Thực Hành 3 Pháp - Tâm Là Gì Dễ Chịu Dễ Thương
Thực Hành 3 Pháp - Tâm Là Gì Dễ Chịu Dễ Thương!
Thích Minh Thành
Ngày 29 tháng 10 năm 2022
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Thực hành ba pháp PAGEREF _Toc122354162 \h 2
II. Thánh trí năm uẩn PAGEREF _Toc122354163 \h 4
I. Thực hành ba pháp
Mời chư tôn đức và các Phật tử chúng ta niệm Tam Bảo:
Đảnh lễ Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác,
Đảnh lễ giáo pháp ly tham tối thượng giải thoát,
Đảnh lễ bốn đôi tám chúng hiền thánh tăng, là ruộng phước vô thượng ở trên đời.
Kính bạch chư tôn thiền đức, kính thưa các bậc hiền trí, nam nữ Phật tử.
Lời đầu tiên Minh Thành xin thay mặt chư tăng ni của Linh Quy Pháp Ấn, cũng như thay mặt cho tất cả những người dân nghèo khổ tại nơi đây, cảm tạ ơn đức của các y, bác sĩ đã về đây khám bệnh, cho thuốc, phát quà cho những người đồng bào nghèo khó, khổ sở ở vùng xa xôi, hẻo lánh này.
Vì thời gian chúng ta rất ngắn, không có nhiều nên Minh Thành chia sẻ cho chúng ta hai phần quan trọng nhất trong kinh tạng Nikāya, nguyên gốc của Đức Phật cũng như đường lối tu tập tại Linh Quy Pháp Ấn.
Chúng ta là những bác sĩ, dược sĩ, điều dưỡng, cũng như những Phật tử với một tấm lòng từ bi, đem sự ngọt ngào, ấm áp, bình an, yêu thương đến cho mọi người nên Minh Thành nghĩ rằng chúng ta rất cần thiền tập. Trước nay có thể mình đã từng ngồi thiền, có những vị cũng đã tập thiền lâu, nhưng hôm nay Minh Thành sẽ giới thiệu một phương pháp thực tập thiền ở trong kinh Tứ Niệm Xứ. Rất đơn giản và cũng rất khác với chúng ta đã thực tập trước nay.
Phương pháp này gồm có ba pháp, chúng ta vừa lý thuyết, vừa thực hành tại chỗ. Pháp thứ nhất là rõ biết trước mặt, khi chúng ta ngồi thiền thì chúng ta tuyệt đối không nhắm mắt. Chúng ta nhìn xuống về phía trước, vừa nghe lý thuyết vừa thực hành tại chỗ, mắt chúng ta nhìn xuống phía trước khoảng một mét, tầm nhìn của mình rộng mở hết mức ra hai bên, chúng ta không trú vào bất cứ điểm nào hết, cái nhìn của chúng ta là một cái nhìn rộng mở, rõ ràng, sáng tỏ phía trước mặt. Mở rộng tầm nhìn hết mức ra hai bên phía trước mặt, mắt nhìn xuống phía trước khoảng một mét. Đây Đức Phật gọi là rõ biết trước mặt, chánh niệm trước mặt, đặt niệm trước mặt. Đó là pháp thứ nhất.
Phương pháp thứ hai là chúng ta cảm nhận hơi thở vào ra. Cảm nhận hơi thở vào ra, khi mình hít vào mình niệm thầm, tác ý vào trong hơi thở, mình kêu “An tịnh!” Khi mình thở ra, mình hướng tâm mình vào trong hơi thở, mình kêu “Lắng dịu! An tịnh! Dễ chịu!” Hướng vào trong hơi thở mình kêu như vậy.
Sau đó mình cảm nhận sự động chuyển của hơi thở ở ba chỗ: lồng ngực, chót mũi, bụng. Từ ba chỗ động chuyển này, chúng ta cảm nhận cảm giác của mình lan tỏa ra, mình cảm nhận cảm giác trên đỉnh đầu, ở hai tai, ở gò má, ở toàn gương mặt, ở bờ vai, cánh tay, bàn tay, lòng bàn tay, từng ngón tay, ở lưng, xương sống, mông, chân, ống chân, bàn chân, ngón chân, lòng bàn chân.
Cảm nhận cảm giác của toàn bộ cơ thể, từ đỉnh đầu tới gót chân và mình kêu “An tịnh, lắng dịu, dễ chịu!” Chúng ta mở mắt ra, đừng nhắm mắt, mắt của chúng ta nhìn xuống về phía trước, rõ biết ở phía trước mặt. Cảm nhận hơi thở, cảm nhận cảm giác toàn bộ cơ thể và mình kêu cảm giác của mình, từ đỉnh đầu tới gót chân mình kêu “Lắng dịu, dễ chịu, an tịnh!” Đó là pháp thứ hai, là pháp cảm giác toàn thân.
Pháp thứ ba là nội tâm tỉnh giác, là mình rõ biết được những suy nghĩ, trong tâm đang có suy nghĩ gì, trong tâm đang có hình bóng gì. Là mình rõ biết được những lời nói lầm thầm, suy nghĩ trong tâm, những hình bóng ở trong tâm – tưởng, mình rõ biết được những cảm giác của thân thể cũng như cảm giác ở trong tâm của mình.
Thưa các vị thực hành có được không? Mình chiến đấu cả ngày hôm nay giờ mình tiếp tục chiến đấu nữa ạ? Chúng ta có thấy gì chưa được rõ không? Cảm giác toàn thân có lẽ là một phương pháp thực tập có lẽ là mới đối với chúng ta. Nhưng đó là pháp rất quan trọng và căn bản lúc Đức Phật còn tại thế. Lát sau chúng ta sẽ giải thích tại sao mình thực hành cảm giác toàn thân.
Chúng ta nghe nói như vậy có thực tập được không? Có vị nào chưa rõ về cảm giác toàn thân? Mình cảm nhận cảm giác của toàn bộ cơ thể. Tuy là nói thực hành ba pháp nhưng vì chúng ta chưa nhận diện ngũ uẩn nên chúng ta chú trọng hai pháp đầu thôi, tức là rõ biết trước mặt và cảm nhận, cảm giác toàn bộ cơ thể.
Ví dụ giờ chúng ta ngồi, chúng ta tập cảm nhận xem hiện tại gương mặt mình có tươi không? Mắt mình có buồn ngủ không? Chân mình có mỏi không? Mình tập cảm nhận từng bộ phận của cơ thể, đây là bác sĩ rất giỏi. Mình tập cảm nhận từng chi phần trên thân thể của mình, mình lắng nghe cảm giác của nó, xem nó đang như thế nào.
Phần thứ hai là nhận diện thân tâm của mình, chúng ta sẽ biết được tâm mình là gì. Trước tiên, Minh Thành xin mời các vị, theo kiến thức mà chúng ta đã học từ trước tới nay, mình được hiểu từ ngoài đời tới trong đạo, mình biết tâm mình là gì? Chúng ta cứ việc chia sẻ, giờ là qua chương trình pháp đàm, thảo luận, đàm đạo với nhau.
II. Thánh trí năm uẩn
Tâm là gì?
Theo như ngoài đời hay trong đạo từ trước đến nay thì mình hiểu tâm là gì?
Phật tử số 1 trình pháp:
Từ xưa đến giờ con học như học về triết học hoặc những môn căn bản khoa học, chia ra vật chất và ý thức. Trên thân thể con người của ta thì thân người của mình thì đại diện cho chất và trong đó có tinh thần. Theo con hiểu thì đó đại diện cho tâm.
Phật tử số 2 trình pháp:
Con không có điều kiện để đi trường nhiều, nhưng theo con suy nghĩ thì tâm là cái suy nghĩ của mỗi người, nó phát sinh từ ở trong cái thiện hoặc cái ác của người đó dẫn đến hành động của họ. Đó là tâm theo con suy nghĩ.
Phật tử số 3 trình pháp:
Theo con nghĩ, tâm là những cảm giác, cảm thọ có từ trong thân mình.
Phật tử số 4 trình pháp:
Con là Minh Huệ, cũng ở Thành phố Hồ Chí Minh, hôm nay cũng ghé viếng chùa nhưng hai năm vừa rồi do dịch bệnh nên chúng con không thể ghé thăm chùa được. Vừa rồi thì chúng con có làm đoàn từ thiện ở Trung tâm Tâm thần Đức Trọng ở Đà Lạt rồi sau đó chúng con ghé về chùa để thăm chùa và các thầy. Rất vui mừng là sau khi đại dịch thầy vẫn khỏe và công việc của chùa vẫn tốt đẹp.
Con được học qua thầy rồi nên con cũng có ý kiến tâm như thế nào. Nếu chúng ta học khoa học, có học triết học rồi thì chúng ta giải thích như các anh chị đã nói là cũng được. Nhưng đạo Phật theo kinh Nikāya tức là cơ bản, nguyên thủy nhất của Phật thì con người chúng ta gồm ngũ uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Đạo Phật cũng có triết lý rất khoa học thì thân của chúng ta là sắc, bốn cái còn lại là thọ, tưởng, hành, thức. Thọ là cảm giác, tưởng là những hình ảnh trong đầu, hành là suy nghĩ trong đầu, thức là rõ biết của năm cái cảm giác của mắt nhìn, tai nghe, lưỡi xúc và ý. Bốn cái còn lại đó là tâm, tức là thân là sắc, tâm còn lại là thọ, tưởng, hành, thức.
Sư phụ giảng giải:
Bây giờ Minh Thành sẽ hướng dẫn cho chúng ta nhận diện ngũ uẩn ở tại đây, tức là chúng ta sẽ biết được tâm mình là cái gì. Khi nãy các bác nói đều đúng hết, nhưng chỉ là một góc độ, còn đây là chúng ta trình bày là sự chứng ngộ của Đức Phật trong kinh tạng Nikāya.
Đức Phật nói:
“Cho đến khi nào, này các Tỷ-kheo, Ta không như thật rõ biết sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của năm căn này, cho đến khi ấy, này các Tỷ-kheo, Ta không biết rõ ý nghĩa về sự chứng ngộ vô thượng Chánh đẳng Chánh giác đối với các thế giới như Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người.
4) Cho đến khi nào, này các Tỷ-kheo, Ta như thật rõ biết sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của năm căn này, cho đến khi ấy, này các Tỷ-kheo, Ta mới biết rõ ý nghĩa về sự chứng ngộ vô thượng Chánh đẳng Chánh giác đối với các thế giới, như Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người.”
(Bài kinh Không Có Tái Sanh hay Người Có Trí – Phẩm Sáu Căn – Chương Tương Ưng Căn – Tăng Chi Bộ Kinh)
Ý nói, này các Tỳ-kheo, ta không tuyên bố ta đã được sự thấy biết cùng tột giữa chư thiên, loài người, các bậc tu hành cho đến khi nào ta chưa có thật sự thấy biết tận cùng về thân tâm năm uẩn này. Ta chỉ tuyên bố ta đạt được Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Khi nào ta đã biết thấu suốt tận cùng về thân tâm năm uẩn này, sự giác ngộ, sự chứng ngộ của Đức Phật là sự chứng ngộ thấy biết được đầy đủ về thân tâm một cách viên mãn tất cả các phương diện, khía cạnh, góc độ của thân tâm.
Hôm nay chúng ta sẽ biết được thật sự tâm của mình là cái gì, qua sự chứng ngộ của Đức Phật. Có khi chúng ta đi chùa rất nhiều năm, thậm chí suốt đời, nhưng cũng có thể mình khó có được cơ hội để nhận diện được tâm mình thật sự là cái gì.
Như khi nãy bác sĩ vừa chia sẻ, là Đức Phật đã chứng ngộ thân này, tâm này tổng cộng gồm năm nhóm – ngũ uẩn. Nhóm thứ nhất là sắc, gồm có thân người, cảnh vật, đồ vật, tứ đại. Tức là mấy chục kilogram thịt đang ngồi đây thì gọi là sắc và những cảnh vật chúng ta đang nhìn thấy đây chúng ta gọi là sắc uẩn, tức là nhóm vật chất, nhóm sắc pháp, nhóm của tứ đại (đất, nước, gió, lửa).
Tiếp theo, phần tâm có bốn nhóm. Nhóm thứ nhất là cảm giác, nhóm thứ hai là hình bóng trong tâm – tưởng. Tâm của chúng ta có hình bóng không? Nhóm thứ ba là suy nghĩ, những lời nói lầm thầm trong tâm. Nhóm thứ tư là sự rõ biết - thức uẩn.
Giờ để chúng ta nhận diện được thì mình có những ví dụ để chúng ta dễ hiểu. Chúng ta ngồi đây thì đa số đã có gia đình hết.
Mời đại chúng cùng thực hành theo:
Giờ chúng ta nhắm mắt lại và chúng ta nhớ về mẹ mình. Nhớ về những kỉ niệm ấm áp, ngọt ngào, thân thương nhất mẹ đã dành cho chúng ta. Khi chúng ta nhớ như vậy thì chúng ta có thấy được hình bóng của mẹ mình hiện ra không? Hình bóng đó là tưởng. Chúng ta có một cảm giác thân thương, ấm áp, dễ chịu không? Đó là thọ. Chúng ta có những lời nói lầm thầm, những suy nghĩ liên hệ không biết mẹ giờ làm gì. Lời nói lầm thầm, suy nghĩ đó là hành. Chúng ta rõ biết được có hình bóng của mẹ, cảm giác thân thương và những sự suy nghĩ liên hệ đến mẹ mình, chúng ta rõ biết được điều đó thì đó là thức. Thức là biết được thọ, tưởng, hành, tức là biết được cảm thọ, cảm giác lúc đó, biết được hình bóng trong tâm, biết được suy nghĩ.
Đó là tâm của mình, gồm có cảm giác, hình bóng, suy nghĩ và sự rõ biết. Khi nói về tâm phải đầy đủ bốn nhóm như vậy.
Tiếp tục, Minh Thành mời tất cả chúng ta nhắm mắt lại. Nhớ về người mà mình yêu thương nhất.
Chúng ta thấy có hình bóng của người đó hiện ra không? Hình bóng đó là tưởng. Chúng ta có một cảm giác dễ chịu không? Cảm giác đó là thọ. Chúng ta có những suy nghĩ liên hệ đến người đó không? Suy nghĩ đó là hành. Chúng ta có một sự rõ biết trong tâm mình đang có hình bóng của người đó, đang có cảm giác dễ chịu, đang có những suy nghĩ liên hệ tới người đó. Chúng ta rõ biết đó là thức.
Chúng ta cùng nhau đọc định nghĩa của ngũ uẩn:
Thân người là sắc, cảm giác là thọ, hình bóng là tưởng, suy nghĩ là hành, rõ biết là thức.
Bây giờ chúng ta nhắm mắt lại, nhớ về người nào mình giận nhất, người nào làm cho mình khổ, mình buồn, làm cho mình không vui. Chúng ta có thấy có hình bóng người đó không? Đừng phản ứng nhanh, khi mình tu thiền thì mình tập trầm tĩnh và sâu sắc mình mới học được thiền. Thiền là phải trầm tĩnh, lắng đọng tâm tư và nhìn sâu vào bên trong thì mình sẽ học được một pháp thâm sâu.
Chúng ta miệng thì nói vậy nhưng khi có chuyện hay khi bình thường thì mình sẽ có buồn, giận nhiều người. Vì mình nhanh quá nên chưa nhìn ra.
Khi mình nhìn như vậy thì thấy có hình bóng của người đó không? Hình bóng là gì? Hình bóng là tưởng. Mình có cảm giác hơi khó chịu thì cảm giác hơi khó chịu đó là thọ. Mình có suy nghĩ người này làm cho mình khổ quá, những suy nghĩ liên hệ tới người đó. Suy nghĩ là hành. Và mình có một sự rõ biết là đang có hình bóng người đó, đang có cảm giác như vậy, đang có suy nghĩ liên hệ người đó, mình có rõ biết không? Rõ biết đó là thức.
Đó là ngũ uẩn mà Bát nhã tâm kinh chúng ta đọc mỗi ngày, chúng ta đang sử dụng không phải là hằng ngày, cũng không phải là hàng giờ, mà chúng ta đang sử dụng hàng giây, hàng phút trong tâm chúng ta nhưng chúng ta không biết, nên Đức Phật gọi mình là vô minh.
Năm nhóm này bị tâm nắm giữ nên gọi là năm thủ uẩn. Thủ là nắm giữ. Tâm của mình cho rằng mấy chục kí thịt này là tôi, là của tôi. Tâm của mình cho tất cả các cảm giác nào cũng là tôi hết, “Tôi đang dễ chịu, tôi đang khó chịu, tôi đang bực nha. Đừng kiếm chuyện nha.” Tức là uẩn nào cũng nắm chặt vào cho là nó, là mình, là của mình, là tự ngã của mình. Hoặc những hình bóng nào hiện ra trong tâm mình hiện ra đều nói “Này là tôi, của tôi hết.” Những suy nghĩ nào nói thầm lên cũng nói là “Tôi nghĩ đó, đó là suy nghĩ của tôi.” Tức cái nào mình cũng nắm giữ thì Đức Phật nói đó là năm thủ uẩn, tức là sự nắm giữ trong năm nhóm này.
Trong nhận thức cũng vậy, “Tôi biết đó, tôi thấy vậy đó, tôi nhận thức vậy đó, tôi hiểu vậy đó. Tôi giỏi chỗ đó, tôi hơn người vậy đó.” Là lúc nào mình cũng nắm giữ trong năm nhóm này thì Đức Phật gọi đó là năm thủ uẩn, sự nắm giữ trong hình hài, trong các cảm giác, trong những hình bóng nội tâm, trong các suy nghĩ lầm thầm, trong những nhận thức rõ biết.
Ví dụ, khi mình xòe bàn tay thì thấy tượng Phật để tay thì mình thấy dễ chịu, ngọt ngào không? Nhưng mình thấy nắm tay thì mình thấy sợ thì tâm của chúng sanh là một tâm nắm giữ. Tâm của Phật, tâm của các bậc Thánh là một tâm buông xả. Ví dụ, tâm mình nói “Ai đụng tới tôi thì biết!” Nắm chặt vào sắc, thọ, tưởng, hành, thức, nắm chặt vào thân mấy chục kí này, nắm chặt vô những cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức, cho đó là mình, là của mình.
Chỉ cần một người nói câu gì mà mình cho là khinh thường mình thì lúc đó cảm giác gì sanh khởi? Đó là đốt mình và đốt người khác, dù cho người đó chính là người vợ chồng, mẹ con, cha con, anh em. Một khi chạm tới tự ngã, bản ngã thì sẵn sàng là những cảm thọ, cảm xúc tiêu cực, bất thiện sanh khởi lên.
Nên giải thích cho việc tại sao phải tu cảm giác toàn thân. Đức Phật nói rằng tâm mình có gì trong tâm thì nó nằm ở cảm giác hết. Tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ. Mình muốn biết tâm mình có gì trong đó thì mình chỉ cần nhìn vào cảm giác là biết.
Giờ chúng ta đi tu học theo Phật là chúng ta diệt trừ tham, sân, si. Vậy thì tham, sân, si ở đâu? Ở trong tâm. Vì chúng ta không có nhiều thời gian nên chúng ta đi tắt vào. Cái này chúng ta có thời gian thì chúng ta đào sâu thì chúng ta sẽ nhớ dai hơn.
Tham, sân, si nằm trong ba cảm giác của chúng ta. Bây giờ khi có một cảm giác dễ chịu, mình nghe người ta tâng bốc mình lên, khen mình, đưa mình lên thì lúc đó mình có cảm giác gì? Là cảm giác dễ chịu. Mình nói có cảm giác dễ chịu, cảm giác khó chịu, cảm giác không dễ chịu, không khó chịu.
Khi mình được tán dương, tán thưởng, khen ngợi, tâng bốc, đưa lên thì lúc đó mình sẽ có cảm giác dễ chịu. Cảm giác dễ chịu này luôn có tham ở trong đó, nó nằm trong cảm giác đó, mình sẽ thích, khoái, mình muốn được nữa. Đó là tham nằm trong cảm giác dễ chịu. Giờ mình bị người ta chỉ trích, chê bai, mắng chửi, ủy nhục thì lúc đó mình có cảm giác khó chịu. Cảm giác khó chịu là luôn luôn có sân trong đó.
Chúng ta thấy tham, sân nằm trong cảm giác. Giờ mình ngồi đây nhưng nếu mình im ru như vậy, Minh Thành hay các thầy cũng im ru, ở dưới cũng im ru thì chúng ta có cảm giác gì? Nên chúng ta sẽ thấy có một cảm giác đơ đơ, trơ trơ, sau đó là hai mắt mình sụp xuống, như vậy là si.
Tiếp theo là chúng ta nhận diện tham, sân, si trong ba cảm giác. Khi mình nổi nóng lên thì chỗ nào biến động đầu tiên trong cơ thể mình lúc mình nổi giận lên? Đó là ở lồng ngực. Đây là hang ổ của tất cả các cảm giác đều tập trung ở chỗ này. Nên khi mình giận thì bốc hỏa lên, từ chỗ này bốc hỏa lên, mặt mình đổi màu, tai lùng bùng, mắt lờ mờ, miệng giật giật.
Chúng ta thấy từ trong này bốc hỏa lên, gương mặt đổi sắc, đổi màu, tai lùng bùng, mắt lờ đờ, miệng giật giật. Đó là mình đang nhận diện về cơn giận ở trong cảm giác sân, khó chịu đó. Chúng ta phải tập nhận diện, như vậy, khi một cảm giác khó chịu, sân hận sanh khởi lên thì hành tướng hoạt động của nó, hình thái, trạng thái, cảm giác đó mình phải nắm vững được để mình đã biết tên tuổi, biết mặt mũi, biết tính tình, biết bản chất của nó thì mình mới có thể trị nó được.
Còn bây giờ mình không biết cảm giác là gì, mình cũng không biết ở trong cảm giác khó chịu này có sân mà mình không biết cách để trị. Như vậy 50:57 - 51:01 cầm ly nước lạnh uống vào, đi tắm nhưng sau đó suy nghĩ lại thì nó cứ ám ảnh hình bóng nó hoài, cảm giác cứ khởi lên và những suy nghĩ cứ quanh quẩn đó, cứ uống hoài nhưng không diệt được nóng hay dập được lửa ở trong.
Như vậy, chính vì chúng ta không biết được hang ổ, sào huyệt của tham, sân, si, chúng ta không biết được hành tướng, sự vận hành, mô típ, cấu trúc, guồng máy vận hành của tham, sân, si nên chúng ta không có khả năng nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận, tẩy sạch của tham, sân, si. Trong tạng kinh Nikāya, Đức Phật chỉ cho chúng ta nguồn cội, gốc rễ, hang ổ, sào huyệt mà tham, sân, si trú ẩn trong cảm giác.
Chính vì vậy mà khi nãy chúng ta thực tập cảm giác toàn thân, là lúc nào mình cũng để ý cảm giác từ đỉnh đầu tới gót chân. Khi mà bên trong này sôi sùng sục thì có biết được không? Hướng tâm vào và kêu “An tịnh, lắng dịu, dễ chịu! Để chị tu, đừng quậy chị nha.” Mình kêu nó “Thôi, để chị tu, để chị làm việc. Lương y như từ mẫu, đừng sân si, kệ người ta bệnh, tội nghiệp người ta.”
Mình tác ý như vậy là mình thường xuyên, thường trực, thường luôn, thường nhật, thường thường canh chừng những cảm giác, để ý cảm giác, quán xét cảm giác. Để mình phát giác, phát hiện ra những cảm giác tiêu cực, những cảm giác mà dẫn đến sự đổ vỡ, dẫn đến sự nóng bức, đốt cháy, mình phát giác, phát hiện ra được.
Vậy nên cảm giác toàn thân là cực kỳ quan trọng trong pháp hành mà Đức Phật còn tại thế, là luôn luôn lúc nào cũng để ý cảm giác toàn bộ cơ thể của mình, xem nó đang như thế nào. Nếu mình thấy nó đang khó chịu thì mình kêu “Thôi, khó chịu hoài, bực bội hoài, cứ ghim gút hoài để làm gì? Mệt chưa? Làm việc mệt rồi mà giờ còn đốt lửa, phóng hỏa, đốt nhà hay sao? Thôi làm ơn lắng dịu dùm cái, dễ chịu dùm đi, ngọt ngào dùm đi!”
Mình kêu cảm giác của mình vì thật ra nó chỉ là một pháp thôi, một uẩn thôi, nó cũng là một sự kết hợp nhân duyên sanh, không có thật, do tiếp xúc mà sanh khởi. Trước khi mình nghe người ta chửi thì mình không có giận, mình ngồi mà tự giận thì người ta đưa mình đi. Như vậy, do duyên xúc, do tai mình nghe câu nói hay mình nhìn gì đó thì lúc đó mình sanh lên cảm giác. Cảm giác đó là thứ lắp ráp, duyên sanh, tạm thời thôi, không có thật. Mình để cho nó thêu mình, đốt người, để cho nó hành hạ mình.
Mình thấy có những người hở chút là bực, hở chút là giận, hở chút là gắt gỏng, cộc cằn, cay cú, mình thấy những người đó họ sướng hay khổ? Họ nóng hay mát? Họ tươi hay héo? Như vậy thì mình không muốn cho mình khổ, mình không muốn cho mình nóng bức, nhiệt não, mình muốn khí hậu mát mẻ, trong lành giống như ở Bảo Lộc, giống như Linh Quy Pháp Ấn.
Cảm giác của mình lúc nào cũng trong lành, mát mẻ, giống như khí hậu của đại ngàn, của cao nguyên, tây nguyên, núi rừng như vậy. Người lại gần mình cảm nhận được không? Như vậy, một mặt là mình nhận diện cảm giác tiêu cực, để mình chặn đứng nó, phát giác, phát hiện kịp thời, chặn đứng, nhiếp phục, chế ngự. Một mặt là mình sẽ tu tập cảm giác tích cực, những cảm giác hiền thiện, dễ thương, dễ mến, ngọt ngào, những cảm giác thanh lương, mát mẻ, trong lành, an lạc, từ ái. Như ngọt như đường cát, mát như đường phèn, giống như đi làm mệt về mà cầm một ly cam vắt mật ong nguyên chất. Cảm giác của mình giống như mật ong vậy, ngọt ngào như vậy. Tức là mình kêu cảm giác mình “Dễ chịu nha, dễ thương nha, đừng quậy chị nha.”
Khi bình thường mình kêu, mình tập thì tới lúc hữu sự mình kêu nó mới nghe, còn tới lúc mình đang giận mà lại kêu “Đừng giận, thôi ngọt đi!” thì nó nói “Ngọt không được, phải xử lý thôi!”
Có những vị học tám năm, mười năm, hai mươi năm thì mới có được bằng cấp, học vị, thứ hai là có kinh nghiệm ở trong điều trị bệnh. Cũng vậy, sự tu đòi hỏi mình phải có công phu, mà phải là công phu thâm hậu. Sự tu đòi hỏi mình phải thực tập lúc bình thường, lúc bình thường mình tác ý, nuôi dưỡng một cảm xúc dễ chịu, ngọt ngào, dễ thương, dễ mến, hiền lành, hiền hậu, hiền hòa, hiền đức, hiền lương, hiền trí, thực tập theo các bậc hiền thánh. Cảm thọ của mình trong này là cảm thọ lúc nào cũng ngọt ngào, dễ chịu, dễ thương. Như vậy, khi có hữu sự, có chuyện bực bội thì mình kêu một cái là nó nghe lời ngay.
Giống như mình dạy đứa con, mình huấn luyện, dạy dỗ, giáo dục nó, cho nó trở thành một đứa con ngoan, đứa con nghe lời. Tâm này cũng cần phải huấn luyện, giáo dục, dạy dỗ tu tập, đó gọi là tu tâm, tức là huấn luyện, nhiếp phục, chế ngự và làm cho cảm giác của mình mềm mại, nhu nhuyến, dễ sử dụng. Tâm không được tu tập rất khó sử dụng, kêu nó không nghe, khi đang sân si mình kêu nó từ bi thì nó nghe không? Nó đang hơn thua, mình kêu “Thôi nhường nhịn đi!” thì nó có nghe không? Còn nếu mình huấn luyện tâm của mình thuần thục thì mình sẽ có một cảm giác rất ngọt ngào, dễ chịu, dễ thương.
Minh Thành thường hay nói Linh Quy Pháp Ấn là viện thẩm mỹ tâm linh. Mọi người có muốn làm đẹp nội tâm không? Ở ngoài làm đẹp nhiều thứ như mắt, mũi, tai, miệng nhưng sân si thì đẹp cỡ nào cũng bỏ chạy hết. Vậy nên rất cần chùa là viện thẩm mỹ tâm linh, tức là tu tập tâm, làm cho mình hiền từ, hiền hòa, hiền lương, hiền hậu, hiền lành, hiền đức, tu tập theo bậc hiền trí.
Phải huấn luyện, tưới tẩm, xông ướp, vun vén cảm thọ, cảm xúc, cảm giác trong con người mình thường xuyên và liên tục thì mình sẽ có được một cảm thọ phong phú, sung mãn, ngọt ngào, dễ chịu. Nếu mình lúc nào cũng giống như máy điều hòa thì người ở gần mình hưởng đầu tiên đúng không? Là chồng con, cha mẹ mình, anh em mình, những người đồng nghiệp của mình là hưởng được cảm thọ đó thì quá tuyệt vời, mình chịu như vậy không hay là đem theo bếp gas bật lên?
Như vậy, đó là ý nghĩ để chúng ta tu tập các cảm thọ. Rất cần sự tác ý, nhắc nhở thường xuyên, hướng vào bên trong và mình kêu: “An tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào, dễ thương.”
Đó là cách mình tác động tâm ý, cách mà Đức Phật dạy trong kinh tạng Nikāya. Chúng ta có thấy dễ chịu, dễ thương thêm chút nào không? Có ngọt ngào thêm không?
Minh Thành để thời gian cho quý vị nghỉ ngơi để sáng chúng ta còn khám bệnh, làm việc.
Thích Minh Thành
Ngày 29 tháng 10 năm 2022
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Thực hành ba pháp PAGEREF _Toc122354162 \h 2
II. Thánh trí năm uẩn PAGEREF _Toc122354163 \h 4
I. Thực hành ba pháp
Mời chư tôn đức và các Phật tử chúng ta niệm Tam Bảo:
Đảnh lễ Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác,
Đảnh lễ giáo pháp ly tham tối thượng giải thoát,
Đảnh lễ bốn đôi tám chúng hiền thánh tăng, là ruộng phước vô thượng ở trên đời.
Kính bạch chư tôn thiền đức, kính thưa các bậc hiền trí, nam nữ Phật tử.
Lời đầu tiên Minh Thành xin thay mặt chư tăng ni của Linh Quy Pháp Ấn, cũng như thay mặt cho tất cả những người dân nghèo khổ tại nơi đây, cảm tạ ơn đức của các y, bác sĩ đã về đây khám bệnh, cho thuốc, phát quà cho những người đồng bào nghèo khó, khổ sở ở vùng xa xôi, hẻo lánh này.
Vì thời gian chúng ta rất ngắn, không có nhiều nên Minh Thành chia sẻ cho chúng ta hai phần quan trọng nhất trong kinh tạng Nikāya, nguyên gốc của Đức Phật cũng như đường lối tu tập tại Linh Quy Pháp Ấn.
Chúng ta là những bác sĩ, dược sĩ, điều dưỡng, cũng như những Phật tử với một tấm lòng từ bi, đem sự ngọt ngào, ấm áp, bình an, yêu thương đến cho mọi người nên Minh Thành nghĩ rằng chúng ta rất cần thiền tập. Trước nay có thể mình đã từng ngồi thiền, có những vị cũng đã tập thiền lâu, nhưng hôm nay Minh Thành sẽ giới thiệu một phương pháp thực tập thiền ở trong kinh Tứ Niệm Xứ. Rất đơn giản và cũng rất khác với chúng ta đã thực tập trước nay.
Phương pháp này gồm có ba pháp, chúng ta vừa lý thuyết, vừa thực hành tại chỗ. Pháp thứ nhất là rõ biết trước mặt, khi chúng ta ngồi thiền thì chúng ta tuyệt đối không nhắm mắt. Chúng ta nhìn xuống về phía trước, vừa nghe lý thuyết vừa thực hành tại chỗ, mắt chúng ta nhìn xuống phía trước khoảng một mét, tầm nhìn của mình rộng mở hết mức ra hai bên, chúng ta không trú vào bất cứ điểm nào hết, cái nhìn của chúng ta là một cái nhìn rộng mở, rõ ràng, sáng tỏ phía trước mặt. Mở rộng tầm nhìn hết mức ra hai bên phía trước mặt, mắt nhìn xuống phía trước khoảng một mét. Đây Đức Phật gọi là rõ biết trước mặt, chánh niệm trước mặt, đặt niệm trước mặt. Đó là pháp thứ nhất.
Phương pháp thứ hai là chúng ta cảm nhận hơi thở vào ra. Cảm nhận hơi thở vào ra, khi mình hít vào mình niệm thầm, tác ý vào trong hơi thở, mình kêu “An tịnh!” Khi mình thở ra, mình hướng tâm mình vào trong hơi thở, mình kêu “Lắng dịu! An tịnh! Dễ chịu!” Hướng vào trong hơi thở mình kêu như vậy.
Sau đó mình cảm nhận sự động chuyển của hơi thở ở ba chỗ: lồng ngực, chót mũi, bụng. Từ ba chỗ động chuyển này, chúng ta cảm nhận cảm giác của mình lan tỏa ra, mình cảm nhận cảm giác trên đỉnh đầu, ở hai tai, ở gò má, ở toàn gương mặt, ở bờ vai, cánh tay, bàn tay, lòng bàn tay, từng ngón tay, ở lưng, xương sống, mông, chân, ống chân, bàn chân, ngón chân, lòng bàn chân.
Cảm nhận cảm giác của toàn bộ cơ thể, từ đỉnh đầu tới gót chân và mình kêu “An tịnh, lắng dịu, dễ chịu!” Chúng ta mở mắt ra, đừng nhắm mắt, mắt của chúng ta nhìn xuống về phía trước, rõ biết ở phía trước mặt. Cảm nhận hơi thở, cảm nhận cảm giác toàn bộ cơ thể và mình kêu cảm giác của mình, từ đỉnh đầu tới gót chân mình kêu “Lắng dịu, dễ chịu, an tịnh!” Đó là pháp thứ hai, là pháp cảm giác toàn thân.
Pháp thứ ba là nội tâm tỉnh giác, là mình rõ biết được những suy nghĩ, trong tâm đang có suy nghĩ gì, trong tâm đang có hình bóng gì. Là mình rõ biết được những lời nói lầm thầm, suy nghĩ trong tâm, những hình bóng ở trong tâm – tưởng, mình rõ biết được những cảm giác của thân thể cũng như cảm giác ở trong tâm của mình.
Thưa các vị thực hành có được không? Mình chiến đấu cả ngày hôm nay giờ mình tiếp tục chiến đấu nữa ạ? Chúng ta có thấy gì chưa được rõ không? Cảm giác toàn thân có lẽ là một phương pháp thực tập có lẽ là mới đối với chúng ta. Nhưng đó là pháp rất quan trọng và căn bản lúc Đức Phật còn tại thế. Lát sau chúng ta sẽ giải thích tại sao mình thực hành cảm giác toàn thân.
Chúng ta nghe nói như vậy có thực tập được không? Có vị nào chưa rõ về cảm giác toàn thân? Mình cảm nhận cảm giác của toàn bộ cơ thể. Tuy là nói thực hành ba pháp nhưng vì chúng ta chưa nhận diện ngũ uẩn nên chúng ta chú trọng hai pháp đầu thôi, tức là rõ biết trước mặt và cảm nhận, cảm giác toàn bộ cơ thể.
Ví dụ giờ chúng ta ngồi, chúng ta tập cảm nhận xem hiện tại gương mặt mình có tươi không? Mắt mình có buồn ngủ không? Chân mình có mỏi không? Mình tập cảm nhận từng bộ phận của cơ thể, đây là bác sĩ rất giỏi. Mình tập cảm nhận từng chi phần trên thân thể của mình, mình lắng nghe cảm giác của nó, xem nó đang như thế nào.
Phần thứ hai là nhận diện thân tâm của mình, chúng ta sẽ biết được tâm mình là gì. Trước tiên, Minh Thành xin mời các vị, theo kiến thức mà chúng ta đã học từ trước tới nay, mình được hiểu từ ngoài đời tới trong đạo, mình biết tâm mình là gì? Chúng ta cứ việc chia sẻ, giờ là qua chương trình pháp đàm, thảo luận, đàm đạo với nhau.
II. Thánh trí năm uẩn
Tâm là gì?
Theo như ngoài đời hay trong đạo từ trước đến nay thì mình hiểu tâm là gì?
Phật tử số 1 trình pháp:
Từ xưa đến giờ con học như học về triết học hoặc những môn căn bản khoa học, chia ra vật chất và ý thức. Trên thân thể con người của ta thì thân người của mình thì đại diện cho chất và trong đó có tinh thần. Theo con hiểu thì đó đại diện cho tâm.
Phật tử số 2 trình pháp:
Con không có điều kiện để đi trường nhiều, nhưng theo con suy nghĩ thì tâm là cái suy nghĩ của mỗi người, nó phát sinh từ ở trong cái thiện hoặc cái ác của người đó dẫn đến hành động của họ. Đó là tâm theo con suy nghĩ.
Phật tử số 3 trình pháp:
Theo con nghĩ, tâm là những cảm giác, cảm thọ có từ trong thân mình.
Phật tử số 4 trình pháp:
Con là Minh Huệ, cũng ở Thành phố Hồ Chí Minh, hôm nay cũng ghé viếng chùa nhưng hai năm vừa rồi do dịch bệnh nên chúng con không thể ghé thăm chùa được. Vừa rồi thì chúng con có làm đoàn từ thiện ở Trung tâm Tâm thần Đức Trọng ở Đà Lạt rồi sau đó chúng con ghé về chùa để thăm chùa và các thầy. Rất vui mừng là sau khi đại dịch thầy vẫn khỏe và công việc của chùa vẫn tốt đẹp.
Con được học qua thầy rồi nên con cũng có ý kiến tâm như thế nào. Nếu chúng ta học khoa học, có học triết học rồi thì chúng ta giải thích như các anh chị đã nói là cũng được. Nhưng đạo Phật theo kinh Nikāya tức là cơ bản, nguyên thủy nhất của Phật thì con người chúng ta gồm ngũ uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Đạo Phật cũng có triết lý rất khoa học thì thân của chúng ta là sắc, bốn cái còn lại là thọ, tưởng, hành, thức. Thọ là cảm giác, tưởng là những hình ảnh trong đầu, hành là suy nghĩ trong đầu, thức là rõ biết của năm cái cảm giác của mắt nhìn, tai nghe, lưỡi xúc và ý. Bốn cái còn lại đó là tâm, tức là thân là sắc, tâm còn lại là thọ, tưởng, hành, thức.
Sư phụ giảng giải:
Bây giờ Minh Thành sẽ hướng dẫn cho chúng ta nhận diện ngũ uẩn ở tại đây, tức là chúng ta sẽ biết được tâm mình là cái gì. Khi nãy các bác nói đều đúng hết, nhưng chỉ là một góc độ, còn đây là chúng ta trình bày là sự chứng ngộ của Đức Phật trong kinh tạng Nikāya.
Đức Phật nói:
“Cho đến khi nào, này các Tỷ-kheo, Ta không như thật rõ biết sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của năm căn này, cho đến khi ấy, này các Tỷ-kheo, Ta không biết rõ ý nghĩa về sự chứng ngộ vô thượng Chánh đẳng Chánh giác đối với các thế giới như Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người.
4) Cho đến khi nào, này các Tỷ-kheo, Ta như thật rõ biết sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của năm căn này, cho đến khi ấy, này các Tỷ-kheo, Ta mới biết rõ ý nghĩa về sự chứng ngộ vô thượng Chánh đẳng Chánh giác đối với các thế giới, như Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người.”
(Bài kinh Không Có Tái Sanh hay Người Có Trí – Phẩm Sáu Căn – Chương Tương Ưng Căn – Tăng Chi Bộ Kinh)
Ý nói, này các Tỳ-kheo, ta không tuyên bố ta đã được sự thấy biết cùng tột giữa chư thiên, loài người, các bậc tu hành cho đến khi nào ta chưa có thật sự thấy biết tận cùng về thân tâm năm uẩn này. Ta chỉ tuyên bố ta đạt được Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Khi nào ta đã biết thấu suốt tận cùng về thân tâm năm uẩn này, sự giác ngộ, sự chứng ngộ của Đức Phật là sự chứng ngộ thấy biết được đầy đủ về thân tâm một cách viên mãn tất cả các phương diện, khía cạnh, góc độ của thân tâm.
Hôm nay chúng ta sẽ biết được thật sự tâm của mình là cái gì, qua sự chứng ngộ của Đức Phật. Có khi chúng ta đi chùa rất nhiều năm, thậm chí suốt đời, nhưng cũng có thể mình khó có được cơ hội để nhận diện được tâm mình thật sự là cái gì.
Như khi nãy bác sĩ vừa chia sẻ, là Đức Phật đã chứng ngộ thân này, tâm này tổng cộng gồm năm nhóm – ngũ uẩn. Nhóm thứ nhất là sắc, gồm có thân người, cảnh vật, đồ vật, tứ đại. Tức là mấy chục kilogram thịt đang ngồi đây thì gọi là sắc và những cảnh vật chúng ta đang nhìn thấy đây chúng ta gọi là sắc uẩn, tức là nhóm vật chất, nhóm sắc pháp, nhóm của tứ đại (đất, nước, gió, lửa).
Tiếp theo, phần tâm có bốn nhóm. Nhóm thứ nhất là cảm giác, nhóm thứ hai là hình bóng trong tâm – tưởng. Tâm của chúng ta có hình bóng không? Nhóm thứ ba là suy nghĩ, những lời nói lầm thầm trong tâm. Nhóm thứ tư là sự rõ biết - thức uẩn.
Giờ để chúng ta nhận diện được thì mình có những ví dụ để chúng ta dễ hiểu. Chúng ta ngồi đây thì đa số đã có gia đình hết.
Mời đại chúng cùng thực hành theo:
Giờ chúng ta nhắm mắt lại và chúng ta nhớ về mẹ mình. Nhớ về những kỉ niệm ấm áp, ngọt ngào, thân thương nhất mẹ đã dành cho chúng ta. Khi chúng ta nhớ như vậy thì chúng ta có thấy được hình bóng của mẹ mình hiện ra không? Hình bóng đó là tưởng. Chúng ta có một cảm giác thân thương, ấm áp, dễ chịu không? Đó là thọ. Chúng ta có những lời nói lầm thầm, những suy nghĩ liên hệ không biết mẹ giờ làm gì. Lời nói lầm thầm, suy nghĩ đó là hành. Chúng ta rõ biết được có hình bóng của mẹ, cảm giác thân thương và những sự suy nghĩ liên hệ đến mẹ mình, chúng ta rõ biết được điều đó thì đó là thức. Thức là biết được thọ, tưởng, hành, tức là biết được cảm thọ, cảm giác lúc đó, biết được hình bóng trong tâm, biết được suy nghĩ.
Đó là tâm của mình, gồm có cảm giác, hình bóng, suy nghĩ và sự rõ biết. Khi nói về tâm phải đầy đủ bốn nhóm như vậy.
Tiếp tục, Minh Thành mời tất cả chúng ta nhắm mắt lại. Nhớ về người mà mình yêu thương nhất.
Chúng ta thấy có hình bóng của người đó hiện ra không? Hình bóng đó là tưởng. Chúng ta có một cảm giác dễ chịu không? Cảm giác đó là thọ. Chúng ta có những suy nghĩ liên hệ đến người đó không? Suy nghĩ đó là hành. Chúng ta có một sự rõ biết trong tâm mình đang có hình bóng của người đó, đang có cảm giác dễ chịu, đang có những suy nghĩ liên hệ tới người đó. Chúng ta rõ biết đó là thức.
Chúng ta cùng nhau đọc định nghĩa của ngũ uẩn:
Thân người là sắc, cảm giác là thọ, hình bóng là tưởng, suy nghĩ là hành, rõ biết là thức.
Bây giờ chúng ta nhắm mắt lại, nhớ về người nào mình giận nhất, người nào làm cho mình khổ, mình buồn, làm cho mình không vui. Chúng ta có thấy có hình bóng người đó không? Đừng phản ứng nhanh, khi mình tu thiền thì mình tập trầm tĩnh và sâu sắc mình mới học được thiền. Thiền là phải trầm tĩnh, lắng đọng tâm tư và nhìn sâu vào bên trong thì mình sẽ học được một pháp thâm sâu.
Chúng ta miệng thì nói vậy nhưng khi có chuyện hay khi bình thường thì mình sẽ có buồn, giận nhiều người. Vì mình nhanh quá nên chưa nhìn ra.
Khi mình nhìn như vậy thì thấy có hình bóng của người đó không? Hình bóng là gì? Hình bóng là tưởng. Mình có cảm giác hơi khó chịu thì cảm giác hơi khó chịu đó là thọ. Mình có suy nghĩ người này làm cho mình khổ quá, những suy nghĩ liên hệ tới người đó. Suy nghĩ là hành. Và mình có một sự rõ biết là đang có hình bóng người đó, đang có cảm giác như vậy, đang có suy nghĩ liên hệ người đó, mình có rõ biết không? Rõ biết đó là thức.
Đó là ngũ uẩn mà Bát nhã tâm kinh chúng ta đọc mỗi ngày, chúng ta đang sử dụng không phải là hằng ngày, cũng không phải là hàng giờ, mà chúng ta đang sử dụng hàng giây, hàng phút trong tâm chúng ta nhưng chúng ta không biết, nên Đức Phật gọi mình là vô minh.
Năm nhóm này bị tâm nắm giữ nên gọi là năm thủ uẩn. Thủ là nắm giữ. Tâm của mình cho rằng mấy chục kí thịt này là tôi, là của tôi. Tâm của mình cho tất cả các cảm giác nào cũng là tôi hết, “Tôi đang dễ chịu, tôi đang khó chịu, tôi đang bực nha. Đừng kiếm chuyện nha.” Tức là uẩn nào cũng nắm chặt vào cho là nó, là mình, là của mình, là tự ngã của mình. Hoặc những hình bóng nào hiện ra trong tâm mình hiện ra đều nói “Này là tôi, của tôi hết.” Những suy nghĩ nào nói thầm lên cũng nói là “Tôi nghĩ đó, đó là suy nghĩ của tôi.” Tức cái nào mình cũng nắm giữ thì Đức Phật nói đó là năm thủ uẩn, tức là sự nắm giữ trong năm nhóm này.
Trong nhận thức cũng vậy, “Tôi biết đó, tôi thấy vậy đó, tôi nhận thức vậy đó, tôi hiểu vậy đó. Tôi giỏi chỗ đó, tôi hơn người vậy đó.” Là lúc nào mình cũng nắm giữ trong năm nhóm này thì Đức Phật gọi đó là năm thủ uẩn, sự nắm giữ trong hình hài, trong các cảm giác, trong những hình bóng nội tâm, trong các suy nghĩ lầm thầm, trong những nhận thức rõ biết.
Ví dụ, khi mình xòe bàn tay thì thấy tượng Phật để tay thì mình thấy dễ chịu, ngọt ngào không? Nhưng mình thấy nắm tay thì mình thấy sợ thì tâm của chúng sanh là một tâm nắm giữ. Tâm của Phật, tâm của các bậc Thánh là một tâm buông xả. Ví dụ, tâm mình nói “Ai đụng tới tôi thì biết!” Nắm chặt vào sắc, thọ, tưởng, hành, thức, nắm chặt vào thân mấy chục kí này, nắm chặt vô những cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức, cho đó là mình, là của mình.
Chỉ cần một người nói câu gì mà mình cho là khinh thường mình thì lúc đó cảm giác gì sanh khởi? Đó là đốt mình và đốt người khác, dù cho người đó chính là người vợ chồng, mẹ con, cha con, anh em. Một khi chạm tới tự ngã, bản ngã thì sẵn sàng là những cảm thọ, cảm xúc tiêu cực, bất thiện sanh khởi lên.
Nên giải thích cho việc tại sao phải tu cảm giác toàn thân. Đức Phật nói rằng tâm mình có gì trong tâm thì nó nằm ở cảm giác hết. Tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ. Mình muốn biết tâm mình có gì trong đó thì mình chỉ cần nhìn vào cảm giác là biết.
Giờ chúng ta đi tu học theo Phật là chúng ta diệt trừ tham, sân, si. Vậy thì tham, sân, si ở đâu? Ở trong tâm. Vì chúng ta không có nhiều thời gian nên chúng ta đi tắt vào. Cái này chúng ta có thời gian thì chúng ta đào sâu thì chúng ta sẽ nhớ dai hơn.
Tham, sân, si nằm trong ba cảm giác của chúng ta. Bây giờ khi có một cảm giác dễ chịu, mình nghe người ta tâng bốc mình lên, khen mình, đưa mình lên thì lúc đó mình có cảm giác gì? Là cảm giác dễ chịu. Mình nói có cảm giác dễ chịu, cảm giác khó chịu, cảm giác không dễ chịu, không khó chịu.
Khi mình được tán dương, tán thưởng, khen ngợi, tâng bốc, đưa lên thì lúc đó mình sẽ có cảm giác dễ chịu. Cảm giác dễ chịu này luôn có tham ở trong đó, nó nằm trong cảm giác đó, mình sẽ thích, khoái, mình muốn được nữa. Đó là tham nằm trong cảm giác dễ chịu. Giờ mình bị người ta chỉ trích, chê bai, mắng chửi, ủy nhục thì lúc đó mình có cảm giác khó chịu. Cảm giác khó chịu là luôn luôn có sân trong đó.
Chúng ta thấy tham, sân nằm trong cảm giác. Giờ mình ngồi đây nhưng nếu mình im ru như vậy, Minh Thành hay các thầy cũng im ru, ở dưới cũng im ru thì chúng ta có cảm giác gì? Nên chúng ta sẽ thấy có một cảm giác đơ đơ, trơ trơ, sau đó là hai mắt mình sụp xuống, như vậy là si.
Tiếp theo là chúng ta nhận diện tham, sân, si trong ba cảm giác. Khi mình nổi nóng lên thì chỗ nào biến động đầu tiên trong cơ thể mình lúc mình nổi giận lên? Đó là ở lồng ngực. Đây là hang ổ của tất cả các cảm giác đều tập trung ở chỗ này. Nên khi mình giận thì bốc hỏa lên, từ chỗ này bốc hỏa lên, mặt mình đổi màu, tai lùng bùng, mắt lờ mờ, miệng giật giật.
Chúng ta thấy từ trong này bốc hỏa lên, gương mặt đổi sắc, đổi màu, tai lùng bùng, mắt lờ đờ, miệng giật giật. Đó là mình đang nhận diện về cơn giận ở trong cảm giác sân, khó chịu đó. Chúng ta phải tập nhận diện, như vậy, khi một cảm giác khó chịu, sân hận sanh khởi lên thì hành tướng hoạt động của nó, hình thái, trạng thái, cảm giác đó mình phải nắm vững được để mình đã biết tên tuổi, biết mặt mũi, biết tính tình, biết bản chất của nó thì mình mới có thể trị nó được.
Còn bây giờ mình không biết cảm giác là gì, mình cũng không biết ở trong cảm giác khó chịu này có sân mà mình không biết cách để trị. Như vậy 50:57 - 51:01 cầm ly nước lạnh uống vào, đi tắm nhưng sau đó suy nghĩ lại thì nó cứ ám ảnh hình bóng nó hoài, cảm giác cứ khởi lên và những suy nghĩ cứ quanh quẩn đó, cứ uống hoài nhưng không diệt được nóng hay dập được lửa ở trong.
Như vậy, chính vì chúng ta không biết được hang ổ, sào huyệt của tham, sân, si, chúng ta không biết được hành tướng, sự vận hành, mô típ, cấu trúc, guồng máy vận hành của tham, sân, si nên chúng ta không có khả năng nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận, tẩy sạch của tham, sân, si. Trong tạng kinh Nikāya, Đức Phật chỉ cho chúng ta nguồn cội, gốc rễ, hang ổ, sào huyệt mà tham, sân, si trú ẩn trong cảm giác.
Chính vì vậy mà khi nãy chúng ta thực tập cảm giác toàn thân, là lúc nào mình cũng để ý cảm giác từ đỉnh đầu tới gót chân. Khi mà bên trong này sôi sùng sục thì có biết được không? Hướng tâm vào và kêu “An tịnh, lắng dịu, dễ chịu! Để chị tu, đừng quậy chị nha.” Mình kêu nó “Thôi, để chị tu, để chị làm việc. Lương y như từ mẫu, đừng sân si, kệ người ta bệnh, tội nghiệp người ta.”
Mình tác ý như vậy là mình thường xuyên, thường trực, thường luôn, thường nhật, thường thường canh chừng những cảm giác, để ý cảm giác, quán xét cảm giác. Để mình phát giác, phát hiện ra những cảm giác tiêu cực, những cảm giác mà dẫn đến sự đổ vỡ, dẫn đến sự nóng bức, đốt cháy, mình phát giác, phát hiện ra được.
Vậy nên cảm giác toàn thân là cực kỳ quan trọng trong pháp hành mà Đức Phật còn tại thế, là luôn luôn lúc nào cũng để ý cảm giác toàn bộ cơ thể của mình, xem nó đang như thế nào. Nếu mình thấy nó đang khó chịu thì mình kêu “Thôi, khó chịu hoài, bực bội hoài, cứ ghim gút hoài để làm gì? Mệt chưa? Làm việc mệt rồi mà giờ còn đốt lửa, phóng hỏa, đốt nhà hay sao? Thôi làm ơn lắng dịu dùm cái, dễ chịu dùm đi, ngọt ngào dùm đi!”
Mình kêu cảm giác của mình vì thật ra nó chỉ là một pháp thôi, một uẩn thôi, nó cũng là một sự kết hợp nhân duyên sanh, không có thật, do tiếp xúc mà sanh khởi. Trước khi mình nghe người ta chửi thì mình không có giận, mình ngồi mà tự giận thì người ta đưa mình đi. Như vậy, do duyên xúc, do tai mình nghe câu nói hay mình nhìn gì đó thì lúc đó mình sanh lên cảm giác. Cảm giác đó là thứ lắp ráp, duyên sanh, tạm thời thôi, không có thật. Mình để cho nó thêu mình, đốt người, để cho nó hành hạ mình.
Mình thấy có những người hở chút là bực, hở chút là giận, hở chút là gắt gỏng, cộc cằn, cay cú, mình thấy những người đó họ sướng hay khổ? Họ nóng hay mát? Họ tươi hay héo? Như vậy thì mình không muốn cho mình khổ, mình không muốn cho mình nóng bức, nhiệt não, mình muốn khí hậu mát mẻ, trong lành giống như ở Bảo Lộc, giống như Linh Quy Pháp Ấn.
Cảm giác của mình lúc nào cũng trong lành, mát mẻ, giống như khí hậu của đại ngàn, của cao nguyên, tây nguyên, núi rừng như vậy. Người lại gần mình cảm nhận được không? Như vậy, một mặt là mình nhận diện cảm giác tiêu cực, để mình chặn đứng nó, phát giác, phát hiện kịp thời, chặn đứng, nhiếp phục, chế ngự. Một mặt là mình sẽ tu tập cảm giác tích cực, những cảm giác hiền thiện, dễ thương, dễ mến, ngọt ngào, những cảm giác thanh lương, mát mẻ, trong lành, an lạc, từ ái. Như ngọt như đường cát, mát như đường phèn, giống như đi làm mệt về mà cầm một ly cam vắt mật ong nguyên chất. Cảm giác của mình giống như mật ong vậy, ngọt ngào như vậy. Tức là mình kêu cảm giác mình “Dễ chịu nha, dễ thương nha, đừng quậy chị nha.”
Khi bình thường mình kêu, mình tập thì tới lúc hữu sự mình kêu nó mới nghe, còn tới lúc mình đang giận mà lại kêu “Đừng giận, thôi ngọt đi!” thì nó nói “Ngọt không được, phải xử lý thôi!”
Có những vị học tám năm, mười năm, hai mươi năm thì mới có được bằng cấp, học vị, thứ hai là có kinh nghiệm ở trong điều trị bệnh. Cũng vậy, sự tu đòi hỏi mình phải có công phu, mà phải là công phu thâm hậu. Sự tu đòi hỏi mình phải thực tập lúc bình thường, lúc bình thường mình tác ý, nuôi dưỡng một cảm xúc dễ chịu, ngọt ngào, dễ thương, dễ mến, hiền lành, hiền hậu, hiền hòa, hiền đức, hiền lương, hiền trí, thực tập theo các bậc hiền thánh. Cảm thọ của mình trong này là cảm thọ lúc nào cũng ngọt ngào, dễ chịu, dễ thương. Như vậy, khi có hữu sự, có chuyện bực bội thì mình kêu một cái là nó nghe lời ngay.
Giống như mình dạy đứa con, mình huấn luyện, dạy dỗ, giáo dục nó, cho nó trở thành một đứa con ngoan, đứa con nghe lời. Tâm này cũng cần phải huấn luyện, giáo dục, dạy dỗ tu tập, đó gọi là tu tâm, tức là huấn luyện, nhiếp phục, chế ngự và làm cho cảm giác của mình mềm mại, nhu nhuyến, dễ sử dụng. Tâm không được tu tập rất khó sử dụng, kêu nó không nghe, khi đang sân si mình kêu nó từ bi thì nó nghe không? Nó đang hơn thua, mình kêu “Thôi nhường nhịn đi!” thì nó có nghe không? Còn nếu mình huấn luyện tâm của mình thuần thục thì mình sẽ có một cảm giác rất ngọt ngào, dễ chịu, dễ thương.
Minh Thành thường hay nói Linh Quy Pháp Ấn là viện thẩm mỹ tâm linh. Mọi người có muốn làm đẹp nội tâm không? Ở ngoài làm đẹp nhiều thứ như mắt, mũi, tai, miệng nhưng sân si thì đẹp cỡ nào cũng bỏ chạy hết. Vậy nên rất cần chùa là viện thẩm mỹ tâm linh, tức là tu tập tâm, làm cho mình hiền từ, hiền hòa, hiền lương, hiền hậu, hiền lành, hiền đức, tu tập theo bậc hiền trí.
Phải huấn luyện, tưới tẩm, xông ướp, vun vén cảm thọ, cảm xúc, cảm giác trong con người mình thường xuyên và liên tục thì mình sẽ có được một cảm thọ phong phú, sung mãn, ngọt ngào, dễ chịu. Nếu mình lúc nào cũng giống như máy điều hòa thì người ở gần mình hưởng đầu tiên đúng không? Là chồng con, cha mẹ mình, anh em mình, những người đồng nghiệp của mình là hưởng được cảm thọ đó thì quá tuyệt vời, mình chịu như vậy không hay là đem theo bếp gas bật lên?
Như vậy, đó là ý nghĩ để chúng ta tu tập các cảm thọ. Rất cần sự tác ý, nhắc nhở thường xuyên, hướng vào bên trong và mình kêu: “An tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào, dễ thương.”
Đó là cách mình tác động tâm ý, cách mà Đức Phật dạy trong kinh tạng Nikāya. Chúng ta có thấy dễ chịu, dễ thương thêm chút nào không? Có ngọt ngào thêm không?
Minh Thành để thời gian cho quý vị nghỉ ngơi để sáng chúng ta còn khám bệnh, làm việc.