Tinh Hoa Nikaya Giảng Giải 11 - Những Lợi Ích - Thù Thắng - Khi Tu Học Pháp Phật Nguyên Chất 5
Tinh Hoa Nikāya Giảng Giải 11
Những Lợi Ích – Thù Thắng
Khi Tu Học Pháp Phật Nguyên Chất 5
Thích Minh Thành
Ngày 18 tháng 04 năm 2023
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Lợi ích thứ 8 PAGEREF _Toc139303382 \h 2
II. Lợi ích thứ 9 PAGEREF _Toc139303383 \h 10
Mời thầy đọc lại dùm lợi ích thứ 8, thêm thứ 9, thứ 10.
Lợi ích thứ 8: “Được gieo duyên với Chánh pháp, Chánh đạo.
Khi nghiên cứu học kinh Nikāya, ngay trong hiện tại, hành giả gieo kết được những thiện duyên tốt lành, đối với Chánh pháp của Đức Phật. Có thể thẳng tiến đến việc tu tập sự giải thoát sanh tử, ngay trong kiếp hiện tại chứng đạt quả A-la-hán. Nhưng nếu ngay trong hiện tại, không đạt được sự chấm dứt sanh tử. Thì những thiện duyên này sẽ giúp cho các đời sau, khi được sanh ra tâm của hành giả luôn hướng về sự tìm cầu Chánh pháp.
Yêu thích và tìm kiếm những lời dạy nguyên gốc của Đức Phật. Đồng thời tâm cũng luôn hướng về sự không ưa thích đối với các tà pháp, tà nhân, tránh xa các tà thuyết không chơn chánh, không có cảm xúc, cảm tình đối với các tà đạo. Tránh được các cơn đường tu tập sai lệch làm uổng phí công sức, và tâm nguyện của người tu, mà vẫn không đạt được sự giải thoát khổ đau.”
Lợi ích thứ 9: “Thực tu tập theo Nikāya sẽ thực chứng sự chấm dứt sanh tử.
Trong quá trình học hỏi, nghiên cứu cẩn thận các bài kinh Nikāya, thì chánh tri kiến đi đến thành tựu, giới hạnh đi đến thành tựu. Tối thiểu là những bậc hướng đến dự lưu, hoặc chứng được dự lưu quả. Chỉ còn tái sanh tối đa là 7 lần giữa chư thiên và loài người. Không còn bị đọa trong các đường ác sanh tử như: Địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ. Nếu hành giả dấn thân sâu hơn trong dòng pháp này, vượt qua cửa Chánh kiến, thành tựu các pháp chánh còn lại, làm giảm thiểu những tham và sân, hoặc diệt dục tham và sân. Hoặc diệt những tàn dư lậu hoặc, tùy theo mức độ tẩy sạch những rác bẩn, cấu uế trong tâm. Hành giả có thể thành tựu nhất lai quả, bất lai quả hay A-la-hán quả.”
Lợi ích thứ 10: “Tuệ đã khai mở, đạo sẽ thành tựu.
Trong khi nghiên cứu học hỏi kinh Nikāya, ngay giờ phút thân hoại mạng chung. Nếu chẳng may do bệnh tật hay do duyên nghiệp cũ, trước tu đã tạo. Nay do tâm chưa thành tựu trong thiền định, hành giả bị thất niệm, tâm không tỉnh giác trong lúc ra đi. Thì lúc đó, nhờ vào các thiện duyên đã gieo, kết gieo đối với kinh Nikāya trước đây, tâm hành giả đã ghi nhiều trong việc học hỏi và hành trì theo lời Phật dạy trong Nikāya. Chánh tri kiến được đầy đủ, giới đức, giới hạnh được đầy đủ. Nên khi tái sanh đời sau, lúc đầu không nhớ được đạo pháp.
Nhưng sau đó sẽ có những nhân duyên đưa đến, giúp cho tâm trí từ từ mở lại đạo pháp. Hành giả tiếp tục tu tập tối đa 7 lần sanh tử, sẽ đi đến sự chứng đạt giúp tâm hoàn toàn tịch lặng. Giải thoát khỏi mọi khổ đau, phiền não, mệt mỏi, ràng buộc và dính mắc với 5 thủ uẩn. Xem kinh “Nghe Với Tai”, Tăng II, trang 172; kinh Trường II, bài 2. Đó là những điều lợi ích trong việc nghiên cứu, học hỏi và thực hành theo lời Phật dạy trong kinh Nikāya. Có thể còn có thêm nhiều lợi ích nữa trong việc nghiên cứu, học hỏi Nikāya. Nhưng trong phần này chúng tôi chỉ giới thiệu các lợi ích này, mong rằng với những lợi ích được trình bày trên đây, hành giả sẽ tự biết điều mình cần phải làm trên con đường đưa đến sự chấm dứt sanh tử, phiền não và khổ đau.”
I. Lợi ích thứ 8
Lợi ích thứ 8 là: “Được gieo duyên với Chánh pháp, Chánh đạo. Khi nghiên cứu về Nikāya, chúng sẽ kết những thiện duyên tốt lành đối với Chánh pháp của Đức Phật”. Cái từ này nghe thì nó rất là đơn giản, chúng ta nghĩ rằng đây là rất bình thường. Nhưng khi mà mình tu học 1 cách chuyên sâu, thì mình thấy nó không có đơn giản. Được gieo duyên với Chánh pháp, là không có đơn giản. Hiện nay chúng ta sống thời kỳ gì ạ? Pháp được chia ra thấy thời kỳ? Chánh pháp, tượng pháp, mạt pháp. Chúng ta là ở cuối thời kỳ của tượng pháp, chữ “tượng” ở đây là mườn tượng. Tức là cái mà chúng ta học, hiện nay đại đa số là đang học của tượng pháp.
Thành ra nhiều khi mình nghĩ rằng mình đang học cái này là đúng, mình suy nghĩ trong suy nghĩ mình là đúng, mình tu vầy là đúng. Đúng, nhưng mà đúng của tượng pháp, chỗ này là chỗ rất là sâu sắc. Mà tượng pháp là cái pháp mườn tượng giống giống, chính vì vậy mà để được gieo duyên với Chánh pháp, Chánh đạo là không phải chuyện đơn giản. Thành ra chúng ta mới thấy rằng, như bản thân Minh Thành ngày xưa còn học ở trường cho đến sau khi tốt nghiệp. Ngày thi tốt nghiệp cao đẳng chuyên khoa ở chùa Vĩnh Nghiêm, sau khi học 8 năm.
Thì các huynh đệ ra hỏi Minh Thành: “Minh Thành, Minh Thành giờ tu sao Minh Thành?” Tại vì các huynh đệ học chung cũng thấy mình thích tu, mình đi tìm pháp hành. Mà trong khi học 8 năm, mà lúc đó mình cũng nghĩ rằng mình học thiền cũng nhiều năm, mình cũng nghĩ là nó đúng rồi đó. Nhưng mà khi đi vào học Nikāya rồi mình mới thấy đó là giống giống thôi, chứ đó chưa phải là Chánh pháp. Chính vì vậy mà sau khi học rồi Minh Thành vẫn thao thức, vẫn trăn trở là pháp hành của mình làm thế nào, mà cho nó giống y như hồi xưa Đức Phật và các bậc Thánh tu, mình muốn tìm cái đó đó.
Tức là năm 2000 tốt nghiệp, nhớ mài mại vậy đó. Mà 18 năm sau vẫn còn đi cầu pháp hành, cho đến 2018 mới gặp được bậc đạo sư. Thì khi mình gặp được bậc thầy đã thành tựu pháp rồi, thì mình không có còn đi tìm ai nữa hết. Cái đạo lộ nó rất là rõ ràng, minh bạch, tỏ tường, giản đơn, nhưng không phải là dễ hiểu, dễ chấp nhận và dễ thực hành. Có điều là mình sẽ không còn đi tìm 1 con đường khác nữa, sau này chúng ta sẽ học tới phần Chánh kiến chúng ta sẽ thấy. Một người mà đã được Chánh kiến thấy đúng về pháp rồi, người đó không có tìm một cái đạo lộ thứ 2, ngoài con đường của bậc Chánh đẳng giác, thì người đó mới là thành tựu Chánh kiến.
Thành ra để gọi là gieo duyên với Chánh pháp là không phải đơn giản, mà mình nghe cái câu: “Thân người khó được, Chánh pháp khó nghe”, thì mình thấy thân người mình cũng được rồi, Chánh pháp mình cũng được nghe rồi, thì chưa chắc. Khi mình đi vào Nikāya mình mới thấy, đúng là Chánh pháp khó nghe. Thứ nhất là mình không có biết cái nào là chánh, cái nào là không chánh. Tại vì mấy ngàn năm rồi, mình đang trong thời kỳ tượng. Cái thứ 2 là làm sao mình tìm được bậc chân nhân, bậc thành tựu Chánh pháp. Cái thứ 3 là khi mình gặp được cái vị như vậy rồi, mà cái tâm mình có chấp nhận nổi hay không.
Tại vì Chánh pháp là nó đập phá những cái mình yêu thích nhất, đánh vô vô minh và khát ái. Thì mình rất là khó chấp nhận Chánh pháp, cho nên Chánh pháp khó nghe là như vậy đó. Bây giờ thí dụ con nói chuyện đơn giản quý thầy, quý cô nghe. Đừng có nghĩ rằng gương mặt này là mình, đừng có cho con mắt này là mình, đừng có cho rằng hình hài, vóc dáng này là tôi, là của tôi. Cho như vậy là vô minh, cho như vậy là ngu si, thì mình nghe như vậy mình có dễ chấp nhận không? Có là Chánh pháp, đó là Thánh trí huệ đó, nhưng dễ chấp nhận không? Rất là khó. Cho nên ngay khi mình gặp bậc minh sư, chân sư, thậm chí gặp được Thánh nhân chỉ cho mình Chánh pháp, nhưng chưa chắc gì mình chấp nhận.
Cho nên mới gọi là Chánh pháp khó nghe là như vậy, là không phải mình gặp được Chánh pháp là mình chấp nhận được liền đâu. Tại vì mình trong vô lượng, vô số, vô biên kiếp ở trong thọ, tưởng, hành, thức của mình nó huân tập cái tà kiến, cái vô minh, cái tham ái, chấp thủ. Mà bây giờ mình nói cái nó ngược lại hết trơn, thì nó chống đối. Thành ra trong sự tu theo đường lối Nikāya, là đầu tiên và quan trọng nhất là diệt tâm chống đối. Cái này rất quan trọng, phải diệt cái tâm đó. Tại vì cái tâm đó nó không có chịu Chánh pháp, bây giờ đưa bộ xương kêu mình ngày nào cũng nhìn quán đi, cái tâm nó chịu không? Có thể lúc đầu nó còn chịu trong thời khóa hay gì đó.
Nhưng mà bắt hoài sao chịu, lâu lâu thấy lạ lạ thì cũng có cảm xúc chút rồi thôi. Chứ ngày mai cũng kêu nhìn bộ xương, ngày mốt cũng kêu nhìn bộ xương tu hoài, chừng nào mà thành tựu bạch cốt tượng, để đừng có đi theo bạch cốt tinh. Thể nhập Thánh trí huệ bạch cốt tượng, để mình phá được cái thân kiến này là cả 1 vấn đề, chính vì vậy Chánh pháp khó nghe. Mình không gặp Chánh pháp thì mình không nói đi, mà mình gặp, mình nghe, mình gặp bậc Thánh luôn nhưng mà mình không chấp nhận. “Tôi còn trẻ đẹp đây mà nói tôi bộ xương, nói chết quài à, nói vô thường quài”.
Cho nên hồi đó con chưa vào Nikāya mà con giảng pháp, mấy bà già bả còn chán nữa: “Tối ngày ổng vô ổng nói chết, vô thường quài, không đi thọ bát nữa”. Mà già gần chết rồi, vậy mà tới lúc hấp hối nằm giường bệnh, tha thiết mong con đi đến thăm con vẫn đi đến thăm. Ngày nào vô con cũng nhắc sanh, lão, bệnh, tử, già, chết, vô thường. Nhắc riết khó chịu luôn: “Thôi đi kiếm mấy thầy nào giảng vui đi, thầy này tối ngày nói vô thường, khổ, chết không à”. Nhưng mà tới khi gần chết, là nói gia đình làm sao phải đi mời thầy đến cho bằng được, để gặp thầy trong giây phút cuối cùng.
Khi con đi đến thầy bà cụ cầm tay con, cầm mạnh lắm, nước mắt tràn ra: “Con cảm ơn thầy nhiều lắm, tới giờ này con mới hiểu được những lời thầy nói”, như vậy cũng là chưa có muộn. Rồi cho đến 1 vị Ni sư, là được học khóa thiền đầu tiên ở thiền viện Chân Không, bây giờ nếu còn sống là lên sư bà, hoặc là Ni trưởng rồi. Trụ trì 1 ngôi chùa ở bên Mỹ, khi phát hiện ra bị bệnh ung thư giai đoạn cuối. Ni sư gọi điện thoại cho con: “Thầy ơi, hổm rày con nghe những bài pháp mà thầy giảng (lúc đó là Minh Thành giảng ở trong thiền viện Trúc Lâm 4 tháng trung A-hàm. Chưa có chuyên nhất Nikāya 100%, nhưng mà cũng 70% rồi). Bây giờ mới hiểu được những lời của thầy”. Cảm ơn mà nói trong 2 hàng nước mắt, giờ muốn giao cái chùa lại cho con, con không có nhận.
Con có đi qua, có giảng pháp nhưng con không có nhận. Bởi vì người chết thì trong gia đình hình như có lăn tăn gì tài sản, con thấy vậy con né xa, né liền. Con qua là Ni sư viên tịch, nhiều lắm. Chánh pháp khó nghe là vì phơi bày sự thật hết sức phủ phàng, mà tất cả những chúng sanh hữu tình không muốn nhìn thấy, không muốn nghe tới, không muốn nhắc tới điều đó. Cho nên là trong Tăng Chi Đức Thế Tôn có nói là: “Cái pháp vô thường, pháp khổ và vô ngã là những cái pháp quán chiếu không có giới hạn”. Chúng ta về nghe lại 6 lợi ích quán chiếu vô ngã, 6 lợi ích của quán chiếu vô thường, 6 lợi ích của quán chiếu về khổ đau, con có chia sẻ 3 bài đó rất quan trọng.
Thì Thế Tôn nói “đây là những pháp quán không có giới hạn”, tức là bất cứ lúc nào, giờ nào, ở đâu, nơi nào cũng đều quán chiếu cái này được hết. Vô thường, khổ, vô ngã không có giới hạn. Cho nên nhắc chút xíu cho chúng ta nhớ Chánh pháp khó nghe là như vậy đó, chứ không phải nói là: “Giờ con đang học Chánh pháp mà sao thầy nói khó nghe?” Rồi con nói ví dụ bây giờ pháp tu của ngài Xá-lợi-phất nè, cái thân thể bây giờ trẻ, đẹp, tươi tắn như vậy mà con chỉ vô, con nói: “Cái này là 1 cái bao phân và nước tiểu”, chịu không? Rất là khó chịu, rất là khó chấp nhận.
“Bao này là cái bao máu mủ nhiều năm, khổ luyến ân tình, chỉ đống thịt tanh, cả đời tham lam tiền của.” của Trần Thái Tông, trong Khóa Hư Lục, Thái Thượng Hoàng, trước đó là vua đó.
“Đầu sọ khô, cài hoa vắt ngọc
Túi da hôi, ướp xạ song hương
Cắt lụa là, che đậy máu tanh
Dồi son phấn, áp thùng phân thúi.”
Cho nên tất cả các vị đạt đạo đều phải chứng nhập bất tịnh quán, không có chứng nhập bất tịnh quán thì không có đắc đạo. Không có phá thân kiến, thì làm sao thành tựu Thánh trí huệ được. Rồi bây giờ chỉ mình vô cái đó mình chịu nghe không? Chỉ vô cái thân thể mình đây nè, thân thể mình yêu dấu, nhiều khi tu còn xài dầu thơm nữa. Nhiều khi con đi ngang qua con rất là bất ngờ, không được. Đúng ra là mình phải phanh phui, mình phải quán chiếu cái bất tịnh, cái nhơ nhớp, mình phải nhàm chán cái thân. “Này các Tỳ-kheo, giống như là cái ung nhọt 9 lỗ, cái gì nó rỉ chảy ra là bất tịnh rỉ chảy, cái gì nó chảy ra là nhàm chán rỉ chảy, cái gì nó rỉ chảy ra là hôi thúi nứt chảy. Các ông phải quán cái thân này nó y như vậy, hãy nhàm chán đối với thân này.”
Đó là lời của Đức Phật và tôn giả Xá-lợi-phất, mà mình nghe như vậy đó. Mình có 1 cách ngọt ngào mà chấp nhận, yêu thích mà hành trì không? Đó là Chánh pháp khó nghe đó. Là nó phá hết những cái gì mà mình yêu, mình thích, mình khoan, mình khoái, mình nắm, mình giữ, mình bênh, mình giật, mình chuộng. Nó đánh thẳng vô đó hết, Chánh pháp khó nghe đó. Bây giờ mình chịu nghe được cái này, mình chấp nhận cái này, mình muốn tu học theo cái này. Đó là được gieo duyên với Chánh pháp, chánh đạo. Mà lớp chúng ta là được cái đó, mà nếu chưa được thì cũng phải được, tại vì ngồi đây là cũng phải nghe, nghe riết từ từ nó cũng thấm.
Đó là con nói 1 vài cái ví dụ dễ hiểu phá sắc uẩn thôi, chứ chưa có nói là phá thọ, tưởng, hình, thức, để chúng ta thấy đó là Chánh pháp khó nghe đó. Rồi bây giờ con nói cái ví dụ cho chúng ta thấy nè, cái này chúng ta học rồi, mà chắc chắn quên rồi. “Này các Tỳ-kheo, kẻ vô văn phàm phu cảm thọ 1 cảm giác vui, giống như người đang bị trói buộc. Kẻ vô văn phàm phu cảm thọ cảm giác buồn khổ, giống như người đang bị trói buộc. Kẻ vô văn phàm phu cảm thọ cảm nhận 1 cảm giác không vui không khổ, cũng giống như người đang bị trói buộc. Này các Tỳ-kheo, phàm cái gì được cảm thọ cảm giác, cái đó đều nằm trong đau khổ.”
Cái này làm sao nhìn ra được, bây giờ mình bị người ta đáng u đầu sứt tráng, bị đói bụng, bị nắng táp, mưa sa, mình nằm trên giường bệnh thì mình khổ phải rồi. Bây giờ mình đang được khen, mình đang tuổi trẻ, sức khỏe, được người ta lễ lạy, cúng dường, đang làm pháp sư, giảng sư, trụ trì, lúc đó làm sao mà khổ. Mà phàm cái gì cảm thọ, cái đó đều nằm trong đau khổ. Rồi sao mình nhìn ra được cái này? Cho nên cái thấy của bậc Chánh đẳng chánh giác là siêu việt, tất cái thấy của chúng sanh. Một câu này thôi, mà cho tới chết không biết mình có chứng nhập tới không.
Mà mình hiểu được cái này, chứng nhập được cái này, là tối thiểu là dự lưu Thánh quả. “Phàm cái gì cảm thọ, là đều nằm ở trong đau khổ”, làm sao mình hiểu nổi cái này. Mình ăn ngon mình có khổ không? Sáng này đi ăn buffet có khổ không? Bên trường trung cấp đó. Mình ăn buffet mình có khổ không? “Dạ có”, “Sao cô tròn vo mà cô nói khổ, ăn buffet sao mà khổ?” Không có khổ phải không? Phải nói cho thiệt, khổ hay không? Người nói khổ người nói không. Vậy khổ là khổ sao? Nhiều món quá không biết chọn món nào, bây giờ nhiều món quá mà cái nào cũng ngon hết trơn.
Cái này nó thâm sâu, tại vì cái ngon đó thì mình có yêu thích nó không. Rồi bây giờ cái không ngon, không dở, bình thường thôi, thì lúc đó cảm thọ sao? Si. Mà lúc đó mình không biết các pháp nó vận hành, không biết do duyên có cái gì? Trả bài. Bây giờ nói duyên sanh pháp của cái lưỡi đi, ai trả bài giơ tay lên, không có mở sách ra để kím. Lần nào kêu cũng mở sách ra để kím hết, thì làm sao mà quán duyên sanh pháp. Bây giờ mình nói đơn giản không thôi hết giờ, mà bài của mình không hết nè. Do duyên có cái gì? Cái lưỡi, xúc chạm món ăn, khởi lên thiệt thức rõ biết các vị. Ba cái này hội tụ là thiệt xúc, sanh khởi ra thọ do thiệt xúc sanh, rồi vị tưởng, vị tư.
Mình bị trói buộc trong 3 cảm thọ, ngon cũng bị trói cuộc, mà dở cũng trị trói cuộc, mà không ngon không dở thì cũng thấy chình ình 1 đống có mình đi ăn. Đúng không? Phải chưa? Thì như vậy là trong vô minh, si ám hết trơn. Không thấy rõ ngũ uẩn, không thấy rõ duyên sanh pháp. Thấy có cái tôi, thấy tự ngã của tôi, rồi 1 là khoái là thích, 2 là ghét là bỏ, 3 là đơ đơ, trơ trơ, ngơ ngơ. Rồi tham, sân, si, vô minh, dục ái, hoặc là dục, tham, ái, hoặc sân si, khó chịu, bực bội, còn không thôi ở trong cái vô tri. Thì tất cả cái đó là có khổ không? Cho nên cái khổ ở trong khổ Thánh trí thâm sâu lắm, cực kỳ thâm sâu.
Cho nên mới gọi là Thánh trí, mới gọi là Chánh đẳng chánh giác, còn nếu mà như mọi người vậy thì có gì đâu mà Thánh trí. Như vậy thì khoan hãy nói tới cái ăn, mình nói chậm chậm tới, ăn chao cho nhiều vô, như đây bản thân con nè, hồi đó còn nhỏ khoái ăn chao, làm luôn 6 tháng trời ăn với chao không, lúc đâu 10 tuổi đó, cuối cùng bệnh gan. Từ đó trở về sau không ăn chao nữa, thì đó có phải lạc thọ đưa đến khổ không? Rồi bây giờ xét sâu vô nữa là tại sao có bệnh? Có cái thân này. Mà đâu phải 1 thứ bệnh gan đâu, cái gì trong cơ thể này cũng bệnh hết.
Phổi có bệnh không? Thận có thể có bệnh không? Tim có thể có bệnh được không? Túi mật có thể có khi phải cắt không? Đường ruột, bao tử, răng, lỗ mũi, lỗ tai, con mắt có bệnh không? Cái thứ gì cũng có thể có bệnh, mà tất cả những thứ bệnh đó nó dựa vô thân này. Cho nên: “Này các Tỳ-kheo, hãy nhàm chán cái thân này, đừng có yêu thích, đừng có say đắm”. Tại vì thích cái thân này tức là mình thích khổ, Tăng Chi Bộ kinh: “Này các Tỳ-kheo, ai thích sắc là người đó thích khổ, ai thích khổ là người đó không giải thoát khỏi khổ đau. Này các Tỳ-kheo, người nào không có thích sắc là người đó không có thích khổ, người nào không có thích khổ là người đó giải thoát khỏi các khổ đau.”
Thành ra trí tuệ Thánh trí huệ trong Nikāya là nó thâm sâu cùng cực, nó không phải là lý lịch trích ngang mà nhìn sơ sơ đâu. Mà nó đào căn nguyên tột cùng bản tánh, bản chất, gốc rễ tất cả sự vật. Cho nên như vậy mới diệt khổ được chứ, diệt khổ 1 cách hoàn toàn, mới diệt Thánh đế được chứ. Sự thật về sự tiêu diệt toàn bộ tất cả khổ uẩn, đó là diệt Thánh đế. Chỉ duy nhất bậc chí Thánh tốt thượng, bậc Chánh đẳng chánh giác của mình mới có cách. Ngoài ra không có người thứ 2, cho nên mới gọi Đức Thế Tôn là bậc tối tôn, tối thượng giữa chư thiên và loài người. Không có người thứ 2 có thể đưa ra phương pháp, mà diệt tận hết hoàn toàn tất cả khổ.
Đó là cái chỗ gọi là khó của chánh pháp, nói đơn giản 1 chút như vậy cho chúng ta thấy đó. Nhiều cái vấn đề phải không? Mà mình nghe được, hiểu được, học được, chịu chấp nhận và mình tu nữa thì quá là thiện duyên tốt lành đối với mình. Cho nên là mình “có thể thẳng tiến đến việc tu tập sự giải thoát sanh tử, ngay trong kiếp hiện tại chứng đạt quả A-la-hán”. Chỗ này là chỗ quan trọng nữa: “Trong 1 thời điểm, trong 1 thế giới không thể có 2 bậc A-la-hán Chánh đẳng chánh giác xuất hiện. Trong 1 thời điểm, trong 1 thế giới chỉ có 1 bậc A-la-hán Chánh đẳng giác xuất hiện. Bậc A-la-hán Chánh đẳng giác là bậc tự mình tu tập, tự mình chứng ngộ trí huệ vô thượng, đưa đến giải thoát sanh tử, đó là trí huệ về tứ Thánh đế”.
Đây là câu trong quyển “Tóm Tắt Ngũ Uẩn”, mà cũng trích ra từ trong tạng Nikāya“Trong 1 thời điểm, trong 1 thế giới không thể có 2 bậc A-la-hán Chánh đẳng chánh giác xuất hiện”. Cho nên người ta làm 2 tượng ông Phật nói chuyện với nhau đó, là cái đó không có trúng, không thể có chuyện đó được. Trong 1 thời điểm không thể có 2 bậc Chánh đẳng giác xuất hiện cùng 1 lúc được, cũng như trong 1 thời điểm không thể có 2 bậc Chuyển Luân Pháp Vương xuất hiện cùng 1 lúc được. Nước làm sao có 2 vua được, thành ra chỗ này chúng ta học thật là kỹ. Để không thôi mình không biết cái nào đúng, cái nào không đúng.
Thành ra chỗ này là chỗ quan trọng, con ôn lại chút thôi, cái này con đã nói hôm trước rồi không biết còn nhớ hay không. Là chỉ có Đức Thế Tôn là bậc A-la-hán Chánh đẳng chánh giác, còn tất cả những người mà được Ngài hướng dẫn tu tập thành tựu, thì chỉ là A-la-hán thôi. Nhớ thật kỹ cái này nha, còn trước khi mà Ngài thành Phật thì gọi là Bồ tác đạo. Tức là còn mò mẫm trong bóng đêm, chưa tìm ra được cái đạo lộ. Khi chứng thành phật quả thì Ngài thấy được bát Thánh đạo, là con đường cổ xưa mà tất cả các bậc Chánh đẳng giác thuở xưa đã đi qua.
Chúng ta nhớ bài kinh đó không ạ? Mở ra đọc đi “Nghi Thức Tu Học Nikāya”, bài kinh “Thành Ánh”. Đọc cho nhớ chứ để không thôi quên, trong phần căn bản trí. Chúng ta cùng nhau đọc trang 114: “Niệm Phật Đạo Vô Thượng, kinh Thành Ách. Này các Tỳ-kheo, ta đã thấy một con con đường cũ, một đạo lộ cũ, do các vị Chánh đẳng giác từ xưa đã đi qua. Và này cá Tỳ-kheo, thế nào là con đường cũ, đạo lộ cũ ấy, do các vị Chánh đẳng giác thuở xưa đã đi qua. Đây chính là con đường Thánh đạo Tám nghành, tức là Chánh tri kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định.
Con đường ấy, này các Tỳ-kheo, là con đường cũ, đạo lộ cũ do các bậc Chánh đẳng giác thuở xưa đã đi qua, ta đã đi theo con đường ấy. Đi theo con đường ấy, ta thấy rõ già chết, ta thấy rõ già chết tập khởi, ta thấy rõ già chết đoạn diệt, ta thấy rõ con đường đưa đến già chết đoạn diệt. Ta đã đi theo con đường ấy, đi theo con đường ấy, ta thấy rõ sanh, ta thấy rõ thủ, ta thấy rõ ái, ta thấy rõ thọ, ta thấy rõ xúc, ta thấy rõ sáu xứ, ta thấy rõ nhân sắc, ta thấy rõ thức, ta thấy rõ các hành, ta thấy rõ các hành đoạn diệt, ta thấy rõ con đường đưa đến các hành đoạn diệt. Cái được ra biết rõ, ta đã tuyên bố cho các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo Ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ được biết. Này các Tỳ-kheo, tức là phạm hạnh hành phồn vịnh, thịnh vượng, quảng đại, và được chư thiên, loài người khéo léo trình bày.”
II. Lợi ích thứ 9
Tiếp theo lợi ích thứ 8: “Nhưng nếu ngay trong hiện tại, không đạt được sự chấm dứt sanh tử. Thì những thiện duyên này sẽ giúp cho các đời sau, khi được sanh ra tâm của hành giả luôn hướng về sự tìm cầu Chánh pháp.
Yêu thích và tìm kiếm những lời dạy nguyên gốc của Đức Phật. Đồng thời tâm cũng luôn hướng về sự không ưa thích đối với các tà pháp, tà nhân, tránh xa các tà thuyết không chơn chánh, không có cảm xúc, cảm tình đối với các tà đạo”. Tà pháp, tà nhân, tà thuyết này, cái người mà tu Chánh pháp thù tự động họ không ưa, học không thích, họ không có muốn, họ không có hướng tâm về điều đó, tự động huâ tập được trong cảm thọ của họ như vậy.
“Tránh được các cơn đường tu tập sai lệch làm uổng phí công sức, và tâm nguyện của người tu, mà vẫn không đạt được sự giải thoát khổ đau”, thực tu trong Nikāya sẽ thực chứng được sự chấm dứt sanh tử. Ở trong lợi ích thứ 9 nói là: “Trong quá trình học hỏi, nghiên cứu cẩn thận các bài kinh Nikāya, thì chánh tri kiến đi đến thành tựu, giới hạnh đi đến thành tựu. Tối thiểu là những bậc hướng đến dự lưu, hoặc chứng được dự lưu quả. Chỉ còn tái sanh tối đa là 7 lần giữa chư thiên và loài người”, chúng nhớ cho kỹ chỗ này. Mình tu thì không chịu tu, mà thích thì thích cao lắm: “Trời ơi tu cái này tái sanh gì còn lâu lắm, tôi cái này cái kia đi luôn à.”
Mấy chỗ này mình phải để ý, mình đâu có muốn theo kiểu vô minh của mình được. Bây giờ người ăn mày có muốn làm triệu phú không? Muốn chứ sao không muốn. Nhưng mà cách để họ làm giàu thì họ có biết đúng không? Thì cũng vậy, Đức Phật chỉ mình cách mình không chịu nghe, mình đòi cái muôn theo mình không à. Thì như vậy cho nên mình đâu có thành tựu được đâu, cho nên theo cách của Đức Phật thì tối tiểu mình tu đúng theo tinh thần Chánh pháp. Thì ở đây nói là thành tựu Chánh tri kiến, thành tựu giới hạnh, thiểu là bậc hướng dự lưu, một trong bốn đôi tám chúng hiền Thánh. Bốn đôi tám vị, mà gọi là ruộng phước vô thượng giữa chư thiên và loài người.
Cái này con nhắc nhiều lần, không biết ai còn nhớ hướng dự lưu nghĩa là gì không? Nhớ hay là không, ai nhớ giơ tay lên coi, hướng dự lưu là gì? Ai nhớ? Không biết mấy cái này làm sao mà đi tới được, đây là cái quả đầu tiên đó, mời sư cô. “Dạ mô Phật thưa thầy, hướng dự lưu có phải là hướng đi ra khỏi ngũ uẩn không thầy?” Đúng rồi, cho 1 tràng pháp tay lớn đi, nói tóm tắt là vậy đó. Bởi vậy cho nên chỗ này chúng ta mới thấy được, toàn bộ sự tu hành của mình nó nằm nay ngũ uẩn này đây nè. Mình mà không biết cái này thì làm sao mình tu, ngũ uẩn là cái gì ạ? Thân tâm của mình.
Mà mình không biết ngũ uẩn, tức là mình không biết thân tâm của mình 1 cách chính xác, cái thân và 1 cái tâm mê. Thành ra bước đầu tiên để hướng đi ra khỏi cái này, cái tâm hướng ra đó đó thì đây là cái Thánh vị thấp nhất ở trong 8 bậc, không thôi là 4 quả. Nếu mình không có nhận diện được ngũ uẩn, thì làm sao mình biết để mình đi ra khỏi ngũ uẩn. Chúng ta thấy tầm quan trọng của nhận diện ngũ uẩn không? Bây giờ làm bài tập mà không biết là coi như thất bại. Cái tâm hướng ra khỏi ngũ uẩn, cái chữ “hướng dự lưu” này là hướng tới. Giống như mình luyện thi đại học vậy đó, mình vô đại học tức là gì? Là dự lưu Thánh quả đó, là vào rồi, “dự” là tham dự vô rồi.
“Đạo” là đang đi trên con đường, chữ “quả” là đến. Thì gọi là sơ đạo, sơ quả, không thôi là hướng dự lưu, nhập lưu cũng vậy. Mà bây giờ trong tâm chúng ta là có hướng đi ra khỏi ngũ uẩn chưa? Hướng chưa? Nếu mà hoàn toàn chưa có cái đó, là còn ở ngoài phàm phu, vẫn gọi là vô văn phàm phu, con xin thưa các bậc tôn đức. Đừng có nói là cạo tóc, đắp y lên là Thánh đệ tử, không phải. Thánh đệ tử của Đức Phật là bốn đôi tám chúng này, tức là người thấp nhất cũng là hướng ra khỏi ngũ uẩn.
Tại sao hướng ra khỏi ngũ uẩn? Tại vì ngũ uẩn này là khổ, ở trong ngũ uẩn này là khổ. Sắc khổ không? “Dạ khổ”. Cảm giác này khổ không? “Dạ khổ”. Hình bóng trong tâm cũng có khổ không? Ám ảnh hoài có khổ không? “Dạ có”. Rồi suy nghĩ, các hành có khổ không? “Dạ có”. Cái nhận thức mà theo vô minh có khổ không? “Dạ có”. Khổ quá trời quá đất mà muốn đi ra không? Không muốn ra, muốn cái khổ này, thích cái khổ này, cho nên gọi là vô văn phàm phu. Chỗ này rất là quan trọng, đây là quyết định toàn bộ sự tu hành của mình.
Còn cái kia vẫn làm thiện pháp nha, mà nó là nhân thiên phước báo, còn ở trong ngũ uẩn. Còn sự tu tập ngày hôm nay là đại đại bổ phận và nhân thiên, phước báo ở trong ngũ uẩn. Cái đó gọi là nhân thiên pháp, hữu lậu pháp hoặc là gọi là cái gì? Một số người lầm tưởng đó là giải thoát, cho nên cái đó gọi là tưởng pháp. Mà cái tu để ra khỏi ngũ uẩn ngũ uẩn, cái đó gọi là Chánh pháp. Có Thánh điển, y cứ rõ ràng, lời Phật day trong kinh. Chúng ta phân biệt được chưa? Chánh pháp với tưởng pháp phân biệt được chưa? Hữu lậu và vô lậu phân biệt được chưa? Nhân thiên pháp và Thánh pháp phân biệt được chưa?
Nhân thiên pháp là ở trong ngũ uẩn, là những thiện pháp ở trong ngũ uẩn này. Thánh pháp là cách đi ra khỏi ngũ uẩn, cái này phân biệt thật kỹ nha. Mình làm tất cả điều lành, điều thiện, điều tốt, điều công đức, tụng kinh, niệm Phật, trì chú, ngồi thiền, làm bao nhiêu chuyện đặng mình mong đời sau mình hưởng cái phước đó, thì đó là nhân thiên thiện pháp. Thiện pháp chứ không phải Thánh pháp. Còn Thánh pháp là làm tất cả những cái đó, không mong cầu hưởng những cái đó, mà mong cầu thoát ra khỏi cái khổ uẩn, cái khổ của năm uẩn này. Mong cầu chấm dứt cái khổ này, đặng thành tựu cái sự Niết-bàn tối thượng diệt khổ, thì đó gọi là Thánh pháp.
Là thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh. Như vậy hiện nay là chúng ta tu theo cái nào? Có mong tu để mong đời sau được hưởng không? Cứ nói thật không sao hết “có”, vậy là pháp gì? Đó là nhân thiên pháp, nhân thiên thiện pháp, là thiện pháp. Còn cái tâm mà muốn thôi, chán sắc, chán thọ, chán tưởng, chán hành, chán thức, vươn ra khỏi ngũ uẩn, thành tựu tâm bất động giải thoát. Tâm giải thoát, tuệ giải thoát, diệt tận hết tất cả vô minh và khát ái ở trong ngũ uẩn, thì đó gọi là Thánh pháp, như vậy mới gọi Thánh đệ tử của Đức Phật.
Tại vì những con trò này là đi theo đạo lộ của bậc Thánh ông cha của mình, thì như vậy mới gọi là Thánh đệ tử. Nhớ nha, chứ không phải thành Phật à, cái này quan trọng. Thành Phật là đại ngã mạn, mình ho tới cùng cực của mình là Thánh đệ tử. Bây giờ con nói ví dụ đơn giản thôi, quý thầy quý cô thấy. Ông sư phụ mình còn ở trong, mình ở đây mình nhận đệ tử, được không? Thầy mình còn đó mà, mình muốn vượt hơn qua mặt của thầy mình sao? Bình thường đã không được rồi, huống chi bậc tối tôn tối thượng Chánh đẳng chánh giác. Tại vì có nhiều cái nó đơn giản lắm, mà mình không có hiểu, không phải dễ hiểu.
Cho nên mình tu cho tới hoàn toàn diệt tận vô minh, khát ái, chấp thủ, tâm thanh tịnh ngang bằng Phật, những vẫn là Thánh đệ tử. Tại vì mình học với ai mà mình thành ra như vậy? Bây giờ mình nói mình bằng ngang Phật à: “Bao giờ bằng Phật mới vừa lòng con”. Nghe thì như hay, nhưng mà xét vô thì sâu sắc à. Mình có thành tựu tối thượng cái tâm thanh tịnh, thì mình là đệ tử của bậc Thánh, Thánh đệ tử. Là vị Thánh, Thánh tăng, chứ mình không thể nói: “Giờ tôi bự bằng ông sư phụ tôi mới chịu”. Thì cái đó là tâm gì đó? Ngã mạn.
Cho nên cái này hay lắm, hồi đó con chưa vô Nikāya con chưa có hiểu. Lúc đó có 1 vị Tỳ-kheo, nằm trên giường bệnh hấp hối. Vị này tha thiết mong muốn được thấy lần cuối Đức Thế Tôn, cho nên nhờ đi tới thỉnh Đức Như Lai. Đức Như Lai đồng ý đi đến, từ xa thầy này gượng dậy, thì Đức Thế Tôn nói: “Thôi này Tỳ-kheo, ông đừng có gượng dậy, ông hãy làm đó, ta có chỗ soạn sẵn ta sẽ ngồi chỗ soạn sẵn”. Vị này ráng gượng bò xuống, nằm mộp dưới đất, dập đầu. Mà vị này là Thánh tăng A-la-hán, chứ không phải phàm Tăng đâu à.
“Bạch Thế Tôn, con là ai mà có thể dám nằm ở trên giường để mà nghênh đón Đức Thế Tôn. Mà đó là giây phút cuối cùng của cuộc đời, mà bệnh là hấp hối gần chết rồi mà dập đầu cúi lạy. Sau này Đức Thế Tôn nói chuyện với các bậc Thánh chúng, người này có hỏi các vị đáp tại sao mà các bậc Thánh mới tôn kính Đức Phật 1 cách tuyệt đối. Tại vì các Ngài là người mà chứng ngộ diệt tận được hết tất cả các lậu hoặc, giải thoát sanh tử. Cho nên các Ngài mới biết ơn Đức Phật cho tới mức độ nào đó.
Bây giờ con nói ví dụ như sư phụ của mình lo cho mình hết cả cuộc đời, hay là cha mẹ lo cho mình hết cuộc đời. Thì mình có thương quý, kính mến, hiếu thảo cha mẹ, sư phụ mình không? Còn nếu người khác lại nhìn thì đâu có gì đâu, thấy bình thường. Nhưng mà chỉ mình là người con, thì mình mới thấy ân đức sanh thành của cha mẹ là tối thượng, không có trên đời này cái gì bằng hết. Thì người con đó, mới cảm nhận được công đức của cha mẹ. Cho nên phàm phu đâu có cung kính Phật bằng các bậc Thánh, tại vì các Ngài diệt tận hết tất cả tham, sân, si, vô minh, lậu hoặc. Cho nên các Ngài mới biết là ân đức của Thế Tôn là bất khả tư nghì, vô lượng, vô biên, vô số, vô tận.
Không có một cái lời gì, một hành động nào mà có thể cảm ơn hết được ân đức của Ngài. Cho nên các vị Thánh tăng là kính Phật tuyệt đối, khi chứng nhập dự lưu Thánh quả đầu tiên là tịnh tính đối với Đức Phật. Cho nên hết sức là sâu sắc, vào cái Thánh quả thứ nhất thì người này mới tin Phật tuyệt đối 100%. Tin pháp tuyệt đối, tin Tăng tuyệt đối và tin Thánh giới, thành tựu các cái giới. Đó gọi là 4 dự lưu phần, say này chúng ta sẽ học tới các bài kinh, nguyên 1 tập chuyên về chuyên đề dự lưu Thánh quả, 1 tập dày. Tại vì mình chưa cung kính Phật tuyệt đối, mình chưa có thành tựu được, mắt pháp mình chưa mở. Mình kính Phật là kính vậy thôi: “Con bây giờ con hết lòng tuyệt đối”, nhưng mà chưa, mình chưa thấy ngũ uẩn, chưa thấy lậu hoặc.
Cho nên cái kính của mình là cái kính còn trên tư tưởng thôi, chứ chưa thật sự mà kính tột cùng, kính tột cùng là từ nhất quả cho đến tứ Thánh quả. Trở về vấn đề ở đây mới nói là chúng ta đang giải thích là: Mình tu thành tựu, mình vẫn là Thánh đệ tử. Nhớ kỹ dùm con cái này, dù cho mình thành tựu Thánh quả cao nhất mình vẫn là Thánh đệ tử. Chứ không phải: “Tôi thành Phật”, mình nói như vậy la bất kính, mình chưa biết Phật là ai cho nên mình mới nói như vậy. Cái số 9 là chúng ta đang nói về cái dự lưa quả, “chỉ còn tái sanh tối đa là 7 lần giữa chư thiên và loài người. Không còn bị đọa trong các đường ác sanh tử như: Địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ.”
Chỗ này là có nhiều vấn đề để mình học lắm, con thưa như giờ chúng ta ngồi đây nè, mình có chắc chắn 100% là không đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh không? “Dạ không”. Đúng vậy, ai là người có thể sát quyết tuyên bố là tôi vĩnh viễn không còn đọa địa ngục, ngạ quỷ, xúc sanh? Một người nói A-la-hán, ai nói cái khác? Ai là người tuyên bố mình hoàn toàn chấm dứt địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, không bao giờ sanh đó? “Đức Phật Thích Ca Mâu Ni”, không trúng luôn. Nói như vậy là chưa hiểu Đức Phật, “tam quả”, chưa đúng. “Sơ quả Tu-đà-hoàn”, đúng rồi, cho 1 tràng pháp tay lớn đi.
Là vị có khả năng tuyên bố rằng: “Ta, hoàn toàn có khả năng đoạn tận địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh”. Nhiều nhất là 7 đời qua lại những cõi nhân thiên, để tẩy sạch những lậu hoặc nữa thôi. Nhiều nhất nha, ở đây còn có các bậc khác nữa. Thì có những vị còn 3 đời, còn 2 đời, còn 1 đời gọi là nhất lai. Nhưng mà trong kinh thường thường đưa ra là thất lai, nhất lai, nhưng mà có những vị là trở lại 2, 3 đời nữa. Chỗ này là chỗ quan trọng, thành ra mình ở đây chưa thành tựu Chánh tri kiến thì khả năng đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh còn rất rất là nhiều. Đừng có tưởng ngon nghe không, đừng có tưởng cạo cái đầu, đắp cái y lên là xong rồi ngen. Địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh còn ghê lắm, khiếp lắm.
Đức Phật lấy ngón tay rồi khơi dưới đất rồi nói: “Này các Tỳ-kheo, cái đất trong móng tay ta và đất của cả địa cầu cái nào nhiều hơn?” Các vị Tỳ-kheo thưa: “Dạ bạch Đức Thế Tôn, đất trong móng tay của Ngài làm sao mà so sánh, ví dụ, tính kể được. Đất địa cầu rất nhiều, rất nhiều, không thể nào so sánh được”. Đức Thế Tôn nói: “Này các Tỳ-kheo, con người chết rồi trở lại sanh làm người ít như đất trong móng tay của ta. Con người chết rồi rơi xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh nhiều cũng như đất của đại địa”. Cái này bảo đảm mấy thầy, mấy cô mới nghe. Lúc trước chỉ có nghe theo 1 cái chánh khác, người chết sanh lại làm người đó, nhiều cái ví dụ lắm, không phải 1 ví dụ đâu.
Ngài hốt sỏi lên bàn tay, Ngài nói người chết sanh làm người ít như sỏi trong bàn tay, mà chết sanh địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh là giống như núi chú Tu Vi, Himalaya, Tuyết sơn. Thành ra người chết mà sanh làm người là khó lắm, không phải dễ. Không đầy đủ năm giới 1 cách tương đối, là không có được sanh trở lại làm người đâu. Mình thấy mấy người giết cha giết mẹ, vợ chồng phân xác với nhau, chú cháu, anh chị em giết nhau, mấy cái đó là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh hết rồi đó. Ngay hiện tại làm người không được con người tự do nữa, mà phải đi vô tù. Cho nên cái sơ quả rất là quan trọng, để đọc bài kinh này cho quý thầy, cô nghe nha.
Bài kinh này có 1 nội dung là lợi đắc được 4 châu, không bằng Thánh quả dự lưu. Đây là bài kinh Tương Ưng Bộ, tập 5, bài kinh “Vua”.
“1-2) Sàvatthi. Ở đấy... nói như sau:
3) -- Dầu cho, này các Tỳ-kheo, một vị Chuyển luân vương làm chủ tể và cai trị bốn châu, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, thiên giới, thế giới này, cộng trú với chư Thiên ở cõi Ba mươi ba; tại đấy, vị ấy trú trong rừng Nandana, được chúng Thiên nữ đoanh vây, được đầy đủ, được cung cấp, được bao bọc năm thiên dục công đức, nhưng không được đầy đủ bốn pháp; tuy vậy, vị ấy chưa được giải thoát khỏi địa ngục, chưa được giải thoát khỏi sanh vào loài bàng sanh, chưa giải thoát khỏi ngạ quỷ, và chưa thoát khỏi ác sanh, ác thú, đọa xứ.
4) Nhưng này các Tỳ-kheo, vị Thánh đệ tử, dầu muốn sống bằng các miếng ăn khất thực, đắp với y nhiều tấm (nantakàni); vị ấy đầy đủ bốn pháp. Và vị ấy được giải thoát khỏi địa ngục, được giải thoát khỏi sanh vào loài bàng sanh, được giải thoát khỏi cõi ngạ quỷ, được giải thoát khỏi ác sanh, ác thú, đọa xứ. Thế nào là bốn?
5) Ở đây, này các Tỳ-kheo, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tin bất động đối với đức Phật: “Ðây bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.”
6) Vị ấy thành tựu lòng tin bất động đối với Pháp: “Pháp do Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.”
7) Vị ấy thành tựu lòng tin bất động đối với chúng Tăng: “Diệu hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Trực hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Ứng lý hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Chơn chánh hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám chúng. Chúng đệ tử của Thế Tôn là đáng cung kính, đáng cúng dường, đáng tôn trọng, đáng được chấp tay, là phước điền vô thượng ở đời.”
8) Vị ấy thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính, không bị phá hoại, không bị đâm cắt, không bị nhiễm ô, không bị uế nhiễm, đem lại giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp thủ, đưa đến Thiền định.
9) Vị ấy thành tựu bốn pháp này.
10) Và này các Tỳ-kheo, có sự lợi đắc của bốn châu và sự lợi đắc của bốn pháp. Sự lợi đắc bốn châu không đáng giá (agahati) một phần mười sáu lợi đắc bốn pháp.”
(Tương Ưng Bộ Kinh V, bài kinh Vua)
Bốn pháp đây là bốn dự lưu phần, thành tựu lòng tin bất động với Phật, pháp, Tăng và đầy đủ các giới. Đây gọi là bốn điều kiện, bốn yếu tố để mà thành tựu Thánh quả dự lưu thứ nhất. Mà người đầy đủ bốn cái này, thì con hơn cả cái ông thống lĩnh cả trái đất. Người mà thống lãnh cả quả địa cầu này, lợi đất không bằng 1/16, thì giống như mình nói bây giờ không bằng 1/100 của bậc Thánh quả dự lưu vậy đó. Thánh quả dự lưu là tin vào Phật, pháp, Tăng và đầy đủ các giới. Tin Phật là nãy giờ mình nói rồi đó, cho nên Thánh quả dự lưu là rất quan trọng. Mấy hôm nay hòa thượng pháp chủ cũng có nói cái đó, cái abfi mới vừa đăng lên, Thánh quả dự lưu là tuyệt đối quan trọng.
“Nếu hành giả dấn thân sâu hơn trong dòng pháp này, vượt qua cửa Chánh kiến, thành tựu các pháp chánh còn lại, làm giảm thiểu những tham và sân, hoặc diệt dục tham và sân. Hoặc diệt những tàn dư lậu hoặc, tùy theo mức độ tẩy sạch những rác bẩn, cấu uế trong tâm. Hành giả có thể thành tựu nhất lai quả, bất lai quả hay A-la-hán quả”. Tức là sau khi thành tưu Chánh kiến rồi, mình tiếp tục Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh định. Thành ra ở đây quan trọng, mình nói ở đây là 2 dị qủa thấp nhất thôi, tức là hướng dự lưu và nhập lưu, ở đây còn được gọi là sơ đạo hay là sơ quả cũng được.
Tại sao mà mình có cái tâm hướng muốn thoát ra khỏi ngũ uẩn, mình phải có đầy đủ cái trí về ngũ uẩn. Chúng ta có học 7 trí sắc, 7 trí hành, 7 trí thọ, 7 trí tưởng, 7 trí thức không trả bài coi, nhớ được cái gì nói cái nấy. Mình không có biết gì về ngũ uẩn hết, làm sao mà mình nhàm chán ngũ uẩn được. Cũng như mình không có cưới về làm chồng, làm sao mình chán, mình muốn li dị được. Mình ở chung mới biết tánh tình thằng này tối ngày ăn nhậu, nó đánh bành thây áo dũ hết trơn, thì mình mới chán, mình muốn li dị nó chứ. Mình phải hiểu nó, biết nó, sống chung với nó, thì mình mới chán nó, muốn bỏ nó.
Ai xung phong coi, trí tuệ về ngũ uẩn của mình từ hồi đầu năm học tới bây giờ, là 2 năm mấy rồi, không lẽ không nhớ cái gì hết trơn. Cái gì là sắc sanh, sắc diệt đạo, cái gì là vị ngọt, nguy hiểm và sự xuất ly. Ai nhớ xung phong, giơ tay lên, trí tuệ về ngũ uẩn của mình đâu. Sắc là cái gì? Tại sao sắc sanh, tại sao sắc diệt. Thọ là cái gì? Tại sao thọ sanh, tại sao thọ diệt. Bây giờ kiếm cái gì trong sách, trả lời tại sao có cảm thọ?
Giảng sinh 1:
“Dạ Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Kính bạch sư phụ cùng đại chúng, cảm thọ là do tưởng.”
Chưa trúng, tại sao có suy nghĩ? Rất là quan trọng, trí tuệ căn bane này không có nắm được làm sao biết ngũ uẩn, làm sao vận dụng tu tập, làm sao giảng dạy cho người ta. Hỡi các giảng sư tương lai của giáo hôi Phật giáo Việt Nam, đào tạo từ ban hoằng pháp trung ương. Sao bây giờ trả lời không biết được, cái này rất quan trọng. Tại sao trong tâm mình có hình bóng?
Giảng sinh 2:
“Dạ do sắc, năm căn tiếp xúc với năm trần sanh ra cái sắc, hình bóng trong tâm. Định nghĩa thân người là sắc, cảnh vật là sắc, những thứ gì thấy được, sờ nắm trên đời này, được duyên xúc giữa con mắt với hình ảnh ở ngoài và nó lưu lại bên trong. Và những hình bóng đó được nhớ lại, hoặc khi ta ngồi 1 mình, ta muốn Chánh niệm mà lại có hình bóng.
Thầy: Bây giờ nói ngắn gọn thôi, tại sao có hình bóng trong tâm.
Dạ do sắc con mắt tiếp xúc, sanh ra xúc, xúc sanh ra thọ, những cảm thọ dễ chịu, khó chịu hoặc là không dễ chịu không khó chịu.
Thầy: Không cần nói nhiều, tại sao có suy nghĩ.
Dạ có suy nghĩ là do cái tưởng về hình bóng trong tâm hiện khởi.”
Coi bài lại, cái này rất quan trọng mà quên hết trơn rồi. Làm sao học tiếp mấy cái cao thâm được, mấy cái căn bản không có nhớ. Tại sao mình có cảm thọ, cảm giác? Mười lăm phút ra chơi nhớ lại tất cả bài, coi lại từ đầu mình học cái gì. Mình phải có trí tuệ về năm uẩn, không có trí tuệ về năm uẩn làm sao mình tu tập, nhiếp phục được năm uẩn. Cái này pháp hành mà, là phải thực hành, phải thực tập. Mà không thực tập là nói trật hết trơn, mình có mở sách trước mặt mình cũng nói trật lất nữa. Tại vì nói trúng là trúng chữ thôi, mà nói tới thực hành là mình nói trật, 15 phút làm việc tích cực. Sau 15 phút vô là bắt đầu mình ra chiến trận, kiểm tra lại hết trí về năm uẩn.
Những Lợi Ích – Thù Thắng
Khi Tu Học Pháp Phật Nguyên Chất 5
Thích Minh Thành
Ngày 18 tháng 04 năm 2023
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Lợi ích thứ 8 PAGEREF _Toc139303382 \h 2
II. Lợi ích thứ 9 PAGEREF _Toc139303383 \h 10
Mời thầy đọc lại dùm lợi ích thứ 8, thêm thứ 9, thứ 10.
Lợi ích thứ 8: “Được gieo duyên với Chánh pháp, Chánh đạo.
Khi nghiên cứu học kinh Nikāya, ngay trong hiện tại, hành giả gieo kết được những thiện duyên tốt lành, đối với Chánh pháp của Đức Phật. Có thể thẳng tiến đến việc tu tập sự giải thoát sanh tử, ngay trong kiếp hiện tại chứng đạt quả A-la-hán. Nhưng nếu ngay trong hiện tại, không đạt được sự chấm dứt sanh tử. Thì những thiện duyên này sẽ giúp cho các đời sau, khi được sanh ra tâm của hành giả luôn hướng về sự tìm cầu Chánh pháp.
Yêu thích và tìm kiếm những lời dạy nguyên gốc của Đức Phật. Đồng thời tâm cũng luôn hướng về sự không ưa thích đối với các tà pháp, tà nhân, tránh xa các tà thuyết không chơn chánh, không có cảm xúc, cảm tình đối với các tà đạo. Tránh được các cơn đường tu tập sai lệch làm uổng phí công sức, và tâm nguyện của người tu, mà vẫn không đạt được sự giải thoát khổ đau.”
Lợi ích thứ 9: “Thực tu tập theo Nikāya sẽ thực chứng sự chấm dứt sanh tử.
Trong quá trình học hỏi, nghiên cứu cẩn thận các bài kinh Nikāya, thì chánh tri kiến đi đến thành tựu, giới hạnh đi đến thành tựu. Tối thiểu là những bậc hướng đến dự lưu, hoặc chứng được dự lưu quả. Chỉ còn tái sanh tối đa là 7 lần giữa chư thiên và loài người. Không còn bị đọa trong các đường ác sanh tử như: Địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ. Nếu hành giả dấn thân sâu hơn trong dòng pháp này, vượt qua cửa Chánh kiến, thành tựu các pháp chánh còn lại, làm giảm thiểu những tham và sân, hoặc diệt dục tham và sân. Hoặc diệt những tàn dư lậu hoặc, tùy theo mức độ tẩy sạch những rác bẩn, cấu uế trong tâm. Hành giả có thể thành tựu nhất lai quả, bất lai quả hay A-la-hán quả.”
Lợi ích thứ 10: “Tuệ đã khai mở, đạo sẽ thành tựu.
Trong khi nghiên cứu học hỏi kinh Nikāya, ngay giờ phút thân hoại mạng chung. Nếu chẳng may do bệnh tật hay do duyên nghiệp cũ, trước tu đã tạo. Nay do tâm chưa thành tựu trong thiền định, hành giả bị thất niệm, tâm không tỉnh giác trong lúc ra đi. Thì lúc đó, nhờ vào các thiện duyên đã gieo, kết gieo đối với kinh Nikāya trước đây, tâm hành giả đã ghi nhiều trong việc học hỏi và hành trì theo lời Phật dạy trong Nikāya. Chánh tri kiến được đầy đủ, giới đức, giới hạnh được đầy đủ. Nên khi tái sanh đời sau, lúc đầu không nhớ được đạo pháp.
Nhưng sau đó sẽ có những nhân duyên đưa đến, giúp cho tâm trí từ từ mở lại đạo pháp. Hành giả tiếp tục tu tập tối đa 7 lần sanh tử, sẽ đi đến sự chứng đạt giúp tâm hoàn toàn tịch lặng. Giải thoát khỏi mọi khổ đau, phiền não, mệt mỏi, ràng buộc và dính mắc với 5 thủ uẩn. Xem kinh “Nghe Với Tai”, Tăng II, trang 172; kinh Trường II, bài 2. Đó là những điều lợi ích trong việc nghiên cứu, học hỏi và thực hành theo lời Phật dạy trong kinh Nikāya. Có thể còn có thêm nhiều lợi ích nữa trong việc nghiên cứu, học hỏi Nikāya. Nhưng trong phần này chúng tôi chỉ giới thiệu các lợi ích này, mong rằng với những lợi ích được trình bày trên đây, hành giả sẽ tự biết điều mình cần phải làm trên con đường đưa đến sự chấm dứt sanh tử, phiền não và khổ đau.”
I. Lợi ích thứ 8
Lợi ích thứ 8 là: “Được gieo duyên với Chánh pháp, Chánh đạo. Khi nghiên cứu về Nikāya, chúng sẽ kết những thiện duyên tốt lành đối với Chánh pháp của Đức Phật”. Cái từ này nghe thì nó rất là đơn giản, chúng ta nghĩ rằng đây là rất bình thường. Nhưng khi mà mình tu học 1 cách chuyên sâu, thì mình thấy nó không có đơn giản. Được gieo duyên với Chánh pháp, là không có đơn giản. Hiện nay chúng ta sống thời kỳ gì ạ? Pháp được chia ra thấy thời kỳ? Chánh pháp, tượng pháp, mạt pháp. Chúng ta là ở cuối thời kỳ của tượng pháp, chữ “tượng” ở đây là mườn tượng. Tức là cái mà chúng ta học, hiện nay đại đa số là đang học của tượng pháp.
Thành ra nhiều khi mình nghĩ rằng mình đang học cái này là đúng, mình suy nghĩ trong suy nghĩ mình là đúng, mình tu vầy là đúng. Đúng, nhưng mà đúng của tượng pháp, chỗ này là chỗ rất là sâu sắc. Mà tượng pháp là cái pháp mườn tượng giống giống, chính vì vậy mà để được gieo duyên với Chánh pháp, Chánh đạo là không phải chuyện đơn giản. Thành ra chúng ta mới thấy rằng, như bản thân Minh Thành ngày xưa còn học ở trường cho đến sau khi tốt nghiệp. Ngày thi tốt nghiệp cao đẳng chuyên khoa ở chùa Vĩnh Nghiêm, sau khi học 8 năm.
Thì các huynh đệ ra hỏi Minh Thành: “Minh Thành, Minh Thành giờ tu sao Minh Thành?” Tại vì các huynh đệ học chung cũng thấy mình thích tu, mình đi tìm pháp hành. Mà trong khi học 8 năm, mà lúc đó mình cũng nghĩ rằng mình học thiền cũng nhiều năm, mình cũng nghĩ là nó đúng rồi đó. Nhưng mà khi đi vào học Nikāya rồi mình mới thấy đó là giống giống thôi, chứ đó chưa phải là Chánh pháp. Chính vì vậy mà sau khi học rồi Minh Thành vẫn thao thức, vẫn trăn trở là pháp hành của mình làm thế nào, mà cho nó giống y như hồi xưa Đức Phật và các bậc Thánh tu, mình muốn tìm cái đó đó.
Tức là năm 2000 tốt nghiệp, nhớ mài mại vậy đó. Mà 18 năm sau vẫn còn đi cầu pháp hành, cho đến 2018 mới gặp được bậc đạo sư. Thì khi mình gặp được bậc thầy đã thành tựu pháp rồi, thì mình không có còn đi tìm ai nữa hết. Cái đạo lộ nó rất là rõ ràng, minh bạch, tỏ tường, giản đơn, nhưng không phải là dễ hiểu, dễ chấp nhận và dễ thực hành. Có điều là mình sẽ không còn đi tìm 1 con đường khác nữa, sau này chúng ta sẽ học tới phần Chánh kiến chúng ta sẽ thấy. Một người mà đã được Chánh kiến thấy đúng về pháp rồi, người đó không có tìm một cái đạo lộ thứ 2, ngoài con đường của bậc Chánh đẳng giác, thì người đó mới là thành tựu Chánh kiến.
Thành ra để gọi là gieo duyên với Chánh pháp là không phải đơn giản, mà mình nghe cái câu: “Thân người khó được, Chánh pháp khó nghe”, thì mình thấy thân người mình cũng được rồi, Chánh pháp mình cũng được nghe rồi, thì chưa chắc. Khi mình đi vào Nikāya mình mới thấy, đúng là Chánh pháp khó nghe. Thứ nhất là mình không có biết cái nào là chánh, cái nào là không chánh. Tại vì mấy ngàn năm rồi, mình đang trong thời kỳ tượng. Cái thứ 2 là làm sao mình tìm được bậc chân nhân, bậc thành tựu Chánh pháp. Cái thứ 3 là khi mình gặp được cái vị như vậy rồi, mà cái tâm mình có chấp nhận nổi hay không.
Tại vì Chánh pháp là nó đập phá những cái mình yêu thích nhất, đánh vô vô minh và khát ái. Thì mình rất là khó chấp nhận Chánh pháp, cho nên Chánh pháp khó nghe là như vậy đó. Bây giờ thí dụ con nói chuyện đơn giản quý thầy, quý cô nghe. Đừng có nghĩ rằng gương mặt này là mình, đừng có cho con mắt này là mình, đừng có cho rằng hình hài, vóc dáng này là tôi, là của tôi. Cho như vậy là vô minh, cho như vậy là ngu si, thì mình nghe như vậy mình có dễ chấp nhận không? Có là Chánh pháp, đó là Thánh trí huệ đó, nhưng dễ chấp nhận không? Rất là khó. Cho nên ngay khi mình gặp bậc minh sư, chân sư, thậm chí gặp được Thánh nhân chỉ cho mình Chánh pháp, nhưng chưa chắc gì mình chấp nhận.
Cho nên mới gọi là Chánh pháp khó nghe là như vậy, là không phải mình gặp được Chánh pháp là mình chấp nhận được liền đâu. Tại vì mình trong vô lượng, vô số, vô biên kiếp ở trong thọ, tưởng, hành, thức của mình nó huân tập cái tà kiến, cái vô minh, cái tham ái, chấp thủ. Mà bây giờ mình nói cái nó ngược lại hết trơn, thì nó chống đối. Thành ra trong sự tu theo đường lối Nikāya, là đầu tiên và quan trọng nhất là diệt tâm chống đối. Cái này rất quan trọng, phải diệt cái tâm đó. Tại vì cái tâm đó nó không có chịu Chánh pháp, bây giờ đưa bộ xương kêu mình ngày nào cũng nhìn quán đi, cái tâm nó chịu không? Có thể lúc đầu nó còn chịu trong thời khóa hay gì đó.
Nhưng mà bắt hoài sao chịu, lâu lâu thấy lạ lạ thì cũng có cảm xúc chút rồi thôi. Chứ ngày mai cũng kêu nhìn bộ xương, ngày mốt cũng kêu nhìn bộ xương tu hoài, chừng nào mà thành tựu bạch cốt tượng, để đừng có đi theo bạch cốt tinh. Thể nhập Thánh trí huệ bạch cốt tượng, để mình phá được cái thân kiến này là cả 1 vấn đề, chính vì vậy Chánh pháp khó nghe. Mình không gặp Chánh pháp thì mình không nói đi, mà mình gặp, mình nghe, mình gặp bậc Thánh luôn nhưng mà mình không chấp nhận. “Tôi còn trẻ đẹp đây mà nói tôi bộ xương, nói chết quài à, nói vô thường quài”.
Cho nên hồi đó con chưa vào Nikāya mà con giảng pháp, mấy bà già bả còn chán nữa: “Tối ngày ổng vô ổng nói chết, vô thường quài, không đi thọ bát nữa”. Mà già gần chết rồi, vậy mà tới lúc hấp hối nằm giường bệnh, tha thiết mong con đi đến thăm con vẫn đi đến thăm. Ngày nào vô con cũng nhắc sanh, lão, bệnh, tử, già, chết, vô thường. Nhắc riết khó chịu luôn: “Thôi đi kiếm mấy thầy nào giảng vui đi, thầy này tối ngày nói vô thường, khổ, chết không à”. Nhưng mà tới khi gần chết, là nói gia đình làm sao phải đi mời thầy đến cho bằng được, để gặp thầy trong giây phút cuối cùng.
Khi con đi đến thầy bà cụ cầm tay con, cầm mạnh lắm, nước mắt tràn ra: “Con cảm ơn thầy nhiều lắm, tới giờ này con mới hiểu được những lời thầy nói”, như vậy cũng là chưa có muộn. Rồi cho đến 1 vị Ni sư, là được học khóa thiền đầu tiên ở thiền viện Chân Không, bây giờ nếu còn sống là lên sư bà, hoặc là Ni trưởng rồi. Trụ trì 1 ngôi chùa ở bên Mỹ, khi phát hiện ra bị bệnh ung thư giai đoạn cuối. Ni sư gọi điện thoại cho con: “Thầy ơi, hổm rày con nghe những bài pháp mà thầy giảng (lúc đó là Minh Thành giảng ở trong thiền viện Trúc Lâm 4 tháng trung A-hàm. Chưa có chuyên nhất Nikāya 100%, nhưng mà cũng 70% rồi). Bây giờ mới hiểu được những lời của thầy”. Cảm ơn mà nói trong 2 hàng nước mắt, giờ muốn giao cái chùa lại cho con, con không có nhận.
Con có đi qua, có giảng pháp nhưng con không có nhận. Bởi vì người chết thì trong gia đình hình như có lăn tăn gì tài sản, con thấy vậy con né xa, né liền. Con qua là Ni sư viên tịch, nhiều lắm. Chánh pháp khó nghe là vì phơi bày sự thật hết sức phủ phàng, mà tất cả những chúng sanh hữu tình không muốn nhìn thấy, không muốn nghe tới, không muốn nhắc tới điều đó. Cho nên là trong Tăng Chi Đức Thế Tôn có nói là: “Cái pháp vô thường, pháp khổ và vô ngã là những cái pháp quán chiếu không có giới hạn”. Chúng ta về nghe lại 6 lợi ích quán chiếu vô ngã, 6 lợi ích của quán chiếu vô thường, 6 lợi ích của quán chiếu về khổ đau, con có chia sẻ 3 bài đó rất quan trọng.
Thì Thế Tôn nói “đây là những pháp quán không có giới hạn”, tức là bất cứ lúc nào, giờ nào, ở đâu, nơi nào cũng đều quán chiếu cái này được hết. Vô thường, khổ, vô ngã không có giới hạn. Cho nên nhắc chút xíu cho chúng ta nhớ Chánh pháp khó nghe là như vậy đó, chứ không phải nói là: “Giờ con đang học Chánh pháp mà sao thầy nói khó nghe?” Rồi con nói ví dụ bây giờ pháp tu của ngài Xá-lợi-phất nè, cái thân thể bây giờ trẻ, đẹp, tươi tắn như vậy mà con chỉ vô, con nói: “Cái này là 1 cái bao phân và nước tiểu”, chịu không? Rất là khó chịu, rất là khó chấp nhận.
“Bao này là cái bao máu mủ nhiều năm, khổ luyến ân tình, chỉ đống thịt tanh, cả đời tham lam tiền của.” của Trần Thái Tông, trong Khóa Hư Lục, Thái Thượng Hoàng, trước đó là vua đó.
“Đầu sọ khô, cài hoa vắt ngọc
Túi da hôi, ướp xạ song hương
Cắt lụa là, che đậy máu tanh
Dồi son phấn, áp thùng phân thúi.”
Cho nên tất cả các vị đạt đạo đều phải chứng nhập bất tịnh quán, không có chứng nhập bất tịnh quán thì không có đắc đạo. Không có phá thân kiến, thì làm sao thành tựu Thánh trí huệ được. Rồi bây giờ chỉ mình vô cái đó mình chịu nghe không? Chỉ vô cái thân thể mình đây nè, thân thể mình yêu dấu, nhiều khi tu còn xài dầu thơm nữa. Nhiều khi con đi ngang qua con rất là bất ngờ, không được. Đúng ra là mình phải phanh phui, mình phải quán chiếu cái bất tịnh, cái nhơ nhớp, mình phải nhàm chán cái thân. “Này các Tỳ-kheo, giống như là cái ung nhọt 9 lỗ, cái gì nó rỉ chảy ra là bất tịnh rỉ chảy, cái gì nó chảy ra là nhàm chán rỉ chảy, cái gì nó rỉ chảy ra là hôi thúi nứt chảy. Các ông phải quán cái thân này nó y như vậy, hãy nhàm chán đối với thân này.”
Đó là lời của Đức Phật và tôn giả Xá-lợi-phất, mà mình nghe như vậy đó. Mình có 1 cách ngọt ngào mà chấp nhận, yêu thích mà hành trì không? Đó là Chánh pháp khó nghe đó. Là nó phá hết những cái gì mà mình yêu, mình thích, mình khoan, mình khoái, mình nắm, mình giữ, mình bênh, mình giật, mình chuộng. Nó đánh thẳng vô đó hết, Chánh pháp khó nghe đó. Bây giờ mình chịu nghe được cái này, mình chấp nhận cái này, mình muốn tu học theo cái này. Đó là được gieo duyên với Chánh pháp, chánh đạo. Mà lớp chúng ta là được cái đó, mà nếu chưa được thì cũng phải được, tại vì ngồi đây là cũng phải nghe, nghe riết từ từ nó cũng thấm.
Đó là con nói 1 vài cái ví dụ dễ hiểu phá sắc uẩn thôi, chứ chưa có nói là phá thọ, tưởng, hình, thức, để chúng ta thấy đó là Chánh pháp khó nghe đó. Rồi bây giờ con nói cái ví dụ cho chúng ta thấy nè, cái này chúng ta học rồi, mà chắc chắn quên rồi. “Này các Tỳ-kheo, kẻ vô văn phàm phu cảm thọ 1 cảm giác vui, giống như người đang bị trói buộc. Kẻ vô văn phàm phu cảm thọ cảm giác buồn khổ, giống như người đang bị trói buộc. Kẻ vô văn phàm phu cảm thọ cảm nhận 1 cảm giác không vui không khổ, cũng giống như người đang bị trói buộc. Này các Tỳ-kheo, phàm cái gì được cảm thọ cảm giác, cái đó đều nằm trong đau khổ.”
Cái này làm sao nhìn ra được, bây giờ mình bị người ta đáng u đầu sứt tráng, bị đói bụng, bị nắng táp, mưa sa, mình nằm trên giường bệnh thì mình khổ phải rồi. Bây giờ mình đang được khen, mình đang tuổi trẻ, sức khỏe, được người ta lễ lạy, cúng dường, đang làm pháp sư, giảng sư, trụ trì, lúc đó làm sao mà khổ. Mà phàm cái gì cảm thọ, cái đó đều nằm trong đau khổ. Rồi sao mình nhìn ra được cái này? Cho nên cái thấy của bậc Chánh đẳng chánh giác là siêu việt, tất cái thấy của chúng sanh. Một câu này thôi, mà cho tới chết không biết mình có chứng nhập tới không.
Mà mình hiểu được cái này, chứng nhập được cái này, là tối thiểu là dự lưu Thánh quả. “Phàm cái gì cảm thọ, là đều nằm ở trong đau khổ”, làm sao mình hiểu nổi cái này. Mình ăn ngon mình có khổ không? Sáng này đi ăn buffet có khổ không? Bên trường trung cấp đó. Mình ăn buffet mình có khổ không? “Dạ có”, “Sao cô tròn vo mà cô nói khổ, ăn buffet sao mà khổ?” Không có khổ phải không? Phải nói cho thiệt, khổ hay không? Người nói khổ người nói không. Vậy khổ là khổ sao? Nhiều món quá không biết chọn món nào, bây giờ nhiều món quá mà cái nào cũng ngon hết trơn.
Cái này nó thâm sâu, tại vì cái ngon đó thì mình có yêu thích nó không. Rồi bây giờ cái không ngon, không dở, bình thường thôi, thì lúc đó cảm thọ sao? Si. Mà lúc đó mình không biết các pháp nó vận hành, không biết do duyên có cái gì? Trả bài. Bây giờ nói duyên sanh pháp của cái lưỡi đi, ai trả bài giơ tay lên, không có mở sách ra để kím. Lần nào kêu cũng mở sách ra để kím hết, thì làm sao mà quán duyên sanh pháp. Bây giờ mình nói đơn giản không thôi hết giờ, mà bài của mình không hết nè. Do duyên có cái gì? Cái lưỡi, xúc chạm món ăn, khởi lên thiệt thức rõ biết các vị. Ba cái này hội tụ là thiệt xúc, sanh khởi ra thọ do thiệt xúc sanh, rồi vị tưởng, vị tư.
Mình bị trói buộc trong 3 cảm thọ, ngon cũng bị trói cuộc, mà dở cũng trị trói cuộc, mà không ngon không dở thì cũng thấy chình ình 1 đống có mình đi ăn. Đúng không? Phải chưa? Thì như vậy là trong vô minh, si ám hết trơn. Không thấy rõ ngũ uẩn, không thấy rõ duyên sanh pháp. Thấy có cái tôi, thấy tự ngã của tôi, rồi 1 là khoái là thích, 2 là ghét là bỏ, 3 là đơ đơ, trơ trơ, ngơ ngơ. Rồi tham, sân, si, vô minh, dục ái, hoặc là dục, tham, ái, hoặc sân si, khó chịu, bực bội, còn không thôi ở trong cái vô tri. Thì tất cả cái đó là có khổ không? Cho nên cái khổ ở trong khổ Thánh trí thâm sâu lắm, cực kỳ thâm sâu.
Cho nên mới gọi là Thánh trí, mới gọi là Chánh đẳng chánh giác, còn nếu mà như mọi người vậy thì có gì đâu mà Thánh trí. Như vậy thì khoan hãy nói tới cái ăn, mình nói chậm chậm tới, ăn chao cho nhiều vô, như đây bản thân con nè, hồi đó còn nhỏ khoái ăn chao, làm luôn 6 tháng trời ăn với chao không, lúc đâu 10 tuổi đó, cuối cùng bệnh gan. Từ đó trở về sau không ăn chao nữa, thì đó có phải lạc thọ đưa đến khổ không? Rồi bây giờ xét sâu vô nữa là tại sao có bệnh? Có cái thân này. Mà đâu phải 1 thứ bệnh gan đâu, cái gì trong cơ thể này cũng bệnh hết.
Phổi có bệnh không? Thận có thể có bệnh không? Tim có thể có bệnh được không? Túi mật có thể có khi phải cắt không? Đường ruột, bao tử, răng, lỗ mũi, lỗ tai, con mắt có bệnh không? Cái thứ gì cũng có thể có bệnh, mà tất cả những thứ bệnh đó nó dựa vô thân này. Cho nên: “Này các Tỳ-kheo, hãy nhàm chán cái thân này, đừng có yêu thích, đừng có say đắm”. Tại vì thích cái thân này tức là mình thích khổ, Tăng Chi Bộ kinh: “Này các Tỳ-kheo, ai thích sắc là người đó thích khổ, ai thích khổ là người đó không giải thoát khỏi khổ đau. Này các Tỳ-kheo, người nào không có thích sắc là người đó không có thích khổ, người nào không có thích khổ là người đó giải thoát khỏi các khổ đau.”
Thành ra trí tuệ Thánh trí huệ trong Nikāya là nó thâm sâu cùng cực, nó không phải là lý lịch trích ngang mà nhìn sơ sơ đâu. Mà nó đào căn nguyên tột cùng bản tánh, bản chất, gốc rễ tất cả sự vật. Cho nên như vậy mới diệt khổ được chứ, diệt khổ 1 cách hoàn toàn, mới diệt Thánh đế được chứ. Sự thật về sự tiêu diệt toàn bộ tất cả khổ uẩn, đó là diệt Thánh đế. Chỉ duy nhất bậc chí Thánh tốt thượng, bậc Chánh đẳng chánh giác của mình mới có cách. Ngoài ra không có người thứ 2, cho nên mới gọi Đức Thế Tôn là bậc tối tôn, tối thượng giữa chư thiên và loài người. Không có người thứ 2 có thể đưa ra phương pháp, mà diệt tận hết hoàn toàn tất cả khổ.
Đó là cái chỗ gọi là khó của chánh pháp, nói đơn giản 1 chút như vậy cho chúng ta thấy đó. Nhiều cái vấn đề phải không? Mà mình nghe được, hiểu được, học được, chịu chấp nhận và mình tu nữa thì quá là thiện duyên tốt lành đối với mình. Cho nên là mình “có thể thẳng tiến đến việc tu tập sự giải thoát sanh tử, ngay trong kiếp hiện tại chứng đạt quả A-la-hán”. Chỗ này là chỗ quan trọng nữa: “Trong 1 thời điểm, trong 1 thế giới không thể có 2 bậc A-la-hán Chánh đẳng chánh giác xuất hiện. Trong 1 thời điểm, trong 1 thế giới chỉ có 1 bậc A-la-hán Chánh đẳng giác xuất hiện. Bậc A-la-hán Chánh đẳng giác là bậc tự mình tu tập, tự mình chứng ngộ trí huệ vô thượng, đưa đến giải thoát sanh tử, đó là trí huệ về tứ Thánh đế”.
Đây là câu trong quyển “Tóm Tắt Ngũ Uẩn”, mà cũng trích ra từ trong tạng Nikāya“Trong 1 thời điểm, trong 1 thế giới không thể có 2 bậc A-la-hán Chánh đẳng chánh giác xuất hiện”. Cho nên người ta làm 2 tượng ông Phật nói chuyện với nhau đó, là cái đó không có trúng, không thể có chuyện đó được. Trong 1 thời điểm không thể có 2 bậc Chánh đẳng giác xuất hiện cùng 1 lúc được, cũng như trong 1 thời điểm không thể có 2 bậc Chuyển Luân Pháp Vương xuất hiện cùng 1 lúc được. Nước làm sao có 2 vua được, thành ra chỗ này chúng ta học thật là kỹ. Để không thôi mình không biết cái nào đúng, cái nào không đúng.
Thành ra chỗ này là chỗ quan trọng, con ôn lại chút thôi, cái này con đã nói hôm trước rồi không biết còn nhớ hay không. Là chỉ có Đức Thế Tôn là bậc A-la-hán Chánh đẳng chánh giác, còn tất cả những người mà được Ngài hướng dẫn tu tập thành tựu, thì chỉ là A-la-hán thôi. Nhớ thật kỹ cái này nha, còn trước khi mà Ngài thành Phật thì gọi là Bồ tác đạo. Tức là còn mò mẫm trong bóng đêm, chưa tìm ra được cái đạo lộ. Khi chứng thành phật quả thì Ngài thấy được bát Thánh đạo, là con đường cổ xưa mà tất cả các bậc Chánh đẳng giác thuở xưa đã đi qua.
Chúng ta nhớ bài kinh đó không ạ? Mở ra đọc đi “Nghi Thức Tu Học Nikāya”, bài kinh “Thành Ánh”. Đọc cho nhớ chứ để không thôi quên, trong phần căn bản trí. Chúng ta cùng nhau đọc trang 114: “Niệm Phật Đạo Vô Thượng, kinh Thành Ách. Này các Tỳ-kheo, ta đã thấy một con con đường cũ, một đạo lộ cũ, do các vị Chánh đẳng giác từ xưa đã đi qua. Và này cá Tỳ-kheo, thế nào là con đường cũ, đạo lộ cũ ấy, do các vị Chánh đẳng giác thuở xưa đã đi qua. Đây chính là con đường Thánh đạo Tám nghành, tức là Chánh tri kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định.
Con đường ấy, này các Tỳ-kheo, là con đường cũ, đạo lộ cũ do các bậc Chánh đẳng giác thuở xưa đã đi qua, ta đã đi theo con đường ấy. Đi theo con đường ấy, ta thấy rõ già chết, ta thấy rõ già chết tập khởi, ta thấy rõ già chết đoạn diệt, ta thấy rõ con đường đưa đến già chết đoạn diệt. Ta đã đi theo con đường ấy, đi theo con đường ấy, ta thấy rõ sanh, ta thấy rõ thủ, ta thấy rõ ái, ta thấy rõ thọ, ta thấy rõ xúc, ta thấy rõ sáu xứ, ta thấy rõ nhân sắc, ta thấy rõ thức, ta thấy rõ các hành, ta thấy rõ các hành đoạn diệt, ta thấy rõ con đường đưa đến các hành đoạn diệt. Cái được ra biết rõ, ta đã tuyên bố cho các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo Ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ được biết. Này các Tỳ-kheo, tức là phạm hạnh hành phồn vịnh, thịnh vượng, quảng đại, và được chư thiên, loài người khéo léo trình bày.”
II. Lợi ích thứ 9
Tiếp theo lợi ích thứ 8: “Nhưng nếu ngay trong hiện tại, không đạt được sự chấm dứt sanh tử. Thì những thiện duyên này sẽ giúp cho các đời sau, khi được sanh ra tâm của hành giả luôn hướng về sự tìm cầu Chánh pháp.
Yêu thích và tìm kiếm những lời dạy nguyên gốc của Đức Phật. Đồng thời tâm cũng luôn hướng về sự không ưa thích đối với các tà pháp, tà nhân, tránh xa các tà thuyết không chơn chánh, không có cảm xúc, cảm tình đối với các tà đạo”. Tà pháp, tà nhân, tà thuyết này, cái người mà tu Chánh pháp thù tự động họ không ưa, học không thích, họ không có muốn, họ không có hướng tâm về điều đó, tự động huâ tập được trong cảm thọ của họ như vậy.
“Tránh được các cơn đường tu tập sai lệch làm uổng phí công sức, và tâm nguyện của người tu, mà vẫn không đạt được sự giải thoát khổ đau”, thực tu trong Nikāya sẽ thực chứng được sự chấm dứt sanh tử. Ở trong lợi ích thứ 9 nói là: “Trong quá trình học hỏi, nghiên cứu cẩn thận các bài kinh Nikāya, thì chánh tri kiến đi đến thành tựu, giới hạnh đi đến thành tựu. Tối thiểu là những bậc hướng đến dự lưu, hoặc chứng được dự lưu quả. Chỉ còn tái sanh tối đa là 7 lần giữa chư thiên và loài người”, chúng nhớ cho kỹ chỗ này. Mình tu thì không chịu tu, mà thích thì thích cao lắm: “Trời ơi tu cái này tái sanh gì còn lâu lắm, tôi cái này cái kia đi luôn à.”
Mấy chỗ này mình phải để ý, mình đâu có muốn theo kiểu vô minh của mình được. Bây giờ người ăn mày có muốn làm triệu phú không? Muốn chứ sao không muốn. Nhưng mà cách để họ làm giàu thì họ có biết đúng không? Thì cũng vậy, Đức Phật chỉ mình cách mình không chịu nghe, mình đòi cái muôn theo mình không à. Thì như vậy cho nên mình đâu có thành tựu được đâu, cho nên theo cách của Đức Phật thì tối tiểu mình tu đúng theo tinh thần Chánh pháp. Thì ở đây nói là thành tựu Chánh tri kiến, thành tựu giới hạnh, thiểu là bậc hướng dự lưu, một trong bốn đôi tám chúng hiền Thánh. Bốn đôi tám vị, mà gọi là ruộng phước vô thượng giữa chư thiên và loài người.
Cái này con nhắc nhiều lần, không biết ai còn nhớ hướng dự lưu nghĩa là gì không? Nhớ hay là không, ai nhớ giơ tay lên coi, hướng dự lưu là gì? Ai nhớ? Không biết mấy cái này làm sao mà đi tới được, đây là cái quả đầu tiên đó, mời sư cô. “Dạ mô Phật thưa thầy, hướng dự lưu có phải là hướng đi ra khỏi ngũ uẩn không thầy?” Đúng rồi, cho 1 tràng pháp tay lớn đi, nói tóm tắt là vậy đó. Bởi vậy cho nên chỗ này chúng ta mới thấy được, toàn bộ sự tu hành của mình nó nằm nay ngũ uẩn này đây nè. Mình mà không biết cái này thì làm sao mình tu, ngũ uẩn là cái gì ạ? Thân tâm của mình.
Mà mình không biết ngũ uẩn, tức là mình không biết thân tâm của mình 1 cách chính xác, cái thân và 1 cái tâm mê. Thành ra bước đầu tiên để hướng đi ra khỏi cái này, cái tâm hướng ra đó đó thì đây là cái Thánh vị thấp nhất ở trong 8 bậc, không thôi là 4 quả. Nếu mình không có nhận diện được ngũ uẩn, thì làm sao mình biết để mình đi ra khỏi ngũ uẩn. Chúng ta thấy tầm quan trọng của nhận diện ngũ uẩn không? Bây giờ làm bài tập mà không biết là coi như thất bại. Cái tâm hướng ra khỏi ngũ uẩn, cái chữ “hướng dự lưu” này là hướng tới. Giống như mình luyện thi đại học vậy đó, mình vô đại học tức là gì? Là dự lưu Thánh quả đó, là vào rồi, “dự” là tham dự vô rồi.
“Đạo” là đang đi trên con đường, chữ “quả” là đến. Thì gọi là sơ đạo, sơ quả, không thôi là hướng dự lưu, nhập lưu cũng vậy. Mà bây giờ trong tâm chúng ta là có hướng đi ra khỏi ngũ uẩn chưa? Hướng chưa? Nếu mà hoàn toàn chưa có cái đó, là còn ở ngoài phàm phu, vẫn gọi là vô văn phàm phu, con xin thưa các bậc tôn đức. Đừng có nói là cạo tóc, đắp y lên là Thánh đệ tử, không phải. Thánh đệ tử của Đức Phật là bốn đôi tám chúng này, tức là người thấp nhất cũng là hướng ra khỏi ngũ uẩn.
Tại sao hướng ra khỏi ngũ uẩn? Tại vì ngũ uẩn này là khổ, ở trong ngũ uẩn này là khổ. Sắc khổ không? “Dạ khổ”. Cảm giác này khổ không? “Dạ khổ”. Hình bóng trong tâm cũng có khổ không? Ám ảnh hoài có khổ không? “Dạ có”. Rồi suy nghĩ, các hành có khổ không? “Dạ có”. Cái nhận thức mà theo vô minh có khổ không? “Dạ có”. Khổ quá trời quá đất mà muốn đi ra không? Không muốn ra, muốn cái khổ này, thích cái khổ này, cho nên gọi là vô văn phàm phu. Chỗ này rất là quan trọng, đây là quyết định toàn bộ sự tu hành của mình.
Còn cái kia vẫn làm thiện pháp nha, mà nó là nhân thiên phước báo, còn ở trong ngũ uẩn. Còn sự tu tập ngày hôm nay là đại đại bổ phận và nhân thiên, phước báo ở trong ngũ uẩn. Cái đó gọi là nhân thiên pháp, hữu lậu pháp hoặc là gọi là cái gì? Một số người lầm tưởng đó là giải thoát, cho nên cái đó gọi là tưởng pháp. Mà cái tu để ra khỏi ngũ uẩn ngũ uẩn, cái đó gọi là Chánh pháp. Có Thánh điển, y cứ rõ ràng, lời Phật day trong kinh. Chúng ta phân biệt được chưa? Chánh pháp với tưởng pháp phân biệt được chưa? Hữu lậu và vô lậu phân biệt được chưa? Nhân thiên pháp và Thánh pháp phân biệt được chưa?
Nhân thiên pháp là ở trong ngũ uẩn, là những thiện pháp ở trong ngũ uẩn này. Thánh pháp là cách đi ra khỏi ngũ uẩn, cái này phân biệt thật kỹ nha. Mình làm tất cả điều lành, điều thiện, điều tốt, điều công đức, tụng kinh, niệm Phật, trì chú, ngồi thiền, làm bao nhiêu chuyện đặng mình mong đời sau mình hưởng cái phước đó, thì đó là nhân thiên thiện pháp. Thiện pháp chứ không phải Thánh pháp. Còn Thánh pháp là làm tất cả những cái đó, không mong cầu hưởng những cái đó, mà mong cầu thoát ra khỏi cái khổ uẩn, cái khổ của năm uẩn này. Mong cầu chấm dứt cái khổ này, đặng thành tựu cái sự Niết-bàn tối thượng diệt khổ, thì đó gọi là Thánh pháp.
Là thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh. Như vậy hiện nay là chúng ta tu theo cái nào? Có mong tu để mong đời sau được hưởng không? Cứ nói thật không sao hết “có”, vậy là pháp gì? Đó là nhân thiên pháp, nhân thiên thiện pháp, là thiện pháp. Còn cái tâm mà muốn thôi, chán sắc, chán thọ, chán tưởng, chán hành, chán thức, vươn ra khỏi ngũ uẩn, thành tựu tâm bất động giải thoát. Tâm giải thoát, tuệ giải thoát, diệt tận hết tất cả vô minh và khát ái ở trong ngũ uẩn, thì đó gọi là Thánh pháp, như vậy mới gọi Thánh đệ tử của Đức Phật.
Tại vì những con trò này là đi theo đạo lộ của bậc Thánh ông cha của mình, thì như vậy mới gọi là Thánh đệ tử. Nhớ nha, chứ không phải thành Phật à, cái này quan trọng. Thành Phật là đại ngã mạn, mình ho tới cùng cực của mình là Thánh đệ tử. Bây giờ con nói ví dụ đơn giản thôi, quý thầy quý cô thấy. Ông sư phụ mình còn ở trong, mình ở đây mình nhận đệ tử, được không? Thầy mình còn đó mà, mình muốn vượt hơn qua mặt của thầy mình sao? Bình thường đã không được rồi, huống chi bậc tối tôn tối thượng Chánh đẳng chánh giác. Tại vì có nhiều cái nó đơn giản lắm, mà mình không có hiểu, không phải dễ hiểu.
Cho nên mình tu cho tới hoàn toàn diệt tận vô minh, khát ái, chấp thủ, tâm thanh tịnh ngang bằng Phật, những vẫn là Thánh đệ tử. Tại vì mình học với ai mà mình thành ra như vậy? Bây giờ mình nói mình bằng ngang Phật à: “Bao giờ bằng Phật mới vừa lòng con”. Nghe thì như hay, nhưng mà xét vô thì sâu sắc à. Mình có thành tựu tối thượng cái tâm thanh tịnh, thì mình là đệ tử của bậc Thánh, Thánh đệ tử. Là vị Thánh, Thánh tăng, chứ mình không thể nói: “Giờ tôi bự bằng ông sư phụ tôi mới chịu”. Thì cái đó là tâm gì đó? Ngã mạn.
Cho nên cái này hay lắm, hồi đó con chưa vô Nikāya con chưa có hiểu. Lúc đó có 1 vị Tỳ-kheo, nằm trên giường bệnh hấp hối. Vị này tha thiết mong muốn được thấy lần cuối Đức Thế Tôn, cho nên nhờ đi tới thỉnh Đức Như Lai. Đức Như Lai đồng ý đi đến, từ xa thầy này gượng dậy, thì Đức Thế Tôn nói: “Thôi này Tỳ-kheo, ông đừng có gượng dậy, ông hãy làm đó, ta có chỗ soạn sẵn ta sẽ ngồi chỗ soạn sẵn”. Vị này ráng gượng bò xuống, nằm mộp dưới đất, dập đầu. Mà vị này là Thánh tăng A-la-hán, chứ không phải phàm Tăng đâu à.
“Bạch Thế Tôn, con là ai mà có thể dám nằm ở trên giường để mà nghênh đón Đức Thế Tôn. Mà đó là giây phút cuối cùng của cuộc đời, mà bệnh là hấp hối gần chết rồi mà dập đầu cúi lạy. Sau này Đức Thế Tôn nói chuyện với các bậc Thánh chúng, người này có hỏi các vị đáp tại sao mà các bậc Thánh mới tôn kính Đức Phật 1 cách tuyệt đối. Tại vì các Ngài là người mà chứng ngộ diệt tận được hết tất cả các lậu hoặc, giải thoát sanh tử. Cho nên các Ngài mới biết ơn Đức Phật cho tới mức độ nào đó.
Bây giờ con nói ví dụ như sư phụ của mình lo cho mình hết cả cuộc đời, hay là cha mẹ lo cho mình hết cuộc đời. Thì mình có thương quý, kính mến, hiếu thảo cha mẹ, sư phụ mình không? Còn nếu người khác lại nhìn thì đâu có gì đâu, thấy bình thường. Nhưng mà chỉ mình là người con, thì mình mới thấy ân đức sanh thành của cha mẹ là tối thượng, không có trên đời này cái gì bằng hết. Thì người con đó, mới cảm nhận được công đức của cha mẹ. Cho nên phàm phu đâu có cung kính Phật bằng các bậc Thánh, tại vì các Ngài diệt tận hết tất cả tham, sân, si, vô minh, lậu hoặc. Cho nên các Ngài mới biết là ân đức của Thế Tôn là bất khả tư nghì, vô lượng, vô biên, vô số, vô tận.
Không có một cái lời gì, một hành động nào mà có thể cảm ơn hết được ân đức của Ngài. Cho nên các vị Thánh tăng là kính Phật tuyệt đối, khi chứng nhập dự lưu Thánh quả đầu tiên là tịnh tính đối với Đức Phật. Cho nên hết sức là sâu sắc, vào cái Thánh quả thứ nhất thì người này mới tin Phật tuyệt đối 100%. Tin pháp tuyệt đối, tin Tăng tuyệt đối và tin Thánh giới, thành tựu các cái giới. Đó gọi là 4 dự lưu phần, say này chúng ta sẽ học tới các bài kinh, nguyên 1 tập chuyên về chuyên đề dự lưu Thánh quả, 1 tập dày. Tại vì mình chưa cung kính Phật tuyệt đối, mình chưa có thành tựu được, mắt pháp mình chưa mở. Mình kính Phật là kính vậy thôi: “Con bây giờ con hết lòng tuyệt đối”, nhưng mà chưa, mình chưa thấy ngũ uẩn, chưa thấy lậu hoặc.
Cho nên cái kính của mình là cái kính còn trên tư tưởng thôi, chứ chưa thật sự mà kính tột cùng, kính tột cùng là từ nhất quả cho đến tứ Thánh quả. Trở về vấn đề ở đây mới nói là chúng ta đang giải thích là: Mình tu thành tựu, mình vẫn là Thánh đệ tử. Nhớ kỹ dùm con cái này, dù cho mình thành tựu Thánh quả cao nhất mình vẫn là Thánh đệ tử. Chứ không phải: “Tôi thành Phật”, mình nói như vậy la bất kính, mình chưa biết Phật là ai cho nên mình mới nói như vậy. Cái số 9 là chúng ta đang nói về cái dự lưa quả, “chỉ còn tái sanh tối đa là 7 lần giữa chư thiên và loài người. Không còn bị đọa trong các đường ác sanh tử như: Địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ.”
Chỗ này là có nhiều vấn đề để mình học lắm, con thưa như giờ chúng ta ngồi đây nè, mình có chắc chắn 100% là không đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh không? “Dạ không”. Đúng vậy, ai là người có thể sát quyết tuyên bố là tôi vĩnh viễn không còn đọa địa ngục, ngạ quỷ, xúc sanh? Một người nói A-la-hán, ai nói cái khác? Ai là người tuyên bố mình hoàn toàn chấm dứt địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, không bao giờ sanh đó? “Đức Phật Thích Ca Mâu Ni”, không trúng luôn. Nói như vậy là chưa hiểu Đức Phật, “tam quả”, chưa đúng. “Sơ quả Tu-đà-hoàn”, đúng rồi, cho 1 tràng pháp tay lớn đi.
Là vị có khả năng tuyên bố rằng: “Ta, hoàn toàn có khả năng đoạn tận địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh”. Nhiều nhất là 7 đời qua lại những cõi nhân thiên, để tẩy sạch những lậu hoặc nữa thôi. Nhiều nhất nha, ở đây còn có các bậc khác nữa. Thì có những vị còn 3 đời, còn 2 đời, còn 1 đời gọi là nhất lai. Nhưng mà trong kinh thường thường đưa ra là thất lai, nhất lai, nhưng mà có những vị là trở lại 2, 3 đời nữa. Chỗ này là chỗ quan trọng, thành ra mình ở đây chưa thành tựu Chánh tri kiến thì khả năng đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh còn rất rất là nhiều. Đừng có tưởng ngon nghe không, đừng có tưởng cạo cái đầu, đắp cái y lên là xong rồi ngen. Địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh còn ghê lắm, khiếp lắm.
Đức Phật lấy ngón tay rồi khơi dưới đất rồi nói: “Này các Tỳ-kheo, cái đất trong móng tay ta và đất của cả địa cầu cái nào nhiều hơn?” Các vị Tỳ-kheo thưa: “Dạ bạch Đức Thế Tôn, đất trong móng tay của Ngài làm sao mà so sánh, ví dụ, tính kể được. Đất địa cầu rất nhiều, rất nhiều, không thể nào so sánh được”. Đức Thế Tôn nói: “Này các Tỳ-kheo, con người chết rồi trở lại sanh làm người ít như đất trong móng tay của ta. Con người chết rồi rơi xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh nhiều cũng như đất của đại địa”. Cái này bảo đảm mấy thầy, mấy cô mới nghe. Lúc trước chỉ có nghe theo 1 cái chánh khác, người chết sanh lại làm người đó, nhiều cái ví dụ lắm, không phải 1 ví dụ đâu.
Ngài hốt sỏi lên bàn tay, Ngài nói người chết sanh làm người ít như sỏi trong bàn tay, mà chết sanh địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh là giống như núi chú Tu Vi, Himalaya, Tuyết sơn. Thành ra người chết mà sanh làm người là khó lắm, không phải dễ. Không đầy đủ năm giới 1 cách tương đối, là không có được sanh trở lại làm người đâu. Mình thấy mấy người giết cha giết mẹ, vợ chồng phân xác với nhau, chú cháu, anh chị em giết nhau, mấy cái đó là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh hết rồi đó. Ngay hiện tại làm người không được con người tự do nữa, mà phải đi vô tù. Cho nên cái sơ quả rất là quan trọng, để đọc bài kinh này cho quý thầy, cô nghe nha.
Bài kinh này có 1 nội dung là lợi đắc được 4 châu, không bằng Thánh quả dự lưu. Đây là bài kinh Tương Ưng Bộ, tập 5, bài kinh “Vua”.
“1-2) Sàvatthi. Ở đấy... nói như sau:
3) -- Dầu cho, này các Tỳ-kheo, một vị Chuyển luân vương làm chủ tể và cai trị bốn châu, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, thiên giới, thế giới này, cộng trú với chư Thiên ở cõi Ba mươi ba; tại đấy, vị ấy trú trong rừng Nandana, được chúng Thiên nữ đoanh vây, được đầy đủ, được cung cấp, được bao bọc năm thiên dục công đức, nhưng không được đầy đủ bốn pháp; tuy vậy, vị ấy chưa được giải thoát khỏi địa ngục, chưa được giải thoát khỏi sanh vào loài bàng sanh, chưa giải thoát khỏi ngạ quỷ, và chưa thoát khỏi ác sanh, ác thú, đọa xứ.
4) Nhưng này các Tỳ-kheo, vị Thánh đệ tử, dầu muốn sống bằng các miếng ăn khất thực, đắp với y nhiều tấm (nantakàni); vị ấy đầy đủ bốn pháp. Và vị ấy được giải thoát khỏi địa ngục, được giải thoát khỏi sanh vào loài bàng sanh, được giải thoát khỏi cõi ngạ quỷ, được giải thoát khỏi ác sanh, ác thú, đọa xứ. Thế nào là bốn?
5) Ở đây, này các Tỳ-kheo, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tin bất động đối với đức Phật: “Ðây bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.”
6) Vị ấy thành tựu lòng tin bất động đối với Pháp: “Pháp do Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.”
7) Vị ấy thành tựu lòng tin bất động đối với chúng Tăng: “Diệu hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Trực hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Ứng lý hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Chơn chánh hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám chúng. Chúng đệ tử của Thế Tôn là đáng cung kính, đáng cúng dường, đáng tôn trọng, đáng được chấp tay, là phước điền vô thượng ở đời.”
8) Vị ấy thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính, không bị phá hoại, không bị đâm cắt, không bị nhiễm ô, không bị uế nhiễm, đem lại giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp thủ, đưa đến Thiền định.
9) Vị ấy thành tựu bốn pháp này.
10) Và này các Tỳ-kheo, có sự lợi đắc của bốn châu và sự lợi đắc của bốn pháp. Sự lợi đắc bốn châu không đáng giá (agahati) một phần mười sáu lợi đắc bốn pháp.”
(Tương Ưng Bộ Kinh V, bài kinh Vua)
Bốn pháp đây là bốn dự lưu phần, thành tựu lòng tin bất động với Phật, pháp, Tăng và đầy đủ các giới. Đây gọi là bốn điều kiện, bốn yếu tố để mà thành tựu Thánh quả dự lưu thứ nhất. Mà người đầy đủ bốn cái này, thì con hơn cả cái ông thống lĩnh cả trái đất. Người mà thống lãnh cả quả địa cầu này, lợi đất không bằng 1/16, thì giống như mình nói bây giờ không bằng 1/100 của bậc Thánh quả dự lưu vậy đó. Thánh quả dự lưu là tin vào Phật, pháp, Tăng và đầy đủ các giới. Tin Phật là nãy giờ mình nói rồi đó, cho nên Thánh quả dự lưu là rất quan trọng. Mấy hôm nay hòa thượng pháp chủ cũng có nói cái đó, cái abfi mới vừa đăng lên, Thánh quả dự lưu là tuyệt đối quan trọng.
“Nếu hành giả dấn thân sâu hơn trong dòng pháp này, vượt qua cửa Chánh kiến, thành tựu các pháp chánh còn lại, làm giảm thiểu những tham và sân, hoặc diệt dục tham và sân. Hoặc diệt những tàn dư lậu hoặc, tùy theo mức độ tẩy sạch những rác bẩn, cấu uế trong tâm. Hành giả có thể thành tựu nhất lai quả, bất lai quả hay A-la-hán quả”. Tức là sau khi thành tưu Chánh kiến rồi, mình tiếp tục Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh định. Thành ra ở đây quan trọng, mình nói ở đây là 2 dị qủa thấp nhất thôi, tức là hướng dự lưu và nhập lưu, ở đây còn được gọi là sơ đạo hay là sơ quả cũng được.
Tại sao mà mình có cái tâm hướng muốn thoát ra khỏi ngũ uẩn, mình phải có đầy đủ cái trí về ngũ uẩn. Chúng ta có học 7 trí sắc, 7 trí hành, 7 trí thọ, 7 trí tưởng, 7 trí thức không trả bài coi, nhớ được cái gì nói cái nấy. Mình không có biết gì về ngũ uẩn hết, làm sao mà mình nhàm chán ngũ uẩn được. Cũng như mình không có cưới về làm chồng, làm sao mình chán, mình muốn li dị được. Mình ở chung mới biết tánh tình thằng này tối ngày ăn nhậu, nó đánh bành thây áo dũ hết trơn, thì mình mới chán, mình muốn li dị nó chứ. Mình phải hiểu nó, biết nó, sống chung với nó, thì mình mới chán nó, muốn bỏ nó.
Ai xung phong coi, trí tuệ về ngũ uẩn của mình từ hồi đầu năm học tới bây giờ, là 2 năm mấy rồi, không lẽ không nhớ cái gì hết trơn. Cái gì là sắc sanh, sắc diệt đạo, cái gì là vị ngọt, nguy hiểm và sự xuất ly. Ai nhớ xung phong, giơ tay lên, trí tuệ về ngũ uẩn của mình đâu. Sắc là cái gì? Tại sao sắc sanh, tại sao sắc diệt. Thọ là cái gì? Tại sao thọ sanh, tại sao thọ diệt. Bây giờ kiếm cái gì trong sách, trả lời tại sao có cảm thọ?
Giảng sinh 1:
“Dạ Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Kính bạch sư phụ cùng đại chúng, cảm thọ là do tưởng.”
Chưa trúng, tại sao có suy nghĩ? Rất là quan trọng, trí tuệ căn bane này không có nắm được làm sao biết ngũ uẩn, làm sao vận dụng tu tập, làm sao giảng dạy cho người ta. Hỡi các giảng sư tương lai của giáo hôi Phật giáo Việt Nam, đào tạo từ ban hoằng pháp trung ương. Sao bây giờ trả lời không biết được, cái này rất quan trọng. Tại sao trong tâm mình có hình bóng?
Giảng sinh 2:
“Dạ do sắc, năm căn tiếp xúc với năm trần sanh ra cái sắc, hình bóng trong tâm. Định nghĩa thân người là sắc, cảnh vật là sắc, những thứ gì thấy được, sờ nắm trên đời này, được duyên xúc giữa con mắt với hình ảnh ở ngoài và nó lưu lại bên trong. Và những hình bóng đó được nhớ lại, hoặc khi ta ngồi 1 mình, ta muốn Chánh niệm mà lại có hình bóng.
Thầy: Bây giờ nói ngắn gọn thôi, tại sao có hình bóng trong tâm.
Dạ do sắc con mắt tiếp xúc, sanh ra xúc, xúc sanh ra thọ, những cảm thọ dễ chịu, khó chịu hoặc là không dễ chịu không khó chịu.
Thầy: Không cần nói nhiều, tại sao có suy nghĩ.
Dạ có suy nghĩ là do cái tưởng về hình bóng trong tâm hiện khởi.”
Coi bài lại, cái này rất quan trọng mà quên hết trơn rồi. Làm sao học tiếp mấy cái cao thâm được, mấy cái căn bản không có nhớ. Tại sao mình có cảm thọ, cảm giác? Mười lăm phút ra chơi nhớ lại tất cả bài, coi lại từ đầu mình học cái gì. Mình phải có trí tuệ về năm uẩn, không có trí tuệ về năm uẩn làm sao mình tu tập, nhiếp phục được năm uẩn. Cái này pháp hành mà, là phải thực hành, phải thực tập. Mà không thực tập là nói trật hết trơn, mình có mở sách trước mặt mình cũng nói trật lất nữa. Tại vì nói trúng là trúng chữ thôi, mà nói tới thực hành là mình nói trật, 15 phút làm việc tích cực. Sau 15 phút vô là bắt đầu mình ra chiến trận, kiểm tra lại hết trí về năm uẩn.