Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Kinh Nikāya Thiền Quán - Phá Chấp Sắc Thọ Tưởng Hành Thức 2 - Tương Ưng 6 Xứ

2026-03-03 00:55:15
Kinh Nikāya Thiền Quán

Phá Chấp Sắc Thọ Tưởng Hành Thức 2

Thích Minh Thành

Ngày 01 tháng 09 năm 2022

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Ngũ uẩn vô ngã PAGEREF _Toc114157073 \h 1

II. Vô Minh PAGEREF _Toc114157074 \h 5

III. Sám hối PAGEREF _Toc114157075 \h 8

IV. Sợi dây tái sanh PAGEREF _Toc114157076 \h 9

I. Ngũ uẩn vô ngã

Cảm nhận cơ thể, cảm giác toàn thân, cảm nhận không gian tại đây, vùng đất này, trời đất này. Cảm nhận tâm thương rộng lớn, rõ biết tâm thương rộng lớn, trong tâm thương rộng lớn này, thương mình thật nhiều, thương những khổ đau mình đã từng chịu đựng, khi ông bà, cha mẹ, bà con cô bác chết hay gặp tai nạn. Tham, sân, si, vô minh che phủ thân tâm của mình, thương mình, thương muôn loài hữu tình thật nhiều, thương cuộc đời này đang quờ quạng giữa trời đêm. 

“1) Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Vương Xá, tại Trúc Lâm, chỗ nuôi dưỡng các con sóc.

2) — Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết con đường thích hợp đưa đến nhổ lên tất cả tư lường.

3) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con đường thích hợp đưa đến nhổ lên tất cả tư lường?

4-6) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không tư lường con mắt, không tư lường trên con mắt, không tư lường từ con mắt, không tư lường: “Con mắt là của ta”. Vị ấy không tư lường các sắc… không tư lường nhãn thức… không tư lường nhãn xúc… Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; vị ấy không tư lường cảm thọ ấy, không tư lường: “Cảm thọ ấy là của ta”. Này các Tỷ-kheo, phàm tư lường cái gì, tư lường trên cái gì, tư lường từ cái gì, tư lường cái gì là của ta, do vậy cái ấy đổi khác. Thế giới thích thú hiện hữu (bhavasatto), vì thế giới dựa trên hiện hữu, vì rằng thế giới tham đắm hiện hữu…

7-8) … Vị ấy không tư lường lưỡi, không tư lường trên lưỡi, không tư lường từ lưỡi, không tư lường: “Lưỡi là của ta”. Vị ấy không tư lường các vị, không tư lường thiệt thức, không tư lường thiệt xúc. Do duyên thiệt xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất lạc bất khổ; vị ấy không tư lường cảm thọ ấy, không tư lường trên cảm thọ ấy, không tư lường từ cảm thọ ấy, không tư lường: “Cảm thọ ấy là của ta”. Này các Tỷ-kheo, phàm tư lường cái gì, tư lường trên cái gì, tư lường từ cái gì, tư lường cái gì là của ta, do vậy cái ấy đổi khác. Thế giới thích thú hiện hữu, vì thế giới dựa trên hiện hữu, vì rằng thế giới tham đắm hiện hữu.

9) … Vị ấy không tư lường ý, không tư lường trên ý, không tư lường từ ý, không tư lường: “Ý là của ta”. Vị ấy không tư lường các pháp, không tư lường ý thức, không tư lường ý xúc. Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất lạc bất khổ; vị ấy không tư lường cảm thọ ấy, không tư lường trên cảm thọ ấy, không tư lường từ cảm thọ ấy, không tư lường: “Cảm thọ ấy là của ta”. Này các Tỷ-kheo, phàm tư lường cái gì, tư lường trên cái gì, tư lường từ cái gì, tư lường cái gì là của ta, do vậy cái ấy đổi khác. Thế giới thích thú hiện hữu, vì thế giới dựa trên hiện hữu, vì rằng thế giới tham đắm hiện hữu.

10) Này các Tỷ-kheo, xa cho đến uẩn, giới, xứ, vị ấy không có tư lường pháp ấy, không tư lường trên pháp ấy, không tư lường từ pháp ấy, không tư lường: “Pháp ấy là của ta”. Vị ấy không có tư lường như vậy nên không có chấp thủ một sự vật gì trong đời. Do không chấp thủ, nên không dao động (paritassati), do không dao động, vị ấy tự mình được tịch tịnh (parinibbàyati). Vị ấy tuệ tri (pajànati): “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

11) Này các Tỷ-kheo, đây là đạo lộ thích hợp đưa đến nhổ lên tất cả tư lường.”

(Tương Ưng Bộ kinh – kinh Thích Hợp 2)

Chúng ta thấy sự nhận diện ngũ uẩn sâu sắc như vậy, tách mình ra khỏi sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Không có đồng hóa mình với sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Không có trộn lẫn mình trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Không có nhập làm một mình và sắc, thọ, tưởng, hành thức. Không có nhập làm một mình và cái thân xác, những cảm giác, những suy nghĩ, các hình bóng, các nhận thức này “vị ấy rời xa sắc, thọ, tưởng, hành, thức”. Viễn ly với sắc, thọ, tưởng, hành thức, không có làm cho nó tăng trưởng, làm cho nó giảm thiểu, không có thân cận, mà càng ngày càng rời xa, Không nắm giữ, mà càng ngày càng từ bỏ. Đây là pháp tu của các bậc Thánh, đây là đạo lộ của Đức Thế Tôn, đây là con đường của hành giả Nikāya.

Vị ấy không có nhận bất cứ một suy nghĩ nào là mình, trừ suy nghĩ đó tương ưng với Thánh trí huệ. Vị ấy không nhận bất cứ hình bóng nào là mình, trừ những hình bóng đưa đến ly tham, nhàm chán, từ bỏ, thiền tịnh, thì vị ấy cất giữ những hình bóng ấy, những tưởng ấy để tu tập, dùng những tưởng đó để tẩy sạch những cấu nhiễm, rác bẩn, ô uế nội tâm. Vị ấy không có chấp nhận những cảm xúc nhiệt não, nóng bức, thiêu đốt, đốt cháy. Vị ấy rời xa, chạy xa, tránh xa, từ bỏ, nhàm chán những cảm giác bức xúc, ghim gút, bực bội, nhiệt não, thiêu đốt, đốt cháy. Vị ấy tránh xa, rời xa, chạy xa, thoát xa. Vị ấy nhòm gớm, ngán ngẩm, nhàm chán, từ bỏ với những cảm giác tham, sân, si, vô minh, bản ngã, mê muội đó. “Này các Tỳ-kheo, suy nghĩ cái gì, suy nghĩ trên cái gì, suy nghĩ từ cái gì, suy nghĩ cái gì là của ta, từ đấy cái ấy bị đổi khác.”

Suy nghĩ cái lưỡi, cái miệng này là mình ư, là của mình ư? Suy nghĩ cái hàm răng này là mình ư, là của mình ư? Rồi mai mốt hàm răng này rụng hết. Suy nghĩ con mắt này là mình ư, là của mình ư? Con mắt này rồi không còn thấy đường nữa. Suy nghĩ gương mặt này là mình ư, là của mình ư? Gương mặt này đổi thay, già nua, trổ đồi mồi, nhăn nheo, tàn tạ. Suy nghĩ những cảm giác ấy là mình ư, là của mình ư? Cảm giác này đổi thay, biến hoại. “Ý tựa trên đổi khác, bám víu vào tái sanh”, khi nghĩ những cái đó là mình, thì ý, thức, thọ, tưởng, hành nó dựa vào trong những sự đổi khác đó, rồi nó khổ đau, bất an, tiếc nuối, than vãn, lo lắng, sợ hãi, buồn đau, sầu bi, khổ, ưu não. Nó bám víu vào tái sanh và thế giới này ưa thích tái sanh, chỉ có Đức Như Lai và các bậc Thánh chúng mới không có ưa thích tái sanh, vì “tái sinh, tái khổ, tái sầu. Tái già, tái bệnh, tái làm thây ma. Tái dòng nước mắt tràn đầy thương đau”. Các bậc Thánh không có hoan hỉ, không có ưa thích, tán thán tái sanh, vì các Ngài biết rằng tái sanh là khổ đau, hệ lụy, sầu, bi, ưu não.

Người ta chỉ thấy rằng: Đói quá là khổ, bệnh quá là khổ, thiếu thốn là khổ, già chể, tai nạn là khổ, mà người ta không biết rằng, cái gốc của tất cả cái khổ đó là từ cái thân. Không có thân thì sao có đói? Không có thân thì sao có dục, có thiếu, có đau, có bệnh, có thèm thuồng, khao khát? Không có thân làm sao có sự hơn thua, tranh đấu, giành giật? Tất cả nỗi khổ này là từ có thân. Và chúng sanh không thấy biết được nguồn gốc cũng khổ đó. Mà có thân là do tái sanh, mà cái chỗ thanh y, chỗ dựa của tái sanh là vì ái đối với mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý và yêu thích đối với sắc, thọ, tưởng, hành, thức.

“Ai còn ngã mạn vì thân xác,

Phiền não, khổ đau sẽ dài dài.

Ai còn cao ngạo vì thân xác,

Luân hồi, thần chết sẽ hân hoan.

Ai say đắm thích nhìn thân xác,

Ngạ quỷ, súc sanh sẽ còn hoài.

Ai còn yêu thích nhìn thân xác,

Tự sát hại mình trong tử sanh.

Ai nhàm, ai chán nhìn thân xác,

Phiền não, khổ đau sẽ cạn dần.

Ai nhàm, ai chán nhìn thân xác,

Tử thần sẽ nản chí buông tay.

Ai cười, ai thích nhìn thân sác,

Thì khổ mất thân sẽ dài dài.

Ai nhàm, ai chán nhìn thân xác,

Các cõi luân hồi chấm dứt ngay.

Nay con ngao ngán nhìn thân xác,

Ngao ngán xác thân phải chết hoài.

Nay con ngao ngán nhìn thân xác,

Vô thường nhưng dục, ái, tham, sân.”

Vết tích của tử vong, hồi hôm qua con bướm chết ngay trước mặt chúng ta đó. Mà chúng ta đã chết như vậy trăm lần, ngàn lần, vạn lần, tỷ lần, nhưng vì vô minh chúng ta quên hết, đó là vết tích của sanh tử, dấu vết của tử vong. Nhiều khi con kiến nó chết dưới lòng bàn chân mình, mà mình không có biết; con muỗi nó chết ngay lúc chúng ta gãy, mà mình đâu có hay. “Nay con ngao ngán nhìn thân xác, vô thường nhưng dục, ái, tham, sân” nó tích tắc, mau chóng, ngắn ngủi, nhỏ bé, nhiều khổ đau, lo lắng, sợ hãi và bất an như vậy, nhưng mà đầy rẫy những tham, sân, si, hận thù, đó là bản chất của tất cả ngũ uẩn này. Phải thấm những lời Thánh trí huệ này, phải ngấm thật sâu vào trong xương tủy, tim, gan, óc, não của chúng ta. Không nhớ cái này thì tham, sân, si làm sao lắng dịu, bản ngã làm sao cúi đầu, dục ái làm sao giảm thiểu được, vô minh làm sao lần lần phai mờ, xóa nhòa được?

II. Vô Minh

“Thế giới ưa thích tái sanh” nói câu này mà tim con đau nhói, nhói đau. Đi tu mà cũng muốn sau khi chết để đời sau cho sướng hơn, đó là thế giới ưa thích tái sanh, một câu này phơi bày sự thật của địa cầu. Chúng ta ôn lại một chút bài “Giải Thoát Trí” cho nó thấm đến chết, đừng có quên.

“Đây là khổ, khổ là đây,

Tái sanh, sự thật là đầy khổ đau,

Thế gian mau hãy tỉnh ra,

Hãy nhìn rõ cái gọi là tái sanh.

Tái sanh, tái khổ, tái sầu,

Tái già, tái bệnh, tái làm thây ma,

Tái làm ngạ quỷ, súc sanh,

Tái làm người lúc sướng, nghèo loanh quanh.

Chúng sanh, sanh mãi, chết hoài,

Mỗi lần sanh chết, tâm đầy khổ đau,

Biết bao thân xác chôn vùi,

Biết bao đau khổ, bốc mùi đến nay,

Tỉnh ngay chớ để chết hoài,

Tỉnh ngay chớ để khổ hoài hay sao?”

“Thế giới ưa thích tái sanh”, mà không biết tái sanh là nguyên nhân của tất cả khổ đau. Làm sao biết được? Làm sao thấy được? Làm sao hiểu được? Chúng ta còn ưa thích, tham đắm, say mê, kiêu ngạo, cao ngạo, ngã mạn trong cái hiện hữu này lắm. Tính hiện hữu trong con chó khi nó ghẻ, mà cũng còn cao ngạo, ngã mạn. Hôm đó con dẫn mấy thầy, mấy chú đi thiền hành ra bờ sông Thanh Đa ở gần chùa Bửu Liên. Trên đường đi con nhìn thấy một con chó ghẻ, lở loét, lông rụng hết, ghẻ lở đầy mình, lộ lớp da đỏ hoét lên những cái u mụt, máu mủ, vậy mà bước tới nó nhào ra, nó hất cái mặt nó lên nó sủa. Con mới trải tâm từ “tội nghiệp con quá, con thật là đáng tội nghiệp, thật là đáng thương, con thật là đang khổ nhưng không biết mình đang khổ đau, an tịnh, lắng dịu đi con. Khổ vậy chưa vừa đủ sao con? Tại sao con còn huênh hoang, hắc dịch, kiêu ngạo với một tấm thân chó ghẻ như vậy?” Con trải tâm từ như vậy, tự nhiên chú này dừng lại không sủa nữa, rồi lắng dịu xuống, con cảm nhận được chú chó ghẻ này nhận được lòng từ. Thật sự con nhìn thấy con trong đó, con đã từng là thân chó ghẻ như vậy, đã từng hóng hách, kiêu ngạo, ngã mạn như vậy.

Vì vô minh, ngu si, tham ái mà tất cả chúng ta đã từng chui vô những cái thân dòi, kiến, chuột cống, gà, vịt, trâu, bò, heo, chó, súc vật, súc sanh, cô hồn, ngạ quỷ, địa ngục. Thật là đáng thương cho chúng ta, ngày hôm nay ngồi đây chẳng biết cái gì, ăn bát cháo lú tức là vô minh, chúng ta đã quên hết những cái mà chúng ta đã chịu đựng những đau khổ. Những cái mà chúng ta đã chịu trong kiếp này thôi, mà ngồi lại là nước mắt tuôn trào tận cùng thương đau. Chúng ta nghĩ Đức Thế Tôn, Chánh đẳng giác, khi mà Ngài chứng ngộ Tam minh, Tứ trí, Ngũ nhãn, Lục thông, Ngài nhìn cả một vòng luân hồi vô lượng kiếp ở trong sanh tử, Ngài nhìn thấy 1 tỷ bộ phim khổ Thánh trí, thì Ngài kêu lên: “Đây là khổ”. Cả một vòng luân hồi vô lượng kiếp đã từng chịu đựng những cái thân như vậy.

Chúng ta đã thiền quán “Tương Ưng Vô Thỉ” “Máu các Ông đổ ra, bị người ta đập đầu vì ăn trộm, ăn cướp, tà dâm, ngoại tình với vợ (chồng) người ta. Máu ở đầu các Ông đổ xuống nó nhiều hơn cả sông, biển”. Chúng ta đã từng sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, đã từng trải qua vô lượng thân, vô số thân, vô ức thân, vô tỷ thân trong vòng luân hồi này. Chúng ta nhìn vô thân con chó ghẻ, thân con bướm, con chuột cống sáng nay con ngồi thiền con nhìn thấy, những đứa con đỏ hoe trong máu. Lâu lâu là những tiếng kêu thảm thiết, vì nó bị con mèo nhai cái xác, chộp nó, cắn cái đầu, máu lênh láng, nhầy nhụa. Vậy mà chúng ta cứ kêu căng, kiêu ngạo, ngạo mạn, ngã mạn, ta đây, vênh váo, hống hách, vỗ ngực xưng tên, khen mình, chê người, cống cao ngã mạn, vươn vươn tự đắc. Để rồi chúng ta tiếp tục chụp những cái thân hèn hạ, bẩn thỉu, chó ghẻ, dòi tửa, ăn xin, ở đợ. Thật là xót thương, đáng thương, tội nghiệp, xót xa cho chúng ta trong vòng luân hồi này.

Chúng ta phải mang những tấm thân cùi, hủi, tâm thần, điên loạn, bị xích bằng sợi dây xích 18 năm, 30 năm, sợi xích cho những người điên khùng, mỗi khi đưa đồ tới mặc cho họ xé nát ra, con người mà sống đời sống súc vật. Mà bây giờ ở ngoài đường, hở một chút là đâm, chém, giết, chính là những cái tâm thú vật, súc sanh. Cho nên ngay khi đời sống đã là thú vật rồi, người ta bắt vô song sắt, khóa sợi dây xích lại, nhốt trong đó cho tới chết, ăn một chỗ, ỉa một chỗ, đái dầm một chỗ. Sau khi chết sẽ làm thú vật, tương ứng với cái tâm sân hận, ác độc đó. Chúng ta hãy lấy chủ đề “địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh” này làm chủ đề chí đại để quán chiếu. Chúng ta phải run sợ, khiếp sợ, lo sợ, hãi sợ với những đời sống như thế chúng ta đã từng trải qua, chúng ta sẽ trải qua, và nếu chúng ta không nhập vào dòng Thánh pháp này, không thành tựu được Chánh tri kiến, thì những đời sống như vậy sẽ còn tiếp diễn, tái diễn rất là nhiều, còn chết hoài.

Phải ngao ngán, sợ hãi, gớm ghê, chán chê với cái vòng luân hồi oan nghiệt đầy nước mắt, đầy máu, đầy những nấm mồ, mộ phần ngày một lớn lên. Phải thấy lo lắng, sợ hãi, ưu tư, trăn trở, thao thức, ray rứt, nhứt nhói. Phải thấy lo sợ, tai họa, hiểm họa, ách nạn, hoạn nạn, thảm họa trong vòng luân hồi này. Chúng ta đang ngồi đây, hiện bây giờ bên Nhật Bản có bão trên 170 cây số trên giờ và khả năng lên hơn 270 cây số trên giờ, siêu bão đang diễn ra, chúng ta có biết không? Dự báo thời tiết đã báo cho tới tháng 2 năm 2023 còn có cơn bão chưa từng thấy nứa. Bây giờ tất cả những quy luật tự nhiên vận hành bị đảo lộn, phá vỡ trật tự hết. Chúng ta đang ngồi đây, mà bao nhiêu con người phải hứng chịu cảnh nhà tan, cửa mất, ly tán, hoang tàn, sụp đổ, chết chóc. Đó là con mắt, phải mở được con mắt nhìn thấy sự thật ở thế gian này.

III. Sám hối

(Phật tử trình pháp)

Mình phải sám hối thật nhiều, cái tâm của mình nó bị ai rước về cái nghiệp mình đã tạo. Cho nên nó sẽ làm chướng ngại, gọi là chướng ngại pháp. Bây giờ mình phải xám hối thật nhiều với những oan gia trái chủ, mình làm những việc thiện, công đức, mình hồi hướng từ từ, cảm giác tội lỗi sẽ nhẹ từ từ. Khi những cái đó nó nhẹ rồi thì mình sẽ bước vào pháp một cách mạnh mẽ, tự tin. Phải sám hối oan gia trái chủ mỗi ngày, bất cứ điều kiện gì, đều hồi hướng cảm thọ đó. Đức Phật nói: “Với một người chưa có thọ nhận cảm thọ đó thì nó chưa có hết”, cho nên cảm thọ về tội lỗi đó là tòa án lương tâm. Nó làm cho mình ray rứt, lo lắng, bất an, không tự tin, đó là chướng ngại pháp. Nhưng mà không có gì hết, tất cả nó là vô thường, nên mình sẽ thay đổi cảm thọ đó được bằng cách sám hối oan gia trái chủ, làm công đức, phước thiện thật nhiều thì cảm giác tội lỗi đó sẽ giảm, sẽ xóa nhòa lần lần. Khi cảm giác đó xóa nhòa, nó nhẹ lại, thì mình sẽ bước vào pháp một cách tự tin, mạnh mẽ, mãnh liệt. Chúng ta nhớ, tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ, cho nên mình nhìn vô mình thì mình sẽ biết được mình còn cái pháp gì, thì mình sẽ hóa giải ngay cảm thọ đó, chỗ đó là rút, chỗ đó cũng là mở, ngay tại cảm thọ đó.

IV. Sợi dây tái sanh

Chúng ta hiểu nguyên nhân của tái sanh là gì? Thế nào là sợi dây của tái sanh? Đại chúng niệm bài kinh “Sợi Dây Tái Sanh”:

“Nhân duyên ở Sāvatthi …

Ngồi xuống một bên, Tôn giả Rādha bạch Thế Tôn:

: “Ðoạn diệt sợi dây tái sanh. Ðoạn diệt sợi dây tái sanh”, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Thế nào là sợi dây tái sanh, bạch Thế Tôn? Thế nào là sự đoạn diệt sợi dây tái sanh?

—Này Rādha, phàm dục gì, tham gì, hỷ gì, khát ái gì, phàm những chấp thủ phương tiện, tâm kiên trú, thiên chấp tùy miên gì đối với sắc, như vậy gọi là sợi dây tái sanh. Sự đoạn diệt chúng là sự đoạn diệt sợi dây tái sanh.

… đối với thọ … với tưởng … với các hành …

Phàm dục gì, tham gì, hỷ gì, khát ái gì, phàm những chấp thủ phương tiện, tâm kiên trú, thiên chấp tùy miên gì đối với thức, đó gọi là sợi dây tái sanh. Sự đoạn diệt chúng là sự đoạn diệt sợi dây tái sanh.”

(Tương Ưng Bộ kinh tập III – kinh Sợi Dây Tái Sanh”

Thấy đọc vậy chứ không phải dễ hiểu đâu, để con lấy ví dụ cái hiểu liền. Ví dụ như: Tại sao có cái lọ trầm hương để trên bàn con đây? Tại vì mình thích nó, nên đặt nó ở đây. Mình không thích nữa, mình chán ghét, mình muốn từ bỏ nó, thì nó không có ở đây, chính là như vậy đó. Đó là nguyên nhân sự có mặt của chúng ta trên cuộc đời này. Dễ hiểu không ạ? Mình yêu thích sắc, mình tham ái sắc, mình nắm giữ sắc, cho nên mình có sắc, như quần áo chúng ta đang mặc. Mình yêu thích thọ, yêu thích cảm giác, nắm giữ cảm giác, cho cảm giác là mình, cho nên mình có cái cảm giác, gọi là “thọ thủ uẩn”, “sắc thủ uẩn”, là sự nắm giữ vào trong đó. Cho nên chúng sanh đau khổ vì cảm giác, vì cái thân này. Mình yêu thích những hình bóng trong tâm, mình nắm giữ những hình bóng đó, cho những hình bóng đó là mình, là của mình? Mình đau khổ về những hình bóng đó, thì hình bóng đó có mặt. Mình yêu thích cái suy nghĩ, nắm giữ cái suy nghĩ, cho suy nghĩ đó là mình, là của mình, cho nên suy nghĩ đó tồn tại. Nhận thức cũng vậy, tất cả là mình, yêu thích nó.

Tại sao mình yêu thích nó? Tại vì mình không biết nó là thứ tan hoại, là tham ái, vô minh. Mình nói tiếng Việt mình dễ hiểu, mình không biết đó là đồ giả, đồ dễ vỡ, mình tưởng đó là đồ thiệt, đồ chắc. Cho nên, chính cái gì mình không biết, mình yêu thích nắm giữ, như vậy khi bể, nó vỡ, nó rã ra, lúc đó mình khổ đau. Mà cứ hết cái này là chụp qua cái kia, hết cái kia chụp qua cái thân nọ, hết thân này chụp qua thân khác hoài. Như vậy vô lượng, vô biên, vô số kiếp, không có ngừng nghỉ để mà nắm chụp, chạy đuổi, để bốc vô những cái thân, đó là nguyên nhân của tái sanh. Tức là không thấy, không biết về ngũ uẩn và tham ái trong ngũ uẩn. Chánh tri kiến tức là thấy biết trong ngũ uẩn, thấy biết được bản chất của nó. Chúng ta thiền quán từ hồi đầu tới giờ, mấy năm nay không biết bao nhiêu lần là đều để phá vô minh, tham ái và chấp thủ. Phá cái sự không thấy, không biết, mê lầm, cho mình sự thấy biết chính xác. Từ thấy biết chính xác, mình không có yêu thích nữa. Không yêu thích nữa, thì từ bỏ. Từ bỏ thì không còn khổ đau nữa, như vậy gọi là giải thoát. “Thấy đơn giản không?” đó là Thánh đạo của Nikāya. Nhưng mình nói đơn giản, hiểu đơn giản, nhưng thực hành không giản đơn, vì cái thấy sai nó đã thâm căn cố đế, vô lượng, vô biên kiếp rồi.

“Con mời cô tóc bạc nhất ở đây, cô lần đầu tiên lên núi, hôm nay thiền quán thấy cô hình như cũng có cảm xúc, mời cô chia sẻ sau khi thiền quán, cảm giác, suy nghĩ, tâm ý của mình lúc đó như thế nào?”

(Phần Phật tử trình pháp) 

Những sự cảm xúc đó, là khi mình chạm vô tới sự thật của thân tâm mình, mình mới có những dòng cảm thọ như vậy. Mình nhìn thấy được sự thật của thân tâm mình, mà trước đây mình không thấy. Những cái pháp giúp mình soi lại, đối chiếu lại mình nên mình thấy, điều đó rất là tốt. Những cảm xúc, cảm thọ, cảm giác này cô cứ để nó tuôn trào ra, không có kìm hãm lại, những dòng nước mắt, những cảm thọ này sẽ gội rửa những cấu nhiễm, sai trái trước nay của mình. Những dòng nước mắt này quý báu, hiếm có, khó được, trong vòng luân hồi sanh tử này. Vì mình nhìn ra được bộ mặt thật sự của thân tâm này, nhìn được những xấu xa, rác bẩn, sai quấy, mà trước kia mình chưa nhìn thấy. Mình cảm thấy tủi hổ, vì cái bản ngã này làm mất đi hạnh phúc gia đình, tình yêu thương giữa mẹ và con. Nhìn ra được cái bản ngã này, nó làm hại mình, làm hại người. Nhìn ra được cái bản ngã nó trá hình với một sứ mệnh thiêng liêng của một người mẹ, làm khổ cho gia đình. Hôm nay mình thấy được rồi là phước lành của mình, trí tuệ của mình bắt đầu được loé sáng lên, cô tiếp tục giữ gìn cảm thọ này, tiếp tục tác ý, tiếp tục quán chiếu, để nó thẩm thấu, an trú trong tâm mình, không cho nó mất, giữ cái cảm thọ này. 

(Phần Phật tử trình pháp)