Cách Trải Tâm Từ -Kinh Ví Dụ Tấm Vải 2 - Trung Bộ I
KINH NIKĀYA GIẢNG GIẢI
LỘ TRÌNH TÂM PHÁP HÀNH
CÁCH TRẢI TÂM TỪ
KINH VÍ DỤ TẤM VẢI 2 - TRUNG BỘ I
–Thích Minh Thành–
Kính bạch các bậc hiền trí chư Tăng Ni và đại chúng. Hôm nay chúng ta tiếp tục tìm hiểu bài kinh Ví dụ tấm vải trong Trung Bộ Kinh, tập I. Lần trước chúng ta đã nghe Thế Tôn cho ví dụ và ngài đã giải thích cho chúng ta biết thế nào là những cấu nhiễm của tâm. Một vị Tỳ-kheo thành tựu lòng tin tuyệt đối với Phật, Pháp, Tăng là vì vị này sau khi nương vào phương pháp nhìn nhận thân tâm, nhận diện ngũ uẩn thì vị này phát hiện một cách chính xác về những cặn bã, cấu nhiễm của tâm.
Khi đã thấy một cách chân thật, chính xác, thấy rõ ràng như chỉ trong lòng bàn tay, thấy rõ những cảm thọ dục sanh khởi ra sao, ái sanh khởi ra sao, tham vận hành ra sao, sân sanh khởi thế nào, vận hành thế nào, xâm chiếm, áp đảo tâm thế nào. Vị này thấy rõ trạng thái của vô minh khi xuất hiện thì nó như thế nào, khi nó che lấp tâm thì nó diễn biến thế nào. Vị này thấy rõ cảm giác của bản ngã, của tôi, của ta, của tao, mi, của hơn thua, nó sanh khởi, vận hành, xâm chiếm ra sao đều thấy chân xác, chánh trực, rõ ràng. Tuy rằng vị này chưa có khả năng khống chế và chế ngự hoàn toàn nhưng vị này thấy và bắt đầu đi vào công cuộc thanh lọc, vệ sinh, lau chùi, quét dọn, tẩy rửa những rác bẩn. Khi đã thấy những cấu nhiễm một cách cụ thể, rõ ràng, đầy đủ thì vị này thành tựu lòng tin tuyệt đối đối với Đức Phật, đối với chánh pháp, đối với chúng Tăng. Trong kinh Nikāya dùng từ "chúng Tăng" nghĩa là bốn đôi tám chúng hiền Thánh.
"Ðến giai đoạn này, đối với vị ấy có sự từ bỏ, có sự diệt trừ, có sự giải thoát, có sự đoạn trừ, có sự xả ly". (Trung Bộ Kinh, 7. Kinh Ví dụ tấm vải)
Từ bỏ những cấu nhiễm của tâm, từ bỏ những rác bẩn của tâm, từ bỏ những xú uế của tâm, từ bỏ những cặn bã của tâm, từ bỏ những lậu hoặc của tâm. Từ bỏ những cái dục, tà tham, sân hận, phẫn nộ, hư ngụy, tâm ganh tỵ, đố kỵ, tật đố, tâm ngoan cố, tâm cấp tháo, tâm muốn làm hại người, những ý nghĩ cho rằng mình hơn người, những cái này đều từ bỏ, diệt trừ, thoát ra khỏi những thứ đó.
"Vị ấy tự nghĩ: 'Ta thành tựu lòng tin tuyệt đối đối với Thế Tôn'" (Trung Bộ Kinh, 7. Kinh Ví dụ tấm vải)
Trong kinh Nikāya dùng từ "tịnh tính bất động", lòng tin tuyệt đối có nghĩa là sự tịnh tín bất động. Lòng tin tuyệt đối là dù cho chết thì lòng tin đó cũng không mất đi, dù có chuyện gì xảy ra thì lòng tin về Đức Phật, về chánh pháp, về chúng Tăng hay về giới cũng không thay đổi, không lay chuyển. Tịnh là sự trong sạch, trong sáng, tín là lòng tin, bất động là không dao động, tịnh tín bất động là lòng tin trong sáng không dao động, lòng tin vững chắc không lung lay, lòng tin tuyệt đối không lay chuyển.
"Vị ấy tự nghĩ: 'Ðến giai đoạn này, đối với Ta, có sự từ bỏ, có sự diệt trừ, có sự giải thoát, có sự đoạn trừ, có sự xả ly', và chứng được nghĩa tín thọ, chứng được pháp tín thọ, chứng được hân hoan liên hệ đến pháp; từ hân hoan, hỷ sanh; từ hỷ, thân khinh an; thân khinh an, cảm giác được lạc thọ; với lạc thọ, tâm được Thiền định". (Trung Bộ Kinh, 7. Kinh Ví dụ tấm vải)
Trên đây là trình tự vận hành của pháp, đối với một người là chân tu thật học thì những pháp này sẽ sanh khởi và diễn biến trong tâm. Đến giai đoạn này thì vị Tỳ-kheo này chứng được nghĩa tín thọ, chứng được pháp tín thọ. Tín là lòng tin, thọ là nhận, nghĩa là những nghĩa lý của Đức Phật, vị này tin chắc và tiếp nhận, thọ nhận nghĩa lý mà Đức Phật truyền trao, chứng được những cái này tức là những nghĩa lý, lòng tin đó, tự tiếp nhận đó không bao giờ mất thì mới gọi là chứng. Tuy rằng vị này chưa đoạn trừ hết lậu hoặc nhưng vị này có lòng tin tuyệt đối và thọ nhận vào bên trong nghĩa lý mà Đức Phật truyền trao và lòng tin đó, sự thọ nhận nghĩa lý đó không bị mất đi. Dù trong bất cứ hoàn cảnh nào vị này cũng tin vào nghĩa lý và thọ nhận về tính chất vô thường, biến hoại của sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Trong mắt vị này xác quyết, trong nội tâm xác quyết thật sự sắc; thọ; tưởng; hành; thức là vô thường, là biến hoại, là khổ đau và cái thấy biết đó không mất đi.
Pháp tín thọ là những pháp mà vị này được học, vị này có lòng tin tuyệt đối và thọ nhận pháp đó. Pháp trong vị này không bị mất đi, mình đã học về niệm thân, niệm ba mươi hai thể trược, niệm tứ đại là một đống đất, nước, gió, lửa, xương, da, phèo, phổi, gan, ruột… những pháp mà vị này đã nghe, đã hiểu, đã tin, đã nhận thì nó được cất chứa trong tâm, dù cho chưa đoạn tận lậu hoặc nhưng cái thấy biết không thay đổi, lòng tin không lay chuyển. Ngũ uẩn đó là vô thường, là khổ đau, là vô chủ, vô hộ, vô ngã, do lòng tin tuyệt đối với pháp, với nghĩa, do sự thọ nhận sâu sắc và được an trú trong tâm không mất đi nên vị này chứng được hân hoan liên hệ đến pháp. Bất cứ lúc nào được nghe về pháp, tác ý về pháp, được nói về pháp thì hân hoan sanh khởi, có sự hỷ lạc, thích thú, như vậy gọi là chứng được sự hân hoan liên hệ đến pháp. Pháp được người này cất giữ trong tâm, nghĩa được người này cất giữ trong cảm thọ, trong suy tư, trong nhận thức nên không bị mất đi cái pháp, không bị mất đi cái nghĩa. Chính vì cái pháp, nghĩa nằm trong người này, cái thấy biết vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh luôn được cất giữ, chất chứa, tụ tập, gom góp trong tâm, trở thành của báu của người này, trở thành hơi thở, thành nhịp đập con tim của người này, trở thành hệ hô hấp tuần hoàn của người này cho nên một khi nghĩ về pháp là tự động hân hoan có mặt, khi nói về pháp là phấn khởi, khi nghe về pháp là thích thú, đó gọi là chứng được hân hoan liên hệ đến pháp. Người này có thể nghe pháp và nói pháp suốt ngày đêm không biết mệt mỏi, không biết chán, Đức Thế Tôn và chư vị Thánh Tăng nói pháp sáng đêm, các vị đó đều chứng được hân hoan liên hệ đến pháp, còn người nào không chứng được hân hoan liên hệ đến pháp, chưa chứng được nghĩ tín thọ, pháp tín thọ thì nghe pháp một lúc là thấy mệt mỏi, chán chường.
Do người này chứng được hân hoan liên hệ đến pháp nên hỷ sanh khởi, trong lòng người này mừng vui, thích thú khi bàn về pháp, khi nghĩ về pháp, khi tác ý tư duy về pháp, khi thấy nghe những chuyện tương ưng với pháp thì người này rất hoan hỉ, rất vui. Từ sự hân hoan bên ngoài là vui cười, thích thú, thậm chí là nhảy nhót vui sướng, đến hỷ là mừng trên thân, có thể là cảm thọ dâng lên trong lồng ngực. Từ hỷ đến khinh an là thân nhẹ nhàng, dễ chịu, khi ngồi thiền hoặc nghe pháp thấy thân nhẹ như bông gòn hoặc có những khi nhẹ giống như không có thân, đó chính là khinh an trong thiền và khinh an trong pháp cũng giống vậy.
Từ khinh an có cảm giác lạc thọ, tâm dễ chịu, tâm vui nhẹ nhàng. Hỷ thọ là vui mừng trên thân, lạc thọ là cái dễ chịu trong tâm, một cảm giác êm ái, dễ chịu, cái đó là lạc thọ. Khi thân nhẹ nhàng, tâm dễ chịu sẽ đi vào các tầng thiền định không khó khăn, mệt nhọc. Giới hạnh phải đi đầu, sau đó đến pháp, nghĩa và tiếp theo là hân hoan, hỷ, khinh an, lạc và cuối cùng là thiền định, đó là trình tự vận hành của thiện pháp, Thánh đạo, của một cái tâm đi đúng đạo lộ của Đức Thế Tôn. Sau khi đạt được như vậy thì mới xứng đáng được cúng dường.
"Này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo, giới như vậy, pháp như vậy, tuệ như vậy, - nếu có ăn đồ khất thực với gạo thơm, hạt đen được vất đi, với các món canh, với các món ăn khác cũng không vì vậy trở thành một chướng ngại cho vị ấy. Này các Tỳ-kheo, như một tấm vải cấu uế, nhiễm bụi, nếu bỏ trong nước sạch, trở thành thanh tịnh sạch sẽ, như bỏ vào lò lửa trở thành thanh tịnh sạch sẽ. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, một Tỳ-kheo, giới như vậy, pháp như vậy, tuệ như vậy, - nếu có ăn đồ khất thực với gạo thơm, hạt đen được vất đi, với các món canh, với các món ăn khác, cũng không vì vậy trở thành một chướng ngại cho vị ấy". (Trung Bộ Kinh, 7. Kinh Ví dụ tấm vải)
Một người tu đạt được giới hạnh, pháp nghĩa, đạt được trí tuệ như vậy thì dù được cúng dường đồ ngon lành, quý báu cũng không trở thành chướng ngại cho người đó. Đức hạnh như vậy, lòng tin, pháp nghĩa được thọ nhận như vậy, với một thân tâm trong sạch, hỷ lạc, nội tâm an tịnh như vậy thì dù được cúng dường đồ ngon, thơm, đẹp, quý cũng không là chướng ngại cho người đó, giống như tấm vải dơ được giặt sạch. Ở đoạn trên nói về những cái tâm cấu nhiễm, còn bây giờ nhờ pháp mà tấm vải được tẩy sạch, tấm vải sau được giặt trong nước, được tẩy thì tấm vải đó sạch sẽ, trong sạch, phần trước là tâm đầy rẫy cấu nhiễm, còn giờ tâm được thanh tẩy, nội tâm bây giờ là giới, pháp và tuệ cho nên ngồi để người ta lễ lạy, cúng dường trai Tăng không phải là việc chướng ngại. Còn nếu chưa có giới, chưa có pháp, chưa có tuệ mà ngồi cho người ta đáng tuổi ông bà, cha mẹ quỳ lạy, dâng đồ cúng lại không biết hổ thẹn, tàm quý, không biết thâu nhiếp sáu căn ba nghiệp, thả lỏng các căn, nói chuyện phù phiếm trong khi người ta quỳ lạy thì thật sự là hiểm nguy, thật sự là tai họa, thật sự là đáng lo, đáng sợ.
Bây giờ đến sự tu tập bốn tâm vô lượng, Đức Phật ví dụ tâm mình trước khi xuất gia là một tấm vải dơ, sau khi xuất gia rồi có những phương pháp thanh lọc, tẩy rửa, tẩy sạch, phải làm nhiệm vụ của một người tu là thanh lọc, giặt giũ, tẩy sạch tấm vải dơ trong tâm của mình. Nếu chúng ta tu ba năm, năm năm, bảy năm, mười năm mà tấm vải trong tâm không sạch, không được giặt giũ, không được tẩy rửa, lại còn dơ thêm nữa thì cái này thật là hiểm họa cho chúng ta, thật là tai nạn cho chúng ta, thật là nguy khốn cho chúng ta. Nếu chúng ta mang danh xuất gia những giới phẩm lớn nhưng không quay lại giặt giũ tấm vải dơ bên trong nội tâm, càng ngày càng lấm thêm những tham muốn, tà tham, ác tham, càng ngày càng dính thêm bụi tức giận, sân hận, hơn thua, càng ngày càng nhiễm thêm những bụi đời, những danh lợi, tài sắc của thế gian thì tấm vải kia càng cấu nhiễm, càng thêm dơ bẩn cho nên chúng ta là người xuất gia cần có những thời gian nhìn vào nội tâm, để ý thật nhiều vào những suy nghĩ của chính mình, để ý thật nhiều vào những hình bóng của nội tâm, để ý thật nhiều vào những cảm xúc, cảm giác và để ý thật nhiều vào hành động, oai nghi, lời nói, cử chỉ. Bên ngoài phải có sự phòng hộ và bảo vệ năm căn mắt; tai; mũi; lưỡi; thân và bên trong phải có sự phòng hộ, thâu nhiếp, bảo vệ, tẩy sạch và thanh lọc những cảm giác, nghĩ tưởng, đó chính là việc làm thật sự của người tu, trách nhiệm của người tu, bổn phận của người tu, cấp vụ của người tu, gia vụ của người tu.
Trách nhiệm và bổn phận của người xuất gia là giặt sạch tấm vải dơ bên trong nội tâm, tấm vải dính đầy tham, sân, si, vô minh, bản ngã, hơn thua, danh lợi đó. Nếu chúng ta không làm được việc này, không để tâm vào những cái này, không dốc lòng vào công việc này, không nỗ lực, cố gắng vào công cuộc thanh lọc này mà lãng quên, lơ là, bỏ qua, xem thường, chạy đi làm việc bên ngoài, đến khi đụng chuyện thì chúng ta đau khổ, chúng ta hối tiếc, hối hận. Trong tâm cảm thấy day dứt, giày xéo, bứt rứt, khi có chuyện lớn xảy ra hoặc khi đối diện tật bệnh, tai nạn, tuổi già hoặc sự chết chóc mà công việc của chúng ta làm chưa xong hoặc làm chưa được nhiều mà bất thình lình nhiễm bệnh, bị tai nạn giao thông, có những sự đột biến trong cơ thể hoặc ngày qua tháng lại chợt thấy tóc đã bạc.
"Nhân đa ư thử,
đam vị bất hưu,
nhật vãng nguyệt lai,
táp nhiên bạch thủ".
(Quy Sơn Cảnh Sách)
Nghĩa là con người đa số đều đam mê những mùi vị không ngừng, ngày qua tháng lại, thoáng chốc đã bạc đầu. Hoặc bất thình lình tử thần đến.
"Vô thường sát quỷ,
niệm niệm bất đình,
mạng bất khả diên,
thời bất khả đãi".
(Quy Sơn Cảnh Sách)
Nghĩa là con quỷ vô thường giết người không ngừng trong mỗi niệm, mạng sống chẳng thể kéo dài, thời gian không thể đợi chờ. Một khi cái chết đến thì có xin thêm thời gian cũng chẳng được, "Diêm Vương chú định tam canh tử, nan lưu hoạt đáo ngũ canh thiên" nghĩa là Diêm Vương đã định canh ba chết, khó lòng sống nổi tới canh năm. Nếu bây giờ chúng ta không lo vào chánh sự, nghĩa là công việc thiết yếu, cốt lõi của người xuất gia mà chạy ra ngoài tìm danh, tìm tướng, tìm lợi rồi bất thình lình những cái đó đến chúng ta sẽ trạo hối, nằm trên giường bệnh mà chúng ta đau khổ, giày vò, day dứt, như vậy làm sao có thân khinh an, cảm giác lạc thọ, tâm thiền định? Chúng ta vẫn chưa chứng được nghĩa tín thọ, pháp tín thọ, chưa có trí tuệ về vô thường, khổ, vô ngã, tính chất biến động, tan hoại, đổ nát, bại hoại của ngũ uẩn vẫn chưa thấy biết thâm sâu, chưa có cái nhìn thấu đáo, tiếp duyên xúc cảnh là quên, sáng còn trưa mất, chưa chứng được sự hân hoan liên hệ đến pháp, chúng ta chưa thấy sự hoan hỉ, thích thú, chưa thấy sự nhẹ nhàng, ngọt ngào của nội tâm khi ngồi một mình. Như thế thì làm sao đi vào được thiền định? Bên trong tâm chúng ta đầy rẫy những hình bóng, những sự suy tư, bên trong đầy rẫy những cảm xúc thúc giục tìm kiếm, thèm thuồng, khao khát, muốn thêm, truy tầm, đuổi bắt, vậy là còn rất nhiều vết bẩn trên tấm vải nội tâm.
Đây là giai đoạn để chúng ta giặt giũ, tẩy rửa và thanh lọc. Đây là thời điểm thanh lọc, tẩy sạch những gì chúng ta đã được nghe, đã được học, cần phải để tâm vào thật nhiều để làm bài tập, chúng ta tu học theo lời dạy nguyên chất của Đức Phật là làm bài tập trong từng suy nghĩ, rửa sạch suy nghĩ ác bất thiện pháp, rửa sạch suy nghĩ dục, suy nghĩ sân, rửa sạch những cảm thọ hơn thua, tranh giành. Trong từng ý niệm, từng cảm thọ, từng hình bóng trong tâm phải được nhìn ngó, kiểm tra, kiểm soát, kiểm duyệt và thanh tẩy nó. Đó là chúng ta làm đúng theo lời Đức Phật, là đứa con ngoan của Đức Phật, là bậc Đa văn Thánh đệ tử. Nếu làm được những điều này thì chúng ta ngồi để hàng Phật tử tín thí lễ lạy là không có chướng ngại, còn nếu chúng ta không làm được những điều này thì đó là tai họa tiềm ẩn trong sự lễ lạy đó, tiềm ẩn trong những món đồ tứ sự đó, trong đó là những hố than hừng, những cột đồng cháy đỏ, những vạc dầu sôi ùng ục dưới địa ngục nằm trong đó, những thân thể đầy rẫy lông lá và những cặp sừng nằm trong đó, những cô hồn ngạ quỷ lang thang nằm trong đó, ba đường ác tiềm ẩn trong đó. Nếu chúng ta không biết suy tư một cách sâu sắc và thấu đáo về đạo nghiệp, đạo hạnh của đời sống tu hành thì dưới lớp Cà-sa này là non đao biển lửa, là vạc dầu, là nước đồng sôi, là địa ngục hàn băng.
Trên đây là những lời trong kinh Nikāya, trong đó có hơn bốn mươi bài kinh nói về địa ngục để chúng ta chiêm nghiệm sâu sắc, để chúng ta sanh khởi sự lo lắng, thật là lo lắng cho chính mình. Sau phần này Đức Thế Tôn nói đến bốn vô lượng tâm.
"Vị ấy an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên dưới bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân". (Trung Bộ Kinh, 7. Kinh Ví dụ tấm vải)
Vị ấy an trú tâm của mình cùng khắp phương trước mặt cùng với tâm hòa lẫn tình thương. Đem tình thương dào dạt của tự thân mình trong dòng sanh tử vô lượng kiếp này, vì tham, sân, si, bản ngã mà mình đau khổ, mình tạo bao nhiêu ác nghiệp, mình thấy thương mình, mình thấy xót cho mình, mình cảm thương chính mình và sự cảm thương đó dào dạt, thấm đượm cả châu thân. Thương mình vì đã nhiều kiếp sống trong vô minh, thương mình vì đã nhiều kiếp sống trong sân hận, trong bản ngã, thương mình vì nhiều kiếp sống trong dục, trong tham, thương mình trong vô thỉ kiếp sống trong bóng đêm của chấp thủ, bao nhiêu dòng nước mắt đã chảy xuống đầy đau khổ. Tình thương đó lan tỏa và thấm đượm từ đảnh tóc cho đến gót chân giống như vòi sen phun nước từ đỉnh đầu đến gót chân, cảm thọ thương cảm chính mình lan tỏa, thấm đượm khắp châu thân của chúng ta, làm cho cảm thọ đó dào dạt, sung mãn. Mình đã gây ra biết bao tội lỗi, biết bao sân hận, khổ đau, sau đó mình để dòng cảm thọ đó lan tỏa, trải dài ra vô tận không gian trước mặt. Mình thấy rằng tất cả hữu tình chúng sanh cũng vì sân hận, vì vô minh, si mê, bản ngã nên cũng đau khổ giống như mình, họ cũng đau khổ như mình đau khổ.
"Mỗi người một nỗi khổ,
Mỗi loài một niềm đau,
Xin cùng nhau thấu hiểu
Những đau khổ trong nhau"
(Cửa Vào Bất Tử - Chơn Tín Toàn)
Để cho cảm thọ thương chính mình và thương hữu tình chúng sanh này lan tỏa cùng khắp về phương trước mặt, tận cùng hư không, vô biên vô lượng. Tiếp tục trải dòng cảm thọ đó về sau lưng, bề dọc, bề ngang, trải khắp mười phương, làm cho dòng cảm xúc đó sung mãn, đầy ắp cả hư không, hòa quyện với tình thương cảm chính mình và hữu tình chúng sanh cũng là những nạn nhân của tham, sân, si, nạn nhân của bản ngã, dục vọng. Mình sanh khởi lên tâm bi xót thương, bi mẫn, đồng cảm, mình cho dòng cảm xúc đó lan khắp mười phương tám hướng, vô biên hư không, vô tận, tràn ngập không gian này hòa quyện với tình thương và lòng bi mẫn xót xa cho mình và cho hữu tình chúng sanh.
Đó là chúng ta trải từ vô lượng tâm và bi vô lượng tâm, trên trang linhquyphapan.vn có mỗi bài thực tập, hành trì riêng cho mỗi đề mục tâm vô lượng, cần nghe kĩ bốn tâm vô lượng này vì nó rất quan trọng. Nếu mình làm đúng phương pháp thì có thể nước mắt sẽ tràn ra đầm đìa đầy mặt, dòng cảm thọ xót thương chính mình và chúng sanh sẽ tuôn trào và dâng lên, nếu người xuất gia mà không thực tập bốn tâm vô lượng này là vô cùng đáng tiếc và là một sự thiếu sót lớn, bốn tâm này sẽ làm cho tâm mình rộng lớn và đi đến chỗ vô lượng, vô tận.
"Vị ấy an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với bi... (như trên)... với tâm câu hữu với hỷ... (như trên)... biến mãn một phương với tâm câu hữu với xả, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên dưới bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại vô biên, không hận, không sân". (Trung Bộ Kinh, 7. Kinh Ví dụ tấm vải)
Vị ấy không hận, không sân bất cứ một ai trong cái tưởng đó, trong cảm thọ đó, trong suy nghĩ đó. Toàn thể thọ; tưởng; hành; thức đó là một dòng đại bi, thương xót dào dạt, đầy ắp cả hư không là một cảm thọ của tình thương, xót xa.
Tác dụng của Tâm Từ:
Tâm từ là tâm từ mẫn thương xót chúng sanh còn đang lặn hụp trong biển sanh tử khổ đau, đang bị tham sân si hành hạ, đang bị bản ngã, ngã mạn, được mất, hơn thua, đúng sai, thương ghét làm cho phiền não và khổ đau. Tâm từ vô lượng này cần được tu tập để khai mở tình thương, khai mở lòng từ mẫn với chính mình, với mọi người và mọi loài, làm cho tâm trở nên rộng lượng, bao dung, thông cảm với tất cả chúng sanh, diệt trừ những tâm nóng giận, cáu gắt, quạu quọ, những cảm thọ bực bội, bức xúc, khó chịu, không hài lòng về nhau, không thông cảm với nhau.
Chúng ta cần nhớ là phải khai mở lòng từ mẫn với chính mình trước, nếu không thương mình mà đi thương những cái bên ngoài thì đó chưa thật sự là thương. Hãy thương mình là một nạn nhân, đầy rẫy tham, sân, si, ngã mạn đang hành hạ mình, sự hơn thua, đúng sai, hơn ghét đang làm mình khổ sầu, buồn đau. Hãy thương chính mình rồi mới trải tâm ra thương hữu tình, phải biết mình là kẻ đáng thương nhất hành tinh này. Hãy thương cho đúng cách, thương bằng chánh tri kiến, thương bằng trí tuệ, thương bằng sự thấy biết, thống hiểu sắc; thọ; tưởng; hành; thức của chính mình. Khi đã hiểu được mình thì mình sẽ thông cảm với mọi người, còn mình không thông cảm cho người ta là do mình không hiểu được mình, khi thấy được ngũ uẩn, thấy được lậu hoặc, cấu nhiễm trong tâm mình rồi mình sẽ có sự đồng cảm sâu sắc với tất cả mọi người, tất cả hữu tình chúng sanh không có một ai là đáng giận, tất cả đều là những kẻ đáng thương, trong đó mình là người đáng thương nhất. Sau khi biết thân tâm mình thấu đáo, đúng sự thật mình sẽ không có lý do nào để giận ai dù người đó làm mình đau khổ vì họ vô minh, vì họ có lòng tham, bản ngã nên họ mới làm vậy, vì họ dại khờ, mù lòa, bị ngọn lửa rực cháy bên trong nên họ mới làm vậy cho nên mình sẽ diệt trừ được tâm nóng giận, bức xúc, khó chịu.
Khi tu tâm từ thì những cảm giác đó sẽ từ từ lắng dịu và sẽ tẩy sạch hết cảm thọ đó, tu tâm từ này rồi sẽ thấy phép màu xuất hiện, kì tích xuất hiện trong nội tâm chúng ta khi chúng ta siêng năng thực tập tâm từ thường xuyên và liên tục an trú. Còn không tu tâm từ này sẽ rất khổ, thấy cái gì cũng bực, nghe cái gì cũng khó chịu, cảm thọ một chút là sân si, nhận thức một chút là hơn thua dù ở trong chùa, tâm không hỷ lạc, không khinh an, không thiền định, trong mỗi cảm thọ, nhận thức, thấy nghe là sân si, cao thấp, đúng sai, so đo, phân biệt, ganh tỵ, đó là một nội tâm bệnh tật, hạ liệt, hèn hạ, một nội tâm đáng thương xót vì chưa tu tập. Còn nội tâm có tu tập sẽ an tịnh, lắng dịu, dễ chịu và dễ thương, cảm thông, thấu hiểu và tha thứ, bao dung và bao phủ cả đối tượng kia bằng cả lòng từ, một lòng từ rộng khắp hư không khi thâu lại nằm trong tim mình. Phải siêng năng thực tập tâm từ để nó trở thành cỗ xe, thành thành quách, thành căn cứ địa vững trú trong tâm mình, chỉ có tâm từ mới là phép màu, mới là cái bảo vệ, chở che cho mình thật sự, mới là chỗ nương dựa bình an tối thượng trên cuộc đời này. Không có tâm từ là không thể bảo vệ được cho ai cả, ngay cả người thương mình mà mình còn không hiểu họ thì đừng nói chi người ghét mình. Không có tâm từ mình sống dại khờ, dại dột, không có tâm từ mình sống với những cảm thọ gay gắt, khúc mắc, bức xúc, bực bội, không có tâm từ thì tâm mình nhỏ hẹp, nhỏ nhặt. Có tâm từ rồi tâm mình sẽ rộng mở, rộng lớn, rộng lượng, quảng đại, vô lượng vô biên, cho nên phải siêng năng thực tập tâm từ.
Trong bất cứ lúc nào và ở bất cứ nơi nào cũng phải nhớ tác ý tâm từ, mỗi khi giận lên là tác ý "thương cảm thọ giận này quá, thương cảm thọ khờ dại này quá. Sao giận hoài vậy?". Mình phải dạy dỗ suy nghĩ, giáo dục cảm thọ "hở chút bực để làm gì?", chúng ta tu từ trong thọ; tưởng; hành, đem những hình bóng của những người đang đau khổ trong gió to sóng lớn, đau khổ trong những bão lốc kinh hoàng, đau khổ trong bệnh tật vào trong tâm chúng ta để thấy được nhiều hơn nỗi khổ của chúng sanh, để hiểu được hơn niềm đau của nhân loại, để thấu nhiều hơn nữa sự thống khổ của hữu tình, của vạn loại. Dùng cái tưởng đó để tu tâm từ chứ đừng hơn thua từng chút với nhau, bỏ qua hết mọi sự nhỏ nhặt, nhỏ mọn vì nó không đáng. Mình muốn đi lên đỉnh núi mà dưới chân có chút sình, chút đất đá cũng mặc kệ, đạp lên để lên đến đỉnh núi, đừng có đạp sình rồi trách, đạp gai rồi than, cứ vậy thì đến bao giờ mới lên đỉnh núi? Phải hướng đến việc mở tâm ra vô cùng vô tận, vô lượng vô biên đối với nỗi khổ niềm đau của chính mình và chúng sanh toàn cầu đang ở trong biển lửa, cả thế giới đang ở trong hoảng loạn bất an. Hãy cảm thông, tha thứ, làm mọi cách để lồng ngực dâng trào lên cảm xúc xót xa, xót thương cho tự thân mình, cho muôn loài, cho chúng sanh, tất cả chúng sanh hữu tình đều là kẻ đáng thương, rất cần được thương, rất muốn được thương và chính mình cũng là người cần thương, muốn thương và được thương cho nên đừng đem cái giận cho người khác, đừng đem cái đau cho người khác. Mình đừng hành hạ chính mình và hành hạ những người ở chung với mình, đừng hành xác mình rồi hành xác những người ở chung mình, mình đừng hành tội mình rồi hành tội những người ở chung với mình, tội nghiệp cho mình lắm, tội nghiệp cho tâm sân hận và bản ngã lắm. Mình tu tập tâm từ cho đến mức chỉ cần đề khởi lên "tâm từ ơi", "tình thương ơi", chỉ cần kêu là cảm thọ trong người dâng lên dào dạt, sung mãn, phải tu đến mức độ như vậy.
Khai mở Tâm Từ với mình
Trước khi bước vào bài tập, hít vào và thở ra nhẹ nhàng bốn lần, đồng thời thầm đọc các câu sau đây nhằm để khơi gợi cho tâm và cảm thọ sanh khởi theo chiều hướng khai mở tình thương và sự cảm thông.
Nhẹ nhàng ơi! (hít vào)
Nhẹ nhàng ơi! (thở ra)
An lạc ơi! (hít vào)
An lạc ơi! (thở ra)
Tình thương ơi! (hít vào)
Tình thương ơi! (thở ra)
Cảm thông ơi! (hít vào)
Cảm thông ơi! (thở ra)
Không phải mình cho người bên ngoài nghe mà vừa nói vừa hướng tâm của mình vào chỗ lồng ngực là trung tâm của các cảm thọ để kêu "tình thương ơi", rồi mình sẽ thấy trái tim mình thức dậy. Trái tim mình đã ngủ từ vô lượng kiếp rồi nên nó vô cảm, chai lỳ nên bây giờ phải kêu cho nó thức dậy, vừa kêu vừa nghe trong tim thổn thức, dâng tràn cảm xúc và mình thấy rõ dòng cảm thọ đó sanh khởi, đó là mình dẫn dắt cảm thọ theo chiều hướng mình muốn nó sanh khởi.
Ta khơi dậy trong ta
Tình thương và từ tâm,
Ta khơi dậy trong ta
Từ tâm và tình thương.
Tình thương sống trong ta,
Từ tâm sống trong ta.
Tình thương có trong ta,
Từ tâm có trong ta.
Mình khai mở, khơi gợi, khởi động để dòng cảm thọ thương bắt đầu thức dậy, trái tim đã ngủ quên ngàn năm trong vô cảm bây giờ đã thức dậy bởi tiếng gọi của từ tâm. Trong vô lượng vô biên kiếp của dòng sanh tử này chúng ta đã sống trong sự ích kỷ, sống trong sự chấp ngã, sống trong sự si mê, hơn thua, sống trong vô cảm, không biết cảm thông, tha thứ. Bây giờ mình phải kêu nó thức dậy "tâm mê đã ngủ ngàn năm rồi thức dậy đi tâm ơi".
Ta có nhiều tình thương
Tình thương cảm thân này
Tình thương cảm thọ này
Thọ này ta hiểu thương.
Thương lâu rồi ta sống
Trong sự quên lãng mình
Ta bỏ quên cảm thọ
Nên để mình khổ đau.
Đã từ rất lâu ta sống trong sự quên lãng chính mình, ta bỏ quên không biết chăm sóc cho cảm thọ này. Ta cứ để cho nó sân hận, hơn thua, bản ngã, ta cứ để cho nó bức xúc, quạu quọ, ta cứ để những cảm thọ tiêu cực đó giày xéo trong ta, hành hạ trong ta, ta cứ để những cảm thọ dục ái đó thúc giục, lôi kéo, sai sử, sai khiến trong ta.
Ta không biết nhìn lại cảm thọ, ta không biết quán chiếu cảm giác, ta không biết chăm sóc cảm xúc. Ta để cho nó tung hoành thao túng, ngông nghênh, ngang tàng, ta để cho cảm thọ của dục, vô minh, tham ái, bản ngã xé nát tim ta. Ta phải chịu những dòng cảm xúc nóng bực, nhiệt não, khổ sầu, ta phải chịu những dòng cảm thọ tranh đấu, hơn thua. Ta thật là đáng thương!
Thương lâu rồi ta thiếu
Thương hiểu cảm thọ mình
Để tham, sân hành hạ
Ta để mình khổ đau.
Ta để cho cơn giận hành hạ hết ngày này qua ngày khác, hết tuần này qua tuần khác, hết tháng này qua tháng khác, ta phải chịu đựng cảm thọ nóng bức, thiêu đốt như vậy. Ta thật là đáng thương! Đây chính là khai mở cảm thọ tâm từ để thương chính mình, mình phải thương mình trước vì mình chưa thấy được bản thân mình thì mình đừng nói thương người ta, mình không thương được mình một cách chân chánh thật sự thì mình nói thương người chỉ là nói ngoài miệng, nói trong mê lầm, trong vô minh, tham ái chứ không phải từ bi. Phải hiểu được chính mình một cách sâu sắc, mình là kẻ đáng thương nhất hành tinh thì sau đó mình mới thương chúng sanh hữu tình đúng pháp, đúng tâm từ.
Nay hiểu rồi thọ ạ
Ta nhớ đến thọ rồi
Thôi thọ đừng sân giận
Thọ thương mình nhiều nha.
Mình kêu cảm thọ, mình tác ý chính là đang dạy cảm thọ, mình đang huấn luyện, cải tạo cảm thọ sân hận, tức giận của mình. Cái thọ đó chỉ là một pháp thôi chứ không phải mình, do mình không biết nên đồng hóa chung với nó, nó không phải mình, không phải của mình, không phải tự ngã của mình, khi nhìn ra nó rồi mình sẽ dạy dỗ, giáo dục nó, làm cho nó ngoan hiền, làm cho nó nghe lời.
Hôm nay Minh Thành giới thiệu cho chúng ta thấy một phần tổng quát về ý nghĩa, phương pháp và cách thức trải tâm từ. Nó sâu sắc như vậy, nó dào dạt cảm xúc như vậy, nó rộng lớn biến mãn như vậy chứ không đơn giản chỉ là đọc bài kinh là xong không có cảm xúc, cảm giác gì cả, ngược lại phải làm cho mình sanh khởi được những cảm thọ sâu sắc và cảm thọ đó lan tỏa, thấm đượm trong từng lỗ chân lông, từng tế bào, từng huyết quản của mình. Nó đi vào da, tới trong thịt, ngấm vô xương, đi vô tận tủy não của mình, mình làm cho cảm thọ tâm từ này an trú luôn trong đó chứ không mất đi. Như vậy mới gọi là tu tập tâm từ và tâm từ này phải được phát triển, an trú vững chắc thành cỗ xe, thành căn cứ địa, bất cứ lúc nào muốn đề khởi tâm từ là nó xuất hiện lên ngay, mình cảm thấy trong tim thức dậy cả dòng cảm thọ thương cảm, bi xót tràn ngập trong từng mạch máu, huyết quản, mình thấy tâm từ đó lan tỏa ra từng ánh mắt, từng lời nói, từng cử chỉ, từng nghĩ tưởng của mình, nó lan khắp biến mãn mọi nơi. Phải thực tập tâm từ như vậy, an trú tâm từ như vậy, vững trú tâm từ như vậy sẽ đem lại lợi ích, an lạc dài lâu cho chúng ta, muốn được như vậy phải thực tập thường xuyên và liên tục nhiều ngày, nhiều tháng, nhiều năm. Phép màu sẽ đến với chúng ta, phép lạ sẽ xảy ra trong thân tâm chúng ta, những người mà trước nay mình sân hận họ thì mình có thể tha thứ hoàn toàn, sanh khởi lên sự xót thương đối với kẻ thù của mình, đối với những người làm mình khó chịu, mình bao phủ người đó với một tâm từ giống như mình phủ tấm lụa trắng từ đầu đến gót chân của họ.
"Chư Tỳ-kheo, ở tại đây, các Ngươi cần phải học tập như sau: 'Chúng ta sẽ giữ tâm của chúng ta không biến nhiễm, chúng ta sẽ không thốt ra những lời ác ngữ, chúng ta sẽ sống với lòng lân mẫn, với tâm từ bi, với nội tâm không sân hận. Chúng ta sẽ sống bao phủ người này với tâm câu hữu với từ. Và với người này là đối tượng, ta sống biến mãn cùng khắp thế giới với tâm câu hữu với từ, quảng địa vô biên, không hận, không sân'. Chư Tỳ-kheo, như vậy các Ngươi cần phải học tập". (Trung Bộ Kinh, 21. Kinh Ví dụ cái cưa)
./.
LỘ TRÌNH TÂM PHÁP HÀNH
CÁCH TRẢI TÂM TỪ
KINH VÍ DỤ TẤM VẢI 2 - TRUNG BỘ I
–Thích Minh Thành–
Kính bạch các bậc hiền trí chư Tăng Ni và đại chúng. Hôm nay chúng ta tiếp tục tìm hiểu bài kinh Ví dụ tấm vải trong Trung Bộ Kinh, tập I. Lần trước chúng ta đã nghe Thế Tôn cho ví dụ và ngài đã giải thích cho chúng ta biết thế nào là những cấu nhiễm của tâm. Một vị Tỳ-kheo thành tựu lòng tin tuyệt đối với Phật, Pháp, Tăng là vì vị này sau khi nương vào phương pháp nhìn nhận thân tâm, nhận diện ngũ uẩn thì vị này phát hiện một cách chính xác về những cặn bã, cấu nhiễm của tâm.
Khi đã thấy một cách chân thật, chính xác, thấy rõ ràng như chỉ trong lòng bàn tay, thấy rõ những cảm thọ dục sanh khởi ra sao, ái sanh khởi ra sao, tham vận hành ra sao, sân sanh khởi thế nào, vận hành thế nào, xâm chiếm, áp đảo tâm thế nào. Vị này thấy rõ trạng thái của vô minh khi xuất hiện thì nó như thế nào, khi nó che lấp tâm thì nó diễn biến thế nào. Vị này thấy rõ cảm giác của bản ngã, của tôi, của ta, của tao, mi, của hơn thua, nó sanh khởi, vận hành, xâm chiếm ra sao đều thấy chân xác, chánh trực, rõ ràng. Tuy rằng vị này chưa có khả năng khống chế và chế ngự hoàn toàn nhưng vị này thấy và bắt đầu đi vào công cuộc thanh lọc, vệ sinh, lau chùi, quét dọn, tẩy rửa những rác bẩn. Khi đã thấy những cấu nhiễm một cách cụ thể, rõ ràng, đầy đủ thì vị này thành tựu lòng tin tuyệt đối đối với Đức Phật, đối với chánh pháp, đối với chúng Tăng. Trong kinh Nikāya dùng từ "chúng Tăng" nghĩa là bốn đôi tám chúng hiền Thánh.
"Ðến giai đoạn này, đối với vị ấy có sự từ bỏ, có sự diệt trừ, có sự giải thoát, có sự đoạn trừ, có sự xả ly". (Trung Bộ Kinh, 7. Kinh Ví dụ tấm vải)
Từ bỏ những cấu nhiễm của tâm, từ bỏ những rác bẩn của tâm, từ bỏ những xú uế của tâm, từ bỏ những cặn bã của tâm, từ bỏ những lậu hoặc của tâm. Từ bỏ những cái dục, tà tham, sân hận, phẫn nộ, hư ngụy, tâm ganh tỵ, đố kỵ, tật đố, tâm ngoan cố, tâm cấp tháo, tâm muốn làm hại người, những ý nghĩ cho rằng mình hơn người, những cái này đều từ bỏ, diệt trừ, thoát ra khỏi những thứ đó.
"Vị ấy tự nghĩ: 'Ta thành tựu lòng tin tuyệt đối đối với Thế Tôn'" (Trung Bộ Kinh, 7. Kinh Ví dụ tấm vải)
Trong kinh Nikāya dùng từ "tịnh tính bất động", lòng tin tuyệt đối có nghĩa là sự tịnh tín bất động. Lòng tin tuyệt đối là dù cho chết thì lòng tin đó cũng không mất đi, dù có chuyện gì xảy ra thì lòng tin về Đức Phật, về chánh pháp, về chúng Tăng hay về giới cũng không thay đổi, không lay chuyển. Tịnh là sự trong sạch, trong sáng, tín là lòng tin, bất động là không dao động, tịnh tín bất động là lòng tin trong sáng không dao động, lòng tin vững chắc không lung lay, lòng tin tuyệt đối không lay chuyển.
"Vị ấy tự nghĩ: 'Ðến giai đoạn này, đối với Ta, có sự từ bỏ, có sự diệt trừ, có sự giải thoát, có sự đoạn trừ, có sự xả ly', và chứng được nghĩa tín thọ, chứng được pháp tín thọ, chứng được hân hoan liên hệ đến pháp; từ hân hoan, hỷ sanh; từ hỷ, thân khinh an; thân khinh an, cảm giác được lạc thọ; với lạc thọ, tâm được Thiền định". (Trung Bộ Kinh, 7. Kinh Ví dụ tấm vải)
Trên đây là trình tự vận hành của pháp, đối với một người là chân tu thật học thì những pháp này sẽ sanh khởi và diễn biến trong tâm. Đến giai đoạn này thì vị Tỳ-kheo này chứng được nghĩa tín thọ, chứng được pháp tín thọ. Tín là lòng tin, thọ là nhận, nghĩa là những nghĩa lý của Đức Phật, vị này tin chắc và tiếp nhận, thọ nhận nghĩa lý mà Đức Phật truyền trao, chứng được những cái này tức là những nghĩa lý, lòng tin đó, tự tiếp nhận đó không bao giờ mất thì mới gọi là chứng. Tuy rằng vị này chưa đoạn trừ hết lậu hoặc nhưng vị này có lòng tin tuyệt đối và thọ nhận vào bên trong nghĩa lý mà Đức Phật truyền trao và lòng tin đó, sự thọ nhận nghĩa lý đó không bị mất đi. Dù trong bất cứ hoàn cảnh nào vị này cũng tin vào nghĩa lý và thọ nhận về tính chất vô thường, biến hoại của sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Trong mắt vị này xác quyết, trong nội tâm xác quyết thật sự sắc; thọ; tưởng; hành; thức là vô thường, là biến hoại, là khổ đau và cái thấy biết đó không mất đi.
Pháp tín thọ là những pháp mà vị này được học, vị này có lòng tin tuyệt đối và thọ nhận pháp đó. Pháp trong vị này không bị mất đi, mình đã học về niệm thân, niệm ba mươi hai thể trược, niệm tứ đại là một đống đất, nước, gió, lửa, xương, da, phèo, phổi, gan, ruột… những pháp mà vị này đã nghe, đã hiểu, đã tin, đã nhận thì nó được cất chứa trong tâm, dù cho chưa đoạn tận lậu hoặc nhưng cái thấy biết không thay đổi, lòng tin không lay chuyển. Ngũ uẩn đó là vô thường, là khổ đau, là vô chủ, vô hộ, vô ngã, do lòng tin tuyệt đối với pháp, với nghĩa, do sự thọ nhận sâu sắc và được an trú trong tâm không mất đi nên vị này chứng được hân hoan liên hệ đến pháp. Bất cứ lúc nào được nghe về pháp, tác ý về pháp, được nói về pháp thì hân hoan sanh khởi, có sự hỷ lạc, thích thú, như vậy gọi là chứng được sự hân hoan liên hệ đến pháp. Pháp được người này cất giữ trong tâm, nghĩa được người này cất giữ trong cảm thọ, trong suy tư, trong nhận thức nên không bị mất đi cái pháp, không bị mất đi cái nghĩa. Chính vì cái pháp, nghĩa nằm trong người này, cái thấy biết vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh luôn được cất giữ, chất chứa, tụ tập, gom góp trong tâm, trở thành của báu của người này, trở thành hơi thở, thành nhịp đập con tim của người này, trở thành hệ hô hấp tuần hoàn của người này cho nên một khi nghĩ về pháp là tự động hân hoan có mặt, khi nói về pháp là phấn khởi, khi nghe về pháp là thích thú, đó gọi là chứng được hân hoan liên hệ đến pháp. Người này có thể nghe pháp và nói pháp suốt ngày đêm không biết mệt mỏi, không biết chán, Đức Thế Tôn và chư vị Thánh Tăng nói pháp sáng đêm, các vị đó đều chứng được hân hoan liên hệ đến pháp, còn người nào không chứng được hân hoan liên hệ đến pháp, chưa chứng được nghĩ tín thọ, pháp tín thọ thì nghe pháp một lúc là thấy mệt mỏi, chán chường.
Do người này chứng được hân hoan liên hệ đến pháp nên hỷ sanh khởi, trong lòng người này mừng vui, thích thú khi bàn về pháp, khi nghĩ về pháp, khi tác ý tư duy về pháp, khi thấy nghe những chuyện tương ưng với pháp thì người này rất hoan hỉ, rất vui. Từ sự hân hoan bên ngoài là vui cười, thích thú, thậm chí là nhảy nhót vui sướng, đến hỷ là mừng trên thân, có thể là cảm thọ dâng lên trong lồng ngực. Từ hỷ đến khinh an là thân nhẹ nhàng, dễ chịu, khi ngồi thiền hoặc nghe pháp thấy thân nhẹ như bông gòn hoặc có những khi nhẹ giống như không có thân, đó chính là khinh an trong thiền và khinh an trong pháp cũng giống vậy.
Từ khinh an có cảm giác lạc thọ, tâm dễ chịu, tâm vui nhẹ nhàng. Hỷ thọ là vui mừng trên thân, lạc thọ là cái dễ chịu trong tâm, một cảm giác êm ái, dễ chịu, cái đó là lạc thọ. Khi thân nhẹ nhàng, tâm dễ chịu sẽ đi vào các tầng thiền định không khó khăn, mệt nhọc. Giới hạnh phải đi đầu, sau đó đến pháp, nghĩa và tiếp theo là hân hoan, hỷ, khinh an, lạc và cuối cùng là thiền định, đó là trình tự vận hành của thiện pháp, Thánh đạo, của một cái tâm đi đúng đạo lộ của Đức Thế Tôn. Sau khi đạt được như vậy thì mới xứng đáng được cúng dường.
"Này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo, giới như vậy, pháp như vậy, tuệ như vậy, - nếu có ăn đồ khất thực với gạo thơm, hạt đen được vất đi, với các món canh, với các món ăn khác cũng không vì vậy trở thành một chướng ngại cho vị ấy. Này các Tỳ-kheo, như một tấm vải cấu uế, nhiễm bụi, nếu bỏ trong nước sạch, trở thành thanh tịnh sạch sẽ, như bỏ vào lò lửa trở thành thanh tịnh sạch sẽ. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, một Tỳ-kheo, giới như vậy, pháp như vậy, tuệ như vậy, - nếu có ăn đồ khất thực với gạo thơm, hạt đen được vất đi, với các món canh, với các món ăn khác, cũng không vì vậy trở thành một chướng ngại cho vị ấy". (Trung Bộ Kinh, 7. Kinh Ví dụ tấm vải)
Một người tu đạt được giới hạnh, pháp nghĩa, đạt được trí tuệ như vậy thì dù được cúng dường đồ ngon lành, quý báu cũng không trở thành chướng ngại cho người đó. Đức hạnh như vậy, lòng tin, pháp nghĩa được thọ nhận như vậy, với một thân tâm trong sạch, hỷ lạc, nội tâm an tịnh như vậy thì dù được cúng dường đồ ngon, thơm, đẹp, quý cũng không là chướng ngại cho người đó, giống như tấm vải dơ được giặt sạch. Ở đoạn trên nói về những cái tâm cấu nhiễm, còn bây giờ nhờ pháp mà tấm vải được tẩy sạch, tấm vải sau được giặt trong nước, được tẩy thì tấm vải đó sạch sẽ, trong sạch, phần trước là tâm đầy rẫy cấu nhiễm, còn giờ tâm được thanh tẩy, nội tâm bây giờ là giới, pháp và tuệ cho nên ngồi để người ta lễ lạy, cúng dường trai Tăng không phải là việc chướng ngại. Còn nếu chưa có giới, chưa có pháp, chưa có tuệ mà ngồi cho người ta đáng tuổi ông bà, cha mẹ quỳ lạy, dâng đồ cúng lại không biết hổ thẹn, tàm quý, không biết thâu nhiếp sáu căn ba nghiệp, thả lỏng các căn, nói chuyện phù phiếm trong khi người ta quỳ lạy thì thật sự là hiểm nguy, thật sự là tai họa, thật sự là đáng lo, đáng sợ.
Bây giờ đến sự tu tập bốn tâm vô lượng, Đức Phật ví dụ tâm mình trước khi xuất gia là một tấm vải dơ, sau khi xuất gia rồi có những phương pháp thanh lọc, tẩy rửa, tẩy sạch, phải làm nhiệm vụ của một người tu là thanh lọc, giặt giũ, tẩy sạch tấm vải dơ trong tâm của mình. Nếu chúng ta tu ba năm, năm năm, bảy năm, mười năm mà tấm vải trong tâm không sạch, không được giặt giũ, không được tẩy rửa, lại còn dơ thêm nữa thì cái này thật là hiểm họa cho chúng ta, thật là tai nạn cho chúng ta, thật là nguy khốn cho chúng ta. Nếu chúng ta mang danh xuất gia những giới phẩm lớn nhưng không quay lại giặt giũ tấm vải dơ bên trong nội tâm, càng ngày càng lấm thêm những tham muốn, tà tham, ác tham, càng ngày càng dính thêm bụi tức giận, sân hận, hơn thua, càng ngày càng nhiễm thêm những bụi đời, những danh lợi, tài sắc của thế gian thì tấm vải kia càng cấu nhiễm, càng thêm dơ bẩn cho nên chúng ta là người xuất gia cần có những thời gian nhìn vào nội tâm, để ý thật nhiều vào những suy nghĩ của chính mình, để ý thật nhiều vào những hình bóng của nội tâm, để ý thật nhiều vào những cảm xúc, cảm giác và để ý thật nhiều vào hành động, oai nghi, lời nói, cử chỉ. Bên ngoài phải có sự phòng hộ và bảo vệ năm căn mắt; tai; mũi; lưỡi; thân và bên trong phải có sự phòng hộ, thâu nhiếp, bảo vệ, tẩy sạch và thanh lọc những cảm giác, nghĩ tưởng, đó chính là việc làm thật sự của người tu, trách nhiệm của người tu, bổn phận của người tu, cấp vụ của người tu, gia vụ của người tu.
Trách nhiệm và bổn phận của người xuất gia là giặt sạch tấm vải dơ bên trong nội tâm, tấm vải dính đầy tham, sân, si, vô minh, bản ngã, hơn thua, danh lợi đó. Nếu chúng ta không làm được việc này, không để tâm vào những cái này, không dốc lòng vào công việc này, không nỗ lực, cố gắng vào công cuộc thanh lọc này mà lãng quên, lơ là, bỏ qua, xem thường, chạy đi làm việc bên ngoài, đến khi đụng chuyện thì chúng ta đau khổ, chúng ta hối tiếc, hối hận. Trong tâm cảm thấy day dứt, giày xéo, bứt rứt, khi có chuyện lớn xảy ra hoặc khi đối diện tật bệnh, tai nạn, tuổi già hoặc sự chết chóc mà công việc của chúng ta làm chưa xong hoặc làm chưa được nhiều mà bất thình lình nhiễm bệnh, bị tai nạn giao thông, có những sự đột biến trong cơ thể hoặc ngày qua tháng lại chợt thấy tóc đã bạc.
"Nhân đa ư thử,
đam vị bất hưu,
nhật vãng nguyệt lai,
táp nhiên bạch thủ".
(Quy Sơn Cảnh Sách)
Nghĩa là con người đa số đều đam mê những mùi vị không ngừng, ngày qua tháng lại, thoáng chốc đã bạc đầu. Hoặc bất thình lình tử thần đến.
"Vô thường sát quỷ,
niệm niệm bất đình,
mạng bất khả diên,
thời bất khả đãi".
(Quy Sơn Cảnh Sách)
Nghĩa là con quỷ vô thường giết người không ngừng trong mỗi niệm, mạng sống chẳng thể kéo dài, thời gian không thể đợi chờ. Một khi cái chết đến thì có xin thêm thời gian cũng chẳng được, "Diêm Vương chú định tam canh tử, nan lưu hoạt đáo ngũ canh thiên" nghĩa là Diêm Vương đã định canh ba chết, khó lòng sống nổi tới canh năm. Nếu bây giờ chúng ta không lo vào chánh sự, nghĩa là công việc thiết yếu, cốt lõi của người xuất gia mà chạy ra ngoài tìm danh, tìm tướng, tìm lợi rồi bất thình lình những cái đó đến chúng ta sẽ trạo hối, nằm trên giường bệnh mà chúng ta đau khổ, giày vò, day dứt, như vậy làm sao có thân khinh an, cảm giác lạc thọ, tâm thiền định? Chúng ta vẫn chưa chứng được nghĩa tín thọ, pháp tín thọ, chưa có trí tuệ về vô thường, khổ, vô ngã, tính chất biến động, tan hoại, đổ nát, bại hoại của ngũ uẩn vẫn chưa thấy biết thâm sâu, chưa có cái nhìn thấu đáo, tiếp duyên xúc cảnh là quên, sáng còn trưa mất, chưa chứng được sự hân hoan liên hệ đến pháp, chúng ta chưa thấy sự hoan hỉ, thích thú, chưa thấy sự nhẹ nhàng, ngọt ngào của nội tâm khi ngồi một mình. Như thế thì làm sao đi vào được thiền định? Bên trong tâm chúng ta đầy rẫy những hình bóng, những sự suy tư, bên trong đầy rẫy những cảm xúc thúc giục tìm kiếm, thèm thuồng, khao khát, muốn thêm, truy tầm, đuổi bắt, vậy là còn rất nhiều vết bẩn trên tấm vải nội tâm.
Đây là giai đoạn để chúng ta giặt giũ, tẩy rửa và thanh lọc. Đây là thời điểm thanh lọc, tẩy sạch những gì chúng ta đã được nghe, đã được học, cần phải để tâm vào thật nhiều để làm bài tập, chúng ta tu học theo lời dạy nguyên chất của Đức Phật là làm bài tập trong từng suy nghĩ, rửa sạch suy nghĩ ác bất thiện pháp, rửa sạch suy nghĩ dục, suy nghĩ sân, rửa sạch những cảm thọ hơn thua, tranh giành. Trong từng ý niệm, từng cảm thọ, từng hình bóng trong tâm phải được nhìn ngó, kiểm tra, kiểm soát, kiểm duyệt và thanh tẩy nó. Đó là chúng ta làm đúng theo lời Đức Phật, là đứa con ngoan của Đức Phật, là bậc Đa văn Thánh đệ tử. Nếu làm được những điều này thì chúng ta ngồi để hàng Phật tử tín thí lễ lạy là không có chướng ngại, còn nếu chúng ta không làm được những điều này thì đó là tai họa tiềm ẩn trong sự lễ lạy đó, tiềm ẩn trong những món đồ tứ sự đó, trong đó là những hố than hừng, những cột đồng cháy đỏ, những vạc dầu sôi ùng ục dưới địa ngục nằm trong đó, những thân thể đầy rẫy lông lá và những cặp sừng nằm trong đó, những cô hồn ngạ quỷ lang thang nằm trong đó, ba đường ác tiềm ẩn trong đó. Nếu chúng ta không biết suy tư một cách sâu sắc và thấu đáo về đạo nghiệp, đạo hạnh của đời sống tu hành thì dưới lớp Cà-sa này là non đao biển lửa, là vạc dầu, là nước đồng sôi, là địa ngục hàn băng.
Trên đây là những lời trong kinh Nikāya, trong đó có hơn bốn mươi bài kinh nói về địa ngục để chúng ta chiêm nghiệm sâu sắc, để chúng ta sanh khởi sự lo lắng, thật là lo lắng cho chính mình. Sau phần này Đức Thế Tôn nói đến bốn vô lượng tâm.
"Vị ấy an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên dưới bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân". (Trung Bộ Kinh, 7. Kinh Ví dụ tấm vải)
Vị ấy an trú tâm của mình cùng khắp phương trước mặt cùng với tâm hòa lẫn tình thương. Đem tình thương dào dạt của tự thân mình trong dòng sanh tử vô lượng kiếp này, vì tham, sân, si, bản ngã mà mình đau khổ, mình tạo bao nhiêu ác nghiệp, mình thấy thương mình, mình thấy xót cho mình, mình cảm thương chính mình và sự cảm thương đó dào dạt, thấm đượm cả châu thân. Thương mình vì đã nhiều kiếp sống trong vô minh, thương mình vì đã nhiều kiếp sống trong sân hận, trong bản ngã, thương mình vì nhiều kiếp sống trong dục, trong tham, thương mình trong vô thỉ kiếp sống trong bóng đêm của chấp thủ, bao nhiêu dòng nước mắt đã chảy xuống đầy đau khổ. Tình thương đó lan tỏa và thấm đượm từ đảnh tóc cho đến gót chân giống như vòi sen phun nước từ đỉnh đầu đến gót chân, cảm thọ thương cảm chính mình lan tỏa, thấm đượm khắp châu thân của chúng ta, làm cho cảm thọ đó dào dạt, sung mãn. Mình đã gây ra biết bao tội lỗi, biết bao sân hận, khổ đau, sau đó mình để dòng cảm thọ đó lan tỏa, trải dài ra vô tận không gian trước mặt. Mình thấy rằng tất cả hữu tình chúng sanh cũng vì sân hận, vì vô minh, si mê, bản ngã nên cũng đau khổ giống như mình, họ cũng đau khổ như mình đau khổ.
"Mỗi người một nỗi khổ,
Mỗi loài một niềm đau,
Xin cùng nhau thấu hiểu
Những đau khổ trong nhau"
(Cửa Vào Bất Tử - Chơn Tín Toàn)
Để cho cảm thọ thương chính mình và thương hữu tình chúng sanh này lan tỏa cùng khắp về phương trước mặt, tận cùng hư không, vô biên vô lượng. Tiếp tục trải dòng cảm thọ đó về sau lưng, bề dọc, bề ngang, trải khắp mười phương, làm cho dòng cảm xúc đó sung mãn, đầy ắp cả hư không, hòa quyện với tình thương cảm chính mình và hữu tình chúng sanh cũng là những nạn nhân của tham, sân, si, nạn nhân của bản ngã, dục vọng. Mình sanh khởi lên tâm bi xót thương, bi mẫn, đồng cảm, mình cho dòng cảm xúc đó lan khắp mười phương tám hướng, vô biên hư không, vô tận, tràn ngập không gian này hòa quyện với tình thương và lòng bi mẫn xót xa cho mình và cho hữu tình chúng sanh.
Đó là chúng ta trải từ vô lượng tâm và bi vô lượng tâm, trên trang linhquyphapan.vn có mỗi bài thực tập, hành trì riêng cho mỗi đề mục tâm vô lượng, cần nghe kĩ bốn tâm vô lượng này vì nó rất quan trọng. Nếu mình làm đúng phương pháp thì có thể nước mắt sẽ tràn ra đầm đìa đầy mặt, dòng cảm thọ xót thương chính mình và chúng sanh sẽ tuôn trào và dâng lên, nếu người xuất gia mà không thực tập bốn tâm vô lượng này là vô cùng đáng tiếc và là một sự thiếu sót lớn, bốn tâm này sẽ làm cho tâm mình rộng lớn và đi đến chỗ vô lượng, vô tận.
"Vị ấy an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với bi... (như trên)... với tâm câu hữu với hỷ... (như trên)... biến mãn một phương với tâm câu hữu với xả, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên dưới bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại vô biên, không hận, không sân". (Trung Bộ Kinh, 7. Kinh Ví dụ tấm vải)
Vị ấy không hận, không sân bất cứ một ai trong cái tưởng đó, trong cảm thọ đó, trong suy nghĩ đó. Toàn thể thọ; tưởng; hành; thức đó là một dòng đại bi, thương xót dào dạt, đầy ắp cả hư không là một cảm thọ của tình thương, xót xa.
Tác dụng của Tâm Từ:
Tâm từ là tâm từ mẫn thương xót chúng sanh còn đang lặn hụp trong biển sanh tử khổ đau, đang bị tham sân si hành hạ, đang bị bản ngã, ngã mạn, được mất, hơn thua, đúng sai, thương ghét làm cho phiền não và khổ đau. Tâm từ vô lượng này cần được tu tập để khai mở tình thương, khai mở lòng từ mẫn với chính mình, với mọi người và mọi loài, làm cho tâm trở nên rộng lượng, bao dung, thông cảm với tất cả chúng sanh, diệt trừ những tâm nóng giận, cáu gắt, quạu quọ, những cảm thọ bực bội, bức xúc, khó chịu, không hài lòng về nhau, không thông cảm với nhau.
Chúng ta cần nhớ là phải khai mở lòng từ mẫn với chính mình trước, nếu không thương mình mà đi thương những cái bên ngoài thì đó chưa thật sự là thương. Hãy thương mình là một nạn nhân, đầy rẫy tham, sân, si, ngã mạn đang hành hạ mình, sự hơn thua, đúng sai, hơn ghét đang làm mình khổ sầu, buồn đau. Hãy thương chính mình rồi mới trải tâm ra thương hữu tình, phải biết mình là kẻ đáng thương nhất hành tinh này. Hãy thương cho đúng cách, thương bằng chánh tri kiến, thương bằng trí tuệ, thương bằng sự thấy biết, thống hiểu sắc; thọ; tưởng; hành; thức của chính mình. Khi đã hiểu được mình thì mình sẽ thông cảm với mọi người, còn mình không thông cảm cho người ta là do mình không hiểu được mình, khi thấy được ngũ uẩn, thấy được lậu hoặc, cấu nhiễm trong tâm mình rồi mình sẽ có sự đồng cảm sâu sắc với tất cả mọi người, tất cả hữu tình chúng sanh không có một ai là đáng giận, tất cả đều là những kẻ đáng thương, trong đó mình là người đáng thương nhất. Sau khi biết thân tâm mình thấu đáo, đúng sự thật mình sẽ không có lý do nào để giận ai dù người đó làm mình đau khổ vì họ vô minh, vì họ có lòng tham, bản ngã nên họ mới làm vậy, vì họ dại khờ, mù lòa, bị ngọn lửa rực cháy bên trong nên họ mới làm vậy cho nên mình sẽ diệt trừ được tâm nóng giận, bức xúc, khó chịu.
Khi tu tâm từ thì những cảm giác đó sẽ từ từ lắng dịu và sẽ tẩy sạch hết cảm thọ đó, tu tâm từ này rồi sẽ thấy phép màu xuất hiện, kì tích xuất hiện trong nội tâm chúng ta khi chúng ta siêng năng thực tập tâm từ thường xuyên và liên tục an trú. Còn không tu tâm từ này sẽ rất khổ, thấy cái gì cũng bực, nghe cái gì cũng khó chịu, cảm thọ một chút là sân si, nhận thức một chút là hơn thua dù ở trong chùa, tâm không hỷ lạc, không khinh an, không thiền định, trong mỗi cảm thọ, nhận thức, thấy nghe là sân si, cao thấp, đúng sai, so đo, phân biệt, ganh tỵ, đó là một nội tâm bệnh tật, hạ liệt, hèn hạ, một nội tâm đáng thương xót vì chưa tu tập. Còn nội tâm có tu tập sẽ an tịnh, lắng dịu, dễ chịu và dễ thương, cảm thông, thấu hiểu và tha thứ, bao dung và bao phủ cả đối tượng kia bằng cả lòng từ, một lòng từ rộng khắp hư không khi thâu lại nằm trong tim mình. Phải siêng năng thực tập tâm từ để nó trở thành cỗ xe, thành thành quách, thành căn cứ địa vững trú trong tâm mình, chỉ có tâm từ mới là phép màu, mới là cái bảo vệ, chở che cho mình thật sự, mới là chỗ nương dựa bình an tối thượng trên cuộc đời này. Không có tâm từ là không thể bảo vệ được cho ai cả, ngay cả người thương mình mà mình còn không hiểu họ thì đừng nói chi người ghét mình. Không có tâm từ mình sống dại khờ, dại dột, không có tâm từ mình sống với những cảm thọ gay gắt, khúc mắc, bức xúc, bực bội, không có tâm từ thì tâm mình nhỏ hẹp, nhỏ nhặt. Có tâm từ rồi tâm mình sẽ rộng mở, rộng lớn, rộng lượng, quảng đại, vô lượng vô biên, cho nên phải siêng năng thực tập tâm từ.
Trong bất cứ lúc nào và ở bất cứ nơi nào cũng phải nhớ tác ý tâm từ, mỗi khi giận lên là tác ý "thương cảm thọ giận này quá, thương cảm thọ khờ dại này quá. Sao giận hoài vậy?". Mình phải dạy dỗ suy nghĩ, giáo dục cảm thọ "hở chút bực để làm gì?", chúng ta tu từ trong thọ; tưởng; hành, đem những hình bóng của những người đang đau khổ trong gió to sóng lớn, đau khổ trong những bão lốc kinh hoàng, đau khổ trong bệnh tật vào trong tâm chúng ta để thấy được nhiều hơn nỗi khổ của chúng sanh, để hiểu được hơn niềm đau của nhân loại, để thấu nhiều hơn nữa sự thống khổ của hữu tình, của vạn loại. Dùng cái tưởng đó để tu tâm từ chứ đừng hơn thua từng chút với nhau, bỏ qua hết mọi sự nhỏ nhặt, nhỏ mọn vì nó không đáng. Mình muốn đi lên đỉnh núi mà dưới chân có chút sình, chút đất đá cũng mặc kệ, đạp lên để lên đến đỉnh núi, đừng có đạp sình rồi trách, đạp gai rồi than, cứ vậy thì đến bao giờ mới lên đỉnh núi? Phải hướng đến việc mở tâm ra vô cùng vô tận, vô lượng vô biên đối với nỗi khổ niềm đau của chính mình và chúng sanh toàn cầu đang ở trong biển lửa, cả thế giới đang ở trong hoảng loạn bất an. Hãy cảm thông, tha thứ, làm mọi cách để lồng ngực dâng trào lên cảm xúc xót xa, xót thương cho tự thân mình, cho muôn loài, cho chúng sanh, tất cả chúng sanh hữu tình đều là kẻ đáng thương, rất cần được thương, rất muốn được thương và chính mình cũng là người cần thương, muốn thương và được thương cho nên đừng đem cái giận cho người khác, đừng đem cái đau cho người khác. Mình đừng hành hạ chính mình và hành hạ những người ở chung với mình, đừng hành xác mình rồi hành xác những người ở chung mình, mình đừng hành tội mình rồi hành tội những người ở chung với mình, tội nghiệp cho mình lắm, tội nghiệp cho tâm sân hận và bản ngã lắm. Mình tu tập tâm từ cho đến mức chỉ cần đề khởi lên "tâm từ ơi", "tình thương ơi", chỉ cần kêu là cảm thọ trong người dâng lên dào dạt, sung mãn, phải tu đến mức độ như vậy.
Khai mở Tâm Từ với mình
Trước khi bước vào bài tập, hít vào và thở ra nhẹ nhàng bốn lần, đồng thời thầm đọc các câu sau đây nhằm để khơi gợi cho tâm và cảm thọ sanh khởi theo chiều hướng khai mở tình thương và sự cảm thông.
Nhẹ nhàng ơi! (hít vào)
Nhẹ nhàng ơi! (thở ra)
An lạc ơi! (hít vào)
An lạc ơi! (thở ra)
Tình thương ơi! (hít vào)
Tình thương ơi! (thở ra)
Cảm thông ơi! (hít vào)
Cảm thông ơi! (thở ra)
Không phải mình cho người bên ngoài nghe mà vừa nói vừa hướng tâm của mình vào chỗ lồng ngực là trung tâm của các cảm thọ để kêu "tình thương ơi", rồi mình sẽ thấy trái tim mình thức dậy. Trái tim mình đã ngủ từ vô lượng kiếp rồi nên nó vô cảm, chai lỳ nên bây giờ phải kêu cho nó thức dậy, vừa kêu vừa nghe trong tim thổn thức, dâng tràn cảm xúc và mình thấy rõ dòng cảm thọ đó sanh khởi, đó là mình dẫn dắt cảm thọ theo chiều hướng mình muốn nó sanh khởi.
Ta khơi dậy trong ta
Tình thương và từ tâm,
Ta khơi dậy trong ta
Từ tâm và tình thương.
Tình thương sống trong ta,
Từ tâm sống trong ta.
Tình thương có trong ta,
Từ tâm có trong ta.
Mình khai mở, khơi gợi, khởi động để dòng cảm thọ thương bắt đầu thức dậy, trái tim đã ngủ quên ngàn năm trong vô cảm bây giờ đã thức dậy bởi tiếng gọi của từ tâm. Trong vô lượng vô biên kiếp của dòng sanh tử này chúng ta đã sống trong sự ích kỷ, sống trong sự chấp ngã, sống trong sự si mê, hơn thua, sống trong vô cảm, không biết cảm thông, tha thứ. Bây giờ mình phải kêu nó thức dậy "tâm mê đã ngủ ngàn năm rồi thức dậy đi tâm ơi".
Ta có nhiều tình thương
Tình thương cảm thân này
Tình thương cảm thọ này
Thọ này ta hiểu thương.
Thương lâu rồi ta sống
Trong sự quên lãng mình
Ta bỏ quên cảm thọ
Nên để mình khổ đau.
Đã từ rất lâu ta sống trong sự quên lãng chính mình, ta bỏ quên không biết chăm sóc cho cảm thọ này. Ta cứ để cho nó sân hận, hơn thua, bản ngã, ta cứ để cho nó bức xúc, quạu quọ, ta cứ để những cảm thọ tiêu cực đó giày xéo trong ta, hành hạ trong ta, ta cứ để những cảm thọ dục ái đó thúc giục, lôi kéo, sai sử, sai khiến trong ta.
Ta không biết nhìn lại cảm thọ, ta không biết quán chiếu cảm giác, ta không biết chăm sóc cảm xúc. Ta để cho nó tung hoành thao túng, ngông nghênh, ngang tàng, ta để cho cảm thọ của dục, vô minh, tham ái, bản ngã xé nát tim ta. Ta phải chịu những dòng cảm xúc nóng bực, nhiệt não, khổ sầu, ta phải chịu những dòng cảm thọ tranh đấu, hơn thua. Ta thật là đáng thương!
Thương lâu rồi ta thiếu
Thương hiểu cảm thọ mình
Để tham, sân hành hạ
Ta để mình khổ đau.
Ta để cho cơn giận hành hạ hết ngày này qua ngày khác, hết tuần này qua tuần khác, hết tháng này qua tháng khác, ta phải chịu đựng cảm thọ nóng bức, thiêu đốt như vậy. Ta thật là đáng thương! Đây chính là khai mở cảm thọ tâm từ để thương chính mình, mình phải thương mình trước vì mình chưa thấy được bản thân mình thì mình đừng nói thương người ta, mình không thương được mình một cách chân chánh thật sự thì mình nói thương người chỉ là nói ngoài miệng, nói trong mê lầm, trong vô minh, tham ái chứ không phải từ bi. Phải hiểu được chính mình một cách sâu sắc, mình là kẻ đáng thương nhất hành tinh thì sau đó mình mới thương chúng sanh hữu tình đúng pháp, đúng tâm từ.
Nay hiểu rồi thọ ạ
Ta nhớ đến thọ rồi
Thôi thọ đừng sân giận
Thọ thương mình nhiều nha.
Mình kêu cảm thọ, mình tác ý chính là đang dạy cảm thọ, mình đang huấn luyện, cải tạo cảm thọ sân hận, tức giận của mình. Cái thọ đó chỉ là một pháp thôi chứ không phải mình, do mình không biết nên đồng hóa chung với nó, nó không phải mình, không phải của mình, không phải tự ngã của mình, khi nhìn ra nó rồi mình sẽ dạy dỗ, giáo dục nó, làm cho nó ngoan hiền, làm cho nó nghe lời.
Hôm nay Minh Thành giới thiệu cho chúng ta thấy một phần tổng quát về ý nghĩa, phương pháp và cách thức trải tâm từ. Nó sâu sắc như vậy, nó dào dạt cảm xúc như vậy, nó rộng lớn biến mãn như vậy chứ không đơn giản chỉ là đọc bài kinh là xong không có cảm xúc, cảm giác gì cả, ngược lại phải làm cho mình sanh khởi được những cảm thọ sâu sắc và cảm thọ đó lan tỏa, thấm đượm trong từng lỗ chân lông, từng tế bào, từng huyết quản của mình. Nó đi vào da, tới trong thịt, ngấm vô xương, đi vô tận tủy não của mình, mình làm cho cảm thọ tâm từ này an trú luôn trong đó chứ không mất đi. Như vậy mới gọi là tu tập tâm từ và tâm từ này phải được phát triển, an trú vững chắc thành cỗ xe, thành căn cứ địa, bất cứ lúc nào muốn đề khởi tâm từ là nó xuất hiện lên ngay, mình cảm thấy trong tim thức dậy cả dòng cảm thọ thương cảm, bi xót tràn ngập trong từng mạch máu, huyết quản, mình thấy tâm từ đó lan tỏa ra từng ánh mắt, từng lời nói, từng cử chỉ, từng nghĩ tưởng của mình, nó lan khắp biến mãn mọi nơi. Phải thực tập tâm từ như vậy, an trú tâm từ như vậy, vững trú tâm từ như vậy sẽ đem lại lợi ích, an lạc dài lâu cho chúng ta, muốn được như vậy phải thực tập thường xuyên và liên tục nhiều ngày, nhiều tháng, nhiều năm. Phép màu sẽ đến với chúng ta, phép lạ sẽ xảy ra trong thân tâm chúng ta, những người mà trước nay mình sân hận họ thì mình có thể tha thứ hoàn toàn, sanh khởi lên sự xót thương đối với kẻ thù của mình, đối với những người làm mình khó chịu, mình bao phủ người đó với một tâm từ giống như mình phủ tấm lụa trắng từ đầu đến gót chân của họ.
"Chư Tỳ-kheo, ở tại đây, các Ngươi cần phải học tập như sau: 'Chúng ta sẽ giữ tâm của chúng ta không biến nhiễm, chúng ta sẽ không thốt ra những lời ác ngữ, chúng ta sẽ sống với lòng lân mẫn, với tâm từ bi, với nội tâm không sân hận. Chúng ta sẽ sống bao phủ người này với tâm câu hữu với từ. Và với người này là đối tượng, ta sống biến mãn cùng khắp thế giới với tâm câu hữu với từ, quảng địa vô biên, không hận, không sân'. Chư Tỳ-kheo, như vậy các Ngươi cần phải học tập". (Trung Bộ Kinh, 21. Kinh Ví dụ cái cưa)
./.