Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

3. Nhận Diện Ngũ Uẩn 1 và 2

2026-03-03 00:55:14
TINH HOA NIKAYA - NHẬN DIỆN NGŨ UẨN 1 VÀ 2

Thích Minh Thành

Kính bạch trên chư tôn đức Hòa Thượng viện chủ, chư tôn đức trong ban tổ chức, chư Tăng và chư Ni. Con pháp danh là Thích Minh Thành, được sự chỉ dạy của Hòa Thượng hiệu phó thường trực, viện chủ chùa Huỳnh Kim. Hôm nay là ngày đầu tiên con ra mắt quý thầy, quý cô theo lời dạy của Hòa Thượng cũng như thầy trụ trì thì các bậc tôn đức luôn luôn ưu tư, trăn trở về pháp hành. Hiện tại chúng ta học rất nhiều môn học, rất nhiều kiến thức, nhất là thời đại công nghệ phát triển nên kiến thức rất rộng và rất nhiều nhưng để đào sâu vào pháp tạng và có được đường lối hành trì là một điều cực kì khó khăn, cho nên Thượng Tọa trụ trì cũng chia sẻ với con, chia sẻ với quý thầy cô về pháp hành trong kinh A-Hàm và kinh Nikāya, tức là một đường lối về sự hành trì, về sự thực tập theo tuần tự đạo lộ từ những lời dạy nguyên chất của Đức Phật. Con mong muốn cúng dường đến các thầy, các cô phương pháp hành trì theo lời dạy nguyên chất trong kinh tạng Nikāya và A-Hàm. Con được sự chỉ dạy trong vòng vài ngày thôi nên con chưa biết quý thầy, quý cô bên đây học chương trình như thế nào cho nên ngày đầu tiên chúng ta sẽ giới thiệu tổng quát.

Điều quan trọng trong đời sống không nhà, đời sống không gia đình, đời sống của người tu sĩ là gì? Đức Thế Tôn dạy chúng ta những gì? Lời nói nào có thể tóm thâu hết tất cả thánh giáo của Đức Phật? Đã được học nhiều kinh luận nên bây giờ Đức Phật dạy những gì, mình có thể tóm gọn trong một câu không? Trọng tâm, cốt tủy, trái tim của thánh giáo là gì? Chúng ta học mênh mông rồi chỗ quy túc là chỗ nào? Theo như lời Đức Thế Tôn nói với chúng ta trong kinh tạng Nikāya:

Chư Tỳ-kheo, xưa cũng như nay, Ta chỉ nói lên sự khổ và sự diệt khổ. (Trung Bộ Kinh, 22. Kinh Ví dụ con rắn, (Xuyên tạc Như Lai))

Câu nói đó là tóm thâu toàn bộ giáo pháp của Đức Phật, nếu người tu học nhiều đến mức độ nào nhưng chưa thấy hai điều này là vẫn chưa chạm đến thánh giáo của Đức Phật. Mình ở trong chùa hàng chục năm rồi đã thật sự thấy khổ chưa? Nếu chưa thấy khổ là vẫn chưa thấy pháp, cho đến khi nào mình thấy, mình chạm đến sự thật của khổ đau thì lúc đó cũng đồng thời thấy được nguyên nhân của đau khổ.

Này các Tỳ-kheo, ai thấy Khổ, người ấy cũng thấy Khổ tập, cũng thấy Khổ diệt, cũng thấy Con Ðường đưa đến Khổ diệt. Ai thấy Khổ tập, người ấy cũng thấy Khổ, cũng thấy Khổ diệt, cũng thấy Con Ðường đưa đến Khổ diệt. Ai thấy Khổ diệt, người ấy cũng thấy Khổ, cũng thấy Khổ tập, cũng thấy Con Ðường đưa đến Khổ diệt. Ai thấy Con Ðường đưa đến Khổ diệt, người ấy cũng thấy Khổ, cũng thấy Khổ tập, cũng thấy Khổ diệt. (Tương Ưng Bộ, Tập V – Thiên Đại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), III. Phẩm Kotigàma, X. Gavampati)

Bài kinh đầu tiên của Đức Phật chuyển pháp luân chính là Tứ Thánh Đế, những gì mình tâm đắc, quan trọng nhất thì có phải chúng ta chia sẻ, đề cập đến nó đầu tiên hoặc nói những cái quan trọng trước? Mình phải nói những cái quan trọng, cốt lõi đầu tiên nên chính bài pháp đó là tóm thâu, những lời sau mà Đức Phật nói trong bốn bộ Nikāya hay năm bộ A-Hàm đều để diễn giải rộng ra các khía cạnh, phương diện cho sự thật đó mà thôi. Nói thì dễ nhưng để hiểu được thì đó là cả một sự thật đánh đổi suốt cuộc đời.

Này các Tỳ-kheo, một sự thật các thầy cần phải cố gắng để thấy rõ được đây là khổ, đây là nguyên nhân của khổ, đây là sự chấm dứt khổ và đây là con đường đưa đến diệt tận khổ đau (Tương Ưng Bộ, Tập V- Thiên Đại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật, I. Phẩm Định).

Điều quan trọng là căn cứ địa của khổ được xác lập ở đâu phải được nói rõ chứ không nói chung chung được, hang ổ, nguồn cội, gốc rễ, căn nguyên của khổ đau nằm ở đâu? Nó được nói đến trong bài kinh Đức Phật nói đầu tiên, chúng ta đều thuộc lòng nhưng không để ý câu cuối: sanh khổ, lão khổ, bệnh khổ, tử khổ, ái biệt ly khổ, oán tằng hội khổ, cầu bất đắc khổ, ngũ uẩn xí thạnh khổ. Trong kinh Nikāya thì tóm lại "năm thủ uẩn là khổ", đây là câu làm nên lịch sử của tạng kinh Nikāya, câu này là trái tim của toàn bộ thánh giáo nhưng để hiểu năm thủ uẩn là gì thì phải học nhận diện ngũ uẩn. Chúng ta sẽ học định nghĩa đơn giản nhất rồi từ từ sẽ đi đến những định nghĩa tương đối đầy đủ và định nghĩa trong kinh thì rất thâm sâu và rộng lớn. Chúng ta hằng ngày đều tụng Bát Nhã Tâm Kinh, có khi một ngày tụng mấy lần nhưng thật sự để nhận diện được ngũ uẩn rất khó khăn, có khi suốt đời chỉ biết trên kiến thức chữ nghĩa. Khi chúng ta thấy được ngũ uẩn, nhận diện được ngũ uẩn thì từ đó chúng ta mới biết khổ là như thế nào, còn bây giờ mình nói sanh khổ, già khổ, bệnh khổ thì đó chỉ là khổ trên thân xác, chưa được đầy đủ còn nhận diện được ngũ uẩn chúng ta sẽ thấy cái khổ bao trùm khắp tất cả thân tâm và thế giới.

Thân người, đồ vật, cảnh vật, tứ đại là sắc.

Cảm giác dễ chịu, cảm giác khó chịu, cảm giác không dễ chịu không khó chịu là thọ.

Bóng dáng thô tế trong tâm là tưởng.

Suy nghĩ, nói thầm trong tâm là hành.

Rõ biết trong ngoài 6 trần là thức.

Vũ trụ có bao la không? Thế giới này có rộng lớn không? Thiên sai vạn biệt muôn màu ngàn sắc, năm châu bốn biển, bao nhiêu sắc tộc, bao nhiêu cảnh đẹp, bao nhiêu con người… nhưng nếu mình tóm thâu những cái đó lại hết thì đó là sắc, đây là sự Chánh Đẳng Giác của Đức Phật.

Này các Tỳ-kheo, khi nào Ta chưa như thật thắng tri năm thủ uẩn này theo bốn chuyển, thì cho đến khi ấy, này các Tỳ-kheo, đối với thế giới chư Thiên, Ma, Phạm thiên, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, Ta không xác chứng rằng Ta đã chứng được vô thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác.

Nhưng này các Tỳ-kheo, khi nào Ta đã như thật thắng tri năm thủ uẩn này theo bốn chuyển, cho đến khi ấy, này các Tỳ-kheo, đối với thế giới chư Thiên, Ma, Phạm thiên, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, Ta xác chứng rằng Ta đã chứng được vô thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn, B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa, I. Phẩm Tham Luyến, IV. Thủ Chuyển)

Sự giác ngộ đầu tiên về tất cả sự lòe loẹt muôn màu, muôn sắc của vũ trụ này được tóm thâu trong một chữ sắc uẩn. Ngôn ngữ Đức Thế Tôn dùng không phải là ngôn ngữ bình thường, chỉ với một chữ sắc thôi là tóm thâu hết tất cả vũ trụ vạn vật mười ngàn thế giới. Nếu nhìn bằng con mắt thông thường mà không nhìn bằng ngũ uẩn thì đây là cái bông, kia là cái bàn, đó là cái chuông, dưới chân mình là gạch, xung quanh mình phòng ốc. Nhưng nếu mình nhìn bằng ngũ uẩn thì tất cả những cái này chỉ là sắc, sắc là tứ đại, là vô thường, là tan hoại, trống không, vô ngã. Tất cả mọi thứ trong tầm mắt mình đều là sắc uẩn, sắc pháp không hơn không kém, thì đó là nhận diện sắc pháp. Còn nếu mình không nhìn theo thánh trí của Đức Phật, chạy theo đây là bông gì, loại gì, giống nội hay ngoại, bao nhiêu tiền… mình chạy theo đó là dục, tham ái, sân si, sầu, bi, khổ, ưu, não. Cho nên nhận diện được ngũ uẩn để cái tâm tham ái, dính mắc, hơn thua, sân si được lắng dịu. Thân người, cảnh vật, đồ vật đều từ tứ đại kết hợp lại thành.

Chư Hiền, thế nào là sắc thủ uẩn? Bốn đại và sắc khởi lên từ bốn đại. Chư Hiền, thế nào là bốn đại? Chính là địa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới. (Trung Bộ Kinh, 28. Ðại kinh Dụ dấu chân voi)

Hiện tại mình nhìn thì cái nào cũng là tứ đại, từ đất; nước; gió; lửa hay mình nhìn cái nào ra cái đó? Khi con mắt tiếp xúc đồ vật thì món đồ mà mình thấy có phải do tứ đại, sắc pháp kết hợp thành không? Hay là mình bị hình tướng, màu sắc đó ám ảnh trong tâm? Nếu vậy là mình không nhận diện được sắc pháp, sắc uẩn, cho nên học thì đọc làu làu "sắc tức thị không, không tức thị sắc" nhưng khi trở ra thì quên hết, lúc bị mất dép thì mình làm sao, có đọc "dép tức thị không, không tức thị dép" không hay là tức giận đi tìm đôi dép? Mình không thấy đôi dép đó là sắc uẩn, là tứ đại vô thường thì sự học của chúng ta chỉ căn cứ trên sách vở, từ ngữ còn trở ra thì mất hết, Đức Phật gọi đó là trí tuệ bắp vế.

Ba hạng người này, này các Tỳ-kheo, có mặt, xuất hiện ở đời. Thế nào là ba?

Hạng người với trí tuệ lộn ngược.

Hạng người với trí tuệ bắp vế.

Hạng người với trí tuệ rộng lớn.

Và này các Tỳ-kheo, thế nào là người với trí tuệ bắp vế? Ở đây, này các Tỳ-kheo, có hạng người đi đến khu vườn (tinh xá). Người ấy, tại chỗ ngồi ấy, đối với bài thuyết giảng ấy, có tác ý đến đoạn đầu, có tác ý đến đoạn giữa, có tác ý đến đoạn cuối. Nhưng khi người ấy từ chỗ ngồi ấy đứng dậy, đối với bài thuyết giảng ấy, người ấy không có tác ý đến đoạn đầu, không có tác ý đến đoạn giữa, không có tác ý đến đoạn cuối. Ví như này các Tỳ-kheo, trên bắp vế của một người, các loại đồ ăn được chồng lên như hạt mè, hột gạo, các loại kẹo và trái táo. Khi từ chỗ ngồi đứng dậy, vì vô ý, người ấy làm đổ vãi tất cả.  Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, ở đây, có hạng người đi đến khu vườn ... Người ấy, tại chỗ ngồi ấy ... có tác ý đoạn cuối. Nhưng khi người ấy tại chỗ ngồi ấy đứng dậy ... không có tác ý đoạn cuối. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là hạng người với trí tuệ bắp vế. (Tăng Chi Bộ, Chương III - Ba Pháp, III. Phẩm Người, Lộn Ngược)

Ngồi học trong giảng đường được nghe, được biết nhưng khi đứng lên là rơi rớt hết tất cả trí huệ mà mình đã được học vì mình không đem nó ra ứng dụng. Khi mình ra khỏi thiền đường, ra khỏi chánh điện, ra khỏi giảng đường là nhìn với cái nhìn của pháp, nhìn với cái nhìn của trí tuệ, của chánh trí. Chúng ta quen với cái nhìn thường tình, phàm tình, nhìn theo thói quen cho nên đầu tiên mình tập nhận diện sắc uẩn.

Thọ uẩn là cảm giác. Chúng ta đã học kinh rất lâu và mục đích của người tu là diệt trừ tham sân si vậy tham sân si trú ngụ ở đâu? Nếu không biết chỗ thì làm sao mình trừ diệt nó được, giống như người đi đánh giặc lại không biết giặc ở đâu. Nếu mình nói tham sân si không có ở đâu, do duyên sanh thì nó sanh ra thì sự tu tập của mình không bao giờ nhiếp phục được tham sân si. Mình nói tham sân si không thể chấm dứt được là sai, Đức Phật đã định nghĩa thế nào là cứu cánh phạm hạnh trong kinh như sau:

Rồi một Tỳ-kheo khác đi đến Thế Tôn...

Ngồi một bên, Tỳ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

-- "Phạm hạnh, Phạm hạnh", bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Bạch Thế Tôn, thế nào là Phạm hạnh? Thế nào là cứu cánh Phạm hạnh?

-- Này Tỳ-kheo, con đường Thánh đạo Tám ngành này là Phạm hạnh, tức là chánh tri kiến... chánh định. Này Tỳ-kheo, đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si, đây là cứu cánh Phạm hạnh. (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương I. Tương Ưng Ðạo (a), I. Phẩm Vô Minh, VI. Một Tỷ Kheo Khác)

Ngồi một bên, Tỳ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

--"Nhiếp phục tham, nhiếp phục sân, nhiếp phục si", bạch Thế Tôn, được gọi là như vậy. Ðồng nghĩa với gì, bạch Thế Tôn, là nhiếp phục tham, nhiếp phục sân, nhiếp phục si?

-- Ðồng nghĩa với Niết-bàn giới là nhiếp phục tham, nhiếp phục sân, nhiếp phục si, cũng được gọi là đoạn tận các lậu hoặc. (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương I. Tương Ưng Ðạo (a), I. Phẩm Vô Minh, VII. Một Tỷ Kheo Khác (2))

Nếu không đoạn tận tham sân si thì làm sao thành tựu Niết-bàn? Mình đang đi trên đường rất thong thả thì có người đến chỉ thẳng mặt mình "cô tu hú chứ tu cái gì", "thầy tu hú chứ tu cái gì", lúc đó mình như thế nào? Giận lên, sân lên, như vậy sân giận lên là cảm giác khó chịu, đây là thọ uẩn, thuộc về khổ thọ, tức là cảm thọ khổ, cảm giác khó chịu, tức tối, bức rứt, thiêu đốt và cảm thọ đó ở ngay lồng ngực, từ lồng ngực hỏa khí bốc lên, gương mặt đổi màu, lỗ tai lùng bùng, miệng giật giật.

Thưa Ni sư, trong lạc thọ, có tùy miên gì tồn tại; trong khổ thọ, có tùy miên gì tồn tại; trong bất khổ bất lạc thọ, có tùy miên gì tồn tại?

-- Hiền giả Visakha, trong lạc thọ, tham tùy miên tồn tại; trong khổ thọ, sân tùy miên tồn tại; trong tất cả bất khổ bất lạc thọ, vô minh tùy miên tồn tại. (Trung Bộ Kinh, 44. Tiểu kinh Phương quảng)

Chữ tùy miên nghĩa là đi theo miên man, như vậy sân nằm trong cảm giác khổ thọ, cảm giác khó chịu, bất cứ lúc nào có cảm giác khó chịu thì lúc đó có sân, nó đi theo trong đó gọi là tùy miên, tức là nó đi theo mình miên man không lúc nào không có trong cảm thọ đó. Bây giờ chúng ta đã bắt đầu thấy được chỗ ở của sân rồi, nó nằm trong cảm giác.

Bỗng nhiên mình đang đứng trước sân chùa, có người đến quỳ xuống đảnh lễ "thầy là bậc chân tu đức độ, con vô cùng kính ngưỡng thầy, thầy tu hành thật là trang nghiêm thanh tịnh, thầy đã cứu cuộc đời con", lúc này mình sẽ có lạc thọ, trong cảm giác dễ chịu này mình thích thú, dễ chịu, vui vẻ. Trong cảm giác dễ chịu đó có tham tùy miên. Ví dụ mình đi học bằng xe cũ, hôm đó về chùa có người chắp tay xá "bạch thầy, con cúng cho thầy xe mới", lúc đó mình có cảm giác lạc thọ, cảm giác dễ chịu, trong cảm giác dễ chịu này mình mừng rỡ, vui thích, đó chính là tham tùy miên trú ẩn trong cảm giác khoan khoái, thích thú, vui sướng đó. Như vậy chỗ trú ẩn của tham sân si chính là cảm giác chứ không phải là không có chỗ cho nó trú ẩn, làm tổ. Nếu không biết tham sân si nằm ở chỗ nào thì không thực tập pháp hành được, không bao giờ có thể nhiếp phục và đoạn tận được tham sân si nếu không thấy nó. Không phải cảm giác vui thích chỉ diễn ra ngay lúc nhận xe mới, nhận sự cung kính đảnh lễ cúng dường đó mà mỗi lần nhìn lại xe là có cảm giác lâng lâng, sướng vui hoặc nhớ lại câu nói khen ngợi là ngồi cười một mình, lúc đó hình bóng chiếc xe đó hiện ra, kèm theo hình bóng là những suy nghĩ lầm thầm đi theo và có cảm giác thích thú, hoan hỉ hoặc suy nghĩ bực bội khi nghe người ta nói mình giả dối, trong khi đó mình có sự rõ biết hình bóng, suy nghĩ, cảm giác thì đó là thức.

Cảm giác bất khổ bất lạc thọ tức là cảm giác không vui không khổ. Ví dụ trưa nay không ngủ mà học giờ này làm đờ đẫn người, mắt sụp xuống, tai thì nghe tiếng giảng vang trong hư không, không phải khó chịu cũng không phải dễ chịu mà rơi vào trạng thái lơ ngơ, đơ đơ thì đó là si tùy miên trú ẩn trong cảm giác bất khổ bất lạc thọ. Có khi mình vẫn mở mắt ngồi đó nhưng không nghe được lời giảng, tâm đi rong chơi, cái tâm lờ mờ không sáng tỏ, ngáo ngơ thì trạng thái đó là si, biểu hiện của nó là cái đầu nặng, quẹo cổ sang một bên và con mắt thì nhướng lên sụp xuống, vì vậy si có chỗ trú ẩn, dễ thấy nhất là con mắt cứ nhướng lên rồi sụp xuống, khi ngồi thiền nhận diện rất dễ, ngồi thiền bị hôn trầm rơi vào trạng thái si, đơ đơ là mình nhập làm một với nó thành ra ngồi thiền rồi ngủ luôn, đó là si tùy miên, bất cứ lúc nào ở trong trạng thái đó đều có si đi theo đó. Đi đến vi tế hơn một chút, nếu mình vẫn thấy, vẫn nghe mà không nhận diện được cảm giác, không biết đang có cảm giác gì mà cứ chạy theo âm thanh, sắc tướng bên ngoài thì lúc đó mình vẫn ở trong trạng thái vô minh, si mê, không thấy pháp. Muốn nhận diện được tham sân si đòi hỏi chúng ta phải có sự thực tập, thiền tập và thường xuyên trong lúc tiếp duyên xúc cảnh phải để ý cảm giác, gọi là niệm thọ. Phải xem đó là cảm thọ gì, trong cảm thọ đó có gì trong đó, sau đó từng loại cảm thọ có những phương pháp đối trị riêng biệt chứ không phải tu chung với nhau.

Con mời mọi người nhắm mắt lại nghĩ về mẹ của mình. Chúng ta thấy hình bóng lờ mờ của mẹ hiện ra trong tâm, đó là tưởng uẩn, hình bóng thô tế trong tâm là tưởng uẩn. Khi có hình bóng rồi có cảm giác, nếu mẹ đang già bệnh sẽ có cảm giác khổ thọ, không biết bây giờ mẹ ra sao, có ai lo không, nếu ai có gia đình ở miền Trung đang bị lũ lụt sẽ có cảm giác lo lắng, khổ đau. Còn mẹ khỏe mạnh sẽ có cảm giác lạc thọ. Khi có tiếng nói " không biết bây giờ mẹ ra sao, có ai lo không" đó là hành uẩn. Trong tâm rõ biết có hình bóng về mẹ, có suy nghĩ lo lắng, có cảm giác quan tâm thì hình bóng thô tế trong tâm là tưởng, suy nghĩ nói thầm trong tâm là hành, rõ biết hình bóng, suy nghĩ, cảm giác đó là thức, thức là rõ biết thọ; tưởng; hành. Khi xem Tivi thì hình ảnh luôn đi chung với âm thanh, khi xem hình bóng đó là hài kịch thì vui vẻ, còn bi kịch thì lo lắng, sợ hãi, xúc động, có khi rơi nước mắt là khổ. Cái tâm mình cũng giống như màn hình, cũng có hình bóng, âm thanh, cảm giác. Ví dụ khi ngồi trong phòng một mình mà nhớ lại người mình ghét, hình bóng người đó hiện ra cái mặt khó ưa, trong tâm mình hiện ra hình bóng đó thì đó là tưởng uẩn, cảm giác khó chịu là khổ thọ, suy nghĩ gặp nhau sẽ làm gì… là hành, lúc đó mình biết đang có hình bóng, cảm giác, suy nghĩ đó là thức. Lúc đó gương mặt mình cau có, khó chịu, như vậy suốt ngày suốt đêm, thậm chí cả trong giấc chiêm bao ngũ uẩn luôn vận hành, chi phối, xâm chiếm, áp đảo mà mình hoàn toàn không hay biết, Đức Phật gọi là vô minh, không thấy ngũ uẩn. Mình chỉ thấy một cái tôi to tướng, năm uẩn dính chùm vào nhau làm ra một cái tôi, một cái của tôi và tự ngã của tôi to tướng. Không thấy được sự thật có năm ngón mới kết hợp thành bàn tay mà chỉ thấy một nắm tay, khi đã nhìn thấy năm cái này thì bắt đầu mình bước ra khỏi nó để nhìn trở lại, còn lúc trước mình ở trong đó đồng hóa làm một với ngũ uẩn. Phải học cái này thật kĩ vì đây là chìa khóa để mở tất cả thánh pháp tạng của Đức Thế Tôn, không có cái gì trên đời này nằm ngoài sắc; thọ; tưởng; hành; thức, đây là trí vũ trụ bao trùm tất cả thế giới, đó là sự giác ngộ của Đức Phật. Năm chữ sắc; thọ; tưởng; hành; thức là tóm thâu thân tâm thế giới, nhân sinh vũ trụ, tất cả các pháp, không còn sót một cái nào ở ngoài nữa. Nói thêm về cảm giác si là không rõ ràng, không sáng tỏ, không minh bạch các pháp, trạng thái của si nằm trong bất khổ bất lạc thọ, không được tỉnh táo, không trong sáng. Khi mình chưa biết nhận diện ngũ uẩn thì mình sẽ không rõ được những điều này vì trong ba loại cảm giác mình còn chưa rành rẽ, sau khi học nhận diện ngũ uẩn thì mình sẽ thực tập, từ từ nhận rõ cảm giác đó là cảm giác gì. Sau này khi mình thực tập nhận diện được nó thì phải tác ý đánh đuổi nó ra khỏi thân tâm của mình, tức là mình tác động tâm ý "cảm giác này là cảm giác si mê, cảm giác trơ trơ, cảm giác không sáng tỏ làm cho mình mờ tối, hãy tan biến khỏi thân tâm ta đi", sau đó mình quán chiếu vô thường, quán chiếu sự tin tưởng của cha mẹ, ông bà cô bác đang ngóng mong, đợi chờ mà mình ngồi thiền lại lờ đờ, mình không ý thức sâu sắc bổn phận, trách nhiệm của người xuất gia để báo hiếu cho cha mẹ. Mình tác động tâm ý để đi ra khỏi trạng thái si đó, trở lại trạng thái tỉnh táo, sáng suốt, nhiệt tâm, tinh cần, chánh niệm tỉnh giác.

PHẦN 2:

Ví dụ khi nhìn thấy bình trà đẹp thì mình thấy dễ chịu nếu mình là người thích uống trà, mình vừa ý bình gốm Bát Tràng thì mình có cảm giác thích thú. Khi trở về chùa thì hình bóng bình gốm Bát Tràng đó hiện ra trong tâm, khi hình bóng hiện ra thì mình nói "chắc mình phải mua cái bình đó mới được vì nó đẹp". Trong lúc đó hình bóng của bình trà đó là tưởng uẩn, cảm giác dễ chịu khi hình bóng của bình trà đó hiện ra trong tâm là thọ uẩn, suy nghĩ phải mua là hành uẩn, mình biết có hình bóng, cảm giác, suy nghĩ đó thì đó là thức uẩn. Nếu mình không nắm rõ sẽ lẫn lộn giữa hành và tưởng, tức là hình bóng và suy nghĩ hay nhầm lẫn. Phải nhận diện ngũ uẩn cho thuần thục thì mới bắt đầu đi vào giáo pháp sâu sắc hơn trong kinh tạng.

Khi mình chưa nhìn ra ngũ uẩn chính mình giống như căn nhà bị bỏ hoang trong thời gian dài, bây giờ chúng ta bắt đầu mở cánh cửa để nhìn thấy được thân tâm chính mình, nhìn thấy được những suy nghĩ, những hình bóng, những cảm giác. Thực tập nhận diện chúng ta sẽ nhìn thấy bên trong thân tâm mà chúng ta đã lãng quên từ rất lâu, chúng ta đã quen nhìn bên ngoài và giờ này bắt đầu chúng ta nhìn lại bên trong thân tâm chính mình. Chúng ta sẽ cực kì bất ngờ với những cảm xúc, những cảm thọ làm cho chúng ta đau khổ. Chúng ta sẽ bắt đầu thấy và biết, xin thưa đại chúng đây là cái thấy biết của bậc thánh, không bao giờ một kẻ vô văn phàm phu có thể thấy ngũ uẩn nếu không có bậc Chánh Đẳng Giác xuất hiện và không có người đã được nghe và được thực hành chia sẻ, hướng dẫn cho chúng ta thì vĩnh viễn và mãi mãi chúng ta không bao giờ thấy biết được, cái thấy này gọi là sự thấy biết của bậc thánh. Sự thấy biết này cũng được gọi là chánh kiến, cũng được gọi là sự đắc pháp nhãn tịnh, đây là cái thấy biết chân chánh chính xác trực diện thân tâm chính mình, hay còn gọi là mắt pháp đã được trong sáng, được mở ra. Con mắt đó đã mù lòa trong vô lượng vô biên kiếp, bây giờ dưới sự hướng dẫn của Đức Phật, sự giác ngộ về ngũ uẩn của Đức Phật thì Ngài sẽ giúp đỡ, chỉ dẫn, khai thị cho chúng ta mở ra được con mắt pháp, hoặc cũng có thể gọi là khai đạo nhãn, mở con mắt đạo. Có rất nhiều từ để gọi nhưng tất cả các từ đó chỉ nhằm chỉ cho việc nhìn thấy được ngũ uẩn.

Ví dụ trưa mình đói bụng, hôm đó có cúng Trai Tăng nhiều món ngon, lại có nhiều món mình thích. Vậy mà Hòa Thượng đáp từ rất dài, trong bụng sôi ùng ục vì đói mà đồ ăn lại ở trước mặt, mùi thơm món ăn bốc lên ngào ngạt lại không được ăn. Lúc đó trong mình có cảm giác gì? Đó là cảm giác khổ, khó chịu vì "sao nói dài quá, tụng lâu quá, đói bụng rồi", câu nói đó là hành uẩn, trong cảm giác có sự thúc giục muốn kết thúc mau. Đến khi xong hết các nghi lễ thì lần gắp đũa thức ăn đầu tiên để vào lưỡi có cảm giác ra sao? Đó là lạc thọ, thích thú được ăn món ngon. Khi món đó tiếp xúc với lưỡi sanh ra cảm giác khoan khoái, dễ chịu, vui sướng. Nếu mình không có chánh niệm tỉnh giác trong Thân Hành Niệm thì mình sẽ nhai ngồm ngoàm, thậm chí gắp đũa này đưa lên nhai chưa xong thì tay lại gắp đũa khác chờ sẵn. Như vậy đầu tiên sẽ có cảm giác thúc giục, kế đó là cảm giác khoan khoái, thích thú, sau đó là cảm giác muốn ăn thêm, ăn nhiều hơn.

Con đang phân biệt sự khác nhau của ba loại dục, ái, tham, trước đó chúng ta học chỉ nói chung chung dục, tham, ái nhưng thật sự nó khác nhau. Bây giờ nhìn lên đồng hồ là 4h25 chiều, trong tâm có cảm giác thúc giục muốn về, vậy mà thầy cứ giảng bài thì mình sẽ có cảm giác khó chịu, thậm chí là sân, riêng cái sân có rất nhiều cấp độ khác nhau, không phải đợi nói ra, cự cãi mới là sân, cái này là của vô văn phàm phu, đa văn thánh đệ tử phải nhìn thấy sự động chuyển của các dòng cảm thọ, chỉ cần có cảm thọ khó chịu sanh khởi nhẹ thôi đã nhìn thấy chứ không phải đợi đến cự cãi, la hét mới gọi là sân, cái này không cần tu cũng biết, còn tu là để thấy những cái vi tế mà chúng sanh phàm phu không thấy, không biết được nên mới gọi là đa văn thánh đệ tử, là đệ tử của bậc thánh, mà thánh ở đây chính là Đức Phật, đó là những người nghe rất nhiều kinh tạng. Đến ngày hôm nay sự tu học của con đều căn cứ trong bộ kinh Nikāya, phải có sự nhất quán như vậy, nó chỉ cho mình hết tất cả sự thật của cuộc đời này.

Dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc hướng, hay đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. (Tương Ưng Bộ, Tập I. Thiên Có Kệ, Chương VII. Tương Ưng Bà La Môn, I. Phẩm A-la-hán Thứ Nhất, I. Dhananjàni).

Đó là công việc của Đức Thế Tôn, cũng là công năng tác dụng của chánh pháp. Những cái chúng ta đang học là chúng ta đang phơi bày những gì bị che kín trong hàng vô lượng kiếp mà chúng ta không nhìn thấy. Trong một buổi ăn cơm thôi mà có đủ dục, ái, tham hoạt động trong đó mà chúng ta không thấy, đã không thấy thì làm sao nhiếp phục, đánh gục, làm sao chiến đấu để đi đến sát tặc, kết quả sau cùng của bậc A-la-hán gọi là "sát tặc đại sư", giết được những tên giặc trong nội tâm của mình.

Bây giờ trở lại ví dụ bình gốm Bát Tràng, khi nhìn thấy bình gốm có cảm giác dục, tham, ái. Chỉ cần nhìn thôi trong tâm đã muốn, đã thích, khi có được rồi vẫn chưa mãn nguyện, phải đi tìm cái thứ hai, có cái thứ hai lại tìm tiếp cái thứ ba, cứ như vậy không dừng nghỉ vì sự ham muốn của bản thân. Đó là sự vận hành của dục, tham và ái, đó là sự khổ mà trong kinh Nikāya gọi là bất toại nguyện, không bao giờ thỏa mãn là bản chất của dục cho nên dục là khổ đau, dục là ung nhọt, là hố than hừng, là vực sâu. Người nào càng chạy theo dục chừng nào là người đó càng không thỏa mãn chừng đó, cho nên ngoài đời chạy theo biết bao nhiêu thứ kích thích: Ma túy, đập đá, cỏ Mỹ, heroin… những thứ này không bao giờ thỏa mãn vì bản chất của dục là như vậy, càng chạy theo dục thì càng thiếu thốn, càng khao khát, càng đau khổ không có lối thoát. Vì vậy sự tu học nhận diện thân tâm để nhìn ra bộ mặt thật của Tập Thánh Đế, phải nhìn thấy nguyên nhân làm mình khổ bằng chính con mắt tâm của mình chứ không phải đợi người khác nói, trong sự tu học nghiêm túc, sâu sắc quán chiếu thân tâm thì mình sẽ thấy những động cơ thúc giục bên trong đẩy mình đi không dừng nghỉ rồi sầu, bi, khổ, ưu, não.

"Thế giới là thiếu thốn, khao khát, nô lệ cho tham ái", thưa Ðại vương, đó là thuyết giáo Chánh pháp thứ tư, do Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuyết giảng. Do tôi biết, tôi thấy, tôi nghe thuyết giáo ấy, mà tôi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. (Trung Bộ Kinh, 82. Kinh Ratthapàla).

Tại sao chúng ta khổ? Vì bản chất của thân này là thiếu thốn, đòi hỏi, khát khao, là mong muốn, đuổi tìm và khát ái. Bên trong là sự thúc giục liên tục ngày đêm, kể cả trong giấc chiêm bao, đó là những cảm giác của dục lậu thúc giục bên trong đi tìm kiếm, truy tầm, chạy đuổi. Tại sao ngoài thế gian lại khổ, với ngay cả người xuất gia cũng vậy? Vì bên trong là một sự thúc giục của cảm giác đòi hỏi không ngừng nghỉ, không bao giờ thỏa mãn. Nếu có một người nào đến hỏi mình Đức Thế Tôn, bậc Đạo sư giảng những gì, tuyên bố những gì là đại diện cho giáo pháp của Đức Phật thì mình sẽ trả lời như thế nào? Ngài Xá-lợi-phất đã trả lời cho các Tỳ-kheo sau khi hỏi nếu có người hỏi các ông Thế Tôn, bậc Đạo sư giảng dạy, tuyên bố những gì chính là nhiếp phục dục tham, đoạn tận dục tham.

Một thời Thế Tôn ở giữa dân chúng Sakka, tại một thị trấn của dân chúng Sakka tên là Devadaha.

Lúc bấy giờ, một số đông Tỳ-kheo du hành ở phía Tây, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

Ngồi xuống một bên, các vị Tỳ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

-- Chúng con muốn xin Thế Tôn cho phép chúng con đi đến quốc độ phương Tây. Chúng con muốn trú ở quốc độ phương Tây.

-- Này các Tỳ-kheo, các Tỳ-kheo đã xin phép Sàriputta chưa?

-- Bạch Thế Tôn, chúng con chưa xin phép Tôn giả Sàriputta.

-- Này các Tỳ-kheo, vậy hãy xin phép Sàriputta. Sàriputta, này các Tỳ-kheo, là bậc Hiền trí, là người đỡ đầu các vị Tỳ-kheo đồng Phạm hạnh.

-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các Tỳ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.

Lúc bấy giờ, Tôn giả Sàriputta đang ngồi dưới cây ba đậu (elagalà: cassia), không xa Thế Tôn bao nhiêu.

Ngồi xuống một bên, các Tỳ-kheo ấy nói với Tôn giả Sàriputta:

-- Chúng tôi muốn, thưa Hiền giả Sàriputta, đi đến quốc độ phương Tây. Chúng tôi muốn trú ở quốc độ phương Tây. Bậc Ðạo Sư đã cho phép chúng tôi.

-- Này các Hiền giả, có những người đặt câu hỏi với vị Tỳ-kheo thường đi các quốc độ khác nhau: Các Sát-đế-lị hiền trí, các Bà-la-môn hiền trí, các Gia chủ hiền trí, các Sa-môn hiền trí. Này chư Hiền giả, các bậc hiền trí với óc ưa quán sát, sẽ hỏi: "Bậc Ðạo Sư của Tôn giả nói gì, tuyên bố gì? Pháp có được chư Tôn giả khéo nghe, khéo nắm giữ, khéo tác ý, khéo thọ trì, khéo thâm nhập với trí tuệ không?" Ðể khi trả lời, các Tôn giả có thể lập lại các ý kiến của Thế Tôn, không có xuyên tạc Thế Tôn với điều không thật, có thể trả lời tùy pháp, đúng với Chánh pháp, và không để một vị đồng phạm hạnh nào, nói lời đúng pháp, có thể có lý do để quở trách.

Tôn giả Sàriputta nói như sau:

-- Này các Hiền giả, có những người đặt câu hỏi với vị Tỳ-kheo thường đi các quốc độ khác nhau: Các Sát-đế-lị hiền trí... các Sa-môn hiền trí. Này các Hiền giả, các bậc hiền trí với óc ưa quán sát, có thể hỏi: "Bậc Ðạo Sư của Tôn giả nói gì, tuyên bố gì?" Ðược hỏi vậy, này các Hiền giả, các Hiền giả phải trả lời: "Này các Hiền giả, bậc Ðạo Sư của chúng tôi nói đến sự điều phục dục và tham".

Ðược trả lời như vậy, này các Hiền giả, có thể có người hỏi thêm câu hỏi như sau: Có những vị Sát-đế-lị hiền trí... có những Sa-môn hiền trí. Này chư Hiền giả, các bậc hiền trí với óc ưa quán sát, có thể hỏi: "Ðối với cái gì, bậc Ðạo Sư của các Tôn giả nói đến sự điều phục dục và tham?" Ðược hỏi như vậy, này các Hiền giả, các Hiền giả phải trả lời như sau: "Ðối với sắc, này các Hiền giả, bậc Ðạo Sư chúng tôi nói về sự điều phục dục và tham... đối với thọ... đối với tưởng... đối với các hành... đối với thức, bậc Ðạo Sư chúng tôi nói về sự điều phục dục và tham". (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (a), A. Năm Mươi Kinh Căn Bản, I. Phẩm Nakulapità, II. Devadaha)

Chỗ này cực kì sâu sắc, nếu chúng ta học hời hợt, không tìm đến cội nguồn của Đức Phật thì mình sẽ không biết về vấn đề này. Không chỉ nhiếp phục dục tham với sắc mà còn với cảm giác, tất cả chúng ta đều đang đắm chìm trong cảm giác lại không hề hay biết. Con có chia sẻ 3 bài Cảm giác nhận chìm thế giới trên trang linhquyphapan.vn vì Đức Phật đã nói tất cả pháp hội tụ ở cảm thọ.

Này chư Hiền, các pháp lấy dục làm căn bản. Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi. Tất cả pháp lấy xúc làm tập khởi. Tất cả pháp lấy thọ làm chỗ tụ hội. Tất cả pháp lấy định làm thượng thủ. Tất cả pháp lấy niệm làm tăng thượng. Tất cả pháp lấy tuệ làm tối thượng. Tất cả pháp lấy giải thoát làm lõi cây (Tăng Chi Bộ, Chương VIII. Tám Pháp, IX. Phẩm Niệm, (III) (83) Cội Rễ Của Sự Vật).

Mình muốn biết trong tâm mình có gì chỉ cần nhìn lại cảm giác tất cả pháp sẽ hiện ra hết, có nhiều người học tàng thức mà tàng thức chính là cảm giác, là thọ uẩn, chỗ chất chứa tất cả pháp chính là cảm giác. Có những con người, có những cảnh vật mình đã thấy, đã tiếp xúc, có những lời nói mình đã nghe rồi đi qua nhưng có những cảm giác suốt đời mình không quên. Cái mà làm cho mình vui sướng nhất chính là cảm giác, cái làm cho mình đau khổ nhất cũng chính là cảm giác, vậy mà mình lại bỏ quên cảm giác, không nhìn thấy cảm giác cho nên sự tu tập quán thọ là cực kì quan trọng. Mình đã thấy tham sân si nằm trong cảm giác, còn giờ bản ngã, cái tôi, ganh tị, đố kị, hơn thu đều nằm trong cảm giác, nhưng đặc biệt ở chỗ sắc uẩn chỉ là tứ đại vô tri, hình bóng thoáng qua là mất, suy nghĩ một chút là quên, cái thức chỉ biết vậy thôi nhưng cảm giác là suốt đời ghi khắc trong tim. Như vậy cảm giác là chỗ chứa đựng tất cả pháp, điều quan trọng là phải nhận diện được cảm giác toàn thân, sự tu học của chúng ta là chăm sóc cảm giác, quay trở lại phát hiện, nhận diện ra nó rồi chăm sóc nó vì mình đã bỏ quên cảm giác rất lâu để chạy theo hình sắc, âm thanh, mùi vị bên ngoài để rồi nó tàn phá thân tâm, chỉ vì một lời nói thôi có thể sẵn sàng khẩu tranh, đấu tranh, chiến tranh, vì một lời nói thôi có thể xảy ra cuộc sân hận đốt cháy, thậm chí là mất mạng. Mình để cho cảm giác sân hận đó tàn phá thân tâm vì chúng ta không biết chăm sóc cảm giác để cuối cùng cứ đau khổ, phiền não, tức giận, hơn thua hoài, trong nội tâm là căn nhà chất chứa toàn rác bẩn nên sự tu tập là quay về căn nhà nội tâm để làm tổng vệ sinh sạch sẽ trong tâm. Mình đã thấy trong bao nhiêu đời bao nhiêu kiếp mình đã làm nô lệ cho tham ái, nói đơn giản là sự ham thích, chỉ vì ham thích một chút thôi mà mình phải làm tôi đòi cho cảm giác tham ái đó. Bao nhiêu sự lao tâm khổ tứ chỉ để được cảm giác đó, hết sức là đau khổ, hết cảm giác này rồi đi tìm cảm giác khác, hết cảm giác đó lại đi tìm cảm giác mới cho nên chúng ta đã ăn vô số buổi ăn nhưng không thỏa mãn, vẫn tìm kiếm những món lạ mới, chúng ta đã biết bao nhiêu bộ đồ dù cho ngoài đời hay trong đạo nhưng vẫn có cảm giác thích khi mặc đồ mới, chiếc xe, phòng ốc cũng chỉ là cảm giác, về con người thì mình rất nặng, vì nó mà sầu, bi, khổ, ưu, não dài dài. Vì cảm giác là vô thường, nó là pháp duyên sanh, là vô ngã, trống rỗng nên nó sanh ra chút là diệt, sanh rồi diệt cứ làm hoài như vậy, mình cứ chạy tìm kiếm hoài vì có cuộc vui nào kéo dài mãi đâu, có nỗi buồn nào vĩnh viễn đâu, hết vui đến buồn, hết buồn đến vui cho nên thân này (thế giới) là thiếu thốn, là khát khao, là nô lệ cho tham ái.

Rõ biết trong ngoài 6 trần là thức. Mình nghĩ thức thì đơn giản chỉ là nhãn thức; nhĩ thức; tỉ thức; thiệt thức; thân thức; ý thức là xong, mình phải tập nhận diện 6 thức như thế nào.

Rõ biết các sắc là nhãn thức,

Rõ biết các âm thanh là nhĩ thức,

Rõ biết các mùi là tỉ thức,

Rõ biết các vị là thiệt thức,

Rõ biết sự đụng chạm là thân thức,

Rõ biết thọ; tưởng; hành là ý thức.

Để rõ biết tất cả hình sắc chính là nhãn thức, nhãn thức không phải là sự rõ biết của con mắt vì người mù hoặc ngất xỉu rồi thì con mắt đâu còn sự rõ biết nữa, cho nên rõ biết các sắc là nhãn thức. Sở dĩ mình rõ biết các sắc này do có nhãn thức, so duyên có con mắt, do duyên có các sắc khởi lên sự rõ biết các sắc, cái rõ biết đó là nhãn thức. Do có lỗ tai, có âm thanh khởi lên sự rõ biết âm thanh thì gọi là nhĩ thức. Do duyên có lỗ mũi, có mùi khởi lên sự rõ biết các mùi thì đó là tỉ thức. Do duyên có cái lưỡi, có thức ăn khởi lên sự rõ biết các vị chua cay, mặn ngọt, đắng thì đó là thiệt thức. Do duyên có thân, có sự tiếp xúc đụng chạm như quần áo, bàn ghế, mình rõ biết ngay chỗ đụng chạm đó thì gọi là thân thức. Khi ngồi thiền tâm tĩnh lặng, trí sáng tỏ mình sẽ nhận diện ra được từng pháp, khi nhận diện thức nào ra thức đó, lúc đó phá vỡ hết định nghĩa tâm thức của mình là một, thật chất có đến 6 tâm thức vì nhận diện cái này để phá chấp ngã. Nhãn thức giới tức là phạm vi của nhãn thức chỉ nhận biết được sắc, không thể nghe tiếng hay ngửi mùi, nếm vị, trong Bát Nhã Tâm Kinh có nhãn thức giới, nhĩ thức giới, tổng cộng là 18 giới. Tỉ thức chỉ rõ biết mùi chứ không thể biết được vị hay nghe tiếng. Mỗi một thức có phạm vi, lãnh vực hoạt động riêng, không lẫn lộn với nhau. Vì vậy thức là sự rõ biết hình bóng, cảm giác, suy nghĩ, mình nghĩ cái gì thì mình phải rõ biết điều đó, trong tâm đang có hình bóng, cảm giác gì mình đều rõ biết thì cái biết đó là ý thức, tức là rõ biết thọ; tưởng; hành. Trong 6 thức thì 5 thức trước là biết bên ngoài, chỉ có ý thức là biết bên trong thọ; tưởng; hành cho nên khi con mắt nhìn ra bên ngoài thì chỉ biết hình sắc thôi chứ không biết bên trong tâm đang có cảm giác, hình bóng gì, chừng nào mình quay lại nội tâm, ngồi tĩnh lặng để ý thì mới thấy hình bóng về sự vật, sự việc mình đang nghĩ đến, khi hướng vào trong để ý thì pháp mới hiện ra. Điều này đòi hỏi phải thiền tập, nếu không ngồi thiền sẽ không nhận diện được các pháp, các pháp sẽ không hiện rõ, chỉ có tĩnh tâm, tĩnh lặng nhìn lại sắc; thọ; tưởng; hành; thức, nhận diện từng pháp thì cái nào hiện rõ cái đó như chỉ trong lòng bàn tay. Ví dụ chút nữa về chùa, khi gần đến chùa thì mái chùa hiện ra thì đó là nhãn thức, rõ biết sắc pháp là hình dáng ngôi chùa hiện ra. Gần chùa nghe tiếng mọi người nói chuyện là nhĩ thức, bắt đầu dắt xe vào thì ngửi mùi thơm của thức ăn là tỉ thức, mùi đó dẫn mình đi vào lẹ thì có cảm giác lạc thọ, trong tâm có sự thúc giục vào ăn nhanh vì đói, gắp đũa đầu tiên ăn thì thấy thích, muốn ăn tiếp theo nữa là tham. Như vậy dục tham ái, nhãn thức, nhĩ thức, tỉ thức, bắt đầu để thức ăn vào lưỡi là thiệt thức, tuy là trời nóng nhưng có quạt mát lạnh thì đó là thân thức, trong tâm mình thấy được những cảm giác dễ chịu khi ăn là thọ uẩn, suy nghĩ "món này ngon quá" là hành uẩn, hình bóng vài bữa nữa muốn ăn lại món này là tưởng uẩn, mình rõ biết những cái này đang diễn ra trong ngoài thân tâm là thức uẩn, cái thân mình đang ngồi ăn là sắc uẩn. Chúng ta học pháp phải đưa vào thực tập, bất cứ mọi lúc mọi nơi pháp đang vận hành mà chúng ta không thấy. Khi chúng ta nhận diện các pháp thì từng pháp hiện ra để gỡ ra từng bộ phận, không còn là một khối nguyên vẹn nữa, đó là thánh trí tuệ, còn nếu không nhận các pháp thì chỉ có một khối tôi và của tôi chứ không có năm nhóm, năm uẩn nữa, không thấy được 6 thức, không thấy được dục tham ái mà toàn bộ đều nhập chung hòa làm một tôi, của tôi và tự ngã của tôi. Ví dụ đang ăn mà có người nói phần này của người khác, ăn vậy đủ rồi, bưng mất đồ ăn đi thì pháp gì hiện khởi? Sân si lên, tức giận lên cho nên các pháp vận hành liên tục suốt ngày đêm, cả trong giấc chiêm bao, tham sân si, bản ngã, các cảm thọ, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn sanh diệt liên tục. Cho nên sự tu của mình là quay trở lại phát hiện, phát giác, kiểm tra, xem bên trong đó là thiện pháp hay bất thiện pháp, nếu là muốn tu học, muốn tinh tấn, muốn nghe pháp ngồi thiền thì phát huy, còn muốn đi ngủ, làm biếng, hưởng thụ thì phải diệt. Ví dụ ngồi trong lớp mà cứ hướng ra chiếc xe ngoài bãi giữ xe hoặc hướng về ngôi chùa thì gọi là dục tầm, tức là sự hướng tâm muốn về một cái gì đó. Còn giờ suy nghĩ về đối tượng làm mình bực bội gọi là sân tầm, tức là sự hướng tâm về đối tượng sân hận, hướng tâm một lúc là sân hận, bực tức khởi lên, đang ngồi một mình mà gương mặt bực bội, tỏa ra dáng vẻ khó chịu thì đó là sân tầm. Nếu có cảm giác trơ trơ mà mình để luôn, hướng về cái si mà mình theo nó để ngủ gục luôn thì đó là si tầm. Vì thế việc quay lại nhận diện ngũ uẩn để phát giác, phát hiện ra dục, ái, tham sân si và nhiếp phục, chế ngự, cuối cùng đoạn tận nó là cứu cánh phạm hạnh, quang tông diệu tổ, người này đáng được chắp tay, đáng được cung kính, đáng được đảnh lễ, cúng dường, là ruộng phước vô thượng ở trên đời.

Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.

./.