ, IV. Phẩm Rắn Độc, bài kinh Rắn Độc)

Cuối cùng, khi đến nơi, đứng trên bờ, người này đã thoát được hết hiểm nạn, được bình an, thoát hết ách nạn. Đó là cảnh tượng hãi hùng, lo lắng, hiểm nguy. Cảnh tượng đó là của chúng ta, con người đó là chúng ta chứ không phải ai khác.

Ý nghĩa hình ảnh “bốn con rắn độc”

Thứ nhất, chúng ta sẽ nói đến việc điều hòa bốn con rắn độc. Nóng sẽ cảm thấy khó chịu, lạnh sẽ thấy cảm, no sẽ thấy không thoải mái, đói sẽ cảm thấy muốn bệnh. Đó là chúng ta đang điều hòa. Cơ thể chúng ta chút nóng, chút lạnh, chút đau nhức, chút thì bao tử khó chịu, tim mạch mệt, lên tăng xông, lỗ tai lùng bùng, các bộ phận không bài tiết hợp lí thì cơ thể sẽ gặp nhiều vấn đề.

Nói không đâu xa, vài ngày trước, Minh Thành vừa ngồi xuống ghế tự dưng người trở nên cứng, gặp phải sâu lông, tới hôm nay chưa hết. Lúc đó giống như lửa đang thiêu đốt, mình quán thọ nhưng không đủ sức nhiếp phục. Người nổi ngứa, nóng lên, khó chịu. Rồi mình thầm nghĩ người cùi làm sao người ta chịu nổi cảm giác đó. Nếu sức tu mình không có, không thường thường quán lại những cảm giác, nội tâm, các pháp vận hành – thân, thọ, tâm, pháp thì đến lúc có chuyện đến hay đối đầu với bệnh tật, tử sinh, mình sẽ không thể đối đầu, không thể chịu hay giữ bình tĩnh được.

Cho nên mình phải lo điều hòa bốn con rắn độc đồng nghĩa với đất, nước, gió, lửa – bốn đại chủng (địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại) như Đức Phật nói. Chỉ cần chúng bất hòa với nhau thì sẽ giống như chết, vậy mà ta không biết, không hay rằng bốn con rắn độc đang nằm trong người.

Quán chiếu cái ăn thôi mình cũng thấy mệt mỏi. Đói ăn chính là bệnh tối thượng, đây là bệnh nặng nhất, vì nếu không ăn, mình sẽ bệnh ngay lập tức rồi chết. Phật dạy mình khi ăn phải quán chiếu như uống thuốc để bớt tâm tham, luyến, ái đối với thức ăn. Nếu đem quá nhiều địa đại vô sẽ gây mệt, mà không đem cũng mệt, bệnh. Uống cũng vậy, thở cũng vậy, mặc đồ tùy theo mùa chính là điều hòa bốn đại chủng. Nếu tim mình có bệnh thì mình có mệt không? Nếu đường ruột mình không hoạt động bình thường thì mình có lo lắng không?

Ý nghĩa hình ảnh “những kẻ sát nhân” và “tên cướp thứ sáu”

“Năm kẻ sát nhân chính là năm thủ uẩn”.

Chúng ta chỉ lo trau chuốt cho sắc thân mà mình quên đi cái chết nên đó mới là sát nhân. Mình lo ăn ngon, mặc đẹp, ở sang, xe cộ, quần áo, giày dép, cà rá, dây chuyền,... cứ lo hoài và rồi chúng sẽ giết mình chết. Cảm giác cứ thúc giục, đòi hỏi mình phải đáp ứng, nếu mình không hay, mình sẽ chết, cho nên cảm giác nó giết người. Rồi những suy nghĩ, tưởng này tưởng kia.

“Tên cướp nhà giết người thứ sáu, đó là dục tham trong năm uẩn”.

Chúng ta cứ ngồi tưởng, nhớ lại ngày xưa, trước kia, ngày còn trẻ, rồi tưởng tuần sau, tháng sau, sau này mình sẽ mình sẽ làm gì, thực hiện những điều mình mong muốn, dự định, ưa thích... Những điều đó thúc giục khiến mình thực hiện và rồi nó sẽ giết mình. Già, bệnh, chết lúc nào không hay.

Tên sát nhân thứ sáu này Đức Phật nói ngọn kiếm giơ lên ngay phía sau bạn, hạ xuống là mất đầu. Kiếm lúc nào cũng kề ngay cổ mình, đó chính là dục tham. Nó ẩn nấp ở sát bên mình, đeo đẳng bên mình như hình với bóng, lúc nào cũng phải nhớ nó ngay sau lưng, khi mình lơ là, đi ko nhanh, là nó sẽ hạ đao. Dục tham sẽ luôn đeo bám mình hoài. Chúng ta chìm trong sắc ái, thanh ái, vị ái, hương ái, xúc ái, pháp ái. Chúng ta cứ bị thúc giục, ham muốn, ưa thích đối với sắc, với thanh, với mùi, với vị, với xúc, những thứ này giống như đao phủ kề cận bên mình. Vì chỉ lo ăn mặc, lo chơi, lo cười, lo nói mà không hề nghĩ rằng cái chết đang kề cận, tới chừng mình hay ra đã muộn. Cho nên nói dục tham đeo bám, sát đằng sau lưng chúng ta.

Ý nghĩa hình ảnh “ngôi làng”

Người này gặp bao nhiêu tai họa, chạy trốn và rồi đặt chân đến một ngôi làng trống không. Vậy ngôi làng này là gì?

“Này các Tỷ-kheo, nếu một người hiền, kinh nghiệm, có trí, tìm hiểu nó với con mắt; vị ấy thấy nó là trống không, là rỗng không, là tuyệt không... Nếu tìm hiểu nó với ý; vị ấy thấy nó là trống không, là rỗng không, là tuyệt không”.

Bậc hiền trí chịu tìm hiểu, quán chiếu, thực tập thì bậc hiền trí này sẽ thấy bản chất là trống không, là rỗng không, là tuyệt không. Bậc hiền trí có kinh nghiệm, tìm hiểu nó với con mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý thì sẽ thấy được bản chất của nó. Thân thể này là ngôi làng trống không. Trong mắt, tai, mũi, lưỡi, thân này là sự trống rỗng, là cây chuối, là bong bóng nước, là đám bọt. Chiếc máy bay của Nga gần đây chết hơn bốn mươi người, trực thăng của Mỹ chết bảy người, hằng ngày mình nhìn thấy, nghe thấy những tin tức chết chóc, cho thấy xác thân này là vô thường, trống rỗng. Có những người thợ đóng đinh, đinh bật lại làm mù mắt. Tức là con mắt là trống không, rỗng không, tuyệt không. Trong năm ngày lễ vừa rồi chết gần một trăm người, bị thương trên một trăm người.

Thân này là trống không, rỗng không, tuyệt không. Mình phải quán chiếu sâu sắc, để mình mở ra, tháo ra những bám chấp, những thân kiến, tức là bờ nguy hiểm hãi hùng bên này. Sáu nội xứ là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Sáu ngoại xứ tức là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Đối tượng của sáu nội xứ (sáu căn) là sáu ngoại xứ (sáu trần). Mình phải nhìn sâu vào để phá thân kiến, phá bờ nguy hiểm, hãi hùng. Còn ở trong sự thân kiến, biết sai lầm về thân này là còn ở bên bờ nguy hiểm, hãi hùng, còn lo lắng. Còn thấy cái này là mình, là tôi, là của tôi, là tự ngã của mình, còn say mê, thích thú, còn bám chấp là còn bên bờ hiểm họa, ách nạn. Cho đến khi nào hoàn toàn đây là tứ đại, ngũ uẩn, vô thường, khổ, vô, ngã, trống rỗng thì khi ấy mình mới bắt đầu rời khỏi bờ phiền não, khổ đau.

Ý nghĩa của hình ảnh “bọn cướp phá làng”

“Bọn cướp phá làng, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với sáu ngoại xứ”.

Mắt bị tàn hại trong sắc khả ái và cả bất khả ái. Lỗ tai bị tàn hại trong tiếng dễ thương lẫn tiếng khó chịu. Mũi bị tàn hại trong mùi thơm và mùi hôi thối. Lưỡi bị tàn hại trong vị ngon và dở. Thân bị tàn hại trong sự xúc chạm dễ chịu và khó chịu. Ý bị tàn hại trong pháp khả ái và không khả ái. Tức là sáu căn của mình bị sáu trần tàn hại. Cái dễ thương hay cái dễ ghét mình đều bị tàn hại. Cái đẹp, cái ngon, cái sướng thì mình bị dính mắc, khi nó vô thường, biến động, mất mát, làm mình đau khổ. Khi mình nghe, hoặc xúc chạm, mình không ưa, khó chịu, bực bội, quán tánh nỗi khổ thì có bị tàn hại không?

Trong huynh đệ có năm, bảy người, mà mình ghét sư đệ đó thì mình có bị tàn hại không? Mắt nhìn thấy dáng đi đã khó chịu là bị tàn hại. Trong buổi họp nghe tiếng nói thấy khó chịu, là ghét, nghĩ họ khoe khoang, như vậy là lỗ tai bị tàn hại. Ăn uống chung mà có suy nghĩ xấu cũng bị tàn hại, nghĩ người ta lựa đồ ngon ăn, để mình đồ dở. Thân bị tàn hại, nghĩ rằng mình làm nhiều, người đó làm ít, mình cực, người đó sướng, mình cố gắng tinh tấn, người đó giải đãi, lười biếng. Tàn hại ở trong nội tâm, thọ, tưởng, hành. Đó là mới nói người gần, chưa nói đến những người bên ngoài làm mình ghét, chửi mắng mình, làm mình bỏ ăn bỏ ngủ, không thể ngồi thiền.

Khi nghe tin người thân gặp chuyện là cảm thấy bất an, lo lắng, sợ hãi, đó là ý bị tàn hại. Cảm thọ đã sanh, tưởng tương lai, quá khứ đã sanh. Ý hành sanh, bị tàn hại trong các pháp. Đó là sáu ngoại xứ. Hằng ngày sáu nội xứ luôn tiếp xúc sáu ngoại xứ.

Bao nhiêu tâm huyết đổ vào việc chăm chậu kiểng. Làm 10 ngày mới làm xong chậu, lên rừng tìm về một gốc thật đẹp khiêng về, lên Đà Lạt lựa ba, bốn cây kiểng, mười ngày, nửa tháng mới xong chậu kiểng rồi cuối cùng bị bò ăn mất, ăn xong còn đạp đổ chậu. Nó tàn hại hết ráo thân, tai, mắt, mũi, lưỡi.

Mới tu tập được chút đỉnh, gặp Phật tử nói: “Con quý kính thầy quá, thầy bỏ hết tất cả, thầy trẻ đẹp, có học, đức hạnh, con tha thiết lạy thầy” rồi đặt chén cung kính dưới mũi chân của mình. Khi Phật tử ra về, mình ngồi thiền trên đây cứ nhớ đến điều đó hoài rồi cười, thấy thích thú, nv cũng là bị tàn hại. Lâu lâu nghĩ lại hình đó, nghĩ rằng mình cũng ngon lành lắm, ai dè, tàn hại thấy chưa? Lúc đó mình chưa ý thức được, mình không thấy được các pháp đang vận hành.

Khả ái cũng bị tàn hại, mà không khả ái cũng bị tàn hại. Ta chết với những lời khen, tiếng chê. Mê với những cái được, khổ với những cái mất. Tám ngọn gió đó thổi lên làm mình điêu đứng, hất tung mình, bay hết.

Ý nghĩa hình ảnh “vùng nước lớn”, “hai bên bờ” và “chiếc bè”

“Vùng nước lớn, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với bốn bộc lưu: dục bộc lưu, hữu bộc lưu, kiến bộc lưu và vô minh bộc lưu”.

Bộc lưu là vòng xoáy, chỗ nước chảy xiết, cái ham muốn cuốn phăng mình. Hữu bộc lưu là vòng xoáy ưa thích, đắm nhiễm trong cái hiện hữu. Kiến bộc lưu là dòng xoáy, dòng chảy mạnh mẽ, dòng thác lũ của kiến chấp cuốn trôi. Sự đam mê trong hiện hữu của ngũ uẩn cuốn trôi; kiến chấp – thấy biết sai lầm, tà kiến cuốn trôi. Cuối cùng là vô minh cuốn trôi. Bốn vòng xoáy, bốn vòng thác, bốn vòng lũ, bốn vòng nước chảy xiết, nếu mình không qua được bờ bên kia thì sẽ bị bốn dòng xoáy này cuốn trôi. Chỉ cần một dòng là đủ mất mạng chứ chưa kể bốn dòng.

“Bờ bên này nguy hiểm và hãi hùng, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với thân kiến này”.

Làm sao phải mình thấy được năm uẩn? Sắc này không phải là tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi. Những cảm giác, nhận thức, nghĩ tưởng này không phải tôi, không phải của tôi, là pháp vô thường, trống rỗng, duyên sanh, khổ, vô ngã, là pháp bại hoại, sớm muộn gì cũng tan nát. Bây giờ phải nhặt cành, nhặt cây để buộc lại làm chiếc bè. Cái bè ở đây là gì?

“Cái bè, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với Thánh đạo Tám ngành”.

Mỗi ngày chúng ta nghe pháp, nghiền ngẫm, quán chiếu thì đó chính là mình đang lượm cây cành kết bè. Quán thâm sâu vào chính là mình đang bơi. Tinh tấn, tình cần dùng chân cả tay và chân bơi qua dòng nước. Trong sự tu học phải dùng Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh niệm, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, dùng sự rõ biết về năm thủ uẩn, tức là phải tư duy, Như lý tác ý, dùng lời nói chân chánh, hành động chân chánh, nuôi mạng chân chánh, siêng năng chân chánh, quán niệm chân chánh và thiền định chân chánh – tám điều này là tám khúc gỗ, kết lại mới được một chiếc bè cứng chắc. Bằng sự tinh cần, tinh tấn ở trong Bát Chánh Đạo đó mới có thể đưa mình qua tới bờ bên kia.

Bến bờ bình an

“Vị Bà-la-môn vượt qua bờ bên kia và đứng trên đất liền, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với bậc A-la-hán”.

Chúng ta đã có bè chưa? Phải leo lên bè ngồi chưa hay bè cứ để đó rồi mình đứng kế bên? Bước xuống bè bơi bằng tay chân, bơi nhanh, bơi mau để qua bốn dòng xoáy đó. Vượt qua được những ưa thích, ham muốn trong sự hiện hữu của ngũ uẩn, trong thân xác vô thường, bất tịnh, đầy tham, sân, si, dục ái. Phải phá trừ chúng, phá trừ những thấy biết tà kiến, sai lầm, vô minh, chấp thủ, phá trừ những sự tăm tối, những gì làm cho mình lờ mờ, đờ đẫn, si mê, ám muội. Chúng ta phải sáng tỏ, tỉnh táo, chánh niệm, tỉnh giác, rực sáng, choi sáng trong trí huệ của Chánh tri kiến. Tất cả những điều thấy nghe, hay biết, tiếp xúc của mình phải làm những cái trợ duyên để cho Chánh tri kiến của mình kiên cố, vững chắc, tỏa sáng trong văn, tư, tu, huệ. Chúng ta phải nghe, tư duy, thực tập, nghiềm ngẫm, tư sát, quán chiếu, tư duy ngày đêm cho thật ngấm, đến lúc nào Thánh trí của Đức Phật sẽ trở thành cái thấy của mình, như vậy, lúc đó chúng ta đã có bè. Từ đó, chúng ta vượt qua được bờ này để sang bờ kia, đứng được trên đất liền là mình được bình an, yên ổn.

Bờ nguy hiểm là ở dưới quê nhà, tại đây là bờ an ổn. Tai họa là ở dưới đất, còn đây là chỗ đất bình an. Lửa đốt là ở dưới nhà, đến đây là chỗ thanh lương, mát mẻ. Phải ráng cố gắng bám trụ, nỗ lực, tinh tấn. Đến đây không phải là xong mà còn phải nghe pháp, hành trì, tinh tấn, tu tập, phải nỗ lực bơi, chèo bằng tay, chân rồi mới đến được nơi. Còn việc leo lên bè ngồi rồi để nó tự thả trôi đến bất cứ đâu là không được. Không phải có bè là xong, không phải leo lên bè là rồi, gặp những lúc sóng đánh, nước xoáy, phải vững tay chèo, kiên trì, bền trí vượt qua bão tố, thẳng tiến một đường tới cùng thì mới đến được nơi đại bình an, đại an ổn của Niết-bàn. Đó chính là mục tiêu tối hậu, không còn điều gì sánh bằng.

Trong đời sống này, chúng ta được nghe, được biết, được thực hành, được chia sẻ Chánh Pháp vô thượng, được sống trong hội chúng vô thượng, được cảnh ngoài vô thượng mà mình không vô thượng thì vô cùng thất bại.

./.