Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Lễ Cúng Dường Trai Tăng - Kim Cương Thánh Trí & Công Đức Bố Thí

2026-03-03 00:52:26
Lễ Cúng Dường Trai Tăng

Kim Cương Thánh Trí & Công Đức Bố Thí

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Lễ trai tăng PAGEREF _Toc204009500 \h 1

II. Thánh cầu PAGEREF _Toc204009501 \h 4

III. Lòng tin tối thượng PAGEREF _Toc204009502 \h 7

IV. Bố thí PAGEREF _Toc204009503 \h 8

V. Biết ơn – cung kính PAGEREF _Toc204009504 \h 20

I. Lễ trai tăng

Thầy Thiện Huệ: Đảnh lễ Đức Thế Tôn bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác. Con kính bạch trên chư tôn thiền đức Tăng Ni cùng các bậc hiền trí, Đức Thế Tôn có dạy trong kinh Tăng Chi Bộ tập III:

"- Này các Tỳ-kheo, có tám bố thí này của bậc chân nhân. Thế nào là tám?

Cho vật trong sạch; cho vật thù diệu; cho đúng thời; cho vật thích ứng; cho với sự cẩn thận; cho luôn luôn; tâm cho được tịnh tín; sau khi cho được hoan hỉ.

Này các Tỳ-kheo, có tám bố thí này của bậc chân nhân:

Trong sạch và thù diệu

Đúng thời và thích ứng

Đồ uống và đồ ăn

Luôn luôn làm bố thí

Trong các ruộng tốt lành

Sống theo đời Phạm hạnh

Không có gì hối tiếc

Bố thí nhiều tài vật

Những bố thí như vậy

Được bậc trí tán thán

Bậc Trí thí như vậy

Với tâm tín, giải thoát

Không hại, tâm an lạc

Bậc trí sanh ở đời." (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, IV. Phẩm Bố Thí, (VII). Người Chân Nhân (1))

Con kính bạch trên chư tôn thiền đức chứng minh hôm nay là ngày mùng 4 tháng 9 năm Quý Mão, có nhân duyên lành giới tử Hiền Thục từ nơi xa xôi ở thành phố Hải Phòng với lòng tin đối với tam bảo đã hướng dẫn các vị thông gia cũng như là con cháu trong gia đình trước về rừng thiền Linh Quy để đảnh lễ tam bảo, tu học chánh pháp. Bên cạnh đó gia đình có buổi thiết lễ cúng dường chay Tăng để dâng lên cúng dường cho tam bảo và hiện tiền chư tôn thiền đức chứng minh nhằm hồi hướng phước lành này cho toàn thể gia đình được sự bình an cũng như là trong ngày lễ Hằng Thuận của đôi bạn trẻ. Con kính trình lên chư tôn đức chứng minh cho. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

Vào giờ này trước chay đường trang nghiêm thanh tịnh hòa quyện với hương trầm lan tỏa giới tử Hiền Thục đại diện cho toàn thể gia đình cung đối trước chư tôn đức dâng lên đôi lời tác bạch cúng dường bằng cả tấm lòng chí thành cung kính. Vào giờ này xin trân trọng kính mời giới tử Hiền Thục dâng lên lời tác bạch cúng dường. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

Cô Hiền Thục: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch chư tôn hiền đức chứng minh hôm nay chúng con có duyên sự đầu thành đảnh lễ kính dâng lời tác bạch. Kính thưa sư phụ và các bậc hiền trí, bao năm tháng qua con đã mong mỏi trên rất nhiều để tìm kiếm một pháp hành tu tập thật sự giúp con thoát khỏi tham, sân, si, bản ngã mà không thấy lối ra. Thật diễm phúc thay cho con vì giờ đây đã tìm được đạo lộ cội gốc của Đức Thế Tôn và gặp được sư phụ, bậc minh sư đã giúp con nếm được hương vị ngọt ngào của chánh pháp, dạy cho con biết thế nào là ngũ uẩn chỉ cho con thấy bốn sự thật của đời sống này và hướng dẫn con từng bước tu tập để có được một thân tâm an tịnh, lắng dịu, hiền thiện, xây dựng cho mình một đời sống an vui theo lời Phật dạy từ những lợi ích thiết thực mà tự thân mình thọ nhận được.

Con vô cùng ước mong có thể đem chất liệu thiện lành, thanh lương của chánh pháp về với chính gia đình mình để mọi người có thể quay về nương tựa tam bảo, tăng trưởng thiện pháp mỗi ngày, làm lành lánh dữ, có được bình an trong cuộc sống hiện tại và mai sau. Hạnh phúc nào bằng khi ngày hôm nay toàn thể gia đình con chúng con đã gác lại mọi lo toan ngoài kia, cùng nhau trở về hội tụ nơi Linh Quy Pháp Ấn, được gieo duyên lành với chánh pháp và được chư Tăng Ni hướng dẫn tu học đạo làm người theo đúng tinh thần đạo Phật thân ái của tam bảo to lớn như vậy. Chúng con thật sự không biết lấy gì đền đáp, chỉ nguyện cố gắng tu học và hành trì theo những lời dạy nguyên chất của Đức Như Lai.

Hôm nay, nhân ngày 18 tháng 10 năm 2023, nhằm ngày mùng 4 tháng 9 năm Quý Mão, gia đình đệ tử chúng con thành tâm sắm sanh phẩm vật thiết lễ trai nghi cúng dường mười phương chư Phật và hiện tiền chư tôn thiền đức Tăng Ni. Nguyện đem công đức này trước cầu siêu cho Trần Văn Thông hưởng thọ 93 tuổi, Nguyễn Thị Tý hưởng Thọ 73 tuổi, Nguyễn Văn Định hưởng thọ 86 tuổi, Vũ Thị Tình hưởng thọ 86 tuổi, liệt sĩ Trần Văn Đông hưởng dương 21 tuổi, Trần Văn Hải hưởng dương 22 tuổi. Đồng thời cầu an cho Trần Thị Thỏa 68 tuổi cùng toàn thể để gia đình chúng con và tất cả mọi người mọi loài đều thấy được sự vô thường của đời sống này, thân tâm an lạc quay về tam bảo tu hành giác ngộ giải thoát. Đặc biệt là đôi trẻ sau khi nghe lời dạy bảo của chư Tăng Ni sẽ sống với nhau trong sự hiểu thương, nhường nhịn, tương kính, bao dung để có được một đời sống gia đình hạnh phúc chân chánh.

Dù cuộc sống ngoài kia còn nhiều lo toan bộn bề nhưng mong hai con luôn dành thời gian cùng nhau hướng về Phật pháp, chỉ có đạo lộ này mới giúp chúng ta có niềm an vui thật sự. Đến với Linh Quy Pháp Ấn lần này cũng là một món quà quý giá nhất mà gia đình dành tặng hai con. Cuối cùng gia đình chúng con xin chân thành cảm niệm tri ân công đức sư phụ, quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô và đại chúng Linh Quy Pháp Ấn đã hướng dẫn giúp đỡ và tạo duyên lành cho chúng con tổ chức buổi lễ Hằng Thuận và cúng dường trai Tăng hôm nay. Xin kính chúc quý thầy, quý cô thật nhiều sức khỏe để dẫn dắt tất cả chúng con trên bước đường tìm về chánh pháp. Ngưỡng mong quý ngài vì lòng từ mẫn chứng minh, hứa khả nạp thọ cho sự như pháp cúng dường này. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

Thầy Thiện Huệ:

"Nhẫn nhục, lời hòa nhã,

Yết kiến các Sa-môn,

Ðúng thời, đàm luận Pháp,

Là điềm lành tối thượng." (Tiểu Bộ, Tập I, Tiểu Tụng, V. Kinh Điềm Lành (Mangala Sutta))

Vừa qua là đại diện cho toàn thể gia đình dâng lên những lời tác bạch với tấm lòng chí thành, chí kính. Vào giờ này chúng con thành kính cung thỉnh trên thượng tọa thượng Minh hạ Thành trụ trì chùa Linh Quy Pháp Ấn bằng tình thương, bằng từ tâm thiết giảng những lời chánh pháp từ Đức Thế Tôn để cho toàn thể các bậc hiền trí hiện diện được thấm nhuần lợi lạc trong chánh pháp. Chúng con thành kính cung thỉnh thượng tọa. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

II. Thánh cầu

Sư Phụ: Kính bạch Đức Thế Tôn, kính bạch bốn đôi tám chúng hiền thánh, kính bạch chư tôn thiền đức hiện tiền và kính thưa toàn thể chư hiền trí hiện diện trong buổi lễ trai Tăng cúng dường hôm nay. Trong bài kinh Thánh Cầu, sự tìm cầu của bậc thánh, Thế Tôn nói:

"Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người tự mình bị sanh lại tầm cầu cái bị sanh, tự mình bị già lại tìm cầu cái bị già, tự mình bị bệnh... tự mình bị chết... tự mình bị sầu... tự mình bị ô nhiễm lại tầm cầu cái bị ô nhiễm." (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu)

Các ông bị tham, sân, si, sầu, bi, khổ, ưu, não thì các ông lại chạy đi tìm những thứ bị tham, sân, si, sầu, bi, khổ, ưu, não. Các ông bị đau khổ lại chạy đi tìm cái khổ đau. Các ông nước mắt ràng rụa lại đi tìm những cái đầy nước mắt. Các ông lo lắng, bất an, sợ hãi, khổ sầu các ông lại chạy đi tìm những cái lo lắng, bất an, khổ sầu.

"Rồi này các Tỳ-kheo, Ta tự mình bị sanh, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị sanh, tìm cầu cái không sanh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đã chứng được cái không sanh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị già, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị già, tìm cầu cái không già, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; và đã chứng được cái không già, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị bệnh, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị bệnh, tìm cầu cái không bệnh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đã chứng được cái không bệnh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị chết, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị chết, tìm cầu cái không chết, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đã chứng được cái không chết, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị sầu, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị sầu, tìm cầu cái không sầu, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đã chứng được cái vô sầu, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị ô nhiễm, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị ô nhiễm, tìm cầu cái không bị ô nhiễm, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đã chứng được cái không ô nhiễm, vô thượng an ổn, khỏi các khổ ách, Niết-bàn. Và tri kiến khởi lên nơi Ta. Sự giải thoát của Ta không bị dao động. Nay là đời sống cuối cùng của Ta, không còn sự tái sanh nữa." (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu)

Như Lai bị sanh Như Lai đi tìm cái không sanh, Như Lai bị bệnh Như Lai đi tìm cái không bệnh, Như Lai thấy được già bị già Như Lai đi tìm cái không già, Như Lai bị chết Như Lai đi tìm cái bất tử và thật sự Thế Tôn đã tìm được, đã chứng đạt, chứng đắc, chứng ngộ cảnh giới của bất tử mà chúng ta đã thừa hưởng gần ba ngàn năm qua một đạo lộ thần diệu, thánh diệu, tối diệu, vi diệu, thượng diệu, khai mở mắt sáng cho người trời chính là con đường an lạc, hạnh phúc, bất tử niết bàn mà suốt ba ngàn năm qua nhân thiên ba cõi, mười ngàn thế giới để được thấm nhuần lợi ích từ sự đi tìm cái bất tử của Thế Tôn, của thái tử Tất-đạt-đa.

Tất cả chúng sanh chạy đuổi tìm kiếm trong những cái hòn bọt, những cái bong bóng nước, trong một bài kinh cũng nói như bông bóng nước là đời sống của loài người thật là ngắn, nhiều lo toan, nhiều đau khổ, nhiều bất an.

"Này Bà-la-môn, ít ỏi là đời sống của loài Người, nhỏ bé, không đáng kể, nhiều khổ đau, nhiều ưu não." (Tăng Chi Bộ, Chương VII – Bảy Pháp, VII. Đại Phẩm, (X). Araka)

Tất cả chúng ta chạy đi tìm những bọt nước, những cái bong bóng, tìm hoài, mệt nhoài, nhọc nhằn, vất vả ở trong sự chán chường, ê chề, trong sự lo lắng, bất an, trong sự sợ hãi đối với những cái bọt nước, những cái bong bóng nước này. Chúng ta cứ tìm rồi gặp, rồi một thời gian nó nát, rồi chúng ta cứ chạy tìm, rồi chụp, rồi nát, rồi bể, rồi chạy tìm, rồi nát, rồi bể, rồi tan biến và chúng ta cứ thế mà đau khổ, chìm đắm, trôi dạt, thăng trầm, phiêu lưu trong những đời sống. May mắn thì được làm người đầy đủ các căn, có một chút phước báo rồi lại kiêu ngạo, kiêu căn, ngã mạn, rồi lại ỷ lại vào tuổi trẻ, kiêu căng trong sức khỏe, ngạo mạn trong địa vị, trong sắc đẹp và hết phước báo lại rớt xuống những cái thân mang lông đội sừng, những cảnh thảm thiết kêu gào trong địa ngục, những cảnh vất vơ vất vưởng trong đời sống của ngạ quỷ, cô hồn, chúng ta cứ thế mà chụp bắt những cái bọt nước.

Thế Tôn là người tìm ra được kim cương thánh trí, ngài đã tìm được kim cương thánh trí, còn chúng ta là những kẻ đau khổ với những hòn bọt, bong bóng nước, với những dòng nước mắt. Khi ngài đã thấy được, chứng được, đạt được, thành tựu được, viên mãn được kim cương thánh trí, rồi bằng từ tâm, bằng tình thương, bằng tất cả tấm lòng, vì lợi ích cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh ngài đã đem viên kim cương thánh trí đó truyền trao lại, trao gởi lại cho các hàng thánh chúng. Và mãi tận cho đến ngày hôm nay chúng con là những người thật là phước duyên được gặp bậc đại thiện tri thức thù thắng pháp nhãn trao gởi lại cái viên kim cương thánh trí này.

Chúng ta đang được chia của, đang được chia sẻ, đang được chia với nhau để cùng hưởng ngọc như ý, hưởng cái viên kim cương thánh trí và một trong những số đó là giới tử Hiền Thục thấy được lợi ích, thấy được an lạc, thấy được giá trị vĩ đại quý báu đó thì với một tình thương của người mẹ sao lại có thể dửng dưng nhìn con, chồng của mình đau khổ được, nhìn cháu của mình đau khổ được. Cho nên người mẹ đã khuyến khích, hướng dẫn, khích lệ, dẫn dắt chồng, con, cháu cũng như lan tỏa lợi ích, an lạc này đến những người có duyên, các vị có mặt ngày hôm nay và các quý vị ở xa gián tiếp được nhìn qua màn ảnh đều được thừa hưởng đôi phần trong cái lợi ích của kim cương thánh trí.

Chúng ta có thấy được ánh sáng lấp lánh của viên kim cương thánh trí chưa? Thấy chưa mà cạo đầu? Thấy chưa mà dám bỏ nhà nửa tháng trời, những cái tờ giấy xanh xanh đỏ đỏ đó? Vì ta thấy được giá trị siêu việt, siêu thế, sự tuyệt trần của thánh pháp tối thượng này, ta nhẹ nhàng vứt bỏ những tờ giấy, ta nhẹ nhàng buông xuống những hòn bọt, ta nhẹ nhàng bỏ lại những cái căn nhà hết sức là tạm bợ để ta về non học đạo thánh hiền. Hạnh phúc không? Trong gần hai tuần qua ta tắm trong những dòng thánh nhũ, sữa của bậc thánh, ta gội những cảm thọ chúng ta bằng những dòng cam lộ, pháp vũ thanh lương, ta làm cho tâm ta mát dịu, mềm dịu, hiền diệu, vi diệu, thần diệu, thánh diệu, tối thượng diệu.

Chúng ta đã chảy ra bao nhiêu những dòng lệ hạnh phúc, thấm đẫm con tim, thấm đẫm ánh mắt, thấm đẫm gương mặt, thấm đẫm cả toàn thân ta là những cảm thọ hiền thiện, hiền hòa, hiền kính, hiền nhân, hiền lương, hiền đức, hiền từ, hiền trí để chúng ta hòa mình vào trong thế giới của các bậc hiền thánh. Phước báo nào cho ta đến như vậy, công đức nào cho ta đến như vậy, lợi ích nào chúng ta đã gieo trồng bao nhiêu kiếp để chúng ta ngày hôm nay có mặt ở tại linh sơn thánh hội này, có mặt ở tại Trúc Lâm như tại này, Trúc Lâm Tinh Xá như đang trong hiện tại, giống như chúng ta đang ở Linh Thứu sơn, giống như chúng ta đang ở tháp đại giác bồ đề đạo tràng. Chúng ta đã cảm thọ được, phải cảm nhận, cảm động, chấn động, thân tâm bằng những sự thật của bất tử, sự thật của tối thượng và chính những cái điều này đã làm cho ta phát khởi được những lòng tin.

III. Lòng tin tối thượng

"- Này các Tỳ-kheo, có bốn lòng tin tối thượng này. Thế nào là bốn?

Dầu cho các loại hữu tình nào, này các Tỳ-kheo, không chân hay hai chân, bốn chân hay nhiều chân, có sắc hay không sắc, có tưởng hay không tưởng, hay phi tưởng phi phi tưởng, Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác được xem là tối thượng. Những ai đặt lòng tin vào đức Phật, họ đặt lòng tin vào tối thượng. Với những ai đặt lòng tin vào tối thượng, họ được quả dị thục tối thượng.

Này các Tỳ-kheo, dầu cho loại pháp hữu vi nào, Thánh đạo tám ngành được xem là tối thượng, những ai đặt lòng tin vào Thánh đạo Tám ngành, họ đặt lòng tin vào tối thượng. Với những ai đặt lòng tin vào tối thượng, họ được quả dị thục tối thượng.

Dầu cho loại pháp nào, này các Tỳ-kheo, hữu vi hay vô vi, ly tham được xem là tối thượng trong tất cả pháp, tức là sự nhiếp phục kiêu mạn, sự nhiếp phục khát ái, sự nhổ lên tham ái, sự chặt đứt tái sanh, sự đoạn diệt tham ái, sự ly tham đoạn diệt, Niết-bàn. Những ai đặt lòng tin vào pháp ly tham, này các Tỳ-kheo, họ đặt lòng tin vào tối thượng. Với những ai đặt lòng tin vào tối thượng, họ được quả dị thục tối thượng.

Dầu cho loại chúng Tăng hay hội chúng nào, này các Tỳ-kheo, chúng Tăng đệ tử của Như Lai được xem là tối thượng trong tất cả hội chúng ấy. Tức là bốn đôi tám vị, chúng Tăng đệ tử của Thế Tôn đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là vô thượng phước điền ở đời. Những ai đặt lòng tin vào chúng Tăng, này các Tỳ-kheo, họ đặt lòng tin vào tối thượng. Với những ai đặt lòng tin vào tối thượng, họ được quả dị thục tối thượng. Này các Tỳ-kheo, đây là bốn lòng tin tối thượng. (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, IV. Phẩm Bánh Xe, (IV). Các Lòng Tin)

Chúng ta có hạnh phúc không? Trong tất cả các đoàn thể không phải trong một hành tinh này, không phải trong một cái thái dương hệ này mà cả tam giới, ba ngàn đại thiên thế giới, mười ngàn cõi chỉ có đoàn thể chúng Tăng của Như Lai mới là tối thượng tại vì các vị này là hướng đến và dự vào dòng kim cương thánh tuệ xả ly, đoạn ly, xuất ly khỏi ngũ uẩn. Không một ai ngoài Như Lai và đệ tử của Như Lai có thể thấy biết được ngũ uẩn chứ đừng nói chi là viễn ly, từ bỏ ngũ uẩn. Chúng ta thấy mình phước báo không? Công đức không? Hạnh phúc lên, Hân hoan lên, sung sướng lên, hỷ lạc lên, Thế Tôn trong kinh nói rằng người thống trị cả cái địa cầu này, có hết tất cả tài sản trên trái đất này không bằng một phần mười sáu của một bậc Dự Lưu, một người nắm giữ hết cả tài sản của địa cầu không bằng một phần mười sáu của một vị đã Nhập Lưu thánh quả nhìn thấy ngũ uẩn và thấy sự khổ, vô thường, vô ngã ở trong ngũ uẩn.

"Và này các Tỳ-kheo, có sự lợi đắc của bốn châu và sự lợi đắc của bốn pháp. Sự lợi đắc bốn châu không đáng giá (agahati) một phần mười sáu lợi đắc bốn pháp" (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (a), I. Phẩm Veludvàra, I. Vua)

Mình phải cố lên, gắng lên, mạnh mẽ lên, tiến lên mà xông lên về phía trước, dòng pháp sẽ đưa người về phía trước. Đi tìm mấy cái bong bóng để làm cái gì? Đi tìm mấy cái bọt nước đó để tiếp tục khóc hả? Tiếp tục đau khổ, tiếp tục lo lắng, bất an, sợ hãi, sầu, bi, ưu, não hay sao? Cho nên niềm tin của chúng ta là niềm tin tối thượng, Thế Tôn thường khuyến khích cho các vị cư sĩ phát khởi lòng tin, giữ gìn các giới, bố thí, cúng dường, nghe pháp và tu tập trí tuệ, đó là tín – giới – văn – thí – tuệ, nếu nói thêm hai pháp tàm quý nữa tức là xấu hổ và sợ hãi đối những pháp ác và bất thiện thì trở thành bảy tài sản của bậc thánh.

Ngài thường khuyến khích các vị cư sĩ phát khởi lòng tin đối với tam bảo, giữ gìn các giới, bố thí, cúng dường, nghe pháp, tu tập trí tuệ cho nên chúng ta phải thấy được cái giá trị vĩ đại của kim cương thánh trí và nhìn ngược lại những cái đống bọt nước đó. Lấy hình ảnh đó làm đề mục thiền quán suốt cuộc đời thì chúng ta mới phát khởi lòng tin, mới phát khởi trí tuệ, mới dám bố thí, mới dám cúng dường, mới dám chia sẻ những cái tài vật. Con có chia sẻ trong mùa dịch một loạt bài về bố thí trong Nikāya, chúng ta nghe thật là kỹ, không có giống như mình hiểu bố thí thông thường đâu, trong Nikāya chỉ rất là kỹ bố thí cái gì thì được cái gì, bố thí với tâm thế nào thì được cái quả thế nào, bố thí cho ai thì được cái phước bao nhiêu, rất là rõ chứ không có nói chung chung giống như trước nay mình học.

IV. Bố thí

Trong kinh ghi lại cả một nhóm chư thiên đến Đức Phật để xưng tán về cái pháp bố thí tại vì các vị trời này là do bố thí mà được sanh lên thiên giới cho nên hôm đó tờ mờ sáng, thường thường khoảng từ bốn cho đến sáu giờ sáng là giờ Đức Thế Tôn thường thuyết pháp cho chư thiên, các vị trời đi xuống đảnh lễ, hỏi pháp với Đức Phật, đó là canh đầu của thời điểm giữa tối chuyển qua sáng cho nên chúng ta thường tu vào cái giờ đó, chư Tăng Ni tu ở trên cái cổng đó ngay cái giờ đó nên người ta kêu là Cổng Trời luôn. Giờ đó là giờ Đức Phật nói pháp cho chư thiên mà giờ đó mình tụng kinh ngay chỗ đó cho nên có cái sức cảm, tự động người ta đặt chứ mình đâu có đặt tên là Cổng Trời.

"Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anàthapindika.

Rồi rất nhiều quần tiên Satullapa, sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên.

Ðứng một bên, một vị Thiên nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:

Vì xan tham, phóng dật,

Như vậy không bố thí,

Ai ước mong công đức,

Có trí nên bố thí." (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương I. Tương Ưng Chư Thiên, IV. Phẩm Quần Tiên, II. Xan Tham)

Vị này là một vị trời, được sanh lên cõi trời là nhờ cái phước bố thí, nhờ cái phước tu tập các thiện pháp mà trong đó là bố thí nhiều cho nên vị này mới khen ngợi. Nếu như tham lam, bủn xỉn, keo kiệt, sống buông lung thả lỏng các căn cho nên không có bố thí, ai ước muốn công đức thì bậc trí tuệ đó phải làm việc bố thí.

"Rồi một vị Thiên khác nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:

Ðiều kẻ xan tham sợ,

Nên không dám bố thí,

Sợ ấy đến với họ,

Chính vì không bố thí.

Ðiều kẻ xan tham sợ,

Chính là đói và khát,

Kẻ ngu phải cảm thọ,

Ðời này và đời sau.

Vậy hãy chế xan tham,

Bố thí, nhiếp cấu uế,

Chúng sanh vững an trú,

Công đức trong đời sau." (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương I. Tương Ưng Chư Thiên, IV. Phẩm Quần Tiên, II. Xan Tham)

Vị chư thiên này nói người tham lam, bủn xỉn thì sợ đem cho thì họ hết, họ sợ rằng nếu đem cho, đem cúng thì họ hết, chính cái sợ đó cho nên họ bủn xỉn, chính họ bủn xỉn cho nên họ bị nghèo khổ, đói rách, thiếu thốn vì họ không có biết sớt chia, chính cái tâm mà bủn xỉn, keo kiệt, sợ hao, sợ tốn, sợ hết, sợ mất làm cho họ rơi vào cái cảnh mà họ sợ, tức là họ nghèo thiếu, nghèo đói, thiếu thốn, lo sợ. Cho nên nói rằng điều kẻ xan tham sợ nên không dám bố thí, sợ ấy đến với họ chính vì không bố thí, điều kẻ xan tham sợ chính là đói và khát, cái người mà bủn xỉn, họ keo kiệt rất sợ đói và sợ khát nhưng kẻ ngu phải cảm thọ điều đó ở đời này và đời sau.

Tiền mục lúa hư, không cứu đói rét;

Lụa là chất đống, nào có giúp ai.

Được người mấy trăm, chưa cho là nhiều;

Mất mình một đồng, tưởng như hao lớn.

Trên từ châu báu, dưới đến tơ gai;

Kho đụn chất đầy, chưa từng bố thí.

Bao nhiêu sự việc, ngày tính đêm lo;

Khổ tứ lao thần, đều từ tham nghiệp.

(Sám hối sáu căn)

Kẻ ngu đó không có biết bố thí, không có biết cúng dường, không có biết chia sẻ cho ai, tối ngày gom vô, chất vô, cuối cùng là gom được một đống tro tàn, gom được một đống nghiệp quả, gom được một cái tâm bủn xỉn, keo kiệt, xan tham. Chính vì cái sự sợ đói và sợ khát của họ nên cái kẻ ngu này phải chịu đói khát ở trong nhiều đời vì cái tâm bủn xỉn, cấu quế.

Xin hãy cứ cho, hãy cứ cho!

Niềm vui nho nhỏ cứ đem cho

Có người thí vật, người thí pháp

Cái gì thí được, cứ đem cho…

(Cửa Vào Bất Tử - Chơn Tín Toàn)

Vậy hãy chế ngự cái tâm bủn xỉn, keo kiệt, xan tham đó, hãy diệt cái tâm đó, hãy nhiếp phục cái tâm đó, hãy chế ngự cái tâm đó, hãy tẩy sạch cái tâm đó. Khi mình đem cho như vậy mới trị được cái tâm bủn xỉn đó và người này sẽ được chỗ dựa cho đời này và đời sau, sanh ra ở đâu cũng đầy đủ hết. Đức Phật nói đầy đủ về thấy gì cũng thấy đẹp, nghe cái gì cũng nghe cũng nghe cái tiếng dễ chịu, nghe thiên nhạc, nhìn là thấy biển mây, thấy bầu trời, thấy núi xanh. Mình có tu mới được ở trên núi, nhẹ mới lên núi được.

"Rồi một vị Thiên khác nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:

Không chết giữa người chết,

Như thiện hữu trên đường,

San sẻ lương thực hiếm,

Thường pháp là như vậy.

Kẻ ít, vui san sẻ,

Kẻ nhiều khó, đem cho,

Bố thí từ kẻ khó,

Ðong được ngàn đồng vàng." (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương I. Tương Ưng Chư Thiên, IV. Phẩm Quần Tiên, II. Xan Tham)

Bài này là các vị trời nói chứ không phải người nói đâu, người biết san sẻ lương thật hiếm, người biết bố thí, cúng dường, chia sẻ, sớt chia với bàn tay rộng mở, vui bố thí, thích bố thí, hoan hỉ trong sự bố thí, hạnh phúc trong bàn tay rộng mở, cho được cái gì là vui sướng, hạnh phúc hân hoan, hoan hỉ, thích thú thì người này sẽ sống giữa những người chết. Chúng ta thấy trong cái mùa dịch vừa rồi có một giới tử mới vừa xuống núi kể cho con nghe trong nước mắt, cảm xúc cái pháp rất đặc biệt. Vị này có mẹ bị covid vào trại tập trung, và chúng ta biết trại tập trung là không gian kín mà vị này vẫn dám bằng mọi cách để đi vào nuôi mẹ, không sợ chết. Quả thật bằng tấm lòng hiếu hạnh, bằng một cái tâm mạnh mẽ, vị này đã nuôi mẹ nhưng mà vẫn bị nhiễm bệnh, đem mẹ từ cõi chết trở về cõi sống, khi đó bà mẹ rất là hoảng loạn, ngay cả chú là thanh niên cường tráng mà còn hoảng sợ tại vì hằng ngày chú nhìn thấy người ta chết ở trong cái chỗ tập trung, cách ly, phải là tới ngày thứ ba chú mới bình tĩnh được và chú mới phụ khiêng những xác chết bỏ vô bao rồi kéo dây kéo lại.

Cái ngày mà mẹ được khỏe, hai mẹ con đi về ngồi trên xe Taxi đưa về mẹ nhìn chú rất là trìu mến, nhìn lâu lắm, chú mới nói:

Sao mẹ nhìn con dữ vậy, mặt con có dính cái gì hả?

Nếu không có con thì mẹ chết rồi, nếu không có con vào nuôi mẹ, chăm cho mẹ thì mẹ chết rồi.

Nhưng mà giới tử này tâm sự với con là "thưa sư phụ lúc đó con không có cảm thọ nhiều, con nghĩ bình thường, con thì phải nuôi mẹ nhưng mà bây giờ con nhớ lại nước mắt ràng rụa", con đưa bốn cái tấm giấy lau nước mắt, lau hết cả bốn tấm giấy còn chưa hết trước mắt, tức là nói "sư phụ ơi giờ con đổi thành người khác, con phải đi về, con sẽ quỳ xuống chân mẹ để con xin lỗi, con xin lỗi mấy người khác nữa" và muốn hướng dẫn hết cả gia đình đi lên đây tu. Như vậy gọi là không chết giữa người chết, quý vị cũng là không chết giữa người chết đó quý vị có biết không, nếu không là "mắc dịch" chết hết rồi, đâu còn giờ này được ngồi đây.

Đó là giờ mình có tu tập có phước báo, có công đức cho nên giờ này mình mới còn gặp nhau, mà gặp nhau trong pháp hội tinh ba, tuyệt vời. Vì thế hoan hỉ lên để tu, hạnh phúc lên để tu, một câu của vị trời này nói " không chết giữa người chết" thì chúng ta thiền quán ba ngày ba đêm. Chính cái phước đức, chính cái sự bố thí, cúng dường, chính cái tâm hiền thiện, từ bi cứu sống mình, mình nói thì nói là con giúp mẹ nhưng thật sự là phải tự mẹ giúp mẹ không, nếu mẹ không thương con, không lo cho con là con có thương lại không, cuối cùng là ai giúp ai, chính là cái nghiệp thiện của mình cứu mình cho nên con hay nói chúng ta mỗi ngày phải cúi đầu xuống lạy cái tâm thiện của mình, phải đảnh lễ cái tâm thiện lành của mình, phải đội trên đầu cái tâm thiện lành của mình, phải cúng dường cái tâm thiện lành của mình, chứ không phải chỉ lạy tượng Phật, hình Phật, ảnh Phật mà phải lạy cái thiện tâm của mình, lạy cái cảm thọ hiền thiện của mình, lạy những cái suy nghĩ ân đức, công đức đó, lạy những cái hình bóng thiện lành, trí tuệ đó.

Mình phải cúi mình lạy thọ; tưởng; hành của mình, lạy những cái ý nghĩ, những cái suy nghĩ thiện lành, "cảm ơn ngũ uẩn biết tu này nhiều lắm nha, mày đừng có làm ngũ hành nha, bây giờ mày phải làm ngũ trí nha con". Làm ngũ hành nó hành mình khổ, làm ngũ quỷ thì nó phá banh nhà luôn, làm ngũ trí, làm ngũ hiền, làm ngũ Thánh chứ không có làm ngũ hành, ngũ quái, ngũ quỷ, ngũ yêu, làm ngũ hiền, ngũ trí, ngũ thánh thiện. Chúng ta nhớ nhắc sắc; thọ; tưởng; hành; thức của mình như vậy, tu như thế không bao giờ rảnh, không bao giờ thất nghiệp, lúc nào cũng bận dạy sắc; thọ; tưởng; hành; thức.

Cái phước mà mình làm giống như người bạn lành cùng đi trên đường của mình, mình đi con đường xa thật là xa mà có một người bạn ở kế bên phụ mình xách đồ, hay có những chuyện gì nguy cấp, khó khăn họ giúp mình. Chúng ta thấy có cần bạn lành không? Ăn cơm có canh, tu hành có bạn, điều này có cần không? Cái phước này giống như người bạn lành ở bên cạnh của mình mọi lúc mọi nơi, trên con đường dài của sanh tử. Hình ảnh thứ hai là hình ảnh như bạn lành ở trên đường, san sẻ lương thực hiếm, cho mình những thức ăn lúc mình nguy cấp, mình đói thiếu, mình cơ hàn sẽ có bạn lành cho mình thức ăn nếu mình đã từng bố thí, đã từng cúng dường, đã từng san sẻ, sớt chia thì không bao giờ mình thiếu lương thực, không bao giờ mình bị đói, không bao giờ mình bị khát, không bao giờ mình bị nghèo khổ, không có gặp tai họa bất trắc, bất thường là nhờ cái phước.

Kẻ ít, vui san sẻ,

Kẻ nhiều khó, đem cho

Đọc câu này mà nhói tim, người nghèo mà họ cho một cách vui vẻ lắm nhưng mà người giàu lại rất khó đem cho người ta. Đây là trời nói chứ không phải người nói, người ta có thử lòng là người này giả bộ nghèo, đi lại xin cái mấy người ăn xin, vô gia cư thì ông này đang ăn một cái gói đồ ăn mà ông đưa cái đồ ăn cho người này một cách rất là dễ dàng, lương thiện. Ông nói rằng "tôi khổ cho nên tôi hiểu cái cảnh khổ, đói tội nghiệp, ông ăn cái gói đồ của tôi đi", hoặc là có người giả vờ lại hỏi mượn tiền để thử lòng thì người này cũng móc tiền lẻ ra đưa, sau đó thì người thử lòng này cho người ăn xin này một hai trăm đô cho nên kẻ ít thì vui san sẻ, mà kẻ nhiều thì khó đem cho. Câu này làm con rất là xót xa, nếu như những người giàu, những người triệu phú, con đau lòng nhìn hình ảnh ở trong nước mình hay là Ấn Độ, nếu như khu nhà giàu biết chia sẻ cho khu ổ chuột thì đỡ khổ biết bao nhiêu.

Nói tới đây thật sự là đau lòng, nhiều khi mình ăn một bữa ăn hàng chục triệu, hàng ngàn đô, xách một cái túi xách chục ngàn đô, mang đôi dép, cái đồng hồ lên tới mấy trăm ngàn đô la mà một người đau khổ, đói khát ngoài đường không có cho được một bữa ăn. Người ta tới xin cũng không cho nữa mà nhìn người ta bằng một ánh mắt khinh bỉ và sợ dơ mình, tránh né xa lẹ ra. Nếu như ai cũng biết san sẻ, sớt chia trên cuộc đời này thì ấm áp, ngọt ngào, tràn đầy tình thương, mà đây là một kinh nghiệm của vị trời chứ không phải là của con người bình thường. Chúng ta nhìn thấy cái này nhiều không? Rất là nhiều phải không? Hỏi sao không cho thì nói tiết kiệm nên mới giàu, trong kinh ghi lại một ông tỷ phú triệu phú này rất giàu nhưng chết rồi, nhà vua đi tới tịch thu tài sản thì trên đường đi về vua Ba-tư-nặc ghé thăm Đức Phật, Đức Phật có hỏi nhà vua đi đâu mà giữa trời trưa vậy, nhà vua bạch lại có ông triệu phú rất giàu có, cả chục ngàn đồng tiền vàng, cả triệu tiền vàng nhưng ông này đất đặc biệt là ăn cháo chua, mặc đồ cũ kỹ, đi xe cũ gần như là hư vậy. Thế Tôn nói đời trước của ông đó bố thí cho một bậc độc giác Phật, sau khi bố thí bữa ăn thì ông mới suy nghĩ "phải biết khi nãy ta đem cái bữa ăn này cho mấy người làm công còn tốt hơn là bố thí cho ông thầy này".

"Rồi vua Pasenadi nước Kosala, giữa trưa, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với vua Pasenadi nước Kosala đang ngồi một bên:

-- Thưa Ðại vương, Ðại vương đi đâu lại giữa trưa như thế này?

-- Ở đây, bạch Thế Tôn, có triệu phú gia chủ ở Sàvatthi bị mệnh chung. Và con đến để xem tài sản của vị không có con ấy được chở vào nội thành. Bạch Thế Tôn, có đến tám triệu đồng tiền vàng, không nói đến tiền bằng bạc. Bạch Thế Tôn, tuy vậy đồ ăn của vị triệu phú gia chủ ấy lại chỉ gồm có cháo tấm chua ngày hôm qua để lại. Còn vải mặc chỉ mang vải gai may thành ba tấm. Còn xe thì đi xe nhỏ cũ kỹ và hư nát, có gắn tán che bằng lá.

-- Thật như vậy, thưa Ðại vương. Thật như vậy, thưa Ðại vương. Thưa Ðại vương, vị triệu phú gia chủ ấy thuở xưa, đã bố thí đồ ăn khất thực cho một vị Bích-chi Phật tên là Tagarasikkhi. Vị ấy nói: 'Hãy bố thí cho vị Sa-môn'. Nói xong, vị ấy từ chỗ ngồi đứng dậy, rồi bỏ đi. Nhưng về sau, vị ấy hối tiếc, nói rằng: 'Tốt hơn, các người phục dịch hay làm công ăn đồ ăn khất thực này'. Và hơn nữa, vị ấy đoạt mạng sống người con độc nhất của người anh, vì tài sản của người ấy.

Thưa Ðại vương, vì người triệu phú gia chủ ấy có bố thí đồ ăn khất thực cho vị Ðộc Giác Phật tên là Tagarasikkhi. Do kết quả hành động ấy, vị ấy được sanh bảy lần lên thiện thú, Thiên giới. Do kết quả dư hưởng còn lại, vị ấy được làm nhà triệu phú bảy lần ở Sàvatthi này.

Thưa Ðại vương, vì người triệu phú gia chủ ấy sau khi bố thí về, lại hối tiếc nói rằng: 'Tốt hơn, các người phục vụ hay làm công ăn đồ ăn khất thực này'. Do kết quả của hành động ấy, tâm của vị ấy hướng về các món ăn không được tốt đẹp, tâm của vị ấy hướng về các đồ mặc không được tốt đẹp, tâm của vị ấy hướng về các xe cộ không được tốt đẹp, tâm của vị ấy hướng về sự thọ hưởng năm dục công đức không được tốt đẹp." (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, II. Phẩm Thứ Hai, X. Không Có Con)

Bởi vì ông bố thí trúng một bậc độc giác Phật, bậc viên giác, là bậc thánh cho nên ông được cái phước là sanh giàu cực kỳ nhưng với một cái ý nghĩ bất thiện như vậy cho nên ông không có được hưởng. Khi chết thì tài sản xung vào công quỹ, khi còn sống thì ăn đồ hôi, đồ thiu, đồ thừa, chính con nhìn thấy không phải trong kinh nữa mà ngay trong bà con dòng họ của con, có người cô trong dòng họ giàu cực kỳ nổi tiếng ở trong cái vùng đó nhưng đi đôi dép đứt thì lấy cọng kẽm buộc lại, cái áo thì mỏng manh, bị bạc màu, phai màu hết trơn, không dám ăn nên cơ thể teo héo lại như con khô, tiền rất nhiều mà không dám dùng rồi để mấy đứa cháu giựt hết, lấy hết thành ra đó là nhân quả của mỗi người.

Quý vị có điều kiện, có phước báo, hãy nhớ rằng nhờ cái phước báo, công đức bố thí, cúng dường đời trước mà mình được giàu có thì hãy tiếp tục làm, đừng có để giàu có đó biến trở thành nghèo khó ở trong cuối đời và nhiều kiếp sau. Người nghèo khó mà họ cho thì công đức, phước báo lên gấp một ngàn lần đồng tiền vàng, biết hồi xưa đồng tiền vàng thì giống như một trăm đô la hay một trăm euro bây giờ, nó quý vậy đó, một đồng tiền vàng hồi xưa có giá trị cáo nhất cho nên người nghèo cho một đồng thì bằng một ngàn đô la tại vì một đồng của người ta rất là lớn, nhiều khi ăn xin suốt cả ngày, nửa ngày trời, có khi ba bốn ngày mới được cho chứ đâu có ai cho đâu.

"Rồi một vị Thiên khác nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:

Khó thay sự đem cho,

Khó thay làm hạnh ấy.

Kẻ ác khó tùy thuận,

Khó thay pháp bậc lành.

Do vậy kẻ hiền, ác,

Sanh thú phải sai khác,

Kẻ ác sanh địa ngục,

Người lành lên cõi trời." (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương I. Tương Ưng Chư Thiên, IV. Phẩm Quần Tiên, II. Xan Tham)

Một vị chư thiên than khó thay là sự đem cho, khó thay là làm hạnh ấy, không phải dễ. Cái bố thí. cúng dường thấy vậy chứ không phải dễ, khó làm chứ không phải vậy, mình muốn làm được điều đó thì phải chiến thắng với cái tâm bủn xỉn, tham lam của mình rất nhiều. Sự khác biệt giữa người hiền và người dữ, người thiện và người ác tức là một người đi xuống dưới địa ngục, một người sanh lên thiên giới.

"Rồi một vị Thiên khác bạch Thế Tôn:

-- Bạch Thế Tôn, trong tất cả vị ấy, vị nào đã nói một cách tốt đẹp?

-- Về vấn đề này, tất cả các Ông đã nói một cách tốt đẹp. Tuy vậy hãy nghe Ta:

Sở hành vẫn chơn chánh,

Dầu phải sống vụn vặt,

Dầu phải nuôi vợ con,

Với đồ ăn lượm lặt,

Nhưng vẫn bố thí được,

Từ vật chứa ít ỏi,

Từ ngàn người bố thí,

Từ trăm ngàn vật cho,

Trị giá không ngang bằng,

Kẻ bố thí như vậy." (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương I. Tương Ưng Chư Thiên, IV. Phẩm Quần Tiên, II. Xan Tham)

Một vị trời bạch Thế Tôn trong tất cả các vị ấy vị nào nói một cách tốt đẹp, nãy giờ bao nhiêu các vị thiên trình bày cái thấy của mình, trình bày cái kinh nghiệm của mình, trình bày cái nhìn của mình, quan điểm mình, vậy thì trong các vị ấy vị nào nói hay nhất. Thế Tôn nói các ông người nào nói cũng đúng hết, cũng hay hết nhưng mà các ông hãy nghe ta.

Đức Phật nói người này làm việc rất chơn chân dù phải sống nghèo khó, tuy là có đời sống nghèo khó nhưng lối sống chân chánh, dù phải nuôi vợ con với đồ ăn đi nhặt, đi lượm phế liệu nhưng vẫn bố thí được. Chúng ta thấy có những người nghèo, người ăn xin sẵn sàng giúp đỡ, sẵn sàng cho, đó là cho bằng tất cả tấm lòng mà còn sống một đời sống chân chánh, đức hạnh mà là người nghèo khó đi lượm nhặt đồ ăn. Cho nên có hình ảnh mà con nhớ mãi không quên, hôm đó con xuống dưới bếp chùa Bửu Liên, con cũng ít có xuống bếp lắm thì gặp một cô Phật tử chạy lại nói "thầy ơi, thầy ơi, con mừng quá bữa nay con gặp thầy", cô cầm lại một cây chổi, một bịch bột ngọt, một chai nước tương, một chai dầu, "Thầy ơi con đi ở đợ cho người ta, con đi làm mướn mỗi hai ba tháng là con dành dụm tiền mua đường, dầu, bột ngọt, nước tương đem đến chùa cúng", cô nói ở trong cái nước mắt, đó là cái hạnh phúc khi cô gặp được quý thầy, gặp được chư Tăng.

Khi cô làm được một điều thiện như vậy cô trào dâng nước mắt và lúc đó con cũng ứa lệ, hình ảnh đó mỗi khi nhắc lại rất là xúc động. "Con đi ở đợ mỗi hai ba tháng là con dành dụm một ít thực phẩm đến cúng chùa", hình ảnh đó khắc vào tim con cũng khoảng là mười lăm, hai mươi năm rồi cho nên con gặp những người nghèo đi đến chùa thì con rất là để ý quan tâm. Có một cô Phật tử thuần thành cũng chùa Bửu Liên, con biết hồi lúc còn chú tiểu, lâu lắm không gặp bữa đó gặp cô thì con hỏi:

Sao vậy? Sao lâu quá không tới chùa?

Thầy ơi con làm ăn thất nghiệp không có tiền cúng chùa, con không dám đi.

Cô đừng nghĩ vậy, nghĩ vậy là sai rồi, trong những lúc này chúng con là người tu sẽ chăm sóc cho cô. Bình thường khi cô làm ăn được có tiền của cô hộ trì Tam Bảo, và trong những lúc cô khó khăn này là những lúc chúng con là những người tu sẽ chăm sóc về tinh thần cho cô.

Thậm chí có những Phật tử, lâu lâu con về có cô này hình như là bị tai biến nhẹ, cũng méo miệng, chân đi què quặc, hồi xưa nấu cơm trong chùa Bửu Liên cách đây là hai mươi lăm năm. Cô đến "Thầy ơi con không có tiền uống thuốc", con thấy vậy là con lấy ra liền, cho nên rất cần những cái tình thương trong cuộc đời này. Mình sống có bao lâu, có khi chớp mắt đã trở thành người thiên cổ, tại sao mình có những cái điều kiện như vậy mà mình không có san sẻ, sớt chia? Thật là đáng thương cho mình lắm nếu mình không biết thực hành bố thí, không biết thực hành san sẻ, sớt chia. Hôm nay con tận dụng thời gian của buổi lễ chay Tăng này cho chúng ta một bài học đầy đủ tương đối về phương diện thực hành bố thí, cúng dường để chúng ta hiểu vì con cũng rất ít giảng đề tài này.

Chúng ta thấy đó, "thầy ơi con đi ở đợ cho người ta, hai ba tháng con dành dụm mua một ít thực phẩm đến chùa", nếu như mình ở trong bếp mà mình phung phí như vậy thì mình biết trong đó là mồ hôi, nước mắt và máu cho nên con thường nhắc có những vị cúng dường với một cái bản ngã, cúng là phải làm theo ý tôi thì cái đó có phước ít lắm. Mình kiểm tra đồ ăn của chùa còn cái gì thì mình làm cái đó xong đi rồi mình mua tiếp mình cúng, nhiều khi mình đem đồ của mình thì mình mới chịu còn đồ của người ta mình không chịu, mình để cho hư bỏ, cái đó phước báo không có trọn vẹn. Mình phải hỏi người có trách nhiệm ở trong bếp, hỏi thầy làm thế nào cho phù hợp, thành ra tu chánh niệm, tu tâm từ, tu sự bố thí, cúng dường có nhiều phương diện, khí cạnh, góc độ, trí tuệ lắm chứ không phải chỉ có đem vô cúng là xong.

Hồi nãy thầy Thiện Huệ đọc tám cách bố thí của bậc chân nhân, chắc chắn là chúng ta không có hiểu bao nhiêu đâu, phải giảng giải ra chúng ta mới hiểu, cho nên cái pháp bố thí trong Nikāya dạy rất là thâm sâu, rộng lớn, không có đơn giản giống như trước nay mình hiểu đơn giản như vậy. Đức Thế Tôn nói một người bố thí mà nghèo khó như vậy, đi lượm lặc đồ ăn như vậy mà bố thí vẫn được thì từ một ngàn người bố thí cho đến một trăm ngàn vật cho giá trị không ngang bằng cái người bố thí như vậy.

"Rồi một vị Thiên khác nói lên bài kệ này với Thế Tôn:

Vì sao họ bố thí,

Rộng lớn nhiều như vậy,

Trị giá không ngang bằng,

Kẻ nghèo, chơn bố thí?

Sao ngàn người bố thí,

Từ trăm ngàn vật cho,

Trị giá không ngang bằng,

Kẻ bố thí như vậy?" (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương I. Tương Ưng Chư Thiên, IV. Phẩm Quần Tiên, II. Xan Tham)

Vị chư thiên này thắc mắc con giàu con cũng cúng vậy mà sao nói người nghèo này mới có phước nhiều hơn là sao? Đức Phật mới trả lời bài kệ này là kết thúc bản kinh.

"Rồi Thế Tôn nói lên bài kệ này với vị Thiên ấy:

Có những người bố thí,

Một cách bất bình thường,

Sau khi chém và giết,

Mới làm vơi nỗi sầu.

Sự bố thí như vậy,

Đầy nước mắt đánh đập,

Trị giá không ngang bằng,

Kẻ nghèo, chơn bố thí.

Từ ngàn người bố thí,

Từ trăm ngàn vật cho,

Trị giá không ngang bằng,

Kẻ bố thí như vậy." (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương I. Tương Ưng Chư Thiên, IV. Phẩm Quần Tiên, II. Xan Tham)

Ý Đức Phật nói những người bố thí rất là lớn nhưng họ làm những nghề không có chánh mạng, thậm chí họ sát sanh, họ chém giết, họ đem cái đồng tiền đó bố thí vẫn có phước nhưng nó không bằng cái người vừa nói ở trên. Chúng ta có thấy cái này không ạ? Đức Phật dạy có năm sự cúng dường, đầu tiên là cúng dường cho cha mẹ.

"Ở đây, này Mahànàma, thiện nam tử, với những tài sản thâu hoạch được do nỗ lực tinh tấn, tích lũy được do sức mạnh cách tay, do mồ hôi đổ ra đúng pháp, thâu hoạch đúng pháp, cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường cha mẹ. Cha mẹ được người ấy cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường với thiện ý, khởi lên lòng thương mến người ấy: 'Mong rằng (con ta) được sống lâu! Mong rằng thọ mạng được che chở lâu dài!' Và này Mahànàma, với một thiện nam tử được cha mẹ thương tưởng, chờ đợi là sự tăng trưởng, không phải là giảm thiểu." (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, VI. Phẩm Triền Cái, (VIII). Thanh Niên Licchavi)

Đó là pháp cúng dường thứ nhất là cúng dường cho cha mẹ, cúng dường thứ hai là cúng dường cho vợ con, cho người phục vụ, cho người làm công và ho vợ con của người phục vụ làm công, cúng dường thứ ba là cúng dường các người làm ruộng các chức sắc ở biên cương, cúng dường thứ tư là cúng dường cho chư thiên nhận lãnh các vật cúng, cúng dường sau cùng là cúng dường cho các bậc tu hành.

"Các Sa-môn, Bà-la-môn được người ấy cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường với thiện ý, khởi lên trong lòng thương tưởng người ấy: 'Mong rằng được sống lâu! Mong rằng thọ mạng được che chở lâu dài.' Và này Mahànama, với một thiện nam tử được các Sa-môn, Bà-la-môn thương tưởng, được chờ đợi là sự tăng trưởng, không phải là giảm thiểu." (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, VI. Phẩm Triền Cái, (VIII). Thanh Niên Licchavi)

V. Biết ơn – cung kính

Đó là năm sự cúng dường, đầu tiên là cúng dường cho cha mẹ, vợ con nói gọn cho mình dễ nhớ là anh chị em, bà con, những người làm cho mình, những người đem lại sự bình an cho mình, mình cũng phải có một cái tâm giúp đỡ cho họ, tiếp theo là những chư thiên và cuối cùng là những bậc tu hành. Đó là năm chỗ để mình gieo phước, rồi với một cái tâm cúng dường và cái tâm kết thúc là cái tâm biết ơn.

"Một thời, Thế Tôn trú giữa dòng họ Sakka (Thích-Ca), ở Kapilavatthu (Ca-ty-la-vệ), tại tinh xá Nigrodha (Ni-câu-luật Thọ Viên).

Rồi Mahapajapati Gotami (Củ đàm Nữ Ma-ha-ba-xà-bà-đề), đem theo một cặp y mới, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Mahapajapati Gotami bạch Thế Tôn:

-- Bạch Thế Tôn, cặp y mới này do con cắt và dệt đặc biệt cho Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn vì lòng từ mẫn hãy nhận lấy cho con.

Khi được nghe nói vậy, Thế Tôn nói với Mahapajapati Gotami:

-- Này Gotami, hãy cúng dường Tăng chúng. Bà cúng dường Tăng chúng, thời Ta sẽ được cung kính, và cả Tăng chúng cũng vậy.

Lần thứ hai, Mahapajapati Gotami bạch Thế Tôn:

-- Bạch Thế Tôn, cặp y mới này do con cắt và dệt… hãy nhận lấy cho con.

Lần thứ hai, Thế Tôn nói với Mahapajapati Gotami:

-- Này Gotami, hãy cúng dường Tăng chúng… và cả Tăng chúng cũng vậy.

Lần thứ ba, Mahapajapati Gotami bạch Thế Tôn:

-- Bạch Thế Tôn, cặp y mới này do con cắt và dệt ... hãy nhận lấy cho con.

Lần thứ ba, Thế Tôn nói với Mahapajapati Gotami :

-- Này Gotami, hãy cúng dường Tăng chúng... và cả tăng chúng cũng vậy.

Khi được nghe nói vậy, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

-- Thế Tôn hãy nhận cặp y mới cho Mahapajapati Gotami! Bạch Thế Tôn, Mahapajapati Gotami đã giúp ích nhiều cho Thế Tôn, là thúc mẫu, là dưỡng mẫu, đã nuôi dưỡng Thế Tôn, đã cho Thế Tôn bú sữa, vì rằng sau khi sanh, thân mẫu của Thế Tôn mệnh chung, chính bà đã cho Thế Tôn bú sữa. Bạch Thế Tôn, và Thế Tôn cũng giúp ích nhiều cho Mahapajapati Gotami. Bạch Thế Tôn, chính nhờ Thế Tôn, Mahapajapati Gotami đã quy y Phật, quy Pháp, quy y Tăng. Bạch Thế Tôn, chính nhờ Thế Tôn, Mahapajapati từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ đắm say các loại rượu đem lại. Bạch Thế Tôn, chính nhờ Thế Tôn, Mahapajapati Gotami có đầy đủ lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật, đầy đủ lòng tịnh tín bất động đối với Pháp, đầy đủ lòng tịnh tín bất động đối với chúng Tăng, đầy đủ các giới luật làm bậc Thánh hoan hỉ. Bạch Thế Tôn, chính nhờ Thế Tôn, Mahapajapati Gotami không còn nghi ngờ đối với Khổ, không còn nghi ngờ đối với Khổ tập, không còn nghi ngờ đối với Khổ diệt, không còn nghi ngờ đối với Con Ðường đưa đến khổ diệt. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn cũng đã giúp ích nhiều cho Mahapajapati Gotami.

-- Thật là như vậy, này Ananda! Thật là như vậy, này Ananda! Này Ananda, nếu do nhờ một người, mà một người khác được quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, thời này Ananda, Ta nói rằng người này không có một đền ơn nào xứng đáng đối với người kia về đảnh lễ, đứng đậy, chấp tay, về làm những việc thích hợp và về dâng cúng các sự cúng dường như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh." (Trung Bộ Kinh, 142. Kinh Phân biệt cúng dường)

Nếu mình nhờ người nào mà mình được quy y tam bảo thì người giúp cho mình được quy y tam bảo không có cách nào đền đáp ân đức cho xứng đáng đối với người đó. Cái người giúp mình quy y tam bảo, thọ trì năm giới thì người đó là đại ân nhân thứ nhất của mình. Người thứ hai là giúp cho mình thấy được sự khổ, chánh kiến, mình không bao giờ đền đáp hết ân đức dù mình làm tất cả và người thứ ba là người giúp cho mình đoạn tận tham, sân, si, diệt hết bản ngã. Đây là ba bậc tối thượng trong cuộc đời mình, ba đại ân đức, đại ân nhân vĩ đại mình không bao giờ có cách nào báo đáp hết. Đó là người giúp mình quy y tam bảo, thọ trì năm giới, người thứ hai là người giúp mình thành tựu chánh kiến, thấy được khổ và người thứ ba là người dạy dỗ cho mình đoạn tận tham, sân, si, lậu hoặc, đó là ân đức của mình.

Hôm nay quay trở lại gia đình của cô Hiền Thục, mẹ hiền đưa các con trong cái ngày vui nhất đúng ra là phải sát sanh, tiệc tùng, đãi đằng, tạo những cái nghiệp ác nhưng cô đã hướng dẫn con trở về nơi tam bảo để lắng nghe những chánh pháp vi diệu này. Như vậy ơn đức của mẹ rất là lớn, tất cả các con hãy cảm nhận sâu sắc tấm lòng, việc làm và cả tấm lòng, cả một cái từ tâm mà cố gắng sống như thế nào cho có ý nghĩa, có lợi ích, có giá trị để đem lại hạnh phúc trong hiện tại và trong mai sau và chắc chắn những vị hương linh trong gia quyến của quý vị sẽ thấm nhuần phước báo rộng lớn của ngày hôm nay trong chánh pháp, thánh pháp tối thượng này và các vị hiện tại có mặt cũng như là Phật tử Trần Thị Thỏa chắc chắn sẽ được nhiều lợi ích, nhiều an lạc, nhiều hạnh phúc.

Thay mặt cho chư tôn đức, chư hiền trí nguyện lan tỏa thiện lành này, phước báo này cùng khắp đến vùng đất này, trời đất này, lan tỏa đến tất cả sơn thần, thiên thần, thọ thần, hư không thần, phong thần, tất cả chư vị hộ pháp đều được thấm nhuần ân đức này, phước báo này, thiện lành này, lan tỏa tâm từ, tâm thiện, phước báo này đến cùng khắp địa cầu, tất cả tất cả hành tinh, mười ngàn thế giới. Nguyện cho tất cả chúng sanh đều tin sâu nhân quả, thành tựu chánh kiến, diệt tham, sân, si, từ, bi, hỷ, xả, sống trong an lạc và hạnh phúc của chánh pháp.

Thầy Thiện Huệ:

"Chư Phật thời quá khứ,

Chư Phật thời vị lai,

Và đức Phật hiện tại,

Ðoạn sầu muộn nhiều người.

Tất cả các vị ấy,

Ðã, đang và sẽ sống,

Cung kính và tôn trọng,

Pháp chơn chánh vi diệu,

Pháp nhĩ là như vậy,

Ðối với chư Phật-đà.

Do vậy, muốn lợi ích,

Ước vọng làm Ðại nhân,

Hãy cung kính, tôn trọng

Pháp chơn chánh vi diệu,

Hãy ghi nhớ giáo pháp,

Chư Phật Chánh Ðẳng Giác." (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương VI. Tương Ưng Phạm Thiên, I. Phẩm Thứ Nhất II. Cung Kính)

Vừa qua trên thượng tọa chứng minh đã ban bố những lời chánh pháp vô cùng quý báo, tất cả quý vị chúng ta hãy thọ trì, giữ gìn và thực hành. Vào giờ này quý vị chúng ta khởi thân đảnh lễ ân đức của tam bảo tam bái.

Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho những người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Đức Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Bạch Thế Tôn, chúng con xin quy y Thế Tôn, chúng con xin quy y chánh Pháp, chúng con xin quy y chúng Tăng. Mong Thế Tôn nhận chúng con làm đệ tử. Từ nay cho đến mạng chung, chúng con trọn đời quy ngưỡng.

Con chân thành đảnh lễ

Phật Thích Ca Mâu Ni

Đời này con xin nguyện:

“Thấy biết rõ ngũ uẩn,

Thấy biết rõ tự thân,

Thành tựu chánh tri kiến,

Thể nhập vào Thánh quả,

Con nguyện xứng đáng là

Người con Phật chân chánh”.

Con xin đảnh lễ Ngài

Phật Thích Ca Mâu Ni

Bậc đoạn tận tham ái,

Bậc đoạn tận sợ hãi,

Tâm Ngài không dao động,

Tâm không nhiễm thế gian.

Con xin đảnh lễ Ngài

Phật Thích Ca Mâu Ni

Bậc Vô Thượng giải thoát

Ngài là thầy của con

Ngài - vị dẫn đường con

Ngài - vị con quy ngưỡng

Con chân thành quy hướng

Đảnh lễ bậc Vô Thượng

Đảnh lễ bậc Chánh Giác

“Con xin quy phục Ngài,

Con xin làm đệ tử,

Làm con ngoan của Ngài”.

“Con xin quy phục Pháp,

Quy phục Pháp Tám Đúng,

Nguyện thành tựu Tám Đúng”.

“Con xin tôn kính Tăng,

Tôn kính đời Giới Đức,

Nguyện thành tựu Giới Đức”.

./.