Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Tam su voi nguoi xuat gia - Lo trinh tu tap - Nghe va BT ngay 22.4.2019

2026-03-03 00:55:16
LINH QUY PHÁP ẤN

TÂM SỰ VỚI NGƯỜI XUẤT GIA

Lộ trình tu tập

THÍCH MINH THÀNH

NHÀ XUẤT BẢN …………………….

Thuyết giảng:

Thích Minh Thành.

Chuyển thành văn bản:

Thiện Ngộ.

Biên tập:

Thiện Ngộ.

Sửa bản in:

………………………..

Ban Văn hóa Pháp Ấn

thực hiện

Sư phụ giảng tại Trường Cao Trung Phật học Thành phố Hồ Chí Minh;

Nghe và biên tập từ ngày 22.4.2019 đến ngày 23.4.2019.

MỤC LỤC

Nhận diện ba uẩn thọ, tưởng và hành ………………………………….. trang4

Khéo chọn THẬT PHÁP để THỰC HÀNH …..………………………………5

Quán chiếu thân tâm từng thời khắc ………………….……………………... 7

Nhận diện ba uẩn thọ, tưởng và hành

Chúng ta cùng nhau chia sẻ sự thực tập pháp hành qua việc nhận diện thọ, tưởng, hành sau những phút ngồi tĩnh lặng. Đây là những điều hết sức căn bản và quan trọng. Nếu hành giả không nắm vững nhận diện năm uẩn thì chúng ta chỉ học trên lý thuyết suông. Khi đi vào thiền quán sâu hơn một chút sẽ bị rối loạn và không biết gì hết. Do có sự hiểu nhầm, lẫn lộn gây ra sai lệch trong tu tập, như vậy khó mà tu đúng đường, huống nữa là muốn hướng dẫn cho người khác.

Trong mỗi khoảnh khắc, hành giả cần nhận diện, gọi tên đúng sự thật từng cảm giác đang hiện hữu. Đó là sự vận chuyển của thọ gì? Tưởng như thế nào? Hành ra làm sao? Nói năm uẩn, nhưng ở đây chúng ta chia sẻ gọn 3 uẩn của thọ, tưởng và hành uẩn.

Có một vị huynh đệ đã chia sẻ thọ lạc, cảm giác dễ chịu, trong khi ngồi có gió mát; tưởng đến ngày nhỏ hay coi đá gà, thấy những con gà đang đá nhau; hành nói lầm thầm sao lại có suy nghĩ không đúng chánh pháp, ý nghĩ như vậy là sai trái rồi. Khi có khởi hành này tức là hành như lý tác ý của chánh pháp.

Huynh đệ khác sau khi tĩnh tọa đã có những suy nghĩ như sau: thọ lạc, cảm giác dễ chịu vì có gió mát; tưởng là hình bóng mình đang đi tản bộ; hành là lời nói, suy nghĩ tại sao đang ngồi trong lớp học lại suy nghĩ đi đâu ra bên ngoài? Lúc đó quay trở lại hơi thở.

Tu tập không phải chỉ có cái bên ngoài, như đi biết đi, ngồi biết ngồi. Đi sâu vào bên trong là nhận diện cảm giác, nhận diện các uẩn đang vận hành trong nội tâm. Đôi khi, chúng ta thấy đạo hữu mình hoặc bản thân mình đang ngồi thiền, dáng thẳng, trang nghiêm nhưng chưa hẳn chánh niệm, bên trong vọng niệm về dục dấy khởi liên miên.

Có vị lúc niệm Phật đã nghe phía bên ngoài ồn, sanh ra khổ thọ (khó chịu vì tiếng ồn); tưởng hiện ra những bước chân đi lại gây tiếng ồn; hành uẩn nói rằng ‘tại sao mình với đại chúng niệm Phật không đều?’.

Hoặc có vị trong lúc ngồi tĩnh lặng vừa rồi đã có cảm giác bất khổ bất lạc thọ (không buồn không vui) vì xem vạn pháp tự nhiên; hành đang diễn ra sự nhắc nhở nên buông xả sẽ được an, đừng dính mắc vào ngoại duyên; chưa nhìn rõ được tưởng hiện diện trong khoảnh khắc đó.

Chúng ta đã nhận diện các uẩn sanh diệt trong từng thời điểm sai biệt, chẳng những một lớp mà nó được thể hiện hai, ba lớp thọ, tưởng, hành trong cùng thời điểm. Mình phải định tâm dù cho bên ngoài có tác động âm thanh của tự nhiên hoặc lời nói. Vì không định tâm được sẽ dấy khởi ý hành rồi khẩu hành phát ra, thân hành chuyển động, như vậy hành giả không còn kiểm soát được cảm giác, chẳng chế ngự được thân, không làm chủ được tâm, lúc đó khó mà giữ lại được. Cho nên kiên trì tập luyện nhận diện năm uẩn, điều phục thân tâm, không cho nó sanh bất thiện pháp, làm cho nó tăng trưởng thiện pháp.

Khéo chọn THẬT PHÁP để THỰC HÀNH

Chúng ta học THẬT PHÁP để THỰC HÀNH. Học và Hành đồng thời diễn ra. Hiện nay, chúng ta học quá nặng về lý thuyết, tu thì chú trọng hình thức. Hành giả cần có cái nhìn sâu sắc. Học rất nhiều kiến thức, mỗi vấn đề hiểu được một chút không đi vào trọng tâm gốc rễ. Học không có căn bản, đường hướng nhất quán để cho mình chuyên tâm thực hành, như vậy sẽ không đưa ta đến thành công trong pháp học.

Phật pháp chia làm ba phần: Pháp học, pháp hành và pháp thành. Chúng ta phải tu đủ ba pháp này mới gọi là thành tựu pháp. Tu học không khéo trở thành mang vác một đống xà bần trên lưng. Phải có chắt lọc, cân nhắc, trí tuệ. Chúng ta cứ thao thao bất tuyệt chia tông lập phái nhưng lại không lấy cội rễ làm căn bản. Đây là chỗ mà chúng ta cần thao thức, cầu đạo giải thoát.

Vậy đạo lộ giải thoát nằm ở đâu? Đạo lộ giải thoát nằm trọn vẹn trong bốn bộ Nikàya (Trường Bộ kinh, Trung Bộ kinh, Tương Ưng Bộ kinh, Tăng Chi Bộ kinh), nói đầy đủ là năm bộ Nikàya, thêm Tiểu Bộ kinh kết tập sau này. Chúng ta tìm hiểu thêm phân loại kinh Nikàya trên website www.linhquyphapan.vn

Ở đây, chúng ta có phân loại theo chủ đề, từng phần cụ thể rõ ràng, cúng dường cho người học Phật. Chẳng hạn phân loại, ái, kiết sử, vô minh, có rất nhiều chủ đề. Đây là công trình trên mười năm của nữ cư sĩ Chơn Tín Toàn ở Paris, Pháp quốc. Nay, Minh Thành thừa kế, phát huy, làm cho nó viên mãn hơn nữa.

Như vậy, pháp học của người tu chúng ta chuyên chú vào bốn bộ kinh Nikàya, đừng đọc nhiều rối rắm rồi không biết đường tu vì kiến thức ta bị rối loạn. Phải học và hành từ Phật gốc. Ở Linh Quy Pháp Ấn thực hành nghi thức đều theo Nikàya cả. Từ ăn cơm, ngồi thiền, tụng kinh, kinh hành,… đều lấy trong Nikàya ra làm kim chỉ nam tu hành. Giáo pháp này mới đưa chúng ta tới chỗ ly tham.

Đọc lời kinh Nikàya từ đức Thích-ca Mâu-ni Phật dạy để chúng ta suy tư, quán chiếu sâu sắc nội tâm. Tinh hoa giáo pháp gần ba ngàn năm được các bậc A-la-hán, Hiền Thánh Tăng tiếp nối truyền trao tới nay. Đây là Thánh điển, Thánh tạng của Phật giáo. Nếu ai mà chuyên tâm đọc và nghiền ngẫm, quán chiếu rồi thực hành theo lời Phật dạy trong bốn bộ kinh Nikàya thì tối thiểu sẽ đến quả vị Hướng Dự lưu cho tới Nhập lưu. Lúc đó chính thức bước vào dòng pháp trí huệ chân chánh mà đức Phật đã truyền trao.

Chúng ta thấy gương sáng của vị trụ trì chùa Hoằng Pháp Thượng tọa Thích Chân Tính chăng? Ngài đang rất nhiều Phật sự vì đại chúng, vì Phật tử, vì hoằng pháp nhưng thấy rõ giá trị và sức mạnh giải thoát từ năm bộ kinh Nikàya, ngài đã mạnh dạn đóng cửa an trú trong thất nghiền ngẫm đọc tụng để thực hành pháp Nikàya. Chúng ta có ai dám làm điều này chăng? Rời pháp này sẽ không có Thánh đạo, Thánh quả. Vì đây là con đường độc đạo, đưa chúng sanh diệt khỏi sầu ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn.

“Bát chánh và độc đạo,

An ổn và bất tử,

Không bệnh lại tối thượng,

Niết-bàn lạc tối thượng.”

(Trường Bộ kinh)

Ngoài Bát chánh đạo, Tứ niệm xứ, Năm Thánh trí sẽ không có Sa-môn quả, chẳng có đệ nhất, đệ nhị, đệ tam, đệ tứ Thánh quả. Năm thủ uẩn là cái vô thường, tan hoại, mong manh, tạm bợ. Thấy được như vậy để chúng ta phát khởi nhàm chán, ly tham, từ bỏ, chấm dứt. Lúc đó sẽ thành tựu chánh trí Niết-bàn ra khỏi năm thủ uẩn, chấm dứt sanh tử. Ngay bây giờ chúng ta không nỗ lực tôi rèn để pháp học thành tựu, chưa nhận diện được năm thủ uẩn thì làm sao pháp hành có thể thành tựu được.

Tu theo Nikàya là làm cho chúng ta ly tham, xa lìa dục, đi ra ngoài; con những pháp khác sẽ làm cho mình tăng bản ngã, ưa thích vẫn còn và đưa mình đi vào, trở vào con đường sanh tử. Do đó, càng tu càng phiền não, dục càng phát khởi là ở chỗ đó. Chúng ta khéo tác ý để nhận rõ và hành trì cho thấu đáo.

Trái tim của chánh pháp là ly tham, đây là con mắt của đức Thế Tôn, là tinh hoa Phật trí. ‘Tham’ ở đây không phải ở nghĩa hẹp kiểu thông thường như tham tiền, tham sắc đẹp, tham danh lợi,… Đây là tham đối với năm thủ uẩn. Xa lìa sự tham muốn đối với sắc uẩn này, đối với những cảm giác, tư tưởng, nhận thức, phải hoàn toàn không còn ưa thích, đắm nhiễm về chúng nữa. Khi thân này mạng chung, vị ấy quán từ bỏ quăng cái thây chết như ổ rác chứa đầy chất độc, không còn thích thú, chẳng muốn tái tục sắc uẩn này nữa. Lúc đó vị ấy xuất ly khỏi năm thủ uẩn một cách nhẹ nhàng.

Nếu không vào Thánh đạo làm sao ra khỏi năm thủ uẩn. Tràn ngập trong thế giới bị thọ tác động và sắc chi phối, thọ ví như cổ thụ ngàn năm. Phàm phu sẽ thấy người nam này thích người nữ kia, người nữ kia say đắm người nam này; bậc Đa văn Thánh đệ tử sẽ thấy do cảm giác của người nữ đem lại cho người nam luyến ái, vì cảm giác của người nam làm cho người nữ thích thú nên bị chìm trong dục. Chúng ta thường nghe nói rằng ‘con chán cảnh này lắm rồi, con chẳng muốn sống chung với bả nữa nhưng vì còn nợ, vì cái nghiệp’. Nghiệp là thọ, cảm giác nó làm cho mình chưa dứt được.

Có một vị Tỷ-kheo thưa với đức Phật: “Bạch Thế Tôn, thế nào là chấp thủ?”. “Chỗ nào có dục tham là chỗ đó có chấp thủ” (Tương Ưng Bộ kinh).

Cũng vậy, con bò đen không có kiết sử, trói cột con bò trắng; con bò trắng cũng không có kiết sử, trói cột con bò đen, nhưng vì có cái ách cột hai còn bò này lại với nhau. Như vậy, con mắt không kiết sử các sắc, các sắc pháp không kiết sử con mắt, ở chặng giữa là dục và tham làm trói cột.

Khi có thiền quán, hành giả mới rõ thấy được sự sanh khởi, an trú của dục tham và ái phá hoại đạo tâm của chúng ta rất mãnh liệt. Hàng ngày, hàng giờ chúng chi phối mình. Muốn ra khỏi nó phải là “người trí tự mình giác hiểu”. Người trí là luôn xoay trở lại nhìn nội tâm chính mình, đó là sắc thân này, cảm giác, những suy tưởng,… “Này các Tỷ-kheo, hãy dán tâm vào tĩnh mặc; dán tâm vào tĩnh mặc các ông sẽ thấy được sự tập khởi của năm uẩn và sự chấm dứt của năm thủ uẩn”.

Quán chiếu thân tâm từng thời khắc

Người chân tu là luôn nội soi thân tâm này để điều phục, chế ngự chúng. Thường xuyên nhìn lại thân, nhìn lại cảm giác, xem coi những cảm thọ có phát khởi tham, sân, si, bản ngã hay không?... Đó là Tứ niệm xứ. Vì chú tâm tỉnh giác trong từng khoảnh khắc nên hành giả rõ biết từng chuyển động của thân tâm, những gì thuộc bất thiện pháp sanh khởi liền bị dập tắt, chặt đứt đoạn tận không cho nó hiện hữu chẳng thể sanh khởi được nữa. Người như vậy là bậc chân tu, tinh cần, tinh tấn, đó là bậc đáng được chắp tay đảnh lễ, tôn kính, cúng dường, là ruộng phước vô thượng ở đời.

Ví như, lễ trai tăng, có rất nhiều món ăn được cúng dường trên bàn, chúng ta nhìn món ăn nhưng không phải thật nhìn món ăn. Lúc này nhìn sâu sắc hơn nữa vào năm uẩn xem coi nó có tham, sân, si, dục, ái sanh khởi như thế nào? Nó đang nhìn món ăn thèm thuồng ưa thích nhưng sao mà lâu quá chưa được ăn, hay là nhìn bao thư cúng dường vọng tưởng miên man bên trong là nhiều hay ít, hay là mong cho được ăn mau để được nghỉ ngơi, sao lại tác bạch lâu vậy?… phải quán chiếu tận tường năm uẩn này. Mắt thịt nhìn ra ngoài nhưng mắt tâm phải quay ngược vào trong để nhận diện năm uẩn, kịp thời chế ngự, điều phục từng loại uẩn đã và đang diễn ra. Quán chiếu sâu sắc chúng ta thấy đang ngồi chỗ quả đường mà tham, sân, si đầy dẫy!

Dục, ái vận hành mà không thấy, chẳng biết là vô minh, điên đảo. Hành giả ngồi im như vậy để người ta lạy mà mình mất chánh niệm từ lâu, điều này rất nguy hiểm! Thật sự nguy hiểm! Đó là mối tai họa!

Bậc thành tựu trí huệ phải thấy được sự sanh khởi của dục, sự vận hành của dục, áp đảo của dục trong nội tâm. Không dễ gì nhìn thấy được chúng, bởi nó rất tinh vi, xảo quyệt, dối lừa mình. Cho nên, đạt Thánh quả thứ nhất là thấy được những cấu uế, rác bẩn trong tâm.

Vì chúng ta luôn thấy mình mà chẳng chịu thấy người, nói chuyện một lát thì cống cao ngã mạn, khen mình chê người. Phê bình, góp ý mình sai quấy thì mình buồn, chẳng chịu, sân si. Chỗ này là đi đến khổ thú đọa xứ. Bây giờ cười nói vui vẻ, đến lúc thân hoại mạng chung thì khổ vây trùng trùng, làm sao có định lực mà vượt qua.

Hai yếu tố giúp mình thành tựu chánh tri kiến, một là gặp bậc Chân nhân, hai là gặp Thiện tri thức và biết lắng nghe chánh pháp. Từ đó, như lý tác ý sẽ sanh ra chánh tri kiến. Thành tựu chánh tri kiến th sẽ là đệ tử của Phật, nằm trong bốn đôi tám chúng thật sự. Còn chưa thành tựu chánh tri kiến, dù là tu sĩ cũng chưa được. Hành giả khéo tác ý lời Phật dạy.

Nhấn mạnh rằng, ngoài bốn bộ kinh Nikàya, không kể là pháp học. Do vậy, chúng ta tiếp cận, đọc kỹ Nikàya, quán chiếu nội tâm để làm hành trang trên bước đường tu hành của chính bản thân. Nghe giảng pháp một thời gian chúng ta thấm nhuần, có chìa khóa tổng cương lĩnh, yếu nghĩa rồi sau đó đọc trực tiếp kinh tạng Nikàya sẽ dễ lãnh hội và hành trì tốt hơn. Vì chỉ có con đường này mới đưa mình tới chỗ thấu rõ tham, sân, si, bản ngã. Có phương pháp thật sự và đi tới chỗ chấm dứt, diệt tận tham, sân, si, bản ngã.

Chúng ta dễ bị danh tiếng bên ngoài mê hoặc, nghe đồn thổi kể về danh Tăng này, Thiền sư nọ nhưng mình chưa thật sự biết mình đang cần gì ở pháp học và pháp hành thì rất nguy hiểm.

Y cứ vào kinh tạng Nikàya mà hành giả đọc tụng và hành trì không sai lệch thì mới đem tới sự thành tựu trí huệ. Ví như, bản đồ chỉ đường cho chúng ta, mình phải y cứ vào đó mà đi, không tự theo ý mình vẽ mà đi sai lệch với bản đồ, mãi sẽ không tới được địa chỉ.

Tu hành không có chánh tri kiến dễ bị sai lạc mà không rõ. Đi vào đường tà mà nghĩ là nẻo chánh, điều này rất nguy hiểm. Chánh và tà chỉ trong lằn ranh rất mỏng. Nó tinh vi, nhỏ nhiệm, phải tinh tấn tu hành, kiên trì soi nội, quán chiếu sâu sắc mới nhận diện năm uẩn lộng hành mà bắt nó, điều phục nó, dập tắt, đoạn tận nó ngay lúc đó. Bởi, hành giả thường xuyên thiền quán sẽ thấy năm uẩn nó làm cho mình từ kinh ngạc này tới kinh ngạc khác, cho tới đại kinh ngạc về sự gian manh của nó, chính vậy mới có luân hồi sanh tử.

Ngũ uẩn vận hành theo dục tham, ái và bản ngã. Đây là một sự khủng khiếp, khi hành giả tu tập rồi phát hiện dễ bị sốc, vì lầm tưởng mình thấy đúng nghĩ đúng, nhưng trước kia tới giờ đã thấy sai nghĩ sai, bị lầm lạc mà chưa tỏ tường, đau khổ còn nguyên. Điều này không khó hiểu, vì chúng ta đang sống ở cõi dục nên dục khởi là thường xuyên. Nếu nhìn bằng con mắt Thánh trí về năm uẩn sẽ thấy toàn thể chúng sanh đang chạy, chìm ngập trong dục, nhiễm ái, đầy tham. Trừ những bậc Thánh trí mới thấy rõ tham, sân, si và bản ngã, khéo vượt ra khỏi chúng. Thật sự thành tựu chánh tri kiến mới dừng lại dục, tham, ái, bản ngã,…

Bản chất của dục là trống rỗng, càng chạy tìm cầu thì càng không thỏa mãn, vì không thỏa mãn nên sầu ưu bi khổ não xuất hiện. Vòng tuần hoàn này lặp đi lặp lại trong cái nhìn vô minh của nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm cho tới thành hoại của trái đất này vẫn không ra khỏi, nếu chưa rõ biết năm uẩn và thành tựu được chánh tri kiến.

Vì dục mà chết rất nhiều, tự tử, giết hại lẫn nhau, mắc tội bị xử,… Người nào bị dục làm chủ, sai khiến thì người đó trở thành nộ lệ, đầy tớ của dục. Dục được biến tướng qua nhiều hình thái, nếu không suy xét tận gốc thì chúng ta dễ bị mắc lừa, tưởng lầm. Cho nên sắc dục, thọ dục, tưởng dục, hành dục, thức dục chi phối toàn bộ cơ thể này và tâm này.

Thọ sanh khởi thì thân động chuyển. Dục khởi lên là có chỗ cụ thể nên nó động chuyển cụ thể. nếu mình không nhìn thấy rõ biết được về nó sẽ bị nó xâm chiếm, áp đảo, thúc giục mình phải đi tìm cái để phục vụ cho dục. Khi dục thỏa mãn rồi, một lúc nào đó nó lại phát khởi và tìm cái dục mới, lại chạy đuổi tìm cầu, không được thì khổ, thỏa mãn xong lại tìm tiếp cũng khổ. Loanh quanh trong con đường tối tăm lầm than mà chưa chịu đi ra ánh sáng của trí tuệ chánh pháp. Dục là ‘kẻ sát nhân’, tìm hoài khổ mãi. Đây là chân lý bất tử!

Người đạt tới Giác ngộ là người ã chứng Chánh giác lạc, Ly lạc tức là xả ly được dục, không còn bị chi phối, chẳng nằm trong vòng sai xử của dục nữa. Chấm dứt dục là hết khổ.

Chúng ta đang trên đường học Phật, dù chưa ly dục, nhưng vẫn phải biết mình đang ở cấp độ nào, đang ở đâu? Từ đó có hành vi điều chỉnh, có thái độ sống phù hợp, có tinh thần tu hành kiên trì, tinh tấn hơn nữa để đúng bậc Sa-môn. Luôn có tâm xấu hổ, hổ thẹn, khiêm cung, vượt thoát sự ham muốn của năm uẩn. Buông xuống cống cao ngã mạn, hơn thua, tật đố, khen mình chê người, vì những cái này là điều kiện rất tốt đưa chúng ta vào con đường đọa. Chúng ta phải luôn biết hổ thẹn trước Phật, trước bậc đồng phạm hạnh khi tụng giới phải biết xấu hổ, khiêm tốn, học hỏi, lắng nghe. Biết xấu hổ và sợ hãi để nhiếp phục thân tâm này, đó là điều kiện để chúng ta bước vào con đường Thánh quả, chớ cho là bình thường, xem nhẹ.

Người luôn biết tàm quý sẽ thâm nhập vào Thánh trí, tu tập cho tới Thánh quả. Đôi khi Thánh nhân, Chân nhân ở xung quanh mình mà mình không biết, những người ấy thường hay cúi mình trước mọi người, khiêm cung, từ ái, không thể hiện mình. Ngược lại, phàm phu thì hất mặt lên, ta đây, đi đâu cũng khoe và cho mình là số một, hơn tất cả, như vậy càng mau đọa!

Hành giả chuyên tâm nuôi dưỡng Hướng Dự lưu, vì tâm này giúp chúng ta hướng về chánh pháp, hướng về pháp ly tham. Vì bên ngoài chúng ta nói hay, nói khéo nhưng trong tâm lại đang hướng về dục, tham, ái, danh lợi. Ma là ngũ uẩn, không ở đâu xa cả, nó hiện thân trong mọi lúc mọi nơi bằng nhiều cách rất vi tế, không dễ nhận thấy nếu chưa tu tập, chẳng kiên trì gọi đúng tên nó, bắt được cái tà của nó được tẩy trừ sạch sẽ thì nó còn hiện hữu, sanh khởi, phát triển, xâm chiếm, áp đảo để xúi giục mình vào tà dục, đọa xứ.

Cảm giác muốn được thả lỏng các căn, muốn được tự do, tùy tiện,… đó là ma xúi giục, chẳng có chánh tri kiến. Chúng ta đang ngồi yên mà ‘nó’ lại tưởng đến đá gà, ăn ngon, mặc đẹp, đi chơi,… Có khi hành giả đang quán bất tịnh mà lại tưởng đến dục. Chẳng vậy mà còn có những nghĩ tưởng vô cùng tiêu cực, vô cùng đọa xứ nữa. Do vậy mới gọi năm uẩn là ma, là sự thúc giục đưa ta vào hầm hố, hiểm nạn, không khéo tu hành làm sao thoát khỏi lưới ma năm uẩn.

Lộ trình tu tập là chúng ta nhìn cho ra được bộ mặt thật của các con ma ẩn nấp dưới lớp gọi năm uẩn đầy man trá, xảo biện kia. Có trí huệ thì ma năm uẩn sẽ ‘đi chỗ khác chơi’! Muốn vậy phải như lý tác ý, tinh tấn, dõng mãnh, tinh cần giới, dõng mãnh giới. Đó là tín, tấn, niệm, định, huệ; tín lực, tấn lực, niệm lực, định lực, huệ lực. Từ ngũ căn biến thành ngũ lực.

Sức mạnh người tu là sự chuyển hóa, không phải ngồi thiền là ngồi im lặng và thở vô thở ra, phồng - xẹp, nếu không thật sự có chánh tri kiến thì ngồi như vậy lát sẽ ngủ gục. Tu không thể tu trong cái si, hôn trầm, tưởng mà phải có chánh tri kiến làm chủ. Chúng ta nhớ thực hành ba pháp khi ngồi thiền: Chánh niệm trước mặt, cảm giác toàn thân và nội tâm tỉnh giác. Đây là ba pháp lớn, trong ba pháp lớn này lại chia ra rất nhiều pháp nhỏ, trong lúc thực hành cần quán chiếu tỉnh sang soi rọi thân tâm nhằm chuyển hóa tốt trên bước đường tu hành trên con đường Phật dạy.

Không thể có chuyện muốn được Thánh quả cao nhưng làm thì muốn đơn giản, gọn nhẹ. Cũng như muốn ăn nhiều món mà làm thì sợ cực. Tu như vậy dễ bị gạt, đi vào con đường mê lầm mà không biết.

Cái gì biết được cảm giác, những hình bóng, suy nghĩ trong nội tâm, đó là thức. Thức nó biết được sự vận hành của thọ, tưởng, hành. Chúng ta tập nhận diện về từng uẩn, rồi thành thục đủ năm uẩn trong việc gọi đúng tên chúng, chỉ thẳng vào bộ mặt năm uẩn gian trá này để diệt tận bất thiện pháp, lần hồi đưa mình đến con đường sáng, tốt đẹp hơn. Đây chỉ nói sơ nét chung, còn đi sâu nữa thì chúng ta sẽ cùng nhau bàn tiếp ở một chuyên đề khác.

Chúng ta thường xuyên thực tập nhìn lại năm uẩn, đó là chìa khóa mở cửa kho tạng chánh pháp, chánh tạng đi vào dòng bất tử. Chịu mở kho báu thì thì thấy báu vật, không chịu mở thì ráng chịu!

Nếu tham thì dùng bất tịnh quán, nếu sân thì dùng từ bi quán, nếu si thì dùng tinh cần, tinh tấn, dõng mãnh đánh đuổi nó ra. Còn bản ngã thì quán chiếu vô ngã. Quán thân này là tứ đại đất nước, gió, lửa; quán chiếu các pháp đều rỗng không, vô thường để phá cái bản ngã. Chúng ta cùng nhau thực tập, càng hành trì thì trí huệ sẽ có điều kiện khai mở và sẽ phát huy trí huệ ấy đến đúng con đường mà người tu cần đến.

*

Chúng ta lắng lòng thanh tịnh ít phút, cùng nhau trải tâm từ theo lời Phật dạy:

Trải lòng thương đến mình vì si mê, chạy theo dục ái bao nhiêu năm nay và mình thương chính mình khi thấy được trí huệ này;

Mình mở tình thương này đến với người thân và khắp chúng sanh;

Nguyện tình thương này lan tỏa đến khắp muôn loài;

Nguyện cho muôn loài được bình an, hạnh phúc, chấm dứt khổ đau.

./.