Thứ Tự Tu Tập 5 - Kinh Ganaka Moggallana - Trung Bộ
Kinh Nikāya Giảng Giải
Thứ Tự Tu Tập 5
Kinh Ganaka Moggallana - Trung Bộ
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Đúng giờ PAGEREF _Toc183017509 \h 1
II. Bằng cả tấm lòng PAGEREF _Toc183017510 \h 1
III. Huấn luyện cảm thọ PAGEREF _Toc183017511 \h 4
IV. Trình pháp PAGEREF _Toc183017512 \h 7
V. Tâm hiền PAGEREF _Toc183017513 \h 10
I. Đúng giờ
Xin thưa các thầy các cô là con ra chia sẻ pháp tới nay khoảng 20 năm, chưa bao giờ trễ giờ một lần nào, chưa bao giờ đi trễ một lần nào trong suốt 20 năm đi giảng dạy, có một lần duy nhất là ở chùa Hoằng Pháp mở khóa tu Phật học thường thức lần I. Lúc đó đi gần tới chùa thì con đường bị ngăn lại do đang làm đường, thêm kẹt xe, khi đi chia sẻ pháp Minh Thành thường tới trước khoảng 1 tiếng là chỗ gần, còn chỗ xa thì tới trước có khi 2 tiếng trở lên để trừ thời gian kẹt xe và những vấn đề đột xuất khác, vậy mà vẫn bị trễ 1 lần. Sẵn cái duyên này con chia sẻ cho chúng ta vì đây cũng là một sự thực tập mà không phải dễ, mình phải thực tập đúng giờ.
Hòa thượng Tinh Vân ở Phật Quang Sơn ở Đài Loan không bao giờ đi trễ giờ, hẹn ai đó là ngài đi trước khoảng 10 phút, lần nào cũng vậy trong suốt cuộc đời ngài. Có khi ngài soạn bài trên máy bay, cạo tóc 5 phút, dùng cơm, đánh răng 10-15 phút, tới bây giờ là hòa thượng gần trăm tuổi thì được mọi người tôn vinh bốn chữ "Chung thân thành tựu", nghĩa là thành tựu cả cuộc đời. Ở đây Minh Thành muốn nói chúng ta phải tập đúng giờ, đây là một đức hạnh tuy rằng nhỏ nhưng chữ đại đức nghĩa là đức lớn, muốn thành tựu đức lớn thì phải từ những cái công nhỏ và công nhỏ là chính từ những cái này. Nhiều khi chúng ta muốn làm cái gì cho cao to, vĩ đại còn mấy cái nhỏ lại coi thường nhưng không ngờ đức lớn là từ công nhỏ, công nhỏ là đi học đúng giờ, ra về đúng giờ, ra chơi đúng giờ, ngồi thiền đúng giờ, đi quả đường đúng giờ, làm công tác đúng giờ.
II. Bằng cả tấm lòng
Ngày xưa con nghe pháp của hòa thượng Thanh từ một ngày 8 tiếng liên tục 10 năm, khi ra giảng là y chang hòa thượng Thanh Từ. Sau này phiên dịch 30 tác phẩm Hán tạng về thiền, về giáo, về luật, học tập, nghiên cứu, giảng dạy 28 năm, cho đến năm thứ 28 mới bắt đầu chuyên nhất tạng kinh Nikāya chỉ mới 3-4 năm nay. Khi con đi vào tạng kinh Nikāya thì các bậc tôn đức của học viện Phật giáo, các vị thị giả của cố hòa thượng Minh Châu điện thoại tán thán. Vì sao lại vậy? Vì khi con làm cái gì là con để tâm bằng tất cả tấm lòng, bằng tất cả trái tim, tâm huyết vào đó, không có học chơi chơi, không có học qua loa, không có học phất phơ mà là học cho đến tận cùng, trong kinh Nikāya có câu "cái gì là lõi cây thì cái đó sẽ tồn tại lâu dài".
"Này các Tỳ-kheo, phạm hạnh này không phải vì lợi ích, lợi dưỡng, danh vọng, không phải vì lợi ích thành tựu giới đức, không phải vì lợi ích thành tựu thiền định, không phải vì lợi ích tri kiến. Và này các Tỳ-kheo, tâm giải thoát bất động chính là mục đích của phạm hạnh này, là lõi cây, là mục tiêu cuối cùng của phạm hạnh" (Trung Bộ Kinh, 29. Ðại kinh Thí dụ Lõi cây)
Đây là kinh nghiệm tương chao, đây là kinh nghiệm thiền môn, đây là kinh nghiệm trong chùa. Tại sao chúng ta càng tu lâu, có nhiều tuổi đạo mà chúng ta không thành tựu, chúng ta trở lại cách sống thường thường? Vì chúng ta không cẩn trọng trong sự tu học và làm việc, đây là chỗ rất quan trọng, trong hơn 30 pháp đóng cánh cửa Dự Lưu thì có một pháp là cẩu thả, không cẩn trọng, chỉ cần một điều này thôi là người này không thể Nhập Lưu Thánh quả, chỉ cần có đức tính làm việc qua loa, ẩu tả là không thể nhập Thánh quả, không thể thành tựu Thánh trí tuệ.
Chính vì vậy không phải con khó mà con muốn tập cho chúng ta có sự nghiêm túc trong học tập, trong thực hành và trong khi làm việc, khi chúng ta đối đãi với mọi người thì chúng ta rất bao dung, độ lượng nhưng đối đãi với mình phải khắc khe, nghiêm khắc. Luận ngữ có câu "Khắc kỷ phục lễ", khắc là sự hà khắc với chính mình, phục là quay trở về lễ giáo, những điều giáo dục này bây giờ rất hiếm, ngay cả trong chùa chứ đừng nói chi ở ngoài.
Con có ý định thiết lập làng tu Nikāya để đẩy mạnh lại nền giáo dục đạo đức, lễ giáo và Thánh pháp của Đức Phật. Ngày xưa trong các trường Phật học, các lớp sơ cấp có môn "đức dục Phật giáo", còn giáo dục công dân là ở ngoài đời. Đức dục nghĩa là giáo dục đạo đức nhưng bây giờ không còn những môn đó nữa cho nên trong bộ xuất gia toàn tập của con thì tập đầu tiên là "đức hạnh của người xuất gia", thành ra đây là những điều chúng ta phải để tâm rất nhiều vì nếu cái này mà không để tâm thì sau này những cái lớn chúng ta sẽ không làm được. Con lấy bản thân con ra để chứng minh cụ thể cho các thầy các cô thấy, không phải là khoe nhưng nhiều khi mình quên nên phải nhắc cho nhớ, con đi lên đi xuống trường là 500 cây số, mỗi lần con qua lớp là qua trước 20 phút, 1h10 là đã có mặt trên văn phòng. Con không cần các thầy các cô học cái gì cao siêu cả, chỉ cần học đúng giờ trước đã, đây cũng là cái duyên để chúng ta học.
Con vào tới lớp rồi mà không có ghế ngồi, bàn cũng chưa sạch sẽ trong khi chuông đã reo. Con sẽ đặt nhân quả cho chúng ta thấy, bây giờ mình đi đến chỗ đó để giảng pháp, đến giờ thỉnh giảng sư lên rồi mà mình lên thấy chỗ đó không có ghế thì cảm thọ mình ra sao? Đây là kinh nghiệm, lớp giảng sư chúng ta có khi học kinh nhưng đôi khi cũng phải học trong thực tế đời sống. Cái đó là nhân quả, chúng ta không chu đáo, cẩn thận, không nhiệt tâm tôn kính các bậc tôn đức thì sau này chúng ta ra giảng dạy còn gặp hơn cái đó nữa, ví dụ như đang giảng thì người ta đứng lên phản đối, quăng trứng gà, những vị giảng sư lớn qua nước ngoài bị chọi trứng gà, biểu tình nên các ngài đi về chứ không thể giảng được cho nên giảng pháp không phải điều đơn giản.
Sau này chúng ta sẽ rơi vào những tình huống mà nếu không có niệm lực, định lực thì rất nguy hiểm, thậm chí nguy hiểm đến tính mạng, hòa thượng hiệu trưởng bây giờ vẫn còn thẹo trên người, bị trùm bao lại đánh. Cho nên mình học chữ nghĩa nhưng khi ra thực tế có nhiều cái không có trong sách vở, nếu chúng ta không có sự tu tập chánh niệm tỉnh giác sâu sắc thì những cái đó đến là mình không biết đường xử lý, không biết tiếp nhận một cách điềm tĩnh, chánh niệm. Có rất nhiều tình huống xảy ra khi mình ra làm đạo cho nên khi tập được những cái công nhỏ thì mình sẽ thành tựu những đức lớn, trong tạng luật dùng từ "đại đức Thế Tôn" cho nên hai chữ "đại đức" là rất lớn chứ không phải chuyện đơn giản, có khi đại đức vẫn chưa chịu.
Mình phải tập những nết hạnh nhỏ như vậy, trong từng bước đi phải niệm oai nghi, từng dáng ngồi của mình, từng cách nói chuyện, cách xá, cách hành lễ của mình, tất cả đều phải rèn giũa, mài luyện một cách chân thành. Chúng ta học rất thú vị, cái đó gọi là Thân Hành Niệm, là kinh Tứ Niệm Xứ, luôn luôn chánh niệm trong mỗi hành động của thân nên gọi là Thân Hành Niệm. Mình dịch đơn giản chữ "niệm" là nhớ cử chỉ, nhất cử nhất động phải nhớ mình là người tu, nhớ mình là người xuất gia, nhớ mình là người khất sĩ, là tu sĩ, lúc nào mình quên mình là người tu thì lúc đó là không tu, ngôn ngữ, hành vi thả lỏng các căn, buông lung phóng dật, thất niệm, sống trong quên lãng, không biết rõ việc mình đang làm cho nên dù cho chúng ta học bất cứ kinh gì thì sự thực tập đều không rời Tứ Niệm Xứ, luôn phải nhớ 6 khía cạnh của niệm thân: niệm hơi thở, niệm oai nghi, niệm hành động, niệm tứ đại, niệm ba mươi hai thể trược, niệm chín giai đoạn của một tử thi. Đây là trí tuệ sanh khởi và đoạn diệt của thân, gọi tắt là sanh diệt trí, ba cái đầu đưa mình về thực tại để tâm mình quay về thân, an trú trên thân.
Khi mình nhớ đang thở, khi mình quay lại những cử chỉ hành động của mình thì lúc đó tâm mình ở trên thân, tóm gọn lại là cảm giác toàn thân. Khi chúng ta thực tập cảm giác toàn thân thì đầu tiên chúng ta mượn hơi thở, kế đó cảm thọ từ đỉnh đầu cho đến gót chân, cái đi, đứng, ngồi, nằm, co duỗi, cúi ngước, đại tiểu tiện, đắp y, ôm bình bát mà có cảm giác toàn thân là chúng ta định tâm ở trên thân, khi chúng ta có an trú cảm giác toàn thân thì giống như con người có căn nhà, còn nếu không có cảm giác toàn thân giống như người vô gia cư, tâm sẽ lang thang, phiêu lưu vì nó không chỗ để an lập, y cứ, không có chỗ đứng của tâm cho nên khi đem tâm trở về cảm giác toàn thân thì lúc đó là định tâm trên thân giống như người có nhà để về chứ không đi lang thang, vất vơ vất vưởng cho nên cảm giác toàn thân rất quan trọng.
III. Huấn luyện cảm thọ
Bất cứ khi nào, ở đâu cũng trở về an trú cảm giác toàn bộ cơ thể, thuộc về cảm thọ gì, nếu có cảm thọ khó chịu là lập tức tác ý làm cho nó an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, nếu có cảm giác thúc giục thì lập tức chế ngự, nhiếp phục cảm giác đó, nếu có cảm giác hơn thua, tranh đấu thì lập tức mình cũng kêu nó an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào, đó là mình đang nuôi dưỡng cảm xúc, 16 hơi thở của Đức Phật dạy cái này.
Con người mình đau khổ hay hạnh phúc đều do cảm xúc, mình sân lên cũng là cảm xúc, mình thúc giục, mình gấp gáp, mình vội vã, hấp tấp cũng là cảm xúc, mình khó chịu, bực bội là cảm xúc, mình hơn thua với nhau cũng là cảm xúc. Chỉ có cảm xúc một chút thôi mà hơn trăm người chết ở sân vận động Indonesia, thua mà không chịu thua nên lao vào nhau, như vậy cảm xúc giết người.
"Người ấy không như thật biết rõ: 'Sắc là kẻ giết người'; 'Thọ là kẻ giết người'... 'Tưởng là kẻ giết người'... 'Các hành là kẻ giết người'... 'Thức là kẻ giết người', người ấy không như thật biết rõ: 'Thức là kẻ giết người'.
Người ấy đến với sắc, chấp thủ, nhiếp trì: 'Sắc là tự ngã của ta'. Người ấy đến với thọ... với tưởng... với các hành... người ấy đến với thức, chấp thủ và nhiếp trì: 'Thức là tự ngã của ta'. Năm thủ uẩn này được người ấy đi đến chấp thủ, sẽ đưa đến bất hạnh, đau khổ lâu dài cho người ấy". (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (e), IV. Phẩm Trưởng Lão, III. Yamaka)
Đời sống của chúng ta toàn bộ đều là cảm giác, trong năm uẩn thì uẩn tối quan trọng là thọ uẩn vì tất cả pháp hội tụ ở cảm thọ nhưng mình sống trong thất niệm, lãng quên cảm thọ, thứ nhất mình không biết cảm thọ là cảm thọ, thứ hai mình không biết đó là cảm thọ gì trong ba cảm thọ, thứ ba là mình không biết trong cảm thọ có tham, sân, si, bản ngã không, như vậy không biết là vô minh, mình không thấy không biết gọi là vô minh. Mình không biết đó là cảm thọ mà cho rằng "tôi đang bực mình lắm rồi nha, đừng có lại gần", vậy là mình nhận cảm thọ đó là mình, mình chấp thủ cảm thọ đó thì gọi là thọ thủ uẩn.
Khi mình nắm giữ cảm thọ, cho cảm thọ đó là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi thì ngay đó là vô minh, cái vô minh thứ hai là mình không biết đó là thọ gì, mình chỉ thấy "tôi dễ chịu quá, tôi khoái quá", mình đi du lịch đến cảnh đẹp hoặc được ăn ngon thì cho rằng "tôi thích lắm", dục, ái, tham lúc đó sanh khởi, vận hành ra sao mình đều không biết. Lớp vô minh thứ ba là không biết trong cảm thọ có cái gì, có dục, tham, ái, sân si hay không, từ cái không biết này đến không biết cái kia, nhiều lớp vô minh chồng lên nhau nhưng ai nói "sao cô vô minh quá" thì sân ầm ầm lên.
"Người ngu nghĩ mình ngu,
Nhờ vậy thành có trí.
Người ngu tưởng có trí,
Thật xứng gọi chí ngu"
(Kinh Pháp Cú 05 – Phẩm Ngu, kệ 63)
Cảm giác toàn thân này để chúng ta nhìn thấy quán thọ trên thọ, học vào giờ trưa nên vào ngồi lờ đờ thì mình phải tác ý lập tức diệt tận cảm thọ si mê, lờ đờ, đánh đuổi nó ra khỏi thân tâm, hai con mắt mình phải sáng lên, phải tác ý đánh đuổi cái si mê, hôn ám, cái buồn ngủ đó chứ còn vào tu, vào ngồi thiền mà hai con mắt lờ đờ là thất bại cho nên vào ngồi thiền tuy hai con mắt nhìn xuống nhưng rực sáng, chói sáng, tỏa sáng thì mới gọi là pháp nhãn, đạo nhãn, trí nhãn, minh nhãn, Thánh nhãn. Chúng ta phải nhìn ra cảm thọ đó rồi đánh đuổi, diệt tận nó vì thế tu là phải mạnh mẽ, đại hùng đại lực, tuệ lực, sức mạnh trong ta sung mãn, nhiệt tâm, tinh cần, chánh niệm tỉnh giác chứ không phải tu rồi thì sao cũng được, nói gì cũng gật gật, hoặc vào ngủ là chúng ta hiểu sai.
Sau khi đã định tâm trên thân, đã nhìn thấy được cảm thọ thì 3 phần sau cùng của niệm thân là chúng ta thấu được bản chất cấu thành và hoại diệt của thân này. Tứ đại là đất, nước, gió, lửa kết thành thân này, toàn bộ sự lắp ráp của nó là ba mươi hai thể trược, khi nó tàn hoại thì nó trải qua tiến trình hoại diệt của nó là chín giai đoạn tử thi, đây chính là sanh diệt trí của sắc uẩn, là sự sanh khởi và đoạn diệt của sắc pháp, sắc uẩn, sắc thân. Đó là chúng ta nhắc lại công phu hết sức quan trọng trong sự tu của chúng ta, nếu chúng ta không có cảm giác toàn thân thì chúng ta không biết tham, sân, si vận hành như thế nào, nó sanh khởi như thế nào, nó an trú như thế nào, nó xâm chiếm, áp đảo như thế nào. Chúng ta phải có được sự cảm nhận trong tu học chứ không phải ngồi đó nghe nói rồi gật gù là xong, phải có sự hợp tác, phải có sự nhiệt tâm, phải có sự để tâm, sự tu duy, thẩm sát, sự quán chiếu, cảm thọ, cảm nhận trong pháp.
Chúng ta chiêm nghiệm như thế nào về việc giữ giới, về việc hộ trì căn, tiết độ trong ăn uống, chú tâm cảnh giác, chánh niệm tỉnh giác, lựa chọn chỗ thanh vắng tịch mịch để đoạn trừ năm triền cái?
IV. Trình pháp
Sư thầy 1: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch trên thầy giáo thọ cùng toàn thể Tăng Ni. Vừa qua chúng con đã học bài pháp thầy dạy, chúng ta phải phòng hộ sáu căn mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, chúng ta phải có sự phòng hộ, giữa gìn giới. Khi mắt đối diện trần cảnh thì chúng ta không khởi tâm tham, mắt thấy sắc đẹp mà không muốn khởi tâm tham thì quán bất tịnh, khi quán bất tịnh thì tự nhiên sẽ diệt được lòng tham.
Sư Phụ: Trong bài kinh chúng ta học có quán bất tịnh không, thưa sư? Bài học chúng ta học gồm những bước nào? Pháp thứ nhất là gì?
Sư thầy 1: Mô Phật, pháp thứ nhất là quán hơi thở.
Sư Phụ: Không phải, bài kinh chúng ta đang học kìa. Từ trong bài kinh này ứng dụng ra đời sống hằng ngày.
Sư thầy 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bái bạch trên thượng tọa giáo thọ sư cùng toàn thể đại chúng. Hôm nay con xin chia sẻ pháp hành và vận dụng nó vào đời sống của mình, vừa qua con có ra Huế mãn tang ba thì gặp cơn bão vào lúc con và mẹ đang ở một mình. Gió thổi rất mạnh và con rất sợ hãi, nghĩ đến lời dạy của thầy thì những cảm giác lo sợ, bất an đó là do mình không có chánh niệm ghi nhận sự thay đổi, con liền nhiếp niệm lại nghĩ rằng những cái sợ hãi này là do mình không an được cái tâm, con quay về nghĩ rằng sự sợ hãi này là do thiếu sự quan sát trong khi ta đang ở trong nhà có sự che chắn cửa. Khi nhiếp niệm như vậy vẫn sanh ra cái niệm lo thì con liền nghĩ nếu còn lo như vậy sẽ ngủ không được, con đi kinh hành, mỗi bước đi là mỗi tiếng niệm Phật.
Con đi kinh hành trong khoảng 20 phút quanh nhà vì lúc đó gió rất lớn, đi xong thì con vào phòng ngồi. Lúc đó con khởi tâm tại sao lại sợ như vậy, còn lúc đi kinh hành làm an cho mình, con nhớ lại lời dạy của thầy là cảm thọ khổ, cảm thọ lạc và không khổ không lạc là do cảnh vật xúc tác mà ta không nhận rõ nên ta mới sanh khởi như vậy. Con nhắm mắt lại và theo dõi hơi thở thì không sợ hãi nữa, lúc đó con thấy rất an, sau đó con cảm nhận rằng những cái mình trải qua phải có sự ghi nhận thực tế, rõ biết cảm xúc của mình, đang lo sợ điều gì và điều mình lo sợ có chánh hay không, nó có liên hệ đến sự bình an hay liên hệ đến khổ đau. Con lo sợ mẹ sẽ có chuyện gì, cái thứ hai là con cảm thấy an vì con tin vào tam bảo, tin vào một năng lượng vô hình do mình nhiếp phục, con nghĩ do chư vị thần gia hộ và do tâm mình nhiếp niệm như vậy thì chư vị gia hộ cho mình an thì mình có được chánh niệm. Đó là sự cảm nhận khi con ở Huế.
Trong đời sống hằng ngày thì con vẫn quét sân mỗi ngày, như thầy chia sẻ nếu không có tâm thì nghĩ ta sẽ quét sạch, không ai quét sạch hơn ta nhưng từ khi thầy chia sẻ pháp thì con làm với tâm rất hoan hỉ, con quét xong thì xem bản thân có khởi lên niềm hân hoan không và niềm hân hoan đó là thọ lạc, con xem có tham không, có tham thì không nắm giữ nó và nghĩ đây là công việc phải làm để làm sạch già lam, đó là công việc để ta cúng dường cho Phật pháp. Hằng ngày con làm việc như vậy, con theo dõi như vậy thôi, đó là chia sẻ của con.
Sư Phụ: Trong ba tuần học bài kinh này thì cô ứng dụng trong đời sống ra sao?
Sư Cô 1: Dạ mô Phật, con thấy trong oai nghi đi, đứng, nằm, ngồi có giữa giới thì khi đi sẽ biết mình đi cho vững vàng, không hối hả, khi bước thì bước theo chân không có sự lật đật, khi nằm thì phải nằm như thế nào để có oai nghi, giống như Đức Phật nằm là nằm nghiêng bên phải. Khi ngồi xuống phải vén áo lên cho trang nghiêm, khi đứng thì phải đứng thẳng chứ không nên dựa vách, dựa tường, đó là oai nghi tứ đại. Trong việc nhỏ mà không thực hành được thì việc lớn rất khó, chẳng hạn khi đi thì phải để dép cho đàng hoàng, nếu để chiếc trước chiếc sau thì mình phải sắp lại cho ngay hàng thẳng lối. Con nghĩ rằng những việc đó tuy nhỏ nhưng phải tập để có thói quen thì khi lớn lên làm việc sẽ có sự ngăn nắp.
Sư Phụ: Trong 3 tuần vừa qua cô có khởi tham, sân, si, bản ngã không? Nếu có thì nó như thế nào và cô tu như thế nào?
Sư Cô 1: Cách đây 1 tuần thì con làm hương đăng, 5h sáng tụng kinh xong là con xuống đi chấp tác liền cho tới 1h30 trưa. Nhóm làm việc có 4 người nhưng có 2 người phải học thi thì con nói để con gánh vác luôn, còn lại 1 người làm chung với con. Tới tối khi khiêng bàn thì 1 mình con khiêng không được nhưng sư cô nói khiêng không được thì phiên sau không nhận phiên, con hỏi tại sao việc tiếp khách ngày mai không phải phiên con mà cô sai con từ sáng tới giờ, con làm quần quật tới 6h30 vẫn chưa nghỉ tối. Con thấy đó là cái sân của con vì cô nói nếu không nhấc được cái bàn đó thì phiên sau không nhận phiên.
Sư Phụ: Nhận diện ngũ uẩn ngay lúc này.
Sư Cô 1: Con không còn bực bội như khi lúc đó.
Sư Phụ: Cô nhắm mắt lại, niệm "an tịnh, lắng dịu, dễ chịu" và hít vào thở ra. Hình bóng của sư cô nói là gì?
Sư Cô 1: Hình bóng của sư cô đó là tưởng.
Sư Phụ: Cảm thọ khó chịu là gì?
Sư Cô 1: Là cảm thọ khổ.
Sư Phụ: Cô suy nghĩ về vấn đề đó là gì?
Sư Cô 1: Suy nghĩ về vấn đề đó là hành.
Sư Phụ: Cái rõ biết được thọ; tưởng; hành là gì?
Sư Cô 1: Rõ biết là thức của mình.
Sư Phụ: Sau sự kiện đó tu như thế nào? Sau khi sự kiện đó xảy ra thì vận dụng cái tâm của mình để xử lý những cảm thọ khó chịu đó như thế nào?
Sư Cô 1: Con cảm thấy mình đã sai vì người lớn sai thì cứ làm còn việc đó thì tính sau
Sư Phụ: Hiện tại bây giờ khi nhắc lại cảm thọ đó còn khó chịu không?
Sư Cô 1: Dạ không, vì con nghĩ ngang đó là con không nghĩ tới nữa
V. Tâm hiền
Sư Phụ: Vẫn còn, ai cũng thấy chỉ có mình không thấy. Những cái này quan trọng còn hơn cả việc học kinh vì học thì cứ học nhưng vào thực tế lại không biết làm. Trong khi mình trình pháp thì mình sẽ rơi vào cảm thọ khó chịu đó, nó đang xâm chiếm mình, khi nhắc lại có khó chịu và khó chịu đó là sân, khi mình nói thì mình nói rất lẹ, rất nhanh, rất mau thì đó là dục, một sự thúc giục trong khi nói, khi mình kể lại hình ảnh đó là một sự đúng sai rất mãnh liệt thì đó là bản ngã. Câu chuyện đã qua rồi bây giờ mình nhắc lại thôi mà các pháp bất thiện vẫn khơi gợi lại chứ đừng nói chi ngay lúc đó.
Bây giờ làm sao để đối trị cái này? Lúc nãy con kêu cô nhắm mắt lại niệm "an tịnh, lắng dịu, dễ chịu" đó là làm cho sự thúc giục trong khi nói chuyện của mình lắng xuống, chế ngự, nhiếp phục sự thúc giục, mình vẫn nói nhưng nói một cách bình tĩnh, trầm tĩnh, thong thả, nhẹ nhàng mà không có sự vội vã, mau nhanh trong đó. Mình cho rằng mình là đúng, người kia sai "tôi đúng thì tại sao lại rầy tôi, chuyện này đâu phải của tôi", tâm của mình còn đúng sai, còn hơn thua nên chưa hiền, chưa khiêm hạ, mình muốn chế ngự bản ngã thì phải diệt tâm hơn thua, đúng sai, phải quấy.
Mình làm đúng nhưng bị người ta nói sai thì mình cũng không vội vã biện minh, biện luận, biện hộ, không cần biện bạch gì cả, cứ để cho cảm thọ an tịnh, lắng dịu, mình tập tâm hiền hòa, hiền trí, hiền lương, hiền đức, tâm của một bậc hiền trí. Mình không sai nhưng nói mình sai thì cũng không sao cả, "đâu có mình ở đây, cái gì là mình", nếu mình thấy cái "mình" này là tứ đại, là những thứ tim, gan, phèo, phổi, cái "mình" này là cái nùi giẻ, cái "mình" này là cái thứ trống rỗng, trống không, cái "mình" này là nắm tro tàn thì có cái mình nào ở đây, tại sao mình phải biện minh, biện hộ, biện luận? Không có ai ở đây cả.
Lúc đó mình quay về tác ý như vậy thì mình sẽ khiêm hạ, khiêm tốn, khiêm cung, khiêm nhã, khiêm nhường, mình đập tan bản ngã, diệt trừ cái đúng sai, phải quấy. Mình chấp nhận để cho người ta chê mình dở, mình sai, nhận cái dở về mình, nhận cái quấy về mình để cho người ta giỏi, người ta đúng, người ta hay, không sao cả, đó là pháp của Thánh hiền. Mình phải diệt được tâm đúng sai, hơn thua, phải quấy, đó là cái tâm hung dữ, chưa phải là tâm của bậc hiền thiện, dù cho mình có bị người ta vu oan giá họa, Đức Phật nói nếu có một tên cướp hung bạo cầm cưa để cưa các vị Tỳ-kheo ra từng phần nhưng nếu bất kì một vị Tỳ-kheo nào sân hận thì người đó chưa phải là người thực hành giáo pháp của Như Lai.
"Chư Tỳ-kheo, như những kẻ đạo tặc hạ liệt, dùng cưa hai lưỡi mà cưa tay, cưa chân; dầu vậy, nếu một ai ở đây khởi ý nhiễm loạn, người ấy do vậy không phải là người thực hành giáo pháp của Ta" (Trung Bộ Kinh, 21. Kinh Ví dụ cái cưa)
Khi thực tập được như vậy thì chúng ta sẽ diệt tận được hết tất cả những cảm giác, nghĩ tưởng, hơn thua, đúng sai, phải quấy, cao thấp và chúng ta an trú vào tâm hiền thiện, tâm của bậc hiền trí, tâm của bậc hiền đức, hiền lương, hiền hậu, hiền hòa, hiền kính. Ngài Xá-lợi-phất ví dụ như con bò đực bị cưa sừng nên không còn bất cứ một vũ khí gì để húc người khác, để làm cho người khác tổn thương.
"Ví như, bạch Thế Tôn, một con bò đực, với sừng bị cưa, hiền lương, khéo điều phục, khéo huấn luyện, đi lang thang từ đường này đến đường khác, từ ngã tư này đến ngã tư khác, không hại một ai với chân hay với sừng. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con an trú với tâm giống như một con bò đực với sừng bị cưa, rộng rãi, rộng lớn, vô lượng, không hận, không sân" (Tăng Chi Bộ, Chương IX - Chín Pháp, II. Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử, (I). Sau Khi An Cư)
Trên đây là một trong chín pháp an trú tâm tuyệt đối quan trọng của bậc trí tuệ đại tướng quân chánh pháp chí thượng thanh văn Xá-lợi-phất. Chúng ta phải về nghe kĩ loạt bài "Tầm quan trọng của tâm hiền", trong đó giảng giải 9 pháp an trú tâm của ngài Xá-lợi-phất, mỗi một pháp quán là một bài thiền quán.
Nguyện tâm như địa, thủy, hỏa, phong
Rộng rãi, bao dung, chẳng buộc ràng,
Nguyện tâm như miếng nùi giẻ rách
Có gì để lên mặt, hơn thua.
Nguyện tâm như kẻ nghèo đói nhất,
Có gì để lên mặt dạy đời
Nguyện tâm như bò, sừng bị chặt
Còn gì để hăng hái tranh đua.
Chán chê, một cái thân lủng lỗ
Rỉ chảy nhơ hôi suốt cả ngày,
Có gì đáng để khoe, để nói
Có gì để ngã mạn, ta đây.
(Đảnh Lễ Đức Hạnh Ngài Xá-lợi-phất – Nghi Thức Tu Học Nikāya)
Chín pháp an trú tâm của ngài Xá-lợi-phất là chín pháp tu để trở thành bậc đại trí, đại tuệ, quảng tuệ, tiệp tuệ, thông tuệ, tối thắng tuệ, giải thoát tuệ.
Hạnh Ngài “tâm trú yên như đất”,
Không giận sân người thảy sạch, nhơ.
Hạnh Ngài “tâm trú yên như nước”,
Không giận sân người rửa nhớp nhơ.
Hạnh Ngài “tâm trú yên như gió”
Tịnh nhơ, gió thổi chẳng nặng lòng.
Hạnh Ngài “tâm trú yên như lửa”,
Không giận sân người đốt uế nhơ.
Hạnh Ngài “tâm trú như giẻ rách”,
Không giận sân người lau sạch, nhơ.
Hạnh Ngài “tâm trú người hạ liệt”,
Ai phỉ báng gì cũng lặng yên.
Hạnh Ngài, “bò đực bị cưa sừng”
Hiền lành, lắng dịu, chẳng hại ai.
Hạnh Ngài “xấu hổ thân hôi thối”,
Chán ngán thân, nên chẳng hơn thua.
Hạnh Ngài “khốn khổ, thân lủng lỗ”
Rỉ nước tanh hôi suốt cả ngày,
Buồn vui, được mất, chi thêm khổ
Ngã mạn, ta đây, thêm đắng cay.
Ôi! hạnh đức Ngài tuyệt diệu thay,
Mấy ai đức hạnh được như Ngài
Nay con đảnh lễ, xin quy ngưỡng,
Kính bậc hiền nhân, bậc Thánh tăng.
Ôi! hạnh đức Ngài đẹp làm sao,
Thế gian dừng lại để cúi chào,
Trí đức tròn đầy và cao đẹp,
Đức hạnh hiền từ thật thanh cao.
Nay con đảnh lễ Đức Thế Tôn,
Đảnh lễ pháp hiền của Thánh nhân,
Đảnh lễ Thánh Tăng, cùng Thánh chúng,
Chúng con xin nguyện tập tâm hiền.
(Đảnh Lễ Đức Hạnh Ngài Xá-lợi-phất – Nghi Thức Tu Học Nikāya)
Đây là những phương pháp an trú tâm của bậc Thánh, nếu chúng ta không thực tập, không nuôi dưỡng, không tác ý, không quán tưởng thì không bao giờ chúng ta có thể diệt được sự hơn thua, cao thấp, đúng sai, không bao giờ chúng ta có thể hạ gục được cái tôi, cái ta, cái bản ngã to lớn. Những pháp này là những pháp tuyệt đối quan trọng và hình ảnh dễ nhất để chúng ta thấy là tấm chùi chân, mình bước vào nhà, bước vào phòng, bước vào chánh điện, bước vào giảng đường thường có tấm chùi chân, giậm chân và mỗi lần chúng ta đạp lên tấm giẻ đó thì tâm mình phải an trú trở thành cái nùi giẻ đó để mọi người giẫm đạp lên, chỉ có an trú được cái tâm như vậy thì trong lòng mình mới không còn những ý niệm, những cảm giác, suy tư, nhận thức hơn thua với mọi người, đấu đá, tranh giành với mọi người. Nhưng không phải chỉ những lúc giậm chân mới an trú tâm như vậy mà cả một thời thiền một tiếng đồng hồ cũng lấy cái nùi giẻ làm đề mục thiền quán, suốt một tiếng đồng hồ quán tưởng mình là cái nùi giẻ.
Vì có cái nùi giẻ giậm chân nên chân mới sạch, vì có cái nùi giẻ lau nhà nên chân mình mới sạch, vì có cái nùi giẻ đó lau nên chánh điện, giảng đường mới sạch, vì có sự hạ mình đến tận cùng để cho người ta chà đạp lên thì đức hạnh của mình mới cao thượng, mới diệt được bản ngã, mới đập vỡ được sự cao ngạo, diệt tận được tâm hơn thua, mới phá trừ được ý niệm cao thấp, mới đập vỡ được cái đúng sai, phải quấy trên cuộc đời này. Đề tài này phải được quán thường xuyên và liên tục ba ngày, bảy ngày, mười ngày, ba tháng, sáu tháng, cho đến khi nào nhớ về mình là cái nùi giẻ hiện ra chứ không còn một hình tướng to cao, ưỡn ngực, hất mặt lên nữa, đó chính là pháp của bậc Thánh.
Nếu chúng ta chưa làm được thì khi nghĩ về mình là hình ảnh một người chắp tay, cúi đầu, khom lưng, nếu tập làm nùi giẻ khó quá chưa làm được thì mình tập mỗi khi nhớ về mình là trong tâm hiện ra một cái tưởng là một người chắp tay, cúi đầu thấp xuống. Sau đó đến hình ảnh lúc nào cũng quỳ mọp xuống giống như lúc mình lạy Phật, khi lạy Phật năm vóc sát đất là trán, hai cái khuỷu tay, hai đầu gối phải chạm đất cho nên cái pháp lạy Phật rất sâu sắc, không phải lạy để có phước, lạy để Phật ban cho mình một cái gì đó, không phải lạy để hết tội mà công dụng thật sự của pháp lạy Phật là phá ngã, diệt ngã, đánh đổ bản ngã để nó sụp xuống, đổ xuống, nằm rạp xuống.
Mỗi một cái lạy xuống mình phải tác ý quán chiếu, nếu không tác ý thì cái lạy chỉ ở trên hình thức lễ nghi thôi, làm cho xong thôi, còn nếu tác ý mỗi lần lạy xuống là "con nguyện đưa bản ngã này vào lòng đất đến tận cùng", "con xin nguyện chôn vùi bản ngã này vào lòng đất lạnh", lạy xuống một lạy "con nguyện sống đời sống khiêm hạ", lạy xuống một lạy "con nguyện sống đời sống khiêm tốn", "con nguyện sống đời sống khiêm hạ, khiêm nhường, khiêm nhã", mỗi cái lạy là "con nguyện chôn lấp bản ngã ngu si, mê muội, sân hận này". Mỗi lạy mình đều tác ý như vậy vì tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi, nếu không tác ý thì cái đó không sanh ra, trí huệ không sanh, sự thấy biết thâm sâu để diệt ngã không sanh mà nếu cái ngã không diệt thì tất cả pháp đều không thành tựu, còn tham lam, sân hận, giành giật, còn phải quấy, đúng sai trên đời này lắm.
Cái nhà đang cháy mà ở đây hai người vẫn giành đồ ăn thì có khôn không? Giành rồi trở thành đống tro hết, như vậy cái giành giật đó, cái hơn thua đó có đáng không? Chỉ có người ngu mới vậy, còn người trí thấy được lửa đang cháy, bậc hiền trí là bậc nhìn xuyên qua tất cả sắc; thọ; tưởng; hành; thức để thấy tính chất tan hoại, biến hoại, vô thường, sụp đổ, tan rã, bất an, bất hạnh, hiểm nguy của đời sống này, của ngũ uẩn này, của thân tâm này, của thế giới này, người ta không có ý niệm hơn thua với bất cứ một ai trên đời này, người ta luôn an trú tâm như một người cúi đầu thật thấp như khi lạy Phật, sẵn sàng quỳ lạy bất cứ một ai trên đời này thậm chí người đó thấp nhỏ hơn mình và lạy một cách ngọt ngào, chân thành, cung kính, lạy với một lòng thương bao la trải dài, đó là đức hạnh của hiền Thánh mới thực tập được. Một người có bản ngã to lớn thì xin lỗi cũng không làm được "tôi có lỗi gì đâu mà xin", mình có lỗi nhưng được chỉ lỗi là sân hận hoặc chối tội, tại người này người kia chứ không phải tại mình, đó là phàm phu ngụy biện quanh co giấu lỗi lầm, còn bậc tu tâm hiền là người hết sức chân thành, chân thật, hết sức thật thà, trực tâm.
"Diệu hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Trực hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Ứng lý hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Chơn chánh hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám chúng. Chúng đệ tử của Thế Tôn là đáng cung kính, đáng cúng dường, đáng tôn trọng, đáng được chấp tay, là phước điền vô thượng ở đời". (Tương Ưng Bộ, Tập V- Thiên Đại Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (a), I. Phẩm Veludvàra, I. Vua)
Tâm ngay thẳng chánh trực gọi là trực hạnh, chơn chánh hạnh là có lỗi là nhận lỗi chứ không ngụy biện, ứng lý hạnh, diệu hạnh là bốn đôi tám chúng của Như Lai, là những bậc xứng đáng để chúng sanh chắp tay, đáng để chúng sanh đảnh lễ, đáng cho chúng sanh cúng dường, là ruộng phước vô thượng của chư thiên và loài người. Bây giờ mình tu 3 năm, 7 năm, 10 năm nhưng có lỗi được chỉ lỗi là người ta sân si lên, khó chịu, mình đổ lỗi, đó là tâm dối trá, tâm ngụy biện, tâm không ngay thẳng, không chân thành, không chân chánh. Vậy mà mình cho rằng tu giỏi rồi, ngày nào cũng thấy an lạc, thấy hạnh phúc nhưng coi chừng cái hạnh phúc đó đưa xuống vực sâu, vì vô minh, vì tham ái không thấy ngũ uẩn, không nhận diện được cảm thọ, không nhìn ra các pháp sanh khởi, an trú, vận hành, nó xâm chiếm, áp đảo trong thân tâm, mình chỉ hướng ngoại thấy cái sai của người ta chứ bản thân mình không thấy.
Nếu mình không được bậc hiền trí chỉ dẫn thì mình mãi mãi vô lượng kiếp chứ đừng nói chi trong một kiếp mình không nhìn thấy được bộ mặt thật sự của lậu hoặc. Chữ "lậu" mang ý nghĩa hết sức gian trá, xảo quyệt, dối lừa giống như đi hàng lậu, nếu mình không có tâm chân thành, chân chánh, một cái tâm dám nhìn nhận một cách chánh trực, chính xác về các cảm giác, nghĩ tưởng, suy tư, nhận thức thì vô lượng vô biên kiếp về sau mình chỉ tu được phước báo nhân thiên chứ không thể đi đến lậu tận.
Những cái mê lầm, những cái phiền não, những cái tham, sân, si, vô minh, bản ngã, lậu hoặc hết sức gian manh, xảo trá, quỷ quyệt. Trong Tây Du Kí người ta mượn hình ảnh của yêu tinh, yêu quái chỉ cho lậu hoặc, nghĩa là nhìn bề ngoài thấy rõ ràng là đứa bé, là bà già tội nghiệp nhưng nó thật sự là yêu tinh, là bạch tốt tinh, chỉ có Tôn Ngộ Không mới nhìn ra được, cái này để nói lên bậc chánh kiến mới nhìn ra được lậu hoặc, còn chưa thành tựu chánh kiến là không nhìn ra được lậu hoặc, chưa nhìn thấy ngũ uẩn, chưa thấy các cảm thọ, chưa nhìn ra các nguồn gốc, bộ mặt của tham, sân, si thì mình không thấy được lậu hoặc.
Khi nãy mình nói hết giận rồi nhưng thật ra vẫn chưa, còn phải thanh tẩy, tẩy rửa nhiều hơn nữa, diệt tận nó để nó không thể sanh khởi trở lại trong tương lai giống như chặt cây tala, tu cho đến mức độ đó thì mới lậu tận được, tức là tất cả những cảm giác, những suy nghĩ, ý tưởng, nhận thức của mình không còn những cái suy nghĩ tôi, ta, hơn thua nữa, không còn ý niệm giận bất cứ một ai trên cuộc đời này nữa, cảm thọ lúc nào cũng an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào, khi nghĩ về mình là một hình ảnh cúi đầu, chắp tay hạ thấp người xuống, khi nghĩ về mình là một con bò bị cưa 2 sừng, khi nghĩ về mình là nghĩ về một kẻ ăn xin hạ liệt. Trong Tây Du Kí Đường Tam Tạng tự xưng mình là "bần Tăng", trong khi thì ghi an trú tâm như người hạ liệt, người ăn xin, bần Tăng chính là kẻ ăn xin.
"Học đạo trước cần phải học nghèo
Nghèo rồi đạo thể mới được thân
Từ xưa Cổ đức xưng: “Bần đạo”
Đạo dụng lại đồng với kẻ nghèo"
(Thiền sư Long Nha)
Mình an trú tâm mình lúc nào cũng là một kẻ nghèo thiếu, nghèo đói, kẻ bần cùng thấp hèn nhất trong thiên hạ, đó là sự an trú tâm của bậc Thánh. Làm gì có ý niệm vênh váo? Làm gì còn ý niệm hơn thua, ta đây là sư phụ, ta đây là bậc thầy, ta đây là bậc cao, ra vẻ giai cấp với những Phật tử. Lúc còn là cư sĩ công quả mà người ta kêu bằng "thằng" mình cũng cười, bây giờ xuất gia 30 năm mà người ta kêu "thằng" là có chuyện, như vậy là còn thua cả cư sĩ, còn thua lúc tập sự.
Đúng ra càng tu thì càng nhiếp phục, càng chế ngự, diệt tận một cách hoàn toàn bản ngã, như vậy mới đúng đạo lộ của bậc Thánh, gọi là Thánh đạo, đằng này lúc còn là cư sĩ người ta kêu "thằng" thì vui vẻ, tu 30 năm người ta gọi "thằng" thì sân si lên là công cốc, tu còn tệ hơn lúc không tu nữa thì tu làm gì, đây là chỗ mà chúng ta phải chiêm nghiệm. Mình phải nói ra những vấn đề của mình thì mới có đúng thuốc đặc trị, còn giờ học chung chung, nói chung chung, làm chung chung thì kết của cũng chung chung, cuối cùng không thành công.
./.
Thứ Tự Tu Tập 5
Kinh Ganaka Moggallana - Trung Bộ
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Đúng giờ PAGEREF _Toc183017509 \h 1
II. Bằng cả tấm lòng PAGEREF _Toc183017510 \h 1
III. Huấn luyện cảm thọ PAGEREF _Toc183017511 \h 4
IV. Trình pháp PAGEREF _Toc183017512 \h 7
V. Tâm hiền PAGEREF _Toc183017513 \h 10
I. Đúng giờ
Xin thưa các thầy các cô là con ra chia sẻ pháp tới nay khoảng 20 năm, chưa bao giờ trễ giờ một lần nào, chưa bao giờ đi trễ một lần nào trong suốt 20 năm đi giảng dạy, có một lần duy nhất là ở chùa Hoằng Pháp mở khóa tu Phật học thường thức lần I. Lúc đó đi gần tới chùa thì con đường bị ngăn lại do đang làm đường, thêm kẹt xe, khi đi chia sẻ pháp Minh Thành thường tới trước khoảng 1 tiếng là chỗ gần, còn chỗ xa thì tới trước có khi 2 tiếng trở lên để trừ thời gian kẹt xe và những vấn đề đột xuất khác, vậy mà vẫn bị trễ 1 lần. Sẵn cái duyên này con chia sẻ cho chúng ta vì đây cũng là một sự thực tập mà không phải dễ, mình phải thực tập đúng giờ.
Hòa thượng Tinh Vân ở Phật Quang Sơn ở Đài Loan không bao giờ đi trễ giờ, hẹn ai đó là ngài đi trước khoảng 10 phút, lần nào cũng vậy trong suốt cuộc đời ngài. Có khi ngài soạn bài trên máy bay, cạo tóc 5 phút, dùng cơm, đánh răng 10-15 phút, tới bây giờ là hòa thượng gần trăm tuổi thì được mọi người tôn vinh bốn chữ "Chung thân thành tựu", nghĩa là thành tựu cả cuộc đời. Ở đây Minh Thành muốn nói chúng ta phải tập đúng giờ, đây là một đức hạnh tuy rằng nhỏ nhưng chữ đại đức nghĩa là đức lớn, muốn thành tựu đức lớn thì phải từ những cái công nhỏ và công nhỏ là chính từ những cái này. Nhiều khi chúng ta muốn làm cái gì cho cao to, vĩ đại còn mấy cái nhỏ lại coi thường nhưng không ngờ đức lớn là từ công nhỏ, công nhỏ là đi học đúng giờ, ra về đúng giờ, ra chơi đúng giờ, ngồi thiền đúng giờ, đi quả đường đúng giờ, làm công tác đúng giờ.
II. Bằng cả tấm lòng
Ngày xưa con nghe pháp của hòa thượng Thanh từ một ngày 8 tiếng liên tục 10 năm, khi ra giảng là y chang hòa thượng Thanh Từ. Sau này phiên dịch 30 tác phẩm Hán tạng về thiền, về giáo, về luật, học tập, nghiên cứu, giảng dạy 28 năm, cho đến năm thứ 28 mới bắt đầu chuyên nhất tạng kinh Nikāya chỉ mới 3-4 năm nay. Khi con đi vào tạng kinh Nikāya thì các bậc tôn đức của học viện Phật giáo, các vị thị giả của cố hòa thượng Minh Châu điện thoại tán thán. Vì sao lại vậy? Vì khi con làm cái gì là con để tâm bằng tất cả tấm lòng, bằng tất cả trái tim, tâm huyết vào đó, không có học chơi chơi, không có học qua loa, không có học phất phơ mà là học cho đến tận cùng, trong kinh Nikāya có câu "cái gì là lõi cây thì cái đó sẽ tồn tại lâu dài".
"Này các Tỳ-kheo, phạm hạnh này không phải vì lợi ích, lợi dưỡng, danh vọng, không phải vì lợi ích thành tựu giới đức, không phải vì lợi ích thành tựu thiền định, không phải vì lợi ích tri kiến. Và này các Tỳ-kheo, tâm giải thoát bất động chính là mục đích của phạm hạnh này, là lõi cây, là mục tiêu cuối cùng của phạm hạnh" (Trung Bộ Kinh, 29. Ðại kinh Thí dụ Lõi cây)
Đây là kinh nghiệm tương chao, đây là kinh nghiệm thiền môn, đây là kinh nghiệm trong chùa. Tại sao chúng ta càng tu lâu, có nhiều tuổi đạo mà chúng ta không thành tựu, chúng ta trở lại cách sống thường thường? Vì chúng ta không cẩn trọng trong sự tu học và làm việc, đây là chỗ rất quan trọng, trong hơn 30 pháp đóng cánh cửa Dự Lưu thì có một pháp là cẩu thả, không cẩn trọng, chỉ cần một điều này thôi là người này không thể Nhập Lưu Thánh quả, chỉ cần có đức tính làm việc qua loa, ẩu tả là không thể nhập Thánh quả, không thể thành tựu Thánh trí tuệ.
Chính vì vậy không phải con khó mà con muốn tập cho chúng ta có sự nghiêm túc trong học tập, trong thực hành và trong khi làm việc, khi chúng ta đối đãi với mọi người thì chúng ta rất bao dung, độ lượng nhưng đối đãi với mình phải khắc khe, nghiêm khắc. Luận ngữ có câu "Khắc kỷ phục lễ", khắc là sự hà khắc với chính mình, phục là quay trở về lễ giáo, những điều giáo dục này bây giờ rất hiếm, ngay cả trong chùa chứ đừng nói chi ở ngoài.
Con có ý định thiết lập làng tu Nikāya để đẩy mạnh lại nền giáo dục đạo đức, lễ giáo và Thánh pháp của Đức Phật. Ngày xưa trong các trường Phật học, các lớp sơ cấp có môn "đức dục Phật giáo", còn giáo dục công dân là ở ngoài đời. Đức dục nghĩa là giáo dục đạo đức nhưng bây giờ không còn những môn đó nữa cho nên trong bộ xuất gia toàn tập của con thì tập đầu tiên là "đức hạnh của người xuất gia", thành ra đây là những điều chúng ta phải để tâm rất nhiều vì nếu cái này mà không để tâm thì sau này những cái lớn chúng ta sẽ không làm được. Con lấy bản thân con ra để chứng minh cụ thể cho các thầy các cô thấy, không phải là khoe nhưng nhiều khi mình quên nên phải nhắc cho nhớ, con đi lên đi xuống trường là 500 cây số, mỗi lần con qua lớp là qua trước 20 phút, 1h10 là đã có mặt trên văn phòng. Con không cần các thầy các cô học cái gì cao siêu cả, chỉ cần học đúng giờ trước đã, đây cũng là cái duyên để chúng ta học.
Con vào tới lớp rồi mà không có ghế ngồi, bàn cũng chưa sạch sẽ trong khi chuông đã reo. Con sẽ đặt nhân quả cho chúng ta thấy, bây giờ mình đi đến chỗ đó để giảng pháp, đến giờ thỉnh giảng sư lên rồi mà mình lên thấy chỗ đó không có ghế thì cảm thọ mình ra sao? Đây là kinh nghiệm, lớp giảng sư chúng ta có khi học kinh nhưng đôi khi cũng phải học trong thực tế đời sống. Cái đó là nhân quả, chúng ta không chu đáo, cẩn thận, không nhiệt tâm tôn kính các bậc tôn đức thì sau này chúng ta ra giảng dạy còn gặp hơn cái đó nữa, ví dụ như đang giảng thì người ta đứng lên phản đối, quăng trứng gà, những vị giảng sư lớn qua nước ngoài bị chọi trứng gà, biểu tình nên các ngài đi về chứ không thể giảng được cho nên giảng pháp không phải điều đơn giản.
Sau này chúng ta sẽ rơi vào những tình huống mà nếu không có niệm lực, định lực thì rất nguy hiểm, thậm chí nguy hiểm đến tính mạng, hòa thượng hiệu trưởng bây giờ vẫn còn thẹo trên người, bị trùm bao lại đánh. Cho nên mình học chữ nghĩa nhưng khi ra thực tế có nhiều cái không có trong sách vở, nếu chúng ta không có sự tu tập chánh niệm tỉnh giác sâu sắc thì những cái đó đến là mình không biết đường xử lý, không biết tiếp nhận một cách điềm tĩnh, chánh niệm. Có rất nhiều tình huống xảy ra khi mình ra làm đạo cho nên khi tập được những cái công nhỏ thì mình sẽ thành tựu những đức lớn, trong tạng luật dùng từ "đại đức Thế Tôn" cho nên hai chữ "đại đức" là rất lớn chứ không phải chuyện đơn giản, có khi đại đức vẫn chưa chịu.
Mình phải tập những nết hạnh nhỏ như vậy, trong từng bước đi phải niệm oai nghi, từng dáng ngồi của mình, từng cách nói chuyện, cách xá, cách hành lễ của mình, tất cả đều phải rèn giũa, mài luyện một cách chân thành. Chúng ta học rất thú vị, cái đó gọi là Thân Hành Niệm, là kinh Tứ Niệm Xứ, luôn luôn chánh niệm trong mỗi hành động của thân nên gọi là Thân Hành Niệm. Mình dịch đơn giản chữ "niệm" là nhớ cử chỉ, nhất cử nhất động phải nhớ mình là người tu, nhớ mình là người xuất gia, nhớ mình là người khất sĩ, là tu sĩ, lúc nào mình quên mình là người tu thì lúc đó là không tu, ngôn ngữ, hành vi thả lỏng các căn, buông lung phóng dật, thất niệm, sống trong quên lãng, không biết rõ việc mình đang làm cho nên dù cho chúng ta học bất cứ kinh gì thì sự thực tập đều không rời Tứ Niệm Xứ, luôn phải nhớ 6 khía cạnh của niệm thân: niệm hơi thở, niệm oai nghi, niệm hành động, niệm tứ đại, niệm ba mươi hai thể trược, niệm chín giai đoạn của một tử thi. Đây là trí tuệ sanh khởi và đoạn diệt của thân, gọi tắt là sanh diệt trí, ba cái đầu đưa mình về thực tại để tâm mình quay về thân, an trú trên thân.
Khi mình nhớ đang thở, khi mình quay lại những cử chỉ hành động của mình thì lúc đó tâm mình ở trên thân, tóm gọn lại là cảm giác toàn thân. Khi chúng ta thực tập cảm giác toàn thân thì đầu tiên chúng ta mượn hơi thở, kế đó cảm thọ từ đỉnh đầu cho đến gót chân, cái đi, đứng, ngồi, nằm, co duỗi, cúi ngước, đại tiểu tiện, đắp y, ôm bình bát mà có cảm giác toàn thân là chúng ta định tâm ở trên thân, khi chúng ta có an trú cảm giác toàn thân thì giống như con người có căn nhà, còn nếu không có cảm giác toàn thân giống như người vô gia cư, tâm sẽ lang thang, phiêu lưu vì nó không chỗ để an lập, y cứ, không có chỗ đứng của tâm cho nên khi đem tâm trở về cảm giác toàn thân thì lúc đó là định tâm trên thân giống như người có nhà để về chứ không đi lang thang, vất vơ vất vưởng cho nên cảm giác toàn thân rất quan trọng.
III. Huấn luyện cảm thọ
Bất cứ khi nào, ở đâu cũng trở về an trú cảm giác toàn bộ cơ thể, thuộc về cảm thọ gì, nếu có cảm thọ khó chịu là lập tức tác ý làm cho nó an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, nếu có cảm giác thúc giục thì lập tức chế ngự, nhiếp phục cảm giác đó, nếu có cảm giác hơn thua, tranh đấu thì lập tức mình cũng kêu nó an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào, đó là mình đang nuôi dưỡng cảm xúc, 16 hơi thở của Đức Phật dạy cái này.
Con người mình đau khổ hay hạnh phúc đều do cảm xúc, mình sân lên cũng là cảm xúc, mình thúc giục, mình gấp gáp, mình vội vã, hấp tấp cũng là cảm xúc, mình khó chịu, bực bội là cảm xúc, mình hơn thua với nhau cũng là cảm xúc. Chỉ có cảm xúc một chút thôi mà hơn trăm người chết ở sân vận động Indonesia, thua mà không chịu thua nên lao vào nhau, như vậy cảm xúc giết người.
"Người ấy không như thật biết rõ: 'Sắc là kẻ giết người'; 'Thọ là kẻ giết người'... 'Tưởng là kẻ giết người'... 'Các hành là kẻ giết người'... 'Thức là kẻ giết người', người ấy không như thật biết rõ: 'Thức là kẻ giết người'.
Người ấy đến với sắc, chấp thủ, nhiếp trì: 'Sắc là tự ngã của ta'. Người ấy đến với thọ... với tưởng... với các hành... người ấy đến với thức, chấp thủ và nhiếp trì: 'Thức là tự ngã của ta'. Năm thủ uẩn này được người ấy đi đến chấp thủ, sẽ đưa đến bất hạnh, đau khổ lâu dài cho người ấy". (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (e), IV. Phẩm Trưởng Lão, III. Yamaka)
Đời sống của chúng ta toàn bộ đều là cảm giác, trong năm uẩn thì uẩn tối quan trọng là thọ uẩn vì tất cả pháp hội tụ ở cảm thọ nhưng mình sống trong thất niệm, lãng quên cảm thọ, thứ nhất mình không biết cảm thọ là cảm thọ, thứ hai mình không biết đó là cảm thọ gì trong ba cảm thọ, thứ ba là mình không biết trong cảm thọ có tham, sân, si, bản ngã không, như vậy không biết là vô minh, mình không thấy không biết gọi là vô minh. Mình không biết đó là cảm thọ mà cho rằng "tôi đang bực mình lắm rồi nha, đừng có lại gần", vậy là mình nhận cảm thọ đó là mình, mình chấp thủ cảm thọ đó thì gọi là thọ thủ uẩn.
Khi mình nắm giữ cảm thọ, cho cảm thọ đó là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi thì ngay đó là vô minh, cái vô minh thứ hai là mình không biết đó là thọ gì, mình chỉ thấy "tôi dễ chịu quá, tôi khoái quá", mình đi du lịch đến cảnh đẹp hoặc được ăn ngon thì cho rằng "tôi thích lắm", dục, ái, tham lúc đó sanh khởi, vận hành ra sao mình đều không biết. Lớp vô minh thứ ba là không biết trong cảm thọ có cái gì, có dục, tham, ái, sân si hay không, từ cái không biết này đến không biết cái kia, nhiều lớp vô minh chồng lên nhau nhưng ai nói "sao cô vô minh quá" thì sân ầm ầm lên.
"Người ngu nghĩ mình ngu,
Nhờ vậy thành có trí.
Người ngu tưởng có trí,
Thật xứng gọi chí ngu"
(Kinh Pháp Cú 05 – Phẩm Ngu, kệ 63)
Cảm giác toàn thân này để chúng ta nhìn thấy quán thọ trên thọ, học vào giờ trưa nên vào ngồi lờ đờ thì mình phải tác ý lập tức diệt tận cảm thọ si mê, lờ đờ, đánh đuổi nó ra khỏi thân tâm, hai con mắt mình phải sáng lên, phải tác ý đánh đuổi cái si mê, hôn ám, cái buồn ngủ đó chứ còn vào tu, vào ngồi thiền mà hai con mắt lờ đờ là thất bại cho nên vào ngồi thiền tuy hai con mắt nhìn xuống nhưng rực sáng, chói sáng, tỏa sáng thì mới gọi là pháp nhãn, đạo nhãn, trí nhãn, minh nhãn, Thánh nhãn. Chúng ta phải nhìn ra cảm thọ đó rồi đánh đuổi, diệt tận nó vì thế tu là phải mạnh mẽ, đại hùng đại lực, tuệ lực, sức mạnh trong ta sung mãn, nhiệt tâm, tinh cần, chánh niệm tỉnh giác chứ không phải tu rồi thì sao cũng được, nói gì cũng gật gật, hoặc vào ngủ là chúng ta hiểu sai.
Sau khi đã định tâm trên thân, đã nhìn thấy được cảm thọ thì 3 phần sau cùng của niệm thân là chúng ta thấu được bản chất cấu thành và hoại diệt của thân này. Tứ đại là đất, nước, gió, lửa kết thành thân này, toàn bộ sự lắp ráp của nó là ba mươi hai thể trược, khi nó tàn hoại thì nó trải qua tiến trình hoại diệt của nó là chín giai đoạn tử thi, đây chính là sanh diệt trí của sắc uẩn, là sự sanh khởi và đoạn diệt của sắc pháp, sắc uẩn, sắc thân. Đó là chúng ta nhắc lại công phu hết sức quan trọng trong sự tu của chúng ta, nếu chúng ta không có cảm giác toàn thân thì chúng ta không biết tham, sân, si vận hành như thế nào, nó sanh khởi như thế nào, nó an trú như thế nào, nó xâm chiếm, áp đảo như thế nào. Chúng ta phải có được sự cảm nhận trong tu học chứ không phải ngồi đó nghe nói rồi gật gù là xong, phải có sự hợp tác, phải có sự nhiệt tâm, phải có sự để tâm, sự tu duy, thẩm sát, sự quán chiếu, cảm thọ, cảm nhận trong pháp.
Chúng ta chiêm nghiệm như thế nào về việc giữ giới, về việc hộ trì căn, tiết độ trong ăn uống, chú tâm cảnh giác, chánh niệm tỉnh giác, lựa chọn chỗ thanh vắng tịch mịch để đoạn trừ năm triền cái?
IV. Trình pháp
Sư thầy 1: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch trên thầy giáo thọ cùng toàn thể Tăng Ni. Vừa qua chúng con đã học bài pháp thầy dạy, chúng ta phải phòng hộ sáu căn mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, chúng ta phải có sự phòng hộ, giữa gìn giới. Khi mắt đối diện trần cảnh thì chúng ta không khởi tâm tham, mắt thấy sắc đẹp mà không muốn khởi tâm tham thì quán bất tịnh, khi quán bất tịnh thì tự nhiên sẽ diệt được lòng tham.
Sư Phụ: Trong bài kinh chúng ta học có quán bất tịnh không, thưa sư? Bài học chúng ta học gồm những bước nào? Pháp thứ nhất là gì?
Sư thầy 1: Mô Phật, pháp thứ nhất là quán hơi thở.
Sư Phụ: Không phải, bài kinh chúng ta đang học kìa. Từ trong bài kinh này ứng dụng ra đời sống hằng ngày.
Sư thầy 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bái bạch trên thượng tọa giáo thọ sư cùng toàn thể đại chúng. Hôm nay con xin chia sẻ pháp hành và vận dụng nó vào đời sống của mình, vừa qua con có ra Huế mãn tang ba thì gặp cơn bão vào lúc con và mẹ đang ở một mình. Gió thổi rất mạnh và con rất sợ hãi, nghĩ đến lời dạy của thầy thì những cảm giác lo sợ, bất an đó là do mình không có chánh niệm ghi nhận sự thay đổi, con liền nhiếp niệm lại nghĩ rằng những cái sợ hãi này là do mình không an được cái tâm, con quay về nghĩ rằng sự sợ hãi này là do thiếu sự quan sát trong khi ta đang ở trong nhà có sự che chắn cửa. Khi nhiếp niệm như vậy vẫn sanh ra cái niệm lo thì con liền nghĩ nếu còn lo như vậy sẽ ngủ không được, con đi kinh hành, mỗi bước đi là mỗi tiếng niệm Phật.
Con đi kinh hành trong khoảng 20 phút quanh nhà vì lúc đó gió rất lớn, đi xong thì con vào phòng ngồi. Lúc đó con khởi tâm tại sao lại sợ như vậy, còn lúc đi kinh hành làm an cho mình, con nhớ lại lời dạy của thầy là cảm thọ khổ, cảm thọ lạc và không khổ không lạc là do cảnh vật xúc tác mà ta không nhận rõ nên ta mới sanh khởi như vậy. Con nhắm mắt lại và theo dõi hơi thở thì không sợ hãi nữa, lúc đó con thấy rất an, sau đó con cảm nhận rằng những cái mình trải qua phải có sự ghi nhận thực tế, rõ biết cảm xúc của mình, đang lo sợ điều gì và điều mình lo sợ có chánh hay không, nó có liên hệ đến sự bình an hay liên hệ đến khổ đau. Con lo sợ mẹ sẽ có chuyện gì, cái thứ hai là con cảm thấy an vì con tin vào tam bảo, tin vào một năng lượng vô hình do mình nhiếp phục, con nghĩ do chư vị thần gia hộ và do tâm mình nhiếp niệm như vậy thì chư vị gia hộ cho mình an thì mình có được chánh niệm. Đó là sự cảm nhận khi con ở Huế.
Trong đời sống hằng ngày thì con vẫn quét sân mỗi ngày, như thầy chia sẻ nếu không có tâm thì nghĩ ta sẽ quét sạch, không ai quét sạch hơn ta nhưng từ khi thầy chia sẻ pháp thì con làm với tâm rất hoan hỉ, con quét xong thì xem bản thân có khởi lên niềm hân hoan không và niềm hân hoan đó là thọ lạc, con xem có tham không, có tham thì không nắm giữ nó và nghĩ đây là công việc phải làm để làm sạch già lam, đó là công việc để ta cúng dường cho Phật pháp. Hằng ngày con làm việc như vậy, con theo dõi như vậy thôi, đó là chia sẻ của con.
Sư Phụ: Trong ba tuần học bài kinh này thì cô ứng dụng trong đời sống ra sao?
Sư Cô 1: Dạ mô Phật, con thấy trong oai nghi đi, đứng, nằm, ngồi có giữa giới thì khi đi sẽ biết mình đi cho vững vàng, không hối hả, khi bước thì bước theo chân không có sự lật đật, khi nằm thì phải nằm như thế nào để có oai nghi, giống như Đức Phật nằm là nằm nghiêng bên phải. Khi ngồi xuống phải vén áo lên cho trang nghiêm, khi đứng thì phải đứng thẳng chứ không nên dựa vách, dựa tường, đó là oai nghi tứ đại. Trong việc nhỏ mà không thực hành được thì việc lớn rất khó, chẳng hạn khi đi thì phải để dép cho đàng hoàng, nếu để chiếc trước chiếc sau thì mình phải sắp lại cho ngay hàng thẳng lối. Con nghĩ rằng những việc đó tuy nhỏ nhưng phải tập để có thói quen thì khi lớn lên làm việc sẽ có sự ngăn nắp.
Sư Phụ: Trong 3 tuần vừa qua cô có khởi tham, sân, si, bản ngã không? Nếu có thì nó như thế nào và cô tu như thế nào?
Sư Cô 1: Cách đây 1 tuần thì con làm hương đăng, 5h sáng tụng kinh xong là con xuống đi chấp tác liền cho tới 1h30 trưa. Nhóm làm việc có 4 người nhưng có 2 người phải học thi thì con nói để con gánh vác luôn, còn lại 1 người làm chung với con. Tới tối khi khiêng bàn thì 1 mình con khiêng không được nhưng sư cô nói khiêng không được thì phiên sau không nhận phiên, con hỏi tại sao việc tiếp khách ngày mai không phải phiên con mà cô sai con từ sáng tới giờ, con làm quần quật tới 6h30 vẫn chưa nghỉ tối. Con thấy đó là cái sân của con vì cô nói nếu không nhấc được cái bàn đó thì phiên sau không nhận phiên.
Sư Phụ: Nhận diện ngũ uẩn ngay lúc này.
Sư Cô 1: Con không còn bực bội như khi lúc đó.
Sư Phụ: Cô nhắm mắt lại, niệm "an tịnh, lắng dịu, dễ chịu" và hít vào thở ra. Hình bóng của sư cô nói là gì?
Sư Cô 1: Hình bóng của sư cô đó là tưởng.
Sư Phụ: Cảm thọ khó chịu là gì?
Sư Cô 1: Là cảm thọ khổ.
Sư Phụ: Cô suy nghĩ về vấn đề đó là gì?
Sư Cô 1: Suy nghĩ về vấn đề đó là hành.
Sư Phụ: Cái rõ biết được thọ; tưởng; hành là gì?
Sư Cô 1: Rõ biết là thức của mình.
Sư Phụ: Sau sự kiện đó tu như thế nào? Sau khi sự kiện đó xảy ra thì vận dụng cái tâm của mình để xử lý những cảm thọ khó chịu đó như thế nào?
Sư Cô 1: Con cảm thấy mình đã sai vì người lớn sai thì cứ làm còn việc đó thì tính sau
Sư Phụ: Hiện tại bây giờ khi nhắc lại cảm thọ đó còn khó chịu không?
Sư Cô 1: Dạ không, vì con nghĩ ngang đó là con không nghĩ tới nữa
V. Tâm hiền
Sư Phụ: Vẫn còn, ai cũng thấy chỉ có mình không thấy. Những cái này quan trọng còn hơn cả việc học kinh vì học thì cứ học nhưng vào thực tế lại không biết làm. Trong khi mình trình pháp thì mình sẽ rơi vào cảm thọ khó chịu đó, nó đang xâm chiếm mình, khi nhắc lại có khó chịu và khó chịu đó là sân, khi mình nói thì mình nói rất lẹ, rất nhanh, rất mau thì đó là dục, một sự thúc giục trong khi nói, khi mình kể lại hình ảnh đó là một sự đúng sai rất mãnh liệt thì đó là bản ngã. Câu chuyện đã qua rồi bây giờ mình nhắc lại thôi mà các pháp bất thiện vẫn khơi gợi lại chứ đừng nói chi ngay lúc đó.
Bây giờ làm sao để đối trị cái này? Lúc nãy con kêu cô nhắm mắt lại niệm "an tịnh, lắng dịu, dễ chịu" đó là làm cho sự thúc giục trong khi nói chuyện của mình lắng xuống, chế ngự, nhiếp phục sự thúc giục, mình vẫn nói nhưng nói một cách bình tĩnh, trầm tĩnh, thong thả, nhẹ nhàng mà không có sự vội vã, mau nhanh trong đó. Mình cho rằng mình là đúng, người kia sai "tôi đúng thì tại sao lại rầy tôi, chuyện này đâu phải của tôi", tâm của mình còn đúng sai, còn hơn thua nên chưa hiền, chưa khiêm hạ, mình muốn chế ngự bản ngã thì phải diệt tâm hơn thua, đúng sai, phải quấy.
Mình làm đúng nhưng bị người ta nói sai thì mình cũng không vội vã biện minh, biện luận, biện hộ, không cần biện bạch gì cả, cứ để cho cảm thọ an tịnh, lắng dịu, mình tập tâm hiền hòa, hiền trí, hiền lương, hiền đức, tâm của một bậc hiền trí. Mình không sai nhưng nói mình sai thì cũng không sao cả, "đâu có mình ở đây, cái gì là mình", nếu mình thấy cái "mình" này là tứ đại, là những thứ tim, gan, phèo, phổi, cái "mình" này là cái nùi giẻ, cái "mình" này là cái thứ trống rỗng, trống không, cái "mình" này là nắm tro tàn thì có cái mình nào ở đây, tại sao mình phải biện minh, biện hộ, biện luận? Không có ai ở đây cả.
Lúc đó mình quay về tác ý như vậy thì mình sẽ khiêm hạ, khiêm tốn, khiêm cung, khiêm nhã, khiêm nhường, mình đập tan bản ngã, diệt trừ cái đúng sai, phải quấy. Mình chấp nhận để cho người ta chê mình dở, mình sai, nhận cái dở về mình, nhận cái quấy về mình để cho người ta giỏi, người ta đúng, người ta hay, không sao cả, đó là pháp của Thánh hiền. Mình phải diệt được tâm đúng sai, hơn thua, phải quấy, đó là cái tâm hung dữ, chưa phải là tâm của bậc hiền thiện, dù cho mình có bị người ta vu oan giá họa, Đức Phật nói nếu có một tên cướp hung bạo cầm cưa để cưa các vị Tỳ-kheo ra từng phần nhưng nếu bất kì một vị Tỳ-kheo nào sân hận thì người đó chưa phải là người thực hành giáo pháp của Như Lai.
"Chư Tỳ-kheo, như những kẻ đạo tặc hạ liệt, dùng cưa hai lưỡi mà cưa tay, cưa chân; dầu vậy, nếu một ai ở đây khởi ý nhiễm loạn, người ấy do vậy không phải là người thực hành giáo pháp của Ta" (Trung Bộ Kinh, 21. Kinh Ví dụ cái cưa)
Khi thực tập được như vậy thì chúng ta sẽ diệt tận được hết tất cả những cảm giác, nghĩ tưởng, hơn thua, đúng sai, phải quấy, cao thấp và chúng ta an trú vào tâm hiền thiện, tâm của bậc hiền trí, tâm của bậc hiền đức, hiền lương, hiền hậu, hiền hòa, hiền kính. Ngài Xá-lợi-phất ví dụ như con bò đực bị cưa sừng nên không còn bất cứ một vũ khí gì để húc người khác, để làm cho người khác tổn thương.
"Ví như, bạch Thế Tôn, một con bò đực, với sừng bị cưa, hiền lương, khéo điều phục, khéo huấn luyện, đi lang thang từ đường này đến đường khác, từ ngã tư này đến ngã tư khác, không hại một ai với chân hay với sừng. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con an trú với tâm giống như một con bò đực với sừng bị cưa, rộng rãi, rộng lớn, vô lượng, không hận, không sân" (Tăng Chi Bộ, Chương IX - Chín Pháp, II. Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử, (I). Sau Khi An Cư)
Trên đây là một trong chín pháp an trú tâm tuyệt đối quan trọng của bậc trí tuệ đại tướng quân chánh pháp chí thượng thanh văn Xá-lợi-phất. Chúng ta phải về nghe kĩ loạt bài "Tầm quan trọng của tâm hiền", trong đó giảng giải 9 pháp an trú tâm của ngài Xá-lợi-phất, mỗi một pháp quán là một bài thiền quán.
Nguyện tâm như địa, thủy, hỏa, phong
Rộng rãi, bao dung, chẳng buộc ràng,
Nguyện tâm như miếng nùi giẻ rách
Có gì để lên mặt, hơn thua.
Nguyện tâm như kẻ nghèo đói nhất,
Có gì để lên mặt dạy đời
Nguyện tâm như bò, sừng bị chặt
Còn gì để hăng hái tranh đua.
Chán chê, một cái thân lủng lỗ
Rỉ chảy nhơ hôi suốt cả ngày,
Có gì đáng để khoe, để nói
Có gì để ngã mạn, ta đây.
(Đảnh Lễ Đức Hạnh Ngài Xá-lợi-phất – Nghi Thức Tu Học Nikāya)
Chín pháp an trú tâm của ngài Xá-lợi-phất là chín pháp tu để trở thành bậc đại trí, đại tuệ, quảng tuệ, tiệp tuệ, thông tuệ, tối thắng tuệ, giải thoát tuệ.
Hạnh Ngài “tâm trú yên như đất”,
Không giận sân người thảy sạch, nhơ.
Hạnh Ngài “tâm trú yên như nước”,
Không giận sân người rửa nhớp nhơ.
Hạnh Ngài “tâm trú yên như gió”
Tịnh nhơ, gió thổi chẳng nặng lòng.
Hạnh Ngài “tâm trú yên như lửa”,
Không giận sân người đốt uế nhơ.
Hạnh Ngài “tâm trú như giẻ rách”,
Không giận sân người lau sạch, nhơ.
Hạnh Ngài “tâm trú người hạ liệt”,
Ai phỉ báng gì cũng lặng yên.
Hạnh Ngài, “bò đực bị cưa sừng”
Hiền lành, lắng dịu, chẳng hại ai.
Hạnh Ngài “xấu hổ thân hôi thối”,
Chán ngán thân, nên chẳng hơn thua.
Hạnh Ngài “khốn khổ, thân lủng lỗ”
Rỉ nước tanh hôi suốt cả ngày,
Buồn vui, được mất, chi thêm khổ
Ngã mạn, ta đây, thêm đắng cay.
Ôi! hạnh đức Ngài tuyệt diệu thay,
Mấy ai đức hạnh được như Ngài
Nay con đảnh lễ, xin quy ngưỡng,
Kính bậc hiền nhân, bậc Thánh tăng.
Ôi! hạnh đức Ngài đẹp làm sao,
Thế gian dừng lại để cúi chào,
Trí đức tròn đầy và cao đẹp,
Đức hạnh hiền từ thật thanh cao.
Nay con đảnh lễ Đức Thế Tôn,
Đảnh lễ pháp hiền của Thánh nhân,
Đảnh lễ Thánh Tăng, cùng Thánh chúng,
Chúng con xin nguyện tập tâm hiền.
(Đảnh Lễ Đức Hạnh Ngài Xá-lợi-phất – Nghi Thức Tu Học Nikāya)
Đây là những phương pháp an trú tâm của bậc Thánh, nếu chúng ta không thực tập, không nuôi dưỡng, không tác ý, không quán tưởng thì không bao giờ chúng ta có thể diệt được sự hơn thua, cao thấp, đúng sai, không bao giờ chúng ta có thể hạ gục được cái tôi, cái ta, cái bản ngã to lớn. Những pháp này là những pháp tuyệt đối quan trọng và hình ảnh dễ nhất để chúng ta thấy là tấm chùi chân, mình bước vào nhà, bước vào phòng, bước vào chánh điện, bước vào giảng đường thường có tấm chùi chân, giậm chân và mỗi lần chúng ta đạp lên tấm giẻ đó thì tâm mình phải an trú trở thành cái nùi giẻ đó để mọi người giẫm đạp lên, chỉ có an trú được cái tâm như vậy thì trong lòng mình mới không còn những ý niệm, những cảm giác, suy tư, nhận thức hơn thua với mọi người, đấu đá, tranh giành với mọi người. Nhưng không phải chỉ những lúc giậm chân mới an trú tâm như vậy mà cả một thời thiền một tiếng đồng hồ cũng lấy cái nùi giẻ làm đề mục thiền quán, suốt một tiếng đồng hồ quán tưởng mình là cái nùi giẻ.
Vì có cái nùi giẻ giậm chân nên chân mới sạch, vì có cái nùi giẻ lau nhà nên chân mình mới sạch, vì có cái nùi giẻ đó lau nên chánh điện, giảng đường mới sạch, vì có sự hạ mình đến tận cùng để cho người ta chà đạp lên thì đức hạnh của mình mới cao thượng, mới diệt được bản ngã, mới đập vỡ được sự cao ngạo, diệt tận được tâm hơn thua, mới phá trừ được ý niệm cao thấp, mới đập vỡ được cái đúng sai, phải quấy trên cuộc đời này. Đề tài này phải được quán thường xuyên và liên tục ba ngày, bảy ngày, mười ngày, ba tháng, sáu tháng, cho đến khi nào nhớ về mình là cái nùi giẻ hiện ra chứ không còn một hình tướng to cao, ưỡn ngực, hất mặt lên nữa, đó chính là pháp của bậc Thánh.
Nếu chúng ta chưa làm được thì khi nghĩ về mình là hình ảnh một người chắp tay, cúi đầu, khom lưng, nếu tập làm nùi giẻ khó quá chưa làm được thì mình tập mỗi khi nhớ về mình là trong tâm hiện ra một cái tưởng là một người chắp tay, cúi đầu thấp xuống. Sau đó đến hình ảnh lúc nào cũng quỳ mọp xuống giống như lúc mình lạy Phật, khi lạy Phật năm vóc sát đất là trán, hai cái khuỷu tay, hai đầu gối phải chạm đất cho nên cái pháp lạy Phật rất sâu sắc, không phải lạy để có phước, lạy để Phật ban cho mình một cái gì đó, không phải lạy để hết tội mà công dụng thật sự của pháp lạy Phật là phá ngã, diệt ngã, đánh đổ bản ngã để nó sụp xuống, đổ xuống, nằm rạp xuống.
Mỗi một cái lạy xuống mình phải tác ý quán chiếu, nếu không tác ý thì cái lạy chỉ ở trên hình thức lễ nghi thôi, làm cho xong thôi, còn nếu tác ý mỗi lần lạy xuống là "con nguyện đưa bản ngã này vào lòng đất đến tận cùng", "con xin nguyện chôn vùi bản ngã này vào lòng đất lạnh", lạy xuống một lạy "con nguyện sống đời sống khiêm hạ", lạy xuống một lạy "con nguyện sống đời sống khiêm tốn", "con nguyện sống đời sống khiêm hạ, khiêm nhường, khiêm nhã", mỗi cái lạy là "con nguyện chôn lấp bản ngã ngu si, mê muội, sân hận này". Mỗi lạy mình đều tác ý như vậy vì tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi, nếu không tác ý thì cái đó không sanh ra, trí huệ không sanh, sự thấy biết thâm sâu để diệt ngã không sanh mà nếu cái ngã không diệt thì tất cả pháp đều không thành tựu, còn tham lam, sân hận, giành giật, còn phải quấy, đúng sai trên đời này lắm.
Cái nhà đang cháy mà ở đây hai người vẫn giành đồ ăn thì có khôn không? Giành rồi trở thành đống tro hết, như vậy cái giành giật đó, cái hơn thua đó có đáng không? Chỉ có người ngu mới vậy, còn người trí thấy được lửa đang cháy, bậc hiền trí là bậc nhìn xuyên qua tất cả sắc; thọ; tưởng; hành; thức để thấy tính chất tan hoại, biến hoại, vô thường, sụp đổ, tan rã, bất an, bất hạnh, hiểm nguy của đời sống này, của ngũ uẩn này, của thân tâm này, của thế giới này, người ta không có ý niệm hơn thua với bất cứ một ai trên đời này, người ta luôn an trú tâm như một người cúi đầu thật thấp như khi lạy Phật, sẵn sàng quỳ lạy bất cứ một ai trên đời này thậm chí người đó thấp nhỏ hơn mình và lạy một cách ngọt ngào, chân thành, cung kính, lạy với một lòng thương bao la trải dài, đó là đức hạnh của hiền Thánh mới thực tập được. Một người có bản ngã to lớn thì xin lỗi cũng không làm được "tôi có lỗi gì đâu mà xin", mình có lỗi nhưng được chỉ lỗi là sân hận hoặc chối tội, tại người này người kia chứ không phải tại mình, đó là phàm phu ngụy biện quanh co giấu lỗi lầm, còn bậc tu tâm hiền là người hết sức chân thành, chân thật, hết sức thật thà, trực tâm.
"Diệu hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Trực hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Ứng lý hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Chơn chánh hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám chúng. Chúng đệ tử của Thế Tôn là đáng cung kính, đáng cúng dường, đáng tôn trọng, đáng được chấp tay, là phước điền vô thượng ở đời". (Tương Ưng Bộ, Tập V- Thiên Đại Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (a), I. Phẩm Veludvàra, I. Vua)
Tâm ngay thẳng chánh trực gọi là trực hạnh, chơn chánh hạnh là có lỗi là nhận lỗi chứ không ngụy biện, ứng lý hạnh, diệu hạnh là bốn đôi tám chúng của Như Lai, là những bậc xứng đáng để chúng sanh chắp tay, đáng để chúng sanh đảnh lễ, đáng cho chúng sanh cúng dường, là ruộng phước vô thượng của chư thiên và loài người. Bây giờ mình tu 3 năm, 7 năm, 10 năm nhưng có lỗi được chỉ lỗi là người ta sân si lên, khó chịu, mình đổ lỗi, đó là tâm dối trá, tâm ngụy biện, tâm không ngay thẳng, không chân thành, không chân chánh. Vậy mà mình cho rằng tu giỏi rồi, ngày nào cũng thấy an lạc, thấy hạnh phúc nhưng coi chừng cái hạnh phúc đó đưa xuống vực sâu, vì vô minh, vì tham ái không thấy ngũ uẩn, không nhận diện được cảm thọ, không nhìn ra các pháp sanh khởi, an trú, vận hành, nó xâm chiếm, áp đảo trong thân tâm, mình chỉ hướng ngoại thấy cái sai của người ta chứ bản thân mình không thấy.
Nếu mình không được bậc hiền trí chỉ dẫn thì mình mãi mãi vô lượng kiếp chứ đừng nói chi trong một kiếp mình không nhìn thấy được bộ mặt thật sự của lậu hoặc. Chữ "lậu" mang ý nghĩa hết sức gian trá, xảo quyệt, dối lừa giống như đi hàng lậu, nếu mình không có tâm chân thành, chân chánh, một cái tâm dám nhìn nhận một cách chánh trực, chính xác về các cảm giác, nghĩ tưởng, suy tư, nhận thức thì vô lượng vô biên kiếp về sau mình chỉ tu được phước báo nhân thiên chứ không thể đi đến lậu tận.
Những cái mê lầm, những cái phiền não, những cái tham, sân, si, vô minh, bản ngã, lậu hoặc hết sức gian manh, xảo trá, quỷ quyệt. Trong Tây Du Kí người ta mượn hình ảnh của yêu tinh, yêu quái chỉ cho lậu hoặc, nghĩa là nhìn bề ngoài thấy rõ ràng là đứa bé, là bà già tội nghiệp nhưng nó thật sự là yêu tinh, là bạch tốt tinh, chỉ có Tôn Ngộ Không mới nhìn ra được, cái này để nói lên bậc chánh kiến mới nhìn ra được lậu hoặc, còn chưa thành tựu chánh kiến là không nhìn ra được lậu hoặc, chưa nhìn thấy ngũ uẩn, chưa thấy các cảm thọ, chưa nhìn ra các nguồn gốc, bộ mặt của tham, sân, si thì mình không thấy được lậu hoặc.
Khi nãy mình nói hết giận rồi nhưng thật ra vẫn chưa, còn phải thanh tẩy, tẩy rửa nhiều hơn nữa, diệt tận nó để nó không thể sanh khởi trở lại trong tương lai giống như chặt cây tala, tu cho đến mức độ đó thì mới lậu tận được, tức là tất cả những cảm giác, những suy nghĩ, ý tưởng, nhận thức của mình không còn những cái suy nghĩ tôi, ta, hơn thua nữa, không còn ý niệm giận bất cứ một ai trên cuộc đời này nữa, cảm thọ lúc nào cũng an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào, khi nghĩ về mình là một hình ảnh cúi đầu, chắp tay hạ thấp người xuống, khi nghĩ về mình là một con bò bị cưa 2 sừng, khi nghĩ về mình là nghĩ về một kẻ ăn xin hạ liệt. Trong Tây Du Kí Đường Tam Tạng tự xưng mình là "bần Tăng", trong khi thì ghi an trú tâm như người hạ liệt, người ăn xin, bần Tăng chính là kẻ ăn xin.
"Học đạo trước cần phải học nghèo
Nghèo rồi đạo thể mới được thân
Từ xưa Cổ đức xưng: “Bần đạo”
Đạo dụng lại đồng với kẻ nghèo"
(Thiền sư Long Nha)
Mình an trú tâm mình lúc nào cũng là một kẻ nghèo thiếu, nghèo đói, kẻ bần cùng thấp hèn nhất trong thiên hạ, đó là sự an trú tâm của bậc Thánh. Làm gì có ý niệm vênh váo? Làm gì còn ý niệm hơn thua, ta đây là sư phụ, ta đây là bậc thầy, ta đây là bậc cao, ra vẻ giai cấp với những Phật tử. Lúc còn là cư sĩ công quả mà người ta kêu bằng "thằng" mình cũng cười, bây giờ xuất gia 30 năm mà người ta kêu "thằng" là có chuyện, như vậy là còn thua cả cư sĩ, còn thua lúc tập sự.
Đúng ra càng tu thì càng nhiếp phục, càng chế ngự, diệt tận một cách hoàn toàn bản ngã, như vậy mới đúng đạo lộ của bậc Thánh, gọi là Thánh đạo, đằng này lúc còn là cư sĩ người ta kêu "thằng" thì vui vẻ, tu 30 năm người ta gọi "thằng" thì sân si lên là công cốc, tu còn tệ hơn lúc không tu nữa thì tu làm gì, đây là chỗ mà chúng ta phải chiêm nghiệm. Mình phải nói ra những vấn đề của mình thì mới có đúng thuốc đặc trị, còn giờ học chung chung, nói chung chung, làm chung chung thì kết của cũng chung chung, cuối cùng không thành công.
./.