Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Thánh Trí Năm Uẩn 19 - Phần Lớn Thế Tôn Giảng Dạy Điều Gì

2026-03-03 00:55:16
THÁNH TRÍ NĂM UẨN 19

PHẦN LỚN THẾ TÔN GIẢNG DẠY ĐIỀU GÌ?

THÍCH MINH THÀNH

Rõ biết trước mặt, cảm nhận hơi thở, cảm nhận cơ thể, cảm nhận cảm giác của toàn bộ cơ thể. Cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác, rõ biết những suy nghĩ và hình bóng trong tâm.

Phần lớn Thế Tôn giảng dạy về điều gì? Đây là câu hỏi rất quan trọng trong pháp học và pháp hành của chúng ta. Chúng ta sẽ hiểu phần lớn Đức Phật giảng về điều gì qua bài hôm nay.

Niganthaputta Saccaka sau khi ngồi xuống một bên nói với Thế Tôn:

-- Tôi muốn hỏi Tôn giả Gotama một vấn đề, nếu Tôn giả Gotama cho phép tôi được hỏi.

-- Này Aggivessana, hãy hỏi như Ông muốn.

-- Tôn giả Gotama huấn luyện đệ tử như thế nào? Những bộ môn nào mà phần lớn Sa-môn Gotama giảng dạy được dành cho đệ tử?

-- Này Aggivessana, như thế này Ta huấn luyện đệ tử. Với những bộ môn này, phần lớn Ta giảng dạy được dành cho đệ tử: "Này các Tỳ-kheo, sắc là vô thường, thọ là vô thường, tưởng là vô thường, hành là vô thường, thức là vô thường. Này các Tỳ-kheo, sắc là vô ngã, thọ là vô ngã, tưởng là vô ngã, hành là vô ngã, thức là vô ngã. Tất cả hành là vô thường, tất cả pháp là vô ngã". Như vậy, này Aggivessana, Ta huấn luyện các đệ tử. Các bộ môn như vậy, phần lớn ta giảng dạy được dành cho đệ tử.

-- Này Tôn giả Gotama, tôi có một ví dụ.

Thế Tôn nói:

-- Này Aggivessana, hãy nói lên ví dụ ấy.

-- Như các hột giống, các cây cỏ này được lớn lên, được trưởng thành, được hưng thịnh là vì tất cả chúng đều y cứ vào đất, nương tựa vào đất. Nhờ vậy các hột giống, các cây cỏ này được lớn lên, được trưởng thành, được hưng thịnh. Tôn giả Gotama, như các công nghiệp nặng nhọc này được tạo tác, tất cả chúng đều y cứ vào đất, nương tựa vào đất. Nhờ vậy, các công nghiệp nặng nhọc này được tạo tác. Cũng vậy, này Tôn giả Gotama, như người này mà tự ngã là sắc, nhờ nương tựa sắc làm thiện sự hay ác sự; như người này mà tự ngã là thọ, nhờ nương tựa thọ làm thiện sự hay ác sự; như người này mà tự ngã là tưởng, nhờ nương tựa tưởng làm thiện sự hay ác sự; như người này mà tự ngã là các hành, nhờ nương tựa các hành làm thiện sự hay ác sự; như người này mà tự ngã là thức, nhờ nương tựa thức làm thiện sự hay ác sự (Trung Bộ Kinh, 35. Tiểu kinh Saccaka).

Cái ý của vị này là do nơi ngũ uẩn mới có thiện và ác. Ngũ uẩn được ví dụ giống đất, từ đất mới sanh trưởng ra cây cối mà giờ Thế Tôn dạy ngũ uẩn là vô thường, vô ngã, các hành là vô thường, các pháp là vô ngã.

-- Này Aggivessana, như vậy có phải ông nói: "Sắc là tự ngã của ta, thọ là tự ngã của ta, tưởng là tự ngã của ta, hành là tự ngã của ta, thức là tự ngã của ta"?

-- Tôn giả Gotama, như vậy tôi nói: "Sắc là tự ngã của ta, thọ là tự ngã của ta, tưởng là tự ngã của ta, hành là tự ngã của ta, thức là tự ngã của ta". Và như đại chúng này cũng vậy.

Đại chúng ở đây ai cũng công nhận ngũ uẩn này là tôi, suy nghĩ này của tôi, những cái tưởng và hình bóng trong tâm là tôi, nhận thức này của tôi. Tôi thấy ngũ uẩn là tôi và tự ngã của tôi, đại chúng theo tôi ai cũng thấy ngũ uẩn là tôi, là tự ngã của tôi.

-- Này Aggivessana, đại chúng này có quan hệ gì với Ông? Này Aggivessana, hãy giải thích lời nói của Ông.

-- Tôn giả Gotama, như vậy tôi nói: "Sắc là tự ngã của ta, thọ là tự ngã của ta, tưởng là tự ngã của ta, hành là tự ngã của ta, thức là tự ngã của ta".

Đức Phật hỏi lại 1 lần nữa rất tế nhị và tôn trọng đối phương:

 Này Aggivessana, Ông nghĩ thế nào? Một vị vua Sát-đế-lị đã làm lễ quán đảnh, như vua Pasenadi nước Kosala, vua Ajatasattu, con bà Vedehi nước Magadha, vua này có quyền hành trong quốc gia của mình, muốn giết những ai đáng bị giết, muốn tước đoạt những ai đáng bị tước đoạt, muốn tẩn xuất những ai đáng bị tẩn xuất không?

-- Tôn giả Gotama, một vua Sát-đế-lị đã làm lễ quán đảnh, như vua Pasenadi nước Kosala, vua Ajatasattu, con bà Vedehi nước Magadha, vua này có quyền hành trong quốc gia của mình, muốn giết những ai đáng bị giết, muốn tước đoạt những ai đáng bị tước đoạt, muốn tẩn xuất những ai đáng bị tẩn xuất. Này Tôn giả Gotama, cho đến các giáo đoàn, các đoàn thể, như các Vajji, các Malla, vẫn có quyền hành trong quốc gia của mình, muốn giết những ai đáng bị giết, muốn tước đoạt những ai đáng bị tước đoạt, muốn tẩn xuất những ai đáng bị tẩn xuất, còn nói gì một vua Sát-đế-lị đã làm lễ quán đảnh, như vua Pasenadi nước Kosala, vua Ajatasattu, con bà Vedehi nước Magadha. Này Tôn giả Gotama, vị ấy có quyền hành ấy và xứng đáng có quyền hành ấy.

-- Này Aggivessana, Ông nghĩ thế nào? Như Ông nói: "Sắc là tự ngã của ta", Ông có quyền hành gì đối với sắc ấy và có nói được rằng: "Sắc của tôi như thế này, sắc của tôi không phải như thế này" không?

Ðược nói vậy Niganthaputta Saccaka giữ im lặng. Lần thứ hai, Thế Tôn nói với Niganthaputta Saccaka:

-- Này Aggivessana, Ông nghĩ thế nào? Như Ông nói: "Sắc là tự ngã của ta", Ông có quyền hành gì đối với sắc ấy và có nói được rằng: "Sắc của tôi phải như thế này, sắc của tôi không phải như thế này" không?

Lần thứ hai, Niganthaputta Saccaka vẫn giữ im lặng.

Rồi Thế Tôn nói với Niganthaputta Saccaka:

-- Này Aggivessana, nay Ông phải trả lời. Nay không phải lúc Ông giữ im lặng nữa. Này Aggivessana, ai được Như Lai hỏi đến lần thứ ba một câu hỏi hợp lý mà không trả lời, thời đầu của người ấy sẽ bị bể ra làm bảy mảnh tại chỗ.

Lúc bấy giờ thần Dạ xoa Vajirapani (Kim Cang Thủ) đang cầm một chùy sắt to lớn, cháy đỏ, sáng chói, đứng trên không trên đầu Niganthaputta Saccaka với ý định: "Nếu Thế Tôn hỏi đến câu hỏi thứ ba, một câu hỏi hợp lý mà Niganthaputta Saccaka không trả lời, thì ta sẽ đánh bể đầu nó ra làm bảy mảnh". Chỉ có Thế Tôn và Niganthaputta Saccaka mới thấy thần Dạ xoa Vajirapani.

Ở đây không phải cảnh giới bình thường theo mình hiểu, phàm phu không thể hiểu được cảnh giới của Phật. Có 4 cảnh giới mình không thể tưởng tượng, nếu suy nghĩ và tưởng tượng sẽ dẫn đến điên loạn và chết.

Có bốn điều này không thể nghĩ đến được, này các Tỳ-kheo, nếu nghĩ đến, thời người suy nghĩ có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ. Thế nào là bốn? 

Phật giới của các đức Phật, này các Tỳ-kheo, không thể nghĩ đến được, nếu nghĩ đến, thời người suy nghĩ có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ.

Thiền giới của người ngồi Thiền, này các Tỳ-kheo, không thể nghĩ được, nếu nghĩ... thống khổ.

Quả dị thục của nghiệp, này các Tỳ-kheo, không thể nghĩ đến được, nếu nghĩ đến... thống khổ.

Tâm tư thế giới, này các Tỳ-kheo, không thể nghĩ đến được, nếu nghĩ đến thời có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ.

Có bốn điều này không thể nghĩ đến được, này các Tỳ-kheo, nếu nghĩ đến, thời có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ (Tăng Chi Bộ, Chương IV. Bốn Pháp, VIII. Phẩm Không Hý Luận, (VII) (77) Không Thể Nghĩ Ðược).

Niganthaputta Saccaka sợ hãi, hoảng hốt, lông tóc dựng, ngược, chỉ tìm thấy sự che chở nơi Thế Tôn, chỉ tìm thấy sự an ổn nơi Thế Tôn, chỉ tìm thấy sự nương tựa nơi Thế Tôn (Trung Bộ Kinh, 35. Tiểu kinh Saccaka).

Người phàm phu không thể suy tưởng được oai đức của một bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Một vị có giới đức là các bậc thiện thần hộ pháp bảo hộ như thế nào chứ đừng nói đến Đức Như Lai, là một bậc đạo sư của tam giới thì còn ghê gớm hơn nữa.

-- Tôn giả Gotama hãy hỏi tôi, tôi sẽ trả lời.

-- Này Aggivessana, Ông nghĩ thế nào? Như Ông nói: "Sắc là tự ngã của ta", thì Ông có quyền hành gì đối với sắc ấy và có nói được rằng: "Sắc của tôi phải như thế này, sắc của tôi không phải như thế này" không?

-- Thưa không, Tôn giả Gotama.

-- Hãy suy nghiệm kỹ, này Aggivessana. Sau khi suy nghiệm kỹ, này Aggivessana, Ông hãy trả lời. Lời nói cuối của Ông không phù hợp lời nói đầu của Ông, lời nói đầu của Ông không phù hợp lời nói cuối của Ông. Này Aggivessana, Ông nghĩ thế nào? Sắc là thường hay vô thường?

-- Vô thường, Tôn giả Gotama.

-- Này Aggivessana, Ông nghĩ thế nào? Thọ... (như trên)... tưởng... (như trên)... các hành... (như trên)... Này Aggivessana, Ông nghĩ thế nào? Thức là thường hay vô thường?

-- Vô thường, Tôn giả Gotama.

-- Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

-- Là khổ, Tôn giả Gotama.

-- Cái gì vô thường, khổ, biến hoại; có hợp lý chăng khi chánh quán cái ấy là: "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi"?

-- Thưa không, Tôn giả Gotama.

Ông nghĩ thế nào? Ai ái luyến khổ, chấp trước khổ, tham đắm khổ, quán khổ và nói: "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi". Người ấy có thể liễu tri cái khổ của tự mình hay có thể sống trừ diệt khổ không?

-- Làm sao có thể được, Tôn giả Gotama? Không thể như vậy, Tôn giả Gotama.

Một cái vô thường, tan hoại, biến đổi, đau khổ như vậy mà ông lại cho rằng đó là ông, là của ông. Ai yêu thích cái khổ, nắm chặt vào ngũ uẩn, cho rằng ngũ uẩn đó là mình, là của mình thì người đó có thể thấu triệt được cái khổ và có thể tự mình sống mà trừ diệt được hết khổ đau không? Ưa khổ, thích khổ, tham đắm khổ và tự cho cái khổ là mình thì làm sao mình có thể thấu triệt được cái khổ, làm sao có thể từ bỏ, diệt trừ được cái khổ? Đây là câu chuyện giữa người ngoại đạo đối thoại với Đức Như Lai để mình thấy được Đức Thế Tôn giáo hóa được mọi người không phải chuyện đơn giản, không phải ai cũng có thể nghe và hiểu được hết những gì Thế Tôn giảng dạy. Họ ra sức chống đối kịch liệt, họ bắt bẻ, chất vấn đủ mọi điều nhưng đến khi đối mặt với Thế Tôn thì mọi người đều gục ngã, quỳ lạy dưới chân và muốn quy y Thế Tôn làm đệ tử.

 Cho đến mức độ nào, một đệ tử Thanh văn của Tôn giả Gotama trở thành tuân phụng giáo điển, chấp nhận giảng huấn, nghi ngờ được đoạn trừ, do dự được diệt tận, thành tựu vô úy, sống trong giáo hội Bổn Sư, khỏi phải nương tựa vào ai?

-- Ở đây, này Aggivessana, đệ tử Thanh văn của Ta, đối với mọi sắc pháp, quá khứ, tương lai, hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, thấy như thật với chánh trí tuệ là: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi". Ðối với mọi cảm thọ... đối với mọi tưởng... đối với mọi hành... đối với mọi thức, quá khứ, tương lai, hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, thấy như thật với chánh trí tuệ là: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi". Cho đến mức độ như vậy, này Aggivessana, một đệ tử Thanh văn của Ta trở thành tuân phụng giáo điển, chấp nhận giảng huấn, nghi ngờ được đoạn trừ, do dự được diệt tân, thành tựu vô úy, sống trong giáo hội Bổn sư, khỏi phải nương tựa một ai (Trung Bộ Kinh, 35. Tiểu kinh Saccaka).

Đệ tử Thanh văn của Ngài thấp nhất là bậc Tu-đà-hoàn, còn tối cao là bậc A-la-hán. Một người đã nhìn thấy được ngũ uẩn không phải là tự ngã, xác quyết hoàn toàn trong nhận thức của mình thì đó là bậc Dự lưu thánh quả. Một người đã chứng đắc đoạn tận tham sân si tùy theo mức độ mà vào hàng Nhị quả, Tam quả và Tứ thánh quả. Người thành tựu chánh tri kiến là không còn sống nương vào bất cứ một ai, chỉ nương tựa vào pháp, mà pháp chính là thánh trí ngũ uẩn, đây là chỗ thâm sâu tuyệt diệu, là tổng cương lĩnh của toàn bộ đại tạng kinh Nikāya. Đức Phật đã nói đối với tất cả ngũ uẩn, dù là quá khứ, tương lai, hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, thấy như thật với chánh trí tuệ là: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi". Nếu như vậy thì người đó là người tuân phụng giáo điển, chấp nhận giảng huấn, nghi ngờ được đoạn trừ, do dự được diệt tân, thành tựu vô úy, sống trong giáo hội Bổn sư, khỏi phải nương tựa một ai. Đó là bậc có chân đứng trong pháp và luật của Như Lai, bậc đã thành tựu chánh tri kiến thánh trí tuệ, bậc đã thể nhập Dự lưu thánh quả.

-- Cho đến mức độ nào, này Tôn giả Gotama, Tỳ-kheo là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, các mục tiêu đã đạt, hữu kiết sử đã đoạn trừ, được chánh trí giải thoát?

-- Ở đây, này Aggivessana, Tỳ-kheo đối với bất cứ sắc pháp nào, quá khứ, tương lai, hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, tất cả các sắc pháp, sau khi như thật quán sát với chánh trí tuệ: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi", chứng được vô chấp thủ giải thoát. Ðối với bất cứ thọ nào... bất cứ tưởng nào... bất cứ hành nào... đối với bất cứ thức nào, quá khứ, tương lai, hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, tất cả các thức, sau khi như thật quán sát với chánh trí tuệ: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi", chứng được vô chấp thủ giải thoát. Cho đến mức độ này, này Aggivessana, Tỳ-kheo là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, các mục tiêu đã đạt, hữu kiết sử đã đoạn trừ, được chánh trí giải thoát.

Vô chấp thủ giải thoát tức là không còn chấp thủ đối với ngũ uẩn, giải thoát khỏi ngũ uẩn.

Với tâm giải thoát như vậy, này Aggivessana, Tỳ-kheo thành tựu ba pháp vô thượng: Kiến vô thượng, Ðạo vô thượng, Giải thoát vô thượng. Ðược giải thoát như vậy, này Aggivessana, vị ấy chỉ kính lễ, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường Như Lai: "Thế Tôn đã giác ngộ, Ngài thuyết pháp để giác ngộ. Thế Tôn đã điều phục, Ngài thuyết pháp để điều phục. Thế Tôn đã tịch tĩnh, Ngài thuyết pháp để tịch tĩnh. Thế Tôn đã vượt qua, Ngài thuyết pháp để vượt qua. Thế Tôn đã chứng Niết-bàn, Ngài thuyết pháp để chứng Niết-bàn".

Minh Thành nhắc lại thay vì niệm Phật thì hãy niệm câu này "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi". Hãy niệm và quán chiếu câu này, đây là tối thượng pháp luân, là thánh trí huệ. Đối với bất cứ hình sắc, cảm giác, nghĩ tưởng và nhận thức nào cũng niệm câu này lên. Khi một cơn giận nổi lên thì "cơn giận này không phải là tôi, không phải của tôi" rồi buông xả nó. Khi có hình bóng trong tâm hiện lên thì "hình bóng không phải là tôi, không phải của tôi" và xả bỏ những hình bóng này. Đối với tất cả những suy nghĩ ràng buộc, dính mắc thì xả bỏ "đây là hành uẩn, suy nghĩ này không phải là tôi, không phải của tôi, đó là pháp duyên sanh vô thường, tan nát".

Do có tiếp xúc nên mới sanh ra cảm giác. Có bao giờ sanh ra cảm giác khi không tiếp xúc không? Không thể có chuyện này. Thức ăn tập khởi nên sắc tập khởi, thân này có là do thức ăn nuôi dưỡng, đây là nhân duyên sanh diệt của ngũ uẩn, mình không ăn là chết, đây là định lý, không có bất cứ một ai nói chính xác ngoài bậc Chánh Đẳng Giác. Mình tu không tới là do học theo sư thầy này, sư cô kia mà những người này đều là phàm phu, làm sao qua được Đức Như Lai, chính vì vậy mà mình học không đến được trí tuệ của Đức Phật.

 Do các thức ăn tập khởi nên sắc tập khởi. Do các thức ăn đoạn diệt nên sắc đoạn diệt (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (c), B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa, I. Phẩm Tham Luyến, IV. Thủ Chuyển).

 Này các Tỳ-kheo, có bốn loại đồ ăn này khiến cho các loại sanh vật hay các loại chúng sanh được tồn tại hay khiến cho các loại sắp sanh thành được thọ sanh. Thế nào là bốn?

Một là đoàn thực hoặc thô hoặc tế,

Hai là xúc thực,

Ba là tư niệm thực,

Bốn là thức thực.

Này các Tỳ-kheo, bốn loại đồ ăn này khiến cho các loại sanh vật hay khiến cho các loại chúng sanh được tồn tại hay khiến cho các loại sắp sanh thành được thọ sanh.(Tương Ưng Bộ, Tập II. Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a), II. Phẩm Ðồ Ăn, XI. Các Loại Ðồ Ăn).

Từ sự tiếp xúc mới có cảm giác, không có sự đụng chạm thì làm sao có cảm giác? Do xúc tập khởi nên tưởng tập khởi. Do xúc đoạn diệt nên tưởng đoạn diệt (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (c), B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa, I. Phẩm Tham Luyến, IV. Thủ Chuyển). Tại sao trong tâm mình có hình bóng của món đồ đó, của con người đó? Là do con mắt mình tiếp xúc với những cái đó, không thể nào mình chưa từng tiếp xúc mà có thể tưởng ra được. Mình có thể tưởng ra được một con người, một món đồ hay một nơi nào đó mà mình chưa từng nghe, chưa từng thấy, chưa từng tiếp xúc không? Điều này là không thể.

Xúc sanh ra thọ; tưởng; hành. Từ sự tiếp xúc mới sanh ra cảm giác, hình bóng, nghĩ tưởng trong tâm. Không có tiếp xúc sẽ không có 3 cái này, đây là sự chứng ngộ của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, không có người nào nói chính xác bằng Như Lai. Những điều này phải thiền định mới có thể thấy rõ được. Khi đi đến một chỗ nào đó là đã có sự tiếp xúc, khi đến rồi có cảm giác thì đó là thọ được sanh ra, trở về nhà thì nhớ lại hình bóng nơi đã đến là tưởng, suy nghĩ về nơi đó thì đó là hành. Có nhiều người chưa đi nhưng xem trên mạng thì đó cũng là sự tiếp xúc, khi tiếp xúc cũng sanh ra thọ; tưởng; hành giống vậy, đây là tâm lý học tối thượng của Phật giáo. Đức Phật dạy trong ngũ uẩn rất rõ ràng, có thể nhìn thấy trong sự thiền tập nên không cần học duy thức học. Những kiến thức này cực kì khó khăn để thể nhập, khó được nghe, khó được học, khó được hiểu, khó chấp nhận, khó thực tập nhưng khi làm được thì chỉ có siêu phàm nhập thánh, đây là giáo pháp gốc thực sự của Đức Phật. Chỉ có nhìn thấu, tháo gỡ, xa lìa, nhàm chán và từ bỏ đối với ngũ uẩn thì mới đi đến chỗ diệt tận sanh tử, chấm dứt khổ đau, chứng nhập Niết-bàn. Sự tu tập hiện nay của mình còn chưa chạm được đến sắc uẩn chứ đừng nói gì đến thọ; tưởng; hành; thức. Nếu mình không có chánh kiến về sự tu học theo đường lối của kinh tạng Nikāya thì có khi lấy sự phát huy sắc uẩn làm thành tựu, điều này đáng để suy ngẫm. Nó hoàn toàn không phải là con đường thánh đạo của Thế Tôn, đây là chỗ thâm sâu, đây là giải mã pháp hành của đạo Phật. Những điều này tới chết cũng chưa chắc mọi người đã được nghe vì dòng pháp này đã bị thất truyền, ngay cả Myanmar, Thái Lan, Sri Lanka và trung tâm thiền quốc tế của ngài Ajahn Chah cũng không nói được đầy đủ về năm uẩn. Đây là sự thật, thành ra công phu tu tập phải phá được hết ngũ uẩn này, đó là mục đích tối thượng của đời sống phạm hạnh. Trọng tâm tu hành là yểm ly, ly tham, nhàm chán, từ bỏ, chấm dứt đối với ngũ uẩn, đạt tới tâm bất động giải thoát, đó mới là giáo lý chánh tông của Đức Phật. Nếu bây giờ mình cứ lo phát triển ngôi chùa của mình, lấy đó làm sự nghiệp trong khi trọng tâm là phải yểm ly, ly tham, nhàm chán, từ bỏ, đoạn tận đối với sắc uẩn thì làm sao mình có thể là đệ tử của Phật. Đệ tử Phật là bậc bốn đôi tám chúng hiền thánh, tức là bậc đã nhìn thấy ngũ uẩn và nhàm chán, đi ra khỏi ngũ uẩn thì đây mới chính là đệ tử chính thức của Đức Phật, dù cho là cư sĩ. Tăng đoàn trong đạo Phật không phải để chỉ người tu xuất gia mà đó là một đoàn thể Phật giáo tứ chúng, gồm có nam nữ cư sĩ, nam nữ xuất gia. Ví dụ nói tập đoàn Vincom thì tất cả những người trong đó từ lãnh đạo cho đến nhân viên đều là thành viên của tập đoàn đó, chứ không phải chỉ có những người lãnh đạo cấp cao mới là người của tập đoàn, thì Tăng đoàn cũng giống như vậy, cho nên từ trước tới giờ mình đã hiểu sai ý nghĩa của Tăng đoàn. Thành ra đoàn thể Phật giáo bao gồm nam nữ cư sĩ, những vị này vẫn có khả năng chứng tới Tam quả thánh, nếu tu học đúng theo dòng pháp thì cư sĩ thánh nhân có thể chứng được Bất lai. Cư sĩ nam, cư sĩ nữ, Tỳ-kheo Ni, Tỳ-kheo Tăng là tứ chúng, là đoàn thể Phật giáo, trước giờ mình cứ nghĩ chữ Tăng trong Tăng đoàn chỉ dùng để chỉ ông thầy là không chính xác. Ví dụ trong chùa có 10 người thầy, 7 người Phật tử thì mình gọi chúng trong chùa tổng cộng có 17 người, trong đó có 10 vị xuất gia, 7 vị cư sĩ. Tập thể người trong chùa có 17 người, thì chữ tập thể đó chính là Tăng đoàn. Mình học không chính xác là mình sẽ hiểu sai mà rất nhiều người hiểu lầm như vậy. Đoàn thể của Phật giáo gồm bốn chúng, gọi là tứ chúng, nếu học trở lại Nikāya này thì có nhiều vấn đề cần phải nói, nhiều vấn đề cần nhìn nhận lại, những cái được lưu truyền hiện nay sẽ có rất nhiều điểm khác với những chuẩn tắc của Đức Phật trong thời chánh pháp, những cái đó lại trở thành quen thuộc và đi sâu trong não. Cái này đòi hỏi phải có trí huệ sâu sắc, lắng nghe, tìm hiểu và cẩn trọng tuyệt đối. Mình đang ở trong thời cuối của tượng pháp, chuẩn bị bước qua mạt pháp. Tượng là sự mường tượng, giông giống thôi chứ không phải thật, chánh pháp chỉ có 500 năm kể từ khi Đức Phật nhập diệt chính là bộ kinh Nikāya này, còn sau đó đều là tượng pháp. Những ông Tân-đầu-lô, những người không mời mà lại đến dự trai Tăng giống những vị thầy nhưng thật sự họ không phải là thầy, những người giả dạng người nghèo khổ, bệnh tật ăn xin ngoài đường, đó là sự giả dạng chứ họ thật sự không phải như vậy. Tượng pháp cũng giống như vậy, nó vẫn là tốt, vẫn khuyến khích người ta làm thiện nhưng lại là nhân thiên pháp, là ở trong đó khuyến khích tăng trưởng ngũ uẩn, tham chấp trong ngũ uẩn, đây là điều rất thâm sâu. Khi mình hiểu thật sự được chánh pháp thì mình sẽ sốc, bất cứ những pháp môn thực tập nào của Đức Phật trong Nikāya, bao gồm 37 phẩm trợ đạo đều đưa ra con đường nhàm chán, xa lìa, những thứ khổ não, bất tịnh này là thứ không đáng tham. Ly tham có nghĩa là không đáng để tham, những thứ thối tha bẩn thỉu, vô thường, tan hoại không đáng để mình đầu tư, tham mê, đắm say rồi đau khổ vào đó thì gọi là ly tham. Đoạn diệt là chấm dứt, không tiếp tục nữa. Lấy những cái này làm pháp ấn, tức là con dấu ấn định thánh pháp, ngoài cái này ra hoặc ngược lại đều là tà pháp. Bất kì đường lối tu hành nào phát huy thêm hình sắc, sắc tướng, phát huy thêm sự tham đắm, mê say trong những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ hoặc an trú vào những cái thức đó đều không phải là thánh pháp của Như Lai, dù vẫn là thiện pháp của trời người. Đối với người không biết tu thì làm những cái này vẫn đỡ hơn là làm ác nhưng để đưa đến chân chánh giải thoát, chánh trí chánh giải thoát thì không có khả năng. Mọi người phải nắm thật vững những điều này dù cho mình chưa hiểu nhiều, dù cho chưa thực hành được bao nhiêu nhưng vẫn phải nắm được tổng cương lĩnh của giáo pháp để sau này mình có hướng dẫn, nghiên cứu, giảng pháp thì vẫn nắm được tông chỉ, còn không mình sẽ dạy người ta phát huy năm uẩn.

Hôm đó ngồi thiên mà tâm mình yên tĩnh, nhẹ nhàng, mình muốn giữ sự thanh tịnh này mà tự nhiên nó lại mất đi thì mình tiếc, hôm sau vào ngồi thiền mình lại đi tìm trạng thái này nữa mà nó vẫn không xuất hiện thì buồn, đó là thọ uẩn. Khi tu thì những cảm giác thanh tịnh, nhẹ nhàng sẽ sanh ra nhưng mình vẫn phải biết đó chỉ là cảm giác, mà cảm giác thì vô thường, có duyên thì cảm giác đó tự đến chứ mình đừng mong cầu, giữ lấy nó, đó là sự chấp thủ, những vị tu thiền rất dễ bị điều này. Khi cái tâm đã quen với sự giao động, suy nghĩ hết điều này tới điều kia, bây giờ mình không muốn suy nghĩ nữa, không muốn bị vọng tưởng nữa nên khi khởi cái gì là bỏ hết, mong giữ được sự yên tịnh đó, khi không nghĩ cái gì hết thì cái tâm lại trở nên ù lì, dần dần thành si chứ không được bén nhạy, linh hoạt nữa. Cho nên tu là không phải không suy nghĩ, vấn đề là phải suy nghĩ đúng, suy nghĩ để nhàm chán, từ bỏ thì gọi là thánh tư duy, chánh tư duy. Chánh tư duy bao gồm: Ly dục tư duy, ly sân tư duy, bất hại tư duy. Cho nên tu thiền không phải là không suy nghĩ, mình hiểu lầm điều này rất nhiều, dùng suy nghĩ chân chánh để đánh tan suy nghĩ tà kiến, dùng suy nghĩ ly dục để đánh tan những ý tưởng về dục, dùng suy nghĩ ly tham để đập vỡ hết những suy nghĩ ham muốn. Trong phần Thân Hành Niệm phải suy nghĩ, quán chiếu tứ đại, 32 thể trược, 9 giai đoạn một tử thi, đây là những suy nghĩ để phá dục tham. Lúc ngồi thiền không suy nghĩ nhưng khi xả thiền lại suy nghĩ, thành ra khi ngồi thiền thì yên còn trở ra lại giao động trở lại. Vì mình không bứng được gốc rễ của suy nghĩ, chỗ này rất thâm sâu, trước giờ mình tu toàn ôm gốc, chỉ cần nhổ được vài cành là thấy mừng rồi bắt đầu khoe khoang. Phật tử lại thì làm dáng ngồi trang nghiêm nhưng trong đầu nghĩ cái gì, có những cái tưởng gì mới quan trọng, tâm bị giao động hay là tâm yên tịnh. Khi Phật tử quỳ lạy dâng bao thư thì lúc đó tâm mình phải như thế nào? Ngồi yên, nhiếp niệm thanh tịnh và phải tác ý, chắp tay xá đáp lễ và phải tác ý, hình bóng trong cái tưởng là phải lạy đáp lễ. Khi người ta lễ lạy là phải tác ý "bản ngã này là thứ xấu xa, cái ta này là thứ nhục nhã, đống thịt thối này hãy chết đi, ngươi phải chết đi cái bản ngã này", chứ không phải ngồi im cho người ta lễ, thậm chí còn không thèm chắp tay xá lại thì nhân quả của việc này mình sẽ không thể chịu nổi. Phải dùng chánh tư duy Như lý tác ý "cái bản ngã xấu xa này hãy chết đi, mày chẳng là gì trong cuộc đời này, mày là đồ trống không", phải tác ý như vậy trong lúc người ta quỳ lạy, cúng dường trai Tăng. Khi thấy vừa sanh khởi bản ngã, dục tham là tác ý "đồ súc sanh, mày đi theo cái tâm bản ngã, sân hận này là sẽ đi vào những đời sống chó, mèo, gà, vịt, trâu bò". Tác ý mãnh liệt như vậy thì mới bắt đầu nhiếp phục được cái thọ; tưởng; hành bất thiện, khi đang ngồi thiền tụng kinh hoặc nghe pháp mà nghĩ bậy thì tác ý "đồ thú vật", khi đang quán bất tịnh lại đi nghĩ về dục thì tác ý "đồ khốn nạn, mất dại". Phải tác ý mạnh mẽ như vậy mới đánh đuổi được những tư tưởng xấu ác đó, còn không là nó xâm chiếm tâm tư của mình. Đó chính là ly dục tư duy, là Như lý tác ý.

Thánh tư duy, chánh tư duy là sự huấn luyện và dạy dỗ ngũ uẩn, những cảm giác, nghĩ tưởng bên trong nội tâm. Khi nội quán thân tâm và nhận diện ngũ uẩn thì mọi người sẽ thấy ngoài sức tưởng tượng của mình, thế giới nội tâm của mình rất khủng khiếp chứ không phải đơn giản. Mình tu không tiến, không thành công là do mình quen nhìn bên ngoài, không nhìn được ngũ uẩn của mình. Không nhận diện ngũ uẩn, không thực hành 3 pháp toàn thân được thì mọi người chỉ có thể đứng ngoài cửa chùa, không thể nào thực hành được pháp hành vì không nhận diện ngũ uẩn là không biết nội tâm chính mình thì làm sao mình tu? Phải nhìn ra được thọ; tưởng; hành là cái gì và nhận diện được chính xác, cũng như bắn cung phải chính xác vào hồng tâm. Không nhận diện được năm uẩn là tu không bao giờ có kết quả, vì năm uẩn chính là thân tâm mình, lúc nào cũng có mà mình không biết. Cảm giác nào cũng cho là tôi, hình bóng, tư tưởng nào cũng là tôi rồi nhìn cái nào cũng cho là tôi biết thì không có nhận diện ngũ uẩn, cái này là đại ngã uẩn, một cái bản ngã to lớn. Bất cứ lúc nào không thấy năm uẩn là đều ở trong thân kiến chấp ngã, thấy được năm uẩn thì mới ra khỏi được thân kiến.

 Thôn trưởng Asibandhakaputta bạch Thế Tôn:

Bạch Thế Tôn, đối với một số người, Thế Tôn thuyết pháp một cách hoàn toàn trọn vẹn; đối với một số người, Thế Tôn thuyết pháp không hoàn toàn trọn vẹn như vậy?

-- Vậy, này Thôn trưởng, ở đây, Ta sẽ hỏi Ông, Ông kham nhẫn như thế nào, hãy trả lời như vậy.

Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng, ở đây, một người cày ruộng có ba thửa ruộng, một loại tốt, một loại bậc trung, một loại xấu, đất cứng, có chất muối, đất độc. Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng? Người cày ruộng ấy muốn gieo hột giống, thời gieo ở thuở ruộng nào trước, ruộng tốt, hay ruộng bậc trung, hay ruộng loại xấu, đất cứng, có chất muối, đất độc?

-- Bạch Thế Tôn, người gia chủ cày ruộng muốn gieo hột giống, gieo vào thửa ruộng tốt; sau khi gieo ở đấy xong, lại gieo vào thửa ruộng loại trung; sau khi gieo ở đấy xong, vị ấy có thể gieo hay không gieo hạt giống vào thửa ruộng loại xấu, đất cứng, có chất muối, đất độc. Vì sao? Tối thiểu cũng có thể làm món ăn cho các trâu bò.

-- Ví như thửa ruộng tốt, này Thôn trưởng, là các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni của Ta. Ðối với họ, Ta thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn. Ta nói lên cho họ biết đời sống Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, thanh tịnh. Vì sao? Này Thôn trưởng, vì họ sống lấy Ta làm ngọn đèn, lấy Ta làm hang ẩn, lấy Ta làm chỗ che chở, lấy Ta làm chỗ nương tựa.

Ví như thửa ruộng loại trung, này Thôn trưởng, là các vị nam cư sĩ, nữ cư sĩ của Ta. Ta thuyết pháp cho họ, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn. Ta nói lên cho họ biết đời sống Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, thanh tịnh. Vì sao? Này Thôn trưởng, vì họ sống lấy Ta làm ngọn đèn, lấy Ta làm hang ẩn, lấy Ta làm chỗ che chở, lấy Ta làm chỗ nương tựa.

Ví như thửa ruộng xấu, đất cứng, có chất muối, đất độc, này Thôn trưởng, là các ngoại đạo Sa-môn, Bà-la-môn, du sĩ. Ta thuyết pháp cho họ sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa có văn, trình bày cho họ biết đời sống Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, thanh tịnh. Vì sao? Vì rằng, nếu họ hiểu được chỉ một câu, như vậy là họ được hạnh phúc, an lạc lâu dài (Tương Ưng Bộ, Tập IV Thiên Sáu Xứ, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, VII. Thuyết Pháp).

Sau khi nhắm mắt, có ai biết điều gì chờ đợi mình không? Tăng-Ni bị đọa trong địa ngục rất nhiều.

Tôn giả Lakkhana và Tôn giả Mahà Moggallàna trú ở núi Gijjhakùta (Linh Thứu).

Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một Tỳ-kheo đi giữa hư không.

Y tăng-già-lê (thượng y) của vị ấy bị cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ ngọn. Cái bát cũng bị cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ ngọn. Cái nịt cũng bị cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ ngọn. Thân cũng bị cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ ngọn. Và vị ấy thốt lên những tiếng kêu đau đớn.

Tỳ-kheo ấy, này các Tỳ-kheo, là một ác Tỳ-kheo trong thời bậc Chánh Ðẳng Giác Kassapa thuyết pháp (Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, II. Phẩm Thứ Hai, VII. Tỷ Kheo).

Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một Tỳ-kheo Ni đi giữa hư không.

Y tăng-già-lê (thượng y) của vị ấy bị cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ ngọn. Cái bát cũng bị cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ ngọn. Cái nịt cũng bị cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ ngọn. Thân cũng bị cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ ngọn. Và vị ấy thốt lên những tiếng kêu đau đớn.

Tỳ-kheo Ni ấy, này các Tỳ-kheo, là một ác Tỳ-kheo Ni trong thời bậc Chánh Ðẳng Giác Kassapa thuyết pháp (Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, II. Phẩm Thứ Hai, VIII. Tỷ Kheo Ni).

Từ thời Đức Phật Kassapa cho tới thời của Phật Thích-ca là đã trải qua trăm ngàn vạn lần Trái Đất thành hoại mà chư Tăng-Ni ác vẫn còn trong loài ngạ quỷ và địa ngục. Chính bản thân Minh Thành rất cố gắng tu học mà vẫn còn thấy khiếp sợ, phải vào Dự lưu thánh quả mới chắc chắn không rơi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, còn ngoài ra tất cả đều có khả năng đi vào 3 đường ác. Đây là duyên lành của Minh Thành và mọi người, mong mọi người hiểu được tấm lòng của Minh Thành, con không bao giờ có ý niệm xem thường quý thầy. Quý thầy hãy suy nghĩ cho kĩ, nghĩ về cha mẹ của mình, Đàn-na tín thí, tương lai chính mình trong đời này và những kiếp sau.

./.

https://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung35.htm

https://www.youtube.com/watch?v=4uMQp_D1V1E&feature=youtu.be