Nhận Diện Thân Tâm 13 - Căn Bản Trí
TINH HOA NIKĀYA
NHẬN DIỆN THÂN TÂM 13
CĂN BẢN TRÍ
– Thích Minh Thành–
Hình bóng, bóng dáng sáu trần hiện lên trong tâm, đó gọi là tưởng. Có tất cả sáu tưởng, đó là sắc tưởng; thanh tưởng; hương tưởng; vị tưởng; xúc tưởng; pháp tưởng, khi chúng ta chưa học nhận diện thì sẽ nghĩ cái tưởng là một, tức là hồi tưởng lại những chuyện đã làm nhưng Đức Thế Tôn bằng trí tuệ thì ngài phân loại cái tưởng ra làm sáu loại. Mình nhớ lại tiếng chỉ trích ngày hôm qua thì đó là thanh tưởng, hình bóng của người chỉ trích hiện lên là sắc tưởng, sự xúc chạm nếu có trong lúc tức giận là xúc tưởng, pháp tưởng là nhớ lại những cảm giác, suy nghĩ lúc đó. Như vậy có ai hỏi mình tất cả tư tưởng của mình phân làm mấy loại thì mình biết trả lời cho đúng, chữ "tư tưởng" này bao gồm và tưởng và hành chứ không chỉ có tư tưởng không, sáu tư tức là sáu hành, sắc tư; thanh tư; hương tư; vị tư; xúc tư; pháp tư. Nếu nắm vững những cái này thì đi vào trong kinh tạng sẽ dễ dàng, còn không nắm được thì đi vào kinh như vào trong rừng rậm, vì thế để có được những tư tưởng, những hình bóng trong tâm là do mình tiếp xúc với cái đó cho nên mới có những hình bóng trong tâm. Trước khi con về đây chia sẻ với quý thầy thì làm sao quý thầy có được hình bóng con ngồi đây chia sẻ kinh Nikāya với mọi người, trước khi mình vào đây ở thì mình không có hình bóng của trường thiền mà là do thấy, do tiếp xúc thì khi về nhà mình mới tưởng nhớ lại, do nghe, do ngửi, do nếm, do đụng chạm, tiếp xúc thì mình mới nhớ lại.
Đức Phật nói rất nhiều bài kinh về tưởng, trong đó có những tưởng dùng để trị bệnh, dùng để quán chiếu. Thế nào để chấm dứt cái tưởng? Nếu xúc đoạn diệt thì tưởng đoạn diệt, nghĩa là không còn tiếp xúc nữa thì những hình bóng đó sẽ chấm dứt. Con đường để đưa đến sự chấm dứt các tưởng là con đường Bát Chánh Đạo, phải thấy đúng về các tưởng, suy nghĩ đúng về các tưởng, có sự tu tập quán chiếu chân xác về tưởng uẩn thì mình mới đi đến chỗ chấm dứt. Vị ngọt của tưởng, sự nguy hại và sự chấm dứt của tưởng cũng giống như sắc và thọ đã nói, vị ngọt của tưởng là ngồi đó rồi tưởng mơ, có sự thích thú, khoan khoái, ngồi một mình mà cười, cái này thì hơi nguy hiểm. Có nhiều người đứng đó rồi nói chuyện một mình rồi cười một mình luôn, thọ; tưởng; hành vận hành rất khủng khiếp, không chỉ vận hành bên trong mà còn bật ra cả lời nói, hành vi bên ngoài cho nên những người bị lẫn hoặc bị điên loạn là do họ không kiểm soát được những thọ; tưởng; hành bên trong, họ không nhận thức được nên nó bật ra ngoài trở thành điên khùng, nói ra những lời suy tưởng bên trong cho nên cái tưởng này rất ghê gớm.
Do duyên tưởng khởi lên lạc hỷ gì, lạc hỷ này là vị ngọt của tưởng. Chúng ta đã nghe cây chuyện của thầy Tăng Hộ chưa? Chú này có một người vừa là cậu vừa là sư phụ nên chú này đi theo xuất gia. Hôm đó chú ra chợ được người ta cho hai xấp vải nên trở về vui mừng, thích thú, đem khoe với sư phụ. Sư phụ thấy vậy cũng bình thường rồi gọi chú lên quạt cho sư phụ ngồi thiền vì bên Ấn Độ mùa nắng có nhiều ruồi muỗi, khi chú lên đứng quạt thì cảm thấy chán vì chỉ có hai cậu cháu tu mà đem xấp vải về khoe thì mặt lạnh lùng, chú này nghĩ chắc không còn thương mình nữa nên muốn ra đời cưới vợ. Khi chú lấy vợ được một thời gian thì có đứa con nhỏ, sau đó lại có thêm một đứa nhỏ nữa, một hôm khi hai vợ chồng về thăm sư phụ, hai người giành nhau bồng bế đứa con nhỏ nhưng chẳng may làm rớt đứa con xuống đất thì chú này bực mình vì nói vợ không nghe, thế là chú lấy cán quạt đánh vào đầu người vợ. Sư phụ nói đập đâu không đập lại đập ngay vào đầu sư phụ, chú mở mắt ra hoảng hồn vì nãy giờ toàn bộ đều do chú tưởng tượng mà ra. Đứng quạt cho sư phụ mà tưởng tượng ra, mới còn chú tiểu mà tưởng ra hai đứa con cho nên cái tưởng này rất kinh khủng.
"Tâm khó thấy, tế nhị,
Theo các dục quay cuồng.
Người trí phòng hộ tâm,
Tâm hộ, an lạc đến"
(Kinh Pháp Cú 03 – Phẩm Tâm, kệ 36)
Cái tâm này không hình không tướng, tâm lậu hoặc cứ đi lang thang hết chỗ này đến chỗ kia, nó rong ruổi hoài mà lại tương ứng với nghiệp thì khi chết sẽ thành cô hồn, chết thành ngạ quỷ, cứ vất vơ vất vưởng vô định vì thế người hay thẩn thơ, ngẩn ngơ dễ bị như vậy, mình cần chánh niệm và tỉnh giác, phải biết rõ việc mình đang làm, khi đi phải biết rõ sắc này đang đi, khi ngồi phải biết rõ sắc này đang ngồi, khi nằm phải biết rõ sắc uẩn này đang nằm, co duỗi, cúi ngước, đắp y phải biết rõ việc mình đang làm, chánh niệm tỉnh giác, đem tâm trở về thân. Phải rõ biết trước mặt, cảm giác toàn thân và nội tâm của mình phải tỉnh giác đối với những thọ; tưởng; hành đó, nếu không là tâm đi lang thang.
Thân trống rỗng không ai trong đó
Chỉ có tâm lậu hoặc lang thang
Rày đây mai đó trong lang bạt
Hết gá thân này lại thân kia.
Tâm lang thang đi rong chơi hết chỗ này đến chỗ kia, suy nghĩ vớ vẩn rồi tự buồn tự vui, tự tham rồi tự sân, có khi chuyện chẳng có gì mà cứ suy nghĩ một hồi là ra đủ thứ chuyện cho nên cần cẩn thận đối với những cái tưởng này, phải nhìn thật kĩ những hình bóng trong tâm, thực hành ba pháp thường xuyên dù bất cứ lúc nào. Phải xem lúc đó trong tâm đang có những suy nghĩ, hình bóng gì, nếu đang có những suy nghĩ lang thang thì phải như lý tác ý kéo tâm trở về thân, an trú trong giây phút hiện tại. Nếu cứ vui thích, khoan khoái, tham đắm trong cái tưởng đó rồi sống với ảo tưởng, sống với điên đảo tưởng chứ không sống với sự thật, sự thật là những gì đang diễn ra trong giây phút hiện tại cho nên tại sao có thầy hỏi về ba bốn cái thức thì con nói hãy trở về giây phút hiện tại, đó là do cái tưởng dẫn đi mà mình không biết. Khi làm gì thì cần tập trung tâm ý vào chỗ đó, nếu tưởng xuất hiện lên thì phải nhận diện nó cần thiết hay không cần thiết, nên hay không nên, cần nhìn ra các tưởng khi nó sanh khởi, nó an trú, nó vận hành, xâm chiếm, áp đảo trong thân tâm của mình.
Những cái tưởng đó là đổi thay, là khổ đau, những cái tưởng đó chịu sự biến đổi và tan hoại. Trước khi trở về thăm nhà thì mình tưởng tượng ra cảnh vật như vậy nhưng đến khi mình trở về thì không hề giống với những gì mình đã tưởng, thay đổi hết, không còn ngọt ngào thân thiện, xa mặt cách lòng rồi, tất cả đều đổi thay, đều đi đến hoại diệt, tan rã vậy mà trong suy nghĩ mình cứ nghĩ nó vẫn như vậy đến khi mình tiếp xúc thì bị bất ngờ, nó luôn luôn biến dịch. Tất cả pháp luôn luôn dịch chuyển, thiên lưu chứ không đứng một chỗ cho nên không có gì thường trụ cả, nếu có suy nghĩ cái phòng này vững chắc, ở trong đây được yên ổn thì không đúng, lỡ đột ngột mình có thể bị thiêu cháy, có thể bị động đất chôn vùi. Ai có thể tưởng tượng được sóng thần khủng khiếp đến mức nặng nề như vậy xảy ra ở Nhật Bản, cuốn trôi làng mạc, nhà cửa, xe cộ, không ai có thể tưởng tượng được, đó là sự biến hoại của các pháp tứ đại vì vậy cần phải quán chiếu, suy tư, nghiền ngẫm về sự vô thường, sự đau khổ, sự biến hoại của tất cả ngũ uẩn này. Tất cả những hình ảnh trong tâm, dù là hình ảnh gì cũng chỉ là ảo ảnh, người Nhật làm ông Phật theo kiểu người Nhật có râu, người Thái thì làm tượng Phật đội mão, người Hoa làm ông Phật tròn trịa, mỗi nước làm tượng Phật mỗi kiểu, vậy cuối cùng hình tượng Phật là gì, có phải hình tượng của người Ấn Độ không, đó là sắc uẩn trong mấy mươi năm.
"Thế Tôn đã nói như sau: 'Ai thấy được lý duyên khởi, người ấy thấy được pháp; ai thấy được pháp, người ấy thấy được lý duyên khởi'. Những pháp này do duyên khởi lên chính là năm thủ uẩn. Sự tham dục, chấp trước, tham đắm, mê say trong năm thủ uẩn này tức là khổ tập; sự nhiếp phục tham dục, sự từ bỏ tham dục tức là sự khổ diệt" (Trung Bộ Kinh, 28. Ðại kinh Dụ dấu chân voi)
Vì vậy nếu mình căn cứ trên hình tướng đó rồi cho là Phật thì không phải vậy, nó chỉ là sắc pháp biểu trưng để mình nhớ lại hạnh đức, trí đức của Phật để mình thành tựu được Thánh trí tuệ của ngài truyền trao. Khi con nói duyên sanh pháp là Thánh trí thì các thầy tưởng con nói đùa nhưng đó là sự thật vì trí tuệ đó chỉ có bậc Thánh chứng ngộ, tất cả phàm phu không ai thấy được, trong lúc học, trong lúc thấy được như vậy thì đó là trí huệ của bậc Thánh nhưng quên là trở lại phàm.
Sự xuất ly của các tưởng là sự nhiếp phục dục và tham, sự đoạn tận dục và tham đối với tất cả các tưởng. Có khi mình chào mà người đó bận suy nghĩ, tâm họ đang đi du lịch ở nơi nào đó nên không thấy mình chào, thế là về nhà mình suy nghĩ "khinh khi tôi, tôi chào mà không thèm nhìn", vậy là có phiền não trong khi chuyện rất nhỏ, tâm người đó đang lang thang hoặc họ đang chú tâm vào việc gì đó nên không thấy mình chào, ở ngoài giới vức của nhãn thức là họ không thấy dù cho đứng kế bên, tuy nhiên mình lại không thấu hiểu, không cảm thông rồi mình diễn ra đủ chuyện nhưng cuối cùng lại là trò ảo thuật của tâm thức, mình tưởng tượng ra một lúc là câu chuyện đi xa khỏi sự thật. Hành là những tư duy, suy nghĩ, nói thầm trong tâm, cái hành này là ý hành, lời nói của mình là khẩu hành, cái thân làm ra hành động gọi là thân hành. Mình cần phân biệt cái hành trong ngũ uẩn là chỉ cho suy nghĩ, còn nếu nói khẩu hành và thân hành thì đó là lời nói và hành động, còn hành pháp là tất cả sự vật, hiện tượng trên thế gian này đều dịch chuyển, thiên lưu, vận hành, biến đổi, còn nói chữ hành trong ngũ uẩn thôi thì đó là suy nghĩ.
Sở dĩ mình có ra suy nghĩ là do mình tiếp xúc, cắt tiếp xúc thì không còn suy nghĩ về cái đó nữa. Những suy nghĩ làm cho mình sanh khởi lên sự vui sướng, thích thú thì đó là vị ngọt của suy nghĩ và những suy nghĩ này là biến đổi, vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, đó là sự tai hại của những dòng suy nghĩ cho nên mình không chấp nhận bất cứ một suy nghĩ nào. Những suy nghĩ sanh khởi lên mà tương ứng với pháp thì mình mới duy trì và phát huy, còn những suy nghĩ sanh khởi lên không liên hệ đến pháp thì mình phải chế ngự, nhiếp phục, đoạn tận, tẩy sạch, không để tiếp tục những suy nghĩ về dục tham, sân hận, bản ngã, hơn thua… Nhưng bây giờ lấy gì để diệt suy nghĩ? Đó chính là dùng suy nghĩ để diệt suy nghĩ, đây là chỗ sâu sắc của pháp hành, đây cũng là pháp hành thâm sâu của Nikāya.
Do mình tiếp xúc mới có suy nghĩ, cảm giác, hình bóng trong tâm, còn sắc sanh là do có thức ăn. Chúng ta thành tựu được trí sanh diệt của ngũ uẩn, chúng ta biết được nguyên nhân sanh diệt trí của năm uẩn chứ không phải cái nào cũng chung chung. Tôn Ngộ Không đánh yêu quái mãi vẫn không thắng, cuối cùng đi gặp Thái Thượng Lão Quân mới biết ra đó là con vật mà ngài hay cưỡi, thế là ngài Thái Thượng thu phục con quái vật rất nhanh vậy mà Tôn Ngộ Không đánh mãi không thắng, chỉ cần biết được nguồn gốc của nó là trị được nó. Ở đây chúng ta đang học nguồn gốc của ngũ uẩn, không phải nói đơn giản là trị được vọng tưởng, nếu không biết tại sao nó sanh khởi thì làm sao diệt được nó. Mình nói rằng mình diệt hết vọng tưởng, bỏ được hết vọng tưởng nhưng thật chất có bỏ được không? Mình không biết từ đâu nó sanh ra, mình không biết bộ máy vận hành của nó thế nào, không biết cấu trúc, mô típ, nguồn gốc từ đâu sanh khởi, an trú, vận hành, không biết dùng cái gì để diệt nó thì làm sao trị được nó, không phải bệnh rồi nói đưa thuốc gì uống cũng được, cảm thì uống thuốc cảm, đau bụng thì uống thuốc đau bụng, nhức đầu thì có thuốc nhức đầu cho nên trong sự tu học không hề đơn giản như mình nghĩ.
Nếu cắt đứt nguồn thức ăn là sắc diệt, tức là ái tập khởi thì tứ thực tập khởi, ái đoạn diệt thì tứ thực đoạn diệt, mà tứ thực là nguyên nhân để có ra cái sắc, bây giờ không cho ăn nữa thì suy dinh dưỡng, ốm o gầy mòn và cuối cùng là chết, như vậy là sắc đoạn diệt. Chúng ta muốn giải thoát khỏi sắc nhưng cho ăn liên tục thì làm sao giải thoát khỏi nó? Bây giờ muốn tu giải thoát mà toàn lựa đồ ăn ngon để ăn thì làm sao giải thoát, ngoài ra còn sự nhớ nghĩ, tiếp xúc, đụng chạm, cứ cho ăn thì làm sao diệt được nó cho nên phải thành tựu sanh diệt trí đối với các pháp, đối với cảm thọ cũng giống vậy. Đức Thế Tôn đã nói tất cả thọ đều nằm trong đau khổ.
"-- Lành thay, lành thay, này Tỳ-kheo! Này Tỳ-kheo, Ta nói rằng có ba thọ này: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Ba thọ này được Ta nói đến. Nhưng này Tỳ-kheo, Ta lại nói: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'. Chính vì liên hệ đến tánh vô thường của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'. Chính vì liên hệ đến tánh đoạn tận, tánh tiêu vong, tánh ly tham, tánh đoạn diệt, tánh biến hoại của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'". (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Hai - Phẩm Sống Một Mình, bài Sống Một Mình)
Chỉ có bậc tối tôn, tối thượng mới thành tựu được trí huệ đó, tất cả cảm giác, cảm xúc đều nằm trong đau khổ dù là lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ. Học đến cái này là rung động thân tâm, không còn bất kì cái nào để mình bám víu vào nữa, sau này mình sẽ học phá sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu tưởng, sáu tư, sáu tầm, sáu tứ, phá bung tất cả các pháp, đến lúc đó Thánh trí mới được thiết lập, không còn cái gì đứng vững trong Thánh trí huệ, giống như nổ bom nguyên tử. Bây giờ cảm giác khổ là khổ thì đúng rồi nhưng tại sao cảm giác sướng cũng là khổ? Đua xe sướng không, xì ke ma túy sướng không, vào những chỗ mua vui mà ngày xưa thường nói là lầu xanh rất vui vẻ nhưng sau đó là tan nhà nát cửa, vợ chồng ly tán, thân bại danh diệt, tán gia bại sản cho nên phải quán tất cả cảm thọ đều nằm trong đau khổ. Một khi Đức Phật đã nói ra thì không thể sai khác, lời của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác đã nói ra thì tỷ năm sau cũng không hề suy suyển, sai trật. Những gì ngài đã nói ở Bồ-đề đạo tràng cho đến Tala song thọ không thể sai khác nhưng phải là kinh gốc của Đức Phật, còn những sách diễn giải sau này là không phải. Khổ thọ là sự đau khổ, đều này không cần nói, ăn vào sung sướng, ngon miệng nhưng có khi lát sau lại bị đau bụng, tiêu chảy, đó là vừa vui sướng đã đau khổ. Bây giờ mình được đi Mỹ nhưng có khi lên máy bay bị lây dịch bệnh hoặc ngồi máy bay trong thời gian dài sẽ gây đau nhức, khó chịu thân thể cho nên mình nghĩ trong niềm vui chỉ có cái vui là không đúng, trong đó có rất nhiều cảm thọ, thậm chí ngay trong cái vui lại là khổ. Chỉ có những cảm thọ phi vật chất, những cảm thọ của Thánh pháp, hỷ lạc của thiền định, trí tuệ, giác ngộ, Thánh ngộ thì những cảm thọ đó mới thuần lạc, không có khổ trong đó, còn dục lạc chỉ toàn khổ, hai mặt dính vào nhau như hai mặt đồng tiền.
Dùng suy nghĩ để diệt suy nghĩ chính là như lý tác ý. Dùng sắc diệt sắc là như thế nào? Tóc, lông, móng, răng, gân, xương, bao tử, lá lách, dạ dày, tim, gan, tùy phế thận, máu mủ… Đó là dùng sắc diệt sự mê chấp trong cái sắc, dùng sự thật, chân lý, trí tuệ trong sắc để phá sự ngu si, khát ái, thèm thuồng trong sắc. Dùng ba mươi hai thể trược, dùng tứ đại, dùng chín giai đoạn của một tử thi, một thây chết để diệt sắc. Dùng thọ diệt thọ nghĩa là tâm mình nếu khó chịu, cau có, dễ nổi nóng, tâm nhỏ hẹp, nhỏ mọn thì mình dùng tâm rộng lớn, vô lượng tâm định để trị nó, mình tìm chỗ nào trời trong xanh không có gì che bầu trời để nhìn lên bầu trời rồi quán tâm rộng lớn cùng khắp hư không.
Tâm thương này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm thương này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la.
Không phải chỉ đọc ngoài miệng mà chúng ta phải đưa nó vào cảm thọ, kết hợp với những hình ảnh quán chiếu, chúng ta quán tưởng tâm từ, tình thương của mình vượt qua khỏi các vách tường, lan tỏa ra khắp không gian trời đất nơi này, trải rộng tâm từ ra khắp bản đồ hình chữ S của chúng ta và rộng cùng khắp năm châu bốn biển. Khi mình đọc thì phải quán tưởng, thọ; tưởng; hành; thức phải sanh khởi, dùng ngũ uẩn để trải tâm từ, nếu không thấy ngũ uẩn thì mình chỉ nói trên khẩu hành hoặc có một chút tưởng, bây giờ mình đã biết ngũ uẩn thì mình có tưởng và thức. Lúc đó mình phải dùng ngũ uẩn của mình quán tưởng trùm khắp toàn thế giới thì mức độ quán chiếu của mình sẽ sâu sắc, sẽ dâng trào cảm xúc, cảm thọ.
Trở lại vấn đề dùng cảm thọ để diệt cảm thọ, nghĩa là tâm nhỏ hẹp thì tập tâm rộng lớn, nếu là người hay sân si, dễ kiếm chuyện, gây sự thì tập tâm từ, dùng cảm thọ thương yêu để diệt cảm thọ bực bội, sân hận, không chất chứa cảm thọ đó, không nuôi dưỡng, tích lũy cảm thọ đó, không để nó tồn kho trong tâm mà giải quyết nó lập tức, quăng nó ra khỏi thân tâm lập tức. Dùng tưởng diệt tưởng rất nhiều, mình tu vô lượng pháp trong Nikāya, ví dụ tâm mình đang nóng nảy, lồng ngực bừng bừng lên, phát hỏa, phẫn nộ lên thì mình đem dòng nước mát đến tưới xuống như tắm dưới vòi hoa sen. Xung quanh mình là dòng nước mát trong xanh, sạch, mát mẻ, thơm tho, hoa sen nở thơm ngát, mình nhảy vào hồ nước đó tắm trong dòng nước đại bi của từ tâm, làm cho mình sanh khởi lên cảm giác xót thương cho chính mình, xót thương cho những người mình ghét, xót thương cho tất cả hữu tình chúng sanh đang bị chìm đắm, bị thiêu đốt trong những ngọn lửa bực bội, sân hận, thiêu đốt. Mình không muốn như vậy, mình thật là thương cho những cảm thọ sân hận này, mình không nuôi dưỡng, chất chứa cảm thọ này, mình chỉ muốn tống khứ nó ra khỏi thân tâm mình, mình chỉ muốn có cảm thọ an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào, từ ái, hiền thiện, từ tâm. Mình quán tưởng như vậy là tự động dùng tưởng diệt tưởng, mình đang bực bội vì người kia thì mình tưởng lại "tội nghiệp họ", đó là mình tác ý kết hợp luôn cả tư tưởng. Khi mình tác ý như vậy là những hình bóng, suy nghĩ, cảm giác sẽ sanh khởi.
Những cái tưởng mình thấy rõ, dễ nhận ra thì gọi là thô, còn những cái tưởng vi tế, sâu kín có khi không thấy được thì gọi là tế. Nếu bây giờ con nói mọi người để ý cái lưng thì sẽ có hình bóng cái lưng trong tâm hiện ra, vi tế hơn nữa là hình bóng của tự thân nhưng cái này mình không thấy được, mình nói mình không có nhưng thật ra là do mình không thấy mà thôi. Mình đợi tới cái thô như mình tức giận, ham muốn, bản ngã lên rồi mình mới thấy nhưng thật ra nó rất vi tế, chẳng hạn mình ngồi mà tâm yên lặng, không có hình bóng, suy nghĩ gì cả, cảm giác an tịnh, lắng dịu, mình thấy nhẹ nhàng, an lạc, mênh mông thì mình tưởng tâm mình an tịnh nhưng đó lại là cái tưởng không vô biên xứ, cái tưởng đó rất vi tế. Mình cứ nghĩ cái tưởng này không có hình bóng nhưng không có hình bóng mà có sự rộng lớn, mênh mông rồi mình thích thú, khoan khoái trong đó cho nên cái này cũng là tưởng nhưng là tưởng vi tế. Thậm chí có những cảm thọ mà mình không biết được nó thuộc thọ gì, phải lắng tâm sâu lắng nhìn thật kĩ mấy tiếng đồng hồ, thậm chí là vài ba ngày sau mới biết đó là thọ gì. Bây giờ mình học căn bản là lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ nhưng khi đi sâu vào sẽ có rất nhiều trạng thái của thọ, mình sẽ thấy trạng thái thúc giục ra sao, trạng thái lờ đờ ra sao, trạng thái buông lung phóng dật, trạng thái tinh cần tinh tấn ra sao. Mình sẽ nhìn ra được nhiều khía cạnh, hành tướng của cảm thọ, của tưởng, của hành, muốn biết được những cái này thì chỉ cần nhận diện nhiều là mình sẽ biết, khi nhận diện là mình thấy, mình biết bằng chính trí tuệ của mình, còn khi không nhận diện chỉ nghe người khác nói vậy thì mình không biết được nó là cái gì. Phải thường xuyên để ý lại thọ; tưởng; hành của mình, mình bực bội, gây gổ thì quán tưởng hình ảnh con chó gặp ai cũng sủa rồi tác ý "người không muốn làm mà muốn làm chó hả", mình lấy cảm thọ này để diệt cảm thọ sân hận, tức tối kia rồi mình sẽ thấy cảm thọ đó bị cảm thọ này đánh tan như viên thuốc sủi bọt, lồng ngực mình sẽ lắng dịu, an tịnh. Đó là dùng suy nghĩ để diệt suy nghĩ nhưng đây là suy nghĩ chủ động, tác động tâm ý của mình bằng trí tuệ, nó khác với suy nghĩ bình thường tự nó sanh khởi. Suy nghĩ khác với tác ý, suy nghĩ là tự nó thấy, nó nghe rồi suy nghĩ hoặc ý xúc bên trong suy nghĩ, còn sự tác ý là điều khiển chiều hướng suy nghĩ, mình muốn nó suy nghĩ tâm từ chứ không nghĩ theo tâm sân, mình muốn nó phải suy nghĩ nhàm chán, từ bỏ, thoát ra, không cho nghĩ đeo bám, trói cột, đam mê, phải chủ động trong suy nghĩ. Nếu trong người mình có suy nghĩ đều đều, an ổn thì phải phá cảm thọ đó "tâm ngu mê này, làm gì có sự bình an trong cuộc sống này, bất thình lình cha chết, mẹ chết, bất thình lình tai biến mạch máu não, bất thình lình bị ung thư chết". Mình tác ý như vậy để giải phá cảm thọ lờ đờ như lục bình trôi sông, cảm giác sống ẩn dương nương Phật không biết lo nghĩ, không biết nỗ lực tu tập.
Diệt tận cảm thọ đó bằng suy nghĩ, tác ý của mình càng mạnh chừng nào thì hiệu lực của nó mau nhanh chừng đó cho nên sự tác ý đó gọi là mãnh hổ lực, là tinh tấn lực, là oai hùng lực, nếu không biết tác ý thì cứ đều đều hoài, hai năm gặp lại cũng vậy, bốn năm gặp lại cũng vậy, mười năm gặp lại cũng vậy, không thay đổi gì cả, không tăng thượng giới học, không tăng thượng tâm học, không tăng thượng tuệ học, không tăng thượng giải thoát uẩn, giải thoát tri kiến Thánh uẩn, không thấy phát triển gì cả, cứ dậm chân tại chỗ, nhiều khi thối đọa cũng không biết, hỏi tu tới đâu cũng không biết. Mình không nhìn thấy đạo lộ của bậc Thánh, không nhìn thấy Thánh đạo thì làm sao mình đạp chân lên đó được cho nên mình tu cũng không biết đi đến đâu, đi đúng hay đi sai cũng không biết, vị trí mình ở đâu cũng không biết, như vậy gọi là tu trong vô minh, không thấy biết gì về sự tu học của mình. Con ngày xưa cũng thế thôi, không biết mình tu cái gì, không biết mình tu làm sao rồi tu kết cuộc là gì cũng không biết.
Bây giờ mình phải thấy rõ đầu tiên của sự tu là nhìn ra năm uẩn, đây là bước quyết định quan trọng đầu tiên, mở ra được cánh cửa bí mật của thân tâm và thế giới. Khi thấy được năm uẩn thì mới bắt đầu có thấy đúng, gọi là chánh kiến được thành lập, chỉ cần mình không thấy đây là đống ruột gan, máu mủ, phèo phổi, tứ đại, đây là đống cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức thì lập tức mình có cái tôi, cái ta, bản ngã liền, khi nào không nhận diện năm uẩn là khi đó mình sống với bản ngã, chấp ngã, có cái tôi, khi thấy năm uẩn thì tạm thời lúc đó cái tôi biến mất vì thế đây là bước quyết định, tất cả các bậc hiền Thánh đều đi lên từ cánh cửa này, không có một vị Thánh nào không bước qua cánh cửa này. Khổng Tử có câu:
"Thùy năng xuất bất do hộ,
Hà mạc do tư đạo dã?"
Nghĩa là có ai ra khỏi nhà mà không qua cửa? Làm người cớ sao không theo đạo lí chung đó mà làm? Cho nên đây là cánh cửa mở ra thân tâm chúng ta, đó là lý do chúng ta phải học ngũ uẩn thật kĩ, nếu thành tựu trí tuệ căn bản này rồi thì sau khi nhìn ra ngũ uẩn chúng ta sẽ thấy được lậu hoặc. Cái này không phải tự ý con nói mà đây là tiến trình tu chứng của Đức Phật trong kinh Nikāya, đầu tiên Bồ-tát chứng ngộ bốn Thánh trí về ngũ uẩn, kế đó Bố-tát chứng ngộ bốn Thánh trí về lậu hoặc. Ví dụ người này mù từ khi sanh ra đến nay là 50 tuổi, trong nhà người này vô cùng dơ bẩn, vừa bị mù vừa ở một mình nên căn nhà dơ bẩn, chuột chết, gián chết, có biết bao cái bẩn thỉu chất chứa trong đó 50 năm. Một hôm người này gặp được thần y ban cho thần dược, trị cho người này sáng mắt, nhãn sanh, minh sanh, quang sanh, tuệ sanh, trí sanh, mắt người này mở ra thấy được ánh sáng. Điều đầu tiên người này thấy chính là rác bẩn, đó là cái thấy của bậc thành tựu chánh tri kiến, cái thấy đầu tiên của người này là căn nhà dơ bẩn, hôi thối, đó là cái thấy của bậc Thánh. Sau khi người này thấy được sự dơ bẩn thì không thể ngồi yên mà phải tổng vệ sinh, lau chùi, quét dọn, thậm chí dùng bàn chải sắt, thuốc tẩy để làm sạch, đó là sau khi nhìn thấy lậu hoặc thì tẩy rửa, dọn rác, lau nhà, tẩy sạch thân tâm.
Sau khi thấy lậu hoặc thì đến công đoạn tẩy sạch nhưng thưa các thầy, nhìn ra được ngũ uẩn đầy đủ đã là Thánh quả thứ nhất, người này có niềm tin bất động đối với Thánh trí ngũ uẩn, không còn bất kì cái gì có thể làm người này lay chuyển, nghi ngờ, do dự, người này xác quyết tuyệt đối ngũ uẩn là ngũ uẩn thì người này Nhập Lưu Thánh quả thứ nhất, tịnh tín bất động đối với pháp cho nên thấy ngũ uẩn là thấy Phật cũng là thấy pháp. Người này khi thấy được rác bẩn, do công phu lau chùi, quét dọn mà có ra các Thánh vị tiếp theo cho nên nhìn ra ngũ uẩn, thấy được lậu hoặc là Sơ quả, minh sanh, quang sanh, nhãn sanh, kiến sanh, đắc pháp nhãn tịnh, thành tựu được pháp nhãn, đạo nhãn. Đây là bước tuyệt đối quan trọng, đó là lý do đến giờ chúng ta vẫn chưa học xong ngũ uẩn vì nếu học xong đã Nhập Lưu, đó là lúc con mắt mù sáng ra thấy được cấu nhiễm, uế nhiễm trong tâm.
Khi người này phá được thân kiến tức là không còn cho sắc; thọ; tưởng; hành; thức này là tôi nữa thì những nghi ngờ cũng biến mất, giới cấm thủ được phá vỡ thì người này Nhập Lưu Tu-đà-hoàn. Bây giờ tham và sân đã vơi bớt thì vào Thánh quả thứ hai, sau thời gian lau chùi tích cực thì những cái dơ thô không còn nữa, chỉ còn dơ chút ít thì đó là Thánh quả thứ hai. Khi cái tham hết, sân cũng hết thì đó là Thánh quả thứ ba Bất Lai, không còn trở lại thế giới này nữa mà lên Tịnh Cư Thiên, đó là cõi trời của các bậc thanh tịnh cư trú và từ đó nhập Niết-bàn, không trở lại thế giới này nữa. Vì không còn tham bất cứ cái gì trên đời nữa thì trở lại đây làm gì, hôm đó chú tài xế ghé vào cây xăng để đổ xăng, khi con đi vào toilet thì kinh hoàng vì nó quá dơ bẩn nên con nói từ đây về sau không bao giờ trở lại nữa, thì đó là Bất Lai. Các ngài nhìn thấy thân tâm này, thế gian này giống cái toilet 3 tháng không chùi rửa, đó là cái thấy của bậc Bất Lai, không bao giờ trở lại nữa, đó là Thánh quả thứ ba, không còn tham sân.
Mình bây giờ vẫn còn mê tấm thân này lắm, đây là cái toilet di động, trong đây chảy ra mà không kịp là xấu hổ nhưng mình vẫn còn mê, ham thích. Chúng ta ham thích tấm thân này còn chưa đủ mà còn ham thích thêm tấm thân khác nữa để về ở chung rồi đau khổ vì nó cho nên mình trở lại đời này tiếp tục, còn các ngài không ham thích nữa nên không trở lại. Các ngài nhìn đống thọ; tưởng; hành; thức này là một đống phân và giòi hôi dơ, bẩn thỉu, bất tịnh, các ngài chứng nhập sự thật của bất tịnh một cách toàn vẹn, viên mãn. Hai vợ chồng xem tướng thấy dấu chân Đức Phật có thiên bất luân là bánh xe ngàn căm nên đi theo muốn gả con gái cho Đức Phật trong khi biết bao người hỏi cưới con gái mà hai vợ chồng không đồng ý, Thế Tôn nói rằng từ lâu ngài đã ly dục, đó là đống bất tịnh, chạm vào chân ngài còn không muốn chứ đừng nói gì cưới. Cô gái trẻ nghe thế nên tức giận, sau này cô làm hoàng hậu nên muốn trả thù lại, cho nên những bậc đã thành tựu Thánh trí huệ nhìn đời sống này không giống như mình nghĩ. Mình không quán được bao nhiêu về bất tịnh quán, thậm chí không hề quán, như vậy thì làm sao mình thể nhập được trong khi bất tịnh quán thời Đức Phật còn tại thế là quán mỗi ngày như ăn cơm, uống nước của các thầy Tỳ-kheo, ngoài ra còn phải thực tập quán chiếu chín giai đoạn của một tử thi. Có một vị Tỳ-kheo đang ngồi khất thực thì có một gia đình chạy đi tìm kiếm cô dâu giận nhà chồng bỏ đi, khi mọi người hỏi ngài có thấy cô gái đẹp chạy qua đây không thì ngài nói không thấy cô gái nào mà chỉ thấy bộ xương, đầu lâu, có hàm răng trắng, lúc đó ngài triển khai thiền quán ngay đó và chứng quả A-la-hán tại chỗ. Khi đọc trong Trưởng Lão Tăng Kệ thì chúng ta sẽ thấy đại đa số các thầy Tỳ-kheo đều quán bất tịnh đến mức chứng Thánh quả A-la-hán rất nhiều, có những vị ra nghĩa địa để quán các xác chết hoặc có những vị bệnh gần chết thì quán từ bỏ xác thân nên chứng nhập tại chỗ. Còn mình quán bất tịnh một ngày được mấy phút, mấy giờ?
Đối với sắc uẩn này mình không thể thành tựu được trí tuệ chân xác, sự thật của thân tâm này, đến nhìn gương có mặt nhìn trong đó còn thấy thích, mình ái luyến hình bóng của mình trong gương chứ đừng nói gì xác thân bên ngoài. Lúc nhập thất thì con ngồi thiền trong mùng vào ban đêm ở trên rừng mới nhìn thấy cái bóng của con hiện ra trong mùng, ý hành sanh khởi lên "mình tu đến nay cũng có tướng hảo tròn trịa, dáng ngồi cũng hay" thế là con phải tác ý đánh đuổi ý nghĩ đó trong cả thời ngồi thiền. Mình ái luyến đến nỗi cái bóng của mình hiện lên trong mùng mà cũng còn yêu thích, sắc thủ uẩn này vô cùng ghê gớm, sự chấp thủ trong ngũ uẩn vô cùng khủng khiếp, nó thâm căn cố đế vô lượng vô biên kiếp cho nên mỗi một suy nghĩ, cảm thọ, cái tưởng đều dính liền trong bản ngã, trong vô minh và khát ái. Nếu muốn nhìn ra hết mọi khía cạnh, góc độ để mình triệt phá, diệt tận nó là phải tinh cần, tinh tấn, đưa ra rất nhiều phương pháp tác chiến, Đức Phật phải đánh trận tâm linh vô cùng khủng khiếp, ngài đánh vào sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu thọ, sáu ái, sáu tưởng, sáu tư, sáu tầm, sáu tứ, mỗi một cái như vậy ngài đều có phương pháp thích hợp để đánh đuổi vì thế sự tu hành của chúng ta là cả một công trình vĩ đại. Một trí tuệ và một sức mạnh, một sự cẩn thận, tinh vi phổ quát, sâu rộng siêu phàm chứ không hề đơn giản như mình nghĩa, nó đòi hỏi mình phải để tâm rất nhiều, tìm tòi, khát ngưỡng cầu học, ngại nhất và vấn đề kiến chấp vào sự tu học, đó là chướng ngại vô cùng lớn, học được một chút là cho rằng đạo Phật là bấy nhiêu đó, mình sẽ không thể thành tựu chánh tri kiến viên mãn. Mình hài lòng với những nhận thức, rõ biết nhỏ hẹp của mình, phàm phu của mình thì đó là chướng ngại cho sự thể nhập chánh tri kiến.
Thánh quả thứ tư phải phá rất nhiều vô minh, trạo cử, mạn, sắc ái và vô sắc ái. Sắc ái là cảnh trời, vô sắc ái là những cảnh cao cấp của tứ thiền bát định, mình phải phá hết những cái này vì khi ngồi thiền sẽ bước vào không vô biên xứ, thức vô biên xứ, vô sở hữu xứ, phi tưởng và phi tưởng xứ thì mình cảm thấy rỗng rang, thanh tịnh nên mình thích và mình trú trong đó không ra được, mình sanh lên những tầng trời tám muôn bốn ngàn tuổi, không có sắc thân mà chỉ sống bằng tâm tưởng nhưng cái này vẫn luân hồi sanh tử, vẫn nằm trong ngũ uẩn nhưng vi tế hơn. Những tầng trời sắc là khi nằm chiêm bao thế nào thì sống trên tầng trời đó cũng giống như vậy, trong giấc chiêm bao vẫn có hình bóng, vẫn có cảm giác khổ vui, địa ngục, chư thiên hay ngạ quỷ sống trong sắc giới cũng những cảnh tượng đó, cũng có hình bóng, có cảm giác, có suy nghĩ nhưng không có thân xác giống mình, đó là sắc giới. Nếu mình tu tinh tấn và đúng chánh pháp thì chư thiên sẽ cho mình thấy hoặc người ta xuống đảnh lễ, cúng dường, điều này là sự thật, các chúng sanh cao cấp ở thế giới khác, họ chỉ là những hình bóng. Những khi mình ngồi thiền hoặc chiêm bao hoặc vừa ngủ, thậm chí là ngay cả khi thức thì cả chư thiên lẫn ác ma cũng đến, vì mình chưa tu thâm sâu chứ nếu tu thâm sâu thì các ngài sẽ đến viếng, trong kinh Hàng ma ngài Mục-kiền-liên bị ác ma chui vào bụng, quấy nhiễu ngài.
"Lúc bấy giờ, Tôn giả Maha Moggallana đang đi kinh hành ngoài trời. Khi ấy Ác ma đi vào bụng Tôn giả Maha Moggallana, ở trong bao tử. Rồi Tôn giả Maha Moggallana nghĩ như sau: 'Nay sao bụng của Ta lại nặng nặng như có gì chồng chất quá đầy?' Rồi Tôn giả Maha Moggallana từ chỗ kinh hành bước xuống, đi vào tự viện, và ngồi trên chỗ đã soạn sẵn.
Sau khi ngồi, Tôn giả Maha Moggallana tự chánh niệm. Tôn giả Maha Moggallana thấy Ác ma, sau khi đi vào trong bụng, đang ở trong bao tử. Thấy vậy, Tôn giả liền nói với Ác ma:
-- Hãy đi ra, Ác ma! Hãy đi ra, Ác ma! Chớ có phiền nhiễu Như Lai và đệ tử Như Lai. Chớ có khiến cho Ngươi bị bất hạnh, đau khổ lâu dài!" (Trung Bộ Kinh, 50. Kinh Hàng ma)
Lúc này ngài Mục-kiền-liên đã là bậc A-la-hán cho nên mình đừng nghĩ bậc A-la-hán thần thông quảng đại diệt sạch tà ma, các ngài rất hiền từ, ngài giáo hóa chúng và nói rằng ác ma là cháu của ngài vì thuở xưa ngài cũng là ác ma. Trong bài kinh này có rất nhiều trí tuệ mà mình chưa thấy, chưa biết và chưa hiểu cho nên có rất nhiều thế giới khác nữa chứ không phải chỉ có thế giới của mình nhưng tất cả cũng đều là ngũ uẩn, có nhiều hình tướng khác nhau của ngũ uẩn nhưng trong đó đều là vô minh và tham ái, là chấp ngã, là khổ đau, là nước mắt, là bất an, là sầu, bi, khổ, ưu, não. Mình tu tập rồi mình quán chiếu sẽ phát sanh sự nhàm chán đối với tất cả các uẩn, Thế Tôn một hôm đang ngồi giảng pháp thì ngài khơi lên một chút đất trong móng tay và hỏi các thầy Tỳ-kheo nếu như có một người còn thấy trong ngũ uẩn này còn một chút cái vui như đất dính trong móng tay thì người đó cũng chưa thành tựu chánh tri kiến hoặc là ngài khơi lên chút phân bò dính trong móng tay và ngài nói nếu một người nào thấy trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức này còn chút nào vui dù chỉ bằng chút ít phân bò dính trên đầu móng tay thì người đó vẫn chưa thành tựu chánh tri kiến. Bây giờ mình thấy còn vui khoảng bao lớn? Nếu còn ưa thích trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức là mình còn sanh tử dài dài, nước mắt dài dài, đau khổ triền miên. Thế Tôn đã nói rất cả các sắc; thọ; tưởng; hành; thức đều là bất tịnh, chúng ta đi sâu vào rồi sẽ thấy Thánh trí của Đức Phật phá vỡ hết tất cả ngũ uẩn, không còn chút nào để tham ái, chấp thủ trong đây thì mới đạt được tâm bất động đối với tất cả những cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức trên cuộc đời này.
./.
NHẬN DIỆN THÂN TÂM 13
CĂN BẢN TRÍ
– Thích Minh Thành–
Hình bóng, bóng dáng sáu trần hiện lên trong tâm, đó gọi là tưởng. Có tất cả sáu tưởng, đó là sắc tưởng; thanh tưởng; hương tưởng; vị tưởng; xúc tưởng; pháp tưởng, khi chúng ta chưa học nhận diện thì sẽ nghĩ cái tưởng là một, tức là hồi tưởng lại những chuyện đã làm nhưng Đức Thế Tôn bằng trí tuệ thì ngài phân loại cái tưởng ra làm sáu loại. Mình nhớ lại tiếng chỉ trích ngày hôm qua thì đó là thanh tưởng, hình bóng của người chỉ trích hiện lên là sắc tưởng, sự xúc chạm nếu có trong lúc tức giận là xúc tưởng, pháp tưởng là nhớ lại những cảm giác, suy nghĩ lúc đó. Như vậy có ai hỏi mình tất cả tư tưởng của mình phân làm mấy loại thì mình biết trả lời cho đúng, chữ "tư tưởng" này bao gồm và tưởng và hành chứ không chỉ có tư tưởng không, sáu tư tức là sáu hành, sắc tư; thanh tư; hương tư; vị tư; xúc tư; pháp tư. Nếu nắm vững những cái này thì đi vào trong kinh tạng sẽ dễ dàng, còn không nắm được thì đi vào kinh như vào trong rừng rậm, vì thế để có được những tư tưởng, những hình bóng trong tâm là do mình tiếp xúc với cái đó cho nên mới có những hình bóng trong tâm. Trước khi con về đây chia sẻ với quý thầy thì làm sao quý thầy có được hình bóng con ngồi đây chia sẻ kinh Nikāya với mọi người, trước khi mình vào đây ở thì mình không có hình bóng của trường thiền mà là do thấy, do tiếp xúc thì khi về nhà mình mới tưởng nhớ lại, do nghe, do ngửi, do nếm, do đụng chạm, tiếp xúc thì mình mới nhớ lại.
Đức Phật nói rất nhiều bài kinh về tưởng, trong đó có những tưởng dùng để trị bệnh, dùng để quán chiếu. Thế nào để chấm dứt cái tưởng? Nếu xúc đoạn diệt thì tưởng đoạn diệt, nghĩa là không còn tiếp xúc nữa thì những hình bóng đó sẽ chấm dứt. Con đường để đưa đến sự chấm dứt các tưởng là con đường Bát Chánh Đạo, phải thấy đúng về các tưởng, suy nghĩ đúng về các tưởng, có sự tu tập quán chiếu chân xác về tưởng uẩn thì mình mới đi đến chỗ chấm dứt. Vị ngọt của tưởng, sự nguy hại và sự chấm dứt của tưởng cũng giống như sắc và thọ đã nói, vị ngọt của tưởng là ngồi đó rồi tưởng mơ, có sự thích thú, khoan khoái, ngồi một mình mà cười, cái này thì hơi nguy hiểm. Có nhiều người đứng đó rồi nói chuyện một mình rồi cười một mình luôn, thọ; tưởng; hành vận hành rất khủng khiếp, không chỉ vận hành bên trong mà còn bật ra cả lời nói, hành vi bên ngoài cho nên những người bị lẫn hoặc bị điên loạn là do họ không kiểm soát được những thọ; tưởng; hành bên trong, họ không nhận thức được nên nó bật ra ngoài trở thành điên khùng, nói ra những lời suy tưởng bên trong cho nên cái tưởng này rất ghê gớm.
Do duyên tưởng khởi lên lạc hỷ gì, lạc hỷ này là vị ngọt của tưởng. Chúng ta đã nghe cây chuyện của thầy Tăng Hộ chưa? Chú này có một người vừa là cậu vừa là sư phụ nên chú này đi theo xuất gia. Hôm đó chú ra chợ được người ta cho hai xấp vải nên trở về vui mừng, thích thú, đem khoe với sư phụ. Sư phụ thấy vậy cũng bình thường rồi gọi chú lên quạt cho sư phụ ngồi thiền vì bên Ấn Độ mùa nắng có nhiều ruồi muỗi, khi chú lên đứng quạt thì cảm thấy chán vì chỉ có hai cậu cháu tu mà đem xấp vải về khoe thì mặt lạnh lùng, chú này nghĩ chắc không còn thương mình nữa nên muốn ra đời cưới vợ. Khi chú lấy vợ được một thời gian thì có đứa con nhỏ, sau đó lại có thêm một đứa nhỏ nữa, một hôm khi hai vợ chồng về thăm sư phụ, hai người giành nhau bồng bế đứa con nhỏ nhưng chẳng may làm rớt đứa con xuống đất thì chú này bực mình vì nói vợ không nghe, thế là chú lấy cán quạt đánh vào đầu người vợ. Sư phụ nói đập đâu không đập lại đập ngay vào đầu sư phụ, chú mở mắt ra hoảng hồn vì nãy giờ toàn bộ đều do chú tưởng tượng mà ra. Đứng quạt cho sư phụ mà tưởng tượng ra, mới còn chú tiểu mà tưởng ra hai đứa con cho nên cái tưởng này rất kinh khủng.
"Tâm khó thấy, tế nhị,
Theo các dục quay cuồng.
Người trí phòng hộ tâm,
Tâm hộ, an lạc đến"
(Kinh Pháp Cú 03 – Phẩm Tâm, kệ 36)
Cái tâm này không hình không tướng, tâm lậu hoặc cứ đi lang thang hết chỗ này đến chỗ kia, nó rong ruổi hoài mà lại tương ứng với nghiệp thì khi chết sẽ thành cô hồn, chết thành ngạ quỷ, cứ vất vơ vất vưởng vô định vì thế người hay thẩn thơ, ngẩn ngơ dễ bị như vậy, mình cần chánh niệm và tỉnh giác, phải biết rõ việc mình đang làm, khi đi phải biết rõ sắc này đang đi, khi ngồi phải biết rõ sắc này đang ngồi, khi nằm phải biết rõ sắc uẩn này đang nằm, co duỗi, cúi ngước, đắp y phải biết rõ việc mình đang làm, chánh niệm tỉnh giác, đem tâm trở về thân. Phải rõ biết trước mặt, cảm giác toàn thân và nội tâm của mình phải tỉnh giác đối với những thọ; tưởng; hành đó, nếu không là tâm đi lang thang.
Thân trống rỗng không ai trong đó
Chỉ có tâm lậu hoặc lang thang
Rày đây mai đó trong lang bạt
Hết gá thân này lại thân kia.
Tâm lang thang đi rong chơi hết chỗ này đến chỗ kia, suy nghĩ vớ vẩn rồi tự buồn tự vui, tự tham rồi tự sân, có khi chuyện chẳng có gì mà cứ suy nghĩ một hồi là ra đủ thứ chuyện cho nên cần cẩn thận đối với những cái tưởng này, phải nhìn thật kĩ những hình bóng trong tâm, thực hành ba pháp thường xuyên dù bất cứ lúc nào. Phải xem lúc đó trong tâm đang có những suy nghĩ, hình bóng gì, nếu đang có những suy nghĩ lang thang thì phải như lý tác ý kéo tâm trở về thân, an trú trong giây phút hiện tại. Nếu cứ vui thích, khoan khoái, tham đắm trong cái tưởng đó rồi sống với ảo tưởng, sống với điên đảo tưởng chứ không sống với sự thật, sự thật là những gì đang diễn ra trong giây phút hiện tại cho nên tại sao có thầy hỏi về ba bốn cái thức thì con nói hãy trở về giây phút hiện tại, đó là do cái tưởng dẫn đi mà mình không biết. Khi làm gì thì cần tập trung tâm ý vào chỗ đó, nếu tưởng xuất hiện lên thì phải nhận diện nó cần thiết hay không cần thiết, nên hay không nên, cần nhìn ra các tưởng khi nó sanh khởi, nó an trú, nó vận hành, xâm chiếm, áp đảo trong thân tâm của mình.
Những cái tưởng đó là đổi thay, là khổ đau, những cái tưởng đó chịu sự biến đổi và tan hoại. Trước khi trở về thăm nhà thì mình tưởng tượng ra cảnh vật như vậy nhưng đến khi mình trở về thì không hề giống với những gì mình đã tưởng, thay đổi hết, không còn ngọt ngào thân thiện, xa mặt cách lòng rồi, tất cả đều đổi thay, đều đi đến hoại diệt, tan rã vậy mà trong suy nghĩ mình cứ nghĩ nó vẫn như vậy đến khi mình tiếp xúc thì bị bất ngờ, nó luôn luôn biến dịch. Tất cả pháp luôn luôn dịch chuyển, thiên lưu chứ không đứng một chỗ cho nên không có gì thường trụ cả, nếu có suy nghĩ cái phòng này vững chắc, ở trong đây được yên ổn thì không đúng, lỡ đột ngột mình có thể bị thiêu cháy, có thể bị động đất chôn vùi. Ai có thể tưởng tượng được sóng thần khủng khiếp đến mức nặng nề như vậy xảy ra ở Nhật Bản, cuốn trôi làng mạc, nhà cửa, xe cộ, không ai có thể tưởng tượng được, đó là sự biến hoại của các pháp tứ đại vì vậy cần phải quán chiếu, suy tư, nghiền ngẫm về sự vô thường, sự đau khổ, sự biến hoại của tất cả ngũ uẩn này. Tất cả những hình ảnh trong tâm, dù là hình ảnh gì cũng chỉ là ảo ảnh, người Nhật làm ông Phật theo kiểu người Nhật có râu, người Thái thì làm tượng Phật đội mão, người Hoa làm ông Phật tròn trịa, mỗi nước làm tượng Phật mỗi kiểu, vậy cuối cùng hình tượng Phật là gì, có phải hình tượng của người Ấn Độ không, đó là sắc uẩn trong mấy mươi năm.
"Thế Tôn đã nói như sau: 'Ai thấy được lý duyên khởi, người ấy thấy được pháp; ai thấy được pháp, người ấy thấy được lý duyên khởi'. Những pháp này do duyên khởi lên chính là năm thủ uẩn. Sự tham dục, chấp trước, tham đắm, mê say trong năm thủ uẩn này tức là khổ tập; sự nhiếp phục tham dục, sự từ bỏ tham dục tức là sự khổ diệt" (Trung Bộ Kinh, 28. Ðại kinh Dụ dấu chân voi)
Vì vậy nếu mình căn cứ trên hình tướng đó rồi cho là Phật thì không phải vậy, nó chỉ là sắc pháp biểu trưng để mình nhớ lại hạnh đức, trí đức của Phật để mình thành tựu được Thánh trí tuệ của ngài truyền trao. Khi con nói duyên sanh pháp là Thánh trí thì các thầy tưởng con nói đùa nhưng đó là sự thật vì trí tuệ đó chỉ có bậc Thánh chứng ngộ, tất cả phàm phu không ai thấy được, trong lúc học, trong lúc thấy được như vậy thì đó là trí huệ của bậc Thánh nhưng quên là trở lại phàm.
Sự xuất ly của các tưởng là sự nhiếp phục dục và tham, sự đoạn tận dục và tham đối với tất cả các tưởng. Có khi mình chào mà người đó bận suy nghĩ, tâm họ đang đi du lịch ở nơi nào đó nên không thấy mình chào, thế là về nhà mình suy nghĩ "khinh khi tôi, tôi chào mà không thèm nhìn", vậy là có phiền não trong khi chuyện rất nhỏ, tâm người đó đang lang thang hoặc họ đang chú tâm vào việc gì đó nên không thấy mình chào, ở ngoài giới vức của nhãn thức là họ không thấy dù cho đứng kế bên, tuy nhiên mình lại không thấu hiểu, không cảm thông rồi mình diễn ra đủ chuyện nhưng cuối cùng lại là trò ảo thuật của tâm thức, mình tưởng tượng ra một lúc là câu chuyện đi xa khỏi sự thật. Hành là những tư duy, suy nghĩ, nói thầm trong tâm, cái hành này là ý hành, lời nói của mình là khẩu hành, cái thân làm ra hành động gọi là thân hành. Mình cần phân biệt cái hành trong ngũ uẩn là chỉ cho suy nghĩ, còn nếu nói khẩu hành và thân hành thì đó là lời nói và hành động, còn hành pháp là tất cả sự vật, hiện tượng trên thế gian này đều dịch chuyển, thiên lưu, vận hành, biến đổi, còn nói chữ hành trong ngũ uẩn thôi thì đó là suy nghĩ.
Sở dĩ mình có ra suy nghĩ là do mình tiếp xúc, cắt tiếp xúc thì không còn suy nghĩ về cái đó nữa. Những suy nghĩ làm cho mình sanh khởi lên sự vui sướng, thích thú thì đó là vị ngọt của suy nghĩ và những suy nghĩ này là biến đổi, vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, đó là sự tai hại của những dòng suy nghĩ cho nên mình không chấp nhận bất cứ một suy nghĩ nào. Những suy nghĩ sanh khởi lên mà tương ứng với pháp thì mình mới duy trì và phát huy, còn những suy nghĩ sanh khởi lên không liên hệ đến pháp thì mình phải chế ngự, nhiếp phục, đoạn tận, tẩy sạch, không để tiếp tục những suy nghĩ về dục tham, sân hận, bản ngã, hơn thua… Nhưng bây giờ lấy gì để diệt suy nghĩ? Đó chính là dùng suy nghĩ để diệt suy nghĩ, đây là chỗ sâu sắc của pháp hành, đây cũng là pháp hành thâm sâu của Nikāya.
Do mình tiếp xúc mới có suy nghĩ, cảm giác, hình bóng trong tâm, còn sắc sanh là do có thức ăn. Chúng ta thành tựu được trí sanh diệt của ngũ uẩn, chúng ta biết được nguyên nhân sanh diệt trí của năm uẩn chứ không phải cái nào cũng chung chung. Tôn Ngộ Không đánh yêu quái mãi vẫn không thắng, cuối cùng đi gặp Thái Thượng Lão Quân mới biết ra đó là con vật mà ngài hay cưỡi, thế là ngài Thái Thượng thu phục con quái vật rất nhanh vậy mà Tôn Ngộ Không đánh mãi không thắng, chỉ cần biết được nguồn gốc của nó là trị được nó. Ở đây chúng ta đang học nguồn gốc của ngũ uẩn, không phải nói đơn giản là trị được vọng tưởng, nếu không biết tại sao nó sanh khởi thì làm sao diệt được nó. Mình nói rằng mình diệt hết vọng tưởng, bỏ được hết vọng tưởng nhưng thật chất có bỏ được không? Mình không biết từ đâu nó sanh ra, mình không biết bộ máy vận hành của nó thế nào, không biết cấu trúc, mô típ, nguồn gốc từ đâu sanh khởi, an trú, vận hành, không biết dùng cái gì để diệt nó thì làm sao trị được nó, không phải bệnh rồi nói đưa thuốc gì uống cũng được, cảm thì uống thuốc cảm, đau bụng thì uống thuốc đau bụng, nhức đầu thì có thuốc nhức đầu cho nên trong sự tu học không hề đơn giản như mình nghĩ.
Nếu cắt đứt nguồn thức ăn là sắc diệt, tức là ái tập khởi thì tứ thực tập khởi, ái đoạn diệt thì tứ thực đoạn diệt, mà tứ thực là nguyên nhân để có ra cái sắc, bây giờ không cho ăn nữa thì suy dinh dưỡng, ốm o gầy mòn và cuối cùng là chết, như vậy là sắc đoạn diệt. Chúng ta muốn giải thoát khỏi sắc nhưng cho ăn liên tục thì làm sao giải thoát khỏi nó? Bây giờ muốn tu giải thoát mà toàn lựa đồ ăn ngon để ăn thì làm sao giải thoát, ngoài ra còn sự nhớ nghĩ, tiếp xúc, đụng chạm, cứ cho ăn thì làm sao diệt được nó cho nên phải thành tựu sanh diệt trí đối với các pháp, đối với cảm thọ cũng giống vậy. Đức Thế Tôn đã nói tất cả thọ đều nằm trong đau khổ.
"-- Lành thay, lành thay, này Tỳ-kheo! Này Tỳ-kheo, Ta nói rằng có ba thọ này: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Ba thọ này được Ta nói đến. Nhưng này Tỳ-kheo, Ta lại nói: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'. Chính vì liên hệ đến tánh vô thường của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'. Chính vì liên hệ đến tánh đoạn tận, tánh tiêu vong, tánh ly tham, tánh đoạn diệt, tánh biến hoại của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'". (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Hai - Phẩm Sống Một Mình, bài Sống Một Mình)
Chỉ có bậc tối tôn, tối thượng mới thành tựu được trí huệ đó, tất cả cảm giác, cảm xúc đều nằm trong đau khổ dù là lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ. Học đến cái này là rung động thân tâm, không còn bất kì cái nào để mình bám víu vào nữa, sau này mình sẽ học phá sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu tưởng, sáu tư, sáu tầm, sáu tứ, phá bung tất cả các pháp, đến lúc đó Thánh trí mới được thiết lập, không còn cái gì đứng vững trong Thánh trí huệ, giống như nổ bom nguyên tử. Bây giờ cảm giác khổ là khổ thì đúng rồi nhưng tại sao cảm giác sướng cũng là khổ? Đua xe sướng không, xì ke ma túy sướng không, vào những chỗ mua vui mà ngày xưa thường nói là lầu xanh rất vui vẻ nhưng sau đó là tan nhà nát cửa, vợ chồng ly tán, thân bại danh diệt, tán gia bại sản cho nên phải quán tất cả cảm thọ đều nằm trong đau khổ. Một khi Đức Phật đã nói ra thì không thể sai khác, lời của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác đã nói ra thì tỷ năm sau cũng không hề suy suyển, sai trật. Những gì ngài đã nói ở Bồ-đề đạo tràng cho đến Tala song thọ không thể sai khác nhưng phải là kinh gốc của Đức Phật, còn những sách diễn giải sau này là không phải. Khổ thọ là sự đau khổ, đều này không cần nói, ăn vào sung sướng, ngon miệng nhưng có khi lát sau lại bị đau bụng, tiêu chảy, đó là vừa vui sướng đã đau khổ. Bây giờ mình được đi Mỹ nhưng có khi lên máy bay bị lây dịch bệnh hoặc ngồi máy bay trong thời gian dài sẽ gây đau nhức, khó chịu thân thể cho nên mình nghĩ trong niềm vui chỉ có cái vui là không đúng, trong đó có rất nhiều cảm thọ, thậm chí ngay trong cái vui lại là khổ. Chỉ có những cảm thọ phi vật chất, những cảm thọ của Thánh pháp, hỷ lạc của thiền định, trí tuệ, giác ngộ, Thánh ngộ thì những cảm thọ đó mới thuần lạc, không có khổ trong đó, còn dục lạc chỉ toàn khổ, hai mặt dính vào nhau như hai mặt đồng tiền.
Dùng suy nghĩ để diệt suy nghĩ chính là như lý tác ý. Dùng sắc diệt sắc là như thế nào? Tóc, lông, móng, răng, gân, xương, bao tử, lá lách, dạ dày, tim, gan, tùy phế thận, máu mủ… Đó là dùng sắc diệt sự mê chấp trong cái sắc, dùng sự thật, chân lý, trí tuệ trong sắc để phá sự ngu si, khát ái, thèm thuồng trong sắc. Dùng ba mươi hai thể trược, dùng tứ đại, dùng chín giai đoạn của một tử thi, một thây chết để diệt sắc. Dùng thọ diệt thọ nghĩa là tâm mình nếu khó chịu, cau có, dễ nổi nóng, tâm nhỏ hẹp, nhỏ mọn thì mình dùng tâm rộng lớn, vô lượng tâm định để trị nó, mình tìm chỗ nào trời trong xanh không có gì che bầu trời để nhìn lên bầu trời rồi quán tâm rộng lớn cùng khắp hư không.
Tâm thương này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm thương này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la.
Không phải chỉ đọc ngoài miệng mà chúng ta phải đưa nó vào cảm thọ, kết hợp với những hình ảnh quán chiếu, chúng ta quán tưởng tâm từ, tình thương của mình vượt qua khỏi các vách tường, lan tỏa ra khắp không gian trời đất nơi này, trải rộng tâm từ ra khắp bản đồ hình chữ S của chúng ta và rộng cùng khắp năm châu bốn biển. Khi mình đọc thì phải quán tưởng, thọ; tưởng; hành; thức phải sanh khởi, dùng ngũ uẩn để trải tâm từ, nếu không thấy ngũ uẩn thì mình chỉ nói trên khẩu hành hoặc có một chút tưởng, bây giờ mình đã biết ngũ uẩn thì mình có tưởng và thức. Lúc đó mình phải dùng ngũ uẩn của mình quán tưởng trùm khắp toàn thế giới thì mức độ quán chiếu của mình sẽ sâu sắc, sẽ dâng trào cảm xúc, cảm thọ.
Trở lại vấn đề dùng cảm thọ để diệt cảm thọ, nghĩa là tâm nhỏ hẹp thì tập tâm rộng lớn, nếu là người hay sân si, dễ kiếm chuyện, gây sự thì tập tâm từ, dùng cảm thọ thương yêu để diệt cảm thọ bực bội, sân hận, không chất chứa cảm thọ đó, không nuôi dưỡng, tích lũy cảm thọ đó, không để nó tồn kho trong tâm mà giải quyết nó lập tức, quăng nó ra khỏi thân tâm lập tức. Dùng tưởng diệt tưởng rất nhiều, mình tu vô lượng pháp trong Nikāya, ví dụ tâm mình đang nóng nảy, lồng ngực bừng bừng lên, phát hỏa, phẫn nộ lên thì mình đem dòng nước mát đến tưới xuống như tắm dưới vòi hoa sen. Xung quanh mình là dòng nước mát trong xanh, sạch, mát mẻ, thơm tho, hoa sen nở thơm ngát, mình nhảy vào hồ nước đó tắm trong dòng nước đại bi của từ tâm, làm cho mình sanh khởi lên cảm giác xót thương cho chính mình, xót thương cho những người mình ghét, xót thương cho tất cả hữu tình chúng sanh đang bị chìm đắm, bị thiêu đốt trong những ngọn lửa bực bội, sân hận, thiêu đốt. Mình không muốn như vậy, mình thật là thương cho những cảm thọ sân hận này, mình không nuôi dưỡng, chất chứa cảm thọ này, mình chỉ muốn tống khứ nó ra khỏi thân tâm mình, mình chỉ muốn có cảm thọ an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào, từ ái, hiền thiện, từ tâm. Mình quán tưởng như vậy là tự động dùng tưởng diệt tưởng, mình đang bực bội vì người kia thì mình tưởng lại "tội nghiệp họ", đó là mình tác ý kết hợp luôn cả tư tưởng. Khi mình tác ý như vậy là những hình bóng, suy nghĩ, cảm giác sẽ sanh khởi.
Những cái tưởng mình thấy rõ, dễ nhận ra thì gọi là thô, còn những cái tưởng vi tế, sâu kín có khi không thấy được thì gọi là tế. Nếu bây giờ con nói mọi người để ý cái lưng thì sẽ có hình bóng cái lưng trong tâm hiện ra, vi tế hơn nữa là hình bóng của tự thân nhưng cái này mình không thấy được, mình nói mình không có nhưng thật ra là do mình không thấy mà thôi. Mình đợi tới cái thô như mình tức giận, ham muốn, bản ngã lên rồi mình mới thấy nhưng thật ra nó rất vi tế, chẳng hạn mình ngồi mà tâm yên lặng, không có hình bóng, suy nghĩ gì cả, cảm giác an tịnh, lắng dịu, mình thấy nhẹ nhàng, an lạc, mênh mông thì mình tưởng tâm mình an tịnh nhưng đó lại là cái tưởng không vô biên xứ, cái tưởng đó rất vi tế. Mình cứ nghĩ cái tưởng này không có hình bóng nhưng không có hình bóng mà có sự rộng lớn, mênh mông rồi mình thích thú, khoan khoái trong đó cho nên cái này cũng là tưởng nhưng là tưởng vi tế. Thậm chí có những cảm thọ mà mình không biết được nó thuộc thọ gì, phải lắng tâm sâu lắng nhìn thật kĩ mấy tiếng đồng hồ, thậm chí là vài ba ngày sau mới biết đó là thọ gì. Bây giờ mình học căn bản là lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ nhưng khi đi sâu vào sẽ có rất nhiều trạng thái của thọ, mình sẽ thấy trạng thái thúc giục ra sao, trạng thái lờ đờ ra sao, trạng thái buông lung phóng dật, trạng thái tinh cần tinh tấn ra sao. Mình sẽ nhìn ra được nhiều khía cạnh, hành tướng của cảm thọ, của tưởng, của hành, muốn biết được những cái này thì chỉ cần nhận diện nhiều là mình sẽ biết, khi nhận diện là mình thấy, mình biết bằng chính trí tuệ của mình, còn khi không nhận diện chỉ nghe người khác nói vậy thì mình không biết được nó là cái gì. Phải thường xuyên để ý lại thọ; tưởng; hành của mình, mình bực bội, gây gổ thì quán tưởng hình ảnh con chó gặp ai cũng sủa rồi tác ý "người không muốn làm mà muốn làm chó hả", mình lấy cảm thọ này để diệt cảm thọ sân hận, tức tối kia rồi mình sẽ thấy cảm thọ đó bị cảm thọ này đánh tan như viên thuốc sủi bọt, lồng ngực mình sẽ lắng dịu, an tịnh. Đó là dùng suy nghĩ để diệt suy nghĩ nhưng đây là suy nghĩ chủ động, tác động tâm ý của mình bằng trí tuệ, nó khác với suy nghĩ bình thường tự nó sanh khởi. Suy nghĩ khác với tác ý, suy nghĩ là tự nó thấy, nó nghe rồi suy nghĩ hoặc ý xúc bên trong suy nghĩ, còn sự tác ý là điều khiển chiều hướng suy nghĩ, mình muốn nó suy nghĩ tâm từ chứ không nghĩ theo tâm sân, mình muốn nó phải suy nghĩ nhàm chán, từ bỏ, thoát ra, không cho nghĩ đeo bám, trói cột, đam mê, phải chủ động trong suy nghĩ. Nếu trong người mình có suy nghĩ đều đều, an ổn thì phải phá cảm thọ đó "tâm ngu mê này, làm gì có sự bình an trong cuộc sống này, bất thình lình cha chết, mẹ chết, bất thình lình tai biến mạch máu não, bất thình lình bị ung thư chết". Mình tác ý như vậy để giải phá cảm thọ lờ đờ như lục bình trôi sông, cảm giác sống ẩn dương nương Phật không biết lo nghĩ, không biết nỗ lực tu tập.
Diệt tận cảm thọ đó bằng suy nghĩ, tác ý của mình càng mạnh chừng nào thì hiệu lực của nó mau nhanh chừng đó cho nên sự tác ý đó gọi là mãnh hổ lực, là tinh tấn lực, là oai hùng lực, nếu không biết tác ý thì cứ đều đều hoài, hai năm gặp lại cũng vậy, bốn năm gặp lại cũng vậy, mười năm gặp lại cũng vậy, không thay đổi gì cả, không tăng thượng giới học, không tăng thượng tâm học, không tăng thượng tuệ học, không tăng thượng giải thoát uẩn, giải thoát tri kiến Thánh uẩn, không thấy phát triển gì cả, cứ dậm chân tại chỗ, nhiều khi thối đọa cũng không biết, hỏi tu tới đâu cũng không biết. Mình không nhìn thấy đạo lộ của bậc Thánh, không nhìn thấy Thánh đạo thì làm sao mình đạp chân lên đó được cho nên mình tu cũng không biết đi đến đâu, đi đúng hay đi sai cũng không biết, vị trí mình ở đâu cũng không biết, như vậy gọi là tu trong vô minh, không thấy biết gì về sự tu học của mình. Con ngày xưa cũng thế thôi, không biết mình tu cái gì, không biết mình tu làm sao rồi tu kết cuộc là gì cũng không biết.
Bây giờ mình phải thấy rõ đầu tiên của sự tu là nhìn ra năm uẩn, đây là bước quyết định quan trọng đầu tiên, mở ra được cánh cửa bí mật của thân tâm và thế giới. Khi thấy được năm uẩn thì mới bắt đầu có thấy đúng, gọi là chánh kiến được thành lập, chỉ cần mình không thấy đây là đống ruột gan, máu mủ, phèo phổi, tứ đại, đây là đống cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức thì lập tức mình có cái tôi, cái ta, bản ngã liền, khi nào không nhận diện năm uẩn là khi đó mình sống với bản ngã, chấp ngã, có cái tôi, khi thấy năm uẩn thì tạm thời lúc đó cái tôi biến mất vì thế đây là bước quyết định, tất cả các bậc hiền Thánh đều đi lên từ cánh cửa này, không có một vị Thánh nào không bước qua cánh cửa này. Khổng Tử có câu:
"Thùy năng xuất bất do hộ,
Hà mạc do tư đạo dã?"
Nghĩa là có ai ra khỏi nhà mà không qua cửa? Làm người cớ sao không theo đạo lí chung đó mà làm? Cho nên đây là cánh cửa mở ra thân tâm chúng ta, đó là lý do chúng ta phải học ngũ uẩn thật kĩ, nếu thành tựu trí tuệ căn bản này rồi thì sau khi nhìn ra ngũ uẩn chúng ta sẽ thấy được lậu hoặc. Cái này không phải tự ý con nói mà đây là tiến trình tu chứng của Đức Phật trong kinh Nikāya, đầu tiên Bồ-tát chứng ngộ bốn Thánh trí về ngũ uẩn, kế đó Bố-tát chứng ngộ bốn Thánh trí về lậu hoặc. Ví dụ người này mù từ khi sanh ra đến nay là 50 tuổi, trong nhà người này vô cùng dơ bẩn, vừa bị mù vừa ở một mình nên căn nhà dơ bẩn, chuột chết, gián chết, có biết bao cái bẩn thỉu chất chứa trong đó 50 năm. Một hôm người này gặp được thần y ban cho thần dược, trị cho người này sáng mắt, nhãn sanh, minh sanh, quang sanh, tuệ sanh, trí sanh, mắt người này mở ra thấy được ánh sáng. Điều đầu tiên người này thấy chính là rác bẩn, đó là cái thấy của bậc thành tựu chánh tri kiến, cái thấy đầu tiên của người này là căn nhà dơ bẩn, hôi thối, đó là cái thấy của bậc Thánh. Sau khi người này thấy được sự dơ bẩn thì không thể ngồi yên mà phải tổng vệ sinh, lau chùi, quét dọn, thậm chí dùng bàn chải sắt, thuốc tẩy để làm sạch, đó là sau khi nhìn thấy lậu hoặc thì tẩy rửa, dọn rác, lau nhà, tẩy sạch thân tâm.
Sau khi thấy lậu hoặc thì đến công đoạn tẩy sạch nhưng thưa các thầy, nhìn ra được ngũ uẩn đầy đủ đã là Thánh quả thứ nhất, người này có niềm tin bất động đối với Thánh trí ngũ uẩn, không còn bất kì cái gì có thể làm người này lay chuyển, nghi ngờ, do dự, người này xác quyết tuyệt đối ngũ uẩn là ngũ uẩn thì người này Nhập Lưu Thánh quả thứ nhất, tịnh tín bất động đối với pháp cho nên thấy ngũ uẩn là thấy Phật cũng là thấy pháp. Người này khi thấy được rác bẩn, do công phu lau chùi, quét dọn mà có ra các Thánh vị tiếp theo cho nên nhìn ra ngũ uẩn, thấy được lậu hoặc là Sơ quả, minh sanh, quang sanh, nhãn sanh, kiến sanh, đắc pháp nhãn tịnh, thành tựu được pháp nhãn, đạo nhãn. Đây là bước tuyệt đối quan trọng, đó là lý do đến giờ chúng ta vẫn chưa học xong ngũ uẩn vì nếu học xong đã Nhập Lưu, đó là lúc con mắt mù sáng ra thấy được cấu nhiễm, uế nhiễm trong tâm.
Khi người này phá được thân kiến tức là không còn cho sắc; thọ; tưởng; hành; thức này là tôi nữa thì những nghi ngờ cũng biến mất, giới cấm thủ được phá vỡ thì người này Nhập Lưu Tu-đà-hoàn. Bây giờ tham và sân đã vơi bớt thì vào Thánh quả thứ hai, sau thời gian lau chùi tích cực thì những cái dơ thô không còn nữa, chỉ còn dơ chút ít thì đó là Thánh quả thứ hai. Khi cái tham hết, sân cũng hết thì đó là Thánh quả thứ ba Bất Lai, không còn trở lại thế giới này nữa mà lên Tịnh Cư Thiên, đó là cõi trời của các bậc thanh tịnh cư trú và từ đó nhập Niết-bàn, không trở lại thế giới này nữa. Vì không còn tham bất cứ cái gì trên đời nữa thì trở lại đây làm gì, hôm đó chú tài xế ghé vào cây xăng để đổ xăng, khi con đi vào toilet thì kinh hoàng vì nó quá dơ bẩn nên con nói từ đây về sau không bao giờ trở lại nữa, thì đó là Bất Lai. Các ngài nhìn thấy thân tâm này, thế gian này giống cái toilet 3 tháng không chùi rửa, đó là cái thấy của bậc Bất Lai, không bao giờ trở lại nữa, đó là Thánh quả thứ ba, không còn tham sân.
Mình bây giờ vẫn còn mê tấm thân này lắm, đây là cái toilet di động, trong đây chảy ra mà không kịp là xấu hổ nhưng mình vẫn còn mê, ham thích. Chúng ta ham thích tấm thân này còn chưa đủ mà còn ham thích thêm tấm thân khác nữa để về ở chung rồi đau khổ vì nó cho nên mình trở lại đời này tiếp tục, còn các ngài không ham thích nữa nên không trở lại. Các ngài nhìn đống thọ; tưởng; hành; thức này là một đống phân và giòi hôi dơ, bẩn thỉu, bất tịnh, các ngài chứng nhập sự thật của bất tịnh một cách toàn vẹn, viên mãn. Hai vợ chồng xem tướng thấy dấu chân Đức Phật có thiên bất luân là bánh xe ngàn căm nên đi theo muốn gả con gái cho Đức Phật trong khi biết bao người hỏi cưới con gái mà hai vợ chồng không đồng ý, Thế Tôn nói rằng từ lâu ngài đã ly dục, đó là đống bất tịnh, chạm vào chân ngài còn không muốn chứ đừng nói gì cưới. Cô gái trẻ nghe thế nên tức giận, sau này cô làm hoàng hậu nên muốn trả thù lại, cho nên những bậc đã thành tựu Thánh trí huệ nhìn đời sống này không giống như mình nghĩ. Mình không quán được bao nhiêu về bất tịnh quán, thậm chí không hề quán, như vậy thì làm sao mình thể nhập được trong khi bất tịnh quán thời Đức Phật còn tại thế là quán mỗi ngày như ăn cơm, uống nước của các thầy Tỳ-kheo, ngoài ra còn phải thực tập quán chiếu chín giai đoạn của một tử thi. Có một vị Tỳ-kheo đang ngồi khất thực thì có một gia đình chạy đi tìm kiếm cô dâu giận nhà chồng bỏ đi, khi mọi người hỏi ngài có thấy cô gái đẹp chạy qua đây không thì ngài nói không thấy cô gái nào mà chỉ thấy bộ xương, đầu lâu, có hàm răng trắng, lúc đó ngài triển khai thiền quán ngay đó và chứng quả A-la-hán tại chỗ. Khi đọc trong Trưởng Lão Tăng Kệ thì chúng ta sẽ thấy đại đa số các thầy Tỳ-kheo đều quán bất tịnh đến mức chứng Thánh quả A-la-hán rất nhiều, có những vị ra nghĩa địa để quán các xác chết hoặc có những vị bệnh gần chết thì quán từ bỏ xác thân nên chứng nhập tại chỗ. Còn mình quán bất tịnh một ngày được mấy phút, mấy giờ?
Đối với sắc uẩn này mình không thể thành tựu được trí tuệ chân xác, sự thật của thân tâm này, đến nhìn gương có mặt nhìn trong đó còn thấy thích, mình ái luyến hình bóng của mình trong gương chứ đừng nói gì xác thân bên ngoài. Lúc nhập thất thì con ngồi thiền trong mùng vào ban đêm ở trên rừng mới nhìn thấy cái bóng của con hiện ra trong mùng, ý hành sanh khởi lên "mình tu đến nay cũng có tướng hảo tròn trịa, dáng ngồi cũng hay" thế là con phải tác ý đánh đuổi ý nghĩ đó trong cả thời ngồi thiền. Mình ái luyến đến nỗi cái bóng của mình hiện lên trong mùng mà cũng còn yêu thích, sắc thủ uẩn này vô cùng ghê gớm, sự chấp thủ trong ngũ uẩn vô cùng khủng khiếp, nó thâm căn cố đế vô lượng vô biên kiếp cho nên mỗi một suy nghĩ, cảm thọ, cái tưởng đều dính liền trong bản ngã, trong vô minh và khát ái. Nếu muốn nhìn ra hết mọi khía cạnh, góc độ để mình triệt phá, diệt tận nó là phải tinh cần, tinh tấn, đưa ra rất nhiều phương pháp tác chiến, Đức Phật phải đánh trận tâm linh vô cùng khủng khiếp, ngài đánh vào sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu thọ, sáu ái, sáu tưởng, sáu tư, sáu tầm, sáu tứ, mỗi một cái như vậy ngài đều có phương pháp thích hợp để đánh đuổi vì thế sự tu hành của chúng ta là cả một công trình vĩ đại. Một trí tuệ và một sức mạnh, một sự cẩn thận, tinh vi phổ quát, sâu rộng siêu phàm chứ không hề đơn giản như mình nghĩa, nó đòi hỏi mình phải để tâm rất nhiều, tìm tòi, khát ngưỡng cầu học, ngại nhất và vấn đề kiến chấp vào sự tu học, đó là chướng ngại vô cùng lớn, học được một chút là cho rằng đạo Phật là bấy nhiêu đó, mình sẽ không thể thành tựu chánh tri kiến viên mãn. Mình hài lòng với những nhận thức, rõ biết nhỏ hẹp của mình, phàm phu của mình thì đó là chướng ngại cho sự thể nhập chánh tri kiến.
Thánh quả thứ tư phải phá rất nhiều vô minh, trạo cử, mạn, sắc ái và vô sắc ái. Sắc ái là cảnh trời, vô sắc ái là những cảnh cao cấp của tứ thiền bát định, mình phải phá hết những cái này vì khi ngồi thiền sẽ bước vào không vô biên xứ, thức vô biên xứ, vô sở hữu xứ, phi tưởng và phi tưởng xứ thì mình cảm thấy rỗng rang, thanh tịnh nên mình thích và mình trú trong đó không ra được, mình sanh lên những tầng trời tám muôn bốn ngàn tuổi, không có sắc thân mà chỉ sống bằng tâm tưởng nhưng cái này vẫn luân hồi sanh tử, vẫn nằm trong ngũ uẩn nhưng vi tế hơn. Những tầng trời sắc là khi nằm chiêm bao thế nào thì sống trên tầng trời đó cũng giống như vậy, trong giấc chiêm bao vẫn có hình bóng, vẫn có cảm giác khổ vui, địa ngục, chư thiên hay ngạ quỷ sống trong sắc giới cũng những cảnh tượng đó, cũng có hình bóng, có cảm giác, có suy nghĩ nhưng không có thân xác giống mình, đó là sắc giới. Nếu mình tu tinh tấn và đúng chánh pháp thì chư thiên sẽ cho mình thấy hoặc người ta xuống đảnh lễ, cúng dường, điều này là sự thật, các chúng sanh cao cấp ở thế giới khác, họ chỉ là những hình bóng. Những khi mình ngồi thiền hoặc chiêm bao hoặc vừa ngủ, thậm chí là ngay cả khi thức thì cả chư thiên lẫn ác ma cũng đến, vì mình chưa tu thâm sâu chứ nếu tu thâm sâu thì các ngài sẽ đến viếng, trong kinh Hàng ma ngài Mục-kiền-liên bị ác ma chui vào bụng, quấy nhiễu ngài.
"Lúc bấy giờ, Tôn giả Maha Moggallana đang đi kinh hành ngoài trời. Khi ấy Ác ma đi vào bụng Tôn giả Maha Moggallana, ở trong bao tử. Rồi Tôn giả Maha Moggallana nghĩ như sau: 'Nay sao bụng của Ta lại nặng nặng như có gì chồng chất quá đầy?' Rồi Tôn giả Maha Moggallana từ chỗ kinh hành bước xuống, đi vào tự viện, và ngồi trên chỗ đã soạn sẵn.
Sau khi ngồi, Tôn giả Maha Moggallana tự chánh niệm. Tôn giả Maha Moggallana thấy Ác ma, sau khi đi vào trong bụng, đang ở trong bao tử. Thấy vậy, Tôn giả liền nói với Ác ma:
-- Hãy đi ra, Ác ma! Hãy đi ra, Ác ma! Chớ có phiền nhiễu Như Lai và đệ tử Như Lai. Chớ có khiến cho Ngươi bị bất hạnh, đau khổ lâu dài!" (Trung Bộ Kinh, 50. Kinh Hàng ma)
Lúc này ngài Mục-kiền-liên đã là bậc A-la-hán cho nên mình đừng nghĩ bậc A-la-hán thần thông quảng đại diệt sạch tà ma, các ngài rất hiền từ, ngài giáo hóa chúng và nói rằng ác ma là cháu của ngài vì thuở xưa ngài cũng là ác ma. Trong bài kinh này có rất nhiều trí tuệ mà mình chưa thấy, chưa biết và chưa hiểu cho nên có rất nhiều thế giới khác nữa chứ không phải chỉ có thế giới của mình nhưng tất cả cũng đều là ngũ uẩn, có nhiều hình tướng khác nhau của ngũ uẩn nhưng trong đó đều là vô minh và tham ái, là chấp ngã, là khổ đau, là nước mắt, là bất an, là sầu, bi, khổ, ưu, não. Mình tu tập rồi mình quán chiếu sẽ phát sanh sự nhàm chán đối với tất cả các uẩn, Thế Tôn một hôm đang ngồi giảng pháp thì ngài khơi lên một chút đất trong móng tay và hỏi các thầy Tỳ-kheo nếu như có một người còn thấy trong ngũ uẩn này còn một chút cái vui như đất dính trong móng tay thì người đó cũng chưa thành tựu chánh tri kiến hoặc là ngài khơi lên chút phân bò dính trong móng tay và ngài nói nếu một người nào thấy trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức này còn chút nào vui dù chỉ bằng chút ít phân bò dính trên đầu móng tay thì người đó vẫn chưa thành tựu chánh tri kiến. Bây giờ mình thấy còn vui khoảng bao lớn? Nếu còn ưa thích trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức là mình còn sanh tử dài dài, nước mắt dài dài, đau khổ triền miên. Thế Tôn đã nói rất cả các sắc; thọ; tưởng; hành; thức đều là bất tịnh, chúng ta đi sâu vào rồi sẽ thấy Thánh trí của Đức Phật phá vỡ hết tất cả ngũ uẩn, không còn chút nào để tham ái, chấp thủ trong đây thì mới đạt được tâm bất động đối với tất cả những cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức trên cuộc đời này.
./.