Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Năm Triền Cái 4 - Phân Tích 5 Triền Cái

2026-03-03 00:55:14
5 TRIỀN CÁI 4

PHÂN TÍCH 5 TRIỀN CÁI

THÍCH MINH THÀNH

Một thời, Thế Tôn trú ở Bàrànasi, tại Isipatana vườn Nai.

Rồi Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào Ba-la-nại để khất thực. Thế Tôn, trong khi đi khất thực tại Goyogapilakkha, gần cây sung, chỗ cột đàn bò, thấy một Tỳ-kheo hưởng thọ hương vị trống không, không có Thiền định, hưởng thọ hương vị hướng ngoại của vật dục, thất niệm, không tỉnh giác, không định tĩnh, với tâm tán loạn, với các căn phóng túng. Thấy vậy, Thế Tôn liền nói với vị Tỳ-kheo ấy:

Này Tỳ-kheo, này Tỳ-kheo! Thầy chớ có làm cho tự ngã trở thành thối nát. Này Tỳ-kheo, ai làm cho tự ngã thối nát đầy ứ, thoát ra toàn mùi hôi thối, rồi mong rằng các loài ruồi lằng sẽ không bu đậu, sẽ không có chiếm cứ, sự kiện như vậy không xảy ra.

Tỳ-kheo ấy được Thế Tôn giáo giới với lời giáo giới như vậy, cảm thấy xúc động mạnh. Rồi Thế Tôn, sau khi đi khất thực ở Ba-la-nại xong, sau bữa ăn, sau khi đi khất thực trở về, bảo các Tỳ-kheo:

 Này các Tỳ-kheo, ở đây, sau khi đắp y vào buổi sáng, Ta cầm lấy y bát, đi vào Ba-la-nại để khất thực. Này các Tỳ-kheo, trong khi đi khất thực tại Goyogapilakkha, Ta thấy một Tỷ-kheo hưởng thọ hương vị trống không, không có Thiền định, hưởng thọ hương vị hướng ngoại của vật dục, thất niệm, không tỉnh giác, không định tĩnh, với tâm tán loạn, với các căn phóng túng. Thấy vậy, Ta liền nói với vị Tỳ-kheo ấy: "Này Tỳ-kheo, này Tỳ-kheo! Thầy chớ có làm cho tự ngã trở thành thối nát. Này Tỳ-kheo, ai làm cho tự ngã thối nát đầy ứ, thoát ra toàn mùi hôi thối, rồi mong rằng: "Các loài ruồi lằng sẽ không bu đậu, sẽ không có chiếm cứ, sự kiện như vậy không xảy ra"".

Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ấy được ta giáo giới với lời giáo giới này, cảm thấy xúc động mạnh.

Khi nghe nói như vậy, một Tỳ-kheo bạch Thế Tôn:

- Bạch Thế Tôn, thối nát cái gì, mùi hôi thối cái gì, các loài ruồi lằng là gì? (Tăng Chi Bộ, Chương III. Ba Pháp, XIII. Phẩm Kusinàra, 126. Thối Nát).

Vị Tỳ-kheo này muốn Đức Thế Tôn khai triển rộng và làm sáng tỏ cái pháp này ra để bản thân của thầy, đại chúng, thậm chí là đời sau như chúng ta đây được lợi lạc, cho nên chúng ta mới có bài kinh này. Thế Tôn đã trả lời vị Tỳ-kheo ấy như sau:

Tham cầu, này các Tỳ-kheo, là thối nát; sân là mùi hôi thối, các suy tầm ác bất thiện là ruồi lằng. Này các Tỳ-kheo, ai làm cho các tự ngã thối nát, đầy ứ, thoát ra mùi hôi thối, rồi mong rằng: "Các loài ruồi lằng sẽ không bu đậu, sẽ không chiếm cứ", sự kiện như vậy không xảy ra.

Tai mắt không giữ gìn

Các căn không phòng hộ

Ruồi lằng sẽ bu đậu

Các tư duy tham ái

Tỳ-kheo làm thối nát

Ðầy ứ những mùi hôi

Xa thay là Niết-bàn!

Chịu phần về bất hạnh

Tại làng hay trong rừng

Tự ngã không an tịnh

Kẻ ngu và không trí

Ði đứng đầy ruồi lằng

Ai đầy đủ giới luật

Thích tịch tịnh trí tuệ

Sống an tịnh hạnh phúc

Mọi ruồi lằng diệt trừ.

(Tăng Chi Bộ, Chương III. Ba Pháp, XIII. Phẩm Kusinàra, 126. Thối Nát).

Sự kiện này là bài học rất sâu sắc để chúng ta phản tỉnh và chiêm nghiệm. Đức Thế Tôn trên đường khất thực đã nhìn thấy vị Tỳ-kheo hưởng thọ hương vị trống không, không có thiền định. Tức là hưởng thọ hương vị hướng ngoại của dục vật, hướng niệm, không tỉnh giác, tâm tán loạn và các căn phóng túng. Nghĩa là vị này ăn uống không có chánh niệm tỉnh giác, ngủ nghỉ hay đi đứng thô tháo, tán loạn, phóng túng và không phòng hộ các căn. Khi thấy như vậy thì với bổn phận của 1 vị thầy, Thế Tôn đã nhắc nhở, giáo giới, khiển trách: Này Tỳ-kheo ông chớ làm cho chính mình (tự ngã) thối nát, ông đừng làm cho ông trở thành thối rữa và vỡ nát.

Này Tỳ-kheo, ai làm cho tự ngã thối nát đầy ứ, thoát ra toàn mùi hôi thối, rồi mong rằng các loài ruồi lằng sẽ không bu đậu, sẽ không có chiếm cứ, sự kiện như vậy không xảy ra.

Tức là khi những món đồ đã hư thối thì các con ruồi nhặng sẽ bay tới. Những chỗ có xác chết đều có những con ruồi màu xanh to lớn, giòi bu vào ăn xác chết. Đó là sự kiện tất nhiên sẽ sanh ra. Với phong thái trang nghiêm, nghiêm tịnh, đầy oai đức của Thế Tôn thì với những lời nói như vầy của Ngài nên vị Tỳ-kheo đã xúc động mạnh. Đức Thế Tôn là vị thầy của trời và người, là bậc đại đạo sư của Tam giới, Ngài nói ra không phải vì sân hận hay bực dọc mà Ngài nói từ trong tâm thanh tịnh từ bi, nghiêm từ, sự từ tâm cho nên uy lực của lời nói rất lớn, thành ra vị Tỳ-kheo này chấn động mạnh. Với một cái tâm như vậy, các căn thả lỏng, không nhiếp niệm thiền định, không chánh niệm tỉnh giác, hướng ngoại dục hưởng thụ nên cơ hội để thành tựu Phạm hạnh là không có với vị Tỳ-kheo này nên trong kinh nói vị này xúc động mạnh chứ không nói chứng quả. Sau sự việc này Thế Tôn trở về thuật lại câu chuyện, có vị Tỳ-kheo hỏi sâu hơn về cái pháp mà Thế Tôn đã nói cho vị thầy khi nãy. Thế Tôn đã trả lời tham cầu là sự thối nát. Khi nghe Đức Phật nói như vậy mình phải cảm thấy xấu hổ, cái tâm của mình tham cầu sắc dục, tham cầu ái, tìm cầu, ham muốn, khao khát, nhiệt tình, khát ái đối với sắc dục, đối với những mùi hương, những vị, những sự xúc chạm, đối với những cái tưởng, suy nghĩ trong tâm vẫn còn mong muốn, hi vọng. Như vậy mình còn tham cầu là còn thối nát, chừng nào hết tham cầu mới hết thối nát. Một khi đã hết tham cầu thì chứng được quả vị thứ 3 A-na-hàm, còn quả vị thứ 2 Tư-đà-hàm là tham và sân muội lược, tức là tham và sân thoi thóp, gần như là chết. Còn quả vị thứ 3 là hoàn toàn dứt hẳn tham dục, thành ra mình còn phàm phu là còn thối nát vì còn dục tham. Nhiều khi mình không thấy sự thối nát mà tưởng mình tu cũng ngon lành. Đây là tưởng tri sai lầm, cho nên học bài này để chiêm nghiệm mình đang đứng ở vị trí nào, mình đang còn những cái gì, trạng thái hiện tại của mình là như thế nào. Vì vậy học nhận diện năm uẩn hay ở chỗ để mình xem trong cảm giác còn dục tham, còn ham muốn không, còn những dục tưởng trong nội tâm không, trong suy nghĩ còn nghĩ về sự tìm cầu, mong muốn không. Nếu còn những cái này là mình đang bị thối nát, sắc; thọ; tưởng; hành; thức của mình đều bị thối nát. Như vậy gọi là tự ngã hay là thân và tâm còn đầy ứ, thoát ra toàn mùi hôi thối. Cho nên khi mùi của tham dục bốc ra thì không hề dễ chịu chút nào, gặp mặt chỉ biết có tiền nên Phật tử bỏ đi hết. Còn người có giới hạnh, giới đức toát ra hương thơm, khi lại gần những vị Chân tu như Hòa Thượng Vạn Đức, Hòa Thượng Trúc Lâm hoặc những vị cao Tăng, những vị đức độ, đức hạnh là cảm được mùi hương của giới đức, của đạo hạnh. Khi tự ngã thoát ra mùi hôi thối thì ruồi nhặng bu lại đậu vào, bên trong tâm là tham mà tham không được là sân. Cái mùi đó bốc ra là sự khó chịu, bực bội. Cái mùi đó là mùi của tham sân, của bực dọc, khó chịu vì nó không thỏa mãn được cái mong cầu, mà nếu có được rồi thì lại muốn thêm, mà thêm không được thì sân

Các suy tầm ác bất thiện là ruồi lằng, suốt ngày đều nghĩ về dục tham, sân, hại, nghĩ về cống cao ngã mạn, ta đây hơn thua, tranh giành, danh lợi, ích kỉ… đầy rẫy hết những tư tưởng xấu ác, bất thiện. Suy là suy nghĩ, tầm là tìm cầu, tìm kiếm. Ở bên trong đó là tham cầu nên cứ suy nghĩ đi tìm hoài. Từ nhỏ cho tới lớn cũng tìm kiếm, trung niên rồi đến lão niên cũng tìm kiếm, chừng nào đến chỗ ly tham thì lúc đó mới hết tìm, còn tham là còn tìm mãi không dừng lại được. Cứ truy tầm, tìm kiếm, hi vọng, trông chờ, đeo đuổi hoài, không ngừng nghỉ.

Tai mắt không giữ gìn

Các căn không phòng hộ

Tai mắt của mình không giữ gìn, 6 căn bị thả lỏng, không phòng hộ thì chắc chắn ruồi nhặng sẽ bu đậu.

Các tư duy tham ái

Tỳ-kheo làm thối nát

Ở bên trong nội tâm các dục cứ thúc giục đi tìm. Thúc giục như vậy thì bên trong các tư duy sẽ sanh khởi, mà tư duy sanh khởi như vậy thì các căn sẽ phóng tìm, cho nên cứ trạo cử, không được an tịnh.

Ðầy ứ những mùi hôi

Xa thay là Niết-bàn!

Chịu phần về bất hạnh

Tại làng hay trong rừng

Tự ngã không an tịnh

Kẻ ngu và không trí

Ði đứng đầy ruồi lằng

Mình ở đâu cũng không được yên tịnh, đi đứng cũng suy tư về sự tìm kiếm.

Ai đầy đủ giới luật

Thích tịch tịnh trí tuệ

Sống an tịnh hạnh phúc

Mọi ruồi lằng diệt trừ.

Phải giữ giới và phải thích tịch tịnh trí huệ. Tịch tịnh nghĩa là thiền, tịch tịnh thì trí huệ sanh, trí huệ làm cho mình tịch tịnh, tịch tịnh thì duyên giúp cho mình được trí huệ.

Không trí tuệ, không thiền,

Không thiền, không trí tuệ.

Người có thiền có tuệ,

Nhất định gần Niết-Bàn.

(Kinh Pháp Cú 25 – Phẩm Tỳ-kheo, kệ 372)

Người được như vậy thì sống an tịnh, hạnh phúc ở bất cứ chỗ nào, dù trong rừng, trong hang động, nhà tranh vách đá hay ở cốc, mái hiên hay ôm bát đi lang thang, không còn ruồi muỗi, những con giòi đều loại trừ, diệt tận tất cả.

Này các Tỳ-kheo, có ba căn bản bất thiện này. Thế nào là ba? Tham là căn bản bất thiện, sân là căn bản bất thiện, si là căn bản bất thiện.

Cái gì là tham, này các Tỳ-kheo, cái ấy bất thiện. Ai với lòng tham có làm gì về thân, về lời, về ý, cái ấy bất thiện. Với ai có lòng tham, bị lòng tham chinh phục, tâm không được tự chủ, vu cáo làm người khác đau khổ, bằng cách sát hại, trói buộc, tịch thu tài sản, mắng nhiếc hay tẩn xuất, dựa trên: "Ta là sức mạnh, ta có sức mạnh." Cái ấy là bất thiện. Như vậy, rất nhiều ác bất thiện pháp này sanh từ tham, duyên khởi từ tham, tập khởi từ tham, khởi lên nơi người ấy.

Cái gì là sân, này các Tỳ-kheo, cái ấy bất thiện. Ai với lòng sân có làm gì về thân, về lời, về ý, cái ấy bất thiện. Với ai có lòng sân, bị lòng sân chinh phục, tâm không được tự chủ, vu cáo làm người khác đau khổ, bằng cách sát hại, trói buộc, tịch thu tài sản, mắng nhiếc hay tẩn xuất, dựa trên: "Ta là sức mạnh, ta có sức mạnh." Cái ấy là bất thiện. Như vậy, rất nhiều ác bất thiện pháp này sanh từ sân, duyên khởi từ sân, tập khởi từ sân, khởi lên nơi người ấy.

Cái gì là si, này các Tỳ-kheo, cái ấy bất thiện. Ai với lòng si có làm gì về thân, về lời, về ý, cái ấy bất thiện. Với ai có lòng si, bị lòng si chinh phục, tâm không được tự chủ, vu cáo làm người khác đau khổ, bằng cách sát hại, trói buộc, tịch thu tài sản, mắng nhiếc hay tẩn xuất, dựa trên: "Ta là sức mạnh, ta có sức mạnh." Cái ấy là bất thiện. Như vậy, rất nhiều ác bất thiện pháp này sanh từ si, duyên khởi từ si, tập khởi từ si, khởi lên nơi người ấy (Tăng Chi Bộ kinh, Chương III - Ba Pháp, VII. Phẩm Lớn, 69.- Các Căn Bản Bất Thiện)

Ở đây mình thấy tham sân si là cội gốc của các pháp bất thiện, hễ cái gì có tham sân si là cái đó bất thiện dù cho hình thức bên ngoài là một lớp áo hay nhãn hiệu là từ thiện nhưng bên trong là sự ích kỉ, tham lam thì cái đó vẫn không phải từ thiện. Thành ra chỗ này chúng ta phải nắm thật vững tinh thần của Đức Phật dạy, nếu chỉ nhìn màu sắc bên ngoài là không đúng, hễ cái gì là tham sân si thì cái đó là bất thiện. Muốn có được trí huệ để nhận ra tham sân si vận hành là cả một vấn đề, nếu không thường trực nhận diện lại năm uẩn, không nhìn lại cảm giác thì mình sẽ không thấy tham sân si, mình sẽ đồng hóa với nó, mình cho rằng "tôi đang nóng giận, người đó đụng chạm tới tôi nên tôi đang khó chịu". Tất cả những cái này là vô minh vì mình không thấy đó là cảm giác của bản ngã, cảm giác của sân hận, cảm giác của tham dục, tham ái. Mình không thấy được căn cứ địa của tham sân si thì làm sao mà mình nhiếp phục được tham sân si? Nói đầy đủ là mình phải luôn quay trở lại để nhìn thân thể của mình, gọi là quán thân trên thân, sắc đó là sắc thân, nói rộng ra sắc uẩn đó bao gồm cả thế giới, nói gọn là quán thân trên thân. Phải luôn nhìn các cử động của thân, luôn quay trở lại hơi thở, luôn nhìn các oai nghi, cử chỉ, hành vi thân sử dụng như thế nào thì mình phải biết thân đang sử dụng như thế đó. Mình niệm oai nghi, niệm hành động, niệm tứ đại, niệm 32 thể trược, niệm 9 giai đoạn của một tử thi, đây gọi là Thân Hành Niệm hay là hương vị của bất tử, cho nên người nào luôn luôn quay trở lại để nhìn, để kiểm soát, theo dõi, để ý thân thể, hơi thở, oai nghi, hành động, để ý về 4 đại vận hành, để ý 32 thể trược và luôn nhìn sâu vào chung cuộc của kiếp người là 9 giai đoạn của một tử thi thì người này là người gõ cánh cửa của bất tử. Vì phương pháp Thân Hành Niệm là phương pháp đưa mình gõ cánh cửa bất cửa, mở cánh cửa bất tử và thể nhập vào cảnh giới của bất tử. Ngay cả những bước này còn không nắm, không thuộc thì làm sao thực hành? Tất cả chúng ta hiện nay tu thiền thì đại đa số dừng lại ở con số 3, tức là chỉ niệm hơi thở, niệm oai nghi là niệm hành động nên cái pháp không đồng đều đầy đủ viên mãn tròn trịa, thành ra không đi tới cảnh giới thật sự chúng ta cần đến, tức là không thành tựu thánh quả, vì không đủ sức xuyên thủng khối vô minh to lớn này, không đủ sức để đánh sập cái tường thành của tham ái và chấp thủ đối với năm uẩn. Vì thế mình không thể dừng lại ở chỗ niệm hơi thở, niệm oai nghi, niệm hành động. Hơi thở chỉ biết thở ra thở vô, đi biết đi, đứng biết đứng, nằm biết nằm, ăn biết ăn, nói biết nói…, như vậy ai đi? Ai đứng? Ai nằm? Ai ngồi? Nếu cho đó là tôi, là của tôi, tôi đi, tôi đứng, tôi ngồi,… thì thất bại.

Vô văn phàm phu không gặp bậc Chân nhân, không đi đến các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh cho nên tưởng tri địa đại là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Khi đi, đứng, nằm, ngồi… phải thấy sự vận hành của tứ đại. Nếu bắt đầu thấy cơ thể nóng rần rần thì đó là hỏa đại, hay tự nhiên thấy vai bị nhức mỏi thì tác ý "địa đại này là khổ, là vô thường". Tác ý để ly tham, để nhàm chán, không ưa thích, khoang khoái nữa. Cứ quán hoài để nhàm chán, còn không quán gì hết, nghĩ rằng tôi đi, tôi ăn, tôi đẹp, tôi nằm thì đó là thất bại, sự tịnh tưởng đó là thức ăn cho dục tham triền cái. Quán bất tịnh, quán 32 thể trược, quán 9 giai đoạn tử thi, một đống thịt bầy nhầy đầy giòi trong đó, 200 người đi đưa tang 1 người và cuối cùng những người đi đưa tang lại thành những người bị người khác đưa tang. Đau lòng! Xót xa! Tất cả chúng ta ngồi đây chưa chắc lúc sau về chùa còn được đông đủ, đó là sự thật! Một chiếc máy bay hơn 150 người, trong đó có hàng chục vị đi họp ở Liên Hợp Quốc về vấn đề môi trường. Máy bay bị rớt thì tất cả đều chết, khi vào hội nghị họp thì trống hàng chục cái ghế, gia đình hay chính bản thân những người ngồi trong máy bay có biết đây là chuyến bay cuối cùng của cuộc đời họ không? Mình là những kẻ điếc không sợ súng, dao mác, những vũ khí để giết người đầy rẫy hết mà mình không thấy, chừng nào nó hạ gục mình thì mới biết là muộn màng.

Và người khác không biết,

Chúng ta đây bị hại.

Chỗ ấy, ai hiểu được

Tranh luận được lắng êm.

(Kinh Pháp Cú 01 – Phẩm Song Yếu, kệ 06)

Chúng ta bị bệnh tật, tai nạn giao thông, cái chết hại mình. Hơn 12 triệu người Việt Nam bị cao huyết áp, con số đó chưa tính đến những người bị tiểu đường, HIV và những chứng bệnh khác. Vậy mà mình không thấy sợ, không biết lo, nếu mình suy nghĩ sâu sắc, quán chiếu được những điều này thì việc tu sẽ bới tham sân si, bớt bản ngã ngay lập tức. Như vậy mới gọi là Pháp do Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu (Tương Ưng Bộ, tập V. Thiên Đại Phẩm, chương IX. Tương Ưng Dự Lưu). Chúng ta phải luôn luôn nhìn lại Thân Hành Niệm, phải thuộc lòng và thực tập niệm 6 phương pháp trong Thân Hành Niệm. Trong trang linhquyphapan.vn có phân loại đầy đủ tất cả những giáo nghĩa trong tạng kinh Nikāya, hiện tại những cái căn bản đã có và đang phát triển hơn nữa. Mọi người phải nắm Thân Hành Niệm thật vững, nếu pháp học không nắm vững thì không hành trì pháp hành được.

Cảm thọ, cảm giác hết sức quan trọng vì nó là nhịp cầu gắn kết giữa sắc và tưởng; hành; thức. Đức Phật đã nói tất cả pháp lấy thọ làm chỗ quy tụ (Tăng Chi Bộ, Chương VIII. Tám Pháp, IX. Phẩm Niệm, (III) (83) Cội rễ Của Sự Vật). Thọ là nơi hội tụ tất cả các pháp cho nên mình luôn để ý, nhìn kĩ vào trong cảm thọ sẽ thấy được tham sân si sanh khởi ra sao và bản ngã hách dịch ra sao mình đều thấy hết qua cảm giác. Vì thế khi nhìn vào thọ thì tất cả chân tướng của các pháp đều hiển lộ. Cái thọ này là sào huyệt của phiền não, là hang ổ của tham sân si, là căn cứ địa của tất cả cấu nhiễm bất thiện pháp. Phải nhìn thật sâu vào cảm thọ, hiện tại trong cảm thọ có dục thúc giục cho nên chúng ta phải nhiếp phục cái dục trong cảm thọ. Cảm thọ sân bực lên thì từ trong lồng ngực nóng rồi lan lên mặt, mình sẽ thấy được từ lúc nó mới manh nha. Đây gọi là thánh trí, đây không phải là trí huệ thông thường mà là trí huệ của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, của đấng Thiện Thệ. Chỉ có bậc Chánh Biến Tri mới có thể chỉ cho mình nhìn sâu vào sắc; thọ; tưởng; hành; thức, chỉ cho mình biết thế nào là sự tập khởi của sắc; thọ; tưởng; hành; thức, thế nào là sự diệt tận vô minh và tham ái đối với sắc; thọ; tưởng; hành; thức, thế nào là đạo lộ để đưa đến sự chấm dứt tất cả dục ái, tham sân si và bản ngã, tất cả đều được Đức Phật chỉ ra rõ ràng. Tự động đọc kinh Nikāya sẽ không thể hiểu được mà phải vào trang linhquyphapan.vn nghe những bài quan trọng khái quát về tạng kinh Nikāya, phải nghe mỗi ngày 1 bài từ 1-3 tháng. Khi nghe như vậy là mình đã nắm được chìa khóa, đến khi mình mở tạng kinh ra đọc chỉ như mình mở cửa vào nhà mình. Nếu không nghe trước những bài giảng, không nghe trước những bài hướng dẫn pháp hành để nắm vững thì mở kinh ra giống như lạc vào rừng. Những gì Minh Thành giảng là những cái cương lĩnh, những điều then chốt, cốt lõi trong giáo pháp, nắm được cái này rồi thì mở tạng kinh Nikāya ra đọc rất dễ hiểu và có thể nắm vững được.

Minh Thành mong các huynh đệ cố gắng thực tập và hành trì, còn mình học suông rồi nói trên miệng, tới khi trở về không nắm được gì thì rất uổng. Sau khi tốt nghiệp Cao Đẳng phải thành tựu phần nào về thánh trí năm uẩn, biết được cái nào là sắc; thọ; tưởng; hành; thức và mình nhận diện ở mọi lúc mọi nơi, khi nào muốn nhìn là thấy được nó ngay, phải có sự nhiếp phục tham sân si, bản ngã trong cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức. Quý huynh đệ nắm được những cái này thì sau khi ra trường là tung hoành Tam giới, bất cứ chỗ nào quý huynh đệ hướng dẫn pháp học và pháp hành đều vững chắc. Nó có một đạo lộ tuần tự rất rõ ràng chứ không phải như mình học lung tung. Khi đã nắm được đạo lộ giải thoát của tạng kinh Nikāya thì mình hành trì rất chắc chắn. Mình phải nhìn được những hình bóng trong nội tâm mình là tưởng. Tưởng chính là những hình bóng, hình tướng trong nội tâm. Hành là những suy nghĩ hay sự vận hành của tâm. Thức là sự rõ biết. Lúc nào đi, đứng, nằm, ngồi cũng nhìn lại xem mình có cảm giác gì, trong tâm mình có hình bóng gì, suy nghĩ đang nói cái gì và mình nhiếp phục, làm chủ nó, không nghe theo lời xúi giục nó. Như vậy là mình là chủ tâm, nếu không là nó làm chủ mình.

./.