NGHIỆP 14- Nghiệp Quả Không Mất
NGHIỆP 14 – NGHIỆP QUẢ KHÔNG MẤT
THÍCH MINH THÀNH
Con xin tôn kính Tăng, tôn kính đời giới đức, nguyện thành tựu giới đức. Bạch Thế Tôn, đối với chúng con các pháp lấy Thế Tôn là căn bản, lấy Thế Tôn làm lãnh đạo, lấy Thế Tôn làm chỗ nương tựa. Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy nói cho chúng con ý nghĩa của lời dạy ấy, sau khi nghe lời dạy của Thế Tôn, chúng con sẽ thọ trì.
Vậy này đại chúng, hãy nghe và suy nghiệp kĩ, Ta sẽ giảng.
Thưa vâng, bạch Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau.
Có năm sự kiện này, này các Tỳ-kheo, cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia. Thế nào là năm?
"Ta phải bị già, không thoát khỏi già" là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia. "Ta phải bị bệnh, không thoát khỏi bệnh" là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia. "Ta phải bị chết, không thoát khỏi chết" là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia. "Tất cả pháp khả ái, khả ý đối với ta sẽ phải đổi khác, sẽ phải biến diệt", là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia. "Ta là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Phàm nghiệp nào ta sẽ làm thiện hay ác, ta sẽ thừa tự nghiệp ấy" là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia. Và do duyên lợi ích như thế nào, này các Tỳ-kheo, "Ta phải bị già, không thoát khỏi già", là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia (Tăng Chi Bộ Kinh, Chương V. Năm Pháp, VI. Phẩm Triền Cái, (VII) (57) Sự Kiện Cần Phải Quan Sát).
Chúng con kính lễ Đức Phật.
Này các Tỳ-kheo, có bốn pháp này cần phải chứng ngộ. Thế nào là bốn?
Này các Tỳ-kheo, có pháp cần phải chứng ngộ bằng thân; có pháp, này các Tỳ-kheo, cần phải chứng ngộ bằng niệm; có pháp, này các Tỳ-kheo, cần phải chứng ngộ bằng mắt; có pháp, này các Tỳ-kheo, cần phải chứng ngộ bằng trí tuệ.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là các pháp cần phải chứng ngộ bằng thân? Tám giải thoát, này các Tỳ-kheo, cần phải chứng ngộ bằng thân.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là các pháp cần phải chứng ngộ bằng niệm? Ðời sống trước, này các Tỳ-kheo, cần phải chứng ngộ bằng niệm.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là các pháp cần phải chứng ngộ bằng con mắt? Sanh tử của chúng sanh, này các Tỳ-kheo, cần phải chứng ngộ bằng con mắt.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là các pháp cần phải chứng ngộ bằng trí tuệ? Sự đoạn diệt các lậu hoặc, này các Tỳ-kheo, cần phải chứng ngộ bằng trí tuệ.
Này các Tỳ-kheo, có bốn pháp này cần phải chứng ngộ (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, XIX. Phẩm Chiến Sĩ, (IX) (189) Chứng Ngộ).
Chúng con kính lễ Đức Phật Bổn sư.
Sắc ví với đống bọt,
Thọ ví bong bóng nước,
Tưởng ví ráng mặt trời,
Hành ví với cây chuối,
Thức ví với ảo thuật,
Ðấng bà con mặt trời,
Ðã thuyết giảng như vậy.
Nếu như vậy chuyên chú,
Như lý chơn quán sát,
Như lý nhìn các pháp,
Hiện rõ tánh trống không.
Bắt đầu với thân này,
Bậc Ðại Tuệ thuyết giảng,
Ðoạn tận cả ba pháp,
Thấy sắc bị quăng bỏ.
Thân bị quăng, vô tri,
Không thọ, sức nóng, thức,
Bị quăng đi, nó nằm,
Làm đồ ăn kẻ khác.
Cái thân liên tục này,
Ảo sư, kẻ ngu nói,
Ðược gọi kẻ sát nhân,
Không tìm thấy lõi cây.
Hãy quán uẩn như vậy,
Vị Tỳ-kheo tinh cần,
Suốt cả đêm lẫn ngày,
Tỉnh giác, chánh tư niệm.
Hãy bỏ mọi kiết sử,
Làm chỗ mình nương tựa,
Sống như lửa cháy đầu,
Cầu chứng cảnh bất động (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (f), V. Phẩm Hoa, III. Bọt Nước).
Ai sống trước buông lung,
Sau sống không phóng dật,
Chói sáng rực đời này.
Như trăng thoát mây che. (Kinh Pháp Cú 13 – Phẩm Thế Gian, kệ 172)
Ai dùng các hạnh lành,
Làm xóa mờ nghiệp ác,
Chói sáng rực đời này,
Như trăng thoát mây che. (Kinh Pháp Cú 13 – Phẩm Thế Gian, kệ 173)
Nỗ lực, chớ phóng dật!
Hãy sống theo chánh hạnh;
Người chánh hạnh hưởng lạc,
Cả đời này, đời sau. (Kinh Pháp Cú 13 – Phẩm Thế Gian, kệ 168)
Chúng con kính lễ Đức Phật Bổn sư Thích-ca Mâu-ni.
Này Ananda, với ai, Thầy có lòng từ mẫn, và với những ai, Thầy nghĩ là nên nghe theo, các bạn bè, thân hữu, bà con hay cùng một huyết thống. Với những người ấy, này Ananda, Thầy cần phải khích lệ, cần phải hướng dẫn, cần phải an trú trong ba điểm. Thế nào là ba?
Hãy khích lệ, hướng dẫn và an trú vào tịnh tín bất động đối với Ðức Phật: "Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn". Hãy khích lệ, hướng dẫn và an trú vào tịnh tín bất động đối với pháp: "Pháp được Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu". Hãy khích lệ, hướng dẫn và an trú vào tịnh tín bất động đối với chúng Tăng: "Diệu hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, Trực hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, Ứng lý hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, Chơn chánh hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám chúng. Chúng đệ tử của Thế Tôn là đáng cung kính, đáng được cúng dường, đáng tôn trọng, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng ở đời".
Dầu cho bốn đại chúng có đổi khác, này Ananda, địa đại, thủy đại. hỏa đại, phong đại, nhưng vị thánh đệ tử thành tựu tịnh tín bất động đối với Phật không có đổi khác. Ở đây, đổi khác là như thế này: Vị Thánh đệ tử ấy, này Ananda, thành tựu tịnh tín bất động đối với đức Phật, sẽ sanh vào địa ngục, loại bàng sanh hay cõi ngạ quỷ. Sự kiện này không xảy ra.
Dầu cho bốn đại chúng có đổi khác, này Ananda, địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại, nhưng vị thánh đệ tử thành tựu tịnh tín bất động đối với Pháp không có đổi khác. Ở đây, đổi khác là như thế này: Vị Thánh đệ tử ấy, này Ananda, thành tựu tịnh tín bất động đối với Pháp, sẽ sanh vào địa ngục, loại bàng sanh hay cõi ngạ quỷ. Sự kiện này không xảy ra.
Dầu cho bốn đại chúng có đổi khác, này Ananda, địa đại, thủy đại,hỏa đại, phong đại, nhưng vị thánh đệ tử thành tựu tịnh tín bất động đối với chúng Tăng không có đổi khác. Ở đây, đổi khác là như thế này: Vị Thánh đệ tử ấy, này Ananda, thành tựu tịnh tín bất động đối với chúng Tăng, sẽ sanh vào địa ngục, loại bàng sanh hay cõi ngạ quỷ. Sự kiện này không xảy ra.
Này Ananda, với ai Thầy có lòng từ mẫn, và với những ai Thầy nghĩ là nên nghe theo, các bạn bè, thân hữu, bà con hay cùng một huyết thống. Với những người ấy, này Ananda, Thầy cần phải khích lệ, cần phải hướng dẫn, cần phải an trú trong ba điểm (Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, VIII. Phẩm Ananda, 75.- Cần Phải Khích Lệ).
Chúng con kính lễ bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Đệ tử chúng con xin nguyện từ bỏ tham ái ở đời, sống với tâm thoát ly tham ái, sẽ gột rửa hết tâm tham ái. Chúng con nguyện sẽ từ bỏ sân hận, sống với tâm không sân hận, lòng từ mẫn thương xót tất cả chúng hữu tình sẽ gột rửa tâm hết sân hận. Chúng con nguyện sẽ từ bỏ hôn trầm thùy miên, sống thoát ly hôn trâm thùy miên với tâm tưởng hướng về ánh sáng, chánh niệm tỉnh giác sẽ gột rửa tâm hết hôn trầm thùy miên. Chúng con nguyện sẽ từ bỏ trạo cử hối tiếc, sống không trạo cử, nội tâm trầm lặng sẽ gột rửa tâm hết trạo cử hối tiếc. Chúng con nguyện sẽ từ bỏ nghi ngờ, sống thoát khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự sẽ gột rửa tâm hết nghi ngờ đối với các thiện pháp.
Lòng tin ở đời này là tài sản tối thượng, chánh pháp khéo tu trì đưa đến…. (17:30 - 17:49 mất tiếng)
Mạng sống bị dắt dẫn,
Tuổi thọ chẳng là bao,
Bị dẫn đến già nua,
Không có nơi dừng bước.
Ai đem tâm quán tưởng,
Sợ hãi tử vong này,
Hãy làm các công đức,
Ðưa đến chơn an lạc.
Thế Tôn:Mạng sống bị dắt dẫn,
Tuổi thọ chẳng là bao,
Bị dẫn đến già nua,
Không có nơi dừng bước.
Ai đem tâm quán tưởng,
Sợ hãi tử vong này,
Hãy bỏ mọi thế lợi,
Tâm hướng cầu tịch tịnh.
(Tương Ưng Bộ, Tập I – Thiên Có Kệ, Chương I. Tương Ưng Chư Thiên, I. Phẩm Cây lau, III. Ðưa Ðến Ðoạn Tận).
Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Tôn giả Gotama như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thế thấy sắc.
Cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Vậy nay con xin quy y Thế Tôn Gotama, quy y Pháp và quy y Tỳ-kheo Tăng. Mong cho con được xuất gia với Tôn giả Gotama, cho con được thọ đại giới. (Tương Ưng Bộ, Tập I. Thiên Có Kệ, Chương VII. Tương Ưng Bà La Môn, I. Phẩm A-la-hán Thứ Nhất, I. Dhananjàni).
Cảm giác cơ thể, cảm giác toàn thân, rõ biết trước mặt, nội tâm tỉnh giác. Phản phất đâu đây hình bóng của Đức Thế Tôn và hàng thánh chúng tại Trúc Lâm Tinh Xá, vang vọng đâu đây pháp âm tối thượng của Đức Như Lai. Đại chúng được quây quần bên Đức Thế Tôn, được sự giáo hóa trực tiếp của Ngài trong vườn trúc, tất cả chúng ta đang đi theo con đường của Ngài, ta được nghe lời dạy nguyên chất từ xưa. Chúng ta đang tái hiện Trúc Lâm Tinh Xá, chúng ta nguyện sẽ đi theo con đường chân chánh của Như Lai để cảm nhận thật sâu sắc khoảnh khắc này. Chúng ta đang trở về Trúc Lâm Tinh Xá, chúng ta đang ở rất gần những bậc đa văn thánh đệ tử, chúng ta được tắm mình trong bầu không gian thánh trí thánh pháp và thánh đạo.
Chưa bao giờ chúng ta chứng kiến cảnh đau thương trên toàn thế giới như lúc này. Chưa bao giờ chúng ta chứng kiến cảnh chết chóc hàng trăm ngàn người. Chưa bao giờ trong cuộc đời chúng ta chứng kiến cảnh thế giới vắng vẻ, trống rỗng như hiện nay. Chưa bao giờ chúng ta chứng kiến cảnh lo lắng, sợ hãi tràn ngập khắp hành tinh với hơn 200 quốc gia. Đây là thời gian, là cơ hội để chúng ta quán chiếu thật sâu sắc về nghiệp quả, nhân quả, về quả báo của ác nghiệp. Minh Thành muốn gửi đến đại chúng trong kì tu tập lần này sự quán chiếu sợ hãi ác nghiệp, chúng ta phải hết sức soi xét và thường trực, thường xuyên để tâm để nhìn lại những suy nghĩ, những nghĩ tưởng trong thân tâm của mình. Cẩn thận với nghiệp quả, thời gian mới đây đã đi được nửa khóa tu, nhớ năm nào người ta lo lắng đến năm 2000 thì chỉ một cái chớp mắt đã đến năm 2020. Thời gian trôi qua mau, con người sẽ già và cuối cùng chấm dứt trong sự tử vong, tất cả đi qua hết nhưng nghiệp quả vẫn còn. Ác nghiệp mà chúng ta đã tạo, những bất thiện nghiệp mà chúng ta đã gây sẽ đeo bám chúng ta trong trăm ngàn vạn kiếp, đây là chỗ quan trọng cho chúng ta thực tập, phải biết sợ hãi và hãy cẩn thận đối với nghiệp quả. Phải luôn kiểm tra, kiểm điểm những ý nghĩ, ngôn ngữ, hành động trong sinh hoạt thường nhật, không phải chỉ tu với thời khóa trước bàn Phật mà trong tất cả mọi suy nghĩ, lời nói, hành động đều phải được soi xét, kiểm xét và chọn lựa thật kĩ lưỡng, nếu không thì hậu quả thật khôn lường.
Nói có 1 câu mà người ta giận 3 năm, thậm chí là 10 năm, đó là dư âm của nghiệp quả. Câu nói mình nói xong là gió thổi mây bay nhưng cái cảm thọ, cảm giác trong lòng người nghe không mất và hậu quả của câu nói đó là không thể tưởng tượng được. Sau câu nói, hành động đó là sự trả đũa, chống đối, thù hận trong 5-10 năm thì câu nói đó gây đau khổ đến cỡ nào. Người nói câu đó khổ và người phải nhận câu nói đó sống trong oán hận, đó là dư âm của nghiệp quả. Đức Phật nói rằng:
Ta tuyên bố rằng, này các Tỳ-kheo, các nghiệp đã tư niệm, đã làm, đã tích tập, nếu không cảm thọ (kết quả) thời không có chấm dứt, dầu kết quả ấy sanh khởi ngay trong đời hiện tại hay trong đời sau. Ta tuyên bố rằng, này các Tỳ-kheo, các nghiệp đã tư niệm, đã làm, đã tích tập, nếu không cảm thọ (kết quả), thời khổ không có thể chấm dứt được.
Ở đây, này các Tỳ-kheo, ba phần là lầm lỗi, phạm tội của thân nghiệp đã bất thiện tư niệm, dẫn đến khổ, đưa đến khổ dị thục. Bốn phần là lầm lỗi, phạm tội của ngữ nghiệp, đã bất thiện tư niệm, dẫn đến khổ, đưa đến khổ dị thục. Ba phần là lầm lỗi, phạm tội của ý nghiệp, đã bất thiện tư niệm, dẫn đến khổ, đưa đến khổ dị thục.
Ví như, này các Tỳ-kheo, một hòn ngọc ma ni viên mãn, được quăng lên và rơi xuống chỗ nào, tại chỗ ấy nó khéo an lập. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, do nhân bất thiện tư niệm, lầm lỗi phạm tội của thân nghiệp có ba phần, các chúng sanh, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. (Tăng Chi Bộ, Chương X – Mười Pháp, XIII. Phẩm Thanh Tịnh, (VII) (206) Ngọc Ma-Ni).
Ngược lại:
Ở đây, này các Tỳ-kheo, ba phần là thành đạt của thân nghiệp đã thiện tư niệm, dẫn đến lạc, đưa đến lạc dị thục, bốn phần là thành đạt của ngữ nghiệp đã thiện tư niệm, dẫn đến lạc, đưa đến lạc dị thục, ba phần là thành đạt của ý nghiệp đã thiện tư niệm, dẫn đến lạc, đưa đến lạc dị thục.
Các chúng sanh sau khi thân hoại mạng chung, được sanh thiện thú, Thiên giới, cõi đời này.
Này các Tỳ-kheo, Ta tuyên bố rằng các nghiệp đã tư niệm, đã làm, đã tích tập, nếu chưa lãnh thọ (kết quả) thời không chấm dứt, dầu cho quả ấy thuộc đời hiện tại, hay trong đời sau, và này các Tỳ-kheo, Ta tuyên bố rằng các nghiệp đã tư niệm, đã được làm, đã được tích tập, nếu chưa lãnh thọ (kết quả) thời khổ không được chấm dứt. (Tăng Chi Bộ, Chương X – Mười Pháp, XIII. Phẩm Thanh Tịnh, (VII) (206) Ngọc Ma-Ni).
Chỗ này chúng ta phải chiêm nghiệm thật kĩ, thật sâu sắc về nghiệp báo mà Đức Phật dã dạy. Phải nhớ rằng nếu không cảm thọ kết quả thì khổ không được chấm dứt, những cái mình đã làm nếu mình không cảm thọ kết quả thì không thể nào chấm dứt, phải đi đến kết quả dù cho đời này, đời sau, hay nhiều đời sau nữa, có khi hành động mình đã làm gây cái khổ đến 500 đời sau, hoặc là hưởng phước tới hàng ngàn kiếp sau. Nhưng phải hưởng hết rồi mới chấm dứt, còn nếu chưa trả hết nghiệp thì chưa chấm dứt. Ví dụ như mình chọc giận ai đó, khi nào họ hết giận thì lúc đó cái tâm của mình mới được trở lại bình thường, cái tâm của người đó cũng trở lại bình thường. Khi nào cảm thọ kết quả thì lúc đó cái nghiệp mới chấm dứt, kết thúc, thành ra không một ai có thể trốn tránh được nghiệp. Vào trong rừng, lên núi hay xuống biển, đi vào trong hang động cũng không thể trốn được ác nghiệp, vì vậy phải nhớ thời gian trôi qua, năm tháng đi qua, thọ mạng của mình sẽ hết nhưng nghiệp vẫn còn. Đây là chỗ hết sức quan trọng để mình biết lo sợ và cẩn thận. Trong đại chúng này chúng ta có thể nhìn thấy sự sai biệt và dị thục của nghiệp, có người đẹp người xấu, có người giàu người nghèo, có người lành lặn có người bị dị tật. Đó là sự sai biệt của nghiệp, sự sai biệt của những suy nghĩ, ngôn ngữ và hành động trong quá khứ và nó biểu hiện ra thân tướng, tâm thức, thọ; tưởng; hành; thức trong hiện tại khác nhau. Minh Thành đã chứng kiến nhiều nghiệp quả, có người bị giựt nợ đến khóc với Minh Thành, có người bị thất tình, đau khổ muốn tự vẫn cũng đến chia sẻ với con, có người lại có tâm ái luyến sâu nặng vô cùng, muốn tu mà tu không được. Tất cả những cái đó, trăm ngàn vạn thứ sai biệt như đui, điếc, câm, ngọng, quỳ, chột, khùng điên, bệnh nan y thì đều là quả dị thục của nghiệp. Không phải khùng 1 kiếp, có khi khùng liên tục 500 đời, đều bị thần kinh. Ác nghiệp nó khủng khiếp như vậy đó, cho nên phải quán chiếu và cẩn thận với những suy nghĩ, ngôn ngữ, hành động.
Đức Phật ví dụ quăng viên ngọc Ma-Ni lên, khi nó rớt xuống chỗ nào thì nó nằm yên chỗ đó, những tư niệm, suy nghĩ đưa đến khổ, đưa đến dị thục. Dị là biến dị, làm cho thay đổi, Thục là cái nghiệp từ từ đi đến chỗ chín muồi. Có vị Tỳ-kheo Kokalika vu khống cho ngài Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên thì hậu quả là khủng khiếp.
Bạch Thế Tôn, dầu Thế Tôn đáng tin tưởng, rất đáng tin cậy; nhưng Sàriputta và Moggallàna là hạng ác dục. Họ bị ác dục chi phối. (Tương Ưng Bộ, Tập I. Thiên Có Kệ, Chương VI. Tương Ưng Phạm Thiên, I. Phẩm Thứ Nhất, X. Kokàlika).
Ba lần Kokalika công kích, ba lần đức Thế Tôn cải chính.
Rồi Bích-chi Phạm thiên Tudu khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Tỳ-kheo Kokàlika.
Sau khi đến, vị ấy đứng trên hư không, và nói với Tỳ-kheo Kokàlika:
-- Này Kokàlika, hãy đặt tin tưởng vào Sàriputta và Moggallàna. Sàriputta và Moggallàna thật là hòa nhã.
Ông là ai, này Hiền giả?
-- Ta là Bích-chi Phạm thiên Tudu.
-- Này Hiền giả, phải chăng Ông đã được Thế Tôn nói là đã chứng quả Bất lai. Vậy Ông đến ở đời này làm gì? Ông có thấy lỗi lầm của Ông như thế nào? (Tương Ưng Bộ, Tập I. Thiên Có Kệ, Chương VI. Tương Ưng Phạm Thiên, I. Phẩm Thứ Nhất, IX. Tudubrahmà).
Đức Phật khuyên bảo cũng không nghe, người bạn của Kokàlika đã chứng thánh quả thứ 3 Bất lai là Phạm thiên Tudu khuyên cũng không nghe, vị thầy này vẫn giữ tâm niệm ác đó.
Tỳ-kheo Kokàlika ra đi không được bao lâu, toàn thân mọc lên những mụt nhọt lớn bằng hột cải. Từ hột cải, chúng lớn lên bằng hột đậu xanh (mugga). Từ hột đậu xanh, chúng lớn lên bằng hột đậu lớn (kalàya). Từ hột đậu lớn, chúng lớn lên bằng rolatthi (hột cây jujube, cây táo). Từ hột rolatthi, chúng lớn lên bằng hột kolama. Từ hột kolama, chúng lớn lên bằng hột amala (a-ma-la quả). Từ quả amala, chúng lớn lên bằng quả beluva chưa chín. Từ quả beluva chưa chín, chúng lớn lên bằng quả billa. Từ hình lớn bằng quả billa, chúng nứt vỡ ra, chảy máu và mủ.
Rồi Tỳ-kheo Kokàlika do bệnh này bị mệnh chung. Bị mệnh chung, Tỳ-kheo Kokàlika sanh trong địa ngục Sen hồng, với tâm hận thù đối với Tôn giả Sàriputta và Moggallàna. (Tương Ưng Bộ, Tập I. Thiên Có Kệ, Chương VI. Tương Ưng Phạm Thiên, I. Phẩm Thứ Nhất, X. Kokàlika).
Khi vị này nổi những mụt này lên rồi vỡ ra chảy máu thì đây là quả báo ngay trong hiện tại, còn quả dị thục là nó làm thay đổi và chín muồi trong địa ngục. Khi mình nói nặng lời với người ta, nói lời ác nên họ sân hận lên thì họ khổ, mình cũng bị nói lại chứ họ không để yên thành ra ngay đó mình cũng khổ. Đó mới là khổ trong hiện tại, nhưng vẫn chưa hết mà còn quả dị thục của lời nói nặng này. Thành ra dư âm của nghiệp quả là không thể tưởng tượng được, thiện pháp phước báu cũng giống như vậy, làm một việc thiện mà được quả báo tốt gấp ngàn vạn lần. Chính vì vậy từ cảnh giới thấp nhất của địa ngục mà lên tới cảnh giới tha hóa tự tại, tam thập tam thiên cho tới Dạ Ma Thiên, Đâu Suất Thiên, Sắc Cứu Cánh Thiên được phân lập ra Tam Giới là từ cái nghiệp này, từ nghiệp mà biểu hiện ra thân tướng của mình, biểu hiện ra những cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức của mình, từ nghiệp mà biểu hiện ra các hành tinh thái dương hệ, mười ngàn thế giới. Khi Đức Phật chứng ngộ là rung chuyển hết mười ngàn thế giới, chấn động các chư Thiên ở các tầng trời đều báo lên "Sa-môn Gotama đã thành tựu Chánh Đẳng Chánh Giác", từ cung trời Tứ Đại Thiên Vương lên tới Dạ Ma Thiên, Đâu Suất Đà Thiên, Tha Hóa Tự Tại Thiên, lên tất cả các tầng trời, vang dội mười ngàn thế giới khi Bồ Tát thành tựu Chánh Đẳng Chánh Giác. Như vậy có vô lượng thế giới sai biệt nên hãy chọn nghiệp an lành, từ nơi ngôn ngữ, suy nghĩ, hành động của chúng sanh mà biểu hiện ra các đẳng cấp của thế giới, sai biệt của các hành tinh. Hiện tại bây giờ chúng ta ngồi đây là do nghiệp thiện của chúng ta biểu hiện ra cảnh giới như vậy, không khí như vậy, tái hiện Trúc Lâm Tinh Xá như vậy, chúng ta được nghe thiện pháp như vậy, dù trong thân có người đau nhức, ho hen. Hiện tại giờ phút này có những bà cụ già bằng tuổi mình đang bán vé số hay đi nhặt phế liệu, có người bằng tuổi mình đang nằm trong bệnh viện, nằm ngoài vỉa hè bị con cháu bỏ rơi, có những người đang đói lạnh cơ hàn cũng bằng tuổi mình, sanh ly tử biệt, nhiễm dịch bệnh, ung thư, cả cha lẫn mẹ đều mất vì tai nạn giao thông để lại 4-5 đứa con nhỏ đội khăn tang trắng xóa trên đầu, trong ngay giờ phút này là người chết la liệt đầy đường vì bệnh viện quá tải, nằm ngoài hành lang lạnh lẽo rồi chết tại đó. Đó là sự sai biệt của nghiệp.
Thật là khủng khiếp quả báo của ác nghiệp!
Chúng ta chỉ đang nói trong loài người thôi chứ chưa nói đến thế giới khác, quán về nghiệp quả để mình biết trân trọng cuộc sống này mà sống không buông lung phóng dật, sống không vô trách nhiệm. Sống trong sự lãng quên, ngu si, vô minh, ngược lại sống trong sự tỉnh thức trí tuệ để nhìn thấy được sự sai biệt, dị thục, biến đổi của tất cả nghiệp trên thế giới này, dù mình chưa đi đến chỗ diệt tận các nghiệp nhưng ít nhất nghiệp trắng cũng phải nhiều hơn nghiệp đen.
Này các Tỳ-kheo, con đường phải chết này ở giữa những tư tưởng. Vị ấy rõ biết như sau: "Phàm ác nghiệp nào do ta làm từ trước với cái thân do nghiệp làm ra này, tất cả cần phải cảm thọ ở đây, nó không thể theo ta và được hiện hữu về sau". (Tăng Chi Bộ, Chương X – Mười Pháp, XXI. Phẩm Thân Do Nghiệp Sanh, (IX) (208) Phạm Thiên Trú)
Tư Tưởng là hành uẩn, mình phải hiểu trong đây cũng có thọ và thức. Nhưng nói cho dễ hiểu, dễ nắm bắt là tất cả chúng sanh chết trong suy nghĩ vì suy nghĩ của mình là suy nghĩ trong vô minh, nếu không học thánh trí năm uẩn, không nghe thánh pháp, không đi trên thánh đạo thì tất cả suy nghĩ của mình đều ở trong vô minh, bất thiện, chỉ biết nghĩ cho "tôi" và "của tôi". Mình không biết được nhân quả, nghiệp báo, mình không biết được tính chất vô thường, duyên sanh, vô ngã, nghiệp quả dị thục, mình không biết phân biệt được chánh-tà, thiện-ác, mình không thấy được thế nào là chánh kiến hữu lậu và chánh kiến vô lậu. Cho nên tất cả suy nghĩ này sẽ giết chúng sanh. Tại sao có người đi trộm cắp? Tại sao lại giết người? Tại sao lại đánh ghen bằng cách tạt Axit? Tại sao mẹ con lại không nhìn mặt nhau, anh chị em ruột như nước với lửa? Chính là từ cái hành uẩn ác độc này.
Người ấy không như thật biết rõ: "Sắc là kẻ giết người"; "Thọ là kẻ giết người"... "Tưởng là kẻ giết người"... "Các hành là kẻ giết người"... "Thức là kẻ giết người", người ấy không như thật biết rõ: "Thức là kẻ giết người". (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (e), IV. Phẩm Trưởng Lão, I. Ananda).
Chúng ta bị ngũ uẩn giết chúng ta, cứ sanh tử trong vô lượng vô biên, vô tận kiếp, không có ngày kết thúc nếu không gặp được thánh pháp, thánh đạo. Suy nghĩ đó là kẻ giết người, dù cho mình có biết thánh pháp nhưng coi chừng nó cũng giết mình như thường nếu chưa vào Dự lưu và có khả năng bị thối đọa. Thành ra chưa vào Dự lưu, chưa thành tựu tịnh tính bất động đối với Phật, Pháp, Tăng và thánh giới là mình vẫn còn trong phạm trù của bất an, nguy hiểm và tai họa, khi nào mình thể nhập Dự lưu rồi thì mới an toàn, chưa vào Dự lưu thì phải lo sợ chứ không phải mình nghĩ rằng đã biết được thánh pháp, đã biết ngũ uẩn còn những người kia không biết thì mình hay, giỏi thì bất cứ lúc nào mình cũng có thể bị thối đọa. Phải thể nhập được thánh trí huệ, phá được thân kiến thì mới được bình an. Bất cứ lúc nào suy nghĩ của mình cũng nghĩ đây không phải là tôi, không phải của tôi, bất cứ lúc nào suy nghĩ về mình đều thấy đây là tứ đại, ngũ uẩn, đây không phải là tôi, không phải của tôi, đây chỉ là cái đống vô thường, khổ não, duyên sanh, là đống tan hoại, tan vỡ thì đó là hướng Dự lưu, Nhập lưu. Còn nếu không là tư tưởng này giết người, tàn phá mình. Suy nghĩ mà để sanh ra sân hận, bản ngã thì nghĩ làm gì? Mỗi khi suy nghĩ mà sân hận, ham muốn, bản ngã sanh khởi thì tác ý "mày đừng nghĩ gì nữa. Hãy tan biến, chấm dứt đi đồ ngu si. Không đi theo suy nghĩ này nữa" để mình phá tan hành uẩn này. Nếu mình còn chấp nhận, nuôi dưỡng, tăng trưởng những suy nghĩ tham sân si, bản ngã thì đó là giết người.
Này các Tỳ-kheo, con người phải chết này ở giữa những tư tưởng. Vị ấy rõ biết như sau: "Phàm ác nghiệp nào do ta làm từ trước với cái thân do nghiệp làm ra này, tất cả cần phải cảm thọ ở đây, nó không thể theo và được hiện hữu về sau" (Tăng Chi Bộ, Chương X – Mười Pháp, XXI. Phẩm Thân Do Nghiệp Sanh, (IX) (208) Phạm Thiên Trú).
Chỗ này Đức Phật đã nói rõ ý nghiệp rất quan trọng, ngoại đạo chủ trương về nghiệp là thân phạt, khẩu phạt, họ hành xác. Tới bây giờ cũng còn những người lấy sự tu là sự hành xác cơ thể họ, lấy cái đó làm sở đắc. Đức Phật nói quan trọng là ý nghiệp mà ý nghiệp là tư tưởng, nói cho đầy đủ là thọ; tưởng; hành; thức. Cái thân này là kết quả của nghiệp, nhìn vào gương phản chiếu gương mặt như thế nào thì mình biết cái tâm như thế đó. Cái tâm phước đức, nhân hậu sẽ biểu hiện ra cái mặt có nét hiền từ. Cái tâm đầy rẫy sân hận nhìn mặt giống tướng cướp. Cái tâm từ bi sẽ biểu hiện trên gương mặt hiền hòa. Cái mặt mình sẽ biểu hiện ra nghiệp.
Ngài Angulimāla hay còn được biết đến với cái tên Ngài Vô Não. Vốn là một người sinh ra bản tính lương thiện, thông minh, nhưng theo học một ông thầy ghen ghét với tài năng của mình, xúi Angulimāla phải thu tập được 1000 ngón tay út thì mới cho theo học các phép thần thông. Nghe lời thầy, Angulimāla trở thành tướng cướp dã man tàn bạo nhất thời bấy giờ.
Lúc bấy giờ, trong lãnh thổ của quốc vương Pasenadi (Ba-tư-nặc), nước Kosala, có tên cướp Angulimala một thợ săn, tay vấy máu, sát hại, bạo tàn, không có lòng từ mẫn đối với chúng sanh.
Một lần đức Phật quán chiếu thấy Angulimāla là người có thể hóa độ được. Ngài bèn vào rừng, mặc cho lời can ngăn của các đệ tử và dân làng lo lắng cho ngài.
"Thưa Sa-môn, chớ có đi trên con đường này. Thưa Sa-môn, trên con đường này có tên cướp Angulimala, là một thợ săn, tay vấy máu, sát hại, bạo tàn, không có lòng từ mẫn đối với chúng sanh. Vì nó, các làng trở thành không làng, các thị trấn trở thành không thị trấn, các quốc độ trở thành không quốc độ. Do nó luôn luôn giết người, nó mang một vòng hoa làm bằng ngón tay người. Thưa Sa-môn, trên đường này, có mười người, hai mươi người, ba mươi người, bốn mươi người tụ họp lại, tụ họp lại rồi cùng đi. Tuy vậy, họ vẫn rơi vào tay của tên cướp Angulimala".
Lần thứ hai, các người chăn bò, các người chăn thú, các người làm ruộng, các người đi đường bạch Thế Tôn: "Thưa Sa-môn, chớ có đi con đường ấy... rơi vào tay của tên cướp Angulimala". Lần thứ hai, Thế Tôn giữ im lặng, vẫn tiếp tục đi.
Lần thứ ba, các người chăn bò, các người chăn thú, các người làm ruộng, các người đi đường bạch Thế Tôn: "Thưa Sa-môn, chớ có đi con đường ấy... rơi vào tay của tên cướp Angulimala". Thế Tôn giữ im lặng, vẫn tiếp tục đi. (Trung Bộ Kinh, 86. Kinh Angulimàla)
Chính đức vua đã nghe được việc giết hại của Angulimala và ra lệnh bắt y. Mẹ của Angulimāla biết được ý định của vua, bà đi vào trong rừng với những nỗ lực tuyệt vọng để cứu con của bà. Lúc ấy, vòng đeo cổ của Angulimala thiếu một ngón là đủ 1000. Đức Phật biết được điều này nên nỗ lực ngăn cản người mẹ đến với con bà và nghĩ rằng nếu Ngài không can thiệp thì Angulimala đang tìm người cuối cùng để làm cho đủ số 1000 sẽ gặp mẹ mình và y có thể giết bà. Vì lòng từ mẫn Đức Phật đã đi đến khi rừng. Tướp cướp Angulimāla từ trong chỗ ẩn nấp vung dao tấn công Đức Phật, bắt Đức Phật dừng lại. Nhưng lạ thay, Angulimāla không thể nào đuổi kịp Đức Phật cho dù Ngài vẫn đi bộ thanh thản, điềm tĩnh.
-- Hãy đứng lại, Sa-môn! Hãy đứng lại, Sa-môn!
-- Ta đã đứng rồi, này Angulimala! Và ngươi hãy đứng lại!
Rồi tên cướp Angulimala suy nghĩ: "Những Sa-môn Thích Tử này là những người nói sự thật và chấp nhận sự thật. Và Sa-môn này dẫu cho đang đi lại nói: "Ta đã đứng rồi, này Angulimala! Và ngươi hãy đứng lại". Vậy ta hãy hỏi vị Sa-môn này". Rồi tên cướp Angulimala với bài kệ nói với Thế Tôn:
-- Người đi lại nói: "Ta đã đứng rồi",
Ta đứng, Ngươi nói: "Sao ta không đứng?"
Sa-môn, ta hỏi về ý nghĩa này,
Sao Ngươi đứng lại, còn ta không đứng?
-- Angulimala, Ta đã đứng rồi.
Với mọi chúng sanh, Ta bỏ trượng, kiếm,
Còn ngươi hữu tình, không tự kiềm chế,
Do vậy, Ta đứng, còn Ngươi chưa đứng. (Trung Bộ Kinh, 86. Kinh Angulimàla)
Ta đã dừng lại trên ác nghiệp, tất cả ác nghiệp Như Lai đã diệt tận hoàn toàn, mọi thứ đều dừng lại. Khi nghe như vậy thì Angulimala bị chấn động, cảm thọ rúng động toàn thân chỉ bằng những câu đơn giản nhưng đầy nội lực như vậy mà sự chuyển hóa đã diễn ra trong người Angulimāla. Cho nên Angulimala ném vũ khí và thỉnh cầu Đức Thế tôn tiếp nhận vào Tăng đoàn, Đức Phật đã chấp thuận việc ấy. Do quả báo vì ác nghiệp nên Angulimāla gặp phải khó khăn trong việc đi khất thực vì bị dân làng căm ghét những việc làm xấu ác trước kia, mặc dù vậy dân làng vẫn cúng dường cho Angulimāla dù rất ít và đầy miễn cưỡng, còn có những người đã dùng gậy, đá ném vào và ngài thường trở về Tịnh xá với thân thể đầy vết thương bầm tím, vỡ đầu chảy máu. Dù vậy ngài vẫn kham nhẫn và đã tu tập thành tựu A-la-hán.
Chúng ta có thấy gần Đức Thế Tôn tuyệt vời không? Gặp được chánh pháp tuyệt vời không? Gặp được hiền thánh Tăng tuyệt vời không? Mình không gặp chánh pháp thì đi lang thang rồi học mê tín dị đoan, tu hoài mà tham sân si, bản ngã còn lớn hơn. Tuy là Agulimāra đã thành tựu nhưng Đức Phật đã nói các nghiệp đã tư niệm, đã làm, đã tích tập, nếu chưa lãnh thọ (kết quả) thời không chấm dứt, dầu cho quả ấy thuộc đời hiện tại, hay trong đời sau, cho nên ngài phải trả nghiệp do mình gây tạo nên nhưng vì ngài là bậc A-la-hán nên đó là đời sống cuối cùng của ngài, không thể có tiếp đời sống nào nữa. Có những vị bệnh rất nhiều do có nhiều trường hợp, có những vị là đời sống cuối cùng, chứ đừng nghĩ rằng tu mà bệnh như vậy là dở, do đó là đời sống cuối cùng, họ không còn ở thế giới này nữa. Mình phải biết trân trọng vì nếu bỏ mất cơ hội gặp thánh pháp này là vĩnh viễn và mãi mãi không có được cơ hội nào khác nữa nên phải biết quý trọng mọi khoảnh khắc mình được tu học, được ở gần bậc đại thiện tri thức. Đời sống cuối của các bậc thánh giả sẽ dồn hết tất cả một lần để dứt điểm, cho nên nếu có bệnh cũng đừng sợ, mình cứ sợ bệnh là cái thân kiến vẫn còn nặng, hãy lấy cái bệnh đó làm cái duyên để mình tiến tu. Đương nhiên người không bệnh sẽ dễ tu hơn nhưng đã bệnh rồi thì làm sao trở về cái thân như trước khi bệnh? Cho nên hãy lấy cái thân mang bệnh đó để nỗ lực nhiều hơn, vì chính cái thân đó mình mới chứng nghiệm, chứng thật được sự khổ của già, bệnh, chết. Cái thân khỏe mạnh nhiều khi lại khó tu vì cứ ỷ y rồi chủ quan, Đức Phật đã dạy mình có 5 sự kiện cần quán sát trong đó có ta phải bị bệnh, không thoát khỏi bệnh. Tất cả các căn bản trí đó, ngoài việc học thuộc lòng và thường tụng thì phải quán niệm thường trực chứ không phải đợi lên trước bàn Phật mới trả bài. Phật dạy mình thâm nhập vào hơi thở, da thịt, xương tủy, tâm thức chính mình, các thầy, các cô bắt mọi người trả bài nhằm mục đích muốn cho đại chúng tu học, muốn đại chúng nhớ kinh vì họ thương mình. Mình phải thâm nhập trí huệ mất cái thân người này, những bậc thành tựu khi ra đi thì thế giới này sẽ chìm ngập trong bóng đêm vĩnh viễn và mãi mãi. Thành ra khi Minh Thành thấy mọi người nghe pháp mà không tinh tấn thì rất buồn vì một tỷ kiếp sau không biết mình còn gặp được chánh pháp nữa không. Các vị tu đúng theo dòng pháp này thành tựu rồi thì xuất ly hết, chỉ còn mình ở trong ma trận của sắc; thọ; tưởng; hành; thức, ma trận của tham sân si, bản ngã cho đến bao giờ không còn người giảng thuyết dòng pháp này, không còn người tu tập nữa thì tới chừng nào mình thoát ra? Sẽ không còn cơ hội nữa, ngoài ra còn các dòng nghiệp quả như ngạ quỷ thì vất vơ vất vưởng, sống trong sự thiếu thốn, lang thang, cô độc, đói khát và khốn khổ, uống nước vào đều biến thành lửa, bao nhiêu thế giới như vậy. Chúng ta chỉ cần nhìn tin tức hằng ngày cũng đã thấy địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, mọi người đừng nghĩ rằng mình chết rồi thì đời sau mình cũng được làm người giống như bây giờ. Chỉ cần sơ sẩy sống trong sân hận hay tai nạn bất thình lình xảy ra, hoặc mình đang giàu có thì chết đột ngột rồi cộng thêm ác nghiệp là thành cô hồn ngay lập tức, tam đồ ác đạo này diễn ra hằng ngày, hằng giờ, hằng phút. Mình phải đem ba cảnh giới đó làm tiếng đại hồng chung vang dội trong ngôi chùa nội tâm của mình trong mỗi giờ chứ không được quên. Những người nghiệp ngập là đang sống trong thế giới của ngạ quỷ, khi lên cơn nghiện thì có giống con người không? Nhưng làm ngạ quỷ còn khổ gấp ngàn lần người nghiện đó nữa, không thể được nghe chánh pháp, dù cho pháp âm vang dội thì họ cũng không nghe được do nghiệp quả như vậy, dưới địa ngục thì làm sao nghe pháp, làm sao tu? Thân làm súc sanh thì có nói pháp cũng không thể nghe hiểu được, giỏi lắm thì cũng chỉ cảm nhận được chút ít tình thương, chính mình là con người minh mẫn với đầy đủ mắt; tai; mũi; lưỡi mà giảng tới giảng lui sự khổ, vô thường, vô ngã, chỉ có 3 từ đó mà 1 lần nhớ - 9 lần quên thì đừng nói gì đến loài súc sanh hay ngạ quỷ, làm sao có thể tu tập thánh pháp. Cho nên mình phải cố gắng, phải nhớ là cái thân do nghiệp làm ra, nghiệp làm ra cái chân, cái tay,… Nó được lành lặn, tốt đẹp thì phải biết tinh tấn tu học để làm được thêm nhiều thiện nghiệp, thiện pháp và phước báu. Đức Phật nói sự nghiệp phước đức có 3 loại:
Loại 1: phước bố thí, cúng dường.
Loại 2: tu tập giới đức, giới hạnh.
Loại 3: sự nhiếp phục tham sân si, bản ngã.
Làm phước không phải chỉ có bố thí bên ngoài mà còn phải giữ giới đức và biết tu tập. Nếu một người bố thí trong phạm vi nhỏ, giữ giới trong phạm vi nhỏ thì đời sau sanh ra làm người không may mắn như nghèo khổ, tật nguyền, bệnh hoạn, đui điếc, câm ngọng, xấu xí... Đó là có bố thí, có trì giới nhưng trong phạm vi nhỏ. Nếu một người làm phước với phạm vi vừa, giới đức cũng trong phạm vi vừa thì sanh ra làm người may mắn. Chúng ta ngồi đây nghe pháp có gọi là người may mắn không? Tức là sự bố thí của mình được tương đối và sự giữ giới đức trong quá khứ tương đối. Nếu một người có bố thí và có giới đức trong phạm vi rộng lớn sẽ sanh lên Tứ Đại Thiên Vương và các tầng trời cao lớn hơn, nếu phước thứ ba thành tựu, tức là thể nhập thánh quả. Phước thứ ba là phước tu tập, mà tu tập là sự nhiếp phục dục, tham sân si, vô minh và bản ngã, đó là phước đức của việc tu tập. Mình học rồi sẽ biết cần phải cẩn thận với cái gì, cần lo sợ với cái gì, phải cố gắng nỗ lực để thành tựu những cái gì, tự thân mình phải soi rọi lại. Mỗi một ngày, mỗi giờ thiền là phải đem đèn trí huệ của ngũ uẩn soi vào từng ngõ ngách để làm tổng vệ sinh nội tâm trong căn nhà tâm linh của mình. Còn không thì tu tập trong sự hời hợt, cẩn thả, qua loa, tu trên hình thức, vẻ bề ngoài sẽ không đi tới đâu, đời sau lại tiếp tục trầm luân sanh tử với đầy rẫy sầu bi khổ ưu não, tương lai mình sẽ rơi vào 3 đường ác là hoàn toàn có thể xảy ra nếu sự tu tập bị lơi lỏng mà không tu chân thành tha thiết, moi móc những sự cấu nhiễm để phát lồ. Phải dùng đèn thánh tuệ của Đức Phật, của các bậc thiện tri thức soi rọi, chiếu vào tất cả những hốc kẹt, những chỗ khuất lấp để sám hối, tẩy rửa. Mình phải chân thật với chính mình để nhìn nhận nội tâm, từ đó mới tẩy trừ được ác nghiệp, ít nhất mình cũng chỉ qua lại cõi trời, cõi người thì mới tu tập được thánh pháp. Đó là rất tuyệt vời rồi, đó là phải cố gắng hết sức. Còn không khi nhắm mắt rồi không biết đi đâu, đâu phải mình ngồi đây rồi được chết ngay Linh Quy là tuyệt vời rồi, được sanh vào cõi người-trời, vào thánh quả nữa. Không phải mình chết bình an, cái chết không báo trước, không hẹn ngày hẹn giờ, không biết ở chỗ nào, bất thình lình xảy ra mà lúc đó mình sân hận, tiếc nuối thì mình không biết sẽ đi đâu, cái thân tiếp nối dị thục quả là cái gì. Vì vậy mình tu bây giờ để bình an lúc mình ra đi, tất cả sự tu tập bây giờ đều dùng để đánh trận lớn nhất chính là trận sanh tử. Cũng như khi luyện binh lính, vào trận đánh giặc rồi hãy tập luyện chứ bình thường luyện làm gì? Luyện binh 10 năm để đánh có một giờ hoặc một vài ngày. Tất cả những việc mình làm như thiền định, thực tập quán chiếu là để mình đánh trận cực lớn cuối cùng là đối đầu với sanh tử. Phải biết rằng tất cả sự tu tập của mình, với tất cả vũ khí, công lực phải thao dợt, rèn luyện hằng ngày, hằng giờ nhằm phòng bị, chuẩn bị cho sanh tử. Tới lúc giặc đến thì súng ống bị gỉ sét, sát tặc đại sư lại trở thành bị tặc sát, một cảm giác sân nổi lên trùm hết ngũ uẩn là mình bị cuốn đi luôn, một cảm giác bản ngã sanh khởi là không còn thầy trò, cô cháu, anh chị em gì nữa thì như vậy đường vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh có khả năng xảy ra dễ dàng. Mục đích tu tập đầu tiên là phát giác, phát hiện tham sân si, vô minh và bản ngã. Kế đó có khả năng nhiếp phục. Sau đó có khả năng đánh gục, đoạn tận. Chính những thứ này làm cho mình khổ, đó giờ mình không biết mặt mũi còn giờ mình đã nhận diện được ngũ uẩn, tức là nhận diện được tham sân si, vô minh và bản ngã. Mình biết mặt được nó rồi tìm hiểu được tánh tình, xem nó sanh khởi cái thọ lên như thế nào, khi nó tồn tại như thế nào, nó biến chuyển và chấm dứt như thế nào. Phải biết được tánh tình của các cảm thọ; tưởng; hành. Khi hiểu được, nắm được điểm yếu rồi đánh thẳng vào tử huyệt thì mới hạ gục được nó, người tu là chiến sĩ mà lên ngồi thiền cứ gục lên gục xuống thì làm sao gọi là chiến sĩ? Đó là tù binh, muốn làm chiến sĩ hay làm tù binh? Phải quán chiếu mình là chiến sĩ, dũng sĩ khi ra trận. Bây giờ đánh không lại, tới khi nhằm liệt gường, liệt chiếu thì đánh với ai? Bây giờ mình minh mẫn, tỉnh táo, thánh pháp vang dội, các thiện tri thức kế bên giảng thuyết ào ào, nghe và quán mạnh mẽ mà mình nắm không nổi, lên ngồi thiền thì gục đầu gục cổ rồi lúc gần chết thì mình đánh cái gì? Phải đặt ra mục đích, phải quán chiếu mạnh mẽ, bây giờ chuẩn bị là vừa rồi. Mình muốn đi xa như Mỹ, Châu Âu thì có chuẩn bị kĩ không? Có khi mấy năm mới được đi, không còn bị rớt nữa, còn giờ mình chuẩn bị đi một chuyến xa vô cùng mà lại không chuẩn bị thì quá ngu. Ai nhắc tới chết thì "thôi, đừng nhắc, chuyện đó không tốt đâu", nằm trên gường sắp chết có người nói phải chuẩn bị hậu sự thì "thôi, đừng nói" thì có ngu không? Minh Thành có nói với mọi người bây giờ đừng nhắc tới bệnh thì có hết bệnh không? Đừng nhắc tới cái chết thì sẽ không chết không? Đừng nhắc tới tham sân si thì có tham sân si không? Cho nên không phải không nghĩ tới là không có, ngược lại phải nghĩ thật nhiều, Phật dạy mình Tứ Như Ý Túc, Tứ Chánh Cần, phải để tâm và phải muốn làm việc đó, tìm mọi cách làm cho bằng được là Tứ Như Ý Túc.
Minh Thành mong đại chúng trong thời gian này phải tinh tấn hơn nữa, không chỉ thiền tập trong khi ngồi thiền nghe pháp mà khi xả thiền cũng phải giữ chánh niệm, Minh Thành mong muốn tái hiện Trúc Lâm Tinh Xá nơi đây, như vậy mọi người phải cố gắng thật nhiều. Đây là khóa đầu, là đàn anh đàn chị mà không có nề nếp, giới hạnh, oai nghi thì khóa sau sẽ như thế nào? Ai không tu thì xuống núi, Minh Thành không cần đông, nếu đông mà tu thì càng tốt, ở đây không chào đón những người giải đãi, buông lung phóng dật, ở đây không phải chỗ du lịch mà là chỗ để tu thánh pháp, đi theo thánh đạo để thành tựu thánh quả. Chúng trưởng phải để ý ai không tu gọi ra sám hối, nếu đã sám hối mà vẫn không sửa đổi thì ghi danh lại lần sau từ chối ngay. Mình tu chỉ có 7 ngày thì phải tu cho ra tu, đừng tu giả dối, đừng lừa gạt chính mình, đừng lừa gạt người thân mình, vợ con hay chồng con ở nhà cực khổ, phải sắp xếp biết bao công việc cho mình có thời gian đi tu thì mình phải làm người chân tu thật học cho xứng đáng 7 ngày này. Trang nghiêm cho tự thân nghĩa là trang nghiêm cho những người xung quanh, cũng có nghĩa là làm đẹp cho Phật giáo hiện tại và tương lai. Minh Thành muốn khi nghe đến tu học tại Linh Quy là ai cũng phải nể sợ vì khó. Khó để tu, khó để thành tựu, khó để thành công, khó để đạt được thánh pháp. Chúng ta đã dự biết bao nhiêu khóa tu rồi, có chuyển hóa được thân tâm mình không? Có những khóa vào tụng, ăn, nói chuyện, gặp bạn bè cho vui rồi đi về, Minh Thành không muốn vậy. Mình phải nhớ mình lên núi cao tu là phải cao, phải cố gắng cho hiện tại và tương lai của chánh pháp, nếu mình làm không được thì không còn ở đâu làm được nữa. Mình là người trực tiếp, tiếp nhận giáo pháp ngàn năm cội gốc và được những bậc thiện tri thức đem cả trái tim, tấm lòng kề tai nói nhỏ từng người, lo lắng từng người mà mình không chịu tu thì mình là tội đồ của Phật giáo. Phải thiền tập suốt cả ngày chứ trở về phòng là nói chuyện vang dội tới thất của Minh Thành còn nghe, cái này trưởng chúng phải nhắc nhở. Minh Thành không muốn chuyến đi của mọi người trong đời này thành trống rỗng, Minh Thành không muốn cơ duyên gặp được thánh pháp này chỉ còn là kỉ niệm đẹp rồi chúng ta sẽ chết trong ác nghiệp, vô minh và tham ái. Minh Thành hoàn toàn không muốn như vậy mà muốn tất cả chúng ta cùng nhau nắm tay đi trên thánh đạo để tối thiểu thì tất cả chúng ta phải vào hàng bốn đôi tám chúng, chánh thống là đệ tử của Phật, nhiếp phục được tham sân si, bản ngã. Chúng ta phải thành công chứ không được thành bại, nhất quyết phải thành công, chúng ta phải nhiếp phục được những cảm thọ tầm thường ở gia đình. Tất cả đều phải cố gắng lên. Chúng ta có thật nhiều những pháp hành tuyệt diệu, không khí cảnh trí, phương pháp, chánh pháp… tất cả đều đầy đủ thì tại sao không nỗ lực tinh tấn? Chúng ta tinh tấn chắc chắn chúng ta sẽ thành tựu, điều đó chắc chắn có thể xảy ra.
Trải tâm từ đến chính mình. Thương cho cái tham sân si, bản ngã ngu muội của chính mình. Thương cho cái buông lung phóng dật trong vô minh của chính tự thân mình. Thương cho những ác nghiệp, bất thiện pháp mình đã gây tạo. Đau xót cho dòng sanh tử oan nghiệt này. Con nguyện thành tựu thánh giới, nguyện sẽ chấp nhận học pháp, sống tỉnh giác và chánh niệm trong xuyên suốt khóa tu cho đến khi về nhà. Con nguyện thực hành thanh quy, làm hội chúng thù thắng, tinh ba chứ không phải hội chúng cặn bã và hạ liệt. Con nguyện cùng nhau tứ chúng thắp ngọn đèn Bát Thánh Đạo ở tại Linh Quy Pháp Ấn này. Con nguyện bánh xe Tứ Thánh Đế sẽ được vận chuyển tại nơi đây, mặt trời thánh trí ngũ uẩn sẽ soi sáng khắp trời đất này.
./.
THÍCH MINH THÀNH
Con xin tôn kính Tăng, tôn kính đời giới đức, nguyện thành tựu giới đức. Bạch Thế Tôn, đối với chúng con các pháp lấy Thế Tôn là căn bản, lấy Thế Tôn làm lãnh đạo, lấy Thế Tôn làm chỗ nương tựa. Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy nói cho chúng con ý nghĩa của lời dạy ấy, sau khi nghe lời dạy của Thế Tôn, chúng con sẽ thọ trì.
Vậy này đại chúng, hãy nghe và suy nghiệp kĩ, Ta sẽ giảng.
Thưa vâng, bạch Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau.
Có năm sự kiện này, này các Tỳ-kheo, cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia. Thế nào là năm?
"Ta phải bị già, không thoát khỏi già" là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia. "Ta phải bị bệnh, không thoát khỏi bệnh" là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia. "Ta phải bị chết, không thoát khỏi chết" là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia. "Tất cả pháp khả ái, khả ý đối với ta sẽ phải đổi khác, sẽ phải biến diệt", là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia. "Ta là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Phàm nghiệp nào ta sẽ làm thiện hay ác, ta sẽ thừa tự nghiệp ấy" là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia. Và do duyên lợi ích như thế nào, này các Tỳ-kheo, "Ta phải bị già, không thoát khỏi già", là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia (Tăng Chi Bộ Kinh, Chương V. Năm Pháp, VI. Phẩm Triền Cái, (VII) (57) Sự Kiện Cần Phải Quan Sát).
Chúng con kính lễ Đức Phật.
Này các Tỳ-kheo, có bốn pháp này cần phải chứng ngộ. Thế nào là bốn?
Này các Tỳ-kheo, có pháp cần phải chứng ngộ bằng thân; có pháp, này các Tỳ-kheo, cần phải chứng ngộ bằng niệm; có pháp, này các Tỳ-kheo, cần phải chứng ngộ bằng mắt; có pháp, này các Tỳ-kheo, cần phải chứng ngộ bằng trí tuệ.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là các pháp cần phải chứng ngộ bằng thân? Tám giải thoát, này các Tỳ-kheo, cần phải chứng ngộ bằng thân.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là các pháp cần phải chứng ngộ bằng niệm? Ðời sống trước, này các Tỳ-kheo, cần phải chứng ngộ bằng niệm.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là các pháp cần phải chứng ngộ bằng con mắt? Sanh tử của chúng sanh, này các Tỳ-kheo, cần phải chứng ngộ bằng con mắt.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là các pháp cần phải chứng ngộ bằng trí tuệ? Sự đoạn diệt các lậu hoặc, này các Tỳ-kheo, cần phải chứng ngộ bằng trí tuệ.
Này các Tỳ-kheo, có bốn pháp này cần phải chứng ngộ (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, XIX. Phẩm Chiến Sĩ, (IX) (189) Chứng Ngộ).
Chúng con kính lễ Đức Phật Bổn sư.
Sắc ví với đống bọt,
Thọ ví bong bóng nước,
Tưởng ví ráng mặt trời,
Hành ví với cây chuối,
Thức ví với ảo thuật,
Ðấng bà con mặt trời,
Ðã thuyết giảng như vậy.
Nếu như vậy chuyên chú,
Như lý chơn quán sát,
Như lý nhìn các pháp,
Hiện rõ tánh trống không.
Bắt đầu với thân này,
Bậc Ðại Tuệ thuyết giảng,
Ðoạn tận cả ba pháp,
Thấy sắc bị quăng bỏ.
Thân bị quăng, vô tri,
Không thọ, sức nóng, thức,
Bị quăng đi, nó nằm,
Làm đồ ăn kẻ khác.
Cái thân liên tục này,
Ảo sư, kẻ ngu nói,
Ðược gọi kẻ sát nhân,
Không tìm thấy lõi cây.
Hãy quán uẩn như vậy,
Vị Tỳ-kheo tinh cần,
Suốt cả đêm lẫn ngày,
Tỉnh giác, chánh tư niệm.
Hãy bỏ mọi kiết sử,
Làm chỗ mình nương tựa,
Sống như lửa cháy đầu,
Cầu chứng cảnh bất động (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (f), V. Phẩm Hoa, III. Bọt Nước).
Ai sống trước buông lung,
Sau sống không phóng dật,
Chói sáng rực đời này.
Như trăng thoát mây che. (Kinh Pháp Cú 13 – Phẩm Thế Gian, kệ 172)
Ai dùng các hạnh lành,
Làm xóa mờ nghiệp ác,
Chói sáng rực đời này,
Như trăng thoát mây che. (Kinh Pháp Cú 13 – Phẩm Thế Gian, kệ 173)
Nỗ lực, chớ phóng dật!
Hãy sống theo chánh hạnh;
Người chánh hạnh hưởng lạc,
Cả đời này, đời sau. (Kinh Pháp Cú 13 – Phẩm Thế Gian, kệ 168)
Chúng con kính lễ Đức Phật Bổn sư Thích-ca Mâu-ni.
Này Ananda, với ai, Thầy có lòng từ mẫn, và với những ai, Thầy nghĩ là nên nghe theo, các bạn bè, thân hữu, bà con hay cùng một huyết thống. Với những người ấy, này Ananda, Thầy cần phải khích lệ, cần phải hướng dẫn, cần phải an trú trong ba điểm. Thế nào là ba?
Hãy khích lệ, hướng dẫn và an trú vào tịnh tín bất động đối với Ðức Phật: "Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn". Hãy khích lệ, hướng dẫn và an trú vào tịnh tín bất động đối với pháp: "Pháp được Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu". Hãy khích lệ, hướng dẫn và an trú vào tịnh tín bất động đối với chúng Tăng: "Diệu hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, Trực hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, Ứng lý hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, Chơn chánh hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám chúng. Chúng đệ tử của Thế Tôn là đáng cung kính, đáng được cúng dường, đáng tôn trọng, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng ở đời".
Dầu cho bốn đại chúng có đổi khác, này Ananda, địa đại, thủy đại. hỏa đại, phong đại, nhưng vị thánh đệ tử thành tựu tịnh tín bất động đối với Phật không có đổi khác. Ở đây, đổi khác là như thế này: Vị Thánh đệ tử ấy, này Ananda, thành tựu tịnh tín bất động đối với đức Phật, sẽ sanh vào địa ngục, loại bàng sanh hay cõi ngạ quỷ. Sự kiện này không xảy ra.
Dầu cho bốn đại chúng có đổi khác, này Ananda, địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại, nhưng vị thánh đệ tử thành tựu tịnh tín bất động đối với Pháp không có đổi khác. Ở đây, đổi khác là như thế này: Vị Thánh đệ tử ấy, này Ananda, thành tựu tịnh tín bất động đối với Pháp, sẽ sanh vào địa ngục, loại bàng sanh hay cõi ngạ quỷ. Sự kiện này không xảy ra.
Dầu cho bốn đại chúng có đổi khác, này Ananda, địa đại, thủy đại,hỏa đại, phong đại, nhưng vị thánh đệ tử thành tựu tịnh tín bất động đối với chúng Tăng không có đổi khác. Ở đây, đổi khác là như thế này: Vị Thánh đệ tử ấy, này Ananda, thành tựu tịnh tín bất động đối với chúng Tăng, sẽ sanh vào địa ngục, loại bàng sanh hay cõi ngạ quỷ. Sự kiện này không xảy ra.
Này Ananda, với ai Thầy có lòng từ mẫn, và với những ai Thầy nghĩ là nên nghe theo, các bạn bè, thân hữu, bà con hay cùng một huyết thống. Với những người ấy, này Ananda, Thầy cần phải khích lệ, cần phải hướng dẫn, cần phải an trú trong ba điểm (Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, VIII. Phẩm Ananda, 75.- Cần Phải Khích Lệ).
Chúng con kính lễ bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Đệ tử chúng con xin nguyện từ bỏ tham ái ở đời, sống với tâm thoát ly tham ái, sẽ gột rửa hết tâm tham ái. Chúng con nguyện sẽ từ bỏ sân hận, sống với tâm không sân hận, lòng từ mẫn thương xót tất cả chúng hữu tình sẽ gột rửa tâm hết sân hận. Chúng con nguyện sẽ từ bỏ hôn trầm thùy miên, sống thoát ly hôn trâm thùy miên với tâm tưởng hướng về ánh sáng, chánh niệm tỉnh giác sẽ gột rửa tâm hết hôn trầm thùy miên. Chúng con nguyện sẽ từ bỏ trạo cử hối tiếc, sống không trạo cử, nội tâm trầm lặng sẽ gột rửa tâm hết trạo cử hối tiếc. Chúng con nguyện sẽ từ bỏ nghi ngờ, sống thoát khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự sẽ gột rửa tâm hết nghi ngờ đối với các thiện pháp.
Lòng tin ở đời này là tài sản tối thượng, chánh pháp khéo tu trì đưa đến…. (17:30 - 17:49 mất tiếng)
Mạng sống bị dắt dẫn,
Tuổi thọ chẳng là bao,
Bị dẫn đến già nua,
Không có nơi dừng bước.
Ai đem tâm quán tưởng,
Sợ hãi tử vong này,
Hãy làm các công đức,
Ðưa đến chơn an lạc.
Thế Tôn:Mạng sống bị dắt dẫn,
Tuổi thọ chẳng là bao,
Bị dẫn đến già nua,
Không có nơi dừng bước.
Ai đem tâm quán tưởng,
Sợ hãi tử vong này,
Hãy bỏ mọi thế lợi,
Tâm hướng cầu tịch tịnh.
(Tương Ưng Bộ, Tập I – Thiên Có Kệ, Chương I. Tương Ưng Chư Thiên, I. Phẩm Cây lau, III. Ðưa Ðến Ðoạn Tận).
Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Tôn giả Gotama như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thế thấy sắc.
Cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Vậy nay con xin quy y Thế Tôn Gotama, quy y Pháp và quy y Tỳ-kheo Tăng. Mong cho con được xuất gia với Tôn giả Gotama, cho con được thọ đại giới. (Tương Ưng Bộ, Tập I. Thiên Có Kệ, Chương VII. Tương Ưng Bà La Môn, I. Phẩm A-la-hán Thứ Nhất, I. Dhananjàni).
Cảm giác cơ thể, cảm giác toàn thân, rõ biết trước mặt, nội tâm tỉnh giác. Phản phất đâu đây hình bóng của Đức Thế Tôn và hàng thánh chúng tại Trúc Lâm Tinh Xá, vang vọng đâu đây pháp âm tối thượng của Đức Như Lai. Đại chúng được quây quần bên Đức Thế Tôn, được sự giáo hóa trực tiếp của Ngài trong vườn trúc, tất cả chúng ta đang đi theo con đường của Ngài, ta được nghe lời dạy nguyên chất từ xưa. Chúng ta đang tái hiện Trúc Lâm Tinh Xá, chúng ta nguyện sẽ đi theo con đường chân chánh của Như Lai để cảm nhận thật sâu sắc khoảnh khắc này. Chúng ta đang trở về Trúc Lâm Tinh Xá, chúng ta đang ở rất gần những bậc đa văn thánh đệ tử, chúng ta được tắm mình trong bầu không gian thánh trí thánh pháp và thánh đạo.
Chưa bao giờ chúng ta chứng kiến cảnh đau thương trên toàn thế giới như lúc này. Chưa bao giờ chúng ta chứng kiến cảnh chết chóc hàng trăm ngàn người. Chưa bao giờ trong cuộc đời chúng ta chứng kiến cảnh thế giới vắng vẻ, trống rỗng như hiện nay. Chưa bao giờ chúng ta chứng kiến cảnh lo lắng, sợ hãi tràn ngập khắp hành tinh với hơn 200 quốc gia. Đây là thời gian, là cơ hội để chúng ta quán chiếu thật sâu sắc về nghiệp quả, nhân quả, về quả báo của ác nghiệp. Minh Thành muốn gửi đến đại chúng trong kì tu tập lần này sự quán chiếu sợ hãi ác nghiệp, chúng ta phải hết sức soi xét và thường trực, thường xuyên để tâm để nhìn lại những suy nghĩ, những nghĩ tưởng trong thân tâm của mình. Cẩn thận với nghiệp quả, thời gian mới đây đã đi được nửa khóa tu, nhớ năm nào người ta lo lắng đến năm 2000 thì chỉ một cái chớp mắt đã đến năm 2020. Thời gian trôi qua mau, con người sẽ già và cuối cùng chấm dứt trong sự tử vong, tất cả đi qua hết nhưng nghiệp quả vẫn còn. Ác nghiệp mà chúng ta đã tạo, những bất thiện nghiệp mà chúng ta đã gây sẽ đeo bám chúng ta trong trăm ngàn vạn kiếp, đây là chỗ quan trọng cho chúng ta thực tập, phải biết sợ hãi và hãy cẩn thận đối với nghiệp quả. Phải luôn kiểm tra, kiểm điểm những ý nghĩ, ngôn ngữ, hành động trong sinh hoạt thường nhật, không phải chỉ tu với thời khóa trước bàn Phật mà trong tất cả mọi suy nghĩ, lời nói, hành động đều phải được soi xét, kiểm xét và chọn lựa thật kĩ lưỡng, nếu không thì hậu quả thật khôn lường.
Nói có 1 câu mà người ta giận 3 năm, thậm chí là 10 năm, đó là dư âm của nghiệp quả. Câu nói mình nói xong là gió thổi mây bay nhưng cái cảm thọ, cảm giác trong lòng người nghe không mất và hậu quả của câu nói đó là không thể tưởng tượng được. Sau câu nói, hành động đó là sự trả đũa, chống đối, thù hận trong 5-10 năm thì câu nói đó gây đau khổ đến cỡ nào. Người nói câu đó khổ và người phải nhận câu nói đó sống trong oán hận, đó là dư âm của nghiệp quả. Đức Phật nói rằng:
Ta tuyên bố rằng, này các Tỳ-kheo, các nghiệp đã tư niệm, đã làm, đã tích tập, nếu không cảm thọ (kết quả) thời không có chấm dứt, dầu kết quả ấy sanh khởi ngay trong đời hiện tại hay trong đời sau. Ta tuyên bố rằng, này các Tỳ-kheo, các nghiệp đã tư niệm, đã làm, đã tích tập, nếu không cảm thọ (kết quả), thời khổ không có thể chấm dứt được.
Ở đây, này các Tỳ-kheo, ba phần là lầm lỗi, phạm tội của thân nghiệp đã bất thiện tư niệm, dẫn đến khổ, đưa đến khổ dị thục. Bốn phần là lầm lỗi, phạm tội của ngữ nghiệp, đã bất thiện tư niệm, dẫn đến khổ, đưa đến khổ dị thục. Ba phần là lầm lỗi, phạm tội của ý nghiệp, đã bất thiện tư niệm, dẫn đến khổ, đưa đến khổ dị thục.
Ví như, này các Tỳ-kheo, một hòn ngọc ma ni viên mãn, được quăng lên và rơi xuống chỗ nào, tại chỗ ấy nó khéo an lập. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, do nhân bất thiện tư niệm, lầm lỗi phạm tội của thân nghiệp có ba phần, các chúng sanh, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. (Tăng Chi Bộ, Chương X – Mười Pháp, XIII. Phẩm Thanh Tịnh, (VII) (206) Ngọc Ma-Ni).
Ngược lại:
Ở đây, này các Tỳ-kheo, ba phần là thành đạt của thân nghiệp đã thiện tư niệm, dẫn đến lạc, đưa đến lạc dị thục, bốn phần là thành đạt của ngữ nghiệp đã thiện tư niệm, dẫn đến lạc, đưa đến lạc dị thục, ba phần là thành đạt của ý nghiệp đã thiện tư niệm, dẫn đến lạc, đưa đến lạc dị thục.
Các chúng sanh sau khi thân hoại mạng chung, được sanh thiện thú, Thiên giới, cõi đời này.
Này các Tỳ-kheo, Ta tuyên bố rằng các nghiệp đã tư niệm, đã làm, đã tích tập, nếu chưa lãnh thọ (kết quả) thời không chấm dứt, dầu cho quả ấy thuộc đời hiện tại, hay trong đời sau, và này các Tỳ-kheo, Ta tuyên bố rằng các nghiệp đã tư niệm, đã được làm, đã được tích tập, nếu chưa lãnh thọ (kết quả) thời khổ không được chấm dứt. (Tăng Chi Bộ, Chương X – Mười Pháp, XIII. Phẩm Thanh Tịnh, (VII) (206) Ngọc Ma-Ni).
Chỗ này chúng ta phải chiêm nghiệm thật kĩ, thật sâu sắc về nghiệp báo mà Đức Phật dã dạy. Phải nhớ rằng nếu không cảm thọ kết quả thì khổ không được chấm dứt, những cái mình đã làm nếu mình không cảm thọ kết quả thì không thể nào chấm dứt, phải đi đến kết quả dù cho đời này, đời sau, hay nhiều đời sau nữa, có khi hành động mình đã làm gây cái khổ đến 500 đời sau, hoặc là hưởng phước tới hàng ngàn kiếp sau. Nhưng phải hưởng hết rồi mới chấm dứt, còn nếu chưa trả hết nghiệp thì chưa chấm dứt. Ví dụ như mình chọc giận ai đó, khi nào họ hết giận thì lúc đó cái tâm của mình mới được trở lại bình thường, cái tâm của người đó cũng trở lại bình thường. Khi nào cảm thọ kết quả thì lúc đó cái nghiệp mới chấm dứt, kết thúc, thành ra không một ai có thể trốn tránh được nghiệp. Vào trong rừng, lên núi hay xuống biển, đi vào trong hang động cũng không thể trốn được ác nghiệp, vì vậy phải nhớ thời gian trôi qua, năm tháng đi qua, thọ mạng của mình sẽ hết nhưng nghiệp vẫn còn. Đây là chỗ hết sức quan trọng để mình biết lo sợ và cẩn thận. Trong đại chúng này chúng ta có thể nhìn thấy sự sai biệt và dị thục của nghiệp, có người đẹp người xấu, có người giàu người nghèo, có người lành lặn có người bị dị tật. Đó là sự sai biệt của nghiệp, sự sai biệt của những suy nghĩ, ngôn ngữ và hành động trong quá khứ và nó biểu hiện ra thân tướng, tâm thức, thọ; tưởng; hành; thức trong hiện tại khác nhau. Minh Thành đã chứng kiến nhiều nghiệp quả, có người bị giựt nợ đến khóc với Minh Thành, có người bị thất tình, đau khổ muốn tự vẫn cũng đến chia sẻ với con, có người lại có tâm ái luyến sâu nặng vô cùng, muốn tu mà tu không được. Tất cả những cái đó, trăm ngàn vạn thứ sai biệt như đui, điếc, câm, ngọng, quỳ, chột, khùng điên, bệnh nan y thì đều là quả dị thục của nghiệp. Không phải khùng 1 kiếp, có khi khùng liên tục 500 đời, đều bị thần kinh. Ác nghiệp nó khủng khiếp như vậy đó, cho nên phải quán chiếu và cẩn thận với những suy nghĩ, ngôn ngữ, hành động.
Đức Phật ví dụ quăng viên ngọc Ma-Ni lên, khi nó rớt xuống chỗ nào thì nó nằm yên chỗ đó, những tư niệm, suy nghĩ đưa đến khổ, đưa đến dị thục. Dị là biến dị, làm cho thay đổi, Thục là cái nghiệp từ từ đi đến chỗ chín muồi. Có vị Tỳ-kheo Kokalika vu khống cho ngài Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên thì hậu quả là khủng khiếp.
Bạch Thế Tôn, dầu Thế Tôn đáng tin tưởng, rất đáng tin cậy; nhưng Sàriputta và Moggallàna là hạng ác dục. Họ bị ác dục chi phối. (Tương Ưng Bộ, Tập I. Thiên Có Kệ, Chương VI. Tương Ưng Phạm Thiên, I. Phẩm Thứ Nhất, X. Kokàlika).
Ba lần Kokalika công kích, ba lần đức Thế Tôn cải chính.
Rồi Bích-chi Phạm thiên Tudu khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Tỳ-kheo Kokàlika.
Sau khi đến, vị ấy đứng trên hư không, và nói với Tỳ-kheo Kokàlika:
-- Này Kokàlika, hãy đặt tin tưởng vào Sàriputta và Moggallàna. Sàriputta và Moggallàna thật là hòa nhã.
Ông là ai, này Hiền giả?
-- Ta là Bích-chi Phạm thiên Tudu.
-- Này Hiền giả, phải chăng Ông đã được Thế Tôn nói là đã chứng quả Bất lai. Vậy Ông đến ở đời này làm gì? Ông có thấy lỗi lầm của Ông như thế nào? (Tương Ưng Bộ, Tập I. Thiên Có Kệ, Chương VI. Tương Ưng Phạm Thiên, I. Phẩm Thứ Nhất, IX. Tudubrahmà).
Đức Phật khuyên bảo cũng không nghe, người bạn của Kokàlika đã chứng thánh quả thứ 3 Bất lai là Phạm thiên Tudu khuyên cũng không nghe, vị thầy này vẫn giữ tâm niệm ác đó.
Tỳ-kheo Kokàlika ra đi không được bao lâu, toàn thân mọc lên những mụt nhọt lớn bằng hột cải. Từ hột cải, chúng lớn lên bằng hột đậu xanh (mugga). Từ hột đậu xanh, chúng lớn lên bằng hột đậu lớn (kalàya). Từ hột đậu lớn, chúng lớn lên bằng rolatthi (hột cây jujube, cây táo). Từ hột rolatthi, chúng lớn lên bằng hột kolama. Từ hột kolama, chúng lớn lên bằng hột amala (a-ma-la quả). Từ quả amala, chúng lớn lên bằng quả beluva chưa chín. Từ quả beluva chưa chín, chúng lớn lên bằng quả billa. Từ hình lớn bằng quả billa, chúng nứt vỡ ra, chảy máu và mủ.
Rồi Tỳ-kheo Kokàlika do bệnh này bị mệnh chung. Bị mệnh chung, Tỳ-kheo Kokàlika sanh trong địa ngục Sen hồng, với tâm hận thù đối với Tôn giả Sàriputta và Moggallàna. (Tương Ưng Bộ, Tập I. Thiên Có Kệ, Chương VI. Tương Ưng Phạm Thiên, I. Phẩm Thứ Nhất, X. Kokàlika).
Khi vị này nổi những mụt này lên rồi vỡ ra chảy máu thì đây là quả báo ngay trong hiện tại, còn quả dị thục là nó làm thay đổi và chín muồi trong địa ngục. Khi mình nói nặng lời với người ta, nói lời ác nên họ sân hận lên thì họ khổ, mình cũng bị nói lại chứ họ không để yên thành ra ngay đó mình cũng khổ. Đó mới là khổ trong hiện tại, nhưng vẫn chưa hết mà còn quả dị thục của lời nói nặng này. Thành ra dư âm của nghiệp quả là không thể tưởng tượng được, thiện pháp phước báu cũng giống như vậy, làm một việc thiện mà được quả báo tốt gấp ngàn vạn lần. Chính vì vậy từ cảnh giới thấp nhất của địa ngục mà lên tới cảnh giới tha hóa tự tại, tam thập tam thiên cho tới Dạ Ma Thiên, Đâu Suất Thiên, Sắc Cứu Cánh Thiên được phân lập ra Tam Giới là từ cái nghiệp này, từ nghiệp mà biểu hiện ra thân tướng của mình, biểu hiện ra những cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức của mình, từ nghiệp mà biểu hiện ra các hành tinh thái dương hệ, mười ngàn thế giới. Khi Đức Phật chứng ngộ là rung chuyển hết mười ngàn thế giới, chấn động các chư Thiên ở các tầng trời đều báo lên "Sa-môn Gotama đã thành tựu Chánh Đẳng Chánh Giác", từ cung trời Tứ Đại Thiên Vương lên tới Dạ Ma Thiên, Đâu Suất Đà Thiên, Tha Hóa Tự Tại Thiên, lên tất cả các tầng trời, vang dội mười ngàn thế giới khi Bồ Tát thành tựu Chánh Đẳng Chánh Giác. Như vậy có vô lượng thế giới sai biệt nên hãy chọn nghiệp an lành, từ nơi ngôn ngữ, suy nghĩ, hành động của chúng sanh mà biểu hiện ra các đẳng cấp của thế giới, sai biệt của các hành tinh. Hiện tại bây giờ chúng ta ngồi đây là do nghiệp thiện của chúng ta biểu hiện ra cảnh giới như vậy, không khí như vậy, tái hiện Trúc Lâm Tinh Xá như vậy, chúng ta được nghe thiện pháp như vậy, dù trong thân có người đau nhức, ho hen. Hiện tại giờ phút này có những bà cụ già bằng tuổi mình đang bán vé số hay đi nhặt phế liệu, có người bằng tuổi mình đang nằm trong bệnh viện, nằm ngoài vỉa hè bị con cháu bỏ rơi, có những người đang đói lạnh cơ hàn cũng bằng tuổi mình, sanh ly tử biệt, nhiễm dịch bệnh, ung thư, cả cha lẫn mẹ đều mất vì tai nạn giao thông để lại 4-5 đứa con nhỏ đội khăn tang trắng xóa trên đầu, trong ngay giờ phút này là người chết la liệt đầy đường vì bệnh viện quá tải, nằm ngoài hành lang lạnh lẽo rồi chết tại đó. Đó là sự sai biệt của nghiệp.
Thật là khủng khiếp quả báo của ác nghiệp!
Chúng ta chỉ đang nói trong loài người thôi chứ chưa nói đến thế giới khác, quán về nghiệp quả để mình biết trân trọng cuộc sống này mà sống không buông lung phóng dật, sống không vô trách nhiệm. Sống trong sự lãng quên, ngu si, vô minh, ngược lại sống trong sự tỉnh thức trí tuệ để nhìn thấy được sự sai biệt, dị thục, biến đổi của tất cả nghiệp trên thế giới này, dù mình chưa đi đến chỗ diệt tận các nghiệp nhưng ít nhất nghiệp trắng cũng phải nhiều hơn nghiệp đen.
Này các Tỳ-kheo, con đường phải chết này ở giữa những tư tưởng. Vị ấy rõ biết như sau: "Phàm ác nghiệp nào do ta làm từ trước với cái thân do nghiệp làm ra này, tất cả cần phải cảm thọ ở đây, nó không thể theo ta và được hiện hữu về sau". (Tăng Chi Bộ, Chương X – Mười Pháp, XXI. Phẩm Thân Do Nghiệp Sanh, (IX) (208) Phạm Thiên Trú)
Tư Tưởng là hành uẩn, mình phải hiểu trong đây cũng có thọ và thức. Nhưng nói cho dễ hiểu, dễ nắm bắt là tất cả chúng sanh chết trong suy nghĩ vì suy nghĩ của mình là suy nghĩ trong vô minh, nếu không học thánh trí năm uẩn, không nghe thánh pháp, không đi trên thánh đạo thì tất cả suy nghĩ của mình đều ở trong vô minh, bất thiện, chỉ biết nghĩ cho "tôi" và "của tôi". Mình không biết được nhân quả, nghiệp báo, mình không biết được tính chất vô thường, duyên sanh, vô ngã, nghiệp quả dị thục, mình không biết phân biệt được chánh-tà, thiện-ác, mình không thấy được thế nào là chánh kiến hữu lậu và chánh kiến vô lậu. Cho nên tất cả suy nghĩ này sẽ giết chúng sanh. Tại sao có người đi trộm cắp? Tại sao lại giết người? Tại sao lại đánh ghen bằng cách tạt Axit? Tại sao mẹ con lại không nhìn mặt nhau, anh chị em ruột như nước với lửa? Chính là từ cái hành uẩn ác độc này.
Người ấy không như thật biết rõ: "Sắc là kẻ giết người"; "Thọ là kẻ giết người"... "Tưởng là kẻ giết người"... "Các hành là kẻ giết người"... "Thức là kẻ giết người", người ấy không như thật biết rõ: "Thức là kẻ giết người". (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (e), IV. Phẩm Trưởng Lão, I. Ananda).
Chúng ta bị ngũ uẩn giết chúng ta, cứ sanh tử trong vô lượng vô biên, vô tận kiếp, không có ngày kết thúc nếu không gặp được thánh pháp, thánh đạo. Suy nghĩ đó là kẻ giết người, dù cho mình có biết thánh pháp nhưng coi chừng nó cũng giết mình như thường nếu chưa vào Dự lưu và có khả năng bị thối đọa. Thành ra chưa vào Dự lưu, chưa thành tựu tịnh tính bất động đối với Phật, Pháp, Tăng và thánh giới là mình vẫn còn trong phạm trù của bất an, nguy hiểm và tai họa, khi nào mình thể nhập Dự lưu rồi thì mới an toàn, chưa vào Dự lưu thì phải lo sợ chứ không phải mình nghĩ rằng đã biết được thánh pháp, đã biết ngũ uẩn còn những người kia không biết thì mình hay, giỏi thì bất cứ lúc nào mình cũng có thể bị thối đọa. Phải thể nhập được thánh trí huệ, phá được thân kiến thì mới được bình an. Bất cứ lúc nào suy nghĩ của mình cũng nghĩ đây không phải là tôi, không phải của tôi, bất cứ lúc nào suy nghĩ về mình đều thấy đây là tứ đại, ngũ uẩn, đây không phải là tôi, không phải của tôi, đây chỉ là cái đống vô thường, khổ não, duyên sanh, là đống tan hoại, tan vỡ thì đó là hướng Dự lưu, Nhập lưu. Còn nếu không là tư tưởng này giết người, tàn phá mình. Suy nghĩ mà để sanh ra sân hận, bản ngã thì nghĩ làm gì? Mỗi khi suy nghĩ mà sân hận, ham muốn, bản ngã sanh khởi thì tác ý "mày đừng nghĩ gì nữa. Hãy tan biến, chấm dứt đi đồ ngu si. Không đi theo suy nghĩ này nữa" để mình phá tan hành uẩn này. Nếu mình còn chấp nhận, nuôi dưỡng, tăng trưởng những suy nghĩ tham sân si, bản ngã thì đó là giết người.
Này các Tỳ-kheo, con người phải chết này ở giữa những tư tưởng. Vị ấy rõ biết như sau: "Phàm ác nghiệp nào do ta làm từ trước với cái thân do nghiệp làm ra này, tất cả cần phải cảm thọ ở đây, nó không thể theo và được hiện hữu về sau" (Tăng Chi Bộ, Chương X – Mười Pháp, XXI. Phẩm Thân Do Nghiệp Sanh, (IX) (208) Phạm Thiên Trú).
Chỗ này Đức Phật đã nói rõ ý nghiệp rất quan trọng, ngoại đạo chủ trương về nghiệp là thân phạt, khẩu phạt, họ hành xác. Tới bây giờ cũng còn những người lấy sự tu là sự hành xác cơ thể họ, lấy cái đó làm sở đắc. Đức Phật nói quan trọng là ý nghiệp mà ý nghiệp là tư tưởng, nói cho đầy đủ là thọ; tưởng; hành; thức. Cái thân này là kết quả của nghiệp, nhìn vào gương phản chiếu gương mặt như thế nào thì mình biết cái tâm như thế đó. Cái tâm phước đức, nhân hậu sẽ biểu hiện ra cái mặt có nét hiền từ. Cái tâm đầy rẫy sân hận nhìn mặt giống tướng cướp. Cái tâm từ bi sẽ biểu hiện trên gương mặt hiền hòa. Cái mặt mình sẽ biểu hiện ra nghiệp.
Ngài Angulimāla hay còn được biết đến với cái tên Ngài Vô Não. Vốn là một người sinh ra bản tính lương thiện, thông minh, nhưng theo học một ông thầy ghen ghét với tài năng của mình, xúi Angulimāla phải thu tập được 1000 ngón tay út thì mới cho theo học các phép thần thông. Nghe lời thầy, Angulimāla trở thành tướng cướp dã man tàn bạo nhất thời bấy giờ.
Lúc bấy giờ, trong lãnh thổ của quốc vương Pasenadi (Ba-tư-nặc), nước Kosala, có tên cướp Angulimala một thợ săn, tay vấy máu, sát hại, bạo tàn, không có lòng từ mẫn đối với chúng sanh.
Một lần đức Phật quán chiếu thấy Angulimāla là người có thể hóa độ được. Ngài bèn vào rừng, mặc cho lời can ngăn của các đệ tử và dân làng lo lắng cho ngài.
"Thưa Sa-môn, chớ có đi trên con đường này. Thưa Sa-môn, trên con đường này có tên cướp Angulimala, là một thợ săn, tay vấy máu, sát hại, bạo tàn, không có lòng từ mẫn đối với chúng sanh. Vì nó, các làng trở thành không làng, các thị trấn trở thành không thị trấn, các quốc độ trở thành không quốc độ. Do nó luôn luôn giết người, nó mang một vòng hoa làm bằng ngón tay người. Thưa Sa-môn, trên đường này, có mười người, hai mươi người, ba mươi người, bốn mươi người tụ họp lại, tụ họp lại rồi cùng đi. Tuy vậy, họ vẫn rơi vào tay của tên cướp Angulimala".
Lần thứ hai, các người chăn bò, các người chăn thú, các người làm ruộng, các người đi đường bạch Thế Tôn: "Thưa Sa-môn, chớ có đi con đường ấy... rơi vào tay của tên cướp Angulimala". Lần thứ hai, Thế Tôn giữ im lặng, vẫn tiếp tục đi.
Lần thứ ba, các người chăn bò, các người chăn thú, các người làm ruộng, các người đi đường bạch Thế Tôn: "Thưa Sa-môn, chớ có đi con đường ấy... rơi vào tay của tên cướp Angulimala". Thế Tôn giữ im lặng, vẫn tiếp tục đi. (Trung Bộ Kinh, 86. Kinh Angulimàla)
Chính đức vua đã nghe được việc giết hại của Angulimala và ra lệnh bắt y. Mẹ của Angulimāla biết được ý định của vua, bà đi vào trong rừng với những nỗ lực tuyệt vọng để cứu con của bà. Lúc ấy, vòng đeo cổ của Angulimala thiếu một ngón là đủ 1000. Đức Phật biết được điều này nên nỗ lực ngăn cản người mẹ đến với con bà và nghĩ rằng nếu Ngài không can thiệp thì Angulimala đang tìm người cuối cùng để làm cho đủ số 1000 sẽ gặp mẹ mình và y có thể giết bà. Vì lòng từ mẫn Đức Phật đã đi đến khi rừng. Tướp cướp Angulimāla từ trong chỗ ẩn nấp vung dao tấn công Đức Phật, bắt Đức Phật dừng lại. Nhưng lạ thay, Angulimāla không thể nào đuổi kịp Đức Phật cho dù Ngài vẫn đi bộ thanh thản, điềm tĩnh.
-- Hãy đứng lại, Sa-môn! Hãy đứng lại, Sa-môn!
-- Ta đã đứng rồi, này Angulimala! Và ngươi hãy đứng lại!
Rồi tên cướp Angulimala suy nghĩ: "Những Sa-môn Thích Tử này là những người nói sự thật và chấp nhận sự thật. Và Sa-môn này dẫu cho đang đi lại nói: "Ta đã đứng rồi, này Angulimala! Và ngươi hãy đứng lại". Vậy ta hãy hỏi vị Sa-môn này". Rồi tên cướp Angulimala với bài kệ nói với Thế Tôn:
-- Người đi lại nói: "Ta đã đứng rồi",
Ta đứng, Ngươi nói: "Sao ta không đứng?"
Sa-môn, ta hỏi về ý nghĩa này,
Sao Ngươi đứng lại, còn ta không đứng?
-- Angulimala, Ta đã đứng rồi.
Với mọi chúng sanh, Ta bỏ trượng, kiếm,
Còn ngươi hữu tình, không tự kiềm chế,
Do vậy, Ta đứng, còn Ngươi chưa đứng. (Trung Bộ Kinh, 86. Kinh Angulimàla)
Ta đã dừng lại trên ác nghiệp, tất cả ác nghiệp Như Lai đã diệt tận hoàn toàn, mọi thứ đều dừng lại. Khi nghe như vậy thì Angulimala bị chấn động, cảm thọ rúng động toàn thân chỉ bằng những câu đơn giản nhưng đầy nội lực như vậy mà sự chuyển hóa đã diễn ra trong người Angulimāla. Cho nên Angulimala ném vũ khí và thỉnh cầu Đức Thế tôn tiếp nhận vào Tăng đoàn, Đức Phật đã chấp thuận việc ấy. Do quả báo vì ác nghiệp nên Angulimāla gặp phải khó khăn trong việc đi khất thực vì bị dân làng căm ghét những việc làm xấu ác trước kia, mặc dù vậy dân làng vẫn cúng dường cho Angulimāla dù rất ít và đầy miễn cưỡng, còn có những người đã dùng gậy, đá ném vào và ngài thường trở về Tịnh xá với thân thể đầy vết thương bầm tím, vỡ đầu chảy máu. Dù vậy ngài vẫn kham nhẫn và đã tu tập thành tựu A-la-hán.
Chúng ta có thấy gần Đức Thế Tôn tuyệt vời không? Gặp được chánh pháp tuyệt vời không? Gặp được hiền thánh Tăng tuyệt vời không? Mình không gặp chánh pháp thì đi lang thang rồi học mê tín dị đoan, tu hoài mà tham sân si, bản ngã còn lớn hơn. Tuy là Agulimāra đã thành tựu nhưng Đức Phật đã nói các nghiệp đã tư niệm, đã làm, đã tích tập, nếu chưa lãnh thọ (kết quả) thời không chấm dứt, dầu cho quả ấy thuộc đời hiện tại, hay trong đời sau, cho nên ngài phải trả nghiệp do mình gây tạo nên nhưng vì ngài là bậc A-la-hán nên đó là đời sống cuối cùng của ngài, không thể có tiếp đời sống nào nữa. Có những vị bệnh rất nhiều do có nhiều trường hợp, có những vị là đời sống cuối cùng, chứ đừng nghĩ rằng tu mà bệnh như vậy là dở, do đó là đời sống cuối cùng, họ không còn ở thế giới này nữa. Mình phải biết trân trọng vì nếu bỏ mất cơ hội gặp thánh pháp này là vĩnh viễn và mãi mãi không có được cơ hội nào khác nữa nên phải biết quý trọng mọi khoảnh khắc mình được tu học, được ở gần bậc đại thiện tri thức. Đời sống cuối của các bậc thánh giả sẽ dồn hết tất cả một lần để dứt điểm, cho nên nếu có bệnh cũng đừng sợ, mình cứ sợ bệnh là cái thân kiến vẫn còn nặng, hãy lấy cái bệnh đó làm cái duyên để mình tiến tu. Đương nhiên người không bệnh sẽ dễ tu hơn nhưng đã bệnh rồi thì làm sao trở về cái thân như trước khi bệnh? Cho nên hãy lấy cái thân mang bệnh đó để nỗ lực nhiều hơn, vì chính cái thân đó mình mới chứng nghiệm, chứng thật được sự khổ của già, bệnh, chết. Cái thân khỏe mạnh nhiều khi lại khó tu vì cứ ỷ y rồi chủ quan, Đức Phật đã dạy mình có 5 sự kiện cần quán sát trong đó có ta phải bị bệnh, không thoát khỏi bệnh. Tất cả các căn bản trí đó, ngoài việc học thuộc lòng và thường tụng thì phải quán niệm thường trực chứ không phải đợi lên trước bàn Phật mới trả bài. Phật dạy mình thâm nhập vào hơi thở, da thịt, xương tủy, tâm thức chính mình, các thầy, các cô bắt mọi người trả bài nhằm mục đích muốn cho đại chúng tu học, muốn đại chúng nhớ kinh vì họ thương mình. Mình phải thâm nhập trí huệ mất cái thân người này, những bậc thành tựu khi ra đi thì thế giới này sẽ chìm ngập trong bóng đêm vĩnh viễn và mãi mãi. Thành ra khi Minh Thành thấy mọi người nghe pháp mà không tinh tấn thì rất buồn vì một tỷ kiếp sau không biết mình còn gặp được chánh pháp nữa không. Các vị tu đúng theo dòng pháp này thành tựu rồi thì xuất ly hết, chỉ còn mình ở trong ma trận của sắc; thọ; tưởng; hành; thức, ma trận của tham sân si, bản ngã cho đến bao giờ không còn người giảng thuyết dòng pháp này, không còn người tu tập nữa thì tới chừng nào mình thoát ra? Sẽ không còn cơ hội nữa, ngoài ra còn các dòng nghiệp quả như ngạ quỷ thì vất vơ vất vưởng, sống trong sự thiếu thốn, lang thang, cô độc, đói khát và khốn khổ, uống nước vào đều biến thành lửa, bao nhiêu thế giới như vậy. Chúng ta chỉ cần nhìn tin tức hằng ngày cũng đã thấy địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, mọi người đừng nghĩ rằng mình chết rồi thì đời sau mình cũng được làm người giống như bây giờ. Chỉ cần sơ sẩy sống trong sân hận hay tai nạn bất thình lình xảy ra, hoặc mình đang giàu có thì chết đột ngột rồi cộng thêm ác nghiệp là thành cô hồn ngay lập tức, tam đồ ác đạo này diễn ra hằng ngày, hằng giờ, hằng phút. Mình phải đem ba cảnh giới đó làm tiếng đại hồng chung vang dội trong ngôi chùa nội tâm của mình trong mỗi giờ chứ không được quên. Những người nghiệp ngập là đang sống trong thế giới của ngạ quỷ, khi lên cơn nghiện thì có giống con người không? Nhưng làm ngạ quỷ còn khổ gấp ngàn lần người nghiện đó nữa, không thể được nghe chánh pháp, dù cho pháp âm vang dội thì họ cũng không nghe được do nghiệp quả như vậy, dưới địa ngục thì làm sao nghe pháp, làm sao tu? Thân làm súc sanh thì có nói pháp cũng không thể nghe hiểu được, giỏi lắm thì cũng chỉ cảm nhận được chút ít tình thương, chính mình là con người minh mẫn với đầy đủ mắt; tai; mũi; lưỡi mà giảng tới giảng lui sự khổ, vô thường, vô ngã, chỉ có 3 từ đó mà 1 lần nhớ - 9 lần quên thì đừng nói gì đến loài súc sanh hay ngạ quỷ, làm sao có thể tu tập thánh pháp. Cho nên mình phải cố gắng, phải nhớ là cái thân do nghiệp làm ra, nghiệp làm ra cái chân, cái tay,… Nó được lành lặn, tốt đẹp thì phải biết tinh tấn tu học để làm được thêm nhiều thiện nghiệp, thiện pháp và phước báu. Đức Phật nói sự nghiệp phước đức có 3 loại:
Loại 1: phước bố thí, cúng dường.
Loại 2: tu tập giới đức, giới hạnh.
Loại 3: sự nhiếp phục tham sân si, bản ngã.
Làm phước không phải chỉ có bố thí bên ngoài mà còn phải giữ giới đức và biết tu tập. Nếu một người bố thí trong phạm vi nhỏ, giữ giới trong phạm vi nhỏ thì đời sau sanh ra làm người không may mắn như nghèo khổ, tật nguyền, bệnh hoạn, đui điếc, câm ngọng, xấu xí... Đó là có bố thí, có trì giới nhưng trong phạm vi nhỏ. Nếu một người làm phước với phạm vi vừa, giới đức cũng trong phạm vi vừa thì sanh ra làm người may mắn. Chúng ta ngồi đây nghe pháp có gọi là người may mắn không? Tức là sự bố thí của mình được tương đối và sự giữ giới đức trong quá khứ tương đối. Nếu một người có bố thí và có giới đức trong phạm vi rộng lớn sẽ sanh lên Tứ Đại Thiên Vương và các tầng trời cao lớn hơn, nếu phước thứ ba thành tựu, tức là thể nhập thánh quả. Phước thứ ba là phước tu tập, mà tu tập là sự nhiếp phục dục, tham sân si, vô minh và bản ngã, đó là phước đức của việc tu tập. Mình học rồi sẽ biết cần phải cẩn thận với cái gì, cần lo sợ với cái gì, phải cố gắng nỗ lực để thành tựu những cái gì, tự thân mình phải soi rọi lại. Mỗi một ngày, mỗi giờ thiền là phải đem đèn trí huệ của ngũ uẩn soi vào từng ngõ ngách để làm tổng vệ sinh nội tâm trong căn nhà tâm linh của mình. Còn không thì tu tập trong sự hời hợt, cẩn thả, qua loa, tu trên hình thức, vẻ bề ngoài sẽ không đi tới đâu, đời sau lại tiếp tục trầm luân sanh tử với đầy rẫy sầu bi khổ ưu não, tương lai mình sẽ rơi vào 3 đường ác là hoàn toàn có thể xảy ra nếu sự tu tập bị lơi lỏng mà không tu chân thành tha thiết, moi móc những sự cấu nhiễm để phát lồ. Phải dùng đèn thánh tuệ của Đức Phật, của các bậc thiện tri thức soi rọi, chiếu vào tất cả những hốc kẹt, những chỗ khuất lấp để sám hối, tẩy rửa. Mình phải chân thật với chính mình để nhìn nhận nội tâm, từ đó mới tẩy trừ được ác nghiệp, ít nhất mình cũng chỉ qua lại cõi trời, cõi người thì mới tu tập được thánh pháp. Đó là rất tuyệt vời rồi, đó là phải cố gắng hết sức. Còn không khi nhắm mắt rồi không biết đi đâu, đâu phải mình ngồi đây rồi được chết ngay Linh Quy là tuyệt vời rồi, được sanh vào cõi người-trời, vào thánh quả nữa. Không phải mình chết bình an, cái chết không báo trước, không hẹn ngày hẹn giờ, không biết ở chỗ nào, bất thình lình xảy ra mà lúc đó mình sân hận, tiếc nuối thì mình không biết sẽ đi đâu, cái thân tiếp nối dị thục quả là cái gì. Vì vậy mình tu bây giờ để bình an lúc mình ra đi, tất cả sự tu tập bây giờ đều dùng để đánh trận lớn nhất chính là trận sanh tử. Cũng như khi luyện binh lính, vào trận đánh giặc rồi hãy tập luyện chứ bình thường luyện làm gì? Luyện binh 10 năm để đánh có một giờ hoặc một vài ngày. Tất cả những việc mình làm như thiền định, thực tập quán chiếu là để mình đánh trận cực lớn cuối cùng là đối đầu với sanh tử. Phải biết rằng tất cả sự tu tập của mình, với tất cả vũ khí, công lực phải thao dợt, rèn luyện hằng ngày, hằng giờ nhằm phòng bị, chuẩn bị cho sanh tử. Tới lúc giặc đến thì súng ống bị gỉ sét, sát tặc đại sư lại trở thành bị tặc sát, một cảm giác sân nổi lên trùm hết ngũ uẩn là mình bị cuốn đi luôn, một cảm giác bản ngã sanh khởi là không còn thầy trò, cô cháu, anh chị em gì nữa thì như vậy đường vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh có khả năng xảy ra dễ dàng. Mục đích tu tập đầu tiên là phát giác, phát hiện tham sân si, vô minh và bản ngã. Kế đó có khả năng nhiếp phục. Sau đó có khả năng đánh gục, đoạn tận. Chính những thứ này làm cho mình khổ, đó giờ mình không biết mặt mũi còn giờ mình đã nhận diện được ngũ uẩn, tức là nhận diện được tham sân si, vô minh và bản ngã. Mình biết mặt được nó rồi tìm hiểu được tánh tình, xem nó sanh khởi cái thọ lên như thế nào, khi nó tồn tại như thế nào, nó biến chuyển và chấm dứt như thế nào. Phải biết được tánh tình của các cảm thọ; tưởng; hành. Khi hiểu được, nắm được điểm yếu rồi đánh thẳng vào tử huyệt thì mới hạ gục được nó, người tu là chiến sĩ mà lên ngồi thiền cứ gục lên gục xuống thì làm sao gọi là chiến sĩ? Đó là tù binh, muốn làm chiến sĩ hay làm tù binh? Phải quán chiếu mình là chiến sĩ, dũng sĩ khi ra trận. Bây giờ đánh không lại, tới khi nhằm liệt gường, liệt chiếu thì đánh với ai? Bây giờ mình minh mẫn, tỉnh táo, thánh pháp vang dội, các thiện tri thức kế bên giảng thuyết ào ào, nghe và quán mạnh mẽ mà mình nắm không nổi, lên ngồi thiền thì gục đầu gục cổ rồi lúc gần chết thì mình đánh cái gì? Phải đặt ra mục đích, phải quán chiếu mạnh mẽ, bây giờ chuẩn bị là vừa rồi. Mình muốn đi xa như Mỹ, Châu Âu thì có chuẩn bị kĩ không? Có khi mấy năm mới được đi, không còn bị rớt nữa, còn giờ mình chuẩn bị đi một chuyến xa vô cùng mà lại không chuẩn bị thì quá ngu. Ai nhắc tới chết thì "thôi, đừng nhắc, chuyện đó không tốt đâu", nằm trên gường sắp chết có người nói phải chuẩn bị hậu sự thì "thôi, đừng nói" thì có ngu không? Minh Thành có nói với mọi người bây giờ đừng nhắc tới bệnh thì có hết bệnh không? Đừng nhắc tới cái chết thì sẽ không chết không? Đừng nhắc tới tham sân si thì có tham sân si không? Cho nên không phải không nghĩ tới là không có, ngược lại phải nghĩ thật nhiều, Phật dạy mình Tứ Như Ý Túc, Tứ Chánh Cần, phải để tâm và phải muốn làm việc đó, tìm mọi cách làm cho bằng được là Tứ Như Ý Túc.
Minh Thành mong đại chúng trong thời gian này phải tinh tấn hơn nữa, không chỉ thiền tập trong khi ngồi thiền nghe pháp mà khi xả thiền cũng phải giữ chánh niệm, Minh Thành mong muốn tái hiện Trúc Lâm Tinh Xá nơi đây, như vậy mọi người phải cố gắng thật nhiều. Đây là khóa đầu, là đàn anh đàn chị mà không có nề nếp, giới hạnh, oai nghi thì khóa sau sẽ như thế nào? Ai không tu thì xuống núi, Minh Thành không cần đông, nếu đông mà tu thì càng tốt, ở đây không chào đón những người giải đãi, buông lung phóng dật, ở đây không phải chỗ du lịch mà là chỗ để tu thánh pháp, đi theo thánh đạo để thành tựu thánh quả. Chúng trưởng phải để ý ai không tu gọi ra sám hối, nếu đã sám hối mà vẫn không sửa đổi thì ghi danh lại lần sau từ chối ngay. Mình tu chỉ có 7 ngày thì phải tu cho ra tu, đừng tu giả dối, đừng lừa gạt chính mình, đừng lừa gạt người thân mình, vợ con hay chồng con ở nhà cực khổ, phải sắp xếp biết bao công việc cho mình có thời gian đi tu thì mình phải làm người chân tu thật học cho xứng đáng 7 ngày này. Trang nghiêm cho tự thân nghĩa là trang nghiêm cho những người xung quanh, cũng có nghĩa là làm đẹp cho Phật giáo hiện tại và tương lai. Minh Thành muốn khi nghe đến tu học tại Linh Quy là ai cũng phải nể sợ vì khó. Khó để tu, khó để thành tựu, khó để thành công, khó để đạt được thánh pháp. Chúng ta đã dự biết bao nhiêu khóa tu rồi, có chuyển hóa được thân tâm mình không? Có những khóa vào tụng, ăn, nói chuyện, gặp bạn bè cho vui rồi đi về, Minh Thành không muốn vậy. Mình phải nhớ mình lên núi cao tu là phải cao, phải cố gắng cho hiện tại và tương lai của chánh pháp, nếu mình làm không được thì không còn ở đâu làm được nữa. Mình là người trực tiếp, tiếp nhận giáo pháp ngàn năm cội gốc và được những bậc thiện tri thức đem cả trái tim, tấm lòng kề tai nói nhỏ từng người, lo lắng từng người mà mình không chịu tu thì mình là tội đồ của Phật giáo. Phải thiền tập suốt cả ngày chứ trở về phòng là nói chuyện vang dội tới thất của Minh Thành còn nghe, cái này trưởng chúng phải nhắc nhở. Minh Thành không muốn chuyến đi của mọi người trong đời này thành trống rỗng, Minh Thành không muốn cơ duyên gặp được thánh pháp này chỉ còn là kỉ niệm đẹp rồi chúng ta sẽ chết trong ác nghiệp, vô minh và tham ái. Minh Thành hoàn toàn không muốn như vậy mà muốn tất cả chúng ta cùng nhau nắm tay đi trên thánh đạo để tối thiểu thì tất cả chúng ta phải vào hàng bốn đôi tám chúng, chánh thống là đệ tử của Phật, nhiếp phục được tham sân si, bản ngã. Chúng ta phải thành công chứ không được thành bại, nhất quyết phải thành công, chúng ta phải nhiếp phục được những cảm thọ tầm thường ở gia đình. Tất cả đều phải cố gắng lên. Chúng ta có thật nhiều những pháp hành tuyệt diệu, không khí cảnh trí, phương pháp, chánh pháp… tất cả đều đầy đủ thì tại sao không nỗ lực tinh tấn? Chúng ta tinh tấn chắc chắn chúng ta sẽ thành tựu, điều đó chắc chắn có thể xảy ra.
Trải tâm từ đến chính mình. Thương cho cái tham sân si, bản ngã ngu muội của chính mình. Thương cho cái buông lung phóng dật trong vô minh của chính tự thân mình. Thương cho những ác nghiệp, bất thiện pháp mình đã gây tạo. Đau xót cho dòng sanh tử oan nghiệt này. Con nguyện thành tựu thánh giới, nguyện sẽ chấp nhận học pháp, sống tỉnh giác và chánh niệm trong xuyên suốt khóa tu cho đến khi về nhà. Con nguyện thực hành thanh quy, làm hội chúng thù thắng, tinh ba chứ không phải hội chúng cặn bã và hạ liệt. Con nguyện cùng nhau tứ chúng thắp ngọn đèn Bát Thánh Đạo ở tại Linh Quy Pháp Ấn này. Con nguyện bánh xe Tứ Thánh Đế sẽ được vận chuyển tại nơi đây, mặt trời thánh trí ngũ uẩn sẽ soi sáng khắp trời đất này.
./.